Tuy nhiên, do góc độ tiếp cận và hướng giải quyết những vấn đề chính trị - xã hội đương thời của Khổng Tử là tập trung vào nhân tố con người, mở rộng từ cá nhân con người đến xã hội, tro
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
CAO THỊ MAI HOA
SỰ KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ Ở HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
CAO THỊ MAI HOA
SỰ KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ Ở HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
Người hướng dẫn khoa học: GS TS NGUYỄN HÙNG HẬU
HÀ NỘI - 2012
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ - CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG 6
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng giáo dục của Khổng Tử 6
1.1.1 Hoàn cảnh kinh tế - xã hội Trung Quốc cổ đại 7
1.1.2 Tiền đề tư tưởng 9
1.2 Nội dung tư tưởng giáo dục của Khổng Tử 14
1.2.1 Mục đích, đối tượng giáo dục 14
1.2.2 Nội dung giáo dục 19
1.2.3 Phương pháp giáo dục của Khổng Tử 25
Chương 2 HỒ CHÍ MINH KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ 37
2.1 Sự kế thừa tư tưởng giáo dục của Khổng Tử ở Hồ Chí Minh 38
2.1.1 Những đánh giá của Hồ Chí Minh về Khổng Tử và tư tưởng của ông 38
2.1.2 Hồ Chí Minh kế thừa những yếu tố hợp lý trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử 40
2.2 Sự phát triển tư tưởng giáo dục của Khổng Tử ở Hồ Chí Minh 45
2.2.1 Tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh về giáo dục cho mọi người 46
2.2.2 Tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh về vai trò, nhiệm vụ của giáo dục 49
2.2.3 Tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh về nội dung giáo dục 53
2.2.4 Tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh về phương pháp dạy và học 59
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hồ Chí Minh là vị anh hùng dân tộc - danh nhân văn hóa thế giới mà tư tưởng của Người thấm đượm chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc Trong những tư tưởng đó, tư tưởng về giáo dục của Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã trở thành cơ sở lý luận cho đường lối chính sách giáo dục, cho sự phát triển khoa học giáo dục Việt Nam, cho chiến lược xây dựng con người mới của đất nước Hồ Chí Minh là sự kết hợp nhuần nhuyễn của nhà tư tưởng giáo dục và nhà sư phạm mẫu mực
Bất cứ ở thời đại nào, quốc gia nào, giáo dục cũng ở vị trí quan trọng hàng đầu Chính sách giáo dục được coi là chính sách ưu tiên trên con đường phát triển của mỗi đất nước Lê Thánh Tông (1442-1479) đã cho khắc vào bia Quốc Tử Giám cương lĩnh của đất nước:
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia
Nguyên khí mạnh thì thế nước cường
Nguyên khí suy thì thế nước tàn”
Vua Quang Trung (1753-1792) đã ra tuyên ngôn:
“Xây dựng đất nước phải lấy việc khuyến học làm đầu
Tìm lẽ trị bình lấy tuyển nhân tài làm gốc”
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đối với nước ta, chính sách giáo dục
là chìa khóa để đất nước phát triển kinh tế, xã hội Vì vậy xây dựng tư tưởng giáo dục khoa học có giá trị phương pháp luận phổ quát làm cơ sở lý luận cho các chính sách giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách Tư tưởng của Hồ Chí Minh về giáo dục cách đây hàng nửa thế kỷ vẫn là kim chỉ nam giúp nền giáo dục nước ta xác định được hướng đi và cách thức để giáo dục gắn bó với phát triển kinh tế xã hội Các quốc gia ngày nay đi vào nền kinh tế tri thức trước bối cảnh toàn cầu hóa đều xác định chiến lược con người, chiến
Trang 5lược giáo dục Những tư tưởng về giáo dục của Hồ Chí Minh chính là kim chỉ nam cho chúng ta hiện thực hóa được chiến lược có ý nghĩa trọng đại này
Tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh là sự kết tinh tinh hoa văn hóa giáo dục nhân loại và truyền thống giáo dục văn hiến của đất nước Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục là sự kế thừa, tiếp thu có phê phán tư tưởng văn hóa phương Đông, đặc biệt là tư tưởng giáo dục của Nho giáo Khổng Tử là người lập ra đạo Nho, người thầy cao nhất của tất cả các thế hệ nhà Nho, được tôn là “vạn thế sư biểu” Tư tưởng về giáo dục của Khổng Tử
có nhiều điểm tiến bộ trong thời kỳ phong kiến và có giá trị đến tận ngày nay đối với sự nghiệp giáo dục Hồ Chí Minh coi lời dạy của Lênin “Học, học nữa, học mãi” và lời dạy của Khổng Tử: “Học không biết chán, dạy không biết mỏi” là phương châm sống, phương châm hành động của mình
Ở Hồ Chí Minh và Khổng Tử có sự gặp gỡ trong tư tưởng về giáo dục Đồng thời, Hồ Chí Minh đã kế thừa tư tưởng giáo dục của Khổng Tử một cách có phê phán trên lập trường của giai cấp vô sản cách mạng, phát triển thành những quan điểm giáo dục có giá trị bền vững Nhận thấy có điểm tương đồng trong tư tưởng về giáo dục của Hồ Chí Minh và Khổng Tử, sự phát triển tư tưởng những tư tưởng giáo dục của Khổng Tử ở Hồ Chí Minh, trong phạm vi nghiên cứu của một đề tài luận văn thạc sĩ, tôi muốn nghiên cứu theo hướng này Chính với những lý do trên tôi chọn “Sự kế thừa và phát triển tư tưởng giáo dục của Khổng Tử ở Hồ Chí Minh” là đề tài luận văn thạc
sỹ của mình
Trang 62 Tình hình nghiên cứu
Khổng Tử và học thuyết của ông - Nho giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến các nước phương Đông, trong đó có Việt Nam Tư tưởng của Khổng Tử, trong đó có tư tưởng về giáo dục vẫn còn có ý nghĩa cho đến hiện nay
Đề cập đến quan điểm về giáo dục của Khổng Tử đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, chuyên khảo, các bài viết đăng trong các tạp chí chuyên ngành:
+ Tác phẩm “Nho giáo xưa và nay” của tác giả Quang Đạm - Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1999, có một chương: “Vấn đề học tập” nói về các quan điểm trong giáo dục của Nho giáo nói chung và của Khổng Tử nói riêng như: “Quan điểm và thái độ học tập”, “Phương châm và phương pháp trong giáo dục”
+ Tác giả Tạ Ngọc Ái trong tác phẩm “Trí tuệ của Khổng Tử” - Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2008 căn cứ vào những câu nói của Khổng
Tử dạy học trò, những câu đối đáp của các môn đệ Khổng Tử trong tác phẩm “Luận ngữ” và “Lễ kí” để bàn về cách dạy và cách học của Khổng Tử, như quan điểm “Dạy cho nhiều loại người”, “Dạy và học cùng giúp nhau”,
“Thấy trò phụ tử”…
+ Luận văn thạc sỹ “Tìm hiểu tư tưởng giáo dục của Khổng Tử” của tác giả Võ Văn Nam thuộc chuyên ngành Giáo dục học, Đại học Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999, đã đi sâu tìm hiểu hệ thống tư tưởng giáo dục của Khổng Tử
Các nhà nghiên cứu đều quan tâm đến đóng góp của Khổng
tử về tư tưởng giáo dục và đi đến nhận định: Khổng Tử là nhà giáo dục lớn cùng những quan điểm về giáo dục có vai trò và tầm ảnh hưởng to lớn, xuyên suốt chiều dài lịch sử, có nhiều giá trị tích cực đến tận ngày nay
Tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh cũng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nghiên cứu:
Trang 7+ Cuốn “Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục” của Hà Thế Ngữ, Nxb Giáo dục, Hà Nội sưu tầm khá đầy đủ những bài viết, bài nói của Chủ tịch
Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục, qua đó có thể tìm hiểu những quan điểm
cơ bản về giáo dục của Hồ Chí Minh
+ Tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề học tập” của GS Nguyễn Quang Uẩn, “Tình giản dị sâu sắc trong lời dạy của Bác Hồ của TS Nguyễn Minh Hùng đã đem lại cho người đọc những hiểu biết chung nhất, khái quát nhất về tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh
Bên cạnh các tác phẩm kể trên còn có nhiều cuốn sách đề cập đến
tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh: “Học tập quan điểm giáo dục của đồng chí Hồ Chí Minh” của Hoàng Ngọc Di, Nxb Giáo dục 1962; “Hồ Chí Minh bàn về công tác giáo dục”, Nxb Sự thật Hà Nội, 1972
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên, ở những góc độ khác nhau
đã giải quyết được những vấn đề cơ bản trong việc nghiên cứu những
tư tưởng giáo dục của Khổng Tử, nhưng chưa có một công trình nào đi vào nghiên cứu sự kế thừa và phát triển của Hồ Chí Minh đối với những tư tưởng giáo dục của Khổng Tử Đây cũng là vấn đề tôi mong muốn được giải quyết trong phạm vi đề tài này
M c đ ch, nhi nghiên cứu
3.1 Mục đích
Luận văn tập trung nghiên cứu một số nội dung tư tưởng giáo dục của Khổng Tử, từ đó làm rõ sự kế thừa và phát triển những tư tưởng giáo dục của Khổng Tử ở Hồ Chí Minh
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
- Trình bày một cách có hệ thống một số tư tưởng giáo dục của Khổng Tử
- Phân tích sự kế thừa và phát triển tư tưởng giáo dục của Khổng Tử ở
Hồ Chí Minh
Trang 8Đối tư ng à h i nghiên cứu
4.1 i hi c : Nghiên cứu tư tưởng giáo dục của Khổng
Tử và tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh, tìm hiểu sự kế thừa và phát triển hạt nhân hợp lý trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử ở Hồ Chí Minh
4.2 h m vi hi c : Luận văn xác định giới hạn phạm vi nghiên
cứu tư tưởng giáo dục của Khổng Tử và tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh
trong hai nguồn tư liệu là Luận ngữ, và Hồ Chí Minh toàn tập
5 Cơ s ý u n à hương h nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lênin mà hạt nhân là ph p biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quán triệt nguyên lý về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, lý luận gắn liền với thực tiễn
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp: phân tích, tổng hợp, phương pháp lịch sử - logic, phương pháp so sánh, đối chiếu, khái quát,…
6 Đóng gó c a u n n
Một là, luận văn góp phần giải quyết vấn đề nguồn gốc hình thành
tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh, góp phần lý giải sâu sắc hơn về tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh, vấn đề kế thừa các giá trị của tư tưởng giáo dục của Khổng Tử trong thời đại ngày nay
Hai là, luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên trong học tập, nghiên cứu và giảng dạy
Trang 9Chương 1
TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ
- CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG
1.1 Cơ s hình thành tư tư ng gi o d c c a Khổng Tử
Khổng Tử (551-479 trước Công nguyên), tên Khâu, tự Trọng Ni Ông
là người nước Lỗ, sinh ra trong một gia đình quý tộc nhỏ đã sa sút
Thời đại của Khổng Tử là thời đại mà xã hội Trung Quốc có rất nhiều biến động sâu sắc trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội Trên bình diện chính trị và tổ chức xã hội, đó là thời kỳ mà sự thống trị của nhà Chu ngày càng suy yếu và đứng trước bờ vực của sự sụp đổ Bá đạo - đạo của chư hầu nổi lên lấn át Vương đạo - đạo của thiên tử nhà Chu
Khổng Tử đại diện cho bộ phận quý tộc cấp tiến Ông không chấp nhận hiện trạng xã hội đương thời, mà muốn cải tạo nó, cải tạo theo hướng khôi phục lại những giá trị cố hữu của Chu Lễ Để thực hiện ý nguyện của mình, ông đã mở trường dạy học, sáng lập học thuyết và cùng học trò đi truyền bá học thuyết của mình ở nhiều nước chư hầu
Học thuyết của Khổng Tử chủ yếu đề cập đến những vấn đề chính trị -
xã hội Tuy nhiên, do góc độ tiếp cận và hướng giải quyết những vấn đề chính trị - xã hội đương thời của Khổng Tử là tập trung vào nhân tố con người, mở rộng từ cá nhân con người đến xã hội, trong đó chú trọng đến vai trò của giáo dục đối với con người và xã hội Tư tưởng chính trị và tư tưởng giáo dục của Khổng Tử có sự thống nhất hữu cơ với nhau
Xuất phát từ đặc điểm chung ấy, việc nghiên cứu tư tưởng giáo dục của Khổng Tử cần xoay quanh quan điểm của ông về con người, về chính trị,
từ đó phát hiện ra những n t đặc thù trong tư tưởng giáo dục của ông
Trang 101.1.1 Hoà cả h ki h ế - xã hội Tr Q c cổ đ i
Tư tưởng giáo dục của Khổng Tử hình thành và phát triển trên cơ sở những điều kiện kinh tế - xã hội của thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc (770-221 TCN) Khổng Tử sống trong thời kỳ xã hội đang có những chuyển biến hết sức căn bản và lớn lao Chế độ chiếm hữu nô lệ theo kiểu phương Đông mà đỉnh cao là chế độ “tông pháp” nhà Chu đang suy tàn, chế độ phong kiến sơ
kỳ đang hình thành Những biến đổi sâu sắc trên tất cả các mặt của đời sống
xã hội Trung Quốc thời kỳ này đã tạo điều kiện cho sự giải phóng tư tưởng của con người khỏi thế giới quan mang tính chất thần bí và ảnh hưởng đến sự phát triển của các tư tưởng triết học
Thời kỳ Xuân Thu (năm 770 đến 476 TCN), những biến đổi về mặt kinh tế đã dẫn đến những biến đổi về mặt chính trị Ở thời kỳ này, sự ra đời của đồ sắt và những cải tiến mạnh mẽ trong công cụ sản xuất nông nghiệp đã thúc đẩy nền kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh chóng Chế độ “tỉnh điền” dần tan rã, chế độ tư hữu ruộng đất từng bước được hình thành, mặt khác, đã hình thành trong xã hội một giai cấp mới - giai cấp địa chủ Đồ sắt ra đời không chỉ thúc đẩy nền nông nghiệp Trung Quốc phát triển mà còn thúc đẩy nền thủ công nghiệp phát triển Đồ sắt được sử dụng phổ biến làm cho sự phân công lao động trong sản xuất thủ công nghiệp đạt tới trình độ cao hơn, góp phần phá vỡ nền kinh tế thuần nông Đồng thời, thương nghiệp phát triển, hoạt động giao lưu buôn bán diễn ra sôi động
Những biến đổi về mặt kinh tế tất yếu dẫn đến những biến đổi về mặt chính trị trong thời Xuân Thu Thời Tây Chu, chế độ tông pháp vừa
có ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa có ý nghĩa về mặt chính trị, ràng buộc về huyết thống có tác dụng tích cực làm cho nhà Chu giữ được sự hưng thịnh trong một thời gian dài Đến thời Xuân Thu, chế độ tông pháp nhà Chu không còn được tôn trọng, đầu mối các quan hệ kinh tế, chính trị, quân sự giữa thiên tử
và các nước chư hầu trở nên lỏng lẻo, huyết thống ngày càng xa, trật tự lễ
Trang 11nghĩa nhà Chu không còn được duy trì như trước Thiên tử nhà Chu hầu như không còn quyền uy gì đối với các nước chư hầu Nhiều nước chư hầu mở rộng thế lực đất đai, thôn tính các nước nhỏ, tranh giành địa vị bá chủ thiên
hạ Thời Xuân Thu có khoảng 294 năm nhưng đã xảy ra tới 483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ Những nước hùng mạnh nhất thời bấy giờ như nước Tần, Tề, Tấn, Tống, Ngô, Việt, Sở đều tập trung tất cả tài lực và vật lực cho các cuộc chiến tranh Các quốc gia này đều thi hành chính sách “bá đạo”, ra sức bóc lột nhân dân, điều này hoàn toàn khác với chính sách nhân nghĩa “vương đạo” của thánh nhân xưa
Hậu quả của những cuộc tranh giành, thôn tính, chinh phạt lẫn nhau của tầng lớp quý tộc đã dẫn tới sự diệt vong của hàng loạt các nước chư hầu nhỏ, đạo đức xã hội bị suy đồi, các tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, mâu thuẫn giai cấp trong xã hội trở nên sâu sắc, kể cả mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và nhân dân cũng như giữa giai cấp thống trị với nhau, làm cho xã hội ngày càng thêm rối loạn Lễ nghĩa nhà Chu bị phá hoại, đặc biệt những nghi lễ chặt chẽ, tôn nghiêm trước đây đã từng góp phần bảo vệ và làm hưng thịnh chế độ tông pháp nhà Chu, thì đến nay cũng bị xem thường Mâu thuẫn
xã hội thời Xuân thu lên đến đỉnh cao đưa chế độ chiếm hữu nô lệ Trung Quốc đi nhanh đến suy tàn
Thời Chiến quốc (năm 403 đến 221 TCN), kinh tế phát triển mạnh mẽ với sự xuất hiện của nhiều trung tâm luyện sắt lớn, tiền tệ bằng kim loại ra đời, thương nghiệp hưng thịnh… Về mặt chính trị, chiến tranh xảy ra với quy
mô lớn hơn và tàn khốc hơn Mạnh Tử viết: “đánh nhau tranh thành, giết người thây chết đầy thành; đánh nhau giành đất, giết người thây chết đầy đồng” [15, tr.405-406] Cục diện Trung Quốc đã có sự biến đổi, trong đó rất nhiều nước chư hầu vừa và nhỏ bị thôn tính, chỉ còn lại bảy nước là Tề, Sở, Hàn, Yên, Ngụy, Triệu, Tần là các nước chư hầu chủ yếu trong thời kỳ Chiến Quốc
Trang 12Bên cạnh đó, việc mua bán ruộng đất được tự do và sự phổ biến của chế độ tư hữu đã mở đường cho sự tập trung ruộng đất vào một số ít lãnh chúa Trong lòng xã hội đã xuất hiện những yếu tố của quan hệ sản xuất mới
đó là chế độ phong kiến, đưa chế độ tông pháp nhà Chu và chế độ chiếm hữu
nô lệ Trung Quốc đi nhanh vào hồi kết Với việc Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc năm 221 TCN đã đặt dấu chấm hết cho sự tồn tại của nhà Chu và
mở ra một chế độ mới ở Trung Quốc - chế độ phong kiến
Chính trong thời đại lịch sử đầy biến động của thời kỳ Xuân Thu - Chiến quốc đã đặt ra cho các nhà tư tưởng những dấu hỏi lớn về mặt triết học, chính trị, đạo đức, pháp luật, quân sự đòi hỏi các nhà tư tưởng phải có những tìm hiểu, nghiên cứu để đưa ra những câu trả lời, đưa ra những giải pháp giải quyết những vấn đề thực tiễn xã hội lúc bấy giờ Vì vậy, trong thời kỳ này đã xuất hiện hàng loạt các nhà tư tưởng lớn và học thuyết lớn Có thể nói đây là thời kỳ phát triển rực rỡ của triết học Trung Quốc, nhiều nhà nghiên cứu gọi đây là thời kỳ “bách hoa đế phóng, bách gia tranh minh” (trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng) Những tư tưởng thời kỳ này không những đóng vai trò thúc đẩy nhất định chính trị, kinh tế lúc đó mà còn có ảnh hưởng sâu xa cho đến ngày nay, trở thành một trang không thể phai mờ trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc Giáo sư Nguyễn Tài Thư đã nhận x t: “Có một thời kỳ lịch sử Trung Quốc mà ngày nay nhớ đến có người còn xốn xang bởi sự sôi động của
nó, bởi nhiều sự kiện lịch sử xuất hiện dồn dập, nhiều học thuyết triết học và chính trị - xã hội ra đời, nhiều khối óc tài ba làm nên sắc thái văn hóa và tư tưởng của Trung Quốc sau này” [44, tr.13]
1.1.2 Tiề đề ở
Tư tưởng giáo dục của Khổng Tử được ra đời dựa trên những điều kiện kinh tế - xã hội, đồng thời còn bắt nguồn từ xu thế vận động chung của đời sống tư tưởng chính trị Trung Quốc thời đại Khổng Tử sống
Trang 13Có thể hình dung đại thể xu hướng vận động của tư tưởng chính trị Trung Quốc cho đến thời Khổng Tử như quá trình đấu tranh giữa thần quyền
và vương quyền và xu thế chiến thắng của vương quyền
Cùng với sự phát triển của sức sản xuất và những bước tiến trong hoạt động nhận thức, tư tưởng, con người đã hình dung về một tổ chức xã hội của các vị thần dựa trên hình mẫu cách thức tổ chức xã hội của con người Vai trò của các vị thần đối với đời sống xã hội vốn được tâm thức dân gian xây dựng nên dần bị tầng lớp thống trị trong xã hội (vương quyền) nắm lấy, củng cố và tăng cường thêm, và dựa vào đó củng cố và tăng cường địa vị thống trị của họ trong xã hội Được vương quyền sử dụng và trở thành một chỗ dựa của vương quyền, các vị thần từ chỗ chỉ chi phối một cách vô hình trong đời sống tinh thần của xã hội đã trở thành một sức mạnh hữu hình và chi phối đời sống hiện thực
Trong điều kiện xã hội Trung Quốc đương thời, tầng lớp thống trị không thể không sử dụng thần quyền để củng cố và thực hiện vương quyền , nhưng lại không thể chấp nhận sự lấn át của thần quyền đối với vương quyền Vương quyền sẽ phải khẳng định địa vị đứng trên của nó đối với thần quyền
Mặt khác, để duy trì sự thống trị, lực lượng thống trị trong xã hội ngày càng nhận thức rõ sức mạnh của nhân dân, và để nhân dân thừa nhận uy quyền tối thượng của họ thì dù muốn, dù không cũng không thể không quan tâm, dù ở một mức độ nào đó, đến đời sống của nhân dân Đối với nhà Chu, một triều đại được dựng nên sau khi phát động phong trào nhân dân đấu tranh lật đổ sự thống trị của nhà Ân, thì điều này lại càng quan trọng Việc quan tâm đến đời sống của nhân dân mở đường cho xu hướng đạo đức hóa chính trị Chính vì thế, ngay trong Kinh Thư, bên cạnh những ghi ch p khẳng định
xu thế lấn át của vương quyền đối với thần quyền, người ta còn thấy những tư tưởng thể hiện sự quan tâm đến đời sống nhân dân Thậm chí, những người cầm quyền đã tiến hành thống nhất sức mạnh của thần quyền với sức mạnh
Trang 14của nhân dân, chẳng hạn cái gọi là “thiên mệnh” tuy có uy quyền tối cao, song lại thể hiện ra, thậm chí đồng nhất với “ý dân”
Như vậy, song song với quá trình vương quyền vượt lên trên thần quyền và tiếp tục sử dụng thần quyền làm chỗ dựa cho vương quyền, thì xu hướng chủ đạo đức hóa chính trị cũng dần trở nên rõ n t Đây chính là những tiền đề tư tưởng quan trọng mà từ đó sẽ hình thành nên tư tưởng giáo dục của Khổng Tử
Đến cuối thời Xuân Thu, nghĩa là thời mà Khổng Tử sống, sự suy đồi trong tầng lớp thống trị, sự khốn cùng của đời sống nhân dân đã một lần nữa làm lay chuyển địa vị của thần quyền
Các học thuyết thời kỳ này đều cố gắng đưa ra những lý giải và giải pháp của riêng mình để giải quyết vấn đề thực tiễn xã hội đặt ra Thuyết Mặc gia, đại biểu là Mặc Định đã đề xuất thuyết “kiêm ái”, giải thích căn nguyên của chiến tranh và mâu thuẫn xã hội là do con người không thương yêu nhau, hiềm thù nhau mà ra Theo thuyết “kiêm ái”, sự yêu thương nhau sẽ loại trừ tai họa cho thiên hạ, vì khi thương yêu nhau, con người sẵn sàng xả thân giúp
đỡ lẫn nhau, làm lợi cho nhau Phái Pháp gia, mà đại diện là Hàn Phi cho rằng nguyên nhân gây rối loạn xã hội xuất phát từ chỗ pháp luật không nghiêm Vì vậy, để lập lại trật tự xã hội thì phải dùng pháp trị
Mặt khác, Lão Tử đại diện cho Đạo gia lại cho rằng Đạo là bản nguyên của vạn vật, tất cả mọi vật đều từ Đạo mà ra và để trở về với nguồn gốc là đạo Do đó, Lão Tử cho rằng tính của vạn vật sinh ra đã có, là tính của tự nhiên và tính của con người sinh ra đã có Đạo là cái tự nhiên, vô danh, là quy luật tự nhiên, vô vi, bản thân tự nhiên là chuẩn mực, là chân lý Bởi vậy, theo Lão Tử quay về với bản tính tự nhiên ban đầu của con người hoàn thiện nhất,
và để xã hội thịnh trị thì con người cần phải giữ được cái tính giản dị, thuần phác, tự nhiên của con người Ông mong muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp dựa trên quan hệ xã hội thuần phác tự nhiên Để có được một xã hội như vậy,
Trang 15ông chủ trương thực hiện đường lối “vô vi” “Vô vi” là phương thức sống thuận theo tự nhiên, không làm gì trái với quy luật của tự nhiên Thực hiện được điều này sẽ giúp con người ngộ được đạo, trở về với tự nhiên, sống trường sinh cùng tự nhiên
Bên cạnh đó, nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất trong thời kỳ này - Khổng Tử, người sáng lập học thuyết Nho giáo cho rằng xã hội rối loạn là do con người vô đạo, không theo đạo lý, muốn xã hội ổn định thì phải làm cho xã hội có đạo, dẫn dắt con người về với đạo lý Với lý do đó, Khổng Tử đã đề cao giáo dục, lấy giáo dục làm phương tiện nhằm thay đổi xã hội từ “loạn” thành “trị” Thời đại Khổng Tử là thời đại “Bá đạo” nổi lên lấn át “Vương đạo” của của nhà Chu, trật tự lễ pháp cũ của nhà Chu bị đảo lộn Đại diện cho giới quý tộc cũ, Khổng Tử rất đau xót trước thực trạng xã hội đương thời, ông chủ trương lập lại pháp chế, kỉ cương nhà Chu, kế thừa sự nghiệp của Văn Vương, Chu Công trước đây Khổng Tử mong có một “xã hội hòa” Chủ trương của ông là “Lễ chi dụng, hòa vi quý” (tác dụng của lễ là lấy hòa làm quý) Một “xã hội hòa” theo quan niệm của Khổng Tử là xã hội không có sự phản kháng, không có sự đấu tranh lẫn nhau, xã hội không có bạo lực, xung đột, tranh giành lợi ích Các quan hệ trong xã hội điều hòa, tốt đẹp theo nguyên tắc hai chiều, người dưới cần có thái độ an phận, kính trọng những người có địa vị thuộc tầng lớp trên, còn người trên đối với người dưới thì phải tôn trọng Mọi người, mọi giai cấp, tầng lớp trong xã hội phải có sự hòa hợp với nhau
Theo Khổng Tử, giáo dục là con đường duy nhất để thực hiện lý tưởng chính trị, giáo hóa dân chúng, thay đổi cách cư xử trong xã hội và cao hơn
cả là làm cho thái bình, thịnh trị Ông chủ trương học ở mọi nơi, mọi lúc mọi người, “học không biết chán” Trên cương vị là một người thầy, Khổng Tử là một tấm gương mẫu mực của việc lấy nhân cách của mình để tác thành nhân cách của học trò Khổng Tử đề cao việc tự học và phương pháp dạy học theo
Trang 16cách đàm thoại, phù hợp với từng đối tượng Lí tưởng của việc là hướng tới tạo dựng những nhân cách mẫu mực của con người Khổng Tử đề cao ba mẫu người tiêu biểu: kẻ sĩ, kẻ đại trượng phu và mẫu người quân tử Trong đó, mẫu người quân tử là danh hiệu cao quý nhất Mục đích giáo dục của Khổng Tử là tạo dựng, phát triển, hoàn thiện nhân cách con người, giúp con người có được đầy đủ những phẩm chất, năng lực để tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ
Quan niệm về con người là một vấn đề trung tâm trong triết học Trung Quốc cổ đại nói chung cũng như Khổng Tử nói riêng Bởi vì vấn đề nguồn gốc, bản chất con người là cơ sở, điểm xuất phát để từ đó các nhà tư tưởng đề xuất những học thuyết chính trị, đạo đức, và giáo dục
Thời kỳ này, có rất nhiều triết gia, trường phái triết học đi sâu vào nghiên cứu về vấn đề bản tính con người Tuân Tử cho rằng bản tính con người là ác, cái tham lam, cái gian ác, đố kỵ là thuộc về bản năng vốn có của con người Tuân Tử viết: “Tính của người ta vốn ác, nó mà hóa thiện được là
do công của người ta Tính con người sinh ra vốn hiếu lợi, thuận theo tính đó thì thành ra tranh đoạt lẫn nhau mà sự từ nhượng không có, sinh ra đố kỵ thuận theo tính đó thì thành ra tàn tặc mà lòng trung tín không có, sinh ra có lòng ham muốn của tai mắt, có lòng thích về thanh sắc, thuận theo tính đó thì thành ra dâm loạn mà lễ nghĩa, văn lý không có Như thế thì theo tính của người ta, thuận theo cái tính của người ta, tất sinh ra tranh đoạt, phạm vào cái phận, làm loạn cái lý mà mắc phải tội tàn bạo” [22, tr.113]
Theo Tuân Tử, lòng hiếu lợi, lòng đố kỵ và ham muốn dục vọng là đầu mối của tính người (tính ác), khi mới sinh ra đã có rồi Tuy nhiên, Tuân
Tử khẳng định tính ác của con người không phải là cái nhất thành bất biến,
mà con người có thể chuyển ác thành thiện nhờ vào hoàn cảnh và giáo dục Ông nói: “Tính là cái ta không thể làm ra, nhưng mà có thể cải hóa” [22, tr.53] Tuân Tử đã nhận thấy vai trò tác động của nhân tố xã hội, của sự học tập đối với tính người Từ đó, Tuân Tử chủ trương học theo lễ nghĩa để hoàn
Trang 17thiện con người, đề cao việc giáo hóa con người nhằm điều tiết cái bản năng, hướng con người tới cái thiện
Bên cạnh đó, theo Lão Tử, thì vạn vật đều từ Đạo mà ra và trở về với nguồn gốc là Đạo Do đó, tính của vạn vật sinh ra đã có, là tính của tự nhiên Tính của con người sinh ra đã có, đó là cái tính giản dị, mộc mạc, thuần phác, không bị nhào nặn, gọt dũa bởi con người Nếu tính đó đã bị nhiễm một cái gì như nhân, nghĩa,… thì không còn là tính nữa Bởi vậy, theo Lão Tử con người chỉ cần hoạt động theo lẽ tự nhiên là đạt Đạo, là chân lý Để xã hội thịnh trị thì quay về với bản tính tự nhiên ban đầu của con người là hoàn thiện nhất, con người cần phải giữ được cái tính giản dị, thuần phác, tự nhiên và như vậy không nên khổ công giáo dục con người theo nhân, nghĩa, lễ làm gì, vì đó là những việc làm trái với lẽ tự nhiên
Các học thuyết khác ra đời ở thời kỳ này cũng có chú ý tới việc giáo hóa dân Phái Mặc gia khuyên mọi người học những điều Thiên Tử cho
là đúng Cái gì Thiên Tử khen thì dân cũng khen, Thiên Tử chê thì dân chê Phái Pháp gia mới chỉ có ý định dạy cho dân biết pháp luật để họ đừng trái
ph p nước
Cũng như các nhà tư tưởng thời kỳ này, Khổng Tử quan tâm đặc biệt đến vấn đề con người Về vấn đề bản tính con người, trong cuốn Trung Dung, Khổng Tử đã giải thích: “Cái mà mệnh trời phú cho gọi là Tính, noi theo tính
là đạo, tu theo Đạo gọi là Giáo” (Thiên mệnh chi vị tính, suất tính chi vị đạo,
tu đạo chi vị giáo) [3, tr.39] Theo Khổng Tử, Tính là cái có nguồn gốc từ trời,
là nguyên lý tự nhiên mà trời phú cho con người Tính là cái bẩm sinh ban đầu, là cái nguyên sơ mà con người có được từ trời Ông cho rằng, bản tính con người là ngay thật: “nhơn chi sanh dã trực” [4, tr.92-93], có nghĩa là khi sinh ra con người hoàn toàn nguyên sơ, tự nhiên, chưa bị tác động của ngoại cảnh, và các yếu tố xã hội Ở đây, Khổng Tử không nói bản tính con người là thiện hay ác, mà khẳng định cái bản tính ban đầu của con người có thể bị biến
Trang 18đổi bởi các điều kiện, yếu tố ngoại cảnh, bởi ở chính sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của con người Khổng Tử cho rằng: “người ta tất thảy đều giống nhau, vì ai nấy đều có bản tính ngay thật; nhưng bởi nhiễm thói quen, nên họ thành ra khác nhau” (Tính tương cận dã, tập tương viễn dã) [4, tr.268-269] Khi mới sinh ra mọi người đều có bản tính giống nhau, nhưng trong cuộc sống mỗi người lại có một hoàn cảnh, một điều kiện khác nhau, nghề nghiệp khác nhau, tập quán khác nhau,… làm cho mọi người xa dần bản tính ban đầu Để mọi người gần nhau và trở lại bản tính ban đầu, làm cho xã hội vô đạo trở về với hữu đạo, Khổng Tử chủ trương giáo hóa, mọi người phải học tập, tu dưỡng hướng tới những điều nhân nghĩa để giữ bản tính thiện của mình
Như vậy, vấn đề con người và giáo dục con người được rất nhiều nhà
tư tưởng thời kỳ này quan tâm nhưng không một học phái nào đề cao đúng mức và đạt được thành tựu về mặt giáo dục bằng Khổng Tử Khổng Tử chủ trương giáo hóa, mọi người phải học tập, tu dưỡng hướng tới những điều nhân nghĩa để giữ bản tính thiện của mình, xa rời cái ác, cái bất nhân, hiểu được đạo và trở về với đạo thì xã hội sẽ tốt đẹp hơn
Cống hiến cuộc đời Khổng Tử chủ yếu là nghề dạy học Khổng Tử bắt đầu dạy học từ năm 19 tuổi Khổng Tử đã đào tạo được hàng ngàn học trò, nhiều thế hệ học trò nối tiếp nhau dạy học tạo thành tầng lớp Nho sĩ, tầng lớp giữ vị trí then chốt trong triều đại về sau của Trung Quốc Đặc biệt hơn nữa, Khổng Tử còn để lại cho hậu thế một di sản vô giá về giáo dục, từ quan điểm tiến bộ đến mục đích giáo dục rõ ràng, nội dung phong phú, nguyên tắc rạch ròi, phương pháp cụ thể Thân thế và sự nghiệp của Khổng Tử lưu lại cho đời sau những giá trị bất hủ Nên người đời sau mới tôn tặng ông danh hiệu nhà giáo dục tiêu biểu của muôn đời “Vạn thế sư biểu”
Tóm lại, toàn bộ những điều kiện kinh tế - xã hội và những tiền đề tư tưởng trên vừa đặt ra vấn đề, vừa cung cấp điều kiện để giải quyết những vấn
Trang 19đề ấy, và Khổng Tử đã nhận thức và đảm đương được sứ mệnh xây dựng nền tảng cho một hệ tư tưởng mới - hệ tư tưởng Nho giáo, trong đó tư tưởng giáo dục có vai trò quan trọng
1.2 Nội dung tư tư ng gi o d c c a Khổng Tử
Tử xem là phương tiện chính góp phần cải biến xã hội từ loạn thành trị, thì người quân tử là nhân tố cốt lõi, là động lực dẫn dắt xã hội đến thịnh trị
Đối với Khổng Tử, giáo dục trước hết nhằm mục đích đào tạo những con người có lòng nhân Nhân là trung tâm trong học thuyết chính trị của Khổng Tử Nhân bao hàm nhiều nội dung, nhưng nội dung cơ bản của nhân chính là đạo lý làm người, vừa thương người (ái nhân) vừa phải giúp người (cứu nhân) Vì vậy, một người dù quán triệt nhiều tiêu chuẩn đạo đức Nho giáo, nhưng không đảm bảo được hai mặt ái nhân và cứu nhân thì cũng chưa được coi là người có nhân Đồng thời, đối với Khổng Tử, nhân bao giờ cũng gắn với lễ Lễ là những nguyên tắc ứng xử để điều chỉnh hành vi của con
Trang 20người cho đúng với nhân (khắc kỉ phục lễ vi nhân) Như vậy, lễ là sự biểu hiện của nhân, đồng thời là điều kiện để đạt tới điều nhân
Bên cạnh đó, người quân tử cần có trí (tri thức) Con người phải có tri thức mới thực hành được điều nhân một cách triệt để Muốn có tri thức thì phải học tập:
“Ngọc bất trác bất thành khí
Nhân bất học bất tri đạo”
Ngọc không mài giũa không nên vật trang sức quý; Người không học không có tri thức Đồng thời, người quân tử dám vì nghĩa quên mình, không
sợ cường quyền bạo lực, có như vậy mới thực hiện được cứu nhân Người quân tử vừa có lòng nhân, vừa trí và dũng Theo Khổng Tử, học để làm người quân tử với chí khí của bậc đại trượng phu - hình mẫu của con người trong xã hội phong kiến
Chiều sâu trong mục đích giáo dục của Khổng Tử đó là học để thấu đạo (tri đạo), thấu đạo rồi mới hành đạo, giúp đời, cứu người Khổng Tử cho rằng, mục đích của học giả đời xưa là học để có tri thức, để sửa mình, còn mục đích của học giả đời nay là học để có địa vị và danh phận trong xã hội, tức là học
để làm quan, để dẫn dắt xã hội tới thịnh trị: “Người đời xưa vì mình mà học đạo; người đời nay vì người mà học đạo” (Cổ chi học giả vị kỷ, kim chi học giả vị nhơn) [23, 226-227] Tư tưởng “Học chí dĩ dụng”, tức là học để ứng dụng , phục vụ cho lợi ích quốc gia, luôn là mục đích cao nhất của người học
Tuy nhiên, mục đích giáo dục của Khổng Tử không chỉ là đào tạo, bồi dưỡng người quân tử, mà đồng thời còn là giáo dục cho cả bậc thứ dân Để truyền bá tư tưởng nhân nghĩa của mình, mục đích giáo dục của Khổng Tử còn là giáo dục cho dân chúng đạo lý tam cương, ngũ thường, nên sống đúng với cái danh của mình, tất cả cũng nhằm duy trì trật tự, kỷ cương và ổn định của xã hội phong kiến Ông nói: “Người quân tử ở ngôi trên nhờ học đạo mà thương mến dân chúng; kẻ tiểu nhân ngồi ở bậc dưới nhờ học đạo mà biết
Trang 21tuân lệnh nhà cầm” ( Quân tử học đạo tắc ái nhân Tiểu nhân học đạo tắc dị sử dã) [23, 270-271]
Mục đích giáo dục của Khổng Tử là nhằm truyền bá sâu rộng tư tưởng nhân nghĩa vào trong nhân dân, mục đích bao trùm của Khổng Tử là nhằm đào tạo ra những con người phù hợp với địa vị xã hội mà mình có, nghĩa là sống đúng với danh của mình Nếu tầng lớp thường dân được giáo dục để biết phục tùng người trên, thì người quân tử được giáo dục để làm người cai trị Trong đó Khổng Tử ưu tiên cho mục tiêu đào tạo lớp người cai trị
Tư tưởng này của Khổng Tử có nhiều yếu tố tích cực Chúng ta đều biết rằng muốn xây dựng xã hội phồn vinh, phát triển thì yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất đó là con người, nhất là những người hiền tài Khổng Tử hiểu
rõ vấn đề này, nên mục đích giáo dục của ông là phát hiện và đào tạo những người hiền tài có tri thức và năng lực để cứu nước, giúp dân, xây dựng một xã hội thái bình, thịnh trị Tư tưởng đào tạo người hiền tài để tham gia quản lý xã hội của Khổng Tử có giá trị ở chỗ nó đã đánh vào chế độ chuyên chế quý tộc
“thế khanh thế lộc” – quan chế và bổng lộc cha truyền con nối Nêu lên đòi hỏi của xã hội cần nhiều người tài giỏi để quản lý xã hội mà không cần để ý đến thành phần xuất thân Điều này là động lực tạo ra một xã hội học tập, mọi thành phần trong xã hội có thể lấy học tập làm hy vọng để thay đổi số phận và địa vị của mình
Bên cạnh những điểm tích cực đó, mục đích giáo dục của Khổng Tử cũng bộc lộ nhiều hạn chế Trước hết, ông luôn đánh giá thấp khả năng nhận thức của tầng lớp dưới so với bậc quan lại và quý tộc Hơn nữa, do không thấy được sự suy sụp của nhà Chu là một tất yếu lịch sử cho nên ông vẫn lấy việc khôi phục lại chế độ tông pháp nhà Chu làm mục đích giáo dục của mình Cũng chính từ mục tiên giáo dục gắn liền và xoay quanh mục đích chính trị, cho nên nó không tránh khỏi hạn chế là bó buộc con người trong khuôn khổ chật hẹp của những mối quan hệ đã được định sẵn
Trang 22Như vậy, xuất phát từ việc coi giáo dục là phương tiện chính trị nhằm
ổn định trật tự xã hội, mục đích giáo dục của Khổng Tử gắn liền và góp phần thực hiện những mục tiêu chính trị Trước yêu cầu của thực tiễn, mục đích giáo dục con người và mục đích khôi phục xã hội là thống nhất, không tách rời nhau Những mục đích này đã chi phối đến việc lựa chọn đối tượng giáo dục của Khổng Tử
Về đối tượng giáo dục:
Khổng Tử chủ trương mọi người đều được giáo dục không phân biệt giai cấp, thiện ác : “Hữu giáo vô loại” [23,254] Với quan niệm hết sức tiến
bộ này, Khổng Tử là người đầu tiên trong lịch sử giáo dục Trung Quốc đã biến giáo dục từ chỗ là đặc quyền, đặc lợi của giai cấp thống trị thành quyền lợi của mọi người, phá vỡ quan niệm giáo dục chỉ được dành riêng cho giai cấp quý tộc
Trong lịch sử, trước thế kỷ VI TCN không có một trường nào thu nhận học sinh từ mọi tầng lớp xã hội khác Khổng Tử là người đầu tiên làm việc
đó Trên thực tế đã có những học trò nghèo khó đến xin học, Khổng Tử đều nhận dạy Ông không phân biệt người giàu kẻ nghèo, ai xin học, muốn dâng vật gì làm lễ nhập môn, dù chỉ là một chiếc nem, ông cũng vui nhận: “Kẻ nào xin nhập môn, tự mình làm lễ dâng lên một thúc nem; thì chẳng bao giờ ta chê
lễ mọn mà chẳng dạy” (Tự hành thúc tu dĩ thượng, ngô vị thường vô hối yên) [23,100-101] Bên cạnh đó,theo Khổng Tử, người ham học thì dù năng lực nhận thức hạn chế ông vẫn nhận làm học trò và chỉ dạy chu đáo Ông nói:
“Nếu có kẻ thô bỉ đến hỏi ta, dầu là kẻ tối tăm mờ mịt tới đâu, ta cũng đem hai bề từ đầu chí cuối mà dẫn giải cho thật tường tận mới nghe” (Hữu bỉ phu vấn ư ngã, không không như giã, giã khấu kỳ lưỡng đoan, nhi kiệt yên) [23,134-135] Khổng Tử đã thâu nhận một lượng học trò đông đảo và đa dạng Trong số các học trò của ông vừa có con em quý tộc như Tử Du, Tử Tiện, Nam Cung Kinh Thúc, ; lại có cả tầng lớp bình dân gia cảnh bần hàn,
Trang 23xuất thân hèn k m như Nhan Hồi, Mẫn Tử Khiên, Nhiễm Cầu, Nhiễm Ung, ;vừa có những người buôn bán như Tử Cống, Tử Trương,…; vừa có con nhà lao động như Tăng Sâm, ; vừa có người trước đây là hạng bất thiện như Nhan Trác Tụ,…
Tuy nhiên, trong quan niệm về đối tượng giáo dục, Khổng Tử lại có sự phân chia cho thấy nhiều hạn chế và mâu thuẫn Ông cho rằng: “Con người sinh ra, tự nhiên biết được đạo lý, đó là hạng người cao thượng Cần phải học rồi mới biết, đó là hạng thứ hai Tự mình ám độn, nhưng chịu khó học tập đạo
lý, đó là hạng thứ ba Đã ám độn mà chẳng chịu học tập là hạng người đê hèn vậy” (Sanh nhi chi tri giả, thượng giã Học nhi chi tri giả, thứ giã Khốn nhi học chi, hựu kỳ thứ giã Khốn nhi bất học, dân tư vi hạ vỹ) [23, 264-265] Thậm chí, ông còn khẳng định: “ Chỉ có bậc thượng trí và kẻ hạ ngu là không đổi tính nết của mình” (Duy thượng trí dữ hạ ngu bất di) [23, 270] Khổng Tử cho rằng có loại người sinh ra đã biết đạo lý, thì luận điểm đó đã làm cho nhân dân lầm tưởng những kẻ đứng đầu bộ máy nhà nước phong kiến sinh ra
đã biết đạo lý, do đó họ phải đứng đầu thiên hạ Bên cạnh đó, thì một kẻ tiểu nhân không thể giáo dục thành người có nhân được Bởi vậy, trong quan niệm của Khổng Tử còn tồn tại mâu thuẫn và khi x t đến cùng, Khổng Tử cũng chưa thể vượt qua những rào cản hoàn cảnh và thời đại
Tóm lại, với tư tưởng “hữu giáo vô loài”, Khổng Tử đã lần đầu tiên để lại trong lịch sử nhân loại quan niệm: mọi người đều có quyền được giáo dục
và xã hội cần giáo dục cho tất cả mọi người Ông cũng thể hiện là một tấm gương dạy học vì lòng yêu thương con người chứ không vì tư lợi cá nhân Đối tượng giáo dục của Khổng Tử, một mặt, mang tính chất bình đẳng và hết sức tiến bộ, tạo nên một bước tiến rất lớn trong lịch sử giáo dục của Trung Quốc
cổ đại, nhưng mặt khác, nó không vượt qua được hạn chế bởi tầm nhìn lịch
sử Nhìn chung, đối tượng giáo dục của Khổng Tử có thể chia là hai loại: trước hết là tầng lớp quý tộc thống trị, đây vẫn là đối tượng giáo dục chính
Trang 24của Khổng Tử nhằm tạo ra lớp người bổ sung vào tầng lớp cai trị xã hội Sau
đó là tầng lớp thứ dân, tuy rằng không phải tất cả mọi người trong tầng lớp này đều là đối tượng của giáo dục mà chỉ có những người biết lắng nghe lời khuyên bảo của thánh hiền, còn với những kẻ vô đạo, tiểu nhân thì mãi mãi không cải tạo được
1.2.2 Nội d iáo dục
Xuất phát từ quan niệm bản tính con người là thiện, đồng thời quan niệm xã hội rối loạn, kỷ cương ph p tắc đảo lộn, chiến tranh giành quyền lực, địa vị là do con người không có “đạo”, làm trái với “đạo” “Đạo” mà Khổng
Tử nói đến đây thực chất là “đạo làm người” Để cho xã hội trở lại thanh bình, theo Khổng Tử phải làm cho con người có “đạo”, hiểu “đạo”, làm theo “đạo” Khổng Tử coi Lục kinh là tài liệu giảng dạy chủ yếu cho học trò Khi giảng Lục kinh, ông tập trung vào bốn mặt: văn, hạnh, trung, tín và lấy những diễn biến xã hội trước mắt để chứng minh cho đạo lý Ông chú trọng dạy đạo làm người trước dạy văn, làm cho con người “thấu suốt về điều nghĩa, thuần thục
về điều nhân” (Nghĩa tinh nhân thục)
Tài liệu giáo dục của Khổng Tử là lục kinh: Thi, Thư, Dịch, Lễ, Nhạc, Xuân Thu Đối với Khổng Tử, học Thi, học Lễ, học Nhạc là nhất quán, không thể bỏ đi, không thể coi nhẹ cái nào Khổng Tử dạy lễ, dạy nhạc, chính là dạy điều nhân, đạt đến điều nhân
Nhân là phạm trù cốt lõi trong đạo trị nước và đạo làm người của Khổng Tử Nhân được ông coi là cái quy định bản tính con người thông qua
Lễ, Nghĩa, quy định quan hệ giữa người với người từ trong gia tộc đến ngoài
xã hội Nhân trong tư tưởng Khổng Tử đó là yêu người Khi Phàn Trì hỏi Khổng Tử về đức nhân, Khổng Tử đáp: Nhân là “yêu người” (Ái nhơn) [23,192-193] Nếu nhìn toàn bộ tư tưởng của ông, phải xem nội dung trên là tiêu biểu cho điều Nhân Nhân là “ yêu người”, nhưng người nhân cũng còn
Trang 25phải biết “gh t người” Với Khổng Tử thì chỉ có người có đức nhân mới biết
“yêu người” và “gh t người” Khổng Tử nói: “Duy có bậc nhân mới thương người và gh t người một cách chính đáng mà thôi” (Duy nhân giả năng háo nhơn, năng ố nhơn) [23,50-51]
Nhân còn có nghĩa là trung thứ, tức là cái gì mà mình muốn làm thì cũng phải giúp người khác được như vậy Khổng Tử nói: “người nhân muốn
tự lập lấy mình thì cũng lo mà thành lập cho người khác; hễ muốn cho mình thông đạt thì cũng lo làm cho người thông đạt; hễ xử với mình thế nào thì cũng xử với người xung quanh mình thế ấy” (Nhân giả, kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân; nặng cân thủ thí) [23,96-97]
Khái niệm nhân rất rộng, nó sinh ra các đức khác và các đức khác quy
tụ về nó Nhân là yêu người, hết lòng với người khác Nhân gồm cả hiếu đễ kính yêu cha mẹ, anh chị em trong nhà Nhân gồm cả trung (trung quân ái quốc) Nhân gồm cả nghĩa Nghĩa là việc gì có hại thì không làm, có lợi thì làm, không tính đến lợi riêng Đồng thời, nhân phải có dũng, muốn làm điều nhân thì phải có dũng cảm Yêu cầu cơ bản của nhân là phải khắc kỷ, ái nhân Khắc kỷ là ràng buộc bản thân vào lễ, mọi hành vi đều phải theo lễ Đây chính là nội dung cơ bản trong giáo dục Nho giáo nhằm đào tạo ra mẫu người
lý tưởng, những người trung thành tuyệt đối với vua, có đức sáng dân tín, và thực hiện lý tưởng cao cả
Trong khi dạy học, Khổng Tử thường tùy vào năng khiếu mỗi người
mà chia ra bốn loại phạm vi học thuật để đạt được mục tiêu giảng dạy Bốn loại đó là: đức hạnh, ngôn ngữ, chính sự, văn chương Đức hạnh nhằm phát triển cho những người thực hành phẩm chất đạo đức Ngôn ngữ chủ yếu dành cho những người cần biện luận lý thuyết Chính sự dành cho những người hoạt động chính trị Văn học dành cho những người muốn đi sâu nghiên cứu văn chương Dựa vào bốn loại đó, Khổng Tử đã đào tạo thành công các học trò của mình
Trang 26Bên cạnh giáo dục nhân nghĩa, giáo dục Nho giáo rất coi trọng lễ nhạc Ngay từ đầu, mục đích của Khổng Tử là biến xã hội từ “loạn thành trị” cho nên việc giảng dạy Lễ của Khổng Tử cũng không nằm ngoài mục đích chính trị đó Khổng Tử giáo dục học trò cách thức và biện pháp để có thể khôi phục
ấu, xây dựng khuôn ph p, chuẩn tắc đạo đức để suốt đời phải làm theo Nhạc
là phần không thể thiếu của lễ Nhạc có tác động rõ rệt đến chính trị và đạo đức Nhạc còn là sự hợp đồng tạo nên quan hệ tương thân, nuôi dưỡng tâm tĩnh, điều hòa nhân cách con người Lễ mà không có nhạc sinh ra phân biệt trong quan hệ con người Nhạc không có lễ thành ra khinh nhờn, thiếu sự tôn nghiêm và uy quyền
Khổng Tử chủ trương dùng người học lễ nhạc trước rồi sau đó mới làm quan, vì nếu nhà cầm quyền không có lễ sẽ gặp khó khăn trong việc quản lý
xã hội, còn nếu có Lễ thì sẽ thông suốt, dễ dàng Ngay cả vua cũng không được bỏ lễ, vua phải cho ra vua, tôi phải cho ra tôi Khổng Tử cho rằng, nếu vua sai khiến bề tôi bằng chữ lễ thì bề tôi sẽ phụng sự vua bằng lòng trung, nếu người trên chuộng lễ thì dân chẳng dám bất kính Khổng Tử so sánh phương pháp sử dụng pháp luật và phương pháp sử dụng lễ để thấy được tính hơn hẳn của việc dùng lễ so với dùng pháp luật trong quản lý xã hội Ông nói:
“Nếu nhà cầm quyền chuyên dùng pháp chế, cấm lệnh mà dẫn dắt dân chúng; chuyên dùng hình phạt mà trị dân, thì dân sợ mà chẳng vi phạm đó thôi, chứ
Trang 27họ chẳng biết xấu hổ Vậy muốn dẫn dắt dân chúng, nhà cầm quyền phải dùng đức hạnh, muốn trị dân, nhà cầm quyền phải dùng lễ tiết, thì chẳng những dân biết xấu hổ, họ lại còn cảm hóa mà trở nên tốt lành” (Đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn nhi vô sỉ Đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách) [23,14-15] Như vậy, nội dung Lễ, với tư cách là lễ chế chính trị mà Khổng Tử giáo dục học trò, đã biểu hiện tư tưởng duy trì chế độ chính trị - xã hội tông pháp nhà Chu
Khổng Tử dạy các học trò phải biết lễ, hiểu lễ bởi vì lễ rất quan trọng đối với con người Việc nhìn, nghe, nói, hành động của con người đều nằm trong phạm vi của lễ Một người mà mọi cảm giác, lời nói, hành động, không thất lễ mới có thể có chỗ đứng trong xã hội Do vậy, Khổng Tử dạy học trò phải theo lễ mà thực hiện mọi hành động của mình Nếu điều gì không hợp lễ thì không nên làm: “sắc chi chẳng hợp lễ thì mình đừng ngó, tiếng chi chẳng hợp lễ thì mình đừng nghe, lời chi chẳng hợp lễ thì mình đừng nói; việc chi chẳng hợp lễ thì mình đừng làm” (Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động) [23, 180-181] Chỉ có lấy lễ làm chuẩn mực cho hành
vi của mình thì con người mới đạt được đức nhân
Lễ và Nhân trong tư tưởng Khổng Tử có quan hệ chặt chẽ với nhau Người nào muốn có nhân thì phải “khắc kỷ, phục lễ”, tức là phải chế ngự, phải thắng được mình để theo đuổi lễ Nhân là cái bao trùm nhiều đức khác trong đó có Lễ Khổng Tử dạy lễ không phải chú ý đến cái hình thức biểu hiện bên ngoài mà hướng đến đức nhân bên trong nội dung lễ Ông nói:
“người mà chẳng có lòng nhân sao thi hành lễ tiết” [23, 32-33] Nhân là nội dung, lễ là hình thức của nhân, do đó, không có lòng nhân thì lễ chỉ là giả dối
Giáo dục đức trí cũng là nội dung tư tưởng giáo dục của Khổng Tử Vì trí là yếu tố mở đầu của quá trình tu dưỡng và thực hiện đạo “quân tử” Người quân tử muốn đạt tới đức nhân thì cần phải học Con người muốn hiểu biết,
Trang 28muốn có trí tuệ thì phải học, “nhân bất học bất tri lý” Quan điểm của Khổng
Tử, để đạt được đức thì người quân tử phải đạt được ba điều: nhân, trí, dũng
Một nội dung quan trọng nữa trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử là
tư tưởng chính danh Khổng Tử đưa ra thuyết chính danh vì ông cho rằng, nguyên nhân của xã hội loạn lạc là do con người sống không đúng với danh phận của mình Vì vậy, để lập lại trật tự xã hội thì phải thực hành thuyết chính danh Theo Khổng Tử, chính danh là mỗi người, mỗi sự vật đều có một địa vị, một bổn phận nhất định và tương ứng với nó là một danh nhất định, mỗi người phải làm đúng với chức phận của mình Khổng tử dạy rằng danh và thực phải phù hợp với nhau, nếu danh và thực không hợp nhau thì hậu quả sẽ khôn lường, xã hội sẽ loạn: “Nếu danh mà chẳng chính, chẳng hợp nghĩa thì lời nói chẳng thuận; lời nói chẳng thuận thì công việc chẳng thành; công việc chẳng thành thì lễ tiết và âm nhạc chẳng thịnh vượng, tức là chẳng có sự kính trọng và niềm hòa khí; nếu lễ tiết và âm nhạc chẳng thịnh vượng, tức là người trong nước chẳng biết kính trọng nhau và chẳng có niềm hòa khí, thì sự hình phạt chẳng đúng ph p; nếu sự hình phạt chẳng đúng ph p, thì dân biết chỗ nào mà đặt tay chân” (Danh bất chính, tắc ngôn bất thuận; ngôn bất thuận, tắc
sự bất thành; sự bất thành, tắc lễ nhạc bất hưng; lễ nhạc bất hưng, tắc hình phạt bất trúng; hình phạt bất trúng, tắc dân vô sở thố thủ túc) [23, 184-185]
Vì thế khi Tử Lộ hỏi Khổng Tử về việc nếu vua nước Vệ mời ông tham gia chính sự thì ông sẽ làm gì trước tiên, Khổng Tử đã trả lời: “ Ắt ta sẽ làm cho
ra chính danh chính phận” ( Tất dã chính danh hồ) [23,196-197] Điều này cho thấy chính danh có vai trò quan trọng như thế nào trong tư tưởng chính trị của Khổng Tử
Theo Khổng Tử, xã hội chính danh là “Quân quân, thần thần, phụ phụ,
tử tử” Nghĩa là vua phải ra vua, bề tôi phải ra bề tôi, cha phải ra cha, con phải
ra con Tức là người nào ở vị trí nào thì phải ứng xử ở vị trí đó, không được lẫn lộn, không được tùy tiện, phải tuân theo ph p tắc, quy củ của xã hội đã
Trang 29quy định Nếu không làm như vậy thì xã hội sẽ đảo lộn Có thể thấy, học thuyết chính danh của Khổng Tử phản ánh thái độ tôn trọng tôn ti trật tự, ph p tắc, lễ nghĩa trong quan hệ giữa người với người trong xã hội Thực chất của chính danh là kêu gọi, giáo hóa đạo đức để con người sống có nhân
Bên cạnh việc giảng dạy đạo lý, đạo làm người, Khổng Tử còn dạy học trò văn chương và lục nghệ “Văn” là gồm thi, thư, lễ, nhạc, xuân thu; còn
“Lục nghệ” là nội dung chương trình các trường công lúc bấy giờ gồm sáu môn: lễ, nhạc, xạ (bắn cung), ngự (đánh xe), thư (viết chữ), số(toán pháp) Dạy văn chương và lục nghệ là Khổng Tử muốn đào tạo ra những con người vừa có đức vừa có tài tinh thông lục nghệ Tuy nhiên trọng tâm giáo dục học trò của ông vẫn là hành vi đạo đức và ý thức trách nhiệm đối với xã hội, đối với vua, đối với cha mẹ và anh em bạn bè Ông đã đưa ra cả một hệ thống chuẩn mực đạo đức cần có của một người học đạo giúp đời
Tuy vậy, hạn chế của Khổng Tử đó là quá đề cao giáo dục đạo đức con người, coi đó như là tiêu chuẩn hàng đầu của nội dung giáo dục và đã gạt bỏ những năng lực khác của con người, đặc biệt là tri thức khoa học ra ngoài nội dung giáo dục của mình Không những thế, mục đích và nội dung giáo dục của ông, trước sau đều nhằm đào tạo ra mẫu người lý tưởng, người quân tử trung thành với chế độ quý tộc phong kiến và nhằm duy trì trật tự đẳng cấp, danh phận của chế độ đó Khổng Tử tách giáo dục ra khỏi hoạt động chính yếu của xã hội là hoạt động sản xuất của cải vật chất, đánh giá thấp các hoạt động sản xuất vật chất, định hướng giá trị con người theo một chiều, thiên về cái tinh thần, xa rời việc chinh phục, chiếm lĩnh các giá trị vật chất, cải tạo tự nhiên Chính vì vậy, ông quan niệm người hiền tài không phải là người hiểu biết về khoa học, về lao động sản xuất mà là người hiểu biết về lễ, nghĩa…Mặt khác, với nội dung giáo dục, Khổng Tử hướng tới mục đích đào tạo những lớp người thích hợp với trật tự xã hội phong kiến – trật tự mang tính phân biệt đẳng cấp, trên dưới, vì thế sản phẩm của nó là những thế hệ
Trang 30không thể vượt qua khuôn khổ chật hẹp và tầm nhìn hạn hẹp của xã hội phong kiến – một xã hội trói buộc con người trong những mối quan hệ đã được định sẵn
Như vậy, trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử, học thuyết về luân lý, đạo đức, chính trị - xã hội là một trong những vấn đề cốt lõi và là thể thống nhất gắn bó hữu cơ với nhau Trong những phạm trù đạo đức ấy, chữ nhân được Khổng Tử đề cập với ý nghĩa sâu rộng nhất, nó được coi là nguyên lý đạo đức cơ bản nhất quy định bản tính con người và là trọng tâm trong nội dung tư tưởng giáo dục của Khổng Tử, tạo thành bản sắc riêng trong triết lý nhân sinh của ông
1.2.3 h ơ pháp iáo dục của Khổ Tử
Bên cạnh những nội dung thiết thực để xây dựng nhân cách con người, Khổng Tử còn đặc biệt quan tâm đến một nội dung quan trọng mà thiếu nó, người học không thể tiếp thu những nội dung kể trên Đó là phương pháp giáo dục để nâng cao hiệu quả đào tạo con người Khổng Tử đưa ra nhiều phương pháp giáo dục hết sức tích cực Mặc dù các phương pháp này chưa thật sự rõ ràng và có hệ thống, nhưng thông qua những bài giảng, những lời nói của Khổng Tử, chúng ta có thể thấy được những luận điểm cơ bản về những phương pháp giáo dục tiến bộ
Giáo dục tùy khả năng, đặc điểm của đối tượng giáo dục
Quan điểm của Khổng Tử là không áp đặt cách giáo dục cứng nhắc, rập khuôn, sáo rỗng Ông luôn khuyến khích học trò phát huy sở trường, sở đoản,
ý thích và khả năng của từng người Thường ngày Khổng Tử quan sát rất kỹ các học trò, ông từng nói: “Trò Sài (Cao Sài tự Tử Cao) thì k m thông minh; trò Sâm (Tăng Tử) chậm lụt thật thà; trò Sư (Tử Trương) thì hay chưng diện
bề ngoài; còn trò Do (Tử Lộ) thì thô tục k m nho nhã” (Sài giã ngu, Sâm giã
lỗ, Sư giã tích, Do giã ngạn) [23,168-169] Trên cơ sở nắm vững tính cách,
Trang 31trình độ, sở thích, ưu điểm, khuyết điểm của từng người, ông mới đưa ra những nội dung giáo dục phù hợp, chú trọng vào khí chất của từng người mà
có cách thức dạy dỗ riêng Khổng Tử thấu hiểu cá tính, tài trí, thậm chí hoàn cảnh gia đình của học trò, từ đó đưa ra phương pháp dạy thích hợp đối với từng người Có thể thấy rõ điều này qua cách ông trả lời học trò về nội dung nhân, lễ, hiếu,…
Khi học trò hỏi về điều nhân, trả lời Nhan Hồi, Khổng Tử nói: nhân là chế thắng được bản thân mình thì thiên hạ sẽ coi mình là người nhân, nhưng trả lời Phàn Trì, Khổng Tử nói: Nhân là yêu người Lần khác Phàn Trì hỏi về nhân, Khổng Tử trả lời: Nhân là thái độ và dung mạo khiêm cung,… Trả lời
Tử Trương, Khổng Tử nói nhân là cung, khoan, tín, mẫn, huệ,…
Về việc thi hành đạo lý, khi Tử Lộ và Nhiễm Hữu cùng hỏi câu: “Như tôi nghe được điều phải thì nên làm liền chăng?” thì Khổng Tử cũng căn cứ trên tính tình từng người mà dạy Khổng Tử trả lời Tử Lộ: “Ngươi còn cha anh, phải hỏi lại đã, lẽ nào nghe được mà làm liền – Hữu phụ huynh tại, như chi hà kỳ văn tư hành chi?” Trái lại ông trả lời Nhiễm Hữu: “Nghe được thì nên làm liền – Văn tư hành chi” Khi Công Tôn Hoa nghe, không hiểu tại sao Khổng Tử lại trả lời hai cách khác nhau liền hỏi thì Khổng Tử trả lời: “Tính trò Cầu thì nhu nhược, nên ta phải đôn tới cho Còn tính trò Do thì cường thắng, nên ta phải biết thối lại – Cầu giã thối, cố tấn chi Do giã kiêm nhơn, cố thối chi” [23,172-173]
Khi dạy về đức Hiếu, cũng dựa vào tính tình từng người mà Khổng Tử trả lời một nội dung khác nhau Mạnh Ý Tử nhiều khi thất lễ với cha mẹ nên Khổng Tử dạy rằng: không làm trái lẽ phải, trái với lễ Mạnh Võ Bá tính tình gàn dở, coi thường tính mạng, không thận trọng lấy thân nên khi Mạnh Võ Bá hỏi về hiếu, Khổng Tử dạy: phải giữ gìn thân thể khỏe mạnh tránh nỗi lo của của cha mẹ Tử Du tuy biết nuôi cha mẹ nhưng lại không có lòng hiếu kính nên Khổng tử dạy: phải hiếu và kính với cha mẹ, nếu nuôi cha mẹ mà không
Trang 32hiếu kính thì chẳng khác nào nuôi chó ngựa Còn Tử Hạ có tính cau có nên Khổng Tử dạy phải giữ hòa vui trong khi phụng dưỡng cha mẹ là đáng hiếu…
Như vậy, Khổng Tử luôn luôn tùy trình độ và thái độ của mỗi môn sinh
mà dẫn giải cho phù hợp với từng người một Để làm được như vậy, Khổng
Tử đã tìm hiểu thấu đáo, đã thông cảm và thấu cảm với những đặc điểm nhân cách của từng người trong số hàng nghìn môn sinh của ông Từ chỗ thấu hiểu đối tượng, Khổng Tử đã tìm cách giảng dạy phù hợp với từng đối tượng
Từ những nội dung trên, chúng ta nhận thấy cách giáo dục của Khổng
Tử rất tiến bộ so với thời đại ông Trong phương pháp của Khổng Tử, ông nhấn mạnh đến vai trò chủ thể của người học và tính linh hoạt của người dạy Người thầy chỉ giữ vai trò hướng dẫn và tạo điều kiện để học trò tự phát huy năng lực bản thân Có thể nói Khổng Tử là người đầu tiên đề xuất phương pháp này và đã thu được những thành công to lớn trong lĩnh vực giáo dục Phương pháp này có ý nghĩa to lớn trong suốt quá trình lịch sử phát triển giáo dục của Trung Quốc và cho đến nay vẫn còn giá trị thực tiễn trong điều kiện giáo dục đòi hỏi người học làm trung tâm
Phương pháp kết hợp học với tư duy
Khổng Tử quan niệm học tập và tư duy không thể tách rời nhau Trong quá trình dạy học, Khổng Tử luôn khích lệ học trò tự suy nghĩ, người thầy chỉ giữ vai trò hướng dẫn Chính vì vậy, Khổng Tử đòi hỏi học trò phải phát huy tính năng động, linh hoạt của mình để suy nghĩ ra vấn đề: “Học mà chẳng suy nghĩ thì chẳng được thông minh Suy nghĩ mà chẳng chịu học thì lòng dạ không được yên ổn – Học nhi bất tư, tắc võng; tư nhi bất học, tắc đãi” [23,22-23] Khổng Tử khẳng định người nào không chịu suy nghĩ thì dạy cũng vô ích: “Người nào chẳng ra công tìm tòi, như làm việc chi, chẳng tự hỏi: tôi phải làm cách gì? Tôi phải làm sao? Người như vậy, ta cũng chẳng có gì mà chỉ bảo cho được – Bất viết như chi hà? Như chi hà giả? Ngô mạt như chi hà giã dĩ hỹ” [23,146-147] Bằng phương pháp này, Khổng Tử đã phát huy được
Trang 33tính chủ động, tích cực suy nghĩ của người học, xóa bỏ sự thụ động trong việc tiếp thu tri thức Theo Khổng Tử, tư duy có thể nâng cao kết quả của việc học, khiến cho học trò có thể học một biết mười, có thể biết một góc mà suy ra được ba góc kia Đối với việc học, sự suy nghĩ là không thể thiếu, vì đó là tiền
đề cần thiết cho người học tiếp thu kiến thức
Bên cạnh đó, ông còn cho rằng: “Kẻ nào chẳng phấn phát lên để hiểu thông, thì ta chẳng giúp cho hiểu thông được Kẻ nào chẳng rắn lên để tỏ ý kiến mình, thì ta chẳng khai phát cho được Kẻ nào đã biết rõ một góc, nhưng chẳng chịu căn cứ vào đó để biết luôn ba góc kia, thì ta chẳng dạy kẻ ấy nữa – Bất phẫn, bất khải; bất phỉ, bất phát Cử nhất ngung, bất dĩ tam ngung phản, tắc bất phục giã [23,100-101] Chỉ có như vậy thì người học mới có thể hiểu được sự vật, mới biết ít hiểu nhiều, học một biết mười Bản thân Khổng Tử cũng thừa nhận ông không phải là biết hết mọi thứ một cách dễ dàng mà là quá trình đào sâu suy nghĩ, đi từ biết ít đến biết nhiều: “Này Tứ (Tử Cống) ! Ngươi cho rằng ta nhờ học nhiều mà nhớ hết phải chăng? Chẳng phải vậy
Ta nhờ để tâm quan sát, bắt một mối mà thông suốt tất cả” (Tứ giã, nhữ dĩ dư
vi đa học nhi chí chi giã dư? Phi giã Dư nhất dĩ quán chi) [23, 238-239]
Như vậy, từ việc đặt ra yêu cầu học kết hợp với suy nghĩ, suy ghĩ gắn liền với học, Khổng Tử đã nhận thấy mối quan hệ biện chứng giữa học với suy nghĩ Ông đòi hỏi học trò phải nghe nhiều, quan sát nhiều từ đó có cơ sở
để suy nghĩ sâu rộng Khổng Tử đã khơi gợi và kích thích tư duy của học trò vận động linh hoạt trên cơ sở thực tiễn phong phú và sinh động
Phương pháp học kết hợp với thực hành
Khổng Tử yêu cầu học trò học phải gắn với hành, tức là phải vận dụng những kiến thức đã học vào trong cuộc sống Đây là tư tưởng nhất quán trong thực tiễn giáo dục của Khổng Tử Ông dạy học trò phải luôn luyện tập và không được quên những điều đã học được Ông yêu cầu học trò phải củng cố những kiến thức đã học bằng cách thực hành ngay chứ không phải bằng cách
Trang 34ôn luyện trong sách vở, ở câu văn, lời nói của thầy Chính vì thế, Khổng Tử luôn nêu cao tinh thần học phải hành Ông nói: “Kẻ học đạo lý mà thường ngày luyện tập cho tinh thông, nhuần nhã, há không lấy đó làm vui sao” (Học nhi thì tập nhi, bất diệc duyệt hồ) [23, 5] Nếu học đem lại cho người học tri thức thì tập đem lại cho người học sự nhuần nhuyễn, linh hoạt và sâu sắc hơn tri thức đã học
Theo Khổng Tử, nếu chỉ biết thế nào là nhân, lễ, trí mà không thực hành thì đó mới chỉ là cái biểu hiện hời hợt bề ngoài, không có ý nghĩa, nên ông đòi hỏi học trò phải thực hành những điều đã học được với những người khác như với vua, với cha mẹ, với anh em, với bạn bè Khổng Tử nói: “Đức hạnh chẳng trau dồi, học vấn chẳng giảng cứu cho tinh tường, nghe biết điều nghĩa mà chẳng làm theo, tự mình có điều chẳng phải mà không hay sửa đổi,
đó là những việc mà ta lấy làm lo vậy” (Đức chi bất tu, học chi bất giảng, văn nghĩa bất năng tỹ, bất thiện bất năng cải, thị ngô ưu giã) [23,98-99] Ông cũng cho rằng hàng ngày đọc bao nhiêu điều hay, bao nhiêu lẽ phải nhưng nếu không đem những điều đã học thực hành vào cuộc sống thì những điều đã học
là những điều sáo rỗng, vô ích: “Như có ai đã đọc thuộc hết ba trăm thiên trong Kinh Thi, được bậc Quốc Trưởng trao quyền hành chính cho mình, nhưng cai trị chẳng xuôi; được phái đi sứ đến các nước ở bốn phương, nhưng chẳng có tài ứng đối; người ấy dẫu học nhiều, nhưng có biết dùng tài học của mình chăng? (Tụng thi tam bá, thọ chi dĩ chính, bất đạt; sứ ư tứ phương, bất năng chuyên đối; tuy đa, diệc hề dĩ vi) [23, 200-201]
Như vậy theo Khổng Tử, học mà tiếp thu tốt thì suy nghĩ (tư) mới cẩn thận và thông suốt, suy nghĩ thận trọng thì luyện tập (tập) mới thành thạo, luyện tập thành thạo thì thực hành mới có hiệu quả Vì vậy, học – tư - tập - hành là những công đoạn hết sức quan trọng của quá trình tiếp thu và vận dụng tri thức Đây là một đóng góp rất quan trọng của Khổng Tử cho giáo dục
về khía cạnh phương pháp
Trang 35Phương pháp thuyết phục bằng sự gương mẫu
Đây là phương pháp “Dĩ thân vi giáo”, gọi tắt là “Thân giáo” lấy chính bản thân mình làm phương tiện giáo dục Cách tốt nhất để giáo dục người khác là tự mình trở thành một sự gương mẫu Theo Khổng Tử, nhân cách của người thầy có sức thuyết phục mạnh mẽ đối với người học, người học nhìn vào tấm gương người thầy mà tin rằng những điều thầy dạy là chân lý, là những điều tốt đẹp Cho nên, để trở thành tấm gương cho học trò thì người thầy phải là người đi trước Người thầy muốn dạy học trò mình điều gì thì thầy phải là người làm điều đó trước đã để chứng minh điều đó là đúng đắn:
“Mình muốn dạy người ta điều gì, trước hết mình hãy làm điều đó đi Rồi cứ theo đó mà dạy” (Tiên hành kỳ ngôn, nhi hậu tùng chi) [23,20-21] Học trò của Khổng Tử học được rất nhiều bài học lớn qua tấm gương của thầy mình: Tinh thần hiếu học và lòng yêu người, yêu nghề, lòng nhân hậu, tính khiêm trung, đức trung thực…Họ ca ngợi ông: “Phu tử ôn hòa mà nghiêm trang, oai
vệ mà thư thái, hiền từ” Khổng Tử không nhận mình là người có trí tuệ, cũng không nhận mình là người có nhân để dạy tri thức, ông chỉ nhận mình là có chí, có quyết tâm và ông truyền lại cho học trò ý chí và quyết tâm mà thôi:
“Như bậc thánh và Nhân thì há ta dám? Nhưng học mà không chán, dạy người mà không mỏi, ta chỉ có thể gọi được như vậy mà thôi” (Nhược Thánh
dữ Nhân, tắc ngô khởi cảm? Ức vi chi bất yếm, hối nhơn bất quyện, tắc khả vi vân nhĩ dĩ hỹ) [23,116-117] Mặc dù vậy, người đời vẫn thừa nhận những công lao vĩ đại của ông và gọi ông là bậc Thánh, bậc Nhân
Phương pháp nêu gương không chỉ được sử dụng trong dạy học, mà Khổng Tử còn dùng để dạy những người làm quan Theo Khổng Tử, người trên có làm gương cho người dưới thì mới dạy bảo được người dưới, mới trị được người dưới và mới cai trị được thiên hạ Ông nói: “Như người nào đã sửa trị lấy mình, thì đứng ra cai trị có khó gì? Nhược bằng mình chẳng có thể sửa trị lấy mình, làm sao cai trị dân cho được” (Cầu chính kỳ thân hỹ, ư tùng
Trang 36chính hồ, hà hữu? Bất năng chính kỳ thân, như chính nhơn hà) [23,204-205] Người làm quan làm gương cho dân không chỉ dạy dân, trị dân mà còn làm cho dân tin Làm cho dân tin vào bậc cầm quyền là điều khó nhất và quan trọng nhất trong trị nước Cho nên, khi trả lời Tử Cống, trong ba thứ quan trọng của nhà cầm quyền gồm lương thực, binh lực và dân tin thì điều gì là quan trọng nhất thì Khổng Tử trả lời là dân tin Bởi vì, theo ông, “dân không tin nhà cầm quyền thì chính quyền sẽ sụp đổ” (Dân vô tín bất lập) [23,184-185] Nếu bậc cầm quyền tự sử mình là gương cho dân sẽ theo đó mà trở nên tốt đẹp, việc trị nước từ đó mà cũng trở nên dễ dàng hơn: “Nếu nhà cầm quyền tự mình giữ theo chính đạo, chẳng đợi ra lệnh, dân cũng ăn ở đúng
ph p; còn như tự mình chẳng giữ theo chính đạo, dẫu có lệnh buộc dân theo,
họ cũng khôn theo” (Kỳ thân chính, bất lệnh, nhi hành; kỳ thân bất chính, tuy lệnh, bất tùng) [23, 200-201]
Bên cạnh những phương pháo giáo dục kể trên, Khổng Tử còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp đàm thoại, phương pháp lấy niềm vui, sự hứng thú làm động lực học tập…
Toàn bộ sách Luận ngữ là những lời đối thoại giữa Khổng Tử và học trò của ông cũng như giữa các học trò với nhau hay giữa Khổng Tử và những người đàm đạo cùng ông Ở đó luôn luôn có hỏi - đáp, đặt vấn đề và giải thích vấn đề Ở đó Khổng Tử luôn luôn xuất phát từ nội dung nhu cầu của người học để có câu trả lời phù hợp Ông còn khuyên không nên lấy làm xấu hổ khi phải hỏi han kẻ dưới mình “Bất sĩ hạ vấn” Lớp học do Khổng Tử dạy đúng là một lớp học của một triết nhân, thầy trò cùng nhau bàn luận, trao đổi với nhau một cách bình đẳng, tự nhiên để cùng tìm ra đạo lý Bàn luận để làm sáng tỏ đạo lý, theo Khổng Tử là một phương pháp hữu hiệu đồng thời là một niềm vui
Trong giáo dục, cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, niềm vui vừa là kết quả vừa là điều kiện để kích thích sự hưng phấn hoạt động của con người
Trang 37Chính niềm vui, nguồn hạnh phúc có khả năng giúp con người thêm phấn chấn, thêm nghị lực để vượt khó Ý thức được giá trị ấy, Khổng Tử thường khơi dậy niềm vui và dẫn truyền đến các học trò của mình Ông quan niệm biết mà học không bằng thích mà học Thích mà học cũng không bằng vui mà học “Vui học” là biểu hiện của “lạc thú - trí tuệ” Bởi mục tiêu ấy mà Khổng
Tử thường khuyên học trò dù trong hoàn cảnh hay cảnh ngộ nào cũng cần giữ lấy niềm vui để học và học có kết quả “An bần lạc đạo”: vui với sự giàu có
về tri thức, về tinh thần và đạo đức là chính Việc học tập, hành động và cuộc sống của con người không phải là cái từ bên ngoài đưa vào nữa, mà là tự thân, mang tính nội tại Có được sự hứng khởi, thích thú đối với việc học đạo, cầu đạo thì mới đạt được như vậy Vì vậy, việc hết sức chú trọng bồi dưỡng hứng thứ của các học trò là một nguyên tắc giáo dục của Khổng Tử
Bên cạnh đó, Khổng Tử luôn chú trọng đề xướng tinh thần tự giác, tích cực của học trò Ông luôn khuyến khích học trò của mình tư duy một cách độc lập, mỗi người có một lối suy nghĩ khác nhau, chứ không được bị thầy của mình che lấp hết sở kiến Ông chỉ truyền thụ tri thức hoặc gợi mở cho học trò khi nhu cầu tìm tòi học hỏi, nhu cầu phát biểu ý kiến riêng và nhu cầu suy luận phán đoán của học trò đã chín muồi Khổng Tử cũng quan niệm việc học muốn thành công nhất thiết phải dựa vào sự nỗ lực của bản thân người học
Dù cho thiên tư có cao như thế nào đi chăng nữa, nếu không nỗ lực thì cũng
sẽ không đi đến đâu Ngược lại, người nào tư chất yếu k m, song lại có chí hướng kiên quyết, nỗ lực vượt khó, thì chắc chắn sẽ đạt được thành tựu Tăng Sâm, học trò của Khổng Tử, tuy tư chất không bằng người, song nhờ nỗ lực bản thân mà đạt được những thành quả mà mọi người phải thừa nhận
Với Khổng Tử, người thầy có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc truyền bá kiến thức và xây dựng con người Họ không những phải có tài năng
mà còn phải có nhân cách cao cả Đối với ông, giáo dục trước hết là giáo dục điều nhân, giáo dục đạo đức và chính trị, là truyền bá đạo lý cho cong người
Trang 38để họ trở thành những nhân cách lý tưởng, đạt đến chỗ chí thiện Thành tựu chủ yếu trong sự ngiệp giáo dục của Khổng Tử là phương pháp giáo dục Ông
đã nêu ra hàng loạt phương pháp dạy và học mang tính tích cực được nhiều nhà Nho sau này kế thừa, phát triển Đó là dạy người cần phải căn cứ vào sở trường, sở đoản và tố chất của từng đối tượng mà có cách dạy thích hợp, là bồi dưỡng cho học trò hứng thú học tập, là yêu cầu học trò trong khi học, không phải chỉ có học mà còn phải biết xem x t ôn luyện và vận dụng những điều đã học; còn người học phải có tinh thần tự giác, phải cần cù nỗ lực Phương pháp giáo dục nói trên không những có tác dụng tích cực đối với thời đại Khổng Tử mà còn có ý nghĩa gợi mở cho ngày nay xây dựng những phương pháp dạy và học vừa có gốc rễ ở tinh hoa truyền thống, vừa tiên tiến, hiện đại
Nhìn chung trong phương pháp của Khổng Tử chứa đựng rất nhiều điểm tích cực và tiến bộ Khổng Tử chú trọng khơi dậy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học thông qua phương pháp thảo luận, tranh luận giữa thầy và trò là ưu điểm nổi bật trong phương pháp dạy và học của Khổng
Tử Bên cạnh đó, Khổng Tử có sự phân lớp các đối tượng trong quá trình dạy học nhằm trang bị kiến thức phù hợp với khả năng của từng cá nhân để đạt được hiệu quả cao nhất Khổng Tử còn đòi hỏi phải ôn cũ biết mới, chú trọng vận dụng những điều đã học vào trong cuộc sống, học phải đi đôi với hành, học để giúp đời Vì lẽ đó, bên cạnh mục đích chủ yếu là đào tạo ra những con người lương thiện, lễ nghĩa, sống đúng với bổn phận của mình thì mục tiêu cao nhất mà Khổng Tử vươn tới là đào tạo lớp người quân tử có đủ đức, đủ tài
ra giúp nước, cứu dân
Trong phương pháp giáo dục của Khổng Tử chứa đựng rất nhiều điểm tích cực và tiến bộ Khổng Tử chủ trương dạy từ xa đến gần, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp theo hướng gợi mở để người học dễ tiếp thu và phát huy tính chuyên cần cũng như khả năng sáng tạo của mình Qua đó mở rộng
Trang 39và đào sâu kiến thức cho người học Phương pháp giáo dục đòi hỏi người thầy phải là một tấm gương sáng cho trò noi theo cả về đạo đức lẫn tài năng uyên bác
Chú trọng khơi dậy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học thông qua phương pháp thảo luận, tranh luận giữa thầy và trò là ưu điểm nổi bật trong phương pháp dạy và học của Khổng Tử Điểm tiến bộ tiếp theo trong phương pháp giáo dục của Khổng Tử là phương pháp phân lớp các đối tượng trong quá trình dạy học nhằm trang bị kiến thức phù hợp với khả năng của từng cá nhân để đạt hiệu quả cao nhất Khổng Tử còn đòi hỏi con người ta phải ôn cũ, biết mới, học những điển tích cũ trong lịch sử để thu thập kinh nghiệm, giải quyết những vấn đề trong hiện thực, chú trọng vận dụng những điều đã học vào trong cuộc sống, tức là học phải đi đôi với hành, học là để giúp nước, giúp dân Vì lẽ đó, bên cạnh mục đích chủ yếu là đào tạo ra những con người lương thiện, lễ nghĩa, sống đúng với bổn phận của mình thì mục tiêu cao nhất mà Khổng Tử vươn tới là đào tạo lớp người quân tử có đủ đức,
đủ tài ra giúp nước, cứu dân
Mặc dù còn nhiều hạn chế bởi điều kiện lịch sử cụ thể và tính chất sơ khai, nhưng tư tưởng giáo dục của Khổng Tử, lần đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa, trở thành một hệ thống lý luận chặt chẽ Trong đó ông đã nêu ra mục đích, đối tượng, nội dung và phương pháp giáo dục khá sâu sắc, phong phú và sinh động Theo Khổng Tử, giáo dục cho mọi người biết đạo, hiểu đạo, có đầy
đủ nhân, lễ, nghĩa, hiếu, tín, nhằm phục vụ cho trật tự của xã hội phong kiến
là mục tiêu của giáo dục Từ mục đích đó, Khổng Tử đưa ra tư tưởng “hữu giáo vô loài”, tức là mọi người đều được giáo dục, giáo dục là quyền lợi của mọi người, không phân biệt đẳng cấp, giai cấp, tầng lớp Về nội dung giáo dục, Khổng Tử đã đưa ra những nội dung đạo đức hết sức sâu sắc như nhân,
lễ, nghĩa, chính danh, Để truyền dạy một cách có hiệu quả Khổng Tử đã đề
Trang 40xuất một hệ thống phương pháp giáo dục khá chặt chẽ với những kiến giải sinh động và sâu sắc
Tuy nhiên, cùng với những tư tưởng tích cực trên, thì Khổng Tử bộc lộ nhiều hạn chế mang tính giai cấp Trong đó, ông phân biệt giữa người quân tử với thường dân, tiểu nhân, và ông đề cao người quân tử và đánh giá thấp năng lực của thường dân, đặc biệt, phụ nữ không được xem là đối tượng được giáo dục Từ đó, ông dành hết tâm huyết cho việc đào tạo người quân tử Ngoài ra, việc tuyệt đối hóa nội dung đạo đức, hạ thấp tri thức khoa học, sản xuất vật chất, cũng là một hạn chế lớn trong tư tưởng giáo dục của ông Tuy vậy, đánh giá một cách đầy đủ thì tư tưởng giáo dục Khổng Tử là một cống hiến to lớn đối với sự nghiệp văn hóa giáo dục Trung Hoa nói riêng và nhân loại nói chung, nhất là đối với việc giáo dục và đào tạo con người
Chúng ta không thể phủ nhận giá trị thực tiễn của tư tưởng giáo dục của Khổng Tử, mà hạt nhân của tư tưởng ấy là chữ nhân, là mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người trong đời sống xã hội Từ quan điểm về con người và mối quan hệ giữa người với người đến nhu cầu giáo dục đối với con người; từ quan điểm khái quát về giáo dục đến quan điểm về mục tiêu, nội dung, chủ thể, đối tượng, thời gian, phương pháp giáo dục Tất cả có quan hệ thống nhất chặt chẽ với nhau và xoay quanh hạt nhân trung tâm là chữ nhân Trong thực
tế suốt hơn nửa thế kỷ dạy học Khổng Tử đã kiên trì thực hiện tư tưởng của mình và đã đào tạo được 3000 môn sinh, trong đó có 72 người nổi tiếng tài giỏi trong lịch sử Trung Hoa cổ đại Nói cách khác, hệ thống tư tưởng giáo dục của Khổng Tử đã được chính ông thể nghiệm một cách thành công trong thực tiễn dạy học của ông Nghĩa là nó không dừng lại ở giá trị lý luận mà mang tính khả thi và có giá trị thực tiễn
Nội dung tư tưởng giáo dục của Khổng Tử không chỉ có ý nghĩa trong thời đại của ông mà còn có ý nghĩa cho đến ngày nay Cũng như nhiều nhà nho chân chính khác, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc giáo dục con người