Tính cấp thiết của đề tài Tiếp nối truyền thống lịch sử vẻ vang của các thế hệ đi trước, trong giai đoạn hiện nay vai trò của GCCN Việt Nam vẫn được khẳng định là “Giai cấp lãnh đạo các
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LÊ THỊ THANH
VẤN ĐỀ TRÍ THỨC HOÁ CÔNG NHÂN DOANH NGHIỆP
NHÀ NƯỚC Ở TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LÊ THỊ THANH
VẤN ĐỀ TRÍ THỨC HOÁ CÔNG NHÂN DOANH NGHIỆP
NHÀ NƯỚC Ở TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THÁI SƠN
HÀ NỘI - 2013
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 TRÍ THỨC HOÁ CÔNG NHÂN VIỆT NAM HIỆN NAY - MỘT SỐ
VẤN ĐỀ CHUNG 8
1.1 Trí thức hoá công nhân, tầm quan trọng của trí thức hoá công
nhân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 8 1.1.1 Lý luận về vấn đề trí thức hoá công nhân 8 1.1.2 Tầm quan trọng của vấn đề trí thức hoá công nhân trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hoá đất nước 24 1.2 Nội dung cơ bản và một số yếu tố ảnh hưởng đến nội dung trí
thức hoá công nhân 30 1.2.1 Nội dung cơ bản trí thức hoá công nhân Việt Nam 30 1.2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng, tác động đến nội dung trí thức hoá
công nhân 32
Chương 2 TRÍ THỨC HOÁ CÔNG NHÂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở
THÁI NGUYÊN HIỆN NAY- VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP 37
2.1 Vấn đề trí thức hoá công nhân doanh nghiệp nhà nước ở Thái
Nguyên hiện nay 37 2.1.1 Doanh nghiệp nhà nước và công nhân trong các doanh nghiệp
nhà nước ở tỉnh Thái Nguyên 37 2.1.2 Vấn đề đặt ra trong quá trình trí thức hoá công nhân doanh
nghiệp nhà nước ở Thái Nguyên hiện nay 44 2.2 Một số giải pháp cơ bản hiện thực hóa nội dung trí thức hoá
công nhân doanh nghiệp nhà nước ở Thái Nguyên hiện nay 58 2.2.1 Đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ tạo môi
trường thúc đẩy trí thức hoá công nhân doanh nghiệp nhà nước
ở Thái Nguyên 58 2.2.2 Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, coi trọng đào tạo
nghề; thu hút trí thức tham gia vào quá trình trí thức hoá công nhân 59
Trang 42.2.3 Phát huy vai trò của hệ thống chính trị trong quá trình trí thức
hoá công nhân 65
2.2.4 Xây dựng hệ thống chính sách xã hội tạo động lực đẩy mạnh trí thức hoá công nhân 70
2.2.5 Giác ngộ nhận thức của công nhân doanh nghiệp nhà nước ở Thái Nguyên, đưa trí thức hoá công nhân thành quá trình tự trí thức hóa 74
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 84
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tiếp nối truyền thống lịch sử vẻ vang của các thế hệ đi trước, trong giai đoạn hiện nay vai trò của GCCN Việt Nam vẫn được khẳng định là “Giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; lực lượng nòng cốt trong khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng” [12, tr.43-44]
Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, với mục tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2020 là “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, chính trị xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên, tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong những giai đoạn sau”[13, tr.103] Để thực hiện thắng lợi mục tiêu trên đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó nội lực quyết định, trực tiếp là không ngừng nâng cao dân trí, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng có ý nghĩa quyết định nhất đến sự nghiệp CNH, HĐH đất nước gắn liền với phát tríển kinh tế tri thức Sự lớn mạnh của GCCN là điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trong những năm qua Đảng, Nhà nước ta đã có chủ trương, giải pháp sắp xếp, đổi mới để DNNN phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh Mặc dù còn một số những hạn chế nhất định, nhưng nhìn chung
Trang 7cổ phần hoá DNNN đã đạt được những kết quả tích cực Khi bàn về vai trò của DNNN, Nghị quyết Trung ương 6, khoá X về “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đã chỉ ra “Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp lại, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước để góp phần giữ vững và phát huy vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [12, tr.143]
Qua 26 năm tiến hành đổi mới, GCCN nước ta đã có những chuyển biến tích cực, mạnh mẽ, tăng nhanh về số lượng, ngày càng đa dạng về cơ cấu, chất lượng được nâng lên đáng kể, dần hình thành một bộ phận công nhân trí thức đang tiếp tục khẳng định vai trò là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam Tuy nhiên sự phát triển của GCCN hiện nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế; thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề; tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động, ý thức pháp luật còn nhiều hạn chế; đa phần công nhân chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống Một bộ phận công nhân chậm thích nghi với cơ chế thị trường Địa vị chính trị của GCCN còn mờ nhạt, chưa phát huy đầy đủ vai trò nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức
Là trung tâm chính trị, kinh tế của Việt Bắc, Thái Nguyên là điểm đến
để các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, thu hút một lực lượng rất lớn lao động tham gia DNNN có vai trò nòng cốt trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đội ngũ công nhân trong các DNNN trên địa bàn Thái nguyên là một bộ phận của giai cấp công nhân Việt Nam; động lực to lớn thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Thái nguyên và đất nước Vì vậy, để xây dựng GCCN Việt Nam nói chung, đội ngũ công nhân trong các DNNN trên địa bàn Thái nguyên nói
Trang 8riêng cần quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo, mục tiêu Nghị quyết Trung ương 6, Khoá X “Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho công nhân, không ngừng trí thức hoá công nhân là một nhiệm vụ chiến lược”…
“xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, phát triển về số lượng, nâng cao chất lượng, cơ cấu đáp ứng yêu cầu phát tríển đất nước; ngày càng được trí thức hoá” [12, tr.48-50]
Trí thức hoá công nhân là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước, là một vấn đề mới và cần được sự quan tâm hơn nữa của các cấp, các ngành nói chung và của các DNNN trên địa bàn Thái nguyên nói riêng Từ những lý do
nêu trên, tác giả chọn đề tài “Vấn đề trí thức hoá công nhân doanh nghiệp
nhà nước ở tỉnh Thái nguyên hiện nay” làm luận văn thạc sỹ
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Xuất phát từ vai trò to lớn của giai cấp công nhân đối với quá trình đấu tranh cách mạng cũng như xây dựng CNXH ở Việt Nam; nhất là trong quá trình đổi mới và tiến hành CNH, HĐH đất nước đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu của các cá nhân và tập thể về vấn đề này Vấn đề xây dựng GCCN Việt Nam đã được Đảng ta đề cập toàn diện, sâu sắc trong các Nghị quyết Đại hội, Nghị quyết chuyên đề của Ban Chấp hành Trung ương Trên cơ sở đường lối, quan điểm của Đảng, đã có rất nhiều công trình khoa học khai thác nghiên cứu về GCCN Việt Nam ở những khía cạnh khác nhau:
- Về lịch sử giai cấp công nhân, phong trào công nhân Việt Nam có các
công trình: Trần Văn Giàu, “Giai cấp công nhân Việt Nam - sự hình thành và phát triển”, Nxb Sự thật, Hà Nội 1961 Nguyễn Công Bình, Vũ Huy Phúc,
“Một số vấn đề về lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam”, Nxb Lao động, 1974; “Lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam”, Nxb Lao động, 1977 Trong những công trình này, các tác giả đã luận giải khá sâu sắc
sự ra đời của GCCN, của phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam; về
vị trí vai trò của GCCN Việt Nam, đồng thời chỉ ra những đóng góp to lớn của
Trang 9GCCN, phong trào công nhân Việt Nam đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc Trên cơ sở nhiệm vụ, mục tiêu cách mạng mà Đảng ta xác định, các tác giả đưa ra những dự báo khoa học về xu hướng phát triển của GCCN, của phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam trong giai đoạn mới
- Về xây dựng giai cấp công nhân trong sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước và trí thức hoá công nhân Có các công trình đã được in thành sách
tham khảo và chuyên khảo như: Văn Tạo, “Đổi mới tư duy về giai cấp công nhân - kinh tế tri thức và công nhân trí thức”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1997 Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam - Viện Công nhân và Công đoàn,
“Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nxb Lao động, Hà Nội, 1999 PGS Cao Văn Lượng (chủ biên), "Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự phát triển giai cấp công nhân", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Viện Công nhân và Công đoàn, “Giải pháp xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI”, Nxb Lao động, Hà Nội, 2003 Viện Công nhân và Công đoàn, “Một số vấn đề cơ bản về xây dựng và phát huy vai trò giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH”, Nxb Lao động, Hà Nội, 2004; Dương Xuân Ngọc, “Giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; PGS, TS Tạ Ngọc Tấn, Nguyễn Duy Hưng, Đoàn Văn Kiên (đồng chủ biên), “Xây dựng và phát triển giai cấp công nhân Việt Nam trong điều kiện mới”, Nxb Lao động, Hà Nội, 2008 Đặng Ngọc Tùng (chủ biên), “Xây dựng, phát huy vai trò giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”, Nxb Lao động, Hà Nội, 2008
TS Lê Thanh Hà, “Phát triển kinh tế tri thức và hoạt động của công đoàn Việt Nam”; Nxb Lao động, Hà Nội, 2008 v.v
- Một số luận án, luận văn bàn về vấn đề giai cấp công nhân tiêu biểu
như: Trần Thị Bích Liên, "Tích cực hoá nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình", Luận án tiến sĩ, chuyên ngành
Trang 10Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2000 Trần Ngọc Sơn,
"Sự phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam và vai trò của nó trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước", Luận án tiến sĩ, chuyên ngành Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2001 Nguyễn Thị Hường, “Giai cấp công nhân - giai cấp tiên phong trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2011 Trần Thị Như Quỳnh, “Công nhân trí thức ở thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp, hoá hiện đại hoá”, Luận án tiến sĩ triết học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2011
- Một số bài báo khoa học tiêu biểu như: Phạm Ngọc Dũng (2006), “Trí
thức hoá công nhân Việt Nam”, Khoa học xã hội, (12) GS.TS Mạch Quang Thắng, “Giai cấp công nhân Việt Nam một số vấn đề lý luận cần tiếp tục làm sáng tỏ”, Tạp chí Lao động Công đoàn, tháng 10 năm 2008
Nhìn chung, các công trình và đề tài khoa học, bài viết xung quanh vấn
đề GCCN đã đi sâu, luận giải và làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò sứ mệnh lịch sử của GCCN nói chung, GCCN Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế nói riêng; đồng thời, đề cập đến vấn đề xây dựng GCCN Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hiện nay
Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào đề cập, nghiên cứu có hệ thống vấn đề trí thức hoá công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Thái Nguyên Do vậy, đề tài mà tác giả lựa chọn là công trình độc lập, không trùng lặp với bất cứ công trình nào đã công bố
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề trí thức hoá công nhân trong các DNNN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay; từ đó
Trang 11xuất một số giải pháp cơ bản đẩy mạnh có hiệu quả việc trí thức hoá công nhân trong các DNNN trên địa bàn Thái Nguyên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu quy luật phát triển
của trí thức hoá công nhân trong trong sự thống nhất biện chứng với sự phát triển toàn diện GCCN và kinh tế tri thức qua thực tế các DNNN trên địa bàn Thái Nguyên
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn là vấn đề trí thức hoá công nhân
trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhà nước trên địa bàn Thái Nguyên; thời gian chủ yếu từ năm 2000 đến nay
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận của luận văn là lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm của Đảng CSVN về GCCN và trí thức
hoá công nhân
- Cơ sở thực tiễn của luận văn là tình hình GCCN, quá trình trí thức hoá công nhân trong các DNNN trên địa bàn Thái nguyên thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Các kết luận trong luận văn dựa vào kết quả khảo sát, điều tra
xã hội học thực tế một số DNNN ở tỉnh Thái nguyên và qua số liệu tổng kết, thống kê về trí thức hoá công nhân có liên quan của Trung ương và Thái Nguyên để làm rõ những vấn đề mà mục đích, nhiệm vụ luận văn đặt ra
Trang 12- Phương pháp nghiên cứu của luận văn: Luận văn sử dụng các phương pháp, phương pháp luận của triết học duy vật biện chứng; chủ yếu là các phương pháp lôgíc - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học v.v để vừa làm sáng tỏ góc độ khoa học, mà còn làm sáng tỏ góc độ chính trị -
xã hội của vấn đề
6 Đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu luận văn có thể là tài liệu, luận cứ khoa học cho lãnh đạo tỉnh Thái Nguyên, các nhà quản lý DNNN tham khảo trong việc đề
ra chủ trương, chính sách đẩy mạnh trí thức hoá, góp phần xây dựng GCCN
có phẩm chất, năng lực, phát huy tốt vị trí, vai trò lịch sử của mình trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH; hoàn thành chỉ tiêu kinh tế - xã hội của Thái Nguyên và đất nước đặt ra
Ngoài ra, Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho quá trình giảng dạy, học tập và nghiên cứu những nội dung có liên quan
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 2 chương, 4 tiết:
Chương 1: Trí thức hóa công nhân Việt Nam hiện nay - Một số vấn đề
chung
Chương 2: Trí thức hóa công nhân doanh nghiệp nhà nước ở Thái
Nguyên hiện nay - vấn đề và giải pháp
Trang 13Chương 1 TRÍ THỨC HOÁ CÔNG NHÂN VIỆT NAM HIỆN NAY
- MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Trí thức hoá công nhân, tầm quan trọng của trí thức hoá công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.1.1 Lý luận về vấn đề trí thức hoá công nhân
1.1.1.1 Vấn đề trí thức hoá công nhân theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Trí thức hoá công nhân là một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng, phát triển GCCN và liên quan trực tiếp đến việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của đội ngũ này Mặc dù C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin chưa đề cập đến thuật ngữ trí thức hoá công nhân nhưng trong quan điểm, tư tưởng của các ông đã bàn khá nhiều về nâng cao trình độ văn hoá, tri thức, trí tuệ cho công nhân
Trong quá trình nghiên cứu sự phát triển của nền đại công nghiệp dưới
CNTB, C.Mác, Ph.Ăngghen phát hiện ra vai trò của tri thức, khoa học kỹ thuật
của tinh thần và trí tuệ người lao động trong việc phát triển lực lượng sản xuất
mà cụ thể là máy móc C.Mác khẳng định “Thiên nhiên không chế tạo ra máy móc… Tất cả những cái đó đều là sản phẩm lao động của con người… tất cả những cái đó đều là những cơ quan của bộ óc con người do bàn tay con người tạo ra, đều là sức mạnh đã vật hoá tri thức" [32, tr.272-273] Như vậy, C.Mác đã thấy rõ vai trò quan trọng của yếu tố tri thức khoa học trong sản xuất vì việc đầu
tư cho yếu tố này mang lại hiệu quả kinh tế rất cao Hiện nay chúng ta cũng đã nhận thức rằng đầu tư cho giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là đầu tư khôn ngoan nhất, có lãi nhất
Trang 14Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa lao động và máy móc đại công nghiệp dưới CNTB, C.Mác đã chỉ rõ, sự phát triển ngày càng hiện đại của máy móc và hệ thống máy móc chính là quá trình từng bước thay thế lao động giản đơn bằng lao động phức tạp có tính khoa học Vì vậy, lao động trực tiếp trở thành thứ yếu so với lao động khoa học của con người C.Mác viết “Lao động biểu hiện ra không phải chủ yếu là lao động được nhập vào quá trình sản xuất, mà chủ yếu là loại lao động trong đó con người, trái lại là người kiểm soát và điều tiết quá trình sản xuất” [32, tr.369] C.Mác cho rằng, toàn bộ quá trình sản xuất “biểu hiện ra không phải như là một quá trình phụ thuộc vào tài nghệ trực tiếp của người công nhân mà với tư cách là sự ứng dụng khoa học trong lĩnh vực công nghệ” [32, tr.358]
Từ những phân tích trên C.Mác chỉ rõ “Theo đà phát triển của đại công nghiệp, việc tạo ra của cải thực sự trở lên ít phụ thuộc vào thời gian lao động
và số lượng lao động đã chi phí mà đúng ra chúng phụ thuộc vào trình độ chung của khoa học và tiến bộ kỹ thuật, hay là phụ thuộc vào việc ứng dụng khoa học ấy vào sản xuất” [32, tr.368-369] Chính vậy mà “phát minh đã trở thành một nghề đặc biệt và đối với nghề đó thì việc vận dụng khoa học vào nền sản xuất trực tiếp tự nó trở thành một trong những yếu tố có tính chất quyết định và kích thích” [32, tr.367]
Chúng ta có thể thấy những luận điểm trên hoàn toàn đúng với các đặc trưng của nền kinh tế tri thức; các nguồn lực cho sản xuất truyền thống trước kia (đất đai, lao động cơ bắp ) sẽ bị đẩy xuống hàng thứ yếu, thay vào đó là yếu tố tri thức Tri thức sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, quyết định lợi thế so sánh của mỗi một quốc gia, khoa học công nghệ đóng vai trò trung tâm trong tăng trưởng kinh tế, lao động có hàm lượng tri thức cao ngày càng chiếm ưu thế hơn so với lao động giản đơn Xu thế đó tất yếu đòi hỏi người lao động công nghiệp phải có trình độ tri thức ngày càng cao và toàn diện
Trang 15Nền sản xuất công nghiệp hiện đại đòi hỏi GCCN phải không ngừng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, tay nghề, kỹ năng kỹ xảo Đồng thời cũng tạo cơ chế sàng lọc khắc nghiệt đối với GCCN, ai đáp ứng được yêu cầu
về trình độ thì tồn tại còn nếu không thì sẽ bị đào thải.Với tinh thần đó thì GCCN hiện đại phải là những người thực sự có trình độ chuyên môn và năng lực trí tuệ cao, là lực lượng tiên phong ưu tú nhất so với các giai cấp tầng lớp khác trong xã hội Điều này đã được Ph.Ăngghen khẳng định từ thế kỷ XIX ngay từ khi nền công nghiệp còn ở trình độ cơ khí Ông cho rằng những người lao động trong nền sản xuất hiện đại thì cần phải có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông toàn bộ hệ thống sản xuất Đến lượt mình nền sản xuất
đó sẽ tạo nên những con người mới, sẽ làm cho những thành viên trong xã hội
có khả năng sử dụng một cách toàn diện năng lực phát triển toàn diện của mình Vì vậy, Ph.Ăngghen nhấn mạnh “GCCN không chỉ cần đôi bàn tay vàng mà còn cần sự sáng tạo của khối óc Chính GCCN bằng bàn tay, khối óc
mà quá trình lao động của họ đã tạo ra sự vĩ đại của nước Anh” [28, tr.350]
Khi quan sát, nghiên cứu sự tác động của đại công nghiệp, của cách mạng khoa học kỹ thuật đối với sự ra đời và phát triển của GCCN, C.Mác, Ph.Ăng ghen đã nhận thấy sự ra đời và phát triển của một bộ phận “giai cấp vô sản trí
thức” Trong bức thư “Gửi Đại hội quốc tế sinh viên xã hội chủ nghĩa”
Ph.Ăngghen viết “Các bạn hãy cố gắng làm cho sinh viên hiểu được rằng, giai cấp vô sản trí thức phải được hình thành từ hàng ngũ sinh viên, bên cạnh và trong hàng ngũ những người bạn của nó - các công nhân thủ công nghiệp - giai cấp ấy có sứ mệnh phải đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng sắp tới” [31, tr.613] Như vậy, C.Mác, Ph.Ăngghen đã nhận thấy rằng, giai cấp vô sản trí thức sẽ được hình thành từ hàng ngũ sinh viên, coi sinh viên là nguồn
bổ sung chủ yếu cho “giai cấp vô sản trí thức”, đồng thời giai cấp vô sản trí thức phải là những người có trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật
Trang 16cao, cùng với quá trình tăng lên về trí thức của công nhân hiện đại và quá trình tăng lên của bộ phận “công nhân - trí thức”
C.Mác, Ph.Ăngghen còn có dự báo khoa học về sự xích lại gần nhau, chuyển hoá cho nhau giữa công nhân và trí thức, đồng thời nhấn mạnh “sự
“xích lại gần nhau” và “mất tính đối lập” giữa lao động chân tay và lao động trí óc trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất xã hội và của khoa học, kỹ thuật và của tiến bộ xã hội” [30, tr.36] Đây chính là sự xích lại gần nhau, chuyển hoá cho nhau giữa công nhân và trí thức trong quá trình phát triển của đại công nghiệp theo hướng hiện đại hoá và tiến bộ phục vụ lợi ích trước hết của đại đa số nhân dân lao động và sau đó là của toàn xã hội Đây cũng chính
là kết quả về mặt cơ cấu xã hội của quá trình trí thức hoá công nhân Bản thân C.Mác và Ph.Ăngghen đều là trí thức, hai ông đã gia nhập vào phong trào công nhân, hoạt động cùng GCCN để tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận cho phong trào công nhân, đồng thời hai ông cũng tích cực tham gia vào quá trình trí thức hoá công nhân
Trên cơ sở kế thừa, vận dụng những quan điểm tư tưởng của C.Mác,
Ph.Ăngghen trong điều kiện lịch sử mới, V.I.Lênin đã làm phong phú hơn
những quan điểm C.Mác, Ph.Ăngghen trên lĩnh vực văn hoá và tư tưởng đối với sự nghiệp cách mạng của công nhân nói riêng và đối với sự phát triển nền kinh tế XHCN nói chung V.I.Lênin chỉ rõ “về mặt kinh tế và chính trị, chính sách kinh tế mới hoàn toàn bảo đảm cho chúng có khả năng xây dựng được nền móng cho nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Tất cả “chỉ” là tuỳ ở lực lượng văn hoá của giai cấp vô sản và ở đội tiền phong của nó” [24, tr.74] Bởi theo Lênin văn hóa chính là trí tuệ của nhân dân trong đó có đội ngũ công nhân
Khi bàn về tầm quan trọng của việc nâng cao tri thức cho nhân dân lao động nói chung và công nhân nói riêng trong quá trình xây dựng CNXH, trong tác phẩm “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô Viết” V.I.Lênin nhấn mạnh “Việc nâng cao năng suất lao động trước hết đòi hỏi
Trang 17phải có cơ sở vật chất của nền đại công nghiệp một điều kiện khác để nâng cao năng suất lao động, trước hết là nâng cao trình độ học vấn và văn hoá của quần chúng nhân dân” [21, tr.229] “Công nhân phải học tập tri thức của chuyên gia tư sản bởi vì công nhân, nông dân càng nhanh chóng học tập được cách tạo ra kỷ luật lao động tốt hơn và kỹ thuật lao động cao, bằng cách sử dụng các chuyên gia tư sản để học lấy môn khoa học ấy thì chúng ta sẽ thoát khỏi “khoản tiền cống” cho các chuyên gia đó” [21, tr.221]
Để thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của GCCN, V.I.Lênin nhấn mạnh, GCCN phải liên minh được với nông dân, đặc biệt liên minh được với trí thức cách mạng, bởi vì: “…trước sự liên minh của các đại biểu khoa học, giai cấp vô sản và giới kỹ thuật, không một thế lực đen tối nào đứng vững được” [22, tr.218]
Đối với các nước lạc hậu xây dựng CNXH, theo V.I.Lênin, cuộc cách mạng trên lĩnh vực văn hoá và tư tưởng, phát triển khoa học kỹ thuật có tầm quan trọng đặc biệt; phải tìm mọi cách để chiếm được những tri thức khoa học của nhân loại V.I.Lênin sử dụng hình ảnh “Dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt nhất của nước ngoài” [21, tr.684] làm “vốn” tri thức cho mình để xây dựng CNXH
Như vậy, chúng ta thấy trong nền kinh tế tri thức thì tri thức là yếu tố
cơ bản tạo ra sự phát triển nhanh chóng Nhưng tri thức lại do con người sáng tạo ra Hơn nữa con người không chỉ sáng tạo ra tri thức mới mà còn biết sử dụng có hiệu quả nguồn tri thức và công nghệ kỹ thuật cao tạo ra nguồn năng nội sinh cho sự phát triển Vì vậy trong kinh tế tri thức vai trò của các nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động giản đơn ngày càng giảm, trong khi giá trị của công nghệ cao, công nghệ thông tin, lao động có chuyên môn kỹ thuật và trình độ quản lý cao ngày càng tăng Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức bản thân người công nhân, GCCN không ngừng tự đào tạo, được đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ mọi mặt, nhất là trình độ khoa học công nghệ, tạo thành xu hướng tri thức hoá công nhân trong nền công nghiệp hiện
Trang 18đại, kinh tế tri thức Đồng thời việc rút ngắn giữa nghiên cứu khoa học vào sản xuất trong nền công nghiệp hiện đại đã dẫn đến một thực tế là, các nhà nghiên cứu, các nhà sáng chế, các kỹ sư, kỹ thuật viên cao cấp gia nhập vào hàng ngũ GCCN hiện đại ngày càng đông tạo ra xu hướng trí thức hoá công nhân Hai xu hướng này đồng thời diễn ra trong nền kinh tế tri thức nhất là xu hướng trí thức hoá công nhân đã dẫn đến sự hình thành và phát triển công nhân trí thức (những công nhân lao động trí óc, có trình độ cao đẳng và tương đương trở lên)
Trong bối cảnh thế giới khi mà cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến các lĩnh vực đời sống xã hội thì đội ngũ công nhân trí thức xuất hiện ngày càng đông đảo, điều đó khẳng định tính đúng đắn trong tầm nhìn chiến lược và những dự báo có sức thuyết phục của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về quá trình trí thức hoá công nhân
Việt Nam vốn là một nước nông nghiệp lạc hậu quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, nên ngay từ những năm đầu của công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc,
Hồ Chí Minh chỉ rõ “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có học thức” [37, tr.306] Do đó người luôn quan tâm đến tới việc nâng cao trình độ học vấn, tay nghề, ý thức giai cấp cho GCCN, để sao cho trong GCCN xuất hiện ngày càng đông đảo bộ phận công nhân có trình độ tri thức cao, xứng đáng với vai trò lịch sử của mình Hồ Chí Minh đề cập đến “công nông trí thức hoá”, “trí thức hoá công nông” và tầm quan trọng của quá trình này Theo đó,
“trí thức hoá công nông” không có nghĩa công - nông biến thành trí thức, hoà tan vào trí thức mà là phải nâng cao trình độ học vấn, trí tuệ, chuyên môn của công - nông “Công nông hoá trí thức” cũng không phải là hạ thấp vai trò trí tuệ của trí thức mà có nghĩa là trí thức phải gắn với công - nông, phục vụ công
- nông, phục vụ sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, trong đó có trí thức
Trang 19Cách luận giải như vậy của Hồ Chí Minh cho thấy, tầng lớp trí thức và GCCN phải luôn gắn bó với nhau dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong quá trình xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Để phát huy vai trò tiền phong là “gốc”, là lực lượng nòng cốt của cách mạng, theo Hồ Chí Minh, GCCN “cần phải học tập văn hoá để nâng cao trình độ tri thức mình” [34, tr.204]; đồng thời căn dặn: “Cần phải có kế hoạch bồi dưỡng cho cán bộ và công nhân có trình độ văn hoá và kỹ thuật khá”, thậm chí “phải có trình độ không kém gì kỹ sư” [36, tr.224] Khi bàn về mối quan hệ giữa lao động chân tay với lao động trí óc, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ, không được phép coi khinh, phân biệt đối xử lao động trí óc và lao động chân tay Lao động nào cũng vinh quang, lao động nào cũng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thân nhằm thoả mãn nhu cầu xã hội và bản thân Bác dạy: “Mỗi người chúng ta phải nhận rõ, lao động chân tay và lao động trí óc đều vẻ vang, đáng quý Chúng ta phải chống tư tưởng xem khinh lao động” [36, tr.349] Sự xích lại gần nhau, tác động và chuyển hoá giữa công nhân và trí thức cũng là một xu thế đang diễn ra nhanh chóng do sự phát triển của khoa học - công nghệ Chỉ rõ mối quan hệ biện chứng này, Hồ Chí Minh cho rằng “Do sáng kiến và kinh nghiệm trong thi đua mà lao động chân tay nâng cao trình độ kỹ thuật của mình Do thi đua mà lao động trí óc gần gũi, giúp đỡ, cộng tác, học hỏi những người lao động chân tay và trở lên những người trí thức hoàn toàn Thế là phong trào thi đua làm cho công, nông, binh, trí thức hoá và trí thức thì lao động hoá” [34, tr.475] Trí thức hoá công nhân là khách quan và là nội dung quan trọng trong xây dựng GCCN Trí thức hoá công nhân là nhằm hướng đến cái đích phục vụ tốt hơn lao động sản xuất
và làm tăng cường vị trí, vai trò của GCCN trong quản lý sản xuất và quản lý
xã hội Theo Hồ Chí Minh, quá trình thực hiện “trí thức hoá công nông” thì vai trò của tầng lớp trí thức là rất quan trọng nhằm “chuyển” tri thức vào nhân dân nói chung và công nhân nói riêng Hồ Chí Minh chỉ rõ “ vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục Bây giờ xây dựng kinh tế, không có cán bộ
Trang 20không làm được việc Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói
gì đến kinh tế, văn hoá” [36, tr.224]
Từ quan điểm trên của Hồ Chí Minh về trí thức hoá công nông, về mối quan hệ giữa lao động chân tay và lao động trí óc; chúng ta nhận thức được rằng, Hồ Chí Minh không đối lập GCCN và tầng lớp trí thức và cũng không cho rằng công nhân hoà tan vào trí thức hoặc trí thức hoà tan vào công nhân
mà Hồ Chí Minh chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa GCCN và tầng lớp trí thức diễn ra theo xu hướng ngày càng xích lại gần nhau, thậm chí chuyển hoá
bộ phân cho nhau Người công nhân ở vị thế này có thể là người trí thức và ngược lại người trí thức ở vị thế kia có thể là công nhân Nhưng hoàn toàn không đồng ý với cách hiểu cho rằng, GCCN hiện nay biến mất trong nền
“văn minh trí tuệ” và trở thành “giai cấp đồng nguyên”, tầng lớp trí thức giữ vai trò lãnh đạo nền văn minh “hậu công nghiệp” chúng ta không thể phủ nhận vai trò của tầng lớp trí thức trong sự phát triển của kinh tế tri thức nhưng không vì thế mà phủ nhận vai trò sứ mệnh lịch sử của GCCN Như vậy, một trong những điều kiện để tiến tới một xã hội không còn sự phân biệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay như dự báo của C.Mác và Ph.Ăngghen thì GCCN phải nhận thức và thực hiện có hiệu quả quá trình “trí thức hoá công nhân” trong suốt quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình
1.1.1.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức hoá công nhân
Thấm nhuần quan điểm trên của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, ngay từ những năm đầu của công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN, Đảng CSVN đã chú ý đến việc thực hiện trí thức hoá công nhân và quan điểm đó được định hình ngày càng rõ nét trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH; bắt đầu từ Đại hội VIII (năm 1996) Là một nước nông nghiệp, quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH một mặt dẫn đến xu hướng công nhân hoá người lao động (từ nông dân, trí thức, công nhân viên chức,…), mặt khác
Trang 21tạo xu hướng trí thức hoá công nhân, tạo điều kiện để GCCN nước ta phát triển cả vê số lượng và chất lượng Do đó để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới, nhiệm vụ “từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp” [6, tr.80] cần phải “xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh
về mọi mặt, phát triển về số lượng, giác ngộ về giai cấp, nâng cao trình độ học vấn và tay nghề, có năng lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, có tác phong công nghiệp và ý thức tổ chức kỷ luật, lao động đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả ngày càng cao” [5, tr.67-68, 123] Đây chính là tinh thần trí thức hoá công nhân trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước
Tại Đại hội IX (năm 2001), chủ trương trí thức hoá công nhân chính thức được đặt ra Lần đầu tiên Đảng ta sử dụng khái niệm kinh tế tri thức và nêu rõ “Thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có những biến đổi Khoa học và công nghệ sẽ
có những bước tiến nhảy vọt, kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất” Vì vậy con đường CNH, HĐH
ở Việt Nam cần và có thể “rút ngắn” đồng thời với từng bước phát triển nền kinh tế tri thức Như vậy, mặc dù Việt Nam chưa giải quyết xong bước chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp nhưng bối cảnh trong nước và quốc tế đã tạo ra những điều kiện và cơ hội để Việt Nam
có thể thực hiện một bước chuyển kép từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức Điều kiện kinh tế đó đã tạo tiền đề, môi trường và động lực thúc đẩy xu hướng công nhân hoá người lao động cùng với xu hướng trí thức hoá công nhân, hình thành và phát triển đội ngũ công nhân trí thức ở nước ta Do đó, để đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH cùng với phát triển kinh tế tri thức, đối với GCCN, Đảng ta khẳng định cần “Coi trọng phát triển cả về số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, thực hiện “trí thức hoá công nhân”… [7, tr.69, 91, 124]
Trang 22Tại Đại hội X (năm 2006), Đảng ta xác định, một trong những phương hướng để phát triển đất nước là: Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc
tế tạo ra và tiềm năng lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và CNH, HĐH Phát triển mạnh các nghành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức, kết hợp sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại Từ phương hướng này, Đảng ta yêu cầu GCCN phải “phát triển
về số lượng và chất lượng và tổ chức; nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước” [10, tr.118]
Gần đây, Đại hội XI (năm 2011) Đảng ta tiếp tục khẳng định “Toàn cầu hoá và cách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri thức” [13, tr.183] Do vậy, nước ta cần phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức” [13, tr.98] Đối với GCCN, Đảng CSVN yêu cầu: “Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển GCCN cả về số lượng và chất lượng, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế” [13, tr.240-241]
Những dự báo của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh và của Đảng CSVN về xu hướng trí thức hoá công nhân đang được hiện thực hoá Hiện nay kinh tế tri thức đang phát triển mạnh ở các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật, Canada, Nga và các nước công nghiệp mới nổi như Hàn quốc, Singapo và định hình ngày càng rõ nét ở các nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil Theo quy định chung hiện
Trang 23nay về tiêu chí của kinh tế tri thức mà nhiều nước chấp nhận, được gói gọn trong con số 70% Cụ thể là: trên 70% GDP là do các ngành sản xuất và dịch
vụ cung ứng công nghệ cao mang lại (công nghệ cao là do công nhân trí thức đảm nhiệm); trên 70% trong cơ cấu giá trị gia tăng là kết quả của lao động trí óc; trên 70% công nhân lao động trí óc (công nhân trí thức); trên 70% là vốn con người [4, tr.13-20] Ở Bắc Mỹ và một số nước Tây Âu hiện nay, kinh tế tri thức đã chiếm từ 45% - 70% GDP [41, tr.195]
Cùng với sự phát triển của kinh tế tri thức là xu hướng trí thức hoá công nhân, thực tiễn cho thấy trên thế giới hiện nay đã xuất hiện và phát triển ngày càng nhiều công nhân trí thức trong khi lực lượng công nhân truyền thống giảm dần Tính đến năm 2000, không còn một nước TBCN phát triển nào còn lượng công nhân truyền thống làm việc trong lĩnh vực sản xuất và vận chuyển sản phẩm chiếm hơn 1/6 hoặc 1/8 tổng số công nhân lao động của nước đó
Cụ thể ở Mỹ, lao động chân tay giảm từ 50% năm 1950 xuống còn 20% năm
1990 và đến năm 2000 chỉ còn dưới 10% Tương ứng với điều này là tỷ lệ công nhân trí thức ngày càng tăng và chiếm ưu thế về số lượng so với tỷ lệ công nhân truyền thống Trong vòng 10 năm (1986-1996) tỷ lệ công nhân truyền thống của Đức giảm từ 67% xuống còn 37%; cùng thời gian đó số công nhân trí thức ở Pháp tăng lên hai lần trong khi đó công nhân truyền thống giảm từ 30% xuống còn 27% [41, tr.193] Theo thống kê, năm 2006 ở Canada, trong tổng số lực lượng lao động, công nhân trí thức chiếm đến 50%, công nhân truyền thống chỉ còn khoảng 32% Tại Italia và Tây Ban Nha 53% trong tổng số công nhân hiện nay là công nhân trí thức Số liệu thống kê ILO cho thấy có tới 60% - 70% lực lượng lao động xã hội là công nhân trí thức ở các nước công nghiệp phát triển hiện nay [41, tr.195]
Như vậy, cùng với sự tiến bộ không ngừng của khoa học công nghệ, GCCN nước ta (là một bộ phận của GCCN quốc tế) nên xu hướng trí thức hoá cũng ngày càng tăng Trí thức hoá công nhân đã và đang tạo ra động lực to
Trang 24lớn bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Nhưng trình độ tri thức sẽ không làm thay đổi bản chất của GCCN - những người lao động sản xuất công nghiệp
Trên cơ sở nắm vững quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin,
Hồ Chí Minh và Đảng CSVN, tác giả cho rằng: Trí thức hoá công nhân là quá
trình sử dụng tổng hợp các biện pháp, cách thức nhằm nâng trình độ học vấn, trình độ tri thức, chuyên môn nghề nghiệp, khoa học, công nghệ và năng lực hoạt động thực tiễn, làm chuyển hoá đội ngũ công nhân thành nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế; xứng đáng là lực lượng tiền phong trong
sự nghiệp xây dựng CNXH
Xung quanh quan niệm này có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến đề xuất nên gọi là công nhân tri thức (tri thức hoá công nhân), có ý kiến gọi là công nhân trí thức (trí thức hoá công nhân) Tác giả luận văn cho rằng, khi nói tới công nhân tri thức là nói tới trình độ công nhân (bao gồm cả tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học, tri thức sống) như vậy quan niệm công nhân tri thức chủ yếu mang tính định lượng Còn quan niệm công nhân trí thức mang
cả tính định lượng lẫn định tính là “Công nhân trí thức là công nhân có trình
độ ngang với trí thức, trình độ này hiện nay được cụ thể hoá bằng trình độ từ cao đẳng hoặc tương đương trở lên, hoặc những công nhân tối thiểu tốt nghiệp trung học phổ thông nhưng phải được đào tạo thêm về mặt lý luận là từ cao đẳng trở lên, về mặt thực tiễn là học nghề đạt trình độ công nhân kỹ thuật” [42, tr.56] Như vậy nội hàm công nhân trí thức chỉ ra trình độ tối thiểu phải
có, trình độ tối đa không giới hạn Việc tác giả sử dụng thuật ngữ “trí thức hoá công nhân” như trên phù hợp với tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khoá X về tiếp tục xây dựng GCCN Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Trang 25Trong điều kiện khoa học phát triển như hiện nay, yêu cầu làm rõ đâu là công việc có tính chất công nhân, đâu là công việc có tính chất trí thức là một việc làm khó Sự xích lại gần nhau và sự chuyển hoá bộ phận giữa công nhân
và trí thức là một xu thế đang diễn ra nhanh chóng Tác giả Cao Văn Lượng viết “Không phải mọi trí thức đều nằm trong giai cấp công nhân” [26, tr.52], chỉ có bộ phận trí thức thường xuyên lao động trực tiếp trong dây chuyền sản xuất công nghiệp và dịch vụ công nghiệp mới được xem là bộ phận của GCCN Tuy nhiên, việc phân biệt GCCN với tầng lớp trí thức vẫn là một thực
tế và cần thiết để thấy rõ vai trò của GCCN và vai trò của tầng lớp trí thức trong tiến trình phát triển của xã hội hiện đại và thấy được sự tác động qua lại giữa GCCN và tầng lớp trí thức trong quá trình GCCN thực hiện sứ mệnh lịch
sử của mình
Đặc trưng của công nhân trí thức là lao động chủ yếu bằng tri thức, kỹ năng nghề nghiệp hiện đại với công nghệ tiên tiến và tính xã hội hoá cao; họ vừa có khả năng sử dụng trang thiết bị hiện đại đồng thời có khả năng hoạt động sáng tạo với trình độ chuyên môn cao Công nhân trí thức hiện nay có kiến thức liên thông với nhiều nghề, nhiều lĩnh vực khác nhau Quá trình lao động của họ cần tới những phẩm chất riêng của từng người song luôn gắn bó liên hiệp và cần sự hỗ trợ của nhiều người, nhiều ngành Tính chất xã hội hoá của lao động công nghiệp ngày nay không chỉ là hợp tác, liên kết công nghệ kỹ thuật, mà còn mở ra theo nhiều chiều khác như kinh tế - xã hội: Sản phẩm có tính cạnh tranh, bảo đảm phát triển bền vững, an toàn với môi trường v.v Công nhân trí thức cũng có sự khác biệt với trí thức trong xã hội “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về từng lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần có giá trị đối với xã hội” [11, tr.81-82] Trí thức có phương thức lao động đặc thù khác với công nhân trí thức: chủ yếu là lao động sản xuất tinh thần bằng trí tuệ sáng tạo mang tính cá nhân Sản phẩm
Trang 26lao động của trí thức chủ yếu là những giá trị tinh thần mà đỉnh cao là các phát minh khoa học Công nhân trí thức cũng phải có trình độ học vấn, tri thức khoa học cao như trí thức, song khác với trí thức ở chỗ họ chủ yếu và trực tiếp lao động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và dịch vụ công nghiệp với phương thức lao động mang tính xã hội hoá cao để tạo ra của cải vật chất và các dịch vụ tiện ích cho xã hội, vừa tham gia quản lý sản xuất kinh doanh, nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ vào hoạt động sản xuất kinh doanh
Trí thức hoá công nhân ở nước ta hiện nay là quá trình tất yếu gắn liền với sự phát triển của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại và sự phát triển lực lượng sản xuất tiên tiến Với xu thế toàn cầu hoá và quá trình CNH, HĐH đất nước gắn liền với phát triển kinh tế tri thức là quá trình nâng cao
hệ thống tri thức khoa học - công nghệ hiện đại cho GCCN để họ xứng đáng
là lực lượng đại diện cho phương thức sản xuất mới XHCN; lực lượng lãnh đạo công cuộc đổi mới và tiên phong trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, hoàn thành vẻ vang sứ mệnh lịch sử của mình đối với giai cấp, dân tộc và nhân loại
Vậy, thực chất của trí thức hoá công nhân là quá trình không ngừng phát huy vai trò của chính quyền và các đoàn thể, của tổ chức Công đoàn các cấp; đẩy mạnh hơn nữa đổi mới nâng cao chất lượng công tác giáo dục và đào tạo, coi trọng công tác bồi dưỡng, đào tạo lại, đào tạo nâng cao đáp ứng yêu cầu của quá trình sản xuất hiện đại trong từng giai đoạn; đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH đất nước gắn liền với phát triển nền kinh tế tri thức; ban hành và thực hiện nghiêm các chính sách xã hội cần thiết bảo đảm việc làm, thu nhập
và đời sống của công nhân góp phần làm chuyển hóa GCCN ngang tầm trí thức Với trình độ trình độ học vấn, tri thức, chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề cao; có khả năng vận dụng tri thức khoa học, kĩ thuật, công nghệ hiện đại vào hoạt động thực tiễn sản xuất, kinh doanh; có năng lực đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; có tác phong công nghiệp và năng lực cải tiến, sáng tạo công
Trang 27nghệ sản xuất mới; có giác ngộ giai cấp, có ý thức và hành vi chính trị, pháp luật đúng đắn
Trí thức hoá công nhân ở Việt Nam hiện nay có cơ sở khoa học từ nhu cầu khách quan của yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và đòi hỏi ở chính sự phát triển của bản thân GCCN Việt Nam
Trước hết, trí thức hoá công nhân do yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Công nghiệp hoá là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế- xã
hội theo hướng, giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, đưa khoa học, công nghệ vào sản xuất, góp phần tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Theo đó, cũng làm thay đổi cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, với hàm lượng chất xám ngày càng tăng Tiến hành công nghiệp hoá mới có khả năng đưa nước ta thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, xây dựng thành công CNXH Đối với nước ta, công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá Cùng với quá trình công nghiệp hoá, phải đi vào hiện đại hoá ở một số lĩnh vực, một số ngành mũi nhọn, tận dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, thực hiện bước phát triển “rút ngắn lịch sử”, “đi tắt”, “đón đầu”, khắc phục sự tụt hậu ngày càng xa về khoa học - công nghệ so với các nước trong khu vực và trên thế giới Vì vậy đòi hỏi phải có một đội ngũ công nhân có chất lượng cao, có trình độ tri thức, năng lực và bản lĩnh chính trị vững vàng
Hai là, xuất phát từ những đòi hỏi của nền kinh tế tri thức mà chúng ta đang hướng đến
Kinh tế tri thức là xu thế khách quan trên thế giới hiện nay Đó là nền kinh tế mà sự sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức đóng vai trò quyết định đối với hoạt động sản xuất hàng hoá, dịch vụ, góp phần thay đổi bộ mặt cuộc sống của nhân loại Trong kinh tế tri thức, sản xuất chủ yếu dựa vào tri thức Yếu tố đầu vào của sản xuất không chỉ là vốn và sức lao động mà chủ yếu là tri thức,
Trang 28lực lượng lao động trí tuệ gia tăng Xã hội trở thành xã hội học tập, con người học tập suốt đời để đáp ứng nhu cầu xã hội Xã hội học tập là nền tảng của kinh tế tri thức Ở nước ta, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức Phát triển nền kinh tế tri thức luôn đặt ra yêu cầu cao đối với GCCN Việt Nam Cùng với quá trình tri thức hoá nền kinh tế chúng ta phải không ngừng trí thức hoá lực lượng lao động nói chung và GCCN nói riêng, mới có thể đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế tri thức
Ba là, xuất phát từ yêu cầu của quá trình hội nhập khu vực và thế giới
Ngày nay, xu thế toàn cầu hoá đang là khách quan tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nhất là lĩnh vực kinh tế Khi khoa học & công nghệ phát triển mạnh mẽ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và làm cho lực lượng sản xuất mang tính xã hội hoá ngày càng cao Phân công lao động
xã hội không chỉ dừng lại ở biên giới quốc gia mà rộng ra toàn thế giới Toàn cầu hoá tạo ra cơ hội, điều kiện để GCCN Việt Nam tiếp cận với những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến; trao đổi, học hỏi kinh nghiệm tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của các nước; đồng thời để Việt Nam phát triển quan hệ hợp tác, giao lưu và tăng cường đoàn kết với GCCN và nhân dân lao động tiến bộ trên thế giới Toàn cầu hoá đưa đến sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế, văn hoá Điều này đòi hỏi cả dân tộc ta nói chung, GCCN Việt Nam nói riêng phải vươn lên không ngừng Đó chính là động lực thúc đẩy mạnh mẽ GCCN Việt Nam phát triển toàn diện Vì thế, cần phải xây dựng đội ngũ công nhân không chỉ có trí tuệ, có trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ cao mà còn phải thành thạo ngoại ngữ, tin học thì mới có thể đáp ứng được
Bốn là, do trình độ dân trí của nhân dân nói chung và của đội ngũ công nhân ngày càng nâng cao
Những năm qua, cùng với quá trình CNH, HĐH đất nước, ngành giáo dục
và đào tạo phát triển đáng kể Việt Nam cơ bản đã hoàn thành phổ cập trung học
Trang 29cơ sở; nhiều tỉnh, thành phố đang đẩy mạnh phổ cập trung học phổ thông Cũng từ
đó mà lực lượng lao động xã hội của nước ta có trình độ học vấn tăng nhanh đáng kể đây là một lực lượng to lớn, sẵn sàng bổ xung cho bộ phận công nhân trí thức Mặt khác, do yêu cầu của quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với nền kinh tế tri thức buộc người công nhân phải không ngừng học tập, phấn đấu nâng cao trình độ học vấn, trình độ tri thức chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề để đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất hiện đại
1.1.2 Tầm quan trọng của vấn đề trí thức hoá công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hoá đất nước
GCCN hiện đại là sản phẩm của nền đại công nghiệp, là lực lượng sản xuất tiên tiến nên buộc họ phải không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt Vậy họ sẽ là người được đào tạo hoàn chỉnh, cơ bản, được chọn lọc, được tiếp cận với tri thức mới và luôn luôn đổi mới Con người trong lực lượng sản xuất đại công nghiệp là con người phát triển cao về trí tuệ, khoẻ mạnh về thể chất, giàu có về tinh thần, trong sáng về đạo đức, cho nên họ là những người lao động từng bước được trí thức hoá và trở thành những con người năng động, sáng tạo Chính bản thân GCCN Việt Nam, Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội có liên quan cần thấy rõ tầm quan trọng, vai trò và nội dung của quá trình trí thức hoá công nhân Việt Nam và xem đó như một chiến lược hành động của quốc gia
1.1.2.1 Trí thức hoá công nhân góp phần hình thành đội ngũ công nhân có tri thức đủ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH, đủ khả năng tham gia xây dựng kinh tế tri thức
Thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trên
cơ sở phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh CNH, HĐH gắn liền với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế thế giới, nhất
là từ khi thực hiện chủ trương trí thức hoá công nhân đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển GCCN về mọi mặt Trước năm 1986, đội ngũ công nhân nước
Trang 30ta có khoảng 3,38 triệu người; năm 2007 là 9,5 triệu người, chiếm khoảng 11% dân số và 21% lực lượng lao động xã hội [48, tr.50]; đến nay, công nhân nước ta
có khoảng 10,5 triệu người lao động sản xuất trong các lĩnh vực kinh tế và ngành nghề sản xuất
Về trình độ học vấn của công nhân Việt Nam trong những năm đổi
mới vừa qua được nâng lên đáng kể Năm 1985, tỷ lệ công nhân có học vấn trung học phổ thông chỉ là 4,2%, đến năm 2000 là 62,2%; năm 2007 con số này là 69,3% [48, tr.58] Tuy nhiên, trình độ học vấn được nâng lên nhưng vẫn còn ở mức thấp so với các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới, cơ cấu phân bố chưa hợp lý Công nhân có trình độ học vấn cao tập trung chủ yếu ở thành phố lớn, ở các trung tâm công nghiệp và ở một số ngành, lĩnh vực sản xuất mũi nhọn như : điện tử, tin học, bưu chính viễn thông…
Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề của công nhân Việt Nam
Trong xu thế hội nhập quốc tế, do yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, Nhà nước, các doanh nghiệp, cá nhân người công nhân đã quan tâm và chủ động trong đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao tay nghề, nắm vững khoa học kỹ thuật Những năm qua, phát triển nền kinh tế tri thức đã làm xuất hiện nhiều ngành nghề mới đòi hỏi trình độ học vấn, trình độ tri thức chuyên môn, kỹ thuật cao đối với người lao động Vì thế, trong GCCN đã hình thành một bộ phận công nhân trí thức, làm công tác quản lý, nghiên cứu áp dụng khoa học kỹ thuật gắn với sản xuất kinh doanh, năng động tiếp cận nhanh với khoa học - công nghệ hiện đại, làm chủ máy móc thiết bị và thích ứng nhanh với cơ chế thị trường Đến nay tỷ lệ công nhân tốt nghiệp cao đẳng, đại học trở lên đang tăng mạnh trong các khu công nghệ, trong các ngành nghề, các doanh nghiệp có thiết bị công nghệ sản xuất hiện đại; ví dụ như, Dầu khí Việt Nam là 43,3%, Điện lực Việt Nam là 28,5%, Bưu chính viễn thông là 26,5%, Than khoáng sản Việt Nam
là 16%, Tổng công ty hoá chất Việt Nam là 15,8%, Dệt may là 5,6% [48, tr.59] Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, tay
Trang 31nghề của GCCN đã tăng đáng kể nhưng so với yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước thì vẫn chưa đáp ứng được Tình trạng thừa công nhân lao động giản đơn, thiếu công nhân có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao đang diễn ra khá phổ biến trong các doanh nghiệp và khu vực kinh tế Hiện nay, GCCN Việt Nam vẫn luôn tích cực học tập nâng cao trình độ mọi mặt tiến tới làm chủ khoa học - công nghệ hiện đại, có ngành nghề đã tiếp cận được và ứng dụng thành công công nghệ sản xuất hiện đại vào bậc nhất thế giới như ngành Điện tử, Bưu chính viễn thông, Công nghệ thông tin, Vật liệu mới
1.1.2.2 Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam đối với khu vực và quốc tế
Cùng với sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, quá trình trí thức hoá công nhân đã tạo ra cho GCCN Việt Nam trưởng thành lên rất nhiều và
đã có những đóng góp to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta Với đội ngũ hùng hậu, chiếm tỷ lệ khoảng 11% dân số và 21% lực lượng lao động
cả nước, GCCN Việt Nam đang là lực lượng sản xuất chủ yếu, vận hành sử dụng những phương tiện, công cụ sản xuất tiên tiến, hiện đại nhất, quyết định phương hướng, tốc độ phát triển của nền kinh tế quốc dân Hàng năm, họ đã tạo ra khối lượng giá trị chiếm trên 70% tổng sản phẩm trong nước, đảm bảo 65% thu ngân sách nhà nước (năm 2006) Các doanh nghiệp nhà nước đóng góp 37% GDP, 16% thu ngân sách, trong khi đó doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp 17% GDP và doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tập
thể là 7% GDP [48, tr.89] GCCN Việt Nam là lực lượng quyết định đến phát
triển kinh tế thị trường, có khả năng sáng tạo trong sản xuất và đời sống xã hội, thích nghi nhanh với cơ chế thị trường, năng động, chủ động tiếp cận khoa học - công nghệ tiên tiến, hiện đại Các cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân bậc cao, thợ giỏi rất năng động sáng tạo, có nhiều sáng chế, giải pháp hữu hiệu, có giá trị cao được áp dụng vào sản xuất và quản lý Ngoài ra, công nhân nước ta đã phát
Trang 32hiện, đề xuất nhiều giải pháp, kinh nghiệm quý báu cho Đảng, Nhà nước trong xây dựng đường lối phát triển kinh tế - xã hội, chỉ đạo sản xuất có hiệu quả
1.1.2.3 Đáp ứng vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH, kinh tế tri thức và hội nhập
Từ những năm đầu thế kỷ XX, lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam trong đấu tranh cách mạng cũng như quá trình xây dựng CNXH luôn gắn liền với vai trò của GCCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Đảng CSVN là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, mang bản chất của GCCN và bản chất dân tộc sâu sắc Cơ sở chính trị - xã hội của Đảng CSVN trước hết và trung tâm là GCCN Việt Nam
Vì vậy, trí thức hoá công nhân là nâng cao trí tuệ của GCCN, đồng thời nâng cao trí tuệ của Đảng để từng bước xây dựng và hoàn thiện đường lối lãnh đạo cách mạng Việt Nam Trên cơ sở nền tảng là trình độ học vấn, trình độ tri thức, chuyên môn, nghiệp vụ cao sẽ giúp cho GCCN Việt Nam có giác ngộ giai cấp và ý thức chính trị sâu sắc Giác ngộ giai cấp của GCCN được thể hiện ở chỗ là họ nhận thức được rằng; GCCN là giai cấp những người lao động công nghiệp hiện đại là chủ yếu, tạo ra phần lớn của cải vật chất cho xã hội, là lực lượng lãnh đạo cách mạng đấu tranh giành chính quyền và tổ chức xây dựng thành công xã hội mới, xã hội XHCN Có sứ mệnh lịch sử ấy vì GCCN Việt Nam luôn giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội,
có tinh thần cách mạng triệt để, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, có Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường
Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ tư tưởng của GCCN, cơ sở lý luận, phương pháp luận về con đường, phương pháp cách mạng để GCCN thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng học thuyết Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể Việt Nam, chỉ ra con đường để cách mạng Việt Nam giành thắng lợi Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là
Trang 33nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam
và dần trở thành tư tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh giúp GCCN Việt Nam hiểu biết sâu sắc về các
tổ chức trong hệ thống chính trị Hiểu rằng, Đảng ta là đội tiền phong của GCCN Việt Nam, đại biểu trung thành cho lợi ích của GCCN, nhân dân lao động và của cả dân tộc; là lực lượng lãnh đạo toàn xã hội Qua đó giúp người công nhân nhận thức đầy đủ về vai trò của tổ chức Đảng trong nhà máy, xí nghiệp và không ngừng nâng cao trách nhiệm tham gia xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh Đối với Nhà nước, người công nhân có hiểu biết sâu sắc về Nhà nước Việt Nam XHCN; đó là nhà nước mang bản chất của GCCN, có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc; là nhà nước của dân, do dân,
vì dân, quyền lực nhà nước là tập trung thống nhất trong đó có sự phân công, phối hợp giành mạnh giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; Nhà nước thống nhất quản lý mọi mặt xã hội bằng pháp luật đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và có nhiệm vụ xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN Người công nhân hiểu Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị quần chúng có chức năng chăm lo và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công nhân, nhân viên và những người lao động khác và phải có ý thức được trách nhiệm mình phải tham gia tổ chức này Bên cạnh đó người công nhân còn có nghĩa vụ tham gia và hoạt động trong những tổ chức chính trị quần chúng khác như; Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ… đồng thời có những kiến thức cơ bản về hiến pháp và pháp luật và còn là lực lượng tuyên truyền, giải thích bảo vệ đường lối, chính sách, luật pháp của Đảng và Nhà nước
Những vấn đề cơ bản nêu trên thể hiện bản chất giai cấp và ý thức chính trị của GCCN và nó không ngừng được bổ sung, tăng cường cùng với quá trình trí thức hoá công nhân Cũng từ đó mà trí tuệ của Đảng luôn được nâng cao, thể hiện trong xác định đường lối lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Trang 341.1.2.4 Tăng cường vai trò nòng cốt của GCCN trong liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Khi khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì “công nhân - trí thức và trí thức - công nhân” ngày càng được tăng cường trong cơ cấu GCCN
và càng khẳng định là bộ phận nòng cốt trong đội ngũ GCCN Do đó, sự gắn bó giữa người công nhân có trí tuệ cao với với tầng lớp trí thức ngày càng chặt chẽ
và xích lại gần nhau, khoảng cách giữa họ ngày càng ngắn lại nhưng không trùng khít và điều đó xảy ra như một tất yếu khách quan
Ở nước ta, Hồ Chí Minh chỉ rõ “trí thức hoá công nhân” và “công nhân hoá trí thức” là hai quá trình thống nhất biện chứng Hai quá trình này luôn diễn
ra đồng thời, tạo lên mối quan hệ khăng khít giữa công nhân và trí thức, giữa trí thức với công nhân và là cơ sở khách quan cho xây dựng và củng cố khối liên minh công nhân - nông dân và tầng lớp trí thức; là nòng cốt cho xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo ra một động lực to lớn thúc đẩy cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi Trong quá trình đổi mới và đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đã đặt ra cho Đảng, Nhà nước ta cần tăng cường hơn nữa mối quan hệ giữa công nhân và trí thức, tạo sự gắn bó giữa lao động trí óc và lao động chân tay, đó cũng là những điều kiện cần thiết có tính chất nền tảng cho quá trình hình thành và phát triển của kinh tế tri thức trong tương lai Trên thực
tế, chúng ta đã có các kỹ thuật viên cao cấp, kỹ sư thực hành, thợ bậc cao vừa trực tiếp vận hành sản xuất hiện đại, vừa có khả năng nghiên cứu, sáng chế, phát minh và ứng dụng vào sản xuất, quản lý nhằm không ngừng nâng cao năng xuất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh, đó là những công nhân trí thức- một kết quả tất yếu của quá trình trí thức hoá công nhân; hiện nay, tỉ lệ này chưa nhiều nhưng xu hướng sẽ tăng mạnh trong thời gian tới
khi mà khoa học - công nghệ càng phát triển
Trang 351.2 Nội dung cơ bản và một số yếu tố ảnh hưởng đến nội dung trí
thức hoá công nhân
1.2.1 Nội dung cơ bản trí thức hoá công nhân Việt Nam
Trí thức hoá công nhân được xác định là một một nhiệm vụ quan trọng
có nội dung toàn diện Nghị quyết Đại hội IX xác định “đối với giai cấp công nhân, coi trọng phát triển số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, thực hiện trí thức hoá công nhân, nâng cao năng lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất, chất lượng hiệu quả lao động ngày càng cao, xứng đáng là một lực lượng
đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và vai trò lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ mới” [7, tr.124-125] Đó là định hướng căn bản cho việc xác định những nội dung chính của trí thức hoá công nhân ở nước ta hiện nay, cụ thể:
Một là, trí thức hoá công nhân là quá trình không ngừng nâng cao trình
độ học vấn, trình độ tri thức của GCCN Trình độ học vấn chính là chìa khoá
để tiếp cận tri thức khoa học, công nghệ hiện đại Trình độ học vấn của công nhân vừa là mục tiêu vừa là điều kiện của quá trình nâng cao trình độ tri thức của công nhân Có trình độ học vấn, trình độ tri thức cao sẽ giúp cho công nhân tiếp thu, ứng dụng, làm chủ tri thức khoa học, công nghệ mới, khả năng sáng tạo cải tiến công cụ, nâng cao chất lượng, hiệu quả trong sản xuất Khi trình độ học vấn, tri thức được nâng cao sẽ là cơ sở điều kiện nâng cao phẩm chất và năng lực toàn diện của GCCN trên các lĩnh vực, xứng đáng là giai cấp cách mạng có đủ bản lĩnh chính trị, trí tuệ và năng lực thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước Vì vậy, thực hiện trí thức hoá công nhân ở Việt Nam phải nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, để không ngừng nâng cao trình độ học vấn và tri thức khoa học của GCCN
Hai là, trí thức hoá công nhân là quá trình không ngừng nâng cao trình
độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp của GCCN Trí thức hoá công
nhân không chỉ dừng lại ở việc nâng cao trình độ học vấn, tri thức mà điều cốt
Trang 36lõi là trên nền tảng của trình độ học vấn, tri thức được đào tạo trong các nhà trường hoặc tự đào tạo mà không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề của GCCN Chỉ như vậy, GCCN mới có khả năng làm chủ công nghệ hiện đại, đáp ứng được yêu cầu của sự phân công lao động xã hội, chủ động hơn trong quá trình hội nhập, thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển trên cơ sở nâng cao năng xuất lao động, tạo ra nhiều hàng hoá đáp ứng nhu cầu không chỉ trong nước mà còn vươn ra thị trường thế giới Vì thế, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp là một nội dung quan trọng của quá trình trí thức hoá công nhân, làm chuyển biến căn bản khả năng của người công nhân và hình thành lên một bộ phận lao động mới có chất lượng cao
Ba là, trí thức hoá công nhân là quá trình nâng cao năng lực sáng tạo trong sản xuất, đời sống, nhất là năng lực ứng dụng, sáng tạo công nghệ mới của GCCN Bản thân người công nhân nếu có trình độ học vấn,
trình độ tri thức khoa học, kỹ thuật và trình độ chuyên môn tay nghề cao, kết hợp với thực tiễn lao động sản xuất của mình sẽ là những cơ sở quan trọng giúp họ nâng cao khả năng cải tiến công cụ, ứng dụng khoa học, công nghệ và sáng tạo ra những công nghệ mới Việc cải tiến công cụ sản xuất và ứng dụng khoa học - công nghệ diễn ra như một tất yếu nhằm nâng cao năng xuất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất, thúc đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước; tiến tới xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới XHCN
Bốn là, trí thức hoá công nhân Việt Nam là quá trình nâng cao ý thức chính trị, rèn luyện đạo đức, lối sống, tác phong công nghiệp và ý thức pháp luật góp phần phát triển toàn diện GCCN Trong đấu tranh cách mạng, bản
lĩnh chính trị của GCCN Việt Nam được thể hiện thông qua vai trò lãnh đạo,
tổ chức phong trào đấu tranh cách mạng chống lại sự xâm lược của kẻ thù, đánh thắng hai tên đế quốc to là Pháp và Mỹ thống nhất đất nước, tiến hành xây dựng CNXH Trong giai đoạn hiện nay, đứng trước những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực, thế giới và những khó khăn đặt ra trong sự nghiệp
Trang 37CNH, HĐH đất nước, bản lĩnh chính trị của GCCN Việt Nam chính là sự kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tin tưởng vào con đường
đi lên CNXH, đường lối quan điểm của Đảng ta; có ý thức giai cấp, ý thức dân tộc, tinh thần tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc và hợp tác, đoàn kết quốc tế; xác định quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại tiến bộ vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Đi lên xây dựng CNXH từ một nước nghèo, kém phát triển, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu; công nghiệp chưa phát triển, đội ngũ công nhân xuất thân chủ yếu từ nông dân, hiểu biết chính trị - xã hội, luật pháp còn ít Do đó, trí thức hoá công nhân sẽ giúp họ rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong công nghiệp theo tiêu chí: “GCCN Việt Nam hiện phải là những người
có tri thức, trung thực, có tác phong công nghiệp và nhân cách cao, tôn trọng nhân quyền và pháp luật nhà nước” [18, tr.150]; khắc phục những tình trạng
vô tổ chức, kỷ luật, tuỳ tiện trong thực hiện quy trình sản xuất và bảo đảm an toàn lao động và những biểu hiện khác như, rượu chè, cờ bạc, tham gia vào các tệ nạn xã hội… đi ngược lại với truyền thống đạo lý, thuần phong mỹ tục của dân tộc và bản chất tốt đẹp vốn có của GCCN
1.2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng, tác động đến nội dung trí thức hoá công nhân
1.2.2.1 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là mục tiêu và động lực trực tiếp thúc đẩy quá trình trí thức hoá công nhân
Ở nước ta hiện nay quá trình CNH, HĐH trong những năm vừa qua đã làm cho các nghành kinh tế phát triển, nhiều vùng kinh tế mới hình thành ứng với đó là nhiều ngành nghề mới xuất hiện tác động mạnh đến GCCN Cụ thể
là làm thay đổi cơ cấu GCCN, tạo điều kiện cho GCCN được rèn luyện tay nghề, kỹ năng làm việc, trình độ văn hoá khoa học kỹ thuật và từng bước hình thành tác phong công nghiệp.Lực lượng công nhân được đào tạo có hệ thống,
Trang 38được rèn luyện trong điều kiện sản xuất bằng công nghệ tiên tiến hơn, từng bước được trí thức hoá, trở thành công nhân trí thức - lực lượng nòng cốt của GCCN CNH, HĐH sẽ đòi hỏi công nghệ cao và sự ứng dụng nhanh của khoa học công nghệ vào quá trình sản xuất, làm cho năng xuất lao động tăng lên, thu nhập và đời sống của công nhân từng bước được cải thiện Kết quả của CNH, HĐH trong những năm đổi mới cũng đã từng bước rút ngắn khoảng cách về trình độ và nhận thức giữa công nhân và trí thức, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ công - nông - trí thức
Đất nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức thì nhiệm vụ của giai cấp công nhân sẽ nặng nề hơn Bởi
vì do tính chất rút ngắn của CNH, HĐH ở Việt Nam CNH, HĐH phải được tiến hành bằng hai tốc độ khác nhau của nền kinh tế, vừa tuần tự vừa nhảy vọt Bước nhảy vọt chính là tranh thủ tối đa sự phát triển kinh tế tri thức ở các nước TBCN phát triển để từng bước hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam Đây là động lực thúc đẩy GCCN nước ta ngày càng phải nâng cao được trình độ học vấn, chuyên môn, tay nghề và ý thức chính trị góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu CNH, HĐH đất nước Để đạt được mục tiêu này Đảng đã xác định chiến lược xây dựng GCCN Việt Nam đến năm 2020: “Xây dựng GCCN lớn mạnh, có giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng; có ý thức công dân, yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội, tiêu biểu cho tinh hoa văn hoá dân tộc nhạy bén và vững vàng trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và những biến đổi của tình hình trong nước, có tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết hợp tác quốc tế, thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp lãnh đạo thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng Sản Việt Nam” [10, tr.49-50] Vì vậy việc xác định mục tiêu trí thức hoá công nhân và khả năng thực hiện mục tiêu này cần gắn với CNH, HĐH đất nước một trong những yếu tố rất quan trọng tác động đến quá trình trí thức hoá công nhân ở nước ta hiện nay
Trang 391.2.2.2 Cách mạng khoa học, công nghệ và sự hình thành nền kinh tế tri thức là nhân tố tác động mạnh mẽ đến quá trình trí thức hoá công nhân
Trong những thập kỷ gần đây, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại và kinh tế tri thức, lao động trong các ngành công nghiệp ở nhiều nước đã được trí tuệ hoá Công nhân lao động có trình độ đại học chiếm đến 80% [4, tr.13-20], cụ thể là ở Anh, Pháp là trên 80%, Nhật Bản
là 90% [15, tr.6-7] Như vậy là đã có một lớp công nhân trí thức thật sự Việc hình thành bộ phận công nhân trí thức gắn liền với việc hình thành kinh tế tri thức bởi vì đặc trưng lớn nhất của kinh tế tri thức là dựa vào trí tuệ Khi nghiên cứu về kinh tế tri thức, tổ chức APEC đã chia thành các nhóm: Nhóm
1 là các nước có nền kinh tế phát triển nhất như Mỹ, Ôxtrâylia, Canada, Nhật Bản , những nền kinh tế này cơ bản đã xây dựng xong cơ sở cho việc chuyển thành nền kinh tế tri thức vì ở đó yếu tố tri thức đang trở thành yếu tố chủ yếu, quyết định đối với nền kinh tế; Nhóm 2 là các nước Châu Á có khả năng cao như Singapo, Hàn Quốc đã có các chính sách táo bạo trong phát triển kinh tế
và đang hoàn thiện cơ sở cho kinh tế tri thức; Nhóm 3 là các nước Châu Á đang vươn nhanh như: Thái lan, Malaixia, Philippin, Việt Nam hiện đang ở giai đoạn khởi đầu chuyển tiếp sang kinh tế dựa vào tri thức; các nước Mỹ La tinh cũng gần giống với các nước Châu Á, đang vươn nhanh, nhưng ở vị trí thuận lợi hơn do thu hút ở nước ngoài và nhập khẩu được tri thức, công nghệ Như vậy tình hình thế giới đang tạo cơ hội cho GCCN Việt Nam tiếp cận với các thành tựu khoa học kỹ thuật tiến tiến nhằm học hỏi, lĩnh hội, phát huy, trau dồi kinh nghiệm tổ chức quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh của các nước và từng bước trí thức hoá công nhân
Tuy nhiên cách mạng khoa học công nghệ và kinh tế tri thức thế giới cũng sẽ tạo ra thử thách và lực cản đối với GCCN nước ta trong quá trình trí thức hoá công nhân Một trong bốn nguy cơ mà Đảng ta cảnh báo đó là tụt hậu xa hơn về kinh tế sẽ là thử thách lớn nhất đối với chiến lược trí thức hoá
Trang 40công nhân Nếu chúng ta không đuổi kịp để rút ngắn khoảng cách về khoa học, công nghệ, trình độ thì quá trình trí thức hoá công nhân sẽ bị chậm lại
1.2.2.3 Sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước là yếu tố quan trọng tác động đến quá trình trí thức hoá công nhân
Đảng CSVN từ khi ra đời đến nay đã luôn khẳng định vai trò lãnh đạo của mình trước dân tộc, đã thường xuyên đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo để phù hợp với thực tiễn đất nước Đảng luôn phấn đấu trở thành Đảng trí tuệ, trong sạch, vững mạnh xứng đáng là đội tiền phong lãnh đạo GCCN Trong nội dung lãnh đạo của Đảng luôn chú trọng đến nhiệm vụ trí thức hoá công nhân và xem đó là nhiệm vụ chiến lược vì điều này tác động trực tiếp đến việc phát huy vai trò sứ mệnh lịch sử của GCCN nước ta Điều 2, Hiến pháp 1992 khẳng định “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân Tất cả quyền lự nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” Nhà nước ta mang bản chất giai cấp công nhân và có tính nhân dân rộng rãi, sâu sắc Năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước là yếu tố tác động quan trọng đến quá trình xây dựng GCCN Việt Nam nói chung và quá trình trí thức hoá công nhân nói riêng; Nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, tay nghề cho công nhân để GCCN tiếp tục phát huy bản chất tốt đẹp của mình trước toàn thể dân tộc Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị xã hội có mối quan hệ mật thiết với người lao động đặc biệt là công nhân Mọi hoạt động của tổ chức công đoàn nhằm mang lại lợi ích thiết thực cho công nhân lao động; Công đoàn quan tâm chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của công nhân lao động và gia đình của họ Sự động viên, khuyến khích kịp thời của tổ chức công đoàn là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề giác ngộ chính trị và tự trí thức hoá bản thân giai cấp công nhân Tổ chức thanh niên trong công nhân cũng có vai trò tác động nhiều trong việc xây dựng các chương trình “tự học”, “thi đua sáng tạo”,
“công trình thanh niên”, “lao động giỏi” tác động trực tiếp đến quá trình trí