Phát triển ngành chè đòi hỏi phải có hệ thống hạ tầng cơ sở tối thiểu như các viện nghiên cứu, các trung tâm khảo nghiệm, hệ thống thủy lợi, mạng lưới giao thông, hệ thống điện tương thí
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
_
NGUYỄN THI ̣ HUYỀN
PHÁT TRIỂN NGÀNH CHÈ Ở TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH CHÈ 5
1.1 Một số vấn đề lý luận chung 5
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm ngành chè 5
1.1.2 Vai trò của ngành chè 9
1.1.3 Điều kiện và nội dung phát triển ngành chè 12
1.2 Một số kinh nghiệm phát triển ngành chè trên thế giới và ở Việt Nam 23
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước 23
1.2.2 Kinh nghiệm của một số tỉnh, thành phố trong nước 26
1.2.3 Bài học kinh nghiệm đối với Thái Nguyên 31
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CHÈ Ở TỈNH THÁI NGUYÊN 35
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên 35
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 35
2.1.2 Công nghệ sản xuất 37
2.1.3 Hệ thống chính sách hỗ trợ 38
2.1.4 Các nhân tố khác 39
2.2 Lịch sử hình thành và phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên 40
2.2.1 Thời kỳ trước năm 1882 40
2.2.2 Thời kỳ Pháp thuộc (từ năm 1882-1945) 41
2.2.3 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975 41
2.2.4 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay 41
2.3 Tình hình phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay 42
2.3.1 Trồng và chăm sóc cây chè nguyên liệu 42
2.3.2 Chế biến chè 47
2.3.3 Mở rộng và phát triển thị trường tiêu thụ 51
2.4 Đánh giá chung và vấn đề đặt ra 54
Trang 32.4.1 Những thành tựu và nguyên nhân 54
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 55
2.4.3 Vấn đề đặt ra 56
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH CHÈ Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY 58
3.1 Quan điểm, định hướng phát triển ngành chè ở Thái Nguyên 58
3.1.1 Bối cảnh 58
3.1.2 Quan điểm, định hướng phát triển ngành chè tỉnh Thái Nguyên 60
3.2 Những giải pháp chủ yếu phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên 63
3.2.1 Giải pháp về mở rộng và nâng cao chất lượng chè nguyên liệu 63
3.2.2 Giải pháp cho khâu chế biến chè 67
3.2.3 Giải pháp nâng cao hoạt động tiêu thụ chè 71
3.2.4 Giải pháp về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phát triển ngành chè tỉnh Thái Nguyên 75
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 87
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi nằm ở vùng trung du Bắc Bộ, có
nước Thái Nguyên là đầu mối giao lưu kinh tế giữa thủ đô Hà Nội với các tỉnh phía Bắc có do đó vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội của đất nước Đặc biệt Thái Nguyên có vị trí và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc trồng và phát triển cây chè
Chè là loại cây công nghiệp dài ngày được trồng nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc và miền Trung Tây Nguyên, đặc biệt là ở tỉnh Thái Nguyên Sản xuất chè trong nhiều năm qua đã đáp ứng được nhu cầu về chè uống cho nhân dân, đồng thời còn xuất khẩu đạt kim ngạch hàng chục triệu USD mỗi năm Tuy có những thời điểm giá chè xuống thấp làm cho đời sống người dân trồng chè gặp nhiều khó khăn, nhưng nhìn tổng thể cây chè vẫn là cây giữ vị trí quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân nói chung và sự phát triển kinh tế ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng, góp phần tạo việc làm và bảo vệ môi sinh Vì vậy, phát triển ngành chè là vấn đề đang được coi trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên
Trước yêu cầu phát triển kinh tế, đặc biệt là trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, để tồn tại và phát triển vững chắc ngành chè phải có những giải pháp mới phù hợp Việc phân tích đánh giá thực trạng nhằm làm rõ những thành tựu và hạn chế của ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên cũng như đề xuất một số định hướng và giải pháp phát triển ngành chè là hết sức cần thiết
Vì vậy, với vai trò là giảng viên của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tác giả mong muốn bằng sự nghiên cứu của mình góp phần nhỏ vào
việc phát triển ngành chè bằng việc chọn đề tài “Phát triển ngành chè ở tỉnh
Thái Nguyên” làm luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Kinh tế chính trị
Trang 52 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây đã có nhiều bài viết, nhiều đề tài nghiên cứu
về cây chè và ngành sản xuất chè được công bố trên các sách báo, tạp chí
Đề tài nghiên cứu khoa học: “ Định hướng - giải pháp phát triển sản
xuất chè đến năm 2010” của TS Nguyễn Kim Phong - Tổng Giám đốc công
ty chè Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Trong công trình nghiên cứu của mình tác giả đã đưa ra kiến nghị đối với Nhà nước về tổ chức, quản lý và chính sách khuyến khích sản xuất chè ở nước ta Tuy nhiên do đề tài nghiên cứu vấn đề thuộc vĩ mô, nên tác giả chưa đề cập sâu những giải pháp nhằm phát triển ngành chè ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Đề tài khoa học cấp bộ: “Sản xuất và xuất khẩu chè - Thực trạng và
giải pháp” của PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc Tác giả đưa ra việc triển khai đồng
bộ nhằm thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu chè Công trình đã hoàn thành từ năm 2001 Từ đó đến nay, cùng với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, nền kinh tế nước ta cả lực lượng sản xuất và thể chế kinh tế đã có rất nhiều chuyển biến Do vậy những giải pháp tác giả đưa ra đến nay phần nào không còn phù hợp
“Thực trạng và giải pháp phát triển ngành chè”, kỷ yếu hội thảo do
Hiệp hội chè Việt Nam tổ chức vào ngày 7/9/2005 Trong cuộc hội thảo này nhiều bất cập của ngành chè đã được bàn kỹ Tuy nhiên, giải pháp cụ thể để giải quyết việc phát triển ngành chè như thế nào thì chưa được đề cập nhiều
Trong Luận văn Thạc sỹ Kinh tế chính trị “Phát triển ngành chè Việt
Nam trong quá trình hội nhập Kinh tế quốc tế”, tác giả Nguyễn Thị Thu
Nga đã phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của ngành chè Việt Nam trong những năm qua, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm phát triển ngành chè tốt hơn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Nhưng tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về thực trạng và giải pháp phát triển ngành chè Việt Nam
Trang 6Đáng chú ý là tác phẩm “Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu phát triển
công nghiệp chế biến chè ở nước ta” của tác giả Ngô Lê Dũng đã đưa ra
khái niệm và một số những vấn đề của công nghiệp chế biến chè Trong tác phẩm này, tác giả đã đặc phân tích những giải pháp nhằm phát triển công nghiệp chế biến chè trong giai đoạn hiện nay ở nước ta
Ngoài các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên còn có nhiều bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tạp chí Người làm chè…
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến một số giải pháp của ngành chè ở Việt Nam ở những khía cạnh và những mức độ khác nhau Những tài liệu đó giúp tác giả tham khảo để thực hiện luận văn
Vì vậy, đề tài “Phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên” là một vấn
đề không không có sự trùng với các công trình đã được công bố và có tính ứng dụng thực tiễn cao
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng hoạt động của ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên trong trong giai đoạn hiện nay, đề tài xác định những phương hướng phát triển và các giải pháp phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên trong những năm tới
* Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Làm rõ khái niệm, đặc điểm của ngành chè, qua đó xác định vai trò của sự phát triển ngành chè
- Phân tích thực trạng phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay, những thành tựu và những vấn đề đặt ra
- Xác định phương hướng và những giải pháp phát triển ngành chè ở
Trang 74 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động của ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay Đề tài lấy việc đưa ra và luận giải phương hướng và các giải pháp chủ yếu phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên trong những năm tới làm đối tượng nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu là phương pháp biện chứng duy vật, trừu tượng hoá khoa học, logic - lịch sử Ngoài ra, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc trưng của kinh tế học, như phương pháp phân tích, tổng hợp,
mô hình hoá, hệ thống, phương pháp so sánh,… trong quá trình nghiên cứu nhằm thực hiện tốt mục tiêu đề ra
6 Đóng góp của luận văn
Đưa ra sự phân tích toàn diện thực trạng của ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên
Đưa ra một số kiến nghị, đề xuất các giải pháp chủ yếu để phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên trong những năm tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về phát triển ngành chè
Chương 2: Thực trạng phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Phương hướng, giải pháp phát triển ngành chè ở tỉnh Thái
Nguyên hiện nay
Trang 8Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH CHÈ
1.1 Một số vấn đề lý luận chung
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm ngành chè
1.1.1.1 Khái niệm
- Khái niệm chè: Theo từ điển bách khoa Việt Nam, chè (Camellia
sinensis) là cây công nghiệp nhiệt đới và cận nhiệt đới, lá dùng để pha nước
uống (gọi là trà hay chè) Nguồn gốc cây chè ở rừng mưa nhiệt đới Tây Tạng
và Bắc Việt Nam (ở tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang có rừng chè cổ thụ cao tới 15-20m, đường kính thân tới 1m, tán rộng 8m) Hiện nay, chè được trồng rộng rãi ở Trung Quốc, Đông Nam Á, Ấn Độ, Srilanca, Châu Phi, Đông và Nam Âu (Gruzia), vùng Kraxnôđa (Liên bang Nga), Nam Mĩ, Ôxtrâylia và đã trở thành nước uống phổ biến trên thế giới
Chè là thức uống được dùng từ 4700 năm trước đây Trong lá và búp chè có đường, pectin, tinh dầu, ancaloit (chủ yếu là caferin), protein và axit amin Chè kích thích tiêu hoá và bài tiết, lợi tim mạch và hô hấp, cung cấp vitamin, phòng sâu răng, kích thích khả năng lao động
Cây chè thường được trồng thành cây nhỡ (để dễ hái), lá mọc cách, có răng cưa Hoa đều, lưỡng tính, màu trắng, mọc 1-3 hoa ở kẽ lá, đài và tràng xoắn ốc, có 5-7 cánh, nhị đực rất nhiều, nhị cái ba tâm bì hợp thành bầu trên với ba ô, ba vòi Quả nang có ba ngăn, mỗi ngăn có một hạt không nội nhũ
không dưới 70% Lượng mưa 1500-2400mm/năm, 100mm/tháng, có 1-2 tháng khô hanh Cây chè cần bóng mát nhẹ ở giai đoạn đầu Đất trồng chè hơi chua (pH 4-6, tốt nhất 5-5,5); tầng đất dày trên 60cm, nước ngầm dưới 1m
Trang 9Các giống (chủng) chè ở Việt Nam: chè Shan (chè núi, chè tuyết) trồng
ở núi cao trên 600m ở Bắc Bộ, trên 1000m ở Nam Tây Nguyên Từ chè Shan người ta chế thành chè mạn, chè xanh, chè đen chất lượng cao Chè Trung Du trồng phổ biến ở các tỉnh: Phú Thọ, Thái Nguyên, Nghệ An, Hà Tĩnh… Ngoài
ra, còn có các chủng: Assam, Manipur… và các chủng được chọn lọc như PH1 (của trại Phú Hộ), TB 11,14 (gốc từ Trấn Ninh, chọn lọc ở Bảo Lộc - Lâm Đồng), có thể trồng bằng hạt, ươm cây con hoặc giâm cành Năng suất chè trưởng thành (6 năm sau khi trồng) là 1000-1200kg chè khô/1ha Sản lượng chè thế giới khoảng 2 triệu tấn/năm
Lá cây chè được dùng tươi hoặc sau khi chế biến để pha chế thành thức uống (nước chè) Chè tươi là lá chè được dùng nguyên hay vò cho gãy lá, rửa
kỹ, nấu nước uống (nước chè tươi có màu xanh, vàng, nhiều vitamin) Chè búp khô (còn gọi là trà) được chế biến theo nhiều dạng: chè xanh, búp chè để héo, vò, sao trên chảo nóng, phơi khô (khi pha cho màu xanh, nhiều vitamin C); chè Tàu - loại chè xanh được chế biến ở Trung Quốc; Chè đen - búp chè
để héo, vò, ủ lên men và sấy khô (khi pha nước có màu nâu hồng), được ưa chuộng ở Âu - Mĩ, dùng nóng với đường và chanh Chè hoà tan là dạng phổ
có chè mạn chế bằng búp chè kèm theo nhiều lá già, qua ủ men (Ví dụ: chè mạn Hà Giang) Chè hương - chè ướp hương hoa sen, nhài, mộc, ngâu… Chè
nụ chế từ nụ phơi khô (nước có màu nâu)
- Khái niệm ngành chè: Ngành chè là tổng thể các đơn vị kinh tế sản xuất chè, nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội, không phân biệt nằm trên địa bàn lãnh thổ và thuộc cấp chính quyền quản lý Ngành chè được đặc trưng bởi đặc tính và công dụng của sản phẩm chè tạo ra, tính chất và đặc điểm của quá trình công nghệ, chức năng và vị trí của nó trong quá trình tái sản xuất
Trang 10Ngành chè bao gồm ba khâu: trồng và chăm sóc cây chè nguyên liệu, chế biến chè và tiêu thụ chè Ba khâu trên có quan hệ nhân quả, hợp thành một hệ thống hữu cơ, hoàn chỉnh không được chia cắt đối lập nhau
Trồng và chăm sóc cây chè nguyên liệu là khâu đầu tiên và cũng là khâu quan trọng nhất trong việc phát triển ngành chè Để khâu này đạt hiệu quả cao thì phải chọn giống chè tốt, phù hợp và áp dụng đúng kỹ thuật trồng Giống chè tốt là giống chè có khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng cao, thích ứng mạnh với điều kiện đất trồng của địa phương Khi có giống chè tốt thì khâu kỹ thuật phải đúng tùy thuộc vào mỗi chủng loại chè, mỗi vùng, mỗi địa phương
Chế biến chè là khâu thứ hai Đây là khâu quan trọng có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng chè, đến hương và vị chè Mục đích của chế biến chè là duy trì và phát huy chất lượng vốn có của lá chè, hạn chế tối đa sự tiêu hao Nếu chế biến không tốt làm chè sản phẩm mắc khuyết tật sẽ làm giảm giá trị ban đầu của búp chè đã có; sản phẩm làm ra khó được thị trường, khách hàng chấp nhận Chè sản phẩm và chè nguyên liệu có nhiều tính chất khác nhau Chế biến chè là khâu dễ gây ra khuyết tật nhất cho sản phẩm chè Ngoài các yếu tố về đặc tính của giống chè ra, sự khác nhau này là do sự chuyển hóa các chất trong thành phần hóa học của chè trong các quá trình chế biến bằng các biện pháp công nghệ Có nhiều yếu tố tạo ra sự chuyển hóa các chất có trong chè, nhưng hai yếu tố giữ vai trò chủ yếu là: (1) Hệ enzim có sẵn trong lá chè tươi, (2) Nhiệt và ẩm được sử dụng trong quá trình chế biến chè
Khâu cuối cùng là khâu tiêu thụ chè Thị trường tiêu thụ chè có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của ngành chè Vì thế, ngành chè luôn cố gắng chăm lo cho công tác thị trường, không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, củng cố mối quan hệ bạn hàng có sẵn và ra sức tìm kiếm thị trường mới Thị trường chè được phân ra thành ba loại: Thứ nhất, loại thị trường tiêu thụ (consumption market), phần lớn trà nhập khẩu tiêu thụ tại chỗ; việc tái xuất hay tái chế biến chỉ có hạn Thứ hai, loại thị trường kinh tiêu
Trang 11(distribution market), chuyên kinh doanh tiêu thụ Thứ ba loại thị trường điều khiển (managed market), chè nhập khẩu và kinh doanh tiêu thụ đều nằm trong tay điều hành của Chính phủ hay người đại lý
1.1.1.2 Đặc điểm ngành chè
Thứ nhất: Ngành chè có liên quan nhiều đền truyền thống và văn hoá,
trở thành đặc trưng riêng là văn hóa chè
Uống trà trở thành truyền thống và lối sống văn hoá ở Trung Quốc hay Nhật Bản Uống trà không chỉ hưởng thụ hương thơm, vị ngọt hay nhằm mục đích cho tỉnh táo, thải độc, chống phóng xạ như nhiều nhà khoa học đã đề cập đến, mà còn mang cả bản sắc của một dân tộc Ở Việt Nam, uống trà đã trở thành một loại hình nghệ thuật trong nghệ thuật ẩm thực - văn hoá trà đạo
Ở Việt Nam, trà để uống lúc sáng sớm trước khi đi làm, uống sau bữa
ăn, uống khi có khách và uống vào buổi tối, ban đêm Từ gia đình nông thôn đến thành thị, trà chiếm một vị trí trang trọng trong giao tiếp, giáo dục, lễ nghi, cưới xin, ma chay, hội hè, đình đám, thờ cúng phật giáo và tổ tiên Trà
đã đi vào văn học, nghệ thuật, là nguồn cảm hứng trong sáng tác văn thơ, hội họa, ca múa nhạc, điêu khắc, nhiếp ảnh, điện ảnh, truyền hình
Điều đáng tiếc là đến nay, văn hóa trà Việt đang bị phôi phai trong ký
ức người Việt cũ và dường như không đọng lại trong ý thức nhiều người trẻ tuổi Trên thị trường cả ở trong và ngoài nước, những người kinh doanh chè đều chưa phản ánh được tính chất đặc sắc này Một trong những lý do quan trọng là năng lực cạnh tranh của ngành chè Việt Nam chưa cao, các doanh nghiệp xuất khẩu còn đang mải mê giữ chỗ đứng của mình trên thị trường Những năm gần đây tại thị trường trong nước đã xuất hiện nhiều quán trà như: Hồng trà, Dilma, trà Lipton nhưng cơ bản mang thương hiệu của nước ngoài Uống những loại trà này chủ yếu nhằm mục đích sử dụng nhanh, phù hợp với tác phong công nghiệp, chưa mang được nét văn hóa Việt Điều đó có ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành chè cả trên thị trường trong nước và
Trang 12Thứ hai: Ngành chè có thời gian đầu tư kinh doanh dài hơn các ngành
khác, bởi chè là cây công nghiệp dài ngày, chu trình sinh trưởng khá lâu, chu
kỳ hoạt động kinh tế kéo dài Thông thường đầu tư cho ngành chè phải trải qua các giai đoạn phát triển sinh học, từ khi trồng đến khi bắt đầu được thu hái phải mất thời gian 3 năm Thời gian kinh doanh có thể từ 30 đến 50 năm Cho nên, vốn đầu tư phải phân bổ trong khoảng thời gian kéo dài và theo thời
vụ của cây chè Thêm vào đó, hiệu quả thu hoạch cây chè trong những năm đầu kinh doanh là rất thấp, chỉ được tăng dần trong thời gian sau Thời gian
để hoàn đủ vốn đầu tư xây dựng là khá lâu
Thứ ba: Chịu nhiều rủi ro
Ngành chè phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, thiên nhiên và khí hậu Hơn thế nữa phát triển ngành chè trong các lĩnh vực trồng trọt, cây giống, chăm sóc, cải tạo… diễn ra trong một địa bàn không gian rộng lớn, trên các vùng đồi trung du, miền núi Điều này làm tăng tính phức tạp trong quản lý và điều hành các công việc Phát triển ngành chè đòi hỏi phải có hệ thống hạ tầng cơ sở tối thiểu như các viện nghiên cứu, các trung tâm khảo nghiệm, hệ thống thủy lợi, mạng lưới giao thông, hệ thống điện tương thích, các phương tiện thiết bị phù hợp… Các khu công nghiệp chế biến có điều kiện hạ tầng phát triển hơn thường ở xa vùng nguyên liệu, gây tốn kém về chuyên chở và làm giảm chất lượng chè thành phẩm; do chè búp tươi hái về phải chế biến ngay, nếu chậm sẽ làm giảm mạnh chất lượng chè nguyên liệu
và chè thành phẩm
1.1.2 Vai trò của ngành chè
1.1.2.1 Về phương diện kinh tế
- Ngành chè đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân
Ở nước ta, ngành chè đã góp phần không nhỏ vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cả nước Thu nhập từ ngành chè hàng năm chiếm 0,2% tổng thu nhập quốc dân và chiếm trung bình khoảng 1,51% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam hàng năm [49]
Trang 13Bên cạnh đó, thông qua hoạt động xuất khẩu chè trong những năm qua chúng ta không ngừng mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại với nhiều bạn hàng quốc tế Hiện nay, sản phẩm chè Việt Nam đã có mặt trên 110 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó thương hiệu “Cheviet” đã được đăng ký
và bảo hộ tại 73 thị trường quốc gia và khu vực [49] Việt Nam hiện đang là quốc gia đứng thứ 5 trên thế giới về sản lượng và xuất khẩu chè chỉ sau Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanca, Kenya Ngành chè đã góp phần mở rộng quan hệ kinh
tế đối ngoại với nhiều bạn hàng quốc tế Đặc biệt với một số vùng kinh tế có điều kiện thuận lợi cho phát triển cây chè như Thái Nguyên, Lâm Đồng, Hà Giang ngành chè chiếm tỷ trọng cao trong thu nhập quốc dân trên địa bàn
- Ngành chè thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Phát triển ngành chè trực tiếp góp phần thúc đẩy công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, một trong những nội dung quan trọng của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước ta hiện nay Khi ngành chè phát triển, đời sống của đồng bào dân tộc được nâng lên, giúp ổn định cuộc sống, định canh, định cư, hạn chế đi đến xoá bỏ hiện tượng du canh, du cư Các nhà máy, xí nghiệp chế biến chè được xây dựng đã hình thành các khu dân cư có điện, đường, trường, trạm trực tiếp thúc đẩy kinh tế
cả khu vực cùng phát triển
Mặt khác, trong quá trình phát triển ngành chè, các doanh nghiệp tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến hiện đại vào các khâu chế biến và tiêu thụ, qua đó giúp đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước ta
1.1.2.2 Về phương diện văn hoá - xã hội
- Phát triển ngành chè góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
Chè là loại cây đã đi vào đời sống con người Uống trà đã trở thành một phong tục tập quán, là sở thích từ lâu đời của nhiều dân tộc trên thế giới
Trang 14biết đến trà từ khá sớm Ấm trà đã trở nên rất quen thuộc, thân thương đối với người Việt Nam từ già tới trẻ, từ thành thị tới nông thôn Uống trà đã trở thành biểu hiện của văn hóa uống, thành nghệ thuật thưởng thức trà Trà dù được chế biến, được uống theo cách nào vẫn biểu thị một nét văn hóa độc đáo như trà đạo Trà còn là phương tiện để giao tiếp Văn hoá mời trà đã là một ứng xử văn hóa lịch sự, lễ độ và lòng mến khách của chủ nhà Phong tục đó
đã tạo nên một vẻ đẹp đặc trưng với những nét rất riêng mang đậm chất Á Đông Với “trà tam, rượu tứ” của cổ nhân đã làm cho con người giải tỏa được những lo toan thường nhật, làm phong phú thêm đời sống tinh thần và làm tăng ý nghĩa cho sinh hoạt đời thường, giúp con người xích lại gần nhau, ấm
áp thắm đượm tình làng, nghĩa xóm Nền "văn hóa trà Việt Nam" đã hình
- Phát triển ngành chè góp phần xóa đói giảm nghèo, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp
Sản xuất chè tập trung ở vùng trung du, miền núi, nơi bà con người dân tộc còn nghèo Xây dựng các khu sản xuất chè, gồm nông - công nghiệp - dịch vụ, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân thiểu
số ở các vùng miền núi phía Bắc, trung du Bắc Bộ vùng sâu các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên
Phát triển của ngành chè đã tạo cơ sở thu hút thêm lao động Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2008, hiện Việt Nam có
6 triệu lao động sống trong vùng chè có thu nhập từ trồng, chế biến và kinh doanh chè Trong đó đội ngũ làm chè lên tới 3 triệu lao động, chiếm 50% tổng
số lao động trong vùng chè
1.1.1.3 Về phương diện môi trường
Sự phát triển của ngành chè giúp phủ xanh đất trống, đồi trọc và bảo vệ môi trường, chống xói mòn Trồng chè đúng kỹ thuật sẽ tạo ra một thảm thực vật có tác dụng phủ xanh đất dốc đồi núi trọc, xây dựng và bảo vệ môi trường
Trang 15sinh thái [38, tr.23] Theo quy hoạch đã xác định được 16 tỉnh có khả năng thích hợp nhất để trồng chè, tập trung chủ yếu ở trung du miền Bắc và Tây Nguyên
Hiện nay, trên cả nước có 35/63 tỉnh, thành phố có diện tích trồng chè chủ yếu tập trung ở vùng trung du và miền núi với diện tích trên 131.500 ha [49]
1.1.3 Điều kiện và nội dung phát triển ngành chè
1.1.3.1 Điều kiện phát triển ngành chè
- Về mặt tự nhiên - xã hội: Cây chè là cây trồng nhiệt đới, thích hợp với
điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều với hệ số dao động nhiệt
ảnh hưởng đến chất lượng của chè Kinh nghiệm sản xuất chè lâu đời của thế giới cho thấy các loại danh trà chủ yếu được trồng trên miền núi cao, biên độ ngày và đêm, độ ẩm, ánh sáng tán xạ cao Vì vậy, chỉ có những vùng có điều kiện thiên nhiên ưu đãi mới có thể trồng và phát triển cây chè có chất lượng tốt Trên cơ sở phân tích các chỉ tiêu về khí hậu, đất đai, địa hình, nguồn nước của từng vùng ở nước ta cho thấy khả năng thích nghi như sau:
Vùng Trung du miền núi Bắc Bộ:
Đây là vùng có địa hình phức tạp, được chia cắt bởi những cánh đồng hoặc thung lũng xen giữa những đồi núi Núi ở đây thường cao và dốc Vùng
này chủ yếu là đỏ nâu trên đá vôi, đỏ vàng trên đá đất sét
Đất canh tác phần lớn có bề dày trên 100cm, hàm lượng dinh dưỡng trung bình Nhìn chung vùng này rất thích hợp với phát triển cây chè Hạn chế chính của vùng này chính là mùa đông có sương muối, mùa hè chịu ảnh hưởng của gió Lào Có thể khắc phục hiện tượng này bằng cách tác động vào các biện pháp kỹ thuật như ủ gốc, trồng cây che mát
Vùng Duyên hải miền Trung:
Trang 16Đất đai có thể trồng chè là nhóm vàng đỏ trên đất bazan có nhiều tầng mỏng, độ dốc lớn Vùng Duyên hải miền Trung là vùng có khí hậu không thuận lợi, đất đai nghèo dinh dưỡng và không có độ dốc phù hợp với sản xuất chè nên năng suất và chất lượng thấp Đây là vùng không có nhiệt độ thấp,
đất đai và vĩ tuyến Chế độ mưa của vùng cũng chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, phân bố không đều và trái với mùa sinh trưởng của chè Mưa nhiều vào mùa xuân là thời điểm lá chè và búp chè hình thành lá non nên ảnh hưởng đến chất lượng chè Tuy nhiên vẫn có một số tỉnh trồng chè như: Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Nam, Quảng Bình, nhưng chất lượng chè không cao
và số lượng cũng không nhiều
Vùng Tây Nguyên:
Là vùng mang khí hậu nhiệt đới gió mùa Độ cao từ 700m đến 1500m
bình hàng năm là 2000mm Đất đai có thể trồng chè là đất bazan, đặc biệt là đất nâu vàng trên đá bazan ở Bảo Lộc, Di Linh khá tốt Hàm lượng mưa phùn
và độ ẩm cao Đất đai và khí hậu ở vùng này rất thích hợp cho việc trồng chè
- Điều kiện về khoa học - kỹ thuật:
Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về chất lượng chè ngày càng cao Vì vậy, nhân tố khoa học - kỹ thuật là rất quan trọng, để đảm bảo được tính ổn định hoàn toàn của các thành phần cũng như loại trừ các vi sinh vật, vi khuẩn và nấm mốc tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng trên thế giới
Phát triển ngành chè đòi hỏi một lượng vốn lớn để đầu tư cho các lĩnh vực sản xuất, thiết kế sản phẩm, nghiên cứu triển khai và đổi mới công nghệ, một lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao Trên thực tế cho thấy các sản phẩm có chất lượng cao trên thế giới đều thuộc về các nhà sản xuất có tiềm lực đặc biệt mạnh về vốn, nhân lực và công nghệ Chẳng hạn như chè
Trang 17Leros, chè Lipton… Các hãng này luôn chiếm một thị phần lớn trên thế giới
và được người tiêu dùng ưa chuộng
- Chính sách của Nhà nước trong việc phát triển ngành chè:
Chính sách của Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển ngành chè Thực tế cho thấy ở những nước có trình độ phát triển thấp, Chính phủ chỉ chú trọng đến việc trồng và chế biến chè mà không có chính sách thúc đẩy thị trường tiêu thụ Sau một thời gian sẽ không tìm được đầu ra cho sản phẩm, ngành chè gặp nhiều khó khăn Với những nước phát triển, Nhà nước rất quan tâm trồng, chế biến, kinh doanh chè, bảo hộ sản phẩm trong nước và kích thích xuất khẩu, đề ra và thực hiện những chính sách phù hợp để phát triển toàn diện ngành chè Ngoài ra, trong quá trình toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, các nhà sản xuất trong nước phải đối mặt với sự cạnh tranh thì Chính phủ phải có cơ chế chung để tái phân phối lợi nhuận từ những người được lợi, nhằm tạo sự thống nhất nâng cao sự cạnh tranh và hạn chế sự khó khăn đối với ngành chè
1.1.3.2 Nội dung phát triển ngành chè
- Đối với khâu trồng và chăm sóc cây chè nguyên liệu
Công tác trồng mới: Bước quan trọng trước tiên là phải lựa chọn được
vùng đất thích hợp, nằm trong quy hoạch đầu tư, có các điều kiện tự nhiên phù hợp với cây chè Việc lựa chọn vùng đất sản xuất chè nguyên liệu còn tạo điều kiện cơ hội hợp tác - liên kết trong sản xuất, phát triển thành vùng chuyên canh hàng hoá lớn Đồng thời, tạo sự liên kết sản xuất của các nông
hộ trồng chè thành những vùng sản xuất liên hoàn, để công tác cung ứng vốn, vật tư kỹ thuật, máy móc thiết bị tiến hành thuận lợi
Do đặc điểm của cây chè là chu kỳ sinh trưởng dài từ 30 - 50 năm, có cây trên 100 năm và thời gian kiến thiết cơ bản của cây chè trồng bằng hạt là
3 năm, bằng giâm cành là 2 năm, nên khó thay đổi thường xuyên giống chè,
Trang 18đầu tư vào khâu chọn giống, nghiên cứu kết quả trên các giống phù hợp, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, khâu làm đất, diệt cỏ, trừ hại Có như vậy, cây chè mới có tiền đề tăng trưởng vững chắc, cho búp to, búp khoẻ
Công tác chăm sóc - thu hái chè: Giai đoạn chăm sóc - thu hái chè là
giai đoạn bắt đầu cho sản phẩm Trong 2 năm đầu, chủ yếu tập trung vào các công đoạn: bón phân, phun thuốc trừ sâu, đốn chè tạo hình, ủ rác giữ ẩm cho chè, phòng trừ sâu bệnh; trồng cây phân xanh, cây bóng mát trên những đồi chè Giai đoạn này đòi hỏi qui trình canh tác, thu hái phải được đảm bảo, để thu được búp chè có chất lượng tốt cho chế biến Đối với khâu thu hái chè, tuỳ theo yêu cầu, chất lượng sản phẩm mà có các hình thức hái búp như sau: hái nguyên tôm, hái một tôm + một lá, hái một tôm + một đến hai lá, hái một tôm + hai lá, hái một tôm + 2, 3 lá, hái một tôm + ba lá
Thâm canh, cải tạo diện tích chè xuống cấp: Diện tích chè xuống cấp là
khu vực chè đã bị thoái hoá, biến chất, năng suất chè thấp, chất lượng chè không đảm bảo (hàm lượng Tanin, Cafein giảm rõ rệt) Nguyên nhân gây ra
có thể là: canh tác không đúng qui trình kỹ thuật, khai thác quá mức, nên cây chè không phát triển bình thường được; đầu tư thâm canh kém; đất đai bị nghèo kiệt chất dinh dưỡng, trở nên chai cứng; nguồn nước ngầm bị giảm sút Cải tạo diện tích chè giảm cấp, ngoài nguồn vốn đầu tư, cần chăm sóc chè theo đúng qui trình kỹ thuật
Để cải tạo chè xuống cấp, trước hết phải tìm được nguyên nhân chính xác để đề ra những giải pháp thích hợp Chỉ nên cải tạo những nương chè ít tuổi, hoặc những nương chè có mật độ trồng tương đối cao; còn những nương chè quá cằn cỗi, mật độ cây trồng thưa, nên phá đi trồng lại
Biện pháp cải tạo chè xuống cấp là kết hợp biện pháp thâm canh và cải tạo, tăng lượng phân hữu cơ, đảm bảo chế độ tưới tiêu nhằm cải thiện tính chất lý hoá của đất Đối với các nương chè phá đi trồng lại, nên chú trọng ngay từ công tác giống, cây phân xanh, cây bóng mát, bón phân hữu cơ, áp
Trang 19dụng qui trình canh tác hợp lý, khoa học Đây là giải pháp vừa khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, quảng canh cho năng suất thấp; vừa tiến hành, ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật, đầu tư theo chiều sâu vào sản xuất cho năng suất cao và ổn định
Đối với giống thuần chủng: xây dựng các trung tâm nghiên cứu các giống chè trong nước, lựa chọn các giống chè tốt, cải tạo các giống chè này với các điều kiện tương thích, đầu tư nhân rộng với từng vùng sinh thái hợp lý
Công tác nghiên cứu, ứng dụng các tiến bô khoa học kỹ thuật: Thông thường, công việc này do Nhà nước tiến hành đầu tư gián tiếp cho ngành chè, thông qua việc đầu tư xây dựng các viện nghiên cứu, các trung tâm khảo nghiệm, các vườn ươm giống thí điểm hoặc do các công ty tiến hành trong phạm vi hẹp, nhằm có được các giống tốt, qui trình canh tác tiên tiến phù hợp với chu trình sản xuất
- Đối với khâu chế biến chè
Chè nguyên liệu tươi được hái về phải chế biến ngay để giữ được phẩm cấp các thành phần vật chất khô có trong chè Nếu chậm xử lý, lá chè tươi sẽ
bị ôi, các thành phần vật chất trong lá chè sẽ bị phân huỷ, làm chất lượng chè nguyên liệu bị giảm, dẫn tới chất lượng chè thành phẩm kém
Chế biến chè có 2 hình thức là: thủ công và công nghiệp
Hình thức thủ công thường được áp dụng ở các hộ nông dân trồng chè
Trang 20thấp, chỉ đạt tiêu chuẩn chè bán thành phẩm (gọi là chè mộc) Cho nên muốn
có chất lượng cao hơn phải tinh chế lại tại các nhà máy chế biến chè
Hình thức công nghiệp được thực hiện trên các dây chuyền thiết bị máy móc với các qui trình phức tạp hơn tại các nhà máy chế biến, để sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao
Để sản xuất chè xanh, qui trình sản xuất gồm các công đoạn: Chè
Để sản xuất chè đen có thêm khâu lên men cho chè Qui trình công
Công nghệ chế biến chè hiện nay ngày càng hiện đại và có vai trò quyết định đến chất lượng và giá cả của chè Công nghệ hiện đại giúp chế biến ra nhiều loại sản phẩm, nhiều mặt hàng mới, có tỷ lệ thu hồi cao, giảm thứ phẩm; chất lượng bao bì và kỹ thuật đóng gói đạt tiêu chuẩn bảo quản sản phẩm, hợp thị hiếu người tiêu dùng và có giá cả hợp lý để cạnh tranh mạnh
mẽ trên thị trường thế giới Do đó, phát triển công nghiệp chế biến chè đòi hỏi giải quyết các vấn đề sau:
Xây dựng các cơ sở chế biến chè: Xây dựng các cơ sở chế biến chè
phải nằm trong qui hoạch nông nghiệp và gắn với vùng cung cấp nguyên liệu chè, để khép kín chu trình nguyên liệu - chế biến, và có tác dụng qua lại với nhau, thực hiện chương trình phát triển ngành chè và hình thành các vùng chè tập trung Việc xây dựng cơ sở chế biến chè phải có qui mô phù hợp với sản lượng vùng nguyên liệu Nếu qui mô cơ sở quá lớn sẽ gây lãng phí về việc sử dụng công suất thiết bị; tốn nhiếu chi phí gián tiếp, chi phí khấu hao tài sản thiết bị và làm giá thành sản phẩm tăng cao Nếu qui mô cơ sở quá nhỏ, công nghệ lạc hậu, thì sẽ lãng phí nguyên liệu và hiệu quả kinh doanh thấp Đồng
Trang 21thời, hệ thống kho tàng, bến bãi, hệ thống giao thông cũng phải được đầu tư
đồng bộ, để vận chuyển kịp thời nguyên liệu tươi cho cơ sở
Đầu tư mua sắm, nâng cấp các thiết bị công nghệ hiện đại: Cùng một
loại chè nguyên liệu, nhưng muốn sản xuất ra các mặt hàng khác nhau, phải chế biến trên những qui trình công nghệ khác nhau và trên những dây chuyền thiết bị tương ứng Hiện nay, ở Việt Nam đang sản xuất chè đen theo công nghệ Orthodox (OTD) và công nghệ Crushing - Tearing - Curling (CTC); sản xuất chè xanh theo công nghệ của Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc
Việc mua sắm máy móc thiết bị đòi hỏi phải đầu tư cả vào phần mềm,
đó là các bí quyết công nghệ (Know - How), các công trình vận hành sản xuất, hướng dẫn sử dụng, đào tạo trình độ công nhân và quản lý, phụ tùng thay thế Việc đầu tư phải đồng bộ và phù hợp với hiện trạng sẵn có của nhà máy, với sản lượng vùng nguyên liệu, với trình độ lành nghề của công nhân vận hành, và với thị trường tiêu thụ
Việc này cần thông qua các hội đồng tư vấn có kinh nghiệm để có được những dây chuyền công nghệ tương thích với thực tiễn, để có những sản phẩm giá cả hợp lý, có sức cạnh tranh trên thị trường
Đầu tư hệ thống kiểm tra chất lượng sản phẩm (KCS): Chất lượng sản
phẩm sau chế biến quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp nói riêng và ngành chè nói chung Bởi lẽ, hiện nay yêu cầu và sở thích của người tiêu dùng ngày càng khắt khe, họ không những đòi hỏi chè phải có chất lượng phù hợp thể hiện thể hiện qua yêu cầu chè sạch ngày càng cao và đảm bảo vệ sinh công nghiệp, an toàn thực phẩm Vì vậy, việc đầu tư cho công tác kiểm tra chất lượng là cần thiết để đảm bảo chất lượng hàng hoá và không để lọt những sản phẩm kém chất lượng ra ngoài thị trường
Chất lượng sản phẩm phải mang một khái niệm tổng hợp từ khâu chất lựơng nguyên liệu (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật ) đến khâu chế
Trang 22vậy, đầu tư hệ thống KCS cho chu trình sản xuất nguyên liệu - chế biến thành phẩm phải được trang bị đầy đủ từ khâu trồng, thu hái, phân loại, chế biến theo qui chuẩn của ISO 9000, qui chuẩn HACCP
Xây dựng cơ sở hạ tầng: Thực tế, ở các vùng sản xuất chè ở nước ta
hiện nay (bao gồm các nông trường quốc doanh, doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình) trong các vùng nông thôn trung du, miền núi, hệ thống cơ sở hạ tầng còn quá yếu kém Chính điều này làm cho các nhà đầu tư băn khoăn khi phải
quyết định đầu tư và tiêu thụ sản phẩm các vùng chè
Hệ thống cơ sở hạ tầng bao gồm những hệ thống về mạng lưới giao thông, điện, thuỷ lợi, hệ thống kho tàng, bến bãi, nhà máy cơ khí chế tạo, hệ thống cơ sở hạ tầng phúc lợi (trường học, y tế ) Chúng là những thành tố quan trọng để đảm bảo sự hoạt động sản xuất - kinh doanh của ngành chè được vững chắc; giảm chi phí ngoài sản xuất, kinh doanh, nâng cao thu nhập
và tạo tâm lý an tâm làm việc lâu dài cho người lao động, nâng cao tích luỹ vốn để tái đầu tư cho ngành chè
Để hạn chế phần nào nhược điểm đó, Nhà nước cần xây dựng các hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn, nơi có vùng chè; hoặc phối hợp theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, huy động tối đa nguồn vốn của tất
cả các thành phần kinh tế tham gia công cuộc này, để tạo ra lợi ích kinh tế cho người lao động và các cơ sở sản xuất, kinh doanh Thực hiện được nhiệm vụ này cũng đồng thời tạo ra sự giao lưu giữa các miền và phát triển văn hoá của các dân tộc sinh sống trên đồi chè, dần dần xoá bỏ sự chênh lệch mức sống giữa miền núi và miền xuôi
Phát triển nguồn nhân lực: Đây là một hoạt động cần thiết cho sự phát
triển của ngành chè, bởi lẽ nếu không có một đội ngũ cán bộ và lao động thích hợp với trình độ tương ứng thì công cuộc phát triển ngành chè trên một qui
mô lớn là không thể thực hiện được
Trang 23Tình hình kinh tế xã hội của miền trung du, miền núi còn lạc hậu (hạ tầng cơ sở chưa phát triển, trình độ dân trí chưa cao…) Để khai thác vùng chè ở trung du, miền núi, ngoài việc đầu tư tiền vốn, vật tư, công sức ra còn phải phát triển nguồn nhân lực - mà cụ thể là việc đào tạo nguồn nhân lực cho ngành chè
Đội ngũ nhân lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh chè đông và đa dạng, bao gồm lực lượng lao động làm chè tại các hộ gia đình; đội ngũ công nhân nông trường trồng chè, công nhân trong các nhà máy chế biến chè; đội ngũ chuyên viên kỹ thuật, quản lý, kinh tế, văn phòng; đội ngũ nhân viên bán hàng; đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật; công tác quản lý cấp cơ sở và Trung ương… Vì thế, trọng tâm hoạt động phát triển nguồn nhân lực của ngành là tuỳ thuộc vào từng loại đối tượng mà có các giải pháp đào tạo phù hợp, mang lại hiệu quả cao
Với mục tiêu chuyển hoạt động sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường, lấy hiệu quả làm trọng tâm và định hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá đòi hỏi đội ngũ nhân lực của ngành phải nâng cao trình độ, từ người lao động đến các cán bộ quản lý, lãnh đạo, thông qua việc đào tạo lại và đào tạo theo yêu cầu qui hoạch phát triển sản xuất kinh doanh của ngành chè Việt Nam
Hình thức đào tạo có thể là hợp tác với các trường đại học, các viện nghiên cứu, các trung tâm đào tạo trong và ngoài ngành… Hình thức đào tạo rất đa dạng trong đó chú trọng mở các lớp giảng dạy chuyên ngành, các lớp chuyên đề có liên quan với ngành chè (kinh tế thị trường, liên doanh - liên kết…) Chương trình đào tạo phải gắn liền với thực tiễn Để phát triển ngành chè, phải tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đội ngũ cán bộ kinh tế, khoa học
kỹ thuật ngoài ngành tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành bằng những cơ chế thích hợp; thu hút lực lượng nhân lực tham gia vào ngành
Trang 24chè thông qua các trung tâm nghiên cứu, các tổ chức khuyến nông, khuyến công, khuyến lâm…
- Đối với khâu mở rộng và phát triển thị trường tiêu thụ chè
Công tác Marketing: Vai trò của thị trường hết sức quan trọng, mang ý
nghĩa sống còn trong nền sản xuất hàng hoá Sản xuất chỉ được coi như thành công, khi sản phẩm được thị trường chấp nhận, ưa dùng Hoạt động đầu tư Marketing là phải nắm bắt được qui luật của thị trường; nghiên cứu và xử lý tối
ưu các nhu cầu và mong muốn của khách hàng, để nhằm thoả mãn nhu cầu và
thị hiếu của khách hàng Công tác Marketing vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật
Công tác Marketing trong ngành chè bao gồm:
Thứ nhất: Nghiên cứu, dự báo nhu cầu thị trường chè:
Để tìm ra đúng nhu cầu chè của thị trường (số lượng, chất lượng, phương thức tiêu dùng, bao bì, chủng loại, phương thức bán, giá cả, công dụng, sở thích, thị hiếu…) cùng với các thông tin về các đối thủ cạnh tranh, các “vật cản” phải đương đầu để chủ thể kinh doanh có thể khống chế, tập trung nguồn lực vào khâu xung yếu Nhờ vậy, có thể đáp ứng vừa đủ nhu cầu của khách hàng một cách lâu dài và thu được lợi nhuận như mong muốn Do
đó, cần phải đầu tư xây dựng một hệ thống thông tin thông suốt, cập nhật, với tốc độ xử lý cao, hoà mạng Internet… và một đội ngũ chuyên môn có kinh nghiệm
Ngoài ra, còn chú ý vào công tác khảo cứu thị trường, liên kết với các Hiệp hội chè của các nước để có thông tin và những quyết định chung về chè; tiến tới xây dựng một sàn đấu giá, tạo điều kiện cho người sản xuất, tiêu thụ gặp nhau, làm cho thông tin về thị trường, giá cả, chất lượng… trở lên minh bạch Các hoạt động tham quan, trao đổi và hội thảo với ngành chè của nước ngoài cũng là một trong những nội dung của hoạt động Marketing để các chuyên viên nghiên cứu thị trường có thêm thông tin, ký kết các hợp đồng
Trang 25xuất nhập khẩu, hoặc để học hỏi kinh nghiệm của bạn… làm tiền đề cho công tác phát triển và mở rộng thị trường
Thứ hai: Công tác hoàn thiện sản phẩm
Hoạt động trong lĩnh vực này có một phạm vi rất rộng từ khâu nguyên liệu đến khâu thành phẩm, nhưng quan trọng nhất là chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá sản phẩm, đầu tư cho bao bì, mẫu mã sản phẩm phù hợp Luôn chú trọng phát hiện những dấu hiệu sản phẩm tiêu thụ chậm, tìm ra nguyên nhân
để cải tiến, hoàn thiện, tiến tới xây dựng thương hiệu chè Việt Nam chất lượng cao
Thứ ba: Các công cụ xúc tiến hỗn hợp
Công cụ xúc tiến hỗn hợp bao gồm năm công cụ khác nhau là: quảng cáo, khuyến mại, bán hàng cá nhân, marketing trực tiếp và quan hệ công chúng Nhưng không phải tất cả chúng đều cho hiệu quả như nhau khi áp dụng đối với sản phẩm cụ thể Một công cụ nào đó có thể rất quan trọng đối với sản phẩm này nhưng lại chẳng cần thiết đối với sản phẩm kia và ngược lại Chính vì thế, các doanh nghiệp thường thực hiện phân bổ kinh phí cho việc xúc tiễn hỗn hợp giữa các công cụ, sử dụng công cụ này hỗ trợ cho công
cụ kia một cách hợp lý và có hiệu quả
Hoạt động Marketing ngày càng đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh và nó chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong phát triển ngành chè Vì thế, các doanh nghiệp chè phải đưa hoạt động Marketing vào hoạt động phát triển
cơ bản của doanh nghiệp chè
Nhìn chung, tất cả các hình thức trên cần phải được tiến hành đồng bộ
và có kế hoạch triển khai trên diện rộng nhằm tận dụng những lợi thế sẵn có tại các vùng chè, tiếp nhận sự hỗ trợ kịp thời của Nhà nước và các cấp lãnh đạo địa phương để ngành chè Việt Nam thực sự mang lại hiệu quả cao nhất
Trang 261.2 Một số kinh nghiệm phát triển ngành chè trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước
1.2.1.1 Ấn Độ
Ấn Độ bắt đầu trồng chè vào khoảng những năm 1834 - 1840 Do có điều kiện thích hợp và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, cơ giới hoá ngành chè nên Ấn Độ đang là quốc gia sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu chè lớn nhất thế giới; chiếm tới 27% sản lượng chè sản xuất ra trên toàn thế giới Chè Ấn Độ tập trung ở hai miền rõ rệt, vùng phía Bắc tập trung ở các bang Atxam, Kachar, Duvars, Dariling trong đó Atxam và Dariling là hai khu vực chè nổi tiếng trên thế giới Vùng chè ở phía Nam tập trung ở hai bang Kerala và Madras
Chè của Ấn Độ sản xuất ra không chỉ để xuất khẩu mà một bộ phận không nhỏ được sử dụng trong nước Thị trường trong nước không chỉ được đánh giá cao về dung lượng mà còn cả mức độ khó tính và đa dạng Ấn Độ cũng là một trong những quốc gia xuất khẩu chè lớn nhất thế giới với tỷ trọng khoảng 13-14% kim ngạch xuất khẩu toàn cầu [25, tr.82-83]
Để phát triển ngành chè, Chính phủ Ấn Độ rất quan tâm đến việc phát triển khoa học kỹ thuật; thành lập nhiều viện nghiên cứu về chè, tập trung ở Tocklai, Upasi Ngoài ra, Ấn Độ còn thành lập các trung tâm đấu giá chè lớn trên toàn quốc, như Calcuta, Siliguri, Gruwahati Chất lượng của sản phẩm chè Ấn Độ rất tốt, khẳng định được vị thế trên thế giới Chính phủ Ấn Độ cũng rất chú trọng tới việc phát triển thị trường, bằng cách mở các văn phòng, cửa hàng phân phối trên toàn thế giới
Trong tất cả những biện pháp mà Chính phủ Ấn Độ đã sử dụng để phát triển ngành chè, đáng chú ý là việc ban hành đạo luật chè năm 1953 Đạo luật này quy định hoạt động kiểm soát việc trồng chè ở Ấn Độ và thành lập một ủy
Trang 27tham gia vào việc sản xuất bất kỳ một loại sản phẩm chè nào, nhưng có trách nhiệm như sau: điều tiết việc sản xuất và trồng chè; nâng cao chất lượng chè; thúc đẩy những nỗ lực hợp tác giữa người trồng và chế biến chè; thực hiện hỗ trợ và khuyến khích nghiên cứu kinh tế; khoa học và kỹ thuật trồng và chế biến chè; hỗ trợ kiểm soát các loại sâu bệnh có ảnh hưởng đến cây chè; điều tiết việc mua bán và xuất khẩu chè; đưa ra những tiêu chuẩn về sản phẩm chè; thúc đẩy việc tiêu thụ chè ở Ấn Độ và các nước khác
1.2.1.2 Srilanka
Srilanka bắt đầu trồng chè vào khoảng những năm 1837-1840 nhưng thực sự phát triển mạnh từ những năm 1867-1873 Chè ở Srilanka tập trung ở các tỉnh miền Trung, miền Tây và Tây Bắc Đến nay, ngành chè của Srilanka
là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế nước này Nó không chỉ đóng góp lớn vào GDP và ngân sách mà còn là khu vực thu hút nhiều lao động trực tiếp (khoảng trên 1 triệu lao động) Chè Ceylon của Srilanka nổi tiếng thế giới từ hơn 1 thế kỷ nay về chất lượng và hương vị Ở Srilanca, ảnh hưởng của điều kiện khí hậu đã tạo nên một sự đa dạng về sản phẩm chè với nhiều hương vị khác nhau và đều có chất lượng cao
Srilanka là nước sản xuất chè lớn thứ ba trên thế giới chiếm hơn 9% sản lượng toàn thế giới và là nước xuất khẩu chè lớn nhất Diện tích đất canh tác chè của Srilanka vào khoảng 187.309 ha, phần lớn tập trung ở cao nguyên miền Trung và các đảo của nước này Những khu vực trồng chè trải dài ở nhiều độ cao khác nhau, từ thấp (dưới 600m so với mực nước biển) đến trung bình (600-1200m) và cao (trên 1200m) [25, tr.90]
Để thúc đẩy sự phát triển của ngành chè, cũng giống như Ấn Độ, Uỷ ban chè của Srilanka (Srilanka Board) cũng được thành lập từ 1/1/1976, trực thuộc Bộ Nông nghiệp (Ministry of Plantation Industiries) Đây là cơ quan cao nhất chịu trách nhiệm thúc đẩy và phát triển ngành chè của Srilanka
Trang 28trở thành người dẫn đầu trong ngành công nghiệp đồ uống quốc tế” Nhiệm
vụ đó đã được cụ thể hoá trong kế hoạch của Uỷ ban Chè: “Chúng tôi cam kết
nỗ lực vì sự phát triển bền vững của chè Ceylon và để thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng toàn cầu, đồng thời đảm bảo lợi ích của các bên liên quan”
Uỷ ban Chè thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ cho những người trồng, xuất khẩu và sản xuất chè của Srilanka Những dịch vụ chính mà mỗi bộ phận của
Uỷ ban Chè thực hiện là:
- Bộ phận xúc tiến chè (Tea Promotion Division), có nhiệm vụ: Cung cấp thông tin thị trường cập nhật, xuất bản các bản tin 2 tháng/lần, hoạt động như một trung tâm xử lý các loại hàng thương mại, cung cấp các tài liệu xúc tiến, sách quảng cáo… về chè Ceylon
- Phòng thí nghiệm phân tích (Analytical Laboratory): duy trì tiêu chuẩn tối thiểu ISO tại tất cả các điểm bán chè, cấp chứng nhận ISO 3720 đối với sản phẩm chè
- Kế hoạch “biểu tượng Sư tử” (Lion Logo), tổ chức các buổi đào tạo
về phương pháp thử và pha chè cho các nhân viên khách sạn, giám sát các vụ bán đấu giá chè, phê chuẩn giá của các hợp đồng chè kỳ hạn, cấp chứng nhận chất lượng đối với chè xuất khẩu sang Nga, bảo hộ và phát triển thương hiệu chè Srilanca, thu hút khách du lịch từ ngành chè bằng việc xây dựng một bảo tàng về chè ở Hantane, Kandy
1.2.1.3 Trung Quốc
Nghề trồng chè của Trung Quốc đã có một lịch sử lâu đời Cây chè được phân bố trên một phạm vi địa lý rất rộng: từ 18 đến 35 độ vĩ bắc, từ 99 đến 122 độ kinh đông Chè được trồng chủ yếu ở 15 tỉnh: Chiết Giang, An Huy, Hồ Nam, Đài Loan, Tứ Xuyên, Vân Nam, Phúc Kiến, Hồ Bắc, Giang Tây, Quý Châu, Quảng Đông, Quảng Tây, Giang Tô, Thiểm Tây, Hà Nam Điều kiện tự nhiên và khí hậu Trung Quốc thích hợp cho việc trồng chè Độ
C
Trang 29Lượng mưa hàng năm trên 1000 mm, tập trung vào thời kỳ chè sinh trưởng Chè được trồng chủ yếu trên các loại đất thục phát triển trên các loại đá mẹ phiến thạch, sa thạch, granit, phiến thạch mica, nai, với độ chua pH = 4,5 đến 6,5 Các vườn chè được trồng phần lớn trên đất dốc đến 30 độ Diện tích trồng chè của Trung Quốc năm 1974 là 337.000 ha Trung Quốc có rất nhiều giống
chè, trong đó chủ yếu là giống chè Trung Quốc lá to và lá trung bình
Nhờ có những ưu thế đó mà Chính phủ Trung Quốc đã rất quan tâm đến việc xây dựng cơ sở nghiên cứu chè, xây dựng các nhà máy chế biến chè
có năng suất, chất lượng cao Ngoài ra, Chính phủ cho xuất bản các tạp chí, sách tham khảo và phổ biến những tài liệu khoa học kỹ thuật trồng và chế biến chè đến tận tay người nông dân Đặc biệt, Trung Quốc rất chú trọng phát triển văn hoá trà, tổ chức các lễ hội văn hoá trà Điều này thu hút được rất nhiều các du khách trong và ngoài nước, qua đó nâng cao vị thế của chè Trung Quốc trên thị trường thế giới Ngoài ra, ở Trung Quốc còn đào tạo được đội ngũ nhân viên tiếp thị thành thạo Họ đã mở các văn phòng đại diện
ở các nước và các vùng; đồng thời dành một khoảng chi phí rất lớn cho việc quảng cáo và tìm kiếm thị trường
1.2.2 Kinh nghiệm của một số tỉnh, thành phố trong nước
1.2.2.1 Hà Giang
Là một tỉnh nằm ở cực Bắc của Tổ quốc, Hà Giang có địa hình và khí hậu rất phù hợp với điều kiện sinh trưởng của cây chè Cây chè Hà Giang có lịch sử lâu đời và được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau (Bắc Quang,
Vị Xuyên, Hoàng Su Phì, Xín Mần, Đồng Văn) Hiện nay, Hà Giang có gần 20.000 ha chè, trong đó diện tích đã cho thu hoạch là 14.500 ha và là tỉnh có diện tích trồng chè đứng thứ ba trong cả nước Để nâng cao sản lượng và vị thế của sản phẩm chè trên thị trường, Hà Giang đã quy hoạch chiến lược phát triển cho ngành chè của mình [51]
Trang 30Giải pháp được đưa ra là: Đẩy mạnh đầu tư thâm canh theo hướng tập trung vào giống, phân bón, kỹ thuật Đối với diện tích trồng chè mới, phải đảm bảo định mức đầu tư 15 triệu đồng/ha, chè thâm canh kinh doanh 7,5 triệu đồng/ha Đối với diện tích trồng chè mới, sử dụng các giống chè Shan tuyết, chè Shan lá to và chè Shan lá nhỏ, đồng thời nhập nội một số dòng chè đặc sản vào trồng trên địa bàn tỉnh Diện tích trồng chè mới phải đảm bảo đúng mật độ, đúng thời vụ Trên cơ sở nghiên cứu các điều kiện về thời tiết, thổ nhưỡng của Hà Giang, các nhà khoa học đưa ra khuyến cáo nên trồng chè bằng hạt theo phương thức gieo thẳng hoặc trồng chè vào bầu đất Bên cạnh đó, các địa phương cần đầu tư đổi mới công nghệ chế biến bằng cách hợp tác với các doanh nghiệp, nhà đầu tư để cải tiến công nghệ chế biến chè; xây dựng các nhà máy tinh chế chè công suất 5 nghìn tấn sản phẩm/năm và một số nhà máy chế biến chè xanh, chè đen với công suất bình quân của mỗi nhà máy khoảng 15 tấn búp tươi/ngày tại các vùng nguyên liệu tập trung ở Vị Xuyên, Bắc Quang, Quang Bình và Hoàng Su Phì; xây dựng quản lý chất lượng chè, quản lý chặt chẽ chất lượng sản phẩm, đặc biệt các cơ sở chế biến bằng máy mini
Bên cạnh đó, các hộ gia đình có nhu cầu vay vốn trồng chè được tỉnh
hỗ trợ lãi suất trong vòng 5 năm; ưu đãi về sử dụng đất; hỗ trợ tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm chè; khuyến khích đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường Các doanh nghiệp đầu tư trồng chè được cho thuê đất dài hạn, miễn thuế sử dụng đất, hỗ trợ vốn đầu tư nếu chuyển ngành nghề kinh doanh từ xây dựng cơ bản sang trồng, chế biến chè Sản phẩm sản xuất tại địa phương khi làm thủ tục đăng
ký tiêu chuẩn chất lượng, nhãn hiệu được tỉnh hỗ trợ 50% chi phí Các chính sách hỗ trợ của tỉnh Hà Giang đã có tác động tích cực đến sự phát triển của cây chè
Diện tích chè Hà Giang đang tăng liên tục qua các năm và năm 2007 đạt 15.064 ha, tăng 2.541 ha so với năm 2001, trong đó sản xuất chè kinh
Trang 31doanh đạt 13 nghìn ha Năng suất chè búp tươi đạt 31,41 tạ/ha; sản lượng đạt gần 39,4 nghìn tấn Đến năm 2012, tỉnh Hà Giang đặt mục tiêu mỗi năm trồng mới 500 ha chè Shan, năng suất lên 80 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi đạt trên
10 nghìn tấn, xuất khẩu chè khô thành phẩm trên 4000 tấn Tỉnh đang xây dựng vùng chè tập trung gắn với đầu tư cơ sở chế biến sản phẩm xuất khẩu tại Bắc Quang, Vị Xuyên, Hoàng Su Phì, Quang Bình, kết hợp phát triển các vùng chè đặc sản [51]
1.2.2.2 Phú Thọ
Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc, nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc, mang ý nghĩa trung tâm của tiểu vùng Tây - Đông - Bắc Phú Thọ có vị trí địa
lý thuận lợi cho việc trồng và phát triển cây chè Hiện nay, Phú Thọ là một trong 5 tỉnh có diện tích chè đứng đầu và là một trong bốn tỉnh có sản lượng chè sản xuất ra lớn nhất toàn quốc Cây chè là cây công nghiệp mũi nhọn, được xác định là một trong những chương trình kinh tế trọng điểm của tỉnh Nhờ những yếu tố thuận lợi, nên vài năm trở lại đây, vị thế cây chè càng được khẳng định trên vùng đất trung du Sản phẩm sản xuất ra được xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới và được đông đảo người tiêu dùng trong nước biết tới
Thực hiện chương trình quy hoạch phát triển chè giai đoạn 2006 -2010, tỉnh Phú Thọ đã trồng mới được 1.055 ha chè, nâng tổng diện tích chè toàn tỉnh lên hơn 13.685 ha Vài năm gần đây, do thuận lợi về “đầu ra”, thu nhập của người trồng chè cũng tăng nhanh Nắm bắt thuận lợi trên, hầu hết các địa phương và các hộ trồng chè trong tỉnh đã tập trung đầu tư cải tạo diện tích chè xấu, thâm canh tăng năng suất diện tích chè kinh doanh Nhờ đó, năng suất bình quân đạt 73,54 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi đạt 83.190 tấn So với mục tiêu của tỉnh đề ra đến năm 2010 thì diện tích chè đã đạt 97,7%, năng suất đạt 86,5%, sản lượng đạt 80,6% Trong đó năng suất chè của các doanh nghiệp có
Trang 32dân, bình quân đạt 48,66 tạ/ha Sự chênh lệch khá lớn về năng suất này đang được quan tâm để rút ngắn lại trong thời gian tới [52]
Việc phát triển cây chè trên địa bàn Phú Thọ trong những năm qua đã được các cấp, các ngành quan tâm hỗ trợ đầu tư và đem lại hiệu quả kinh tế cao Ủy ban nhân dân tỉnh đã cấp hơn 2.547 triệu đồng hỗ trợ cho diện tích trồng mới, trồng lại nên diện tích chè ngày càng được mở rộng, năng suất, sản lượng chè liên tục tăng… Nhờ vậy, đến nay đã có khoảng 20.000 hộ được vay phát triển cây chè với tổng dư nợ vay để trồng mới, thâm canh cải tạo lên đến trên dưới 100 tỷ đồng Ngoài ra, tỉnh còn trích ngân sách hỗ trợ theo chính sách đã ban hành hàng chục tỷ đồng cho 8 dự án phát triển chè trong tỉnh Phát huy hiệu quả đồng vốn, các hộ đầu tư thâm canh đúng mục đích, hiệu quả kinh tế cao Nhờ vậy, hàng năm đã có hàng chục nghìn hộ thoát nghèo nhờ trồng chè chủ yếu ở các huyện khó khăn, như: Thanh Sơn, Cẩm Khê, Yên Lập… [52]
Các cơ sở chế biến chè trên địa bàn tỉnh cũng phát triển khá mạnh Ngoài hai công ty lớn có vốn đầu tư nước ngoài là công ty chè Phú Đa (liên doanh giữa Tổng công ty chè Việt Nam và tập đoàn Foodsuff của I Rắc) và công ty chè Phú Bền, 100% vốn của tập đoàn Sipel (Vương quốc Bỉ), tỉnh còn
có công ty chè Phú Thọ, xưởng chế biến chè của Viện nghiên cứu chè Ngoài
ra, còn gần 80 cơ sở chế biến chè tư nhân và nhiều cơ sở chế biến nhỏ, quy
mô hộ gia đình với công suất chế biến khoảng 900 tấn chè búp tươi/ngày Sự phát triển nhanh về số lượng các cơ sở chế biến đã giúp cho việc tiêu thụ sản phẩm của người trồng chè gặp nhiều thuận lợi
Phát huy lợi thế này, trong thời gian tới, Phú Thọ tiếp tục đầu tư phát triển cây chè theo hướng sản xuất hàng hoá, hình thành vùng sản xuất tập trung, gắn với cơ sở chế biến, chú trọng đầu tư thâm canh, cải tạo vùng đất chè cằn, xấu, giống cũ, đồng thời tiếp tục trồng mới, mở rộng diện tích ở những nơi có điều kiện Bên cạnh đó, tỉnh rà soát, sắp xếp lại các cơ sở chế
Trang 33biến theo hướng gắn với nguồn nguyên liệu, đổi mới công nghệ chế biến để nâng cao chất lượng và đa dạng hoá, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm và hiệu quả kinh tế của cây chè; hình thành cơ chế liên kết giữa “sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm” Đặc biệt, tỉnh tập trung hỗ trợ phát triển cây chè tại
8 huyện trọng điểm Năm 2010, Phú Thọ nâng diện tích chè lên 15.000 ha, năng suất bình quân 10 tấn/ha, sản lượng 120 - 125 ngàn tấn, xuất khẩu từ 22-
Đã từ lâu cây chè được tỉnh Lâm Đồng xác định là cây xoá đói, giảm nghèo và làm giầu của nông dân; đồng thời là một trong những cây công nghiệp chủ lực, có lợi thế trong nền kinh tế thị trường Hiện nay, tổng diện tích chè trên địa bàn toàn tỉnh có 25.929 ha Trong đó diện tích chè đang cho kinh doanh 23.791 ha, hàng năm cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước đạt 183.571 tấn Tính ra, cây chè tỉnh Lâm Đồng đã chiếm tỷ lệ 25% về diện tích và 27% về sản lượng chè của cả nước Chè Lâm Đồng đã thành danh từ rất lâu với những thương hiệu nổi tiếng như: Tâm Châu, Lễ Ký, Quốc Thái… Trong số các danh trà, Lâm Đồng cũng đã góp những sản phẩm có giá trị cao, được nhiều người sành điệu về trà chấp nhận như: Trà Ô Long, trà xanh, trà đen…[53]
Tại Lâm Đồng cây chè được trồng tập trung chủ yếu ở Bảo Lộc, Bảo Lâm, Di Linh Do cây chè đã được trồng từ những năm 20 của thế kỷ trước
Trang 34năm qua, nhất là từ năm 2002 đến nay trong các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển cây chè, tỉnh đã tập trung mở rộng diện tích, vừa đẩy mạnh “cuộc cách mạng giống”, cải tạo vườn chè đạt năng suất, chất lượng cao và từng bước xây dựng vùng nguyên liệu chè an toàn, chè sạch Đến nay diện tích chè giống mới trong toàn tỉnh chiếm tỷ lệ 32%, với 6.340 ha chè cành năng suất cao và 2.075 ha chè cành Ô Long chất lượng cao của Đài Loan Theo Đề án phát triển vùng nguyên liệu chè, đến năm 2020 Lâm Đồng nâng tổng diện tích chè lên 28.000 ha, tuy tăng không nhiều so với diện tích hiện có, nhưng điều đáng nói là trong 28.000ha đó, diện tích chè giống mới có năng suất và chất lượng cao chiếm khoảng 55% Với sự đa dạng về chủng loại và chất lượng của sản phẩm, 9 tháng năm 2009, Lâm Đồng đã xuất khẩu hơn 3.000 tấn chè thành phẩm, đóng góp gần 30% vào kim ngạch xuất khẩu của ngành chè Việt Nam, tăng 27% so với cùng kỳ năm 2008 Điều này càng khẳng định sự thành công của chương trình chuyển hướng sản xuất cho cây chè Lâm Đồng [53]
Tuy nhiên, theo đánh giá của Ủy ban nhân dân tỉnh, sản xuất chè ở Lâm Đồng còn nhiều yếu kém Năng suất chè bình quân trong năm 2008 mới chỉ đạt 7,5 tấn, chất lượng chè xuất khẩu thấp, sản phẩm chưa có chỗ đứng vững trên thị trường quốc tế Vì vậy, ngành chè Lâm Đồng đã thực hiện những bước đi mới Thứ nhất, chuyển đổi cơ cấu giống Thứ hai, liên kết sản xuất, xây dựng thương hiệu
1.2.3 Bài học kinh nghiệm đối với Thái Nguyên
1.2.3.1 Xây dựng thương hiệu chè Thái Nguyên
Từ lâu, danh tiếng chè Thái Nguyên đã được luu truyền trong dân gian
Và ngày nay, trong thời kinh tế thị trường, cạnh tranh khốc liệt, sản phẩm chè Thái đã có một thương hiệu chính thống, được Nhà nước bảo hộ Tuy nhiên, việc tạo dựng chỗ đứng vững chắc cho thương hiệu chè Thái trên thị trường trong nước và xuất khẩu đang là vấn đề không nhỏ đặt ra với ngành sản xuất,
chế biến chè của Thái Nguyên
Trang 35Một số doanh nghiệp chè Thái Nguyên hiện nay đã bước đầu có những bước đi nhằm xây dựng và phát triển nhãn hiệu chè Tuy nhiên, chất lượng sản phẩm chè phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng Chính vì thế, nên việc xây dựng một thương hiệu chung cho tất cả các sản phẩm chè xuất xứ từ Thái Nguyên giống như Ceylon của Srilanca, Darjeeling của Ấn
Độ, chè Lâm Đồng là cần thiết Thương hiệu chè của tỉnh không chỉ là một bằng chứng cho chất lượng của sản phẩm mà còn là một cách để quảng bá sản phẩm chè Thái Nguyên Các doanh nghiệp chè sẽ sử dụng thương hiệu chè này song song với nhãn hiệu riêng của bản thân doanh nghiệp
Bên cạnh đó, vấn đề cũng cần được chú ý đến là phát triển và bảo hộ thương hiệu đó Để làm được điều này cần có một tổ chức đứng ra làm chủ sở hữu và đăng ký bảo hộ thương hiệu ở các nước trên thế giới
1.2.3.2 Đẩy mạnh, hỗ trợ nghiên cứu khoa học
Bài học kinh nghiệm của các nước xuất khẩu chè trên thế giới, như: Trung Quốc, Srilanca, Ấn Độ đều có những trung tâm nghiên cứu khoa học trong ngành chè ở tầm quốc gia Hoạt động nghiên cứu khoa học không chỉ giới hạn trong việc tạo ra giống chè có năng suất cao, chất lượng tốt mà còn được mở rộng sang công nghệ chế biến, đóng gói để tạo ra những sản phẩm
có giá trị gia tăng cao như chè uống liền, chè có hương vị
Thái Nguyên cần coi cây chè là cây có tiềm năng, do đó cần có những trung tâm nghiên cứu chè chuyên nghiên cứu về giống chè, phát triển công nghệ đóng gói và đa dạng hoá sản phẩm, khả năng phát triển thị trường chè với thiết bị hiện đại và có phương pháp tiếp cận tiên tiến để đưa ra một số vấn
đề có liên quan đến lợi ích Đó là:
- Phát triển trồng chè;
- Cơ khí hoá sản xuất;
Trang 36- Cải thiện các chỉ số về thu hái chè
1.2.3.3 Thành lập cơ quan quản lý chất lượng
Theo quy luật chung của nền kinh tế tri thức, hơn nữa chè là một sản phẩm đồ uống nên càng phải đảm bảo các tiêu chuẩn về chất lượng Ở Thái Nguyên chưa có cơ quan nào chịu trách nhiệm về sản phẩm chè mà chủ yếu hoạt động quản lý chất lượng được thực hiện ở các doanh nghiệp Hiện nay, các doanh nghiệp ở Thái Nguyên cũng đã bắt đầu chú ý đến hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO hay HACCP… nhưng để có thể áp dụng các
hệ thống quản lý chất lượng này vào các doanh nghiệp trong ngành, cần phải
có sự đầu tư cả về công sức và tiền bạc mà không phải doanh nghiệp nào cũng
có thể thực hiện được Chính vì thế, một cơ quan quản lý chất lượng của ngành sẽ là giải pháp cho các doanh nghiệp sản xuất và chế biến chè với quy
mô vừa và nhỏ của Thái Nguyên Cơ quan này sẽ tập trung vào việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng trong ngành chè thông qua việc hỗ trợ về tài chính, về đào tạo cho các doanh nghiệp trong ngành
1.2.3.4 Phát triển du lịch sinh thái từ các khu vực trồng và sản xuất chè
Kinh nghiệm của Srilanka trong việc xây dựng bảo tàng chè rất đáng để cho Thái Nguyên học tập Bảo tàng này được xây dựng năm 1925 tại nhà máy chè Hantane đã bỏ trống hơn một thập kỷ Mục tiêu của bảo tàng không chỉ là thu hút khách du lịch đến thăm quan mà còn là một cách hữu hiệu để tuyên truyền, phổ biến những thông tin, những lợi ích của cây chè
Tuy rằng ở Thái Nguyên không có đựơc những cơ sở chế biến chè lâu đời nhưng cảnh quan vùng trồng chè ở Thái Nguyên cũng được biết đến như vùng chè Tân Cương (Thành phố Thái Nguyên), vùng chè Trại Cài (Đồng Hỷ), vùng chè Tức Tranh, Vô Tranh, Phú Đô (Phú Lương) Nếu chúng ta có thể kết hợp những cảnh quan này với những điểm du lịch, những trung tâm giới thiệu văn hoá chè thì sản phẩm chè ở tỉnh Thái Nguyên sẽ được quảng bá rộng rãi, qua đó góp phần thúc đẩy ngành chè Thái Nguyên phát triển Không
Trang 37những thế, với việc thu hút khách du lịch vào thăm những vườn chè và trung tâm giới thiệu văn hoá chè ở tỉnh, thu nhập của người dân trồng chè ngày càng được nâng cao, đời sống ngày càng được cải thiện
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CHÈ Ở TỈNH THÁI NGUYÊN
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển sản xuất chè, các yếu tố như lượng mưa, khí hậu, nhiệt độ, đất đai là các yêú tố quan trọng có tác động đến ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên Trên cơ sở phân tích các chỉ tiêu
về khí hậu đất đai, địa hình, nguồn nước của tỉnh cho thấy khả năng thích nghi như sau:
2.1.1.1 Khí hậu
Thái Nguyên có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, được chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Theo số liệu của Tổng cục Khí hậu Thủy văn, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1500 đến 2500mm, cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1 Nhiệt độ trung bình chênh lệch giữa tháng nóng nhất
giờ nắng trong năm dao động từ 1300 - 1750 giờ và phân phối thời gian đồng đều cho các tháng trong năm Lượng mưa trung bình khá lớn, từ 1500 -2500
mm, tổng lượng nước mưa tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên dự tính lên tới 6,4
gian Theo không gian, lượng mưa tập trung nhiều ở thành phố Thái Nguyên, huyện Đại Từ Trong khi đó tại huyện Võ Nhai, Phú Lương lượng mưa tập trung ít hơn Còn theo thời gian, lượng mưa tập trung khoảng 87% vào mùa mưa, trong đó tháng 8 chiếm gần 30% tổng lượng mưa cả năm Vì vậy, ở Thái Nguyên hay xảy ra những trận lũ lớn vào mùa mưa, và hạn vào mùa khô đặc biệt vào tháng 12, khi lượng mưa trong tháng chỉ bằng 0,5% tổng lượng mưa
cả năm
Trang 39Cây chè sinh trưởng ở vùng có lượng mưa hàng năm từ 1000-4000 mm,
ở Thái Nguyên rất thích hợp cho sự sinh trưởng của cây chè, đó là điều kiện
để thúc đẩy sự phát triển của ngành chè
2.1.1.2 Địa hình
Thái Nguyên có nhiều dãy núi cao chạy theo hướng Bắc - Nam, thấp dần xuống phía Nam Dãy Tam Đảo với điểm cao nhất là 1590m, các vách núi dựng đứng và kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam; dãy núi Ngân Sơn bắt đầu từ Bắc Kạn chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam đến huyện Võ Nhai; dãy núi Bắc Sơn chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Cả ba dãy núi trên đều là dãy núi cao che chắn gió mùa Đông Bắc, vì vậy Thái Nguyên ít chịu ảnh hưởng lớn của gió mùa này Thái Nguyên có địa hình đặc trưng là đồi núi, xen
kẽ với ruộng thấp, chủ yếu là núi đá vôi và đồi dạng bát úp Là một tỉnh trung
du miền núi nhưng địa hình tỉnh Thái Nguyên không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du miền núi khác Đây là một thuận lợi của Thái Nguyên cho canh tác nông lâm nghiệp và đặc biệt là cho sự phát triển của cây chè
2.1.1.3 Đất đai
Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 354.104,39 ha, trong đó đất núi chiếm 43,83% có độ cao trên 200 m, hình thành do sự phân hóa trên các đá macma, đá biến chất và đá trầm tích; đất đồi chiếm 24,57%; đất ruộng chiếm 12,11% nhưng phần lớn có độ phì thấp Đất chưa sử dụng chiếm 15,11%, khoảng 53.533,6 ha
Được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu và đất đai, Thái Nguyên có nhiều khả năng để phát triển nông, lâm, công nghiệp, du lịch và các loại hình dịch
vụ khác Diện tích rừng tự nhiên của tỉnh là 102.190 ha; diện tích rừng trồng khoảng 44.450 ha Đây là một lợi thế to lớn cho việc phát triển rừng nguyên liệu phục vụ chế biến gỗ nhân tạo, chế biến làm nguyên liệu giấy Diện tích
Trang 40thực, tỉnh còn có diện tích tương đối lớn để quy hoạch các đồng cỏ, phát triển mạnh chăn nuôi đại gia súc, chăn nuôi bò sữa
Do có những điều kiện tự nhiên thuận lợi, nên tỉnh Thái Nguyên là vùng đất phát triển của cây chè Chè Thái Nguyên, đặc biệt là chè Tân Cương,
là đặc sản từ lâu nổi tiếng trong và ngoài nước Toàn tỉnh hiện có 15.000 ha chè (đứng thứ 2 cả nước, sau Lâm Đồng), trong đó có trên 12.000 ha chè kinh doanh; hàng năm cho sản lượng khoảng trên 70.000 tấn chè búp tươi Tỉnh đã
có quy hoạch phát triển cây chè lên 15.000 đến 20.000 ha với sản lượng khoảng 105.000 tấn chè búp tươi/năm Cây ăn quả của tỉnh hiện có trên 10.000 ha, đến năm 2010 đưa lên 15.000 ha, có thể phát triển các loại cây như vải, mơ, nhãn, cam, quýt…
2.1.2 Công nghệ sản xuất
2.1.2.1 Kỹ thuật canh tác
Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất, chất lượng cây chè Nếu áp dụng khoa học kỹ thuật tốt sẽ tạo điều kiện tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm chè Đã có nhiều công trình nghiên cứu và tổng kết từ thực tiễn kỹ thuật trồng chè Để đảm bảo chống xói mòn, trồng được nhiều cây chè đồng đều, cho năng suất cao, chất lượng tốt và vườn chè thuận lợi cho việc đi lại "phải thực hiện một loạt các biện pháp như trồng theo kiểu nông - lâm kết hợp, trồng theo kiểu bình độ" Về phân bón, nhiều công trình nghiên cứu và thực nghiệm đã tiến hành, nhìn chung muốn đạt năng suất 5 tấn/ha chè búp tươi cần bón theo đúng cách Ngoài phân chuồng, phải có phân xanh tăng cường Nếu bón đạm với hàm lượng quá cao hoặc bón các loại phân theo tỷ lệ không hợp lý sẽ làm giảm chất tanin hòa tan của chè, làm tăng hợp chất nitơ dẫn tới giảm chất lượng chè
Một yếu tố khác tác động đến chất lượng của ngành chè là kinh nghiệm trồng và hái chè của công nhân Thái Nguyên có lịch sử phát triển ngành chè
từ lâu, nhân dân đã có nhiều kinh nghiệm trong trồng và chế biến chè Vì vậy,