Làm thế nào để kế thừa, phát triển những tinh hoa của giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp, gạn bỏ những mặt tiêu cực của nó đã và đang ăn sâu, bám rễ vào tiềm thức xã hội, thậm chí khôn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÙI THỊ LỢI
XÂY DỰNG PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC MỚI CỦA NGƯỜI
PHỤ NỮ VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 3NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BCHTƯ : Ban Chấp hành Trung ương
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
CNH : Công nghiệp hóa
ĐHQG : Đại học Quốc gia
HĐH : Hiện đại hóa
KTTT : Kinh tế thị trường
Nxb : Nhà xuất bản
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
XHTB : Xã hội tư bản
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM 10
1.1 Đạo đức và phẩm chất đạo đức 10
1.1.1 Đạo đức 10
1.1.2 Phẩm chất đạo đức và phẩm chất đạo đức mới 14
1.2 Phẩm chất đạo đức truyền thống và phẩm chất đạo đức mới nảy sinh của người phụ nữ Việt Nam 17
1.2.1 Phẩm chất đạo đức truyền thống của người phụ nữ Việt Nam 17
1.2.2 Phẩm chất đạo đức mới nảy sinh của người phụ nữ Việt Nam 27
1.3 Sự cần thiết phải xây dựng phẩm chất đạo đức mới của phụ nữ Việt Nam hiện nay 35
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC MỚI CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM HIỆN NAY 41
2.1 Thực trạng phẩm chất đạo đức của người phụ nữ Việt Nam hiện nay 41
2.1.1 Mặt tích cực 41
2.1.2 Mặt hạn chế, xuống cấp 47
2.1.3 Nguyên nhân của thực trạng phẩm chất đạo đức phụ nữ Việt Nam hiện nay 66
2.2 Giải pháp xây dựng phẩm chất đạo đức mới của người phụ nữ Việt Nam hiện nay 72
2.2.1 Nhóm giải pháp nhận thức 72
2.2.2 Nhóm giải pháp thực tiễn 81
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 98
Trang 5người Dù ở hoàn cảnh nào, ở thời kỳ nào, phụ nữ cũng là người vợ - giữ lửa cho
gia đình, là người mẹ - người nâng giấc, đưa nôi, dạy cho con ngôn ngữ, nhận thức, những bài học làm người đầu tiên Sự dịu dàng, chịu thương, chịu khó của người phụ nữ tựa như sợi dây yêu thương, mềm mại mà bền chặt níu giữ, gắn kết mọi thành viên trong gia đình, mọi nhân tố trong xã hội Với thiên chức đó, phụ nữ có vai trò, ảnh hưởng đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá, giá trị đạo đức trong mỗi gia đình, cộng đồng và xã hội
“Một người thợ tồi làm hỏng những đôi giày, một người phụ nữ tồi thì làm hỏng cả một gia đình, một người thầy tồi làm hỏng một thế hệ ” (Ngạn ngữ Đức) Giáo dục một người phụ nữ sẽ được một gia đình Người mẹ có phẩm chất đạo đức tốt thì sẽ có những người con tốt, thế hệ tương lai tốt Người vợ có phẩm chất đạo đức tốt thì sẽ có mái ấm gia đình hạnh phúc, sẽ có xã hội ổn định và phát triển bền vững
Trong những năm gần đây, cùng với những bước phát triển lớn lao về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, trong bối cảnh toàn cầu hoá, giao lưu và hội nhập toàn diện, thì đời sống đạo đức của người phụ nữ Việt Nam cũng có những thay đổi to lớn Một mặt, rất nhiều phẩm chất đạo đức tốt đẹp hiện đại đã hình thành và phát triển khiến cho người phụ nữ ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng đáp ứng sự phát triển xã hội Những tấm gương phụ nữ hiện đại giỏi việc nước, đảm việc nhà, những phụ nữ thành đạt trên mọi lĩnh vực xuất hiện ngày càng nhiều và trở thành những cánh chim đầu đàn minh chứng cho vai trò và vị thế ngày càng cao và quan trọng của phụ nữ Việt Nam trong đời sống hiện đại Mặt khác, phẩm chất đạo đức của một bộ phận phụ nữ Việt Nam xuống cấp, giá trị đạo đức bị xói mòn gây nhức nhối dư luận và ảnh hưởng tiêu cực, cản trở tới phát triển
Trang 62
xã hội Hằng ngày trên các phương tiện thông tin luôn luôn dày đặc những tin tức phản ánh lối sống chạy theo đồng tiền, đua đòi, buông thả, cách ứng xử thiếu văn hóa, ăn mặc phản cảm, tệ nạn mại dâm, bạo hành, tội phạm nữ gia tăng đã và đang từng ngày, từng giờ làm băng hoại phẩm chất đạo đức của người phụ nữ Việt Nam, phá vỡ nhiều nét đẹp của văn hóa dân tộc
Hơn nữa, cơ chế thị trường và quá trình công nghiệp hóa một mặt có tác động tích cực, nhưng mặt khác đã và đang làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội liên quan trực tiếp tới phụ nữ Phụ nữ gặp nhiều khó khăn, thách thức khi thực hiện vai trò người mẹ, người thầy đầu tiên của trẻ em trong điều kiện xã hội và gia đình Việt Nam có nhiều thay đổi
Truyền thống có thể là quả núi có nguy cơ đè bẹp hiện tại và che khuất tương lai; cũng có thể là suối nguồn nuôi dưỡng sức sống mãnh liệt của thực tiễn cuộc sống không ngừng đâm chồi nảy lộc Làm thế nào để kế thừa, phát triển những tinh hoa của giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp, gạn bỏ những mặt tiêu cực của nó đã và đang ăn sâu, bám rễ vào tiềm thức xã hội, thậm chí không cho phép người Việt Nam thoát khỏi lối mòn trong nhận thức, tư duy và hành động để xây dựng phẩm chất đạo đức người phụ nữ Việt Nam hiện đại? Làm thế nào để kết hợp giá trị đạo đức truyền thống và yếu tố hiện đại trong xây dựng phẩm chất đạo đức của người phụ nữ Việt Nam hiện nay để đảm bảo xây dựng và phát triển nguồn lực này đúng với vị thế và khả năng của họ trong xã hội hiện đại là vấn đề còn nhiều trăn trở
Từ những yêu cầu về lý luận và thực tiễn đặt ra như vậy nên tác giả quyết
định lựa chọn đề tài: "Xây dựng phẩm chất đạo đức mới của người phụ nữ Việt Nam hiện nay" làm luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đạo đức phụ nữ và xây dựng phẩm chất đạo đức mới cho người phụ nữ Việt Nam đã, đang nhận được nhiều sự quan tâm đặc biệt của dư luận cả nước Có rất
Trang 73
nhiều đề án, chương trình khoa học, hội thảo, sách, báo, tạp chí, công trình nghiên
cứu khoa học tập trung nghiên cứu về thực trạng đạo đức người phụ nữ và tìm ra các giải pháp nhằm điều chỉnh, định hướng những giá trị đạo đức chuẩn mực cho
nữ giới, tiêu biểu như:
- Đề án, chương trình khoa học cấp Nhà nước
Hội nghị khoa học "Về việc nghiên cứu những vấn đề đạo đức trong thời kỳ quá độ" do Ban Đạo đức học - Viện Triết học và Ủy ban Khoa học xã hội nhân văn
tổ chức năm 1983, với các chủ đề: Phụ nữ và vấn đề hình thành đạo đức mới Hội nghị đã làm nổi bật được vị thế, vai trò người phụ nữ trong xã hội; sự cần thiết cũng như các yêu cầu, đòi hỏi, định hướng xây dựng đạo đức cho phái nữ trong thời kỳ quá
độ ở nước ta
Đề tài nghiên cứu KHXH_04.03: "Xây dựng lối sống, đạo đức và chuẩn mực giá trị xã hội mới trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa" do Huỳnh Khái Vinh làm chủ nhiệm
(thuộc chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KHXH-04, Hà Nội, 2000)
là đề tài nghiên cứu khá toàn diện có tính hệ thống những vấn đề lý luận về lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị xã hội, phân tích sự tác động của các nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội và xu hướng chuyển đổi lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội;
từ đó nêu phương hướng, quan điểm chỉ đạo và giải pháp xây dựng lối sống, đạo đức và chuẩn mực giá trị xã hội mới trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Kế hoạch hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2010, Uỷ ban quốc
gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam - Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (năm
2000), đã chỉ ra những thuận lợi cũng như các trở ngại, khó khăn để người phụ nữ thực hiện thiên chức của mình đồng thời làm rõ được sự biến đổi của thang giá trị đạo đức nữ giới trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa;
Trang 8Tiểu đề án “Tuyên truyền, giáo dục phẩm chất, đạo đức phụ nữ Việt Nam
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn 2011- 2015”,
Bộ Văn hóa thông tin du lịch đã ban hành Quyết định số 2126/QĐ-BVHTTDL Để triển khai thực hiện đề án “Tuyên truyền, giáo dục phẩm chất, đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Giai đoạn 2010- 2015)” của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, bộ Văn hóa thông tin du lịch vạch rõ các mục đích, yêu cầu, cụ thể hoá các nhiệm vụ, biện pháp tuyên truyền, giáo dục
phẩm chất đạo đức nữ giới trong ngành của mình
- Công trình dưới dạng sách chuyên khảo
Lê Thị Nhâm Tuyết (1972), “Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại”, Nxb Khoa
học xã hội Cuốn sách được xem là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam ghi dấu ấn quan trọng khởi đầu lĩnh vực nghiên cứu phụ nữ, nghiên cứu giới Tác giả
đã sử dụng phong phú tư liệu của cuộc sống để phân tích khoa học những phẩm chất tiêu biểu của phụ nữ Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, từ thời đại nguyên thuỷ cho đến năm 1968, những vấn đề được đề cập trong Phụ nữ Việt Nam
qua các thời đại rất gần với đời sống xã hội hôm nay
Trang 95
Vũ Khiêu (1974), “Đạo đức mới”, Nxb Khoa học Xã hội, bàn về yêu cầu
cấp thiết phải xóa bỏ những tư tưởng đạo đức cũ đã lạc hậu, lỗi thời không còn phù hợp với tình hình thời đại mới Từ đó đặt ra yêu cầu xây dựng đạo đức mới với những nội dung và nguyên tắc rất cụ thể
Tương Lai (1983), “Chủ động và tích cực xây dựng đạo đức mới”, Nxb Sự
thật, Hà Nội Tác phẩm này cũng bàn về vấn đề yêu cầu của việc xây dựng đạo đức mới, trong đó nhấn mạnh đến việc phải chủ động và luôn tích cực của mỗi cá nhân
để đáp ứng được yêu cầu thời đại mới
Trần Quốc Vượng (2001), "Truyền thống phụ nữ Việt Nam" , Nxb Văn hóa -
dân tộc Xuất phát từ những tư liệu lịch sử và văn hoá, quan niệm có “nguyên lí mẹ” trong văn hoá Việt Nam, tác giả đã sưu tầm và hệ thống hóa các tài liệu lịch
sử, truyền thuyết và văn học dân gian có liên quan đến hoạt động và truyền thống của phụ nữ trong lịch sử Cuốn sách đem lại nhiều tư liệu quý giá trong quá trình tìm hiểu truyền thống vẻ vang của phụ nữ Việt Nam từ thời đại Hùng Vương dựng nước cho đến trước thời kỳ thành lập Đảng
Lê Thi (2001), “Việc làm, đời sống phụ nữ trong chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam”, Nxb Khoa học Xã hội Tác giả đã chỉ rõ: Phụ nữ là nhân tố và nguồn lực
phát triển của xã hội Việt Nam, các quan điểm tiếp cận vấn đề bình đẳng giới hiện nay, phân tích được vấn đề việc làm, đời sống của lao động nữ trong sự nghiệp phát triển kinh tế hàng hóa và cơ chế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cùng một số suy nghĩ về hướng phát huy nguồn nhân lực phụ nữ phục vụ cho sự nghiệp kiến thiết đất nước
Nguyễn Linh Khiếu (2001), “Gia đình và phụ nữ trong biến đổi văn hóa - xã hội nông thôn”, Nxb Khoa học Xã hội Tác phẩm đã trình bày khá rõ những biến
đổi văn hóa - xã hội nông thôn tác động đến gia đình và phụ nữ; cung cấp những thông tin khoa học đáng tin cậy, đưa đến một cái nhìn phức hợp, đa dạng và thực tế
Trang 106
sinh động về đời sống văn hóa- xã hội và gia đình nông thôn trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đặng Thị Vân Chi (2008), "Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước năm 1945", Nxb Khoa học Xã hội Tác giả đã làm rõ quá trình hình thành, cũng như
thực chất của vấn đề phụ nữ trong xã hội Việt Nam dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp trước Cách mạng tháng Tám năm 1945; những thay đổi của xã hội Việt Nam trong đời sống gia đình, sinh hoạt văn hóa ngoài đời dưới ảnh hưởng của chính sách cai trị của Pháp và của tiếp xúc văn hóa Đông -Tây; vạch được quá trình nhận thức của phụ nữ nói riêng và của xã hội nói chung về vai trò, địa vị của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội
- Luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ
Đặng Thị Linh (1996), “Vấn đề phụ nữ trong gia đình ở Việt Nam hiện nay - thực trạng và giải pháp”, luận án phó tiến sĩ khoa học triết học, Hà Nội 1996 Luận
án này đã phân tích vai trò của phụ nữ trong gia đình ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những thực trạng cũng như những bất cập, khó khăn để thực hiện vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở giai đoạn hiện nay Từ đó, tác giả đề xuất những giải pháp
để nâng cao vai trò của người phụ nữ trong xây dựng mái ấm gia đình
Lê Thị Minh Hiệp (2000), “Kế thừa giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong tình hình hiện nay” luận văn thạc sỹ triết học, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh Đề tài phân tích những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam, tính tất yếu kế thừa giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong tình hình hiện nay, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm kế thừa hiệu quả những giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam hiện nay
Nguyễn Thị Lan (2001), “Phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ Việt Nam hiện nay qua thực tế
ở tỉnh Vĩnh Phúc”, luận văn thạc sỹ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh Luận văn phân tích các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cần phát huy;
Trang 117
những yêu cầu, nội dung của các chuẩn mực đạo đức mới của người phụ nữ trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước Từ đó, tác giả đề xuất một số phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm phát huy hơn nữa giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
Nguyễn Trúc Hạnh (2005), “Vấn đề kế thừa giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ tỉnh Bến Tre hiện nay”, luận văn thạc sỹ triết học Tác giả đã phân tích
những giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam, những giá trị đạo đức truyền thống đáng tự hào của phụ nữ Bến Tre Đề tài cũng luận chứng sự cần thiết
và đề ra các giải pháp để kế thừa hiệu quả giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ tỉnh Bến Tre trong giai đoạn hiện nay
- Bài nghiên cứu đăng trên các Tạp chí chuyên ngành
Trương Mỹ Hoa "Phụ nữ Việt Nam với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Tạp chí Cộng sản, số 20, 1996; PGS Nguyễn Văn Huyên "Giá trị truyền thống - nhân lõi và sức sống bên trong của sự phát triển đất nước, dân tộc", Tạp chí Triết học, số 4, 1998; PGS Nguyễn Chí Mỳ và Nguyễn Thế Kiệt "Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong xã hội ta hiện nay và việc nâng cao phẩm chất đạo đức của cán bộ", Tạp chí Cộng sản, số 15, 1998; GS Lê Thi "Phụ nữ Việt Nam bước vào thế kỷ XXI", Tạp chí Cộng sản, số 20, 2000; Trịnh Thị Kim Ngọc
“Những vấn đề của phụ nữ và giới trong nguồn nhân lực trí thức hiện nay”, Tạp
chí Phụ nữ, số 3, 2003 v.v
Trong những công trình nghiên cứu trên, các tác giả chủ yếu xem xét, làm rõ các vấn đề về: vị trí, vai trò, địa vị của người phụ nữ trong gia đình và xã hội; tập trung vào các giá trị đạo đức truyền thống, kế thừa và phát huy giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam qua thực tế của một số tỉnh cụ thể (Vĩnh Phúc, Bến Tre), chưa đi sâu phân tích những phẩm chất đạo đức mới cần có của người phụ nữ Việt Nam giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay Nội dung các đề tài quan tâm đến tình hình đạo đức của phụ nữ Việt Nam hiện nay, định hướng giá trị, quan
Trang 128
niệm sống của phụ nữ, công tác tuyên truyền đạo đức cho phụ nữ Tuy nhiên, chưa
có đề tài nào đi sâu nghiên cứu vấn đề xây dựng hệ chuẩn phẩm chất đạo đức mới của phụ nữ Việt Nam hiện nay và hệ giải pháp để thực hiện Đây là hướng mà đề tài luận văn chú trọng tìm hiểu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích: Luận văn góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
phẩm chất đạo đức truyền thống, phẩm chất đạo đức mới của người phụ nữ Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp cho việc xây dựng phẩm chất đạo đức của họ trong giai đoạn hiện nay
* Nhiệm vụ:
- Phân tích phẩm chất đạo đức truyền thống và những phẩm chất đạo đức mới cần có của người phụ nữ Việt Nam hiện đại
- Phân tích thực trạng phẩm chất đạo đức của phụ nữ Việt Nam hiện nay
- Đề xuất những giải pháp để xây dựng phẩm chất đạo đức cho phụ nữ đáp ứng yêu cầu quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phẩm chất đạo đức của người phụ nữ Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: những biểu hiện tích cực và tiêu cực của đạo đức phụ
nữ Việt Nam trong quá khứ và hiện tại
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của triết học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, về phụ nữ
Phương pháp được sử dụng chủ yếu trong luận văn là phương pháp mô tả, thống kê, phân tích, đánh giá, logic, lịch sử, phương pháp so sánh, khái quát hoá
các quan điểm phản ánh nội dung của vấn đề dưới các dạng thông tin khác nhau
Trang 139
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ thêm mặt tích cực và hạn chế của phẩm chất đạo đức truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, những yêu cầu về phẩm chất đạo đức mới của phụ nữ đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Phân tích, đánh giá thực trạng phẩm chất đạo đức phụ nữ Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm xây dựng phẩm chất đạo đức mới của người phụ nữ Việt hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết:
Chương 1: Phẩm chất đạo đức của người phụ nữ Việt Nam
Chương 2: Thực trạng và giải pháp xây dựng phẩm chất đạo đức mới của
người phụ nữ Việt Nam hiện nay
Trang 1410
Chương 1 PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM
1.1 Đạo đức và phẩm chất đạo đức
1.1.1 Đạo đức
Mỗi ngành khoa học nghiên cứu đạo đức ở những khía cạnh khác nhau, như triết học, xã hội học, kinh tế - chính trị học, luật học, tâm lý học, y học, giáo dục học… và có nhiều cách hiểu khác nhau về phạm trù đạo đức
Theo xã hội học, đạo đức là những chuẩn mực hành vi xã hội hướng con người theo cái thiện, chống cái ác Đạo đức là nền tảng của cuộc sống xã hội Với các nhà xã hội học, đạo đức được điều tiết bằng hai yếu tố: yếu tố khách quan (dư luận xã hội) và yếu tố chủ quan (lương tâm con người) Mỗi hành vi vô đạo đức có thể không bị luật pháp trừng trị, nhưng bị dư luận xã hội và lương tâm lên
án [30, tr.3]
Theo tâm lý học, “Đạo đức là phẩm chất tốt đẹp của cá nhân hay nhóm, biểu
hiện ở hành vi phù hợp với các quy chuẩn, chuẩn mực xã hội” [9, tr.2]
Trong các học thuyết triết học từ thời cổ đại đến nay, vấn đề đạo đức luôn được đề cập đến Bởi vậy, trong triết học cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về phạm trù đạo đức
Ở phương Đông, trong các học thuyết của Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo đều lấy đạo đức làm cơ sở trong đối nhân xử thế và đề xuất các quy tắc, các chuẩn mực, những ràng buộc trong các hoạt động sống của con người Tư tưởng đạo đức Nho giáo chủ yếu thể hiện trong quan điểm về “tu thân” và những nguyên tắc đạo đức cơ bản như: “tam cương” “ngũ thường”, “tam tòng”, “tứ đức” Đó là những quy tắc ứng xử với nhau trong quan hệ xã hội giữa vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em, bạn bè Tư tưởng đạo đức của Đạo giáo nêu những chuẩn mực đạo đức của cá nhân như “vô kỷ”, “vô công”, “vô danh”, “bất tranh” Những chuẩn mực
Trang 1511
này đòi hỏi con người gạt bỏ dục vọng của bản thân mình, lấy lòng nhân đức để đối xử với người đã gây ra oán thù với mình Trong đạo đức Phật giáo, nội dung cơ bản là những yêu cầu đạo đức đối với hai loại người là người đời và người tu hành Đối với người đời, những chuẩn mực được nêu rất cụ thể cho từng mối quan hệ nhưng nhìn chung khuyên con người trong bất cứ mối quan hệ nào cũng phải thể hiện lòng từ bi, hỉ xả, vô ngã, yêu thương, chăm sóc giúp đỡ nhau Đối với người
tu hành, ngoài việc thực hiện những đức hạnh của người đời, họ còn phải thực hiện Ngũ giới; Thập thiện nghiệp, Bát chính đạo, tu phẩm hạnh Balamật Những chuẩn mực này thể hiện lòng từ bi hỷ xả, thương xót đồng loại và cả chúng sinh Mỗi trường phái đạo đức này có những hạn chế nhất định và chỉ nhìn đạo đức theo một phương diện nào đó, nhưng nhìn chung đều là những tư tưởng có giá trị, có ảnh hưởng xã hội to lớn trong xây dựng đời sống đạo đức xã hội
Tư tưởng đạo đức phương Tây thể hiện trong tư tưởng của các nhà triết học, đạo đức học từ thời cổ đại đến hiện đại với nhiều quan điểm khác nhau mang hơi thở cuộc sống giúp con người ngày càng hiểu rõ hơn nguồn gốc, bản chất và những yêu cầu của đạo đức Trong thời kỳ cổ đại, tư tưởng đạo đức nổi bật nhất là quan điểm của Socrate và Aristote Theo Socrate, cái thiện phổ biến (cái chung) là cơ sở của đạo đức, là tiêu chuẩn của đức hạnh Muốn tuân theo cái thiện phổ biến thì phải nắm bắt được nó, hiểu nó Ông tuyệt đối hóa vai trò tri thức đối với đạo đức khi khẳng định: mọi hành vi vô đạo đức đều là kết quả của sự dốt nát, kém hiểu biết, con người biết thế nào là tốt thì anh ta không bao giờ làm điều xấu Aristote là người đầu tiên tiếp cận tới bản chất của đạo đức Ông quan niệm đức tính của con người là hoạt động thực tiễn có ích cho xã hội của chính bản thân con người do rèn luyện mà có chứ không phải là bẩm sinh Ông cũng đề cập đến vấn đề động cơ của hành động đạo đức, hành động đạo đức phải là hành động tự nguyện và được lựa chọn một cách tự do
Trang 1612
Tư tưởng Tây Âu trung cổ chủ yếu là đạo đức Thiên Chúa giáo Tư tưởng này tuyên bố rằng mọi người đều bình đẳng và bác ái là nguyên tắc chủ yếu của đạo đức Tuy nhiên, sự bình đẳng đó chỉ là sự bình đẳng trước Chúa không phải là trong hiện thực Để chống đạo đức khổ hạnh của Thiên Chúa giáo Tây Âu trung
cổ, khôi phục và phát triển những tư tưởng đạo đức nhân đạo và tiến bộ trong thời
cổ đại, tư tưởng đạo đức học Tây Âu thời kỳ từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII với những nhà tư tưởng như Rabelais, Spinoza, Helvétius, Hegel, Feuerbach,… đã bàn
về đạo đức trần thế chống lại đạo đức thần học Họ cho rằng con người không phải sinh ra là đã có đạo đức mà đạo đức nảy sinh từ tác động của môi trường xã hội, trước hết là chính trị và pháp luật Tuy nhiên, những tư tưởng này vẫn chứa đựng những sai lầm, mâu thuẫn do quan điểm duy tâm về xã hội của các nhà tư tưởng thời kỳ này
Kế thừa một cách khoa học và có chọn lọc cũng như khắc phục những sai lầm của những tư tưởng trước đây về đạo đức, lần đầu tiên trong lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xây dựng học thuyết đạo đức học mang tính khoa học và cách mạng Tính khoa học đó được biểu hiện trước hết ở chỗ các ông đã nghiên cứu vấn
đề đạo đức xuất phát từ chính hiện thực cuộc sống và gắn các quan hệ đạo đức với phương thức sản xuất xã hội lúc bấy giờ Từ đó hai ông đi đến kết luận rằng đạo đức là sản phẩm của những điều kiện sinh hoạt vật chất xã hội, nó nảy sinh do nhu cầu đời sống xã hội “Chúng ta khẳng định rằng xét cho đến cùng mọi học thuyết đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ” [40, tr.137] Như vậy, đạo đức là sản phẩm và là biểu hiện của nền sản xuất vật chất Trên cơ sở phát triển của nền sản xuất vật chất mà đạo đức nảy sinh
và hoàn thiện, trong đó lao động sản xuất vật chất là nguồn gốc xét đến cùng của đạo đức Cũng xuất phát từ chỗ gắn các quan hệ đạo đức với thực tiễn, C.Mác và Ph.Ăngghen còn cho rằng những quan niệm về đạo đức, lẽ sống, thiện ác không phải cứ tồn tại bất biến mà chúng sẽ thay đổi cùng với sự phát triển của lịch sử xã
Trang 17Từ quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, có thể khái quát rằng: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống dân tộc và sức mạnh của dư luận
xã hội Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, luôn phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh những điều kiện hiện thực của đời sống xã hội Đạo đức là một
Trang 1814
phương thức điều chỉnh hành vi, lối ứng xử của con người với con người thông qua một hệ thống các giá trị và việc điều chỉnh này được thực hiện bằng những nguyên tắc, khuôn phép, chuẩn mực đạo đức phù hợp với từng giai đoạn lịch sử, từng đối tượng cụ thể Lịch sử loài người đã sáng tạo nhiều phương thức điều chỉnh hành vi con người: phong tục, tập quán, pháp luật, đạo đức, tôn giáo…, nhưng đạo đức có điểm khác biệt nhất định trong việc điều chỉnh hành vi con người đó là đạo đức được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của chủ thể đạo đức, được đảm bảo bằng sự kiểm soát của lương tâm con người, bằng dư luận xã hội và sức mạnh của truyền thống Và xét đến cùng, thực chất đạo đức là sự tự do lựa chọn của con người
Như vậy, sự ra đời, phát triển của đạo đức không phải là ý muốn chủ quan hay do một lực lượng thần thánh, siêu nhiên nào mà nó nảy sinh từ chính đời sống
và nó gắn liền với sự tồn tại, phát triển của con người Là một phương thức đặc biệt để nhận thức cuộc sống và điều chỉnh hành vi con người, nên đạo đức có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội Vì vậy, cho dù ở thời đại nào, cho dù
là quốc gia văn minh hay lạc hậu thì đạo đức luôn được xem là một mục tiêu của văn hoá, phát triển, là cội nguồn của hạnh phúc
1.1.2 Phẩm chất đạo đức và phẩm chất đạo đức mới
1.1.2.1 Phẩm chất đạo đức
Xét theo nghĩa chung, phẩm chất đạo đức là những giá trị, chuẩn mực của hành vi làm nên nhân cách một con người, được xã hội thừa nhận Dựa vào khung chuẩn mực ấy, người ta có thể đánh giá các hành vi tốt hay xấu, lợi hay hại, về những điều được khuyến khích, cấm kị, hoặc về nghĩa vụ của mỗi người Phẩm chất đạo đức bao gồm các chuẩn mực về phẩm chất, các quy tắc ứng xử đạo đức được con người đánh giá, lựa chọn, cũng như ý nghĩa tích cực của những quan niệm, chuẩn mực, quy tắc ứng xử đó đối với con người và đời sống xã hội
Xét phẩm chất đạo đức của một con người là xét cả hai phương diện: mối quan hệ giữa phẩm chất đạo đức với phẩm chất năng lực, bao gồm đức và tài, hồng
Trang 1915
và chuyên, hay như Bác Hồ đã từng khẳng định: có tài mà không có đức thì vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó Theo đó, có những phẩm chất, tự thân nó không phải là đạo đức, nhưng khi trở thành một trong những thang giá trị để đánh giá con người, được xem là chuẩn mực mà xã hội, cộng đồng chấp nhận, được điều chỉnh bằng dư luận xã hội chứ không phải bằng pháp luật, thì sẽ là phẩm chất đạo đức Ví dụ như phẩm chất tự tin không thuộc về đạo đức, nhưng trong thực tế cuộc sống, nếu con người thiếu tự tin, không dám quyết định việc nào nên làm, việc nào không nên làm, dẫn tới a dua, hành động theo sự sai khiến của người khác, thì lúc ấy, thiếu tự tin lại là nguyên nhân dẫn tới vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật Như vậy, tự tin là một giá trị thuộc nội hàm phẩm chất đạo đức
Phẩm chất đạo đức là biểu hiện cụ thể của đạo đức Có phẩm chất đạo đức của từng giới, từng tầng lớp, ngành nghề xã hội tạo nên giá trị đạo đức của giới, của tầng lớp, ngành nghề xã hội đó Phẩm chất đạo đức của phụ nữ Việt Nam tạo nên nét đẹp và góp phần khẳng định vị thế của người phụ nữ Việt Nam trong gia đình và xã hội
1.1.2.2 Phẩm chất đạo đức mới
Phẩm chất đạo đức mới là phẩm chất đạo đức của xã hội hiện đại Nó bắt nguồn từ phẩm chất đạo đức truyền thống, được hình thành trong quá trình hiện đại hoá và phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện đại Phẩm chất đạo đức của giai cấp vô sản là phẩm chất đạo đức tiên tiến trong lịch sử đạo đức xã hội Đây là phẩm chất đạo đức đáp ứng cho sự tiến bộ của xã hội và hạnh phúc của con người Nó đối lập
và khác biệt với những phẩm chất đạo đức cũ của giai cấp bóc lột
Trong khi nhận thức yêu cầu xây dựng phẩm chất đạo đức mới của xã hội hiện đại, cần phải tích cực đấu tranh với những phẩm chất đạo đức lạc hậu, phản động đang ngăn cản quá trình phát triển lịch sử Đồng thời, khi xây dựng phẩm chất đạo đức mới chúng ta không được xem nhẹ những nhân tố tiến bộ của đạo đức nhân loại Bởi phẩm chất đạo đức của bất cứ xã hội nào cũng không thể hình thành từ hư
Trang 2016
vô mà nó phải kế thừa những thành tựu đạo đức của xã hội trước đó Phẩm chất đạo đức mới bao giờ cũng khắc phục những gì là lạc hậu, bất tương thích và kế thừa, phát triển những nét đặc sắc, giá trị đã được sáng tạo trong lịch sử nhân loại
Phẩm chất đạo đức mới là sản phẩm của quá trình xây dựng xã hội mới, mang tính nhân văn sâu sắc với tư tưởng cốt lõi: Tất cả vì con người, tôn trọng con người, thương yêu con người, giải phóng con người, tạo mọi điều kiện để con người được phát triển tự do và toàn diện trong mối quan hệ hài hoà giữa cá nhân và tập thể, cộng đồng và xã hội Phẩm chất đạo đức cộng sản gắn với sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản đó là đấu tranh xóa bỏ mọi sự khác biệt và đối kháng giai cấp, tiến tới xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đây chính là một nguồn động lực thúc đẩy sự phát triển của tiến bộ xã hội Do vậy, phẩm chất đạo đức mới
là những phẩm chất trong hành động cải tạo xã hội, khẳng định phẩm chất cao quý của người lao động trong sự nghiệp đấu tranh tự giải phóng mình
So với tất cả các phẩm chất đạo đức đã có trước đây thì phẩm chất đạo đức mới có bước phát triển về chất Điều này được biểu hiện ở tính cách mạng và khoa học của nó Tính cách mạng và khoa học của phẩm chất đạo đức mới được thể hiện
ở sự kế thừa có chọn lọc, phê phán những giá trị đạo đức trong các thời đại trước; ở chỗ nó luôn được bổ sung, phát triển cho phù hợp với yêu cầu của cách mạng trong từng giai đoạn Phẩm chất đạo đức mới tạo nên nền tảng nhân cách của con người mới Nó vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa
Như vậy, phẩm chất đạo đức mới chính là phẩm chất đạo đức trong giai đoạn xây dựng và phát triển xã hội mới hiện nay Phẩm chất đạo đức đó được thể hiện trong toàn bộ quá trình sống, lao động, sáng tạo xây dựng xã hội mới của toàn thể nhân dân, với một nửa là phụ nữ
Trang 2117
1.2 Phẩm chất đạo đức truyền thống và phẩm chất đạo đức mới nảy sinh của người phụ nữ Việt Nam
1.2.1 Phẩm chất đạo đức truyền thống của người phụ nữ Việt Nam
1.2.1.1 Cơ sở cho phẩm chất đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam
Trước khi tìm hiểu những phẩm chất đạo đức truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, không thể không bàn đến những cơ sở nền tảng đã vun đắp cho sự hình thành và phát triển các phẩm chất đạo đức truyền thống của dân tộc nói chung, các phẩm chất đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam nói riêng Đó là hoàn cảnh
xã hội Việt Nam với những điều kiện kinh tế và xã hội, văn hóa và tư tưởng đặc
thù, qua lịch sử phát triển của dân tộc
Thứ nhất, đó là cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc, giữ gìn bờ cõi quê hương của nhân dân Việt Nam
Thứ hai, là đặc trưng của nền sản xuất nhỏ, nông nghiệp lúa nước ở nước ta, với sự phát triển của kinh tế hộ gia đình và vai trò, địa vị đặc biệt của phụ nữ trong kinh tế hộ gia đình
Thứ ba, là ảnh hưởng của các tôn giáo Nho, Phật, Lão, tín ngưỡng thờ phụng
tổ tiên, các phong tục tập quán lâu đời về hôn nhân và gia đình, việc giáo dục đạo đức đối với phụ nữ Việt Nam
Chính trong điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hoá, xã hội ấy, con người Việt Nam đã hình thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp Theo GS Trần Văn Giàu, những phẩm chất đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam bao gồm: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa [7, tr.2] GS Vũ Khiêu lại cho rằng: những phẩm chất đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước; truyền thống đoàn kết; lao động cần cù và sáng tạo; tinh thần nhân đạo lòng yêu thương và quý trọng con người Kết quả nghiên cứu của Chương trình Khoa học công nghệ cấp Nhà nước: "Con người Việt Nam - và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội" (KX-07) cũng khẳng định: phẩm chất đạo đức truyền thống
Trang 2218
con người Việt Nam bao gồm: tinh thần yêu nước, vì nghĩa, lòng thương người [15, tr.6] Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị khẳng định: "Những giá trị văn hóa truyền thống vững bền của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc Đạo lý "thương người như thể thương thân", đức tính cần cù, vượt khó, sáng tạo trong lao động" [3, tr.4] Từ cách tiếp cận về đạo đức truyền thống của Đảng ta cũng như của các nhà khoa học, có thể khẳng định các phẩm chất đạo đức truyền thống cơ bản của dân tộc ta bao gồm: chủ nghĩa yêu nước; lòng thương người; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng sâu sắc; cần cù, tiết kiệm
Tất cả những phẩm chất đạo đức trên thể hiện sự gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc, là tinh thần anh dũng, kiên cường, tạo nên sức mạnh cộng đồng
để tồn tại, chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù của dân tộc Việt Nam Các giá trị đạo đức truyền thống đã thấm sâu vào đời sống tinh thần của cả dân tộc qua các thế
hệ và chính chúng đã làm nên sức mạnh Việt Nam suốt nhiều thế kỷ, tạo nên dáng vóc Việt Nam với bản sắc riêng
Phẩm chất đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam là một bộ phận hữu
cơ của truyền thống đạo đức dân tộc Lịch sử hàng nghìn năm hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam là lịch sử của quá trình đấu tranh bền bỉ, dẻo dai, “sáng chắn bão dông, chiều ngăn nắng lửa” để dựng nước và dũng cảm, kiên cường chống giặc ngoại xâm để giữ nước Trong quá trình đó, với thiên chức làm vợ, làm
mẹ, vai trò làm “nội tướng” trong gia đình và là người công dân của xã hội, người phụ nữ vừa góp phần to lớn hình thành nên các phẩm chất đạo đức của dân tộc, vừa ra sức bảo tồn, trao truyền, phát huy phẩm chất đạo đức đó qua các thế hệ Cũng từ đó, kết tinh nên những phẩm chất đạo đức truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam
1.2.1.2 Những phẩm chất đạo đức truyền thống cao đẹp của phụ nữ Việt Nam
Nói đến vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam truyền thống là nói tới những phẩm chất đạo đức “Công, dung, ngôn, hạnh” Trong lễ giáo xưa, xã hội lấy tam
Trang 2319
tòng (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử); tứ đức (công, dung, ngôn, hạnh) làm chuẩn mực để đối chiếu, đánh giá phẩm chất đạo đức của người phụ nữ Tứ đức ấy đã làm nên nét đẹp mang bản sắc riêng của người phụ nữ Tuy nhiên, ở từng hoàn cảnh cụ thể nét đẹp đó được thể hiện ở những phương diện khác nhau Có thể khái quát những phẩm chất đạo đức truyền thống tiêu biểu ở phụ
nữ Việt Nam là: Yêu nước, anh hùng, bất khuất; đảm đang; trung hậu; thủy chung, đức hy sinh cao cả
Trước hết phải nói đến tinh thần yêu nước, quyết tâm hy sinh vì nền độc lập dân tộc của phụ nữ Việt Nam Truyền thống yêu nước, anh hùng, bất khuất được
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên vị trí hàng đầu những phẩm chất đạo đức cao cả của người phụ nữ Việt Nam Trong thư gửi phụ nữ toàn quốc nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày phụ nữ Quốc tế, Bác Hồ viết: "Phụ nữ Việt Nam ta sẵn có truyền thống đấu tranh anh dũng và lao động cần cù" Tại Đại hội đại biểu Phụ nữ Việt Nam lần thứ VIII năm 1997, Tổng Bí thư Đỗ Mười cũng chỉ rõ: Truyền thống và phẩm giá của phụ nữ nước ta được hình thành qua hàng nghìn năm lịch sử Đó là lòng yêu nước, tình nhân ái, đức hy sinh, trí thông minh, tiêu biểu cho nhân cách Việt Nam
Yêu nước là tình yêu đối với đất nước, lòng trung thành với Tổ quốc; biểu hiện ở khát vọng và hành động tích cực để bảo vệ, phục vụ và đem lại lợi ích cho
Tổ quốc và nhân dân Nó trở thành một giá trị, một động lực tinh thần vô cùng mạnh mẽ thúc đẩy phụ nữ Việt Nam kiên cường, anh dũng hy sinh để giành lại và giữ gìn nền độc lập Tổ quốc Là những người hết mực yêu hòa bình, yêu tự do nên khi bờ cõi bị xâm chiếm, nhân dân bị nô lệ, người phụ nữ Việt Nam thà hy sinh tất
cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ Hình ảnh nổi bật về người phụ nữ Việt Nam cổ truyền là người chiến sĩ đấu tranh chống giặc ngoại xâm Như một nhà thơ đã viết:
“Trên đất nước nghìn năm chảy máu,
Nghìn năm người con gái vẫn cầm gươm”
Trang 2420
Những tấm gương phụ nữ yêu nước vĩ đại trong lịch sử dân tộc như Hai Bà Trưng những năm 40, 43 ở đất Mê Linh, Triệu Trinh Nương năm 248, ở Thanh Hoá đã đặt nền tảng cho truyền thống yêu nước của phụ nữ và cả dân tộc Việt Nam
Trong kháng chiến chống Mỹ, phát huy truyền thống yêu nước, phụ nữ Việt Nam đã kiên cường, anh dũng đấu tranh với kẻ thù trên các mặt trận sản xuất, chiến đấu Ở miền Bắc, chị em hăng hái tham gia các phong trào “ba đảm đang” thi đua yêu nước, đóng góp cao nhất sức người, sức của để xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương vững chắc của miền Nam Hàng chục nghìn phụ
nữ trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên các mặt trận theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Tất cả vì miền Nam ruột thịt" Ở miền Nam, chị em phụ
nữ đã đoàn kết cùng nhau đánh địch dưới mọi hình thức: đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị, binh vận, biểu tình, "Đội quân tóc dài" - một biểu tượng cách mạng độc đáo đã dũng cảm, mưu trí, linh hoạt trong đấu tranh cách mạng của phụ
nữ Việt Nam Có thể nói, phụ nữ ở hậu phương cũng như tiền tuyến đã đóng góp to lớn vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc
Truyền thống yêu nước của người phụ nữ Việt Nam luôn gắn bó chặt chẽ với lòng thương yêu và quý trọng con người, nhất là người lao động Lòng thương người của phụ nữ Việt Nam thấm đượm trong các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, làng xóm và trong cả cộng đồng dân tộc
Đảm đang là phẩm chất đạo đức truyền thống nổi bật của phụ nữ Việt Nam
Chính vai trò của người phụ nữ trong gia đình, xã hội khiến người phụ nữ đảm đang gánh vác công việc gia đình và công việc xã hội với đầy đủ lòng tự trọng và ý thức trách nhiệm
Giá trị nổi bật của truyền thống đảm đang của phụ nữ Việt Nam là chu toàn công việc gia đình và công việc xã hội Có quan niệm cho rằng: trong xã hội truyền thống, địa vị xã hội của người phụ nữ không được đề cao nên họ chỉ lo công việc
Trang 2521
gia đình, họ tộc mà thôi Điều đó hoàn toàn không đúng với thực tiễn của lịch sử Việt Nam Bởi từ xã hội cổ truyền cho đến ngày nay, ở mức độ khác nhau, phụ nữ Việt Nam đều tham gia vào hầu hết các công việc của gia đình và xã hội Ở vai trò nào, công việc nào người phụ nữ Việt Nam cũng hoàn thành xuất sắc trọng trách của mình Vì vậy, ở họ ta hình dung ra ba con người khác nhau, nhưng thống nhất với nhau: Người lao động, Người nội trợ và Người chiến sĩ Bên cạnh đó, tuy không đậm nét, nhưng ở người phụ nữ Việt Nam còn ẩn chứa những hình ảnh khác
- Người nghệ sĩ, Nhà chính trị… Tất cả đó chính là sự phản chiếu vai trò cao cả, không thể thiếu của phụ nữ Việt Nam trong gia đình và xã hội, thể hiện rõ nét sự đảm đang của họ
Trong gia đình, người phụ nữ thực hiện thiên chức làm vợ; làm mẹ; làm con
dâu; làm nội tướng chợ búa, bếp núc; thu chi trong kinh tế gia đình; lao động sản xuất đóng góp vào nguồn thu của gia đình Sự đảm đang trong gia đình là sự thể hiện rõ nét vẻ đẹp của người phụ nữ ở phương diện “công” trong quan niệm về Tứ đức của cha ông ta “Công” ở đây là sự khéo léo của người phụ nữ trong việc chăm
lo cho hạnh phúc gia đình, nữ công gia chánh và thực hiện thiên chức làm vợ, làm
mẹ cao cả
Với thiên chức làm vợ, khi nam giới thường xuyên phải vắng nhà vì bị huy động đi phu, đi lính thì phụ nữ đã thay chồng gánh vác, chu toàn mọi việc trong nhà và cộng đồng Làm đẹp, làm sang cho chồng cũng là thái độ ứng xử văn hóa của người phụ nữ đối với người chồng Để giữ gìn quan hệ xã hội của chồng, người phụ
nữ không chỉ ân cần, niềm nở mà còn chu đáo trong việc tiếp đãi khách Tục ngữ Việt Nam xưa có câu “giàu vì bạn, sang vì vợ”, lối hành xử ấy của người vợ không chỉ nết na mà còn rất thông minh, tinh tế, đối ngoại “đẹp” là để đối nội “tốt” trong quan hệ vợ chồng Phụ nữ Việt Nam có truyền thống đứng đằng sau hậu thuẫn, hỗ trợ cho chồng
Trang 2622
Thiên chức làm mẹ của người phụ nữ Việt Nam không chỉ dừng lại ở việc thực hiện chức năng “mang nặng đẻ đau” mà còn thể hiện rõ nét trong việc nuôi dạy con cái Hình ảnh người mẹ với những lời dạy có ảnh hưởng lâu bền đối với quá trình phát triển của con cái Đặc biệt là trong lĩnh vực thẩm mỹ, văn hóa gia đình, vai trò của người mẹ chiếm ưu thế tuyệt đối Ngay từ giây phút bắt đầu hình thành trong bụng mẹ, những bào thai đã gắn kết chặt chẽ với mẹ, đã sống bằng sự nuôi dưỡng của mẹ Khi mới chào đời, đứa trẻ có quan hệ đầu tiên với xã hội chính
là quan hệ với người mẹ Mẹ là mẫu hình đầu tiên và suốt đời cho đứa trẻ tiếp nhận
và noi theo Mẹ là người nâng giấc chăm bẵm cho con lớn khôn, là người thầy đầu tiên dạy con làm người, trực tiếp trao truyền văn hóa cho con, cùng với người cha
và những thành viên khác rèn cặp con theo nền nếp gia đình Từng bước chân của con trên đường đời đều có mẹ theo sát nâng đỡ, bảo ban, dạy dỗ đúng sai, phải trái, trao cho con cái đạo làm người
Sự đảm đang của người phụ nữ Việt Nam cũng được biết đến bằng việc lo toan cho gia đình chồng Gia đình hạt nhân trong xã hội cổ truyền không tách rời gia đình mở rộng, gia đình lớn, nên đối với người phụ nữ, vai trò làm vợ còn đồng nghĩa với vai trò làm dâu trong gia đình Trong gia đình Việt Nam, người con dâu
có vị trí hết sức quan trọng, nên cha ông ta cho rằng: “Chọn được con dâu sâu con mắt”, “Con gái là con người ta, con dâu mới thật (con) mẹ cha mua về” Họ là cầu nối giữa các thế hệ trong gia đình: cha mẹ chồng với chồng và với các con cái của mình theo quan hệ chiều dọc Đồng thời cũng là gạch nối giữa anh em, họ hàng của chồng với chồng và gia đình mình theo quan hệ chiều ngang, nên nhiều gia đình sợ gặp phải “dâu dữ mất họ” Vì vậy, với vai trò trung tâm tình cảm gia đình, người phụ nữ đối với cha mẹ chồng hiếu thảo, tôn kính, đối với anh chị em chồng nhường nhịn, hòa đồng
Bằng sự khéo léo, người phụ nữ đảm đang còn biết cách tổ chức tốt cuộc sống tinh thần trong gia đình thông qua những bữa cơm, những cuộc sinh hoạt đại
Trang 2723
gia đình, sự thăm hỏi đối với họ hàng, làng xóm, ông bà , anh em… tạo nên sự gắn kết các thành viên trong gia đình Phụ nữ còn là người làm cân bằng tình cảm trong các mối quan hệ gia đình họ tộc, trở thành nhân tố có vai trò quyết định tạo nên tổ
ấm gia đình “đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm” Nhà nghiên cứu Từ Chi và hai học giả Pháp là M.Durand và P.Huard đã đưa ra công thức nổi tiếng về gia đình người Việt: người chồng “trị vì”, người vợ “cai quản” Vai trò “cai quản” - đảm đang của người phụ nữ còn được thể hiện trong hoạt động sản xuất, xây dựng kinh
tế của gia đình
Như vậy, trong gia đình Việt, người phụ nữ tựa như sợi dây yêu thương, mềm mại mà bền chặt níu giữ, gắn kết mọi thành viên trong gia đình Với vị trí đó, phụ nữ có vai trò, ảnh hưởng đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá, giá trị đạo đức trong mỗi gia đình
Ngoài xã hội, phụ nữ là nguồn lực cơ bản của xã hội Họ là người chiến sĩ
cách mạng, người công dân, người lao động, người quản lí xã hội, người nghệ sĩ
Khi đất nước có chiến tranh, phụ nữ Việt Nam với phương châm: “giặc đến nhà đàn bà phải đánh” là người chiến sĩ cách mạng kiên cường cả trên mặt trận sản xuất và chiến đấu, góp phần quan trọng trong chiến thắng độc lập dân tộc và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ
Phụ nữ Việt Nam tích cực tham gia vào lao động sản xuất góp phần tạo nên của cải vật chất, ổn định và phát triển của kinh tế xã hội Họ là nguồn nhân lực chính trong sản xuất của cải xã hội Chính trong hoàn cảnh lao động sản xuất ấy đã hình thành nên những đức tính đáng trân trọng ở người phụ nữ Việt Nam: cần cù, chịu thương, chịu khó, nhẫn nại, tiết kiệm…
Phụ nữ Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám còn đảm nhiệm cả những công việc tổ chức, quản lí xã hội Tiếp bước các nữ anh hùng dân tộc là các thế hệ phụ
nữ chiến sĩ cách mạng như Nguyễn Thị Minh Khai - lãnh tụ đầu tiên của phong trào phụ nữ sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập; Hoàng Ngân - Bí
Trang 2824
thư đoàn phụ nữ cứu quốc Bắc Bộ; trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước là các bà Nguyễn Thị Thập, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Thị Bình và còn nhiều phụ nữ khác tham gia hoạt động chính trị xã hội vì sự tồn vong và phát triển của dân tộc
Phụ nữ Việt Nam cũng là những nhà văn, nhà thơ, nhà nghệ thuật đầy trách nhiệm với cộng đồng xã hội Họ đã dùng ngòi bút sắc sảo của mình để tố cáo, lên
án chiến tranh, đấu chống lại lễ giáo và đạo đức phong kiến, bảo vệ quyền sống, quyền được hạnh phúc của con người như nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương,
Lê Ngọc Hân… Họ cũng là người khai sinh, xây dựng một số loại hình nghệ thuật dân tộc, như bà Phạm Thị Trân - bà tổ nghề chèo thời vua Đinh (thế kỷ X) Và ngày nay, rất nhiều nữ nhà văn, nữ hoạ sĩ, nữ nghệ sĩ, nữ khoa học gia, nữ giáo viên tài giỏi đã và đang đóng góp vào sự phát triển của nền văn hoá-khoa học-giáo dục của nước nhà
Trung hậu là một phẩm chất đạo đức truyền thống nổi trội của phụ nữ Việt Nam Nó có gốc rễ, bắt nguồn từ quan niệm về vẻ đẹp “ngôn, hạnh” trong Tứ đức
của người phụ nữ “Hạnh” là sự thể hiện phẩm chất đạo đức của người phụ nữ: vị tha, độ lượng, nhân ái, yêu chồng, thương con Chính nó đã làm nên nét đẹp riêng của người phụ nữ Việt Nam
Phụ nữ Việt Nam biết đoàn kết xóm làng: láng giềng sớm tối có nhau, giúp
đỡ lẫn nhau, thể hiện lòng nhân hậu, “thương người như thể thương thân”, “một miếng khi đói bằng gói khi no” Họ là người giàu tình yêu thương, sẵn sàng cưu mang, giúp đỡ người khác trên cơ sở đồng cảm; không thờ ơ, bàng quan, vô cảm trước bất hạnh của người khác; không vì quyền lợi cá nhân mà làm hại người khác
Phụ nữ Việt Nam hy sinh lợi ích cá nhân vì hạnh phúc của gia đình, con cái
Họ là những người có lòng yêu thương chồng con hết mực Hình ảnh những người
mẹ Việt Nam tần tảo sớm khuya, nhịn ăn, nhịn mặc để nuôi nấng, chăm sóc cho con cái đã trở thành những biểu tượng đẹp Từ những lời ru, tiếng nói hàng ngày, đến những câu chuyện cổ tích phản ánh cuộc sống và tâm hồn người Việt đưa con
Trang 29Phụ nữ Việt Nam dịu dàng, khéo léo, giao tiếp khoan thai, mềm mỏng, nết
na, kính trên, nhường dưới Học thuyết “Tứ đức”: công, dung, ngôn, hạnh là tiêu chí rèn luyện bản thân của người phụ nữ để họ có được gia đình thuận hòa, trong
ấm, ngoài êm Đó cũng chính là nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam truyền thống
Những phẩm chất đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam: Yêu nước, anh hùng; đảm đang; trung hậu; thủy chung, đức hy sinh cao cả là giá trị đạo đức
vô giá Những nét đẹp này đã tạo nên ấn tượng đẹp đẽ về người phụ nữ Việt Nam Ông John Barrow, hội viên Hội Hoàng gia Anh, cả vị cố đạo người Italia Cristoforo Borri sống ở Việt Nam từ 1618 đến 1621, trong bài “Kí sự Đàng Trong”, đăng trên “Đông Dương tạp chí” số 4/1909, cũng không thể không ca ngợi phụ nữ Việt: “Tính khí êm dịu hơn bất cứ dân tộc nào khác ở Phương Đông”
1.2.1.3 Một số hạn chế trong đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam
Người phụ nữ Việt Nam xưa chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thuyết “tam tòng” và “tứ đức” của Nho giáo Thuyết Tam tòng đã góp phần củng cố địa vị bất bình đẳng của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội thời phong kiến và còn ảnh hưởng nặng nề đến ngày nay Nó làm cho người phụ nữ Việt Nam truyền thống rơi vào thụ động, lệ thuộc vào nam giới, thiếu chí tiến thủ; an phận, không có chính kiến Quan niệm “tứ đức” trước đây bó hẹp trách nhiệm của phụ nữ trong gia đình, không nói đến sự tham gia của họ ngoài cộng đồng xã hội Người phụ nữ lao động chân tay vất vả, ít kiến thức, ít được học tập, ít tham gia công việc xã hội Đó là
Trang 30ti, thái độ cam chịu và thụ động
Không được đến trường, không được tham gia các hoạt động xã hội, người phụ nữ Việt Nam truyền thống bị kìm hãm mở mang trí tuệ, bị hạn chế rất nhiều khả năng cống hiến của họ đối với xã hội Những tư tưởng hạn chế này cũng trở thành một trở lực nặng nề và khó vượt bỏ trên con đường giải phóng phụ nữ
Như vậy, đạo đức truyền thống phụ nữ Việt Nam có nhiều phẩm chất tốt đẹp nhưng cũng có nhiều hạn chế Những người phụ nữ Việt Nam hiện đại mang trong mình cả những truyền thống tốt đẹp và những hạn chế của lịch sử không thể xoá bỏ ngày một ngày hai Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta cần biết phát huy những phẩm chất đạo đức tốt đẹp: Yêu nước, anh hùng, bất khuất; đảm đang; trung hậu; thủy chung, đức hy sinh cao cả, đồng thời loại bỏ những phẩm chất còn hạn chế: tự ti, thái
độ cam chịu và thụ động, tính toán thiển cận, thái độ hẹp hòi, mê tín dị đoan, sự hiểu biết hạn hẹp, thiếu khoa học để phụ nữ Việt Nam xứng đáng là người “giữ ngọn lửa ấm” trong mỗi gia đình, đồng thời góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước
Đặc biệt, chúng ta cũng cần phát triển, bổ sung những phẩm chất mới làm phong phú và bền vững thêm các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Chính sự kết hợp hài hoà những phẩm chất tinh hoa truyền thống và những phẩm chất hiện đại, văn minh sẽ tạo nên giá trị và vẻ đẹp đích thực và hiện đại của người phụ nữ Việt Nam
Trang 3127
1.2.2 Phẩm chất đạo đức mới nảy sinh của người phụ nữ Việt Nam
Mỗi thời đại luôn đặt ra những yêu cầu, chuẩn mực phẩm chất đạo đức của người phụ nữ thời đại đó Bởi vì, xã hội luôn nhận thức sâu sắc về tầm ảnh hưởng của phụ nữ đối với việc xây dựng nền tảng văn hóa gia đình, hình thành nhân cách của các thế hệ tương lai, góp phần xây dựng nên nền tảng văn hóa của xã hội Trước đây, thuyết “Tam tòng, tứ đức” được đề cao coi như mô hình đạo đức lý tưởng mà người phụ nữ Việt Nam truyền thống phải học tập và làm theo Đây vừa
là cái đích hướng đến, vừa là thước đo, tiêu chí để khẳng định giá trị của người phụ
nữ trong thời phong kiến Trong giai đoạn hiện nay, hơn mọi thời đại trước, người phụ nữ được thừa nhận địa vị bình đẳng và được tạo nhiều điều kiện để phát triển mọi mặt nhưng cũng phải gánh trên vai nhiều trách nhiệm và áp lực Vì lẽ đó, người phụ nữ Việt Nam ngoài việc trau dồi đạo đức truyền thống còn phải rèn luyện thêm những phẩm chất đạo đức mới để vừa thực hiện thiên chức của mình vừa đáp ứng yêu cầu của thời kì CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế Độc lập, tự chủ; Tự tin; Năng động, sáng tạo; Có kỹ năng sống là những phẩm chất đạo đức mới cần có ở người phụ nữ Việt Nam hiện đại Đây là những phẩm chất đạo đức khẳng định được vị thế của chị em trong gia đình, cộng đồng và xã hội trong giai đoạn hiện nay
Những phẩm chất đạo đức mới này giúp người phụ nữ nắm bắt cơ hội, tận dụng những yếu tố tích cực, tránh những tác động tiêu cực của thời kì CNH, HĐH
và hội nhập, vượt qua những thách thức khó khăn để trở thành người phụ nữ thành công trong cuộc sống và sự nghiệp Đó cũng là điều kiện đem lại giá trị đích thực cho người phụ nữ, hướng người phụ nữ sống thiện, sống đẹp, sống có ích giúp cho phụ nữ ngày càng nâng cao vai trò, vị trí của mình trong xã hội hiện đại
Đối với mỗi gia đình, các phẩm chất đạo đức mới nêu trên giúp người phụ
nữ thực hiện tốt vai trò của người vợ đảm, người mẹ hiền Từ đó, nó tác động tích
Trang 32Phẩm chất độc lập, tự chủ
Nếu như trước đây, người phụ nữ hoàn toàn lệ thuộc vào nam giới, thụ động núp sau cái bóng của chồng con thì nay, khi xã hội càng hiện đại văn minh thì ngày nay vị trí, vai trò của phụ nữ ngày càng được đề cao Tài năng, năng lực của họ được khẳng định và sự phân biệt giới tính càng bị thu hẹp lại Người phụ nữ độc lập, tự chủ là người có thể vượt lên bản thân mình để trở thành chỗ dựa cho chính mình Họ đi trên chính đôi chân của mình, không dựa dẫm, lệ thuộc, không là cây tầm gửi của một ai cả Họ có khả năng giải quyết tốt các vấn đề của bản thân, đảm bảo cho mình có được cuộc sống ổn định
Người phụ nữ độc lập, tự chủ trên hai phương diện: Tài chính và tinh thần Điều đầu tiên là phụ nữ phải độc lập về tài chính, nghĩa là có thể tự đảm bảo cuộc sống của mình Bởi vì, có độc lập được về tài chính thì người phụ nữ không biến mình thành cây tầm gửi, thành nô lệ cho người khác Điều thứ hai, nhưng là điều cốt yếu và khó khăn nhất, đó là phụ nữ độc lập thì không lệ thuộc về tinh thần Nghĩa là, họ có khả năng tư duy độc lập và tự đưa ra các quyết định Tự chủ lựa chọn tình yêu, hôn nhân, lựa chọn sự nghiệp, tự chủ trong việc giao du với ai, tiêu khiển thế nào, định hướng cho cuộc sống của mình ra sao Sự độc lập, tự chủ về mặt tinh thần giúp cho người phụ nữ có chính kiến riêng, không phải che dấu mình, sống trái với mong muốn của mình để chiều lòng người khác hay làm cái bóng mờ nhạt núp sau ai đó Họ có năng lực và sức mạnh tự quyết định cuộc sống của chính mình
Trang 3329
Đức tính độc lập còn là năng lực hoàn thiện bản thân, là sự tự chủ, kiên định
và khả năng tự bảo vệ các giá trị cuộc sống của chính mình Phụ nữ độc lập bao giờ cũng là người có uy, có tiếng nói riêng và luôn được đánh giá rất cao Họ có đủ năng lượng để lo cho bản thân, cống hiến cho gia đình, cho sự nghiệp
Phẩm chất đạo đức độc lập, tự chủ khiến cho người phụ nữ nhận biết được giá trị đích thực của bản thân, làm cho họ mạnh mẽ hơn, quyết đoán hơn, vượt qua được những chông gai, thử thách của cuộc sống để được sống theo đúng mong muốn của mình Cuộc sống hiện nay tạo ra những điều kiện thuận lợi cũng đồng thời đặt ra không ít những thử thách cho người phụ nữ Bởi vậy, họ phải độc lập, tự chủ để nắm bắt thời cơ, cơ hội và khẳng định được mình Có như vậy, nữ giới Việt mới khẳng định được vị thế, vai trò của cá nhân trong gia đình và xã hội, thực hiện bình đẳng giới, đóng góp nhiều hơn cho sự nghiệp phát triển đất nước và tiến bộ của xã hội
Để có phẩm chất độc lập, tự chủ, người phụ nữ phải trau dồi tri thức nghề nghiệp, biết bảo vệ sức khoẻ cho bản thân và gia đình, cộng đồng, có kỹ năng sống
Độc lập, tự chủ là phẩm chất đạo đức mới cốt lõi của người phụ nữ Việt Nam hiện nay, khi chúng ta đang phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ
Nó đem lại giá trị đích thực cho người phụ nữ
Phẩm chất tự tin
Người phụ nữ tự tin là người luôn tin tưởng vào năng lực bản thân, có chí tiến thủ, tự đánh giá mặt mạnh, mặt yếu của mình Từ đó, đặt cho mình mục tiêu để phấn đấu vươn lên, rèn luyện bản lĩnh, nghị lực, không ngại khó, ngại khổ, vượt mọi hoàn cảnh khó khăn, khắc phục tâm lí tự ti để đạt mục tiêu ấy
Phẩm chất đạo đức tự tin của người phụ nữ thể hiện rõ nét trong công việc, trong cuộc sống, trong giao tiếp hằng ngày Trong công việc, người phụ nữ tự tin là người tự lực, năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; sẵn sàng nhận
Trang 3430
nhiệm vụ; khi đã nhận thì cố gắng hoàn thành tốt Trong cuộc sống, tự tin giúp phụ
nữ Việt Nam chủ động, bình tĩnh xử lí mọi tình huống Trong giao tiếp, ứng xử, tự tin khiến phụ nữ có thái độ bình tĩnh, chủ động; mạnh dạn bày tỏ quan điểm, chính kiến; dũng cảm bảo vệ lẽ phải; có phong thái chững chạc, đường hoàng
Lâu nay, một bộ phận không nhỏ phụ nữ Việt, nhất là phụ nữ ở vùng nông thôn vẫn còn mang nặng tư tưởng mặc cảm, tự ti, không tin vào chính khả năng của bản thân mình Chính điều đó đã làm hạn chế sự phấn đấu vươn lên của chị em; là một trong những yếu tố cản trở phụ nữ tham gia vào các hoạt động xã hội; tham gia vào công tác quản lý, lãnh đạo, nhất là trong lĩnh vực chính trị Nhiều nam giới cũng phàn nàn “Chính phụ nữ cũng góp phần tạo ra bất bình đẳng giới”
Vì vậy, người phụ nữ tự tin, trước hết phải có đủ bản lĩnh để chiến thắng “nỗi sợ hãi”
do chính mình tưởng tượng ra, phải biết vượt lên chính mình
Trong giai đoạn hiện nay, phẩm chất đạo đức tự tin của người phụ nữ rất quan trọng Người phụ nữ cần có sự tự tin để đáp ứng yêu cầu của thời kì CNH, HĐH, phát triển và hội nhập Tự tin giúp phụ nữ có tính quyết đoán, tự chủ trong công việc;
tự quyết định những vấn đề có liên quan đến bản thân và gia đình mình; không dựa dẫm, phụ thuộc vào người khác Một phụ nữ “tự tin” là người biết phát huy các giá trị của bản thân, biết được điểm mạnh của mình để phát huy và biết được điểm yếu để khắc phục Đây cũng là yếu tố để phụ nữ vươn lên thực hiện bình đẳng trong việc tham gia vào quá trình quyết định trong gia đình cũng như ở cơ quan, đơn vị Nếu thiếu tự tin, phụ nữ dễ rơi vào thụ động, thiếu chí tiến thủ; an phận, không có chính kiến Nhìn một cách tổng thể, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang đòi hỏi đào tạo nguồn nhân lực nữ có trình độ cao, biết ứng dụng các công nghệ mới vào sản xuất Trong điều kiện đó, nếu thiếu sự tự tin vào bản thân, vào những điều kiện cần và đủ để có thể đáp ứng yêu cầu của công việc, của cuộc sống, người phụ nữ sẽ không thể hội nhập; sẽ làm mất đi những cơ hội thay đổi, thăng tiến, cải thiện cuộc sống của mình Sự tự tin giúp người phụ nữ tiếp cận với những thông tin, tri thức,
Trang 3531
cách suy nghĩ hiện đại, cải thiện được suy nghĩ bảo thủ, trì trệ Ngày nay, trong điều kiện cơ giới hoá, tự động hoá và bùng nổ mạng lưới thông tin đòi hỏi người phụ nữ phải tự tin, nhạy bén, dám nghĩ, dám làm trên cơ sở kiến thức khoa học Có như thế, họ mới có thể tiếp cận ngày càng gần hơn với cơ hội bình đẳng và phát triển, làm giàu cho gia đình, xã hội, góp phần vào mục tiêu chung của đất nước: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Bên cạnh đó, trong thời kì CNH, HĐH, người phụ nữ có rất nhiều điều
kiện thuận lợi để hình thành và nuôi dưỡng sự tự tin Trước hết, toàn cầu hóa đã
tạo điều kiện cho phụ nữ được tiếp cận, giao lưu với nền văn hóa toàn cầu, được tiếp xúc với những phẩm chất tự tin, cởi mở; giao tiếp, kỹ năng, văn hóa lao động công nghiệp… của phụ nữ ở nhiều nước trên thế giới, qua đó tiếp thu, bồi bổ, làm giàu thêm những phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam Bên cạnh đó, toàn cầu hóa về kinh tế đã tạo ra nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, tăng thu nhập, giúp phụ
nữ trở thành người chủ thực sự về kinh tế trong gia đình, đóng góp kinh tế cho
xã hội Người phụ nữ đã có tiếng nói, có quyền tham gia vào việc ra quyết định
và thể hiện được trách nhiệm chia sẻ trong việc thực hiện các chức năng của gia đình, góp phần quan trọng thúc đẩy bình đẳng giới ngày càng hiệu quả hơn Tự tin, cố gắng vươn lên với tinh thần tự khẳng định địa vị của phụ nữ sẽ giúp chị em
có thể đóng góp nhiều nhất trong khả năng của mình cho xã hội, cho tương lai
Để có sự tự tin, trước hết, phụ nữ Việt Nam phải vượt lên chính mình để không ngừng phấn đấu, học tập tiếp thu tri thức, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghề nghiệp nhằm hoàn thành tốt công việc và khẳng định vị thế của mình trong xã hội Hơn nữa, bản thân người phụ nữ phải tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc; tự ý thức học hỏi, bồi dưỡng trí tuệ, tích lũy tri thức, vượt ra khỏi định kiến giới, dám nghĩ, dám làm, tin vào khả năng thành công của mình Bởi vì CNH, HĐH đất nước gắn với kinh tế tri thức luôn đòi hỏi người lao động phải quan tâm hàng đầu về phẩm chất trí tuệ Bên cạnh đó, người phụ nữ
Trang 3632
không nên quên rằng, trong mọi thời đại, sức khỏe và vẻ đẹp luôn là những thành
tố quan trọng làm nên giá trị của mỗi con người
Phẩm chất năng động, sáng tạo
Cần cù, chịu khó, tôn trọng kỷ luật, có nguyên tắc vốn là đức tính đáng quý của người phụ nữ Việt Nam, nhưng chưa đủ với thời đại mới Xã hội Việt Nam đang biến đổi từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp và xã hội tri thức Nhờ thông tin điện tử, thương mại điện tử, nền kinh tế của từng nước đang vượt giới hạn quốc gia và hình thành hệ thống kinh tế toàn cầu Những ngành đông lao động nữ như các ngành nông nghiệp, thủy hải sản, công nghiệp may mặc, dịch vụ đang từng bước đi vào hệ thống kinh tế quốc tế Khi trong nước và trên thế giới tình hình luôn biến động, xuất hiện những tình huống mới, do đó phụ nữ Việt cần năng động, sáng tạo, có cách suy nghĩ, giải quyết công việc khác trước, không theo nếp sống cũ, kinh nghiệm cũ để phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của thời đại
Năng động và sáng tạo khiến phụ nữ hiện đại trở nên độc đáo và tự tin, thể hiện phong cách hiện đại, chuyên nghiệp hơn Người phụ nữ năng động thường tỏa
ra xung quanh mình nhiệt huyết để làm việc Họ biết cách lập kế hoạch khoa học cho bản thân, kèm theo là tâm trạng hứng khởi, sẵn sàng để bước vào các cuộc thử nghiệm Khi này, phụ nữ sẽ có sự tập trung cao độ vào công việc và luôn có trách nhiệm cố gắng thực hiện bằng được nó một cách hoàn hảo nhất Phẩm chất năng động giúp phụ nữ Việt hoạt động tích cực, chủ động, dám nghĩ dám làm, có ý thức trách nhiệm và biết khắc phục khó khăn, biết nắm bắt thời cơ để thực hiện công việc một cách tốt nhất Họ biết khắc phục lối sống thụ động, trông chờ, biết thể hiện là người nhanh nhẹn, tháo vát, luôn đặt ra cho mình mục tiêu để phấn đấu vươn lên Năng động giúp người phụ nữ thích ứng được mọi môi trường sống, thu được những kết quả bất ngờ, mới lạ
Phẩm chất sáng tạo giúp cho phụ nữ Việt có những suy nghĩ, lập luận, tìm tòi cái mới và áp dụng được vào trong công việc xã hội cũng như công việc gia
Trang 37Phẩm chất năng động, sáng tạo luôn bổ sung cho nhau Chúng giúp cho phụ
nữ Việt biết cách đạt được mục đích một cách hiệu quả nhất Sự kết hợp bền chặt giữa yêu cầu vận động trí óc, lòng nhiệt huyết và sự tìm tòi tri thức để giải quyết những vấn đề khó khăn đã thúc đẩy tính sáng tạo cao độ, đưa tới kết quả là sự ra đời một luồng gió đổi mới, đem lại những hiệu quả xuất sắc
Ngày nay, nền kinh tế thị trường hoạt động dựa trên nguyên lý cạnh tranh,
hệ giá trị tôn trọng tự do và mục đích tìm kiếm lợi nhuận Để những điều này vận hành hợp lý, nó thúc đẩy con người triển khai tối đa năng lực sáng tạo của mình Năng động, sáng tạo thúc đẩy sự thay đổi của xã hội loài người theo hướng ngày càng tiến bộ hơn Năng động, sáng tạo là động lực thúc đẩy sự phát triển của lịch
sử Như ông Hannau Kokko - Cố vấn trưởng Dự án Đối tác Đổi mới - Sáng tạo (IPP), Phần Lan trao đổi: các quốc gia không thể phát triển được nếu không có hệ thống đổi mới - sáng tạo Nếu thiếu tầng lớp sáng tạo, một quốc gia có thể duy trì
sự “tăng trưởng” trong một giai đoạn không dài, nhưng không thể tạo ra sự “phát triển” Phái nữ nước ta cũng là một lực lượng chủ chốt tạo ra các giá trị mới cho nền kinh tế, văn hoá, giáo dục và chính trị của một quốc gia, là nguồn lực để một dân tộc có thể tiến hoá đột biến Trước đây, giá trị của phụ nữ là hy sinh hết lòng cho chồng con, gia đình Ngày nay, phụ nữ đã biết sống cho bản thân nhiều hơn, thể hiện được vai trò, vị thế ngoài xã hội nhiều hơn Để đáp ứng với yêu cầu của
Trang 3834
cuộc sống hiện đại, nữ giới phải tự mình phá tung thói quen, nếp sống thụ động, ỉ lại Mỗi người phụ nữ tạo ra bản lĩnh riêng, từ trí tuệ được nâng cao, nhạy bén và năng động, cùng với vẻ đẹp nhẹ nhàng, sâu sắc tỏa ra từ tấm lòng nhân hậu của họ Chính sự năng động, sáng tạo này giúp phụ nữ Việt dễ dàng thực hiện mục tiêu, khẳng định được giá trị bản thân, khiến hình ảnh của họ trở nên sống động, hấp dẫn, được mọi người ngưỡng mộ nhiều hơn
Để trở thành người phụ nữ năng động, sáng tạo ngoài tư chất cá nhân, mỗi người cần trang bị cho mình đầy đủ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, bản lĩnh, chủ động, tự tin trong giải quyết mọi tình huống
Kỹ năng sống
Trong xã hội hiện đại, tốc độ vận động của cuộc sống ngày càng được đẩy nhanh, đòi hỏi người phụ nữ phải tích lũy được nhiều kỹ năng ứng phó, nhất là kỹ năng sống với các phương diện cụ thể: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng học tập, kỹ năng làm việc, kỹ năng chăm sóc, nuôi dạy con cái, kỹ năng nội trợ, kỹ năng làm đẹp,
kỹ năng quản lý và đồng thời cũng rất cần quan tâm đến kỹ năng làm vợ
Trong bối cảnh hiện nay, việc thực hiện chức năng “kép” của phụ nữ càng khó khăn hơn bởi gia đình Việt Nam đang bị tác động rất nhiều yếu tố thuận chiều, nghịch chiều Trong khi, tính chất công việc đòi hỏi phụ nữ phải dành nhiều thời gian, tâm sức cho công việc sản xuất, kinh doanh, lao động chuyên môn… Do vậy, tình trạng ngày càng ít thời gian dành cho gia đình đã gây khó khăn cho phụ nữ trong việc thực hiện chức năng gia đình Để đảm bảo cho sự hài hòa việc nhà, việc nước, giữ được thế cân bằng trong hạnh phúc gia đình thì có kĩ năng sống chính là lời giải mà người phụ nữ thời CNH, HĐH cần phải tìm được cho bài toán hạnh phúc của chính bản thân và gia đình Nó giúp cho nữ giới luôn chủ động, có kế hoạch rõ ràng, không bị lúng túng trong mọi công việc, trong mọi hoàn cảnh, tình huống đặt ra
Trang 3935
Những phẩm chất đạo đức mới của người phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay có mối quan hệ mật thiết, bổ sung, không tách rời nhau Phẩm chất đạo đức này là tiền đề, điều kiện, cơ sở, kết quả của phẩm chất kia và ngược lại Để
có được sự độc lập, tự chủ, phụ nữ cần phải tự tin, năng động, sáng tạo và có kỹ năng sống Có tự tin, năng động, sáng tạo mới có đủ bản lĩnh thể hiện sự độc lập, tự chủ
Sự hình thành các phẩm chất đạo đức mới: độc lập, tự chủ; tự tin; năng động, sáng tạo; có kỹ năng sống là bước phát triển mới từ nền tảng phẩm chất đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam, của phụ nữ Việt Nam trong quá khứ Nó là
sự tiếp nhận các yếu tố hiện đại và hướng tới tương lai để phát huy những giá trị tư tưởng, tinh hoa tốt đẹp của dân tộc trong thời đại mới Những phẩm chất đạo đức mới này giúp nữ giới Việt đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH đất nước, vượt qua những thách thức của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập, đem lại giá trị đích thực cho người phụ nữ của thời đại mới
1.3 Sự cần thiết phải xây dựng phẩm chất đạo đức mới của phụ nữ Việt Nam hiện nay
Sức mạnh bảo thủ của những quan niệm truyền thống về phẩm chất đạo đức của phụ nữ cùng mặt hạn chế của nó đã, đang kìm hãm sự đổi mới Thậm chí, nó không cho phép chính bản thân người phụ nữ và xã hội thoát khỏi lối mòn trong nhận thức, tư duy và hành động, đặc biệt, khi mà những quan niệm đó đã trở thành khuôn mẫu về đạo đức người phụ nữ trong hàng nghìn năm qua và gắn bó máu thịt với lối sống của phụ nữ Việt Nam
Cùng với sự giải phóng phụ nữ, với địa vị xã hội bình đẳng, với vai trò và vị thế ngày càng quan trọng của phụ nữ trong xã hội hiện đại, một số phẩm chất đạo đức cũ của người phụ nữ Việt Nam đã không còn phù hợp với sự phát triển của xã hội, không đáp ứng được nhu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế Học thuyết “Tam tòng, tứ đức” làm nảy sinh và nuôi dưỡng thái độ tự ti, an phận, thụ
Trang 4036
động, cam chịu hằn sâu vào tiềm thức của người phụ nữ Họ nhầm tưởng và cho rằng đó là biểu hiện của “nữ tính” nhưng đó thực sự trở thành vật cản của tiến bộ phụ nữ Đồng thời, trong xã hội hiện đại ngày nay vẫn còn rất nhiều những quan niệm cổ hủ, lạc hậu, tư tưởng trọng nam khinh nữ hằng ngày chi phối đời sống của con người Việt Nam Vì vậy, việc xây dựng những phẩm chất đạo đức của người phụ nữ mới là điều tất yếu
Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay ở nước ta có những biểu hiện của sự xa rời những chuẩn mực đạo đức truyền thống, những chuẩn mực vẫn còn giá trị trong
xã hội hiện đại Một khi những chuẩn mực đó không được giữ vững như là định hướng trong họat động của con người thì sự suy thoái là điều không tránh khỏi Sự phát triển nhanh chóng và nhiều mặt của thế giới ngày nay và nền kinh tế thị trường đang tác động trực tiếp đến mọi quốc gia, đã và đang làm chao đảo nhiều giá trị tinh thần nói chung và giá trị đạo đức nói riêng, vốn được xem là truyền thống đạo đức của các dân tộc và của toàn thể nhân loại Đối với Việt Nam, từ khi chúng ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, bên cạnh rất nhiều cái được, đã xuất hiện những cách sống và lối sống xa lạ, trái với các chuẩn mực của xã hội, bất chấp những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc Không ít phẩm chất đạo đức tốt đẹp của người phụ nữ đã bị xói mòn, suy giảm nghiêm trọng Chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền, tệ nạn xã hội, tệ tham nhũng, buôn lậu có chiều hướng phát triển Sự suy giảm giá trị, phẩm chất đạo đức nữ giới thực sự trở thành một trong những vấn đề nổi cộm trong đời sống xã hội ta hiện nay Vì vậy, việc giữ vững định hướng giá trị tinh thần, xây dựng phẩm chất đạo đức trong thực tiễn xây dựng đất nước, cũng như trong họat động thực tiễn đạo đức
là yêu cầu cấp thiết để góp phần ngăn chặn nguy cơ suy thoái đạo đức, lối sống người phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa
Truyền thống có thể là quả núi có nguy cơ đè bẹp hiện tại và che khuất tương lai; cũng có thể là suối nguồn nuôi dưỡng sức sống mãnh liệt của thực tiễn