ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HOÀNG THỊ THIỆP VẤN ĐỀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TINH THẦN TRUYỀN THỐNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HOÀNG THỊ THIỆP
VẤN ĐỀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TINH THẦN
TRUYỀN THỐNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
Ở CƠ SỞ CỦA THÀNH PHỐ THANH HÓA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HOÀNG THỊ THIỆP
VẤN ĐỀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TINH THẦN
TRUYỀN THỐNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
Ở CƠ SỞ CỦA THÀNH PHỐ THANH HÓA HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TRƯƠNG NGỌC NAM
HÀ NỘI - 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Trương Ngọc Nam
Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày 05 tháng 10 năm 2012
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Thiệp
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 GIÁ TRỊ VĂN HÓA TINH THẦN TRUYỀN THỐNG VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở CƠ SỞ 8
1.1 Giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam 8
1.1.1 Khái niệm văn hóa 8
1.1.2 Giá trị văn hóa 10
1.1.3 Giá trị văn hoá tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam 14
1.2 Nội dung xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở 22
1.2.1 Quan điểm của Đảng vể công tác xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở 22
1.2.2 Những yêu cầu chung trong xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở 27
1.2.3 Nội dung xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở 29
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TINH THẦN TRUYỀN THỐNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ Ở THÀNH PHỐ THANH HOÁ 37
2.1 Giá trị văn hoá tinh thần truyền thống ở Thanh Hoá và quan hệ của chúng với xây dựng đời sống văn hóa 37
2.1.1 Cơ sở hình thành các giá trị văn hoá truyền thống của Thanh Hoá 37
2.1.2 Sắc thái văn hoá trong quá trình phát huy giá trị văn hoá truyền thống dân tộc 48
2.1.3 Mối quan hệ giữa các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc với việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở thành phố Thanh Hóa 51
2.2 Thực trạng phát huy các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống trong xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở 58
2.2.1 Chủ trương của thành phố Thanh Hóa về xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở 58
2.2.2 Nội dung xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở thành phố Thanh Hóa 64
2.2.3 Một số những hạn chế trong công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở trên địa bàn thành phố 76
Trang 5Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY CÁC GIÁ
TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC TRONG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
THANH HÓA 80
3.1 Cơ sở đề xuất phương hướng 80
3.1.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020 81
3.1.2 Định hướng về công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở của tỉnh Thanh Hóa 82
3.1.3 Định hướng cụ thể xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên địa bàn thành phố Thanh Hóa 84
3.2 Một số giải pháp nhằm phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư trên địa bàn thành phố Thanh Hóa 85
3.2.1 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong xây dựng đời sống văn hóa ở thành phố Thanh Hóa 85
3.2.2 Công tác tuyển chọn, xây dựng đội ngũ tuyên truyền viên tại các cơ sở phường, xã 87
3.2.3 Công tác quy hoạch phát triển đội ngũ làm công tác văn hóa 89
3.2.4 Cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ văn hóa ở cơ sở 93
3.2.5 Đẩy mạnh công tác kiểm tra đánh giá chuyên môn của cán bộ văn hóa 95
3.2.6 Thực hiện đổi mới tổ chức quản lý cán bộ văn hóa ở cơ sở 96
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 105
Trang 6DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.1: Hệ thống tổ chức các đơn vị phường, xã hoạt động văn hóa của Thành
phố Thanh Hóa 23
Bảng 1.1 Tổng số nhà văn hoá được xây dựng ở các phố, thôn từ năm 2005-2010 30
Bảng 2.1: Các đơn vị hành chính phường, xã trên điạ bàn thành phố Thanh Hóa 58
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ quy định về xây dựng đô thị văn minh - công dân thân thiện giai đoạn (2008- 2010) 59
Bảng 2.2: Số lượng các phường/xã đạt danh hiệu tiên tiến (từ 2008-2011) 62
Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu về mức sống dân cư trên địa bàn thành phố 65
Bảng 2.4: Số hộ gia đình đạt gia đình văn hóa (từ 2008-2011) 70
Bảng 2.5: Kết quả vay vốn của các hộ gia đình 71
Bảng 2.6: Quy mô công sở xây dựng đơn vị văn hóa 73
Bảng 3.1: Quy hoạch cán bộ phụ trách các mảng văn hóa ở đơn vị cơ sở 91
Bảng 3.2: Quy hoạch cán bộ làm công tác văn hóa cơ sở ở đơn vị phường, xã thành phố Thanh Hóa 92
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Đào tạo - Nghiên cứu khoa học, Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị đã tạo điều kiện tốt nhất cho khóa học Tôi xin cảm ơn các nhà giáo, các nhà khoa học đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ chúng tôi suốt quá trình học tập, nghiên cứu vừa qua Đặc biệt, tôi xin cám ơn PGS.TS Trương Ngọc Nam đã trực tiếp giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành Luận văn tốt nghiệp
Tôi xin cảm ơn UBND tỉnh Thanh Hóa, UBND thành phố Thanh Hóa, Phòng Văn hóa - Thông tin thành phố, UBND các đơn vị phường, xã trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, Ban Giám hiệu trường Trung cấp nghề Nghi Sơn Thanh Hóa
đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tinh thần để tôi hoàn thành tốt luận văn này
Tôi xin cảm ơn các bạn học viên lớp cao học K9 chuyên ngành Triết học đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như để hoàn thành luận văn
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Kính mong các thầy giáo, cô giáo góp ý kiến để kết quả nghiên cứu tiếp theo được hoàn thiện hơn đưa ra những giải pháp nhằm phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
Thanh Hóa, tháng 10 năm 2012
Hoàng Thị Thiệp
Trang 8VHVN - TDTT : Văn hóa văn nghệ - Thể dục thể thao
HĐND : Hội đồng nhân dân
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo dòng lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, văn hóa đóng một vai trò cực kỳ quan trọng Trải qua muôn vàn biến cố của lịch sử, dân dộc Việt Nam vẫn trụ vững bởi đã tự xây dựng được một nền văn hóa đặc sắc, trong đó chứa đựng một nội lực văn hóa mạnh mẽ Truyền thống này tiếp tục được phát huy trong thế
kỷ 21, đồng thời được bổ sung thêm những yếu tố văn hóa mới, làm cho nền văn hóa cách mạng Việt Nam ngày càng đậm đà, tiên tiến, “sâu rễ bền gốc” trong quần chúng nhân dân
Thời đại Hồ Chí Minh với đường lối đúng đắn và sáng suốt của Đảng ta, văn hóa Việt Nam tiếp tục được phát huy và góp phần làm nên những thắng lợi to lớn của nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, Đảng ta đề ra phương hướng chiến lược cùng các nhiệm vụ và giải pháp để lãnh đạo và thực hiện thắng lợi xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội
Hiện nay việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc có vai trò đặc biệt quan trọng đảm bảo cho một dân tộc phát triển bền vững Gía trị văn hóa tinh thần truyền thống của Việt Nam gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp lên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự tôn, tự cường dân tộc, tinh thần cộng đồng gắn kết cá nhân gia đình - xã hội - Tổ quốc với quyết tâm xây dựng nền văn hóa dân tộc trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa Đây chính là nội lực của nền văn hóa Việt Nam trong sự hội nhập mạnh mẽ vào đời sống quốc tế trong những năm cuối thế kỷ này đã mở đầu cho thế kỷ mới
Để đảm bảo vững chắc cho việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống thì phải kết hợp với xây dựng kinh tế, phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa Cái làm nên sức mạnh thời đại, cái làm cho một xã hội trở nên hiện đại, văn minh không phải chỉ có công nghệ, kinh tế mà yếu tố quan
Trang 10trọng hơn là văn hóa, đặc biệt những giá trị văn hóa truyền thống Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Đảng xác định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa
là mục tiêu, động lực để phát triển kinh tế xã hội” [16, tr.34] Sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế cao với việc bảo tồn và chấn hưng văn hóa dân tộc với tư cách là
“sâu rễ bền gốc” cho sự phát triển bền vững của các quốc gia hiện nay trong đó có dân tộc Việt Nam
Trong thời kỳ đất nước mở cửa các sản phẩm văn hóa ngoại lai ồ ạt du nhập vào nước ta, trong đó có rất nhiều sản phẩm mang nội dung độc hại, đến việc các thế lực thù địch lợi dụng chính sách mở cửa của Đảng ta để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” thông qua những loại hình văn hóa, làm vũ khí tiến công lợi hại cho chúng, nhằm phá hoại công cuộc phát triển của đất nước
Công tác xây dựng đời sống văn hóa mới “làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” [17, tr.24] Do vậy chăm lo văn hóa là củng cố nền tảng tinh thần của
xã hội
Chúng ta không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa kinh tế với tiến bộ công bằng xã hội thì không thể có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững Những năm gần đây công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở trên phạm vi cả nước đã thu được những thành tựu quan trọng Đời sống văn hóa của nhân dân không ngừng được nâng cao Tuy nhiên, việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở nước ta hiện nay còn gặp nhiều khó khăn cần được nhận thức đúng đắn và giải quyết có hiệu quả
Bên cạnh đó, những mặt trái của cơ chế thị trường đã và đang nảy sinh không ít các tệ nạn xã hội, thói hư tật xấu làm xói mòn đạo đức, lối sống, thuần phong mỹ tục trong bộ phận nhân dân, nhất là tầng lớp thanh thiếu niên Vì vậy để ngăn chặn những tiêu cực, văn hóa độc hại, tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh, chúng ta cần coi trọng việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở Đây là một yêu cầu hết sức bức thiết và quan trọng, nó đòi hỏi phải có sự quan tâm, chỉ đạo cụ thể sát sao của cấp uỷ Đảng, chính quyền và sự tự giác hưởng ứng tham gia của mọi
Trang 11người và mỗi gia đình, cộng đồng dân cư ở cơ sở Chính vì vậy, việc lựa chọn đề tài
“Vấn đề phát huy giá trị văn hóa tinh thần truyền thống trong việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở của Thành phố Thanh Hóa hiện nay”, để nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, vừa cấp bách vừa cơ bản, lâu dài
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề văn hóa truyền thống từ lâu đã trở thành suối nguồn của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn Nhận thức rõ văn hóa là nền tảng tinh thần là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội
Do vậy, việc nghiên cứu các vấn đề về các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống đã được nhiều tập thể tác giả, các nhà khoa học nghiên cứu Tuy nhiên, vấn đề phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở hiện nay là chưa nhiều
Liên quan đến đề tài này đã có một số công trình khoa học đi sâu nghiên cứu
ở nhiều cấp độ khác nhau như:
Ngoài các công trình nghiên cứu của GS Trần Văn Giàu, GS Hoàng Trinh,
GS Nguyễn Hồng Phong, GS Trần Ngọc Thêm… các công trình nghiên cứu tập thể
do GS Nguyễn Trọng Chuẩn, PGS TS Hồ Sĩ Qúy, PGS TS Phạm Văn Đức; GS Phan Huy Lê và GS TS.Vũ Minh Giang được công bố trước năm 1998 Từ sau hội thảo khoa học quốc tế tại Hà Nội, ngày 02 - 03/01/1998 với chủ đề: “Truyền thống, giá trị và phát triển”, trên tạp chí Triết học đã đăng một số bài viết của GS TS Nguyễn Trọng Chuẩn, PGS TS Nguyễn Văn Huyên, PGS TS Đặng Hữu Toàn, Nguyễn Trần Bạt, Phạm Quang Nghị…
Bên cạnh đó, vấn đề này còn được thể hiện ở những luận văn, luận án như:
Kế thừa trong sự phát triển của nền văn hóa Việt Nam Luận án TS của Nguyễn Thu Linh, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đời sống ở Việt Nam hiện nay Luận án TS của Võ Văn Thắng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh khu vực II, 2008
Vấn đề giáo dục giá trị văn hóa tinh thần truyền thống cho thanh niên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Luận văn của Hoàng Nguyễn Tuyết
Trang 12Ngọc, Hà Nội 2010 Nội dung của luận văn này tập trung bàn về việc giáo dục giá trị văn hóa tinh thần cho thanh niên Việt Nam trong bối cảnh xã hội hiện đại Đây là một cứ liệu quan trọng để tác giả kế thừa về mặt lý luận
Các biện pháp hoàn thiện về quản lý nhà nước về văn hóa ở nước ta, luận văn Thạc sĩ của Đinh Đức Thiện, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
2006 Luận văn này khá hoàn chỉnh nhưng chủ yếu chỉ bàn về các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về văn hóa nói chung Việc luận giải các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống trong xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở cũng như các giải pháp nhằm phát huy các giá trị tinh thần truyền thống trong công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, các công trình khoa học tiêu biểu kể trên chưa bàn cụ thể đến
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu trực tiếp về phân vùng văn hóa, văn hoá và giá trị văn hóa xứ Thanh Đặc biệt Thanh Hóa có bộ Địa chí của tập thể các nhà sử học, địa lý, kinh tế, văn hóa của Thanh Hóa đã tập trung làm rõ từng mảng giá trị một “Vấn đề về phát huy các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống trong xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở trên địa bàn thành phố Thanh Hóa”, tập Địa chí Thanh Hóa chưa bàn cụ thể đến
- Địa chí văn hóa (2000), Địa lý và lịch sử, tập 1, HĐND-UBNDT, Nxb Văn hóa Thông tin Đã làm rõ các nội dung xưa và nay của lịch sử Xứ Thanh, trong đó
có các giá trị văn hóa lịch sử, nhưng ở góc độ đời sống văn hóa của Thành phố hiện nay thì chưa làm rõ
- Địa chí Thanh Hóa (2001), Văn hóa và xã hội, tập 2, HĐND - UBND tỉnh, Nxb văn hóa Thông tin, Chỉ bàn tới nội dung văn hóa xã hội khái quát, con người tồn tại trong môi trường văn hóa, xã hội nói chung và về thành phố Thanh Hóa nói riêng chưa đi sâu chưa cụ thể Do vậy, đây là cứ liệu quan trọng để tác giả làm căn
cứ cơ bản nghiên cứu luận văn
- Địa chí Thanh Hóa (2003 - 2004), Kinh tế, tập 3, HĐND - UBND tỉnh, Nxb Văn hóa Thông tin
- Tác phẩm “Nét đẹp Xứ Thanh” của tác giả Trần Đàm, Nxb Văn hóa Thông tin, Bộ VH Thông tin, tác giả đã cho người đọc cảm nhận về cảnh sắc thiên nhiên, con người Xứ Thanh nói chung xưa và nay nhưng tác giả chưa chỉ rõ góc độ đời sống văn hóa tinh thần của người dân Xứ Thanh như thế nào
Trang 13- UBND Tỉnh Thanh Hóa, Báo cáo tổng kết phong trào thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Báo cáo đưa ra việc hướng dẫn thực hiện các nội dung nhằm xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Việc làm rõ các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống dân tộc thì Báo cáo mới chỉ dừng lại ở vấn đề chung nhất mà chưa đưa ra cụ thể các giải pháp thực hiện nội dung phát huy các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống ở từng cụm dân
cư như thế nào Tác giả của luận văn đã đi tìm hiểu sâu sắc hơn nội dung này nhằm làm rõ “vấn đề phát huy các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống dân tộc trong công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa”
- UBND tỉnh Thanh Hóa, Báo cáo tổng kết phong trào, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” năm 2002 và phương hướng hoạt động 2003 Đã nêu một số nội dung trong xây dựng đời sống văn hóa, riêng vấn đề phát huy các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống trong xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, đặc biệt là trên địa bàn thành phố là chưa làm rõ
Các công trình nghiên cứu khoa học trên đây đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Song, việc tìm hiểu “Vấn đề phát huy giá trị văn hóa tinh thần truyền thống trong việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở của thành phố Thanh Hóa hiện nay” thì chưa có một công trình nghiên cứu nào khai thác, nhất là dưới góc độ triết học
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích:
Đề tài của luận văn nhằm mục đích nghiên cứu cơ sở lý luận của việc phát huy giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của dân tộc trong việc xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn thành phố Thanh Hóa Thực trạng phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong xây dựng đời sống văn hóa ở Thành phố Luận văn cũng đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy giá trị văn hóa tinh thần truyền thống nâng cao hiệu quả xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở của thành phố Thanh Hóa hiện nay
3.2 Nhiệm vụ:
- Làm rõ những khái niệm, nội dung của văn hóa tih thần truyền thống, đời sống văn hóa ở cơ sở
Trang 14- Làm rõ tầm quan trọng và nội dung của việc phát huy giá trị văn hóa tinh thần truyền thống trong việc xây dựng đời sống văn hóa mới ở cơ sở
- Phân tích đánh giá thực trạng của việc phát huy các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống ở cơ sở của thành phố Thanh Hóa hiện nay và nguyên nhân của
nó
- Đề ra một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của việc phát huy các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống trong việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở của thành phố Thanh Hóa
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Luận văn đi sâu tìm hiểu nội dung các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở của thành phố Thanh Hóa
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Luận văn không đề cập đến nội dung phát huy giá trị văn hóa tinh thần truyền thống trong việc xây dựng đời sống văn hóa mới nói chung trên địa bàn cả tỉnh Phạm vi nghiên cứu ở thành phố
- Ở mỗi địa phương, tầm quan trong của việc phát huy các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống trong xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở mình là không giống nhau Do vậy, trong khuôn khổ đề tài luận văn chỉ tập trung vào phân tích thực trạng, những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác phát huy các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của dân tộc trong việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở của thành phố Thanh Hóa
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận:
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và nhà nước về văn hóa, giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, đặc trưng văn hóa của vùng, miền, địa phương xứ Thanh
- Luận văn kế thừa các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước
có liên quan
Trang 155.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, phương pháp logic - lịch sử, phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, điều tra xã hội học để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn
6 Những đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ thực trạng xây dựng đời sống văn hóa “tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” ở cơ sở trên địa bàn thành phố Thanh Hóa
- Từ việc phân tích thực trạng rút ra những tồn tại yếu kém trong việc phát huy các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống trong xây dựng đời sống văn hóa ở cơ
sở trên địa bàn thành phố xứ Thanh
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao việc phát huy các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống trong xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở của thành Phố
- Với kết quả đạt được luận văn có thể làm tài liệu tham khảo thêm cho những chính sách về văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa trong công tác giảng dạy, hướng dẫn về văn hóa, phát huy các giá trị về văn hóa tinh thần trên địa bàn dân cư hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn kết cấu 3 chương, 6 tiết:
Chương 1: Giá trị văn hóa tinh thần truyền thống với việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
Chương 2: Thực trạng phát huy các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống trong việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở thành phố Thanh Hóa
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở trên địa bàn thành phố Thanh Hóa
Trang 16Chương 1 GIÁ TRỊ VĂN HÓA TINH THẦN TRUYỀN THỐNG
VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở CƠ SỞ
Theo dòng lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, văn hóa đóng một vai trò cực kỳ quan trọng Trải qua muôn vàn biến cố của lịch sử, dân tộc Việt Nam vẫn trụ vững bởi đã tự xây dựng được một nền văn hóa đặc sắc, trong đó chứa đựng một bản lĩnh, một nội lực văn hóa mạnh mẽ Truyền thống này tiếp tục được phát huy trong thế kỷ XXI, đồng thời được bổ sung thêm nhiều yếu tố văn hóa mới, làm cho nền văn hóa cách mạng Việt Nam ngày càng đậm đà, tiên tiến
Để phát huy được những giá trị văn hóa tinh thần tốt đẹp của cha ông ta, cần
có sự tham gia của toàn thể quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Cần có sự kết hợp hữu cơ giữa xây dựng phát triển văn hóa, nhấn mạnh những giá trị văn hóa tinh thần truyền thống đặc sắc Với hoạt động thực tiễn làm cho hệ giá trị văn hóa tinh thần truyền thống dân tộc từng bước được hiện thực hóa trong đời sống, trở thành động lực phát triển đất nước
Nhằm làm rõ nội dung của giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, cần thiết phải làm rõ vấn đề như thế nào là văn hóa, giá trị văn hóa, giá trị văn hóa tinh thần truyền thống… cơ sở hình thành và nội dung chủ yếu của một
số giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
1.1 Giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại có viết và căn dặn Đảng ta là
“Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế, văn hóa nhằm nâng cao đời sống của nhân dân” [27, tr.45] Thực hiện Di chúc của người Đảng và Nhà nước ta
có nhiều chủ trương, nghị quyết chỉ đạo các cấp chính quyền từ Trung ương đến cơ
sở luôn luôn coi trọng vai trò của văn hóa nghệ thuật, thường xuyên chăm lo đời sống văn hóa, đặc biệt là xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở cơ sở Nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân lao động, đồng thời thu hút đông đảo quần chúng tham
Trang 17gia vào quá trình gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của dân tộc
Văn hóa thường được xem xét từ nhiều khía cạnh khác nhau, chúng ta không nhận thức văn hóa như một hoạt động riêng biệt có tính ngành nghề Văn hóa là hoạt động sáng tạo nhằm phát huy những năng lực của bản chất con người để vươn tới giá trị Chân - Thiện - Mỹ
Đây là hoạt động nhằm tạo ra giá trị chuẩn mực xã hội, nuôi dưỡng sự hình thành nhân cách con người Với ý nghĩa đó, văn hóa có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người Dù đó là hoạt động sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần hay trong quan hệ giao tiếp ứng xử xã hội
Theo thống kê hiện nay, có khoảng 300 định nghĩa khác nhau về văn hóa, tùy theo góc độ nghiên cứu mà mỗi nhà văn hóa thường nhấn mạnh vào một khía cạnh nào đó Vì thế nhà xã hội học người Pháp Mercier đã ví thuật ngữ văn hóa như một
“tòa nhà đa diện” phức tạp về sắc thái ý nghĩa và thể hiện những cái nhìn nhiều chiều Nhưng trong phạm vi luận văn này chúng tôi cũng xin dẫn ra một vài định nghĩa về văn hóa mang tính bao quát
Khi nói về văn hóa, Hồ Chí Minh có quan niệm sâu sắc rằng:
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày ăn mặc ở và các phương thức sử dụng, toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [5, tr.4] Như vậy văn hóa trở thành sức mạnh tinh thần của toàn xã hội, thành động lực thúc đẩy cho kinh
tế, cho chính trị Văn hóa được người xem xét trong sự thống nhất giữa kinh tế với chính trị Nói các khác giữa văn hóa và chính trị có sự đan xen với nhau
Văn hóa là một hệ thống diễn biến trong lịch sử và nằm trong quá trình phát triển xã hội Một hệ thống sản xuất ra những giá trị tinh thần, duy trì phân phối và tiêu thụ những giá trị đó Một hệ thống nhằm đảm bảo sự đào tạo ra những con người về mặt tri thức, tình cảm và đạo đức, thành những thành viên tích cực của xã hội đồng thời cũng đảm bảo cho những người này về nhu cầu tinh thần của họ, một
sự đặc thù, có phân biệt diễn ra trong tất cả mọi giai đoạn phát triển của nhân loại
Trang 18và thích hợp với những điều kiện lịch sử xã hội cụ thể Theo GS Hà Văn Tấn “Văn hóa là hệ thống ứng xử của con người, với thiên nhiên và xã hội trong hoạt động sinh tồn và phát triển của mình Nói khác đi Văn hóa là sản phẩm hoạt động của con người, trong mối quan hệ tương tác giữa tự nhiên và xã hội, diễn ra trong không gian thời gian và hoàn cảnh nhất định” Văn hóa luôn gắn liền với sự phát triển và hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội, mở hướng đi mới cho sự phát triển của loài người trong tương lai
Để tiếp cận gần hơn về hiện tượng tinh tế và phức tạp này Đảng cộng sản Việt Nam đã nhận định và xắp xếp vào ba loại định nghĩa sau:
- Văn hóa hiểu theo nội dung cả khoa học, mỹ thuật, giáo dục, văn hóa nghệ thuật
- Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả trình độ phát triển về vật chất và tinh thần
- Văn hóa đặt trong phạm vi lối sống, nếp sống đạo đức xã hội, văn hóa nghệ thuật
Như vậy, văn hóa là sự biểu hiện của phương thức sống tồn tại người, là sự phản ánh tổng thể các giá trị do con người sáng tạo ra trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống, được tích lũy duy trì bảo tồn và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử, theo đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình
1.1.2 Giá trị văn hóa
Bàn về giá trị văn hóa, các nhà nghiên cứu đều cho rằng: Gía trị trước hết là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự đánh giá những thành quả lao động sáng tạo vật chất và tinh thần của con người Nó có tác dụng định hướng, đánh giá điều chỉnh các hoạt động xã hội, nhằm vươn tới cái đúng, cái tốt đẹp, thúc đẩy tiến bộ xã hội
Từ “giá trị” ngay từ thời cổ đại nó đã được các nhà triết học Hy lạp, Ấn Độ, Trung Hoa nhắc tới Ở Phương Tây khái niệm giá trị được đề cập rất nhiều trong các lĩnh vực khoa học như: tâm lý học, đạo đức, xã hội học, triết học, kinh tế học vào khoảng thể kỷ XVIII nhưng sang thế kỷ XIX giá trị mới được tách riêng thành khoa học độc lập và được các nhà giá trị học phân tích một cách sâu sắc
Lốtxơ (nhà Triết học văn hóa người Anh) đã đưa ra học thuyết “giá trị” khi phê phán chủ nghĩa tương đối và chủ nghĩa duy lý Ông đã luận chứng cho tính
Trang 19chân lý của nhận thức dựa trên giá trị khách quan của chân lý logíc và toán học Nhà giá trị học Vinđenban là học trò của Lốtxơ thì coi giá trị là những chuẩn mực,
là cái phông chung nhất cho mọi chức năng của văn hóa là cơ sở cho việc thực hiện bất cứ giá trị riêng biệt nào Người học trò của Lốtxơ cho rằng “cái thiện và cái đẹp được thể hiện như là một giá trị còn khoa học pháp luật, nghệ thuật đặc biệt là tôn giáo được xem như là giá trị thiện mỹ của văn hóa mà thiếu chúng con người không thể tồn tại” [52, tr.223]
Trong triết học văn hóa, nhà nhân chủng học Hoa Kỳ Kuluckhôn đã coi “giá trị mang trong bản thân nó những quan niệm bộc lộ hay thầm kín về cái ao ước riêng của một cá nhân hay một nhóm người Các quan niệm ấy chi phối sự lựa chọn của các phương thức, phương tiện và mục đích khả thi của hành động” [52, tr.54]
Cuối thế kỷ XIX nhà triết học F.Nietzsche khi chứng kiến sự sụp đổ của tất cả mọi giá trị văn hóa, tôn giáo, đạo đức trong sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, đã khẳng định rằng, việc xác định giá trị chính là một trong những nhiệm vụ của tương lai
Nhìn chung, các quan điểm trên giải thích giá trị xuất phát từ lý thuyết và thế giới quan của riêng mình Số khác lại căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử hay vào quyền lợi chính trị - xã hội Nhưng tất cả đều chưa lý giải một cách khoa học và triệt để bản chất của giá trị Mãi đến triết học Mác mới đưa ra một quan niệm đầy đủ về bản chất xã hội, tính lịch sử và tính thực tiễn của giá trị
Chủ nghĩa Mác khi nói tới giá trị là phải nói tới quan hệ, quan hệ đó nảy sinh
từ thực tiễn lao động sản xuất vật chất và đới sống xã hội của con người Gía trị không phải là những cái tiên nghiệm thần bí, có từ hư vô mà mọi giá trị đều có nguồn gốc từ lao động sáng tạo của quần chúng Con người có khả năng nhận thức được giá trị và thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm giá trị Do đó giá trị mang tính khách quan, điều này thể hiện ở chỗ giá trị chỉ tồn tại trong mối liên hệ tồn tại với nhu cầu của con người Sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi một nhu cầu của thực tiễn trong đó con người sống và hoạt động cần có thước đo giá trị làm chuẩn mực
Cho nên “từ góc độ triết học văn hóa thì đời sống con người về thực chất là một thế giới của các giá trị” [52, tr.54] Giá trị trở thành hình thức biểu hiện thái độ của con người đối với những chuẩn mực văn hóa do chính họ trực tiếp đúc kết nên
Trang 20theo đời sống lịch sử của cộng đồng họ Nếu nhận thức được giá trị, mỗi cá nhân sẽ hoạch định được tương lai, đánh giá hiện tại và lưu giữ trong trí nhớ cái quá khứ
Chủ nghĩa Mác gắn giá trị với nhu cầu và là thước đo tính nhân bản của con người Thực chất của giá trị là những quan hệ tốt đẹp đánh dấu sự phát triển về mặt chân, thiện, mỹ mà xã hội đã đạt được nhằm phát triển và hoàn thiện đời sống xã hội
Về giá trị chân, thiện, mỹ, GS Nguyễn Tài Thư nhận xét: “Nói đến giá trị là nói đến cái có ích, có lợi cho nhân dân, cho dân tộc, cho sự phát triển xã hội, nói tới những gì
mà có thể thỏa mãn nhu cầu lợi ích của con người trong lịch sử” [22, tr.136]
Như vậy, giá trị là một phạm trù cơ bản liên quan đến đời sống con người, đến thực tiễn xã hội, giá trị giúp con người điều chỉnh hành vi của mình trong cuộc sống Nói đến giá trị nghĩa là luôn muốn khẳng định mặt tích cực coi giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp thôi thúc con người ta hành động và không ngừng vươn tới đem lại sự phát triển cho con người và cho xã hội
Mỗi một dân tộc dù ở trình độ văn minh cao hay thấp đều có những giá trị văn hoá truyền thống đặc trưng riêng của mình Hệ thống giá trị văn hoá truyền thống đó chính là sự kết tinh tất cả những gì tốt đẹp nhất được chắt lọc qua nhiều thời đại lịch sử để tạo nên bản sắc riêng của một cộng đồng dân tộc Giá trị văn hoá truyền thống đó được truyền lại cho thế hệ sau và trở thành một động lực nội sinh
“Nền văn hoá được truyền lại được gọi là truyền thống văn hoá Như vậy, nó phản ánh được những thành tựu con người, tích tập được trong quá trình tìm hiểu,
Trang 21thực hiện và truyền bá ý nghĩa sâu lắng nhất của cuộc sống Đó chính là truyền thống theo nghĩa hài hoà của nó như là hiện thân của trí tuệ” [20, tr.19]
Theo TS.Trần Nguyên Việt thì: “Có thể coi truyền thống là một bộ phận tương đối ổn định của ý thức xã hội, được lặp đi lặp lại trong suốt tiến trình hình thành và phát triển của các nền văn hoá tinh thần và vật chất, là một giá trị nhất định, đối với từng nhóm người, từng giai cấp, cộng đồng và xã hội nói chung” [19, tr.113] Như vậy có thể khẳng định, giá trị văn hoá trở thành một bộ phận thiết yếu của cuộc sống và góp phần phát triển cuộc sống Văn hoá truyền thống mang tính giá trị bởi vì nó là chuẩn mực, là thước đo cho hành vi đạo đức, cho quan hệ ứng xử giữa người và người trong một cộng đồng, một giai cấp, một quốc gia, một dân tộc nhất định
Giá trị văn hoá truyền thống của mỗi dân tộc là những nguyên lý đạo đức lớn
mà con người trong một nước thuộc các thời đại, các giai đoạn lịch sử đều dựa vào
để phân biệt phải trái, đúng sai, để định hướng cho hoạt động vì mục đích xây dựng cuộc sống tự do và tiến bộ của dân tộc đó
Hơn nữa, văn hoá ra đời trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc Những giá trị của nó được chuyển giao tiếp nối, qua nhiều thế hệ và giá trị văn hoá đó được gìn giữ, được phát huy lên một tầm cao mới Qua hàng ngàn năm lịch sử, các giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam như chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn, ý thức cộng đồng được lưu truyền phát triển tạo thành một hệ giá trị mới của dân tộc Việt Nam
Bên cạnh đó, những giá trị văn hoá đã được gạn lọc khẳng định qua nhiều thế
hệ, nó trở thành cái chân, cái thiện, cái mỹ được lịch sử thừa nhận Nó là một trong những hệ giá trị của văn hoá dân tộc, một thành tố ổn định của ý thức xã hội Ở Việt Nam đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, truyền thống “lá lành đùm lá rách” trở thành những giá trị ổn định Nó là những thước đo khuôn mẫu nhân cách con người, hành
vi của mỗi cá nhận và cộng đồng xã hội
Như vậy, giá trị văn hoá của dân tộc đã mang trong mình nó tính giá trị, tính
ổn định và tính lưu truyền đã tạo nên dáng vẻ riêng của giá trị văn hoá Việt Nam Trong những cuộc đụng đầu lịch sử với những kẻ thù hung bạo nhất dân tộc ta tìm thấy sức mạnh trong những giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam
Trang 221.1.3 Giá trị văn hoá tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Mỗi một dân tộc có một hệ thống các giá trị văn hoá tinh thần khác nhau Hệ thống các giá trị truyền thống ấy là cốt lõi văn hoá dân tộc, là hạt nhân liên kết cộng đồng, là chuẩn mực định hướng cho các thành viên trong cộng đồng thống nhất hành động
Theo cách đánh giá của GS.Trần Văn Giàu: “Truyền thống là những đức tính hay thói tục kéo dài qua nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử và hiện có tác dụng, tác dụng đó có thể là tích cực có thể là tiêu cực [19, tr.50]
Từ điển Bách khoa Xô Viết định nghĩa: “Truyền thống là những yếu tố văn hoá, xã hội truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ trong các xã hội, giai cấp và nhóm xã hội trong một quá trình lâu dài Truyền thống được thể hiện trong các chế định xã hội, chuẩn mực của hành vi, các giá trị, tư tưởng, phong tục, tập quán và lối sống” [19, tr.11]
Truyền thống là một cộng đồng người được hình thành, phát triển, biến đổi theo tiến trình lịch sử và tất nhiên không phải là bản thân lịch sử Truyền thống của một cộng đồng không phải là cái có sẵn, cũng không phải sản phẩm thuần tuý chủ quan của con người mà nó được hình thành trong quá trình lịch sử Nó là sản phẩm của sự thống nhất của điều kịên khách quan và chủ quan, chịu sự chi phối của môi trường tự nhiên, điều kiện địa lý, hoàn cảnh lịch sử và xã hội
Truyền thống với tư cách là tổng hợp những tư tưởng tình cảm, phong tục tập quán, lối sống của một cộng đồng người, hình thành trong quá trình lịch sử, tương đối ổn định được truyền từ đời này sang đời khác bao hàm cả mặt tích cực và mặt tiêu cực, hình thành nên những truyền thống tốt đẹp và những truyền thống tiêu cực Nghĩa là cái được quan niệm là giá trị ở dân tộc này nhưng lại không được coi là giá trị trong quan niệm của dân tộc khác Rõ nhất là trong các câu ca dao tục ngữ: “Bầu
ơi thương lấy bí cùng tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, “lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều”, “môi hở răng lạnh”… là những truyền thống tốt Nhưng “mê tín dị đoan”, “buôn thần bán thánh”, “con gà tức nhau tiếng gáy” là những truyền thống xấu cần phải loại bỏ
Trang 23Trong bài “Đạo đức cách mạng” (tháng 12 - 1958), Hồ Chí Minh đã nói:
“Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch to, nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ Chúng ta không thể trấn áp nó, mà phải cải tạo nó rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài” Vậy không một quá khứ nào có thể giữ nguyên vẹn khi gia nhập vào đời sống hiện đại và đi tới tương lai Do vậy, “truyền thống” là tất cả những gì còn lưu lại cho chúng ta, nhưng không còn nguyên vẹn như cũ nữa mà đã được “thăng hoa”, quan trọng hơn nữa là nhìn nhận truyền thống không phải là di tích của quá khứ mà là hơi thở kết nối giá trị mới
Mặt khác, truyền thống còn là nơi dung dưỡng duy trì, làm sống lại mặt bảo thủ, lạc hậu khi điều kiện và hoàn cảnh đã thay đổi Mặt này góp phần kiềm hãm, níu kéo làm chậm chễ sự phát triển của một quốc gia dân tộc Như vậy văn hoá truyền thống là một bộ phận của truyền thống, là mặt tích cực, mặt giá trị của truyền thống
Nếu như chúng ta quan niệm bản sắc văn hoá dân tộc là toàn bộ tâm hồn khí phách sâu xa nhất của dân tộc, nơi hội tụ những phẩm chất đặc sắc nhất của văn hoá cộng đồng, là cốt lõi bên trong như là tấm căn cước của một dân tộc thì giá trị văn hoá tinh thần truyền thống dân tộc là khía cạnh, là những nét độc đáo của bản sắc dân tộc Nói cách khác giá trị truyền thống dân tộc là những thành tố cấu thành bản sắc văn hoá dân tộc
Vì vậy, khi nói đến văn hoá truyền thống dân tộc là nói đến những truyền thống đã được lịch sử đánh giá, khẳng định ý nghĩa tích cực của chúng đối với cộng đồng trong một giai đoạn lịch sử nhất định Đồng thời khi xem xét đánh giá truyền thống và các giá trị văn hoá tinh thần truyền thống cần phải có quan điểm biện chứng, quan điểm lịch sử cụ thể, nghĩa là phải đặt chúng trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử nhất định của cả quá khứ và hiện tại
Giá trị văn hoá tinh thần truyền thống của dân tộc ta là do chính cộng đồng người Việt tạo dựng nên, phát triển và bồi đắp từ buổi đầu dựng nước cho đến ngày hôm nay Dân tộc ta đã phải chịu ách đô hộ ngàn năm của bọn phong kiến phương Bắc nhưng không vì thế mà nhân dân ta đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc mà qua chiến tranh còn làm phong phú thêm bản sắc văn hoá cho dân tộc mình
Trang 24Trong quá trình tiếp thu các loại hình văn hoá nhân dân ta đã biết biểu đạt một cách sáng tạo cho phù hợp với thực tế lịch sử nhằm chuyển tải những giá trị văn hoá dân tộc Với phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” khi tiếp xúc với các nền văn hoá lớn ông cha ta không bao giờ có thái độ vong bản, cũng không rơi vào tâm lý mặc cảm, tự ti mà luôn sáng tạo để có một nền văn hoá độc lập mà không biệt lập, hội nhập mà không hoà tan
Thật vậy, dân tộc nào cũng có giá trị văn hoá tinh thần truyền thống riêng của mình, không phân biệt màu da, chủng tộc, đó là những giá trị tốt đẹp về phong tục tập quán, cách ứng xử… theo hướng chân, thiện, mỹ Đó là những giá trị văn hoá tinh thần truyền thống tốt đẹp được chắt lọc, lưu truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác trong suốt chiều dài của lịch sử Nó chiếm một vị trí cốt lõi trong hệ giá trị tinh thần của dân tộc ta
Giá trị văn hoá tinh thần truyền thống dân tộc sẽ luôn được bổ sung bồi đắp những giá trị mới, thích ứng với điều kiện mới để từ đó tạo ra những giá trị văn hoá mới phù hợp với sự phát triển của xã hội, nhưng về bản chất thì không thay đổi Nói khác đi là nó không có sự thay đổi cơ bản về chất Vì thế, giá trị văn hoá tinh thần truyền thống được ví như nền tảng vững chắc, là điểm tựa cho mỗi dân tộc trên con đường phát triển cùng nhân loại
Các giá trị văn hoá tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam được hình thành trong suốt hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, trong sự giao lưu
và tiếp thu tinh hoa của các nền văn hoá khác Theo GS.Trần Văn Giàu giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam bao gồm: “Yêu nước, cần cù, anh hùng sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa” [20, tr.94]
Đó là “Lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự tôn, tự hào dân tộc, tinh thần cộng đồng gắn kết cá nhân, gia đình - làng xã - Tổ quốc, lòng nhân ái bao dung trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, là đức hy sinh cao thượng, tất cả vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân, là sự tế nhị trong cư
xử, tính giản dị trong lối sống” [14, tr.90]
Cũng như bất kỳ một dân tộc nào khác, dân tộc ta muốn sinh tồn thì phải liên tục chinh phục và cải tạo thiên nhiên, đó là một quá trình lao động vất vả, kiên trì,
Trang 25gian khổ và anh dũng chống lại hạn hán, lũ lụt, bão táp Thiên tai là kẻ thù nguy hiểm nhất và là thử thách đầu tiên trong cuộc sống của nhân dân ta Từ khi dựng nước cho tới nay, dân tộc ta đã liên tiếp đương đầu với giặc ngoại xâm Địch hoạ là mối đe doạ thường xuyên và nguy hiểm nhất đối với dân tộc Cuộc đấu tranh lâu dài
để tồn tại và phát triển, vượt qua chông gai, hoạn nạn, do thiên tai, địch hoạ là trường học lịch sử rèn luyện bản lĩnh dân tộc, hun đúc nên giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tuy có những quan điểm cụ thể khác nhau, cách diễn đạt khác nhau nhưng tất cả đều khẳng định rõ vị trí nổi bật của các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc bao gồm những giá trị truyền thống cơ bản sau:
- Tinh thần yêu nước
Trong số những giá trị văn hoá truyền thống quý giá của dân tộc thì “yêu nước là hệ giá trị cao nhất trong hệ thống giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam” [20, tr.24] Yêu nước là tư tưởng tình cảm phổ quát của mỗi dân tộc, quốc gia trên thế giới, nhưng ở Việt Nam nó đã trở thành chủ nghĩa yêu nước “Chủ nghĩa yêu nước là sản phẩm của bản thân lịch sử Việt Nam được bắt đầu bằng tình cảm tự nhiên của mỗi người với quê hương mình tiến lên thành tư tưởng và hệ thống tư tưởng, làm chủ sự nhận thức đúng, sai, tốt xấu, nên chăng và chỉ đạo rất nhiều phương lược xây dựng và bảo vệ nước nhà” [21, tr.7] Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là sản phẩm chuẩn mực nhất của đạo lý và đứng đầu bậc thang giá trị truyền thống dân tộc Đối với mỗi người, lòng yêu nước phát triển từ những tình cảm bình
dị và gần gũi với mỗi người ruột thịt, dần phát triển thành tình cảm gắn bó với làng xóm, quê hương và cao hơn hết là lòng yêu tổ quốc, lòng tự hào dân tộc
Có thể nói rằng lịch sử dân tộc ta từ khi dựng nước cho đến nay là lịch sử dân tộc chống ngoại xâm Cho nên, yêu nước trước hết là tập trung ở tinh thần chống giặc ngoại xâm, “nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm
nô lệ”, thực hiện chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”
Tinh thần yêu nước ấy được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân ta có lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của dân tộc ta Từ xưa đến nay mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành làn
Trang 26sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [29, tr.171] Chính tinh thần yêu nước nồng nàn
ấy đã giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược giữ vững độc lập tự do cho tổ quốc Đảng ta đã khẳng định: Từ ngày có Đảng, ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, truyền thống yêu nước và dân chủ của nhân ta được nâng lên một trình độ mới và phát huy mạnh mẽ hơn bao giờ hết
Tinh thần yêu nước Việt Nam còn được biểu hiện ở sự quý trọng nền văn hoá dân tộc cũng như sắc thái văn hoá của các địa phương, của các dân tộc trong nước Đó là ý thức chủ quyền và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam
Ngày nay, truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam thể hiện trong xây dựng và phát triển đất nước, trước hết là chăm lo xây dựng đất nước về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá… Thể hiện ở sự nhất trí, tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng, vào khả năng sức mạnh trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
- Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng
Tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng đã trở thành tình cảm cao đẹp và đạo lý làm người của dân tộc ta Truyền thống tốt đẹp đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết thành chân lý: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công” Đó là một quy luật vận động kết quả của lịch sử của nước ta từ khi dựng nước cho đến nay, là một bài học kinh nghiệm quý giá, sẽ tiếp tục được phát huy có hiệu quả trong điều kiện lịch sử mới Dù trong hoàn cảnh nào, ở đâu mỗi người Việt Nam đều là con Lạc cháu Hồng có chung nguồn gốc tổ tiên cùng nghĩa tình đồng bào không gì thay thế
Tinh thần đoàn kết cộng đồng là nét quan trọng trong ý thức trong tâm hồn người Việt vì thế họ lun sẵn sàng đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau khi gặp hoạn nạn, khó khăn Họ đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân, lợi ích của làng, nước lên trên lợi ích của gia đình Tính cộng đồng trong phạm vi làng là cơ sở tạo nên tính đồng nhất trong hàng loạt các lĩnh vực: đồng tộc, đồng niên, đồng nghiệp, đồng hương…và tất yếu dẫn đến đồng nhất trong phạm vi toàn quốc: đồng bào Tinh thần đoàn kết toàn dân từ đó mà ra Xưa Nguyễn Trãi nói: “Chèo thuyền cũng là dân, lật
Trang 27thuyền cũng là dân” để chỉ sức mạnh đoàn kết của nhân dân Lúc sinh thời Bác Hồ cũng từng nói: Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong Với tinh thần đoàn kết và ý thức cộng đồng chặt chẽ ấy mà cộng đồng người Việt nói chung và nhân dân tỉnh Thanh nói riêng cũng đã hoà sức, đồng lòng đã phát huy được sức mạnh vô cùng to lớn góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, và ngày nay tinh thần ấy luôn tiếp tục được phát huy mạnh mẽ
- Ý thức cần cù chịu khó, tiết kiệm
Một biểu hiện khác của chủ nghĩa yêu nước và cũng là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta trong quan hệ với tự nhiên đó là đức tính lao động cần cù, nó như là một đức tính gắn liền với đời người Việt Nam trong hoạt động sáng tạo ra của cải vật chất, tinh thần và các mặt hoạt động khác của con người
Dân ta vốn có truyền thống cần cù, chịu thương chịu khó trong lao động sản xuất ra của cải vật chất và trong lao động trí óc Bởi lẽ nước ta là một nước nông nghiệp, ngay từ buổi đầu dựng nước, lao động của con người cbủ yếu là lao động cơ bắp, nếu không cần cù, chịu khó, tiết kiệm thì khó có thể tồn tại Vậy nên, nếu người dân không “dầm mưa dãi nắng”, “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” thì sao sao thu được hoa lợi nhằm đảm bảo cho sự sống còn của mình
Trong cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ của dân tộc ta những con người tay không chân đất, đã cần cù, chịu khó, đã không quản sự hy sinh xương máu cho độc lập dân tộc Họ đã cùng nhau sẻ dọc Trường sơn cứu nước, mở những con đương mòn huyết mạch được cả thế giới biết đến đường mòn Hồ Chí Minh lịch sử Dân tộc Việt Nam mỗi người như một, chung sức đồng lòng, nhường cơm, sẻ áo, tất
cả cho tuyền tuyến, tất cả cho kháng chiến, cho dân tộc Việt Nam thống nhất, tự do
Ngày nay, cũng nhờ đức tính cần cù, chịu khó, tiết kiệm đã cho phép các vùng, miền, địa phương có của cải để dành, đóng góp vào xây dựng việc làng, việc
họ, việc cưới xin, việc nước… Họ đã không ngừng vươn lên sự nghèo nàn của hiện thực, cần mẫn, chắt chiu để các thế hệ có thể theo đuổi đạo học, mở mang trí tuệ, giải phóng cho bản thân và cho xã hội Thanh Hoá cũng đã trở thành một vùng đất như thế
Trang 28- Tinh thần trọng nghĩa tình, hiền hoà, chất phát
Sự tôn trọng nghĩa tình là một tình cảm chứa đầy lý chí, đã trở thành đạo lý, nguyên tắc sống của nhân dân ta không chỉ với đồng bào của mình mà còn với đồng bào nói chung Người Việt Nam vẫn thường đối xử với nhau có tình, có nghĩa Sự coi trọng tình nghĩa được hình thành trong quá trình quan hệ giao tiếp ở các làng xã
cổ truyền và được tồn tại qua ngàn năm cùng với sự biến thiên của lịch sử dân tộc Người Việt coi trọng tình nghĩa hơn mọi sự của cải khác: “Sông sâu, nước chảy đá mòn Của kia ăn hết nghĩa còn ghi xương” “Nghèo nhân nghèo nghĩa thì lo, Nghèo tiền, nghèo bạc chẳng cho là nghèo” Đó là sự lựa chọn thích hợp nhất, phương thức ứng xử tối ưu trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng xã hội Nam nữ kết hôn với nhau cũng vì nghĩa, sống có tình có nghĩa, thậm chí tình hết mà nghĩa còn, họ vẫn sống với nhau Bạn bè đôi xử với nhau cũng theo nghĩa: “Bạn bè theo nghĩa tương tri Sao cho sau trước một bề mới nên” Làng xóm sống với nhau bởi “tình làng nghĩa xóm” Đánh giặc cũng vì nghĩa với non sông, đất nước Sự tôn trọng tình nghĩa đã trở thành nguyên tắc sống của nhân dân ta, không chỉ đối với đồng bào mình mà còn đối với đồng loại nói chung
Truyền thống tôn trọng tình nghĩa đã làm cho người Việt luôn hướng tới và hành động thực hiện những mục tiêu chân - thiện - mỹ, những giá trị tinh thần cao quý, bỏ qua hoặc xem nhẹ những vật chất tầm thường Nó là sợi dây ràng buộc giữa con người với con người và giữa họ với cộng đồng không phải bằng tiền tài mà chỉ bằng sự thoả mãn tinh thần Tất nhiên nó là một giá trị đạo đức, một chuẩn mực xã hội, một tiêu chuẩn đánh giá và định hướng tích cực cho hoạt động của mỗi người Việt Nam trong cuộc sống
- Tinh thần hiếu học
Người Việt Nam chúng ta vẫn tự hào về tính hiếu học của dân tộc mình và hiển nhiên nó được xem như là một truyền thống lâu đời của dân tộc Tinh thần hiếu học ấy có cơ sở bền vững từ trong mỗi gia đình Việt Nam Hiếu học là biểu hiện của
sự khát khao tri thức của con người, từ nhu cầu tự thân của cuộc sống “không thầy
đố mày làm nên”, “nửa bụng chữ bằng một hũ vàng” Từ xua đến nay từ thành thị,
Trang 29đến nông thôn các bậc cha mẹ dù nghèo khó đến đâu cũng luôn ước muốn cho con học dăm ba chử để thành người hữu dụng
Là một quốc gia sống chủ yếu dựa vào sản phẩm ít ỏi của nền nông nghiệp truyền thống, dân ta vân luôn tạo điều kiện thuận lợi cho thế hệ con cái theo đuổi con đường học hành, thi cử Sự học của con người Việt Nam không chỉ được thực hiện trong các chùa chiền, trong các trường học do chính quyền đô hộ lập ra, hay các trường lớp của nhà nước phong kiến, mà phần lớn được tiến hành trong các trường lớp do làng xã xây dựng hoặc mời thầy giáo về nhà trực tiếp dạy học Sau Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Nhà nước mới đã thực hiện chính sách giáo dục toàn dân, chỉ sau một thời gian ngắn đã hoàn thành xoá bỏ nạn mù chữ Nhà nước, địa phương và nhiều dòng họ đã có cơ chế thích hợp đến khuyến khích việc học hành và thi cử cho các thành viên Tinh thần hiếu học của dân tộc ta với nhiều vùng đất học nổi tiếng, đã sản sinh ra nhiều danh nhân văn hoá, nhiều học giả uyên bác
Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức được rằng chúng ta không thể khắc phục nghèo đói, đưa đất nước phát triển nếu không có tri thức khoa học Trong điều kiện hiện nay, hiếu học là một yếu tố hết sức quan trọng cho sự phát triển tương lai của đất nước vì như vậy mới có thể đào tạo ra và sử dụng những con người “vừa hông vừa chuyên” Nó thực sự là một cứu cánh của dân tộc ta trong thời kỳ mở cửa, giao lưu và hội nhập quốc tế hiện nay
Trên đây là một số giá trị truyền thống cơ bản, nổi bật trong hệ giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam Mỗi giá trị có một vị trí, biểu hiện khác nhau nhưng nó không phải là của riêng dân tộc (tộc người) này hay của riêng dân tộc (tộc người) khác, của riêng địa phương này hay riêng địa phương khác, mà thống nhất trong toàn bộ dân tộc Việt Nam “Mặc dù địa hình kéo dài một cách lạ thường, dân tộc Việt Nam vẫn thuần nhất” [22, tr.188] Nói cách khác sắc thái văn hoá địa phương
là nơi những giá trị truyền thống dân tộc biểu hiện sự tồn tại của mình
Như vậy, việc nghiên cứu những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc qua sắc thái văn hoá của các địa phương khác nhau nhằm phát huy vai trò tích cực của
nó trong sự phát triển đất nước nói chung và xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở nói
Trang 30riêng nhằm làm cho các giá trị văn hoá tinh thần truyền thống của dân tộc ta ngày càng thấm sâu vào đời sống của từng từng địa bàn dân cư Đây tuyệt nhiên không phải là một thứ chủ nghĩa địa phương, cát cứ… mà hoàn toàn dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn
1.2 Nội dung xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở
Sự nghiệp đổi mới đất nước của Đảng và nhân dân ta đòi hỏi phải phát huy cao độ năng lực tinh thần của con người Việt Nam về trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh Đây là sự nghiệp sáng tạo to lớn của nhân dân ta Sự thay đổi về
cơ cấu kinh tế, kết cấu xã hội, nhu cầu tăng nhanh về văn hoá của mọi tầng lớp dân
cư, quá trình dân chủ hoá đời sống xã hội là yếu tố thay đổi đời sống văn hoá dân tộc đặc biệt là đời sống văn hoá ở cơ sở của quần chúng nhân dân
1.2.1 Quan điểm của Đảng vể công tác xây dựng đời sống văn hoá ở
cơ sở
Đời sống văn hóa được thể hiện ngay trong những môi trường văn hoá nhỏ của cộng đồng con người, tức là tồn tại ngay ở cơ sở Đời sống văn hoá của một nước được thể hiện qua những đơn vị cơ sở Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở của nước ta hiện nay có nghĩa là xây dựng văn hoá ngay trong đời sống hằng ngày của nhân dân ở cơ sở Đó là xây dựng nền tảng cho một đời sống văn hoá mới xã hội chủ nghĩa, của toàn xã hội
Trong những năm qua thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng, đặc biệt từ khi thực hiện Nghị quyết TW5 (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, đã đáp ứng được yêu cầu nguyện vọng của nhân dân nên nhanh chóng đi vào cuộc sống, được cán bộ nhân dân thành Phố đồng tình hưởng ứng Sự gắn kết giữa văn hoá với các lĩnh vực đời sống xã hội ngày càng chặt chẽ và có tác dụng tốt giữ vững ổn định chính trị- xã hội, phát triển kinh tế trên địa bàn thành Phố Việc phát huy các giá trị văn hoá truyền thống trong những năm qua đã được cấp uỷ, chính quyền các cấp, ban ngành đặc biệt quan tâm
và phát triển mạnh mẽ trong đời sống xã hội
Trang 31Sơ đồ 1.1 Hệ thống tổ chức các đơn vị phường, xã hoạt động văn hóa
của Thành phố Thanh Hóa
+ Bộ Văn hóa: - Bộ Văn hóa chịu trách nhiệm lập kế hoạch, quy hoạch, phát triển chương trình mục tiêu quốc gia, dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về lĩnh vực văn hóa gia đình, TDTT; chịu trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến, thành lập các tổ chức sự nghiệp nhà nước thuộc lĩnh vực văn hóa gia đình, thể dục, thể thao và du lịch
- Hướng dẫn chủ trì, phối hợp với các bộ ngành liên quan, hướng dẫn thực hiện các quy định, xây dựng và tổ chức thực hiện nội dung gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa
+ Sở Văn hóa tỉnh Thanh Hóa:
- Bao gồm các phòng ban (phòng thanh tra, kế hoạch tài chính, tổ chức cán
bộ, nghiệp vụ văn hóa, xây dựng nếp sống văn hóa và gia đình, quản lý di sản văn hóa…)
- Phòng xây dựng nếp sống văn hóa và gia đình tham mưu cho Giám đốc sở quản lý nhà nước về xây dựng nếp sống văn hóa và gia đình văn hóa, trên địa bàn tỉnh
Trang 32- Xây dựng kế hoạch phát triển về nếp sống văn hóa và gia đình trên địa bàn Tỉnh Hướng dẫn chỉ đạo việc thực hiện quy hoạch thiết chế văn hóa cơ sở trên địa bàn, trên cơ sở quy chế mẫu của Bộ Văn hóa Thông tin
- Xây dựng văn bản quản lý nhà nước về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, xây dựng gia đình, làng, cơ quan đơn vị văn hóa, phòng chống tệ nạn xã hội trên địa bàn tỉnh
- Phối hợp với các ban, ngành, chỉ đạo hướng dẫn phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”
+ Phòng Văn hóa Thành phố:
- Phòng Văn hóa và Thông tin là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân thành phố Thanh Hóa có chức năng tham mưu, giúp UBND Thành phố thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên các lĩnh vực văn hóa, gia đình, TDTT, chịu sự chỉ đạo, quản lý, tổ chức và hoạt động của UBND Thành phố và Sở Văn hóa Thông tin
- Phòng Văn hóa Thành phố có nhiệm vụ trình UBND Thành phố quy hoạch
kế hoạch dài hạn 5 năm, hàng năm và các văn bản hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách, pháp luật, các quy định của ủy ban nhân dân tỉnh thành phố
- Thực hiện công tác, thông tin, báo cáo tỉnh, sở văn hóa về toàn bộ hoạt động văn hóa gia đình và khu dân cư trên địa bàn
Như vậy, Phòng Văn hóa Thông tin thành phố Thanh Hóa có trách nhiệm hướng dẫn các tổ chức, đơn vị và cá nhân trên địa bàn thành phố thực hiện phong trào, văn hóa, văn nghệ, phong trào lyện tập TDTT, xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội Thẩm định, đăng ký hoạt động văn hóa của phường, xã, xây dựng “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng gia đình văn hóa, khu phố văn hóa, đơn vị văn hóa, đặc biệt là đang thực hiện nội dung
“Đô thị văn minh - Công dân thân thiện” trên địa bàn thành phố
Trong dự thảo Văn kiện trình Đại hội XI của Đảng toàn quốc đã nêu rõ:
“Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ tiến bộ; làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở
Trang 33thành sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển” [16, tr.34], là một trong những định hướng lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Xác định rõ phương hướng lớn của chính sách văn hoá Việt Nam là phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng, truyền thống đại đoàn kết dân tộc; phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ giữa kế thừa và phát triển những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tích cực và chủ động tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đảng ta cũng đã chỉ rõ toàn bộ các hoạt động văn hoá phải tập trung vào xây dựng con người và môi trường văn hoá lành mạnh
Trong nội dung góp ý cụ thể vào Cương lĩnh 1991 (Bổ sung và phát triển), PGS TS Phạm Duy Đức, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh,
đề nghị tách văn hoá thành một phần độc lập trong hệ thống các chính sách phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại Một trong những nội dung hết sức quan trọng của phần văn hoá này mà PGS.TS Phạm Duy Đức nhấn mạnh đó là: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hoá, thể thao hiện
có, xây dựng các công trình thể thao trọng điểm, tiêu biểu ở những khu đô thị lớn Chú trọng xây dựng các thiết chế văn hoá, thể thao mới ở khu công nhân công nghiệp, tập trung vào vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới hải đảo Chăm lo đời sống văn hoá của nông dân gắn với việc xây dựng nông thôn mới
Trong đó, cốt lõi của xây dựng đời sống văn hoá ở nước ta là hướng mọi hoạt động văn hoá vào xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân
ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hoá trong gia đình, cộng đồng và xã hội
Ngay từ Đại hội V (1981) của Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định: “Một nhiệm vụ của cách mạng tư tưởng và văn hoá là đưa văn hoá thâm nhập vào cuộc sống hằng ngày của nhân dân Đặc biệt xây dựng đời sống văn hoá cơ sở, đảm bảo mỗi nhà, mỗi công trường, nông trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, công an
Trang 34nhân dân, mỗi cơ quan, trường học, bệnh viện, cửa hàng, hợp tác xã, phường ấp, đều có đời sống văn hoá” [9, tr.101]
Tiếp theo Đại hội V, các Đại hội toàn quốc, Hội nghị Trung ương tiếp tục cụ thể hoá chủ trương xây dựng đời sống văn hoá cơ sở, nhất là xây dựng đời sống văn hoá ở làng, bản, cụm dân cư, gia đình…
Hội nghị Trung ương IV, khoá VII (1993) “Về một số nhiệm vụ văn hoá, văn nghệ trong những năm trước mắt” xác định cần phải “Đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá”
Hội nghị Trung ương V, khoá VIII (1998) “Về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc” đã đề ra phương hướng xây dựng đời sống văn hoá, nhất là xây dựng đời sống và hoạt động xã hội vào từng người, từng gia đình, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người và từ đó tạo ra ở các cơ sở một đời sống văn hoá lành mạnh,, đáp ứng nhu cầu văn hoá đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân
Trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng đời sống văn hoá, nhất là đời sống văn hoá cơ sở, trong thời gian qua Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, giải pháp cụ thể thiết thực nhằm đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng đời sống văn hoá, nhất là xây dựng đời sống văn hoá cơ sở tiến tới xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Năm 1998, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 27/CT-TW và Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 14/1998/CT-TTg “Về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội”
Ngày 19/6/1998 Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg
“Về xây dựng thực hiện quy ước, hương ước”
Ngày 23/12/1999 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 235/199/QĐ-TTg
về việc thành lập Ban chỉ đạo “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa” (Sau này đổi thành toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư)
Ngày 2/1/2002, Bộ Văn hoá Thông tin đã ra Quyết định số 01/2002/QĐ - BVHTT về việc ban hành “Quy chế công nhận danh hiệu gia đình văn hoá, làng văn hoá, khu phố văn hoá”
Trang 35Ngày 30/8/2002, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 730/QĐ-TTg về danh sách các thành viên ban chỉ đạo cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”
Ngày 25/5/2005Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg ban hành Quy chế thực hiện nếp sống văn minh, gia đình văn hoá
Đến Đại hội IX, những tư tưởng chủ yếu của Đảng về phát triển văn hoá được thể hiện trên cơ sở thực tiễn thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII), Nghị quyết Đại hội IX tiếp tục nhấn mạnh vị trí của văn hoá trong sự phát triển của dân tộc ta Khẳng định sức sống lâu bền của những quan điểm, tư tưởng nêu trong Nghị quyết Trung ương V (khoá VIII), trong đời sống xã hội, trong sự nghiệp, xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Nghị quyết nhấn mạnh đó là tầm cao, chiều sâu của sự phát triển dân tộc, khẳng định và làm rõ vị trí của văn hoá trong đời sống dân tộc, trong cộng đồng dân cư
Có thể thấy rằng, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm chỉ đạo việc xây dựng đời sống văn hoá cơ sở Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cho thấy xây dựng đời sống văn hoá là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng đất nước ta hiện nay Đồng thời cũng tạo điều kiện cho xây dựng đời sống văn hoá cơ sở lành mạnh, phong phú
1.2.2 Những yêu cầu chung trong xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở
Văn hoá tác động đến đời sống cộng đồng và quá trình xây dựng con người một cách toàn diện, sâu sắc với rất nhiều phương thức và góc độ khác nhau Xây dựng đời sống văn hoá tốt đẹp nhằm định hướng đúng đắn và lành mạnh hoá, năng động hoá sự tác động đó trong một chỉnh thể thống nhất hữu cơ Do vậy cần thiết phải có những yêu cầu cụ thể trong công tác xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở để phát triển con người và cộng đồng ngày càng văn hoá hơn
Trước hết, chúng ta hiểu: Cơ sở là đơn vị hay tổ chức xã hội mà xuất phát từ đó tạo nên một hệ thống tổ chức xã hội, tổ chức quản lý xã hội, thống nhất, hoàn chỉnh
Đơn vị cơ sở là hình thức tổ chức cơ bản của xã hội Đó là những cộng đồng dân cư hay cộng đồng người liên kết chặt chẽ với nhau trong các lĩnh vực sinh hoạt vật chất và tinh thần diễn ra trong đời sống hàng ngày; là những cộng đồng người
Trang 36có địa bàn sinh sống, học tập, lao động, công tác ổn định và có cách thức tổ chức hành chính, kinh tế xã hội, văn hoá xác định
Theo tinh thần của Chỉ thị số 30/CT-TW ngày 12/8/1998 của Bộ Chính trị
“Về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở” thì đơn vị cơ sở bao gồm: xã, phường thị trấn, cơ quan, xí nghiệp, doanh nghiệp, trường học, bệnh viện, lâm trường, nông trường,…
Theo tinh thần Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII
“Về xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, thì đơn vị văn hóa còn là gia đình, thôn làng, bản, ấp, phun, sóc, khu tập thể, dân phố…
Cơ sở là nơi đông đảo các tầng lớp nhân dân sinh sống hằng ngày, nơi liên tiếp diễn ra các hoạt động sản xuất kinh doanh, lao động, học tập công tác, vui chơi, giải trí, nảy sinh hằng ngày những nhu cầu bức xúc về kinh tế, văn hoá, tín ngưỡng,
xã hội của nhân dân
Đảng ta đã chỉ rõ: “Làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng con người, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta một đời sống văn hoá cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học và phát triển, phục vụ đắc lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” [14, tr.54-55]
Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá VIII cũng khẳng định cốt lõi của vấn đề xây dựng đời sống văn hoá cơ sở hiện nay theo những yêu cầu sau:
- “Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý thức vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu…
- Có ý thức tập thể, đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung
- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng, có ý thức bảo vệ môi trường sinh thái
- Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng xuất cao vì lợi ích bản thân, gia đình, tập thể và xã hội
Trang 37- Thường xuyên học tập nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực” [14, tr.58-59]
Ở nước ta hiện nay, việc đẩy mạnh xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở không chỉ là vấn đề tất yếu mà còn là vấn đề cấp bách xuất phát từ yêu cầu: Là loại bỏ cái
cũ, xây dựng cái mới cái tiến bộ Bên cạnh những cái tốt, cái tiến bộ, tồn tại không
ít những cái lỗi thời, lạc hậu, bảo thủ, những tư tưởng, lối sống lệch lạc, đời sống ở
cơ sở của cộng đồng dân cư còn nghèo nàn
Công tác xây dựng đời sống văn hoá cơ sở là một quá trình lâu dài và khó khăn, phức tạp, không được nóng vội chủ quan duy ý chí
Công tác xây dựng đời sống văn hoá cơ sở ở từng địa phương, từng địa bàn từng cộng đồng dân cư, từng gia đình và mỗi con người… phải kết hợp với xây dựng đời sống văn hoá trên phạm vi toàn xã hội, trong đó việc xây dựng đời sống văn hoá ở từng đơn vị cơ sở có vị trí rất quan trọng Đó là điểm khởi đầu cho công tác xây dựng đời sống văn hoá văn minh cho toàn xã hội
Trong công tác xây dựng đời sống văn hoá cơ sở còn phải luôn chú ý tới nội dung: “Xây” phải đi đôi với “Chống”, trong xây dựng cái mới phải cải tạo cái cũ, đề phòng, ngăn ngừa những khuynh hướng lệch lạc
1.2.3 Nội dung công tác xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở
Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta Nó mang ý nghĩa chiến lược lâu dài và thực hiện trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Tăng cường sự quan tâm của cấp uỷ, Chính quyền, sự phối hợp của MTTQ, các ngành đoàn thể, các cấp thực hiện phương châm giao đất, nhân dân đóng góp xây dựng nhà văn hoá để hoàn thành mục tiêu xây dựng nhà văn hoá phố thôn mà Nghị quyết Đảng bộ thành phố Thanh Hoá lần thứ XVIII(Nhiệm kỳ 2005-2010) đề
ra Giai đoạn 2006- 2010 việc xây dựng nhà văn hoá phố, thôn đã tăng lên rất nhiều lần (năm 2005) từ 55 nhà văn hoá ở các phố, thôn đã tăng lên 195 nhà văn hoá (2010), tăng tỷ lệ từ 2,12% lên 11,9% Bảng số liệu tổng số nhà văn hoá được xây dựng ở các phố thôn, UBND thành phố cung cấp
Trang 38Bảng 1.1 Tổng số nhà văn hoá được xây dựng ở các phố, thôn từ năm 2005-2010 Năm Số xây dựng thêm Tổng số Tăng tỷ lệ (%) Tổng (%)
Nguồn: Ủy ban nhân dân Thành phố Thanh Hóa
Thứ nhất, tổ chức xây dựng mạng lưới các thiết chế văn hoá tạo cơ sở cho
việc tiến hành các hoạt động văn hoá đa dạng ở cơ sở
Thiết chế văn hoá ở cơ sở là những tổ chức, cơ quan cùng với cơ chế vận hành của nó nhằm chuyển tải những giá trị văn hoá và tổ chức đời sống văn hoá trong cộng đồng dân cư ở cơ sở Trước đây, đình làng là thiết chế văn hoá của làng
xã Chùa, nhà thờ là thiết chế văn hoá của tôn giáo, tín ngưỡng Thiết chế văn hoá ở
cơ sở của nước ta hiện nay bao gồm: nhà văn hoá, trung tâm văn hoá, thư viện, bảo tàng, trường học, sân bãi
Để thực hiện tốt chức năng của mình, các thiết chế văn hoá cần phải có đủ ba yếu tố: có bộ máy điều hành gồm cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn, có thể chế vận hành, tức là có điều lệ, quy chế cho hoạt động văn hoá, chế độ đãi ngộ cho cán
bộ và mạng lưới cộng tác viên, có cơ sở vật chất tối thiểu (hội trường, sân khấu, thiết bị chuyên dùng…) đảm bảo cho tổ chức các hoạt động văn hoá
Thực tế xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở những năm qua cho thấy, trung tâm văn hoá là mô hình thích hợp nhất cho hoạt động văn hoá ở cơ sở Trung tâm văn hoá là là một thiết chế văn hoá tổng hợp có thể tổ chức nhiều hoạt động văn hoá khác nhau: biểu diễn văn nghệ, đọc sách báo, tổ chức vui chơi giải trí, thể dục thể thao, phổ biến khoa học kỹ thuật Để trung tâm văn hoá thực hiện tốt chức năng của mình, cần phải nằm ở trung tâm khu dân cư, có cơ sở vật chất tối thiểu, có bộ máy quản lý và điều hành, có quy chế hoạt động, có kế hoạc công tác, tháng, quý, năm,
có tài chính tối thiểu
Trang 39Thứ hai, nắm bắt nhu cầu văn hoá của tầng lớp nhân dân trên cơ sở đó tổ
chức các hoạt động văn hoá nhằm đáp ứng nhu cầu văn hoá đa dạng, lành mạnh của các tầng lớp nhân dân
Hoạt động văn hoá là tổng thể các hoạt động hướng vào việc thoả mãn những nhu cầu văn hoá của con người Hoạt động văn hoá ở cơ sở có các dạng hình thức phổ biến như: hoạt động thông tin, tuyên truyền cổ động, hoạt động câu lạc bộ, hoạt động khai dân trí, hoạt động thư viện, đọc sách báo, hoạt động bảo vệ, tu bổ các di tích lịch sử văn hoá, hoạt động giáo dục văn hoá truyền thống, hoạt động văn nghệ quần chúng, hoạt động xây dựng gia đình văn hoá, nếp sống văn hoá, hoạt động từ thiện nhân đạo, hoạt động văn hoá tín ngưỡng, tôn giáo
Sự phân chia các hình thức hoạt động văn hoá nói trên là có tính tương đối Trên trhực tế người ta có thể ghép nhiều dạng hoạt động văn hoá nào đó thành nhiều hoạt động nhỏ
Tất cả các hoạt động văn hoá ở cơ sở đều nhằm vào mục tiêu là tạo ra ở cơ
sở một đời sống văn hoá - xã hội lành mạnh, phong phú, bồi dưỡng, xây dựng con người mới về tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống nhân cách, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước
Thứ ba, tạo ra những điều kiện thuận lợi để thu hút ngày càng đông đảo nhân
dân ở cơ sở tham gia một cách tích cực, chủ động, tự giác, tạo ra các giá trị văn hoá mới; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá, trong việc giữ gìn và phát huy những giá trị lịch sử - văn hoá, các công trình văn hoá - nghệ thuật, các danh lam thắng cảnh, trong xây dựng nếp sống, lối sống văn minh, lịch sự, trong việc xoá bỏ những phong tục tập quán, thói quen lỗi thời, lạc hậu, trong ngăn chặn tàng trữ và lưu hành các văn hoá phẩm phản động, đồi trụy, chống lại những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch bằng “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá
Thứ tư, đẩy mạnh phong trào xây dựng gia đình văn hoá - gia đình, ấm no,
hạnh phúc, bình đẳng, tiến bộ
Trang 40Gia đình đoàn kết, tương thân tương ái, sống có nghĩa tình trong quan hệ họ hàng, thân tộc, thông gia, hàng xóm, láng giềng, ứng sử văn minh, lịch sự với mọi người
Trong gia đình là quan hệ dân chủ, bình đẳng, tôn trọng, hoà thuận, hiếu thảo hoà thuận với ông bà cha mẹ, anh em đoàn kết, thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ Gia đình và các thành viên trong gia đình thực hiện tốt mọi chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, những quy ước của cộng đồng dân
cư, quy định của chính quyền và các đoàn thể ở địa phương, tích cực phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, các phong trào xã hội, nhân đạo, từ thiện khác như xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn…
Thứ năm, tổ chức các hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng đối với nhân
dân, hình thành nhân cách công dân Có ý thức đầy đủ về quyền và nghĩa vụ công dân, tôn trọng hiến pháp và pháp luật, sống theo đạo lý “ mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”, có ý thức lao động tự giác, có phẩm chất đạo đứcc và tình cảm lành mạnh trong quan hệ ứng xử trong gia đình ra ngoài xã hội
Như vậy, tổng kết 15 năm thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, Ban thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam xây dựng đề
án tiếp tục nâng cao chất lượng cuộc vận động này với 3 mục tiêu:
1 Xây dựng khu dân cư đoàn kết, tương trợ, phát triển bền vững vì mục tiêu
“Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
2 Phấn đấu hầu hết các khu dân cư, không còn hộ nghèo thiếu ăn, không còn nhà ở dột nát, không có tội phạm, đẩy lùi tệ nạn xã hội
3 Hầu hết các khu dân cư, hộ gia đình đăng ký, thực hiện các nội dung tiêu chí: “gia đình văn hoá”, “khu dân cư văn hoá”
Đối với tỉnh Thanh Hoá hiện nay nói chung và thành phố Thanh Hoá nói riêng đã và đang thực hiện tốt nội dung cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” Để góp phần cho sự thành công của công cuộc này trong giai đoạn mới, tỉnh Thanh Hoá ngoài việc thực hiện tốt những chủ