1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay

117 574 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tầm quan trọng và nội dung của việc giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay .... Đạo đức mới và tầm quan trọng của việ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀOTẠO VÀ BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

-*** -

ĐÀO THỊ NGA

LUẬN VĂN THẠC SỸ

ĐỀ TÀI Giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội trong xu thế hội nhập quốc tế

hiện nay Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 602280

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THẾ KIỆT

Hà Nội - 2012

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 11

6 Dự kiến đóng góp mới và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 11

7 Kết cấu của luận văn 12

Chương 1 Tầm quan trọng và nội dung của việc giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay 12

1.1 Đạo đức mới và tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay 13

Chương 2 Giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trường cao đẳng nghề ở Hà Nội trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay - thực trạng, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra 60

2.1 Thực trạng giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay và nguyên nhân của nó 60

2.2 Một số vấn đề đặt ra đối với việc giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay 76 Chương 3 Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay 81

3.1 Phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay 81

3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay 91

Kết luận 108

Trang 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT PTA: Thỏa thuận thương mại ưu đãi

Trang 4

FTA: Khu vực mậu dịch tự do

EFTA : Khu vực mậu dịch tự do Bắc Âu

NAFTA: Khu vực mậu dịch tự do bắc Mỹ

AFTA : Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN

CU : Liên minh thuế quan

ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

EU: Liên minh châu Âu

NATO: Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương

CENTO: Tổ chức Hiệp ước Trung tâm

SEATO: Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á

ANZUS: Hiệp ước Liên minh Úc-Niudilân-Mỹ

OAS: Tổ chức thống nhất châu Mỹ

AU: Tổ chức Thống nhất châu phi

PMC: Hội nghị sau Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao

ADMM: Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN

ADMM+: Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN mở rộng EAS: Hội nghị cấp cao Đông Á

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đạo đức là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, của ý thức xã hội, một mặt bị quy định bởi cở sở hạ tầng, tồn tại xã hội; mặt khác nó cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng, tồn tại xã hội Khi cơ sở

hạ tầng thay đổi, nền tảng kinh tế thay đổi, đạo đức xã hội cũng phải thay đổi theo cho phù hợp và tác động tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế Xu thế hội nhập quốc tế đã và đang tác động mạnh mẽ đến đạo đức xã hội và ngược lại, để phát triển nền kinh tế thị trường rất cần xây dựng củng cố, phát triển những chuẩn mực đạo đức truyền thống trên cơ sở mới và bổ sung những chuẩn mực đạo đức phù hợp

Trong quá trình xây dựng nền văn hoá mới, vấn đề hình thành hệ giá trị

và chuẩn mực xã hội mới phù hợp với truyền thống, bản sắc dân tộc và yêu cầu của thời đại là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định Giải quyết vấn đề này trong lĩnh vực đạo đức chính là làm hình thành hệ giá trị và chuẩn mực đạo đức mới phù hợp với truyền thống và yêu cầu của thời đại

Trong các nhà trường nước ta hiện nay luôn coi trọng và quán triệt sâu sắc, toàn diện việc giáo dục tố chất, lấy giáo dục con người làm gốc, giáo dục đạo đức là ưu tiên, coi sự nghiệp “trồng người” là nhiệm vụ cơ bản của giáo dục Chúng ta phải nỗ lực bồi dưỡng con người phát triển toàn diện đức – trí – thể – mỹ với phương châm dạy chữ, dạy nghề, dạy làm người

Nghị quyết của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục đã chỉ rõ: Giáo dục thế

hệ trẻ yêu quê hương, Tổ quốc XHCN và tinh thần quốc tế vô sản, ý thức làm chủ tập thể, tinh thần đoàn kết, thân ái, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, có ý thức kỷ luật, tôn trọng và bảo vệ của công, đức tính thật thà, khiêm tốn, dũng cảm…

Trang 6

Trong những năm qua, xu thế hội nhập đã và đang tạo ra những sự chuyển biến sâu sắc đối với mọi mặt của đời sống xã hội ở nước ta Việc đi vào kinh tế thị trường, mở rộng hội nhập quốc tế, chúng ta có nhiều thành tựu to lớn rất đáng tự hào về phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục Bên cạnh sự phồn vinh về kinh tế thì về mặt xã hội, trong đó có đạo đức đang nảy sinh ngày càng nhiều những vấn đề, những tình huống phức tạp, nhức nhối, những mất mát giá trị truyền thống, những lệch lạc trong định hướng giá trị và lối sống trong nhiều tấng lớp xã hội, trong đó có thanh niên, sinh viên Một bộ phận sinh viên suy thoái về đạo đức, lối sống, thiếu ước mơ và hoài bão, lập thân, lập nghiệp Trong thi cử, hiện tượng quay cóp, gian lận đang có xu hướng gia tăng,

ý thức tổ chức kỷ luật kém, tinh thần trách nhiệm, ý thức cộng đồng thấp Thêm vào đó, sự du nhập văn hoá phẩm đồi truỵ phản nhân văn thông qua các phương tiện như phim ảnh, games, mạng Internet… làm ảnh hưởng đến những quan điểm về tình bạn, tình yêu, ảnh hưởng đến đạo đức trong lứa tuổi thanh thiếu niên và học sinh hiện nay Đây là tình huống có vấn đề, là nỗi lo chung của toàn

xã hội Thực tế đó cho thấy, việc giáo dục đạo đức mới trong xã hội ta, nhất là đối với thanh niên, sinh viên là nhiệm vụ hết sức cần thiết và cấp bách Ở đây, nhấn mạnh đến việc giáo dục đạo đức mới cho sinh viên không chỉ xuất phát từ tình huống suy thoái đạo đức hiện nay, cần phải cứu chữa mà quan trọng hơn còn vì định hướng phát triển lâu dài trong tương lai với tầm nhìn và hành động chiến lược Bởi vì, sinh viên là tầng lớp xã hội đặc thù, là bộ phận ưu tú, là nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai của đất nước Việc xây dựng đội ngũ trí thức tương lai đủ đức đủ tài đáp ứng sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc có tầm quan trọng đặc biệt Sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội cũng nằm trong vấn đề chung đó

Mặt khác, ở các trường cao đẳng nghề, việc đào tạo ra những kỹ sư thực hành có tay nghề thành thạo, có khả năng làm việc, không phải qua đào tạo lại được chú trọng nhiều hơn Việc giáo dục đạo đức chưa được chú ý đúng mức ở một số nơi trong các trường cao đẳng nghề Do vậy, giáo dục đạo đức trong các

Trang 7

trường cao đẳng nghề cần phải được chú ý nhiều hơn để đào tạo người kỹ sư thực hành có tay nghề thành thạo, có đạo đức tốt, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới

Xuất phát từ những lý do khách quan, chủ quan như đã phân tích, tôi chọn đề tài: “Giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường cao đẳng nghề

ở Hà Nội trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ triết học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong thời gian qua đã có nhiều công trình khoa học về vấn đề đạo đức mới và giáo dục đạo đức mới từ nhiều góc độ khác nhau Đó là:

+ Quan điểm về đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường của các nhà lý

luận Việt Nam được trình bày trong quyển sách "Mấy vấn đề đạo đức trong

điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay" do Nguyễn Trọng Chuẩn và

Nguyễn Văn Phúc (đồng chủ biên) (Nxb Chính trị quốc gia, 2003) Các tác giả

đã phân tích những vấn đề xung quanh một số vấn đề lý luận, thực trạng và những phương hướng, giải pháp để xây dựng đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay khá sâu sắc nhưng chưa hệ thống vì đây là tập hợp những bài viết riêng lẻ của nhiều tác giả với những quan niệm khác nhau

+ Cuốn “Giáo dục đạo đức mới cho cán bộ, đảng viên trong thời kỳ đẩy

mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của Ban Tư tưởng – Văn hóa

Trung ương (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004) đã đề cập một cách có hệ thống nội dung lý luận cũng như thực tiễn đạo đức xã hội của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời đã khái quát một cách cô đọng những chuẩn mực, truyền thống giá trị đạo đức của dân tộc ta, những nguyên tắc phương hướng và giải pháp xây dựng đạo đức mới cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm thực hiện thắng lợi đường lối cách mạng Việt Nam

+ Quyển sách “Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay - Vấn đề và giải pháp”

do Nguyễn Duy Quý chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, 2006) tìm hiểu vấn đề đạo đức xã hội dưới tác động, ảnh hưởng của kinh tế, chính trị của nước ta hiện

Trang 8

nay và phân tích đạo đức của từng nhóm đối tượng, hoàn cảnh cụ thể đạo đức của cán bộ, đảng viên và công chức, đạo đức của sinh viên, đạo đức trong lao động, giao tiếp, đạo đức trong gia đình

+ Quyển sách “Xây dựng đạo đức mới trong nền kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa” của Trịnh Duy Huy (Nxb.Chính trị quốc gia, 2009),có

nội dung khá đầy đủ và hệ thống về lý luận, về thực trạng và một số phương hướng, giải pháp để xây dựng đạo đức mới trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay Tác giả cho rằng xây dựng và phát triển đạo đức mới phải dựa trên cơ sở kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam và chỉ ra những chuẩn mực cơ bản của đạo đức mới đang được xây dựng ở nước ta bao gồm: chủ nghĩa yêu nước và tinh thần quốc tế trong sáng; tinh thần tập thể,

ý thức cộng đồng; tinh thần lao động tự giác, sáng tạo; tinh thần nhân đạo và một số giá trị khác như: bình đẳng, công lý, nhân quyền, yêu thiên nhiên, sự lương thiện, thận trọng, tự giác, tự trọng

+ Cuốn “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với việc nâng cao đạo đức cách

mạng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay” – sách chuyên khảo

của PGS, TS Nguyễn Thế Kiệt (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011) đã làm sáng tỏ bản chất và nội dung đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh, phân tích thực trạng và đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay

Ngoài ra có rất nhiều luận văn, luận án nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức cho sinh viên và thế hệ trẻ ở Việt Nam hiện nay Đó là:

+ Đề tài “Quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong giáo

dục đạo đức cho sinh viên Việt Nam hiện nay” của Lê Thị Hoài Thanh (Luận án

tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003) Đề tài phân tích quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong giáo dục đạo đức cho sinh viên Trên cơ sở đó, đề tài nêu một số giải pháp cụ thể: Kết hợp giáo dục truyền thống và hiện đại trong gia đình, nhà trường và xã hội, tạo môi trường giáo dục lành mạnh và thống nhất; kết hợp giáo dục đạo đức với giáo

Trang 9

dục pháp luật, tạo môi trường pháp lý cho việc kết hợp truyền thống và hiện đại trong giáo dục đạo đức; kết hợp các phương pháp giáo dục truyền thống với các phương pháp giáo dục hiện đại, đổi mới hình thức và phương pháp giáo dục

+ Đề tài“Đạo đức của sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường hiện

nay ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp” của Vũ Thanh Hương (Luận văn

thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004) Qua khảo sát một số trường đại học và cao đẳng ở Hà Nội, đề tài phân tích thực trạng đạo đức sinh viên trong điều kiện hiện nay và nêu ra một số giải pháp nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức cho sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay như: Tạo lập môi trường kinh tế - xã hội lành mạnh, nâng cao ý thức tự giáo dục đạo đức của sinh viên, đổi mới nội dung và hình thức giáo dục đạo đức cho sinh viên

+ “Vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Việt Nam hiện nay (qua thực tế một số trường cao đẳng, đại học ở Hà Nội)”, Luận văn

thạc sĩ của Doãn Thị Chín (2004)

+ “Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho học sinh – sinh viên các trường Trung cấp, Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật khu vực đồng bằng sông Hồng hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Loan (2010)

Một số bài viết trên tạp chí về vấn đề này:

+ “Quan hệ giữa đạo đức và kinh tế trong việc định hướng các giá trị

đạo đức hiện nay” của PGS, TS Nguyễn Thế Kiệt, Tạp chí Triết học, số 6,

1996

+ “Vấn đề toàn cầu hóa và thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay” của Đặng Cảnh

Khanh, Tạp chí Cộng Sản, số 7, 2000

+ “Kinh tế thị trường đinh hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay và

những biến đổi trong lĩnh vực đạo đức” của Nguyễn Trọng Chuẩn, Tạp chí

Triết học, 2001

Trang 10

+ “Kết hợp chặt chẽ giáo dục lý luận với xây dựng đạo đức mới của

người cán bộ quản lý” của Nguyễn Ngọc Long, Tạp chí lý luận chính trị, số 4,

2001

+ “Từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí

Minh” của PGS, TS Nguyễn Hùng Hậu, Tạp chí Triết học, số 9, 2005

+ “Đạo đức mới – đạo đức cách mạng từ các cách tiếp cận khác nhau”

của Trịnh Duy Huy, Tạp chí Triết học, số 1, 2006

+ “Về tính quy luật của sự hình thành hệ giá trị và chuẩn mực đạo đức

mới” của Nguyễn Văn Phúc, Tạp chí Triết học, số 3, 2007

+ “Giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống cho sinh viên” của Ngô Văn

Thạo, Tạp chí Lý luận chính trị, Số 1, 2010

Như vậy, vấn đề đạo đức, đạo đức mới và giáo dục đạo đức mới là vấn đề rất được xã hội quan tâm Sinh viên các trường cao đẳng nghề là đối tượng có những nét đặc thù riêng Vì thế, việc giáo dục đạo đức mới cho đội ngũ này cần tiếp tục tìm hiểu, lý giải khoa học thêm để có được phương hướng và những giải pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức hiện nay trong các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội là vấn đề cấp bách Những công trình trên là nguồn tài liệu quý giá để chúng tôi kế thừa và tiếp tục đi sâu nghiên cứu về vấn đề “Giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Phân tích tầm quan trọng, thực trạng, nguyên nhân của giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Thành phố Hà Nội trong thời gian qua, từ đó, đưa ra phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức mới cho đối tượng này trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 11

- Phân tích nội dung và tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội trong xu thế hội nhập quốc tế

ở Việt Nam hiện nay

- Phân tích thực trạng, nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra đối với việc giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội trong

xu thế hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay

- Đưa ra phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội trong xu thế hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đạo đức mới và tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức mới trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay

- Giáo dục đạo đức mới và hiệu quả của nó đối với sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội trong xu thế hội nhập quốc tế ở Việt Nam

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời đề tài sử dụng các phương pháp phân tích – tổng hợp, lịch sử - logic, so sánh, điều tra xã hội học và thống kê toán học

6 Dự kiến đóng góp mới và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Trang 12

6.1 Dự kiến đóng góp mới của đề tài

Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội trong xu thế hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay, từ đó, đưa ra phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của nó

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Dùng làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu khoa học, ứng dụng vào công tác giảng dạy và giáo dục đạo đức trong các trường cao đẳng nghề cũng như các trường cao đẳng khác trên cả nước đặc biệt là ở khu vực Hà Nội

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài bao gồm 3 chương, 7 tiết

Chương 1 Tầm quan trọng và nội dung của việc giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay

Trang 13

1.1 Đạo đức mới và tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay

1.1.1 Đạo đức, đạo đức mới và giáo dục đạo đức mới

1.1.1.1 Khái niệm đạo đức

Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, xuất hiện sớm trong lịch sử loài người và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển, tiến

bộ của xã hội Cho đến nay, bàn về đạo đức có nhiều hệ thống lý thuyết tiêu biểu, tiếp cận đạo đức theo các khuynh hướng khác nhau

Ở phương Đông, theo quan niệm của người Trung Quốc cổ đại, đạo có nghĩa là con đường, đường đi, là đường sống của con người trong xã hội Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý Theo đó, đạo đức chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà con người phải tuân theo Ở phương

Tây, danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mos, moris, nghĩa là phong

tục, tập quán Như vậy, theo phần gốc của khái niệm khi nói đến đạo đức là nói đến những thói quen, tập quán hoạt động và ứng xử của con người trong cộng đồng, trong xã hội

Trong các học thuyết của Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo đều lấy đạo đức làm cơ sở trong đối nhân xử thế và đề xuất các quy tắc, các chuẩn mực, những ràng buộc trong các hoạt động sống của con người Tư tưởng đạo đức Nho giáo chủ yếu thể hiện trong quan điểm về “tu thân” và những nguyên tắc đạo đức cơ bản như: “tam cương” “ngũ thường”,“tam tòng”, “tứ đức” Đó là những quy tắc ứng xử với nhau trong quan hệ xã hội giữa vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh -

em, bạn bè Tư tưởng đạo đức của Đạo giáo nêu những chuẩn mực đạo đức của

cá nhân như “vô kỷ”, “vô công”, “vô danh”, “bất tranh”, “dĩ đức báo oán” Những chuẩn mực này đòi hỏi con người gạt bỏ dục vọng của bản thân mình, không cậy công, kể công, không ham danh vọng, ứng xử uyển chuyển Trong đạo đức Phật giáo, nội dung cơ bản là những yêu cầu đạo trong các mối quan hệ

Trang 14

cơ bản của xã hội là quan hệ giữa con cái đối với cha mẹ, quan hệ thầy - trò, vợ

- chồng, bạn bè, quan hệ với bề trên, quan hệ với bề dưới, quan hệ nô bộc với chủ Những chuẩn mực được nêu rất cụ thể nhưng nhìn chung khuyên con người trong bất cứ mối quan hệ nào cũng phải thể hiện tình yêu thương, kính trọng nhau, chăm sóc giúp đỡ nhau, làm tròn bổn phận của mình Những trường phái tư tưởng đạo đức này có những hạn chế nhất định như không thể lý giải được nguồn gốc, bản chất, những quy luật hình thành, phát sinh, phát triển của đạo đức và mang tính thoát tục, xa rời hiện thực; nhưng nhìn chung, đó là những tư tưởng có giá trị lịch sử to lớn, có ảnh hưởng tích cực giúp con người xây dựng xã hội ngày càng tốt đẹp hơn

Tư tưởng đạo đức phương Tây thể hiện trong tư tưởng của các nhà triết học, đạo đức học từ thời cổ đại đến hiện đại với nhiều quan điểm khác nhau mang hơi thở cuộc sống giúp con người ngày càng hiểu rõ hơn nguồn gốc, bản chất và những yêu cầu của đạo đức Trong thời kỳ cổ đại, tư tưởng đạo đức nổi bật nhất là quan điểm của Socrate và Aristote Theo Socrate, cái thiện phổ biến (cái chung) là cơ sở của đạo đức, là tiêu chuẩn của đức hạnh Muốn tuân theo cái thiện phổ biến thì phải nắm bắt được nó, hiểu nó Ông cho rằng đạo đức và tri thức của con người thống nhất là một Aristote là người đầu tiên tiếp cận tới bản chất của đạo đức Ông quan niệm đức tính của con người là hoạt động thực tiễn có ích cho xã hội của chính bản thân con người do rèn luyện mà có chứ không phải là bẩm sinh Tư tưởng Tây Âu trung cổ chủ yếu là đạo đức Cơ Đốc giáo và Thiên Chúa giáo Tư tưởng này tuyên bố rằng mọi người đều bình đẳng

và bác ái là nguyên tắc chủ yếu của đạo đức Tuy nhiên, sự bình đẳng đó chỉ là

sự bình đẳng trước Chúa không phải là trong hiện thực Để chống đạo đức khổ hạnh của Thiên Chúa giáo Tây Âu trung cổ, khôi phục và phát triển những tư tưởng đạo đức nhân đạo và tiến bộ trong thời cổ đại, tư tưởng đạo đức học Tây

Âu thời kỳ từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII với những nhà tư tưởng như Rabelais, Spinoza, Hegel, Feuerbach,… đã bàn về đạo đức trần thế chống lại đạo đức thần học; bàn về mối quan hệ tự do và tất yếu, tự do và hạnh phúc;

Trang 15

hạnh phúc của mỗi cá nhân chỉ có thể đạt được bằng con đường kết hợp lợi ích

cá nhân với lợi ích xã hội,… Họ cho rằng con người không phải sinh ra là đã có đạo đức mà đạo đức nảy sinh từ tác động của môi trường xã hội, trước hết là chính trị và pháp luật Tuy nhiên, những tư tưởng này vẫn chứa đựng những sai lầm, mâu thuẫn do quan điểm duy tâm về xã hội của các nhà tư tưởng thời kỳ này

Khắc phục những sai lầm và mâu thuẫn đó C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã nghiên cứu vấn đề nguốn gốc, bản chất, vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội, vạch ra mối quan hệ giữa đạo đức và cơ sở kinh tế của nó, phân tích những quan hệ đạo đức trong xã hội tư bản chủ nghĩa, sự tha hóa con người trong xã hội đó và chủ trương xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa làm nền tảng hình thành và phát triển đạo đức cao đẹp - đạo đức cộng sản V.I.Lênin đã nêu giá trị đạo đức được xác định ở chỗ nó phục vụ cho tiến bộ xã hội vì hạnh phúc của con người.: "Đạo đức giúp cho xã hội loài người tiến lên trình độ cao hơn, thoát khỏi ách bóc lột lao động" [58, 356]

Nhà nghiên cứu đạo đức học nổi tiếng người Nga là G.Bandzeladze, trên lập trường duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin đã nêu quan niệm:

"Đạo đức là hệ thống những chuẩn mực biểu hiện sự quan tâm tự nguyện, tự giác của con người trong quan hệ với nhau và trong quan hệ với xã hội nói chung" [6,104]

Như vậy, theo quan điểm mácxít, đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, một chế định xã hội, nó phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực đời sống Đạo đức là sản phẩm của những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, của cơ sở kinh tế

Đạo đức có một số chức năng cơ bản sau:

Một là, chức năng điều chỉnh hành vi Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi Sự điều chỉnh hành vi làm cá nhân và xã hội cùng tồn tại và phát triển, bảo đảm quan hệ lợi ích cá nhân và cộng đồng Loài người sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi, trong đó có chính trị, pháp quyền và đạo

Trang 16

đức… Đạo đức có phương thức điều chỉnh là bằng dư luận xã hội và lương tâm Những chuẩn mực đạo đức bao gồm cả chuẩn mực ngăn cấm và cả chuẩn mực khuyến khích Mục đích điều chỉnh của đạo đức là bảo đảm sự tồn tại và phát triển xã hội bằng tạo nên quan hệ lợi ích cộng đồng và cá nhân theo nguyên tắc hài hòa lợi ích cộng đồng và cá nhân Đối tượng điều chỉnh của đạo đức là hành

vi cá nhân (trực tiếp) qua đó điều chỉnh quan hệ cá nhân với cộng đồng (gián tiếp) và cách thức điều chỉnh được biểu hiện thành sự lựa chọn giá trị đạo đức; xác định chương trình của hành vi bởi lý tưởng đạo đức; xác định phương án cho hành vi bởi chuẩn mực đạo đức; tạo nên động cơ của hành vi bởi niềm tin,

lý tưởng, tình cảm của đạo đức, kiểm soát uốn nắn hành vi bởi dư luận xã hội

Hai là, chức năng giáo dục Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời

là chủ thể của lịch sử Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy Con người sinh ra bắt gặp hệ thống đạo đức của xã hội Xã hội có giai cấp hình thành và tồn tại nhiều hệ thống đạo đức mà các cá nhân chịu sự tác động Ở đây, môi trường đạo đức tác động đến đạo đức

cá nhân bằng nhận thức đạo đức và thực tiễn đạo đức Nhận thức đạo đức để chuyển hoá đạo đức xã hội thành ý thức đạo đức cá nhân Thực tiễn đạo đức là hiện thực hoá nội dung giáo dục bằng hành vi đạo đức Các hành vi đạo đức lặp

đi lặp lại trong đời sống xã hội và cá nhân làm cả đạo đức cá nhân và xã hội được củng cố, phát triển thành thói quen, truyền thống, tập quán đạo đức Hiệu quả giáo dục đạo đức phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, cách thức tổ chức, giáo dục mức độ tự giác của chủ thể và đối tượng giáo dục trong quá trình giáo dục Như vậy, chức năng giáo dục của đạo đức cần được hiểu một mặt

“giáo dục lẫn nhau trong cộng đồng”, giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân và cộng đồng; mặt khác, là sự “ tự giáo dục” ở các cấp độ cá nhân lẫn cấp độ cá nhân lẫn cấp độ cộng đồng

Ba là, chức năng nhận thức Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức có chức năng nhận thức thông qua sự phản ánh tồn tại xã hội Sự phản ánh của đạo đức với hiện thực có đặc điểm riêng khác với các hình thái ý thức

Trang 17

khác Đạo đức là phương thức đặc biệt của sự chiếm lĩnh thế giới con người Sự nhận thức của đạo đức có đặc điểm: Hành động đạo đức tiếp liền sau nhận thức giá trị đạo đức Và đa số trường hợp có sự hòa quyện ý thức đạo đức với hành động đạo đức Nhận thức của đạo đức là quá trình vừa hướng ngoại (hướng ra ngoài) và hướng nội (tự nhận thức – hướng vào chính mình, chính chủ thể) Nhận thức đạo đức ở hai trình độ: trình độ thông thường và trình độ lý luận Nhận thức đạo đức ở trình độ thông thường là ý thức thông thường, những giá trị riêng lẻ Nó đáp ứng nhu cầu đạo đức thông thường đủ để chủ thể xử lý kịp thời trong cuộc sống và sự phát triển bình thường của xã hội Mọi cá nhân đều

có thể và cần phải ảnh ánh đạo đức ở trình độ này Nhận thức đạo đức ở trình độ

lý luận là những nhận thức có tính nguyên tắc được chỉ đạo bởi những giá trị đạo đức có tính tổng quát Trình độ này đáng ứng những đòi hỏi của sự phát triển đạo đức và tiến bộ xã hội Đây là yếu tố không thể thiếu được trong hệ tư tưởng và hành vi của các giai cấp cầm quyền Nhận thức đạo đức đưa lại tri thức đạo đức, ý thức đạo đức Cá nhân hiểu và tin ở các chuẩn mực, lý tưởng giá trị đạo đức xã hội trở thành cơ sở để cá nhân điều chỉnh hành vi

Từ sự phân tích trên chúng ta có thể hiểu đạo đức ở mức độ khái quát nhất là: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện với niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [47; tr.8]

1.1.1.2 Khái niệm đạo đức mới

Đạo đức là hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những nguyên tắc, qui định, chuẩn mực nhằm định hướng con người tới cái chân, cái thiện, cái mỹ, chống lại cái giả, cái ác, cái xấu…Đạo đức nảy sinh do nhu cầu đời sống xã hội,

là sản phẩm của lịch sử xã hội, do cơ sở kinh tế - xã hội quyết định

Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, mọi người cùng nhau hái quả, đánh bắt cá, làm nhà, kỷ luật và quy tắc lao động được duy trì bằng sức mạnh của phong tục, tập quán, của dư luận xã hội, bằng uy tín và sự tôn kính đối với

Trang 18

người đứng đầu thị tộc Gắn liền với đời sống tinh thần là tôn giáo nguyên thủy, được sinh ra từ những hiểu biết hết sức mông muội, tối tăm và nguyên thủy của con người về bản thân họ và về tự nhiên bao quanh họ Tôn giáo nguyên thủy can thiệp vào toàn bộ hoạt động của công xã thị tộc và trở thành yếu tố cấu thành hoạt động thực tiễn và ý thức của người nguyên thủy Trong những điều kiện đó, các dấu hiệu đạo đức xuất hiện.Ví dụ: các qui định trong săn bắn (do kinh nghiệm đã tích lũy được) không những có ý nghĩa đối với nhu cầu sinh sống, còn đối với các yêu cầu tương trợ, đoàn kết cộng đồng cũng như việc giữ gìn tình ruột thịt trong thị tộc Như vậy, đạo đức ra đời rất sớm, xuất phát từ chính các hoạt động chung của thị tộc với những chế độ tự nhiên của chúng

Sự xuất hiện của giai cấp dẫn tới sự tan vỡ của ý thức đạo đức thống nhất trong nội bộ cộng đồng xã hội Nhưng so với chế độ công xã nguyên thủy, thì

xã hội chiếm hữu nô lệ tiến hơn một bậc Phù hợp với sức sản xuất tiến bộ hơn của chế độ chiếm hữu nô lệ là quan hệ sản xuất mới, mà cơ sở là chủ nô chiếm hữu tư liệu sản xuất và người nô lệ Loài người đã bắt đầu hình thành một nền đạo đức mang bản chất giai cấp Đó là đạo đức của nô lệ và đạo đức của chủ nô, hai nền đạo đức này đối lập với nhau về cơ bản tạo thành hai mặt của một mâu thuẫn lớn nhất, tập trung nhất đầu tiên trong văn hóa tinh thần nhân loại

Chế độ phong kiến dựa trên cơ sở sở hữu ruộng đất lớn Khác với nô lệ, người nông dân có công cụ sản xuất riêng và có nền kinh tế riêng dựa vào lao động cá nhân và đem lại cho họ những điều kiện sinh sống cần thiết Bọn địa chủ vẫn có quyền điều nông dân ra khỏi lãnh địa của mình, nhưng không có quyền giết họ Đó là một bước tiến của đạo đức xã hội Ở đây, tồn tại nhiều kiểu đạo đạo đức, có cả đạo đức của chính giai cấp phong kiến lại có đạo đức của giai cấp nông dân và nhân dân lao động Đạo đức thống trị trong xã hội phong kiến trước hết là đạo đức của giai cấp phong kiến Yêu cầu chung của đạo đức thống trị là bầy tôi phải trung với vua, chư hầu phải trung với thiên tử, nông dân phải trung với địa chủ

Trang 19

Sự thay thế quan hệ sản xuất phong kiến bằng quan hệ sản xuất tư bản dẫn đến biến đổi cả hệ thống đạo đức xã hội Chế độ tư bản là một bước tiến của

xã hội, vì nó đập tan xiềng xích của chế độ nông nô, xóa bỏ tình trạng cát cứ của phong kiến, mở ra thị trường trong nước và thế giới, phát triển sản xuất, thúc đẩy khoa học kỹ thuật tiến lên Chủ nghĩa cá nhân tư sản là nguyên tắc cơ bản của đạo đức tư sản Quan hệ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đã kích thích các nhà tư bản làm giàu và đã định hướng trong ý thức và hành vi đạo đức của họ

Họ coi việc làm giàu với mọi cách và mọi giá là hoạt động chính, là mục đích cao nhất của cuộc sống Sự hoạt động tích cực của nền kinh tế công nghiệp có tác động mạnh mẽ đến tính cách cá nhân con người Lênin nhận xét, trong thời

kỳ thiết lập tư bản chủ nghĩa, con người được giải phóng và phát triển, đó là một tiến bộ vĩ đại Nhưng sự bình đẳng ở đây chỉ là sự bình đẳng hình thức chứ không phải là bình đẳng trong thực tế cuộc sống xã hội Nhà tư bản bóc lột người công nhân trên cơ sở bóc lột giá trị thặng dư bằng nhiều thủ đoạn khác nhau Đó là lý do dẫn đến tình trạng biệt lập nhân cách, một trạng thái tâm lý lạnh lẽo, xa lánh nhau, thậm chí trở nên thù ghét nhau Trái lại, xã hội tư bản đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh, cùng nền sản xuất nhỏ phân tán được xã hội hóa ngày càng cao, phân công lao động phát triển, năng suất lao động có hiệu quả rõ rệt Ngoài những mặt tích cực đó, giai cấp tư sản đã để lại cho xã hội không ít những hậu quả tiêu cực: vấn đề công lý và nền đạo đức trong xã hội không được đảm bảo bình thường, con người trở nên ích kỷ, đạo lý trong xã hội ngày càng suy giảm

Đạo đức trong xã hội tư bản bao gồm nhiều kiểu đạo đức khác nhau Đạo đức của giai cấp tư sản, đạo đức của giai cấp công nhân, đạo đức của những lực lượng xã hội khác Các kiểu đạo đức này thường xâm nhập vào nhau, đan xen

và không ngừng đấu tranh với nhau, tạo nên con đường phát triển xã hội trên cơ

sở khẳng định mặt tích cực, tiến bộ, triệt tiêu mặt lạc hậu, mở rộng khả năng phát triển đạo đức trong tương lai của một xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa Khi chủ nghĩa xã hội đã thắng lợi và các giai cấp bóc lột trong xã hội đã bị tiêu

Trang 20

diệt, thì đạo đức cộng sản cũng được toàn dân thừa nhận, nó trở thành đạo đức thống trị Đạo đức cộng sản là giai đoạn cao nhất trên con đường tiến lên của đạo đức loài người So với đạo đức tiên tiến trước đây, đạo đức cộng sản là một thứ chất mới Nó biểu hiện những đặc điểm mới vì bộ mặt tinh thần của những con người đã tiêu diệt thế giới bóc lột và đã lập nên chủ nghĩa cộng sản

Sự hình thành đạo đức mới trên cơ sở của đạo đức vô sản gắn liền với cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản và do đó giải phóng nhân loại ra khỏi áp bức, bóc lột, bất công Đây là cuộc cách mạng mà giai cấp bóc lột về cơ bản bị xóa bỏ, người dân lao động từng bước được giải phóng về mặt kinh tế, chính trị và xã hội Cùng với thắng lợi của cách mạng vô sản và thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội, đạo đức mới được hình thành và phát triển trên mặt đất hiện thực Theo Lênin: “Đạo đức mới, đó là những gì góp phần phá hủy xã hội

cũ của bọn áp bức bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động xung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới” [60;tr.369]

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và lý luận đạo đức Mác - Lênin nói riêng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh

đã để lại cho chúng ta một di sản tinh thần vô cùng quý giá, trong đó có tư tưởng đạo đức của Người Hồ Chí Minh coi đạo đức mới, đạo đức cách mạng là

“gốc”, là “nền tảng” của người cách mạng: “cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[76; tr.252, 253]

Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức cách mạng: “Không phải là đạo đức thủ cựu Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của các cá nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc và loài người” [76; tr.252] Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là sự kế thừa đạo đức của dân tộc và đạo đức nhân loại Người đã thể hiện một thái độ cách mạng khoa học đối với các hệ thống đạo đức cũ Trên cơ sở nắm vững phép biện chứng duy vật và thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người đã biết “gạn đục khơi trong” kế thừa những yếu tố

Trang 21

tích cực, hợp lý của các hệ thống đạo đức trước góp phần hình thành nên lý luận

về đạo đức mới ở Việt Nam Đó là đạo đức chiến đấu vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, vì sự tiến bộ của nhân loại, vì tự do, hạnh phúc của mỗi người Mục đích cuối cùng của nó là góp phần giải phóng triệt để con người, trước hết là giai cấp công nhân và nhân dân lao động thoát khỏi mọi áp bức, bất công trong xã hội

Nội dung đạo đức mới được thể hiện ở: Chủ nghĩa tập thể, lao động cần

cù, sáng tạo, ý thức học tập, rèn luyện vươn lên, chủ nghĩa yêu nước kết hợp với chủ nghĩa quốc tế và chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa Từ những nội dung

cơ bản đó, tùy thuộc vào yêu cầu cơ bản của mỗi giai đoạn khác nhau của cách mạng, Đảng ta luôn bổ sung và phát triển, cụ thể hóa nội dung đạo đức mới

Qua sự phân tích trên, chúng ta có thể nói: “Đạo đức mới là đạo đức của giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiến bộ, phản ánh thực tiễn cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, là tổng hòa các giá trị và chuẩn mực tạo nền tảng nhân cách của con người mới, nó vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng cải tạo xã hội cũ, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội” [47; tr.60]

1.1.1.3 Giáo dục đạo đức mới

Giáo dục là một hiện tượng xã hội, là hoạt động có mục đích, có kế hoạch nhằm tác động đến sự phát triển tinh thần và thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đã đặt ra Giáo dục là một quá trình có tính hai mặt, một mặt nào đó là sự tác động từ chủ thể giáo dục vào đối tượng giáo dục; mặt khác, thông qua sự tác động đó mà con người tự giáo dục ngay chính bản thân mình Không có giáo dục thì không thể bảo tồn và phát triển được những giá trị chung của loài người, như các giá trị kinh tế, chính trị, tư tưởng, đạo đức và do đó không thể sáng tạo

ra được những giá trị mới Trong quá trình tồn tại và phát triển của con người,

có nhiều giá trị trong đó có các giá trị đạo đức được hình thành chủ yếu thông qua con đường giáo dục

Trang 22

Giáo dục đạo đức là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức có

kế hoạch nhằm biến những nhu cầu, chuẩn mực, giá trị đạo đức theo yêu cầu của xã hội thành những phẩm chất, giá trị đạo đức của cá nhân nhằm góp phần phát triển nhân cách của mỗi cá nhân và thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của xã hội

Mục đích của giáo dục đạo đức là nhằm chuyển các quan niệm đạo đức từ trạng thái nhận thức tự phát sang tự giác, từ bị động sang chủ động, nâng cao trình độ nhận thức đạo đức, đưa đến cho đối tượng những tri thức đạo đức, và quan trọng hơn là xây dựng tình cảm đạo đức đúng đắn làm cơ sở cho niềm tin

và hành vi đạo đức đúng đắn

Giáo dục đạo đức mới là quá trình tác động từ bên ngoài tới ý thức cá nhân, là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ đích của chủ thể giáo dục nhằm cung cấp tri thức đạo đức, bồi dưỡng tình cảm đạo đức mới cho đối tượng giáo dục nhằm mục đích hình thành ở họ ý thức đạo đức, tình cảm đạo đức đúng đắn, hành vi đạo đức phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội, giúp cá nhân điều chỉnh những hành vi lệch chuẩn về đạo đức

Giáo dục đạo đức mới nhằm góp phần giữ gìn những giá trị đạo đức truyền thống, góp phần tạo ra những giá trị đạo đức mới, xây dựng những quan điểm, phẩm chất đạo đức mới, quan niệm sống tích cực cho mỗi đối tượng giáo dục Đồng thời, giáo dục đạo đức mới cũng góp phần tích cực vào việc khắc phục những quan niệm đạo đức lạc hậu, sự lệch chuẩn các giá trị nhân cách, chống lại các hiện tượng phi đạo đức, tạo ra cơ chế phòng ngừa các hiện tượng phản giá trị đạo đức, phản giá trị văn hóa trong mỗi nhân cách

Hiện nay, Việt Nam đang tiến hành công cuộc đổi mới thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Ở đây, con người được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển Cho nên, con người cần phải có những phẩm chất cần thiết cho xã hội hôm nay, những phẩm chất mà Chủ tịch

Hồ Chí Minh thường gọi là “đạo đức mới” hay “đạo đức cách mạng” Đảng ta xác định nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa mới, con người mới, trong đó có giáo

Trang 23

dục đạo đức mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng hiện nay Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ: “Coi trọng bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên khát vọng mãnh liệt xây dựng đất nước giàu mạnh, gắn liền lập nghiệp bản thân với tương lai của cộng đồng, của dân tộc, trau dồi cho học sinh, sinh viên bản lĩnh, phẩm chất và lối sống của thế hệ trẻ Việt Nam hiện đại” [33, tr.207]

1.1.2 Sinh viên trường cao đẳng nghề và tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức mới cho đối tượng này trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay

1.1.2.1 Sinh viên trường cao đẳng nghề và đặc điểm của nó

Sinh viên là tầng lớp xã hội đặc thù, là bộ phận ưu tú của thanh niên Việt Nam, nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai của đất nước Sinh viên Việt Nam là những công dân có độ tuổi từ 18 đến 30 đang học tập ở các bậc Đại học, Cao đẳng, đang chuẩn bị những nền tảng tri thức, kỹ năng cần thiết cho các hoạt động chuyên môn nghề nghiệp sau này Đảng và nhà nước ta luôn đánh giá cao vai trò, vị trí của thanh niên nói chung và sinh viên Việt Nam nói riêng:

“Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt gồm những người đang trong quá trình chuẩn bị tri thức để trở thành chuyên gia hoạt động lao động trong lĩnh vực nhất định thuộc các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội hoặc sinh viên

là những người đang học tập ở các trường Cao đẳng, Đại học trong và ngoài nước”[33;tr.13]

Sinh viên các trường cao đẳng nghề mang đầy đủ những nét đặc trưng chung của sinh viên Việt Nam như:

Thứ nhất, lứa tuổi sinh viên đang có sự hoàn thiện về mọi mặt tâm sinh

lý Về sinh lý, sinh viên là lứa tuổi sinh viên mà có sự phát triển hoàn thiện về thể chất Sự hoàn thiện về thể chất thể hiện ở sự cân đối giữa chiều cao và trọng lượng, sự hoàn hiện về hệ xương, hệ cơ, hệ tuần hoàn, hệ thần kinh, hệ sinh dục

Sự trưởng thành về thể chất của sinh viên cho phép họ có đủ sức khoẻ để tiến hành đồng thời nhiều hoạt động học tập, lao động, thể thao, vui chơi, giải trí và

Trang 24

các hoạt động xã hội khác một cách thoải mái Trong cuộc đời mỗi người, không có thời kỳ nào đạt được sức sống mạnh mẽ và cơ thể đẹp như ở độ tuổi này Về tâm lý, tuổi sinh viên được đặc trưng bởi tính phân hóa sâu của những phản ứng xúc cảm và những phương thức biểu hiện trạng thái cảm xúc, bởi sự nâng cao tính tự kiểm tra, tự điều chỉnh Tâm trạng sinh viên ổn định và có ý thức hơn nhiều so với các lứa tuổi khác và tương quan với phạm vi xã hội rộng lớn hơn nhiều

Thứ hai, nói đến sinh viên là phải nói đến một lứa tuổi với lòng nhiệt tình, hăng say và ý chí tiến thủ và muốn khẳng định bản thân Đó là lứa tuổi trong sáng, đầy hoài bão ước mơ, niềm tin và khát vọng hướng tới những giá trị xã hội tốt đẹp Vì vậy, sinh viên luôn là lớp người đi đầu trong sự nghiệp đổi mới đất nước, họ có thể phát huy trí tuệ tài năng và tích cực của mình nhằm phát triển nhanh kinh tế - xã hội, hướng tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Thứ ba, họ có thái độ nhạy cảm, dễ tiếp thu cái mới thông qua các hoạt động hướng ngoại và giao lưu rộng rãi trong điều kiện nước ta đang trong sự nghiệp đổi mới đất nước, mở cửa giao lưu hợp tác quốc tế Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, sinh viên tỏ rõ sự nhạy cảm năng động, chờ đón ủng hộ nhiệt thành để đi vào các lĩnh vực khoa học – công nghệ, kinh tế mới và đã mau chóng hội nhập với xu thế của thế giới

Thứ tư, sinh viên có hoài bão, ước mơ và niềm tin hướng tới tương lai Trong quá trình học tập ở các trường Đại học, Cao đẳng việc định hướng tương lai có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời sinh viên, nó là động lực thôi thúc suốt cuộc đời và mọi hành động của tuổi trẻ Họ sẵn sàng vượt qua mọi khó thử thách trong cuộc sống hàng ngày để thực hiện được ước mơ hoài bão của mình

vì ngày mai lập thân, lập nghiệp Đa số sinh viên nhận thức rõ được vai trò trách nhiệm của mình trong học tập, trong cuộc sống, cố gắng phấn đấu rèn luyện để trở thành một trí thức trẻ tương lai, có đầy đủ phẩm chất, năng lực và bản lĩnh

Trang 25

chính trị với trách nhiệm và nghĩa vụ của mình góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Bên cạnh đó, do đặc điểm lứa tuổi, sinh viên cũng còn một số hạn chế như:

- Nhạy cảm và dễ tiếp thu cái mới, cái lạ nên tầng lớp sinh viên thường thiếu cân nhắc, thiếu chọn lọc những trào lưu mang tính hiện đại từ bên ngoài vào Trong điều kiện công nghệ thông tin phát triển nhanh như hiện nay, có những luồng thông tin không phù hợp, lối sống thực dụng phương Tây tuyệt đối hóa đồng tiền đang tràn vào đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành đạo đức của sinh viên nước ta

- Vì còn thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống họ dễ bị kích động, thiếu tự chủ, bồng bột, nhẹ dạ, chủ quan Đặc điểm này khiến cho sinh viên dễ bị kẻ xấu lợi dụng lôi kéo vào các hoạt động thiếu lành mạnh ảnh hưởng xấu tới bản thân, gia đình và xã hội Sinh viên có những hạn chế này vì họ đang ở độ tuổi phát triển, đang định hình về nhân cách cho nên việc rèn luyện cho sinh viên khắc phục những mặt hạn chế, yếu kém và phát huy hơn nữa những mặt mạnh trong học tập và rèn luyện trong đó rèn luyện đạo đức là cần thiết

Bên cạnh những đặc điểm chung đó, sinh viên các trường cao đẳng nghề còn có những đặc trưng riêng biệt như:

- Đa số sinh viên các trường cao đẳng nghề có trình độ học vấn và nhận thức thấp hơn so với sinh viên các trường đại học và cao đẳng khác Bởi vì đối tượng tuyển sinh của các trường cao đẳng nghề là những học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông nhưng không có khả năng thi tuyển vào các trường cao đẳng đại học khác, là những học sinh có trình độ nhận thức và ý thức kém Một

số trường cao đẳng nghề còn tuyển sinh cả những sinh viên chưa có bẳng tốt nghiệp trung học phổ thông, khi vào trường sẽ được học bổ túc

- Chương trình đào tạo của chương trình cao đẳng nghề là một chương trình đào tạo chính quy dài hạn kéo dài trong 6 học kỳ (được phân bổ từ 2 đến 3 năm học - tùy theo sự thiết kế chương trình của từng trường) Khung chương

Trang 26

trình đào tạo được dành khoảng 65% thời gian cho các hoạt động thực hành, chính vì vậy sinh viên sẽ tích lũy được kinh nghiệm làm việc ngay từ trên ghế nhà trường Với chương trình đào tạo chính quy dài hạn 2 đến 3 năm nhận bằng cao đẳng nghề, sinh viên sẽ được kết hợp giữa việc học và thực hành các kỹ năng nghề nghiệp tại các doanh nghiệp theo mô hình đào tạo “Doanh nghiệp trong Nhà trường” Ngoài ra, đội ngũ giảng viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy thường có sự kết hợp giữa thầy cô giảng dạy chuyên nghiệp và thầy cô đang trực tiếp đảm nhận công tác quản lý tại các doanh nghiệp Tỷ trọng giảng viên giữa hai nhóm này là khoảng 50:50 - và tùy theo sự bố trí của từng trường Chính điều này đã giúp cho sinh viên có những trải nghiệm nghề nghiệp tốt nhất Tuy nhiên, đặc điểm này cũng dẫn đến việc sinh viên các trường cao đẳng nghề thường chú trọng đến chuyên ngành mà đôi khi xem nhẹ nội dung giáo dục đạo đức

- Chương trình đào tạo cao đẳng nghề không tổ chức thi tuyển mà chỉ có hình thức xét tuyển Đối tượng tham dự xét tuyển là có bằng tốt nghiệp Phổ thông trung học hoặc chưa hoàn thành chương trình Phổ thông trung học Điều này đã tạo ra nhiều cơ hội học tập và trang bị kiến thức kỹ năng làm việc cho lực lượng lao động trẻ của Việt nam Tốt nghiệp chương trình cao đẳng nghề, sinh viên hoàn toàn có thể tham dự các chương trình liên thông lên đại học theo chủ trương của Bộ giáo dục và đào tạo tùy theo quy định của từng trường

Từ những đặc trưng của sinh viên các trường cao đẳng nghề, chúng ta thấy việc giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường cao đẳng nghề là hết sức quan trọng

1.1.2.2 Hội nhập quốc tế và ảnh hưởng của nó đến việc giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trường cao đẳng nghề ở Hà Nội hiện nay

Thuật ngữ “hội nhập quốc” tế trong tiếng Việt có nguồn gốc dịch từ tiếng nước ngoài (tiếng Anh là “international integration”, tiếng Pháp là “intergration internationale”) Đây là một khái niệm được sử dụng chủ yếu trong các lĩnh vực chính trị học quốc tế và kinh tế quốc tế, ra đời từ khoảng giữa thế kỷ trước ở

Trang 27

châu Âu, trong bối cảnh những người theo trường phái thể chế chủ trương thúc đẩy sự hợp tác và liên kết giữa các cựu thù (Đức - Pháp) nhằm tránh nguy cơ tái diễn chiến tranh thế giới thông qua việc xây dựng Cộng đồng châu Âu

Trên thực tế cho đến nay, có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về khái niệm “hội nhập quốc tế” Tựu chung, có ba cách tiếp cận chủ yếu sau:

Cách tiếp cận thứ nhất, thuộc về trường phái theo chủ nghĩa liên bang, cho rằng hội nhập (integration) là một sản phẩm cuối cùng hơn là một quá trình Sản phẩm đó là sự hình thành một Nhà nước liên bang kiểu như Hoa Kỳ hay Thụy Sỹ Để đánh giá sự liên kết, những người theo trường phái này quan tâm chủ yếu tới các khía cạnh luật định và thể chế

Cách tiếp cận thứ hai, với Karl W Deutsch là trụ cột, xem hội nhập trước hết là sự liên kết các quốc gia thông qua phát triển các luồng giao lưu như thương mại, đầu tư, thư tín, thông tin, du lịch, di trú, văn hóa… từ đó hình thành dần các cộng đồng an ninh (security community) Theo Deutsch, có hai loại cộng đồng an ninh: loại cộng đồng an ninh hợp nhất như kiểu Hoa Kỳ, và loại cộng đồng an ninh đa nguyên như kiểu Tây Âu Như vậy, cách tiếp cận thứ hai này xem xét hội nhập vừa là một quá trình vừa là một sản phẩm cuối cùng

Cách tiếp cận thứ ba xem xét hội nhập dưới góc độ là hiện tượng, hành vi các nước mở rộng và làm sâu sắc hóa quan hệ hợp tác với nhau trên cơ sở phân công lao động quốc tế có chủ đích, dựa vào lợi thế của mỗi nước và mục tiêu theo đuổi

Ở Việt Nam, thuật ngữ ‘hội nhập kinh tế quốc tế” bắt đầu được sử dụng

từ khoảng giữa thập niên 1990 cùng với quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN, tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và các thể chế kinh tế quốc

tế khác Những năm gần đây, cụm từ “hội nhập quốc tế” (thậm chí nói ngắn gọn

là “hội nhập”) được sử dụng ngày càng phổ biến hơn và với hàm nghĩa rộng hơn hội nhập kinh tế quốc tế

Mặc dầu vậy, cho đến nay vẫn không có một định nghĩa nào về khái niệm

“hội nhập quốc tế” giành được sự nhất trí hoàn toàn trong giới học thuật và cả

Trang 28

giới làm chính sách ở Việt Nam Từ các định nghĩa khác nhau nổi lên hai cách hiểu chính Thứ nhất, cách hiểu hẹp coi “hội nhập quốc tế” là sự tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực Thứ hai, cách hiểu rộng, coi “hội nhập quốc tế”

là sự mở cửa và tham gia vào mọi mặt của đời sống quốc tế, đối lập với tình trạng đóng cửa, cô lập hoặc ít giao lưu quốc tế Với tư duy theo cách này, không

ít người thậm chí đã đánh đồng hội nhập với hợp tác quốc tế Cả hai cách hiểu trên về khái niệm “hội nhập quốc tế” đều không đầy đủ và thiếu chính xác

Từ lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng ta cần xác định một cách tiếp cận phù hợp đối với khái niệm “hội nhập quốc tế” để làm nền tảng xây dựng chiến lược hội nhập quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn mới Theo đó, hội nhập quốc tế được hiểu như là quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăng cường

sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế Như vậy, khác với hợp tác quốc tế (hành vi các chủ thể quốc tế đáp ứng lợi ích hay nguyện vọng của nhau, không chống đối nhau), hội nhập quốc tế vượt lên trên sự hợp tác quốc tế thông thường: nó đòi hỏi sự chia sẻ và tính kỷ luật cao của các chủ thể tham gia Nhìn ở góc độ thể chế, quá trình hội nhập hình thành nên và củng cố các định chế, tổ chức quốc tế, thậm chí là các chủ thế mới của quan hệ quốc tế Những chủ thể quốc tế mới này có thể dưới dạng: hoặc là một tổ chức liên chính phủ (các thành viên vẫn giữ chủ quyền quốc gia trong việc định đoạt chính sách, chẳng hạn như tổ chức Liên hiệp quốc, ASEAN…), hoặc là một tổ chức siêu quốc gia (các thành viên trao toàn bộ chủ quyền quốc gia cho một cơ cấu siêu quốc gia, hình thái này có thể giống như mô hình nhà nước liên bang, chẳng hạn như Hoa Kỳ, Canada…), hoặc là một tổ chức lai ghép giữa hai hình thái trên (các thành viên trao một phần chủ quyền quốc gia cho một cơ cấu siêu quốc gia

và vẫn giữ một phần chủ quyền cho riêng mình, chẳng hạn như trường hợp EU hiện nay)

Trang 29

Chủ thể của hội nhập quốc tế trước hết là các quốc gia, chủ thể chính của quan hệ quốc tế có đủ thẩm quyền và năng lực đàm phán, ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế Bên cạnh chủ thể chính này, các chủ thể khác cùng hợp thành lực lượng tổng hợp tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế có thể diễn ra trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, an ninh-quốc phòng, văn hóa, giáo dục, xã hội, v.v.), nhưng cũng có thể đồng thời diễn ra trên nhiều lĩnh vực với tính chất (tức là mức độ gắn kết), phạm vi (gồm địa lý, lĩnh vực) và hình thức (song phương, đa phương, khu vực, liên khu vực, toàn cầu) rất khác nhau

Hội nhập kinh tế quốc tế Đây là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tế theo những hình thức khác nhau, từ đơn phương đến song phương, vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu Hội nhập kinh tế có thể diễn

ra theo nhiều mức độ Theo một số nhà kinh tế, tiến trình hội nhập kinh tế được chia thành năm mô hình cơ bản từ thấp đến cao như sau:

Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA): Các nước thành viên dành cho nhau các ưu đãi thương mại trên cơ sở cắt giảm thuế quan, nhưng còn hạn chế

về phạm vi (số lượng các mặt hàng đưa vào diện cắt giảm thuế quan) và mức độ cắt giảm Hiệp định PTA của ASEAN (1977), Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ (2001), Hiệp định GATT (1947 và 1994) là các ví dụ cụ thể của mô hình liên kết kinh tế ở giai đoạn thấp nhất

Khu vực mậu dịch tự do (FTA): Các thành viên phải thực hiện việc cắt giảm và loại bỏ các hàng rào thuế quan và các hạn chế về định lượng (có thể bao gồm cả việc giảm và bỏ một số hàng rào phi thuế quan) trong thương mại hàng hóa nội khối, nhưng vẫn duy trì chính sách thuế quan độc lập đối với các nước ngoài khối Ví dụ: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Âu (EFTA), Khu vực mậu dịch tự do bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)

Liên minh thuế quan (CU): Các thành viên ngoài việc cắt giảm và loại bỏ thuế quan trong thương mại nội khối còn thống nhất thực hiện chính sách thuế

Trang 30

quan chung đối với các nước bên ngoài khối Ví dụ: Nhóm ANDEAN và Liên minh thuế quan Nga-Bêlarút-Cadăcxtan

Thị trường chung (hay thị trường duy nhất): Ngoài việc loại bỏ thuế quan

và hàng rào phi quan thuế trong thương mại nội khối và có chính sách thuế quan chung đối với ngoài khối, các thành viên còn phải xóa bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyển của các yếu tố sản xuất khác (vốn, lao động…) để tạo thành một nền sản xuất chung của cả khối Ví dụ: Liên minh châu Âu đã trải qua giai đoạn xây dựng thị trường duy nhất (Thị trường chung châu Âu) trước khi trở thành một liên minh kinh tế

Liên minh kinh tế - tiền tệ: Là mô hình hội nhập kinh tế ở giai đoạn cao nhất dựa trên cơ sở một thị trường chung, duy nhất cộng thêm với việc thực hiện chính sách kinh tế và tiền tệ chung (một đồng tiền chung, ngân hàng trung ương thống nhất của khối) Ví dụ: EU hiện nay

Một nước có thể đồng thời tham gia vào nhiều tiến trình hội nhập với tính chất, phạm vi và hình thức khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản phải trải qua các bước hội nhập từ thấp đến cao, việc đốt cháy giai đoạn chỉ có thể diễn ra trong những điều kiện đặc thù nhất định mà thôi (chẳng hạn Cộng đồng Kinh tế châu

Âu đã đồng thời thực hiện xây dựng khu vực mậu dịch tự do và liên minh thuế quan trong những thập niên 60 - 70) Hội nhập kinh tế là nền tảng hết sức quan trọng cho sự tồn tại bền vững của hội nhập trong các lĩnh vực khác, đặc biệt là hội nhập về chính trị và nhìn chung, được các nước ưu tiên thúc đẩy giống như một đòn bẩy cho hợp tác và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa

Hội nhập chính trị Hội nhập về chính trị là quá trình các nước tham gia vào các cơ chế quyền lực tập thể (giữa hai hay nhiều nước) nhằm theo đuổi những mục tiêu nhất định và hành xử phù hợp với các luật chơi chung Hội nhập chính trị thể hiện mức độ liên kết đặc biệt giữa các nước, trong đó họ chia

sẻ với nhau về các giá trị cơ bản (tư tưởng chính trị, ý thức hệ), mục tiêu, lợi ích, nguồn lực và đặc biệt là quyền lực Một quốc gia có thể tiến hành hội nhập chính trị quốc tế thông qua ký hiệp ước với một hay một số quốc gia khác trên

Trang 31

cơ sở thiết lập các mối liên kết quyền lực giữa họ (hiệp ước liên minh hay đồng minh) hoặc tham gia vào các tổ chức chính trị khu vực (chẳng hạn như ASEAN, EU) hay một tổ chức có quy mô toàn cầu (chẳng hạn như Liên Hiệp quốc)

Thông thường hội nhập chính trị là bước đi sau cùng trên cơ sở các nước liên quan đã đạt đến trình độ hội nhập kinh tế và văn hóa - xã hội rất cao Sự hình thành Liên bang Hoa Kỳ, Liên bang Canađa trước đây và EU hiện nay cơ bản theo phương thức này Tuy nhiên, trong những bối cảnh nhất định, hội nhập trong lĩnh vực chính trị có thể đi trước một bước để mở đường thúc đẩy hội nhập trong các lĩnh vực khác

Hội nhập an ninh - quốc phòng Hội nhập về an ninh - quốc phòng là sự tham gia của quốc gia vào quá trình gắn kết họ với các nước khác trong mục tiêu duy trì hòa bình và an ninh Điều này đòi hỏi các nước hội nhập phải tham gia vào các thỏa thuận song phương hay đa phương về an ninh - quốc phòng trên cơ sở các nguyên tắc chia sẻ và liên kết: mục tiêu chung, đối tượng chung, tiến hành các hoạt động chung về đảm bảo an ninh - quốc phòng

Có nhiều kiểu liên kết an ninh - quốc phòng khác nhau, trong đó nổi lên những hình thức chủ yếu được nhiều nước sử dụng như sau:

- Hiệp ước phòng thủ chung: Đây là hình thức khá phổ biến trong thời kỳ Chiến tranh lạnh khi mà thế giới được cơ bản chia thành hai hệ thống (gọi là hệ thống hai cực) giữa một bên là các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô lãnh đạo

và bên kia là các nước tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu Hàng loạt tổ chức phòng thủ chung đã được hai phe lập ra để thực hiện các mục tiêu chính trị và

an ninh-quốc phòng, chẳng hạn như Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), Tổ chức Hiệp ước Trung tâm (CENTO), Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO), Hiệp ước Liên minh Úc – Niudilân - Mỹ (ANZUS), Tổ chức Hiệp ước Vác - xô-vi Nguyên tắc của các tổ chức phòng thủ chung là: các nước tham gia phải có chung kẻ thù bên ngoài, khi một nước nào đó tấn công một thành viên của khối thì nước đó được coi là kẻ thù của cả khối và tất cả các thành viên cùng hành động chống lại kẻ thù đó; các thành viên có chính sách

Trang 32

phòng thủ chung; các thành viên cùng đóng góp lực lượng vũ trang tham gia vào lực lượng chung của khối đặt dưới một bộ chỉ huy chung

- Hiệp ước liên minh quân sự song phương: Đây là hình thức cổ điển rất phổ biến trong lịch sử quan hệ quốc tế xưa và nay Phần lớn, nếu như không nói

là hầu hết, các nước đều có hiệp ước liên minh với một hoặc một số nước khác, trong đó có quy định về trợ giúp quân sự trong những tình huống cần thiết Mỹ

có hiệp ước liên minh quân sự song phương với Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan và Philipin Việt Nam cũng đã có Hiệp ước liên minh với Liên Xô cũ, Lào và Cămpuchia

- Các dàn xếp an ninh tập thể: Đây là hình thức liên kết an ninh dựa trên nguyên tắc các thành viên cam kết không tấn công nhau, nếu có một thành viên

vi phạm, sẽ dùng sức mạnh hợp tác của cả khối để ngăn chặn và giúp giải quyết xung đột Hội quốc liên và sau này là Liên Hiệp quốc, Liên đoàn Ả - rập, Tổ chức thống nhất châu Mỹ (OAS), Tổ chức Thống nhất châu phi (AU), Cộng đồng chính trị - an ninh mà ASEAN đang xây dựng là những mô hình cụ thể của phương thức liên kết an ninh tập thể

- Các dàn xếp về an ninh hợp tác là phương thức liên kết an ninh - quốc phòng lỏng lẻo hơn cả, dựa trên nguyên tắc lấy hợp tác trên các lĩnh vực, từ dễ đến khó, với các hình thức đa dạng như đối thoại, xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa… để xây dựng thói quen hợp tác và sự phụ thuộc, ràng buộc lẫn nhau, từ đó có thể hạn chế khả năng xảy ra xung đột giữa các thành viên ASEAN và một loạt cơ chế khu vực liên quan như Hội nghị sau Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao (PMC), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS)… là những mô hình cụ thể về dạng thức liên kết này

Nhìn chung, hội nhập trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng là tiến trình khó khăn hơn cả, vì nó liên quan trực tiếp tới những vấn đề nhạy cảm nhất - cốt lõi tồn tại của quốc gia, đó là hòa bình, độc lập và chủ quyền

Trang 33

Hội nhập về văn hóa - xã hội Hội nhập về văn hóa - xã hội là quá trình

mở cửa, trao đổi văn hóa với các nước khác; chia sẻ các giá trị văn hóa, tinh thần với thế giới; tiếp thu các giá trị văn hóa tiến bộ của thế giới để bổ sung và làm giàu nền văn hóa dân tộc; tham gia vào các tổ chức hợp tác và phát triển văn hóa - giáo dục và xã hội khu vực và hợp tác chặt chẽ với các nước thành viên hướng tới xây dựng một cộng đồng văn hóa - xã hội rộng lớn hơn trên phạm vi khu vực và toàn cầu (ví dụ, tham gia Cộng đồng văn hóa - xã hội ASEAN, UNESCO…); ký kết và thực hiện các hiệp định song phương về hợp tác - phát triển văn hóa - giáo dục - xã hội với các nước

Hội nhập văn hóa - xã hội có ý nghĩa rất quan trọng trong việc làm sâu sắc quá trình hội nhập, thực sự gắn kết các nước với nhau bằng chất keo bền vững hơn cả Quá trình này giúp các dân tộc ở các quốc gia khác nhau ngày càng gần gũi và chia sẻ với nhau nhiều hơn về các giá trị, phương thức tư duy

và hành động; tạo ra sự hài hòa và thống nhất ngày càng cao hơn giữa các chính sách xã hội của các nước thành viên; đồng thời tạo điều kiện để người dân mỗi nước được thụ hưởng tốt hơn các giá trị văn hóa của nhân loại, các phúc lợi xã hội đa dạng; đặc biệt, hình thành và củng cố tình cảm gắn bó thuộc về một cộng đồng chung rộng lớn hơn quốc gia của riêng mình (ý thức công dân khu vực, toàn cầu)

Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu, do bản chất xã hội của lao động

và quan hệ giữa con người Các cá nhân muốn tồn tại và phát triển phải có quan

hệ và liên kết với nhau tạo thành cộng đồng Nhiều cộng đồng liên kết với nhau tạo thành xã hội và các quốc gia - dân tộc Các quốc gia lại liên kết với nhau tạo thành những thực thể quốc tế lớn hơn và hình thành hệ thống thế giới Sự ra đời

và phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi phải mở rộng các thị trường quốc gia, hình thành thị trường khu vực và quốc tế thống nhất Đây là động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung

Trang 34

Từ sau Chiến tranh thế giới II, đặc biệt là từ khi chấm dứt Chiến tranh lạnh, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất thế giới nhờ hàng loạt tiến bộ nhanh chóng về khoa học - công nghệ, xu thế hòa bình - hợp tác, nỗ lực tự do hóa - mở cửa của các nước đã thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong kinh tế, phát triển rất nhanh và trở thành một xu thế lớn của quan hệ quốc tế hiện đại Hầu hết mọi nước trên thế giới đã và đang tích cực tham gia vào quá trình này

Rõ ràng, hội nhập quốc tế đã trở thành một xu thế lớn và một đặc trưng quan trọng của thế giới hiện nay Không ít người khẳng định rằng chúng ta đang sống trong thời đại toàn cầu hóa Nói một cách khác, thời đại hội nhập toàn cầu

Xu thế này chi phối toàn bộ quan hệ quốc tế và làm thay đổi to lớn cấu trúc của

hệ thống thế giới cũng như bản thân các chủ thể và mối quan hệ giữa chúng Khẳng định hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu lớn của thế giới cũng đồng thời chỉ ra con đường phát triển không thể nào khác đối với các nước trong thời đại toàn cầu hóa là tham gia hội nhập quốc tế Sự lựa chọn tất yếu này còn được quyết định bởi rất nhiều lợi ích mà hội nhập quốc tế tạo ra cho các nước Dưới đây, xin nêu những lợi ích chủ yếu của hội nhập quốc tế mà các nước có thể tận dụng được:

Thứ nhất, quá trình hội nhập giúp mở rộng thị trường để thúc đẩy thương mại và các quan hệ kinh tế quốc tế khác, từ đó thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội

Thứ hai, hội nhập cũng tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của các sản phẩm và doanh nghiệp; đồng thời, làm tăng khả năng thu hút đầu tư vào nền kinh tế

Thứ ba, hội nhập giúp nâng cao trình độ của nguồn nhân lực và nền khoa học công nghệ quốc gia, nhờ hợp tác giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học với các nước và tiếp thu công nghệ mới thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài

và chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến

Trang 35

Thứ tư, hội nhập làm tăng cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận thị trường quốc tế, nguồn tín dụng và các đối tác quốc tế

Thứ năm, hội nhập tạo cơ hội để các cá nhân được thụ hưởng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đa dạng về chủng loại, mẫu mã và chất lượng với giá cạnh tranh; được tiếp cận và giao lưu nhiều hơn với thế giới bên ngoài, từ đó có

cơ hội phát triển và tìm kiếm việc làm cả ở trong lẫn ngoài nước

Thứ sáu, hội nhập tạo điều kiện để các nhà hoạch định chính sách nắm bắt tốt hơn tình hình và xu thế phát triển của thế giới, từ đó có thể đề ra chính sách phát triển phù hợp cho đất nước

Thứ bảy, hội nhập giúp bổ sung những giá trị và tiến bộ của văn hóa, văn minh của thế giới, làm giàu văn hóa dân tộc và thúc đẩy tiến bộ xã hội

Thứ tám, hội nhập tạo động lực và điều kiện để cải cách toàn diện hướng tới xây dựng một xã hội mở, dân chủ hơn, và một nhà nước pháp quyền

Thứ chín, hội nhập tạo điều kiện để mỗi nước tìm cho mình một vị trí thích hợp trong trật tự quốc tế, giúp tăng cường uy tín và vị thế quốc tế, cũng như khả năng duy trì an ninh, hòa bình và ổn định để phát triển

Thứ mười, hội nhập giúp duy trì hòa bình và ổn định khu vực và quốc tế

để các nước tập trung cho phát triển; đồng thời mở ra khả năng phối hợp các nỗ lực và nguồn lực của các nước để giải quyết những vấn đề quan tâm chung của khu vực và thế giới

Tuy nhiên, hội nhập không chỉ đưa lại những lợi ích, trái lại, nó cũng đặt các nước trước nhiều bất lợi và thách thức, trong đó đặc biệt là:

Một là, hội nhập làm gia tăng cạnh tranh gay gắt khiến nhiều doanh nghiệp và ngành kinh tế gặp khó khăn, thậm chí là phá sản, từ đó gây nhiều hậu quả về mặt kinh tế - xã hội

Hai là, hội nhập làm tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế quốc gia vào thị trường bên ngoài và, do vậy, khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương trước những biến động của thị trường quốc tế

Trang 36

Ba là, hội nhập không phân phối công bằng lợi ích và rủi ro cho các nước

và các nhóm khác nhau trong xã hội, do vậy có nguy cơ làm tăng khoảng cách giàu - nghèo

Bốn là, trong quá trình hội nhập, các nước đang phát triển phải đối mặt với nguy cơ chuyển dịch cơ cấu kinh tế tự nhiên bất lợi, do thiên hướng tập trung vào các ngàng sử dụng nhiều tài nguyên, nhiều sức lao động, nhưng có giá trị gia tăng thấp Do vậy, họ dễ có thể trở thành bãi rác thải công nghiệp và công nghệ thấp, bị cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và hủy hoại môi trường

Năm là, hội nhập có thể tạo ra một số thách thức đối với quyền lực Nhà nước (theo quan niện truyền thống về độc lập, chủ quyền) và phức tạp đối với việc duy trì an ninh và ổn định ở các nước đang phát triển

Sáu là, hội nhập có thể làm gia tăng nguy cơ bản sắc dân tộc và văn hóa truyền thống bị xói mòn trước sự “xâm lăng” của văn hóa nước ngoài

Bảy là, hội nhập có thể đặt các nước trước nguy cơ gia tăng của tình trạng khủng bố quốc tế, buôn lậu, tội phạm xuyên quốc gia, dịch bệnh, nhập cư bất hợp pháp…

Như vậy, hội nhập đồng thời đưa lại cả lợi ích lẫn bất lợi đối với các nước Tuy nhiên, không phải cứ hội nhập là đương nhiên hưởng đầy đủ tất cả các lợi ích và gánh mọi bất lợi như đã nêu trên Các lợi ích và bất lợi nhìn chung

ở dạng tiềm năng và đối với mỗi nước một khác, do các nước không giống nhau

về điều kiện, hoàn cảnh, trình độ phát triển… Việc khai thác được lợi ích đến đâu và hạn chế các bất lợi, thách thức thế nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong

đó đặc biệt quan trọng là năng lực của mỗi nước, trước hết là chiến lược, chính sách, biện pháp hội nhập và việc tổ chức thực hiện Thực tế, nhiều nước đã khai thác rất tốt các cơ hội và lợi ích của hội nhập để đạt được tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội cao, ổn định trong nhiều năm liên tục, nhanh chóng vươn lên hàng các nước công nghiệp mới và tạo dựng được vị thế quốc tế đáng nể, đồng thời xử lý khá thành công các bất lợi và thách thức của quá trình hội nhập,

đó là trường hợp Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Trung Quốc,

Trang 37

Malaixia, Mêhicô, Braxin… Một số nước tuy vẫn gặt hái được nhiều lợi ích từ hội nhập, song xử lý chưa tốt mặt trái của quá trình này, nên phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn, có thể kể tới trường hợp Thái Lan, Phi-líp-pin, Inđônêxia, Việt Nam, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha… Mặc dù vậy, suy cho cùng lợi ích mà hầu hết các nước đã thu được trên thực tế từ quá trình hội nhập vẫn lớn hơn cái giá mà họ phải trả cho những tác động tiêu cực xét trên phương diện tăng trưởng và phát triển kinh tế Điều này giải thích tại sao hội nhập quốc tế trở thành lựa chọn chính sách của hầu hết các nước trên thế giới hiện nay

Hiện nay Việt Nam đã bước vào một giai đoạn hội nhập quốc tế sâu sắc

và toàn diện hơn bao giờ hết Tính đến năm 2011, chúng ta đã có quan hệ ngoại giao với 179 quốc gia, có quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với hơn 220 quốc gia và vùng lãnh thổ Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007 đã đưa quá trình hội nhập của đất nước từ cấp độ khu vực (ASEAN năm 1995) và liên khu vực (ASEM năm 1996, APEC năm 1998) lên đến cấp độ toàn cầu Việt Nam đã đảm nhận thành công vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an, cơ quan quyền lực hàng đầu của Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2008 - 2009 Việt Nam cũng đảm nhận thành công vai trò Chủ tịch ASEAN trong năm ASEAN 2010 Chặng đường hơn 25 năm đổi mới và hội nhập quốc tế là một quá trình nỗ lực bền bỉ của đất nước

Hội nhập quốc tế thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động giao lưu văn hoá và tri thức quốc tế, tăng cường sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau và tình hữu nghị giữa các dân tộc Dưới ảnh hưởng đó, tri thức loài người, kết tinh cô đọng ở các phát minh, sáng chế khoa học, kỹ thuật, công nghệ được phổ biến rộng rãi toàn thế giới, tạo động lực cho sự bùng nổ trí tuệ nhân loại Cũng như nhiều nước khác, tiến trình hội nhập quốc tế của nước ta tạo ra cơ hội thuận lợi để chúng ta chia

sẻ lợi ích do toàn cầu hoá đưa lại, đồng thời đóng góp thiết thực vào tiến trình phát triển hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực, dân chủ hoá các sinh hoạt quốc tế, tham gia đấu tranh thiết lập trật tự kinh tế quốc tế công bằng hơn, hợp lý hơn

Trang 38

Tiến trình hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay cũng như những năm tới không chỉ có thời cơ và thuận lợi, mà còn phải đối diện với nhiều thách thức lớn Do đó, chúng ta cũng cần luôn nhận thức rõ những thách thức mà nước ta phải đối mặt để từ đó tìm ra biện pháp khắc phục hữu hiệu

Một trong những vấn đề lớn mà quá trình hội nhập quốc tế đặt ra với nước ta hiện nay là những vấn đề mới về bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của dân tộc Trên lĩnh vực an ninh quốc gia, các nguy cơ đe doạ an ninh ngày càng phức tạp hơn, bên cạnh các hiểm hoạ mang tính truyền thống, đã xuất hiện các nguy cơ phi truyền thống (an ninh môi trường, dịch bệnh, khủng bố ); cục diện an ninh luôn thay đổi; công cụ, biện pháp, hình thức, cơ chế bảo đảm an ninh cũng cần phải đổi mới thường xuyên Vấn đề gắn an ninh, quốc phòng với kinh tế và an ninh, quốc phòng với đối ngoại trở thành nhiệm vụ vừa cơ bản vừa cấp bách hiện nay của nước ta Hội nhập quốc tế trong một thế giới toàn cầu hoá, tính tuỳ thuộc giữa các nước sẽ tăng lên Sự biến động trên thị trường, cũng như tình hình chính chính trị khu vực và thế giới sẽ tác động mạnh đến thị trường và đời sống chính trị trong nước Điều đó đòi hỏi chúng ta phải có chính sách kinh tế vĩ mô đúng đắn, có năng lực dự báo và phân tích tình hình quốc tế, đồng thời cơ chế quản lý phải tạo cơ sở để nền kinh tế có khả năng phản ứng tích cực, hạn chế được ảnh hưởng tiêu cực trước những biến động trên thị trường thế giới, giữ vững an ninh kinh tế và ổn định chính trị - xã hội Trên lĩnh vực văn hoá, quá trình hội nhập quốc tế đặt nước ta trước nguy cơ bị các giá trị ngoại lai (trong đó có lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền), nhất là các giá trị văn hoá phương Tây xâm nhập ồ ạt, làm tổn hại bản sắc văn hoá dân tộc Chưa bao giờ văn hoá nhân loại lại đứng trước một nghịch lý phức tạp như trong kỷ nguyên toàn cầu hoá hiện nay: vừa có khả năng giao lưu rộng mở, vừa có nguy cơ bị nghèo văn hoá rất nghiêm trọng

Trang 39

Đối với sinh viên, hội nhập quốc tế có những ảnh hưởng nhất định đến đạo đức của họ theo cả hai mặt tích cực và tiêu cực Về mặt tích cực, có thể kể

ra một số mặt sau:

Một là, chúng ta có thể thấy rằng, giới trẻ, trong đó có sinh viên, những người sinh ra và lớn lên trong thời kỳ đổi mới, là đối tượng nhạy cảm nhất trước những biến đổi vô cùng nhanh chóng của đất nước ta và thế giới Với những đặc điểm trẻ tuổi, có trình độ và năng lực sáng tạo, khả năng tiếp nhận cái mới nhanh và linh hoạt, thích nghi kịp thời với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội hiện đại, nên xu thế hội nhập quốc tế đã tác động không nhỏ tới đối tượng này Nhìn chung, sự tác động này mang tính hai mặt: tích cực và tiêu cực Một trong những tác động tích cực nổi bật nhất của xu thế hội nhập quốc tế là cùng với ý thức đề cao tính cá nhân, là việc soi chiếu các giá trị đạo đức dưới góc độ cá nhân, phẩm chất cá nhân Tính cá nhân được coi như một trong những thước đo của hành động, đạo đức hay phi đạo đức chỉ phụ thuộc một phần vào di sản tinh thần mà cộng đồng trước để lại, còn chủ yếu phụ thuộc vào mỗi cá nhân tạo thành cộng đồng mới hôm nay Tự ý thức cá nhân, ít chịu ảnh hưởng bởi dư luận như trước, đã tạo điều kiện phát huy sức sáng tạo cá nhân làm cho cá nhân chủ động và nhanh chóng tiếp cận với những cái mới trong khoa học, kỹ thuật

và công nghệ, chịu khó học hỏi kiến thức phục vụ cho nghề nghiệp và công việc Chính xu hướng toàn cầu hoá là chất xúc tác, là đòn bẩy và cũng là yêu cầu của việc rời bỏ triệt để những mảnh quá khứ đã lỗi thời một cách nhẹ nhàng, thanh thản Làm được điều đó một cách triệt để nhất, rõ ràng nhất, không

ai khác ngoài sinh viên - đối tượng trẻ có tri thức, lớn lên trong môi trường mới,

có điều kiện rời bỏ quá khứ một cách ít luyến tiếc hơn cả Đây là đối tượng mà

sự liên hệ với truyền thống chưa thật sự sâu đậm nên dễ dàng để những giá trị truyền thống lỗi thời lại đằng sau để tiếp thu cái mới, chấp nhận những giá trị mới trong một môi trường năng động liên tục

Hai là, xu thế hội nhập quốc tế tạo ra sự đồng nhất tương đối giữa quan niệm đạo đức và quy tắc ứng xử của một cộng đồng với các quan niệm đạo đức

Trang 40

và quy tắc ứng xử chung mang tính quốc tế Như đã phân tích ở trên, với đặc điểm cơ bản là trẻ, có tri thức và dễ tiếp thu cái mới, lại được trang bị ngoại ngữ, tin học, với sự hỗ trợ của các phương tiện thông tin hiện đại và việc mở rộng, đa dạng hóa tiến trình giao lưu quốc tế, sinh viên ngày nay đã hoà kịp vào dòng chảy mới trong quá trình hội nhập Điều đó tạo ra sự xích lại gần nhau các giá trị đạo đức trong một tinh thần cảm thông và cởi mở Có thể thấy những biểu hiện này trong các quan niệm đạo đức có liên quan đến các lĩnh vực đặc trưng của tuổi trẻ, như tình bạn, tình yêu Các quan niệm đạo đức của sinh viên Việt Nam, bên cạnh cái riêng của mình, đang xuất hiện những cái chung hoà nhập cùng thế giới, mở ra những cơ hội giao lưu, học hỏi Có thể dự đoán về một xu hướng đạo đức được quốc tế hoá, vừa trên cơ sở thống nhất những quy tắc đạo đức chung của con người, vừa giữ được truyền thống tốt đẹp của dân tộc nói chung, đạo đức sinh viên Việt Nam nói riêng

Ba là, xu thế hội nhập quốc tế dẫn đến việc những quan niệm về tốt, xấu, công bằng, bình đẳng cũng đang có sự dịch chuyển nhất định Những dịch chuyển này đã giải phóng về mặt tư tưởng, quan niệm trước những giá trị đạo đức lỗi thời, hướng sinh viên đến sự chuẩn bị cho những hành động có tính hiệu quả sau này khi gia nhập vào thị trường nhân lực Những quy tắc ứng xử của sinh viên vì thế cũng biến đổi, các nguyên tắc thiết thực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu mới của thời đại công nghiệp được họ hướng tới Những rào cản đạo đức nào không còn phù hợp trong việc điều chỉnh hành vi sẽ bị vượt qua, thể hiện khá rõ nét ở sinh viên

Nhưng điều đáng chú ý là vẫn với những yếu tố tác động có tính tích cực

ở trên, thì cũng chính những yếu tố này, một bộ phận sinh viên đã đẩy lên quá cao, đến mức lệch chuẩn, nghiêng sang khía cạnh tiêu cực Chính ở nơi đây thể hiện sự mâu thuẫn biện chứng trong ý thức đạo đức của đối tượng này: tác động hai chiều thuận và nghịch của cùng một yếu tố

Trước hết, tác động tiêu cực rõ nét nhất là biểu hiện thực dụng trong quan niệm đạo đức và hành vi ứng xử ở một bộ phận không nhỏ sinh viên hôm nay

Ngày đăng: 09/07/2015, 14:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. E.D. Amicis (2000), Những tiềm tàng cao cả, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tiềm tàng cao cả
Tác giả: E.D. Amicis
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2000
2. S. Anghelop (1985), "Biện chứng của quá trình giáo dục", Triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện chứng của quá trình giáo dục
Tác giả: S. Anghelop
Năm: 1985
3. S. Anghelop (1985), Vị trí của đạo đức trong hệ thống nhận thức khoa học, Trung tâm Khoa học xã hội (KHVD 1511) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí của đạo đức trong hệ thống nhận thức khoa học
Tác giả: S. Anghelop
Năm: 1985
4. G. Bandze Ladze (1985), Đạo đức học, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học
Tác giả: G. Bandze Ladze
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1985
5. G. Bandze Ladze (1985), Đạo đức học, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội.\ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học
Tác giả: G. Bandze Ladze
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1985
6. Đỗ Tuyết Bảo (2001), Giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện đổi mới hiện nay, Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện đổi mới hiện nay
Tác giả: Đỗ Tuyết Bảo
Nhà XB: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2001
7. Hoàng Chí Bảo (1998), "Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về con người và văn hóa", trong sách Những vấn đề văn hóa Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về con người và văn hóa
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
8. Hoàng Chí Bảo (1998), "Vài nét chung về nhân cách và nhân cách Hồ Chí Minh", Nghiên cứu lý luận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét chung về nhân cách và nhân cách Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nghiên cứu lý luận
Năm: 1998
9. Hoàng Chí Bảo (2000), "Giáo dục nhân cách cho sinh viên sinh viên trong các trường đại học hiện nay", Sinh hoạt lý luận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục nhân cách cho sinh viên sinh viên trong các trường đại học hiện nay
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2000
10. Hoàng Chí Bảo (2001), "Nhân cách và giáo dục văn hóa nhân cách", Triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân cách và giáo dục văn hóa nhân cách
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2001
11. Nguyễn Trọng Bảo (chủ biên) (1996), "Gia đình, nhà trường, xã hội với việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ nhân tài”, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình, nhà trường, xã hội với việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ nhân tài
Tác giả: Nguyễn Trọng Bảo (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
12. Nguyễn Ngọc Bích (1998), "Tâm lý học nhân cách", Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học nhân cách
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
13. Nguyễn Ngọc Bích (1996), "Những vấn nạn trên con đường phát triển", Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn nạn trên con đường phát triển
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1996
14. Nguyễn Thị Bình (1994), "Báo cáo về công tác học sinh sinh viên", Lưu tại Trung tâm thông tin tư liệu khoa học, Ban Khoa giáo Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về công tác học sinh sinh viên
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1994
15. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (1996), "Xóa đói giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế", Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xóa đói giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế
Tác giả: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1996
17. Bộ Thương Mại (1998), "Thành phố Hồ Chí Minh giới thiệu", Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phố Hồ Chí Minh giới thiệu
Tác giả: Bộ Thương Mại
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1998
18. I.P.Bueva (1980), "Sự hình thành con người mới", Triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hình thành con người mới
Tác giả: I.P.Bueva
Năm: 1980
19. Hàm Châu (1996), "Hiếu học và tài năng", Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiếu học và tài năng
Tác giả: Hàm Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
20. Doãn Thị Chín (2004), "Vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Việt Nam hiện nay", Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Việt Nam hiện nay
Tác giả: Doãn Thị Chín
Nhà XB: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2004
21. Nguyễn Trọng Chuẩn (1995), "Đôi điều suy nghĩ về giá trị và biến đổi của các giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường", Triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều suy nghĩ về giá trị và biến đổi của các giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1.  Nhận  thức  của  sinh  viên  về  mức  độ  cần  thiết  của  các  môn  khoa  học  Mác  –  Lênin,  Tư  tưởng  Hồ  Chí  Minh  và  pháp  luật  trong  các  trường cao đẳng nghề ở Hà Nội - Giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay
ng 1. Nhận thức của sinh viên về mức độ cần thiết của các môn khoa học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và pháp luật trong các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội (Trang 65)
Bảng 2. Mục đích, động cơ học tập của sinh viên các trường cao đẳng  nghề ở Hà Nội - Giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay
Bảng 2. Mục đích, động cơ học tập của sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội (Trang 67)
Bảng 3. Sự lựa chọn những phẩm chất đạo đức cần có của sinh viên  cao đẳng nghề trong xu thế hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay - Giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường cao đẳng nghề ở Hà Nội trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay
Bảng 3. Sự lựa chọn những phẩm chất đạo đức cần có của sinh viên cao đẳng nghề trong xu thế hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w