Chúng ta đều nhận thức được rằng là người Việt Nam chân chính, việc tìm hiểu nghiên cứu giá trị nhân văn, những đại biểu xuất sắc của lịch sử tư tưởng dân tộc đã có những đóng góp cho đấ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS ĐỖ THỊ HÒA HỚI
HÀ NỘI - 2012
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ CHO SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ
TƯỞNG NHÂN VĂN CỦA NGUYỄN TRÃI 8
1.1 Khái lược về tư tưởng nhân văn và nội dung tư tưởng nhân văn
trong lịch sử tư tưởng Việt Nam 8 1.1.1 Khái lược về tư tưởng nhân văn 8 1.1.2 Khái lược về tư tưởng nhân văn của Việt Nam đến trước thế kỷ XV 12 1.2 Cơ sở thực tiễn, yêu cầu giải phóng và xây dựng đất nước Đại
Việt cuối thế kỉ XIV đầu thế kỉ XV 18 1.3 Nguyễn Trãi con người - sự nghiệp - tư tưởng 27
Chương 2 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN
CỦA NGUYỄN TRÃI 35
2.1 Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi trong thời kì kháng chiến
chống quân Minh giải phóng dân tộc: một số nội dung cơ bản 35 2.1.1 Nguyễn Trãi lên án mạnh mẽ tội ác quân xâm lược và đồng
cảm, xót thương trước cảnh lầm than đau khổ của nhân dân Đại Việt bị quân Minh đô hộ 35 2.1.2 Lòng tự hào dân tộc và quyết tâm giải phóng dân tộc giành lại
chủ quyền đất nước, đem lại tự do cho con người 40 2.2 Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi thời kì hòa bình xây dựng
đất nước: một số nội dung cơ bản 49 2.2.1 Nhân nghĩa, thân dân là nền tảng của tư tưởng nhân văn của
Nguyễn Trãi 49 2.2.2 Tư tưởng nhân văn về phát triển giáo dục và xây dựng con
người lý tưởng hòa hợp có tài - đức 60
Trang 42.3 Đánh giá tư tưởng nhân văn Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử
tư tưởng dân tộc 64 2.3.1 Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi mang đậm giá trị đạo đức
truyền thống của người Việt Nam 64 2.3.2 Giá trị tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi đối với việc giáo dục
đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay 71
KẾT LUẬN 82 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Con đường mà loài người đã, đang và sẽ đi chính là hành trình hướng tới các giá trị nhân văn và hiện thực hóa nó trong trong đời sống xã hội Do vậy, giá trị nhân văn luôn có ý nghĩa vĩnh cửu và phổ quát đối với mọi nền văn hóa Ngày nay những tư tưởng nhân văn của cha ông ta để lại đã trở thành những giá trị quý báu mà người Việt Nam đều hướng tới, phát triển lên một tầm cao trong hoàn cảnh mới
Điều đáng chú ý là chúng ta đang sống trong một thế giới mở với sự giao lưu kinh tế trong nước cũng như thế giới hết sức mạnh mẽ Cùng với đó
là quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và với việc đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Giá trị nhân văn truyền thống Việt Nam trong thời đại toàn cầu hóa, phát triển kinh tế thị trường, có nhiều biến đổi thách thức khó nối tiếp theo đúng nghĩa truyền thống Giờ đây, đôi khi được đo bằng sự giàu sang, thậm trí có khi lấy gia trị kinh tế làm thước đo nhân phẩm con người Do vậy có nơi, có lúc nhiều giá trị nhân văn truyền thống văn bị xem nhẹ trong các quan hệ xã hội
Trong điều kiện đất nước chúng ta hiện nay thực tế vẫn tồn tại và nảy sinh nhiều hiện tượng không phù hợp với những giá trị nhân văn đạo đức tốt đẹp ngàn đời của cha ông ta Bên cạnh những cái tốt đẹp, cái lành mạnh nhân văn được bảo tồn phát huy vẫn còn nhiều cái xấu xa, thiếu văn hóa, thiếu tình người Bên cạnh những con người mới xã hội chủ nghĩa đang hình thành, những cái tiến bộ văn minh đang nảy nở, còn không ít những biểu hiện tiêu cực, không lành mạnh, những bất công Cách nhìn lấy đồng tiền làm trung tâm “có tiền mua tiên cũng được”, lối sống ích kỉ cá nhân đang ngày một gia tăng Tất cả những điều đó đòi hỏi chúng ta nhận thức một cách rõ hơn sự cần thiết giữ gìn và phát triển những gía trị truyền thống nhân văn của dân tộc
Trang 6Việc nghiên cứu để giữ gìn, phát huy tư tưởng nhân văn rõ ràng là hết sức cần thiết là căn cứ góp vào để các nhà lãnh đạo, nhà quản lý hoạch định những đường lối, chính sách xây dựng nên những con người Viêt Nam mới xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”
Chúng ta đều nhận thức được rằng là người Việt Nam chân chính, việc tìm hiểu nghiên cứu giá trị nhân văn, những đại biểu xuất sắc của lịch sử tư tưởng dân tộc đã có những đóng góp cho đất nước là một đều cần thiết, chính điều đó sẽ bồi đắp cho tâm hồn mỗi chúng ta thêm yêu đất nước nghìn năm văn hiến này
Trong số các nhà tư tưởng Việt Nam thì Nguyễn Trãi nổi lên không chỉ với tư cách là một anh hùng dân tộc, một nhà chính trị kiệt xuất, văn võ song toàn mà còn là một nhà tư tưởng vĩ đại trong thời kì phong kiến Trong hệ thống tư tưởng mà ông để lại cho hậu thế thì tư tưởng nhân văn là vấn đề trung tâm và quan trọng nhất mà trước đây đã được chú ý, song chưa có những công trình đi sâu ghiên cứu một cách hệ thống
Nghiên cứu tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi chúng ta sẽ có thêm những căn cứ để làm rõ được những đặc trưng tư tưởng cốt lõi của dân tộc, những tinh hoa văn hóa nghìn đời của cha ông mà được Nguyễn Trãi đã tổng kết khúc chiết trong giai đoạn lịch sử trung đại Sẽ cho chúng ta những bài học kinh nghiệm quý báu, góp phần vào thắng lợi cho công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
Hơn năm trăm năm trôi qua đã có rất nhiều những công trình, tác phẩm, bài viết nghiên cứu, đánh giá về Nguyễn Trãi Có lẽ chưa một tác giả nào được bàn nhiều, nghiên cứu nhiều như Nguyễn Trãi Cho đến nay nghiên cứu
về ông vẫn là một đề tài hấp dẫn Con người, sự nghiệp, tư tưởng của ông đặc biệt là tư tưởng nhân văn không chỉ có ý nghĩa đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam thời đại ông bởi tính vượt thời đại của nó, nó còn có ý nghĩa sâu sắc đối với chúng ta ngày nay Chính từ các lý do đó chúng tôi cho rằng tư tưởng
Trang 7nhân văn của Nguyễn Trãi cần phải được nghiên cứu một cách hệ thống đầy
đủ hơn nữa, chúng tôi lựa chọn đề tài “Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi
và ý nghĩa của nó” làm đối tượng nghiên cứu của luận văn, mong góp phần làm sáng tỏ thêm về nguồn gốc hình thành và những nội dung tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu và đánh giá tư tưởng Nguyễn Trãi ở nước ta đã có từ rất sớm ngay ở thế kỉ XV Năm 1464, vua Lê Thánh Tông đã chính thức minh oan cho Nguyễn Trãi và ghi nhận những đóng góp về sự nghiệp cũng như tư tưởng cao cả của ông, nhà vua từng khẳng định: “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo - Tấm lòng Ức Trai sáng như sao Khuê”, Nguyễn Trãi đã để lại sự nghiệp văn hóa rực sáng như sao Khuê Từ đó cho đến trước cách mạng tháng Tám có rất nhiều các công trình lớn, nhỏ nghiên cứu tiếp cận từ nhiều góc độ,
về con người, thân thế, sự nghiệp và đóng góp của ông Mặc dù vậy do những hạn chế của điều kiện lịch sử, những lập trường quan điểm giai cấp và có cả
sự giới hạn về phương pháp tiếp cận nghiên cứu cho nên các khảo cứu trong khoảng thời gian này chưa lột tả đầy đủ về tư tưởng Nguyễn Trãi, nhất là về tầm vóc tư tưởng nhân văn của ông
Đáng lưu ý, từ sau cách mạng tháng Tám đến nay, đã có nhiều học giả tiếp tục đi sâu nghiên cứu toàn diện về tư tưởng chính trị - đạo đức - văn hóa của Nguyễn Trãi và đã đạt được nhiều thành tựu và những giá trị khoa học lớn, chúng tôi có thể phân chia những nhóm công trình nghiên cứu về tư tưởng của ông như:
Nhóm thứ nhất: Tập trung nghiên cứu về mặt tư tưởng chính trị - đạo đức nhân sinh quan của ông
Điển hình có công trình nghiên cứu của Nguyễn Tài Thư: “Nguyễn Trãi nhà tư tưởng vĩ đại của thế kỉ XV và của lịch sử tư tưởng dân tộc” trong
đó tác giả phân tích tư tưởng yêu nước và tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn
Trang 8Trãi, đặc biệt là tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc Đồng thời, tác giả cũng trình bày một cách sâu sắc về đạo làm người trong tư tưởng của ông với đạo lý “cương, thường” làm gốc rễ Công trình của Trần Huy Liệu “Nguyễn Trãi một vĩ nhân vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam” (Nxb Sử học, Hà Nội, 1962), “Nguyễn Trãi cuộc đời và sự nghiệp” (Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2000) Những nghiên cứu này đã chỉ rõ nguồn gốc gia đình, quê hương và con đường cứu nước với vai trò mưu thần chiến lược của khởi nghĩa Lam Sơn và nhà thiết kế cho sự nghiệp xây dựng đất nước sau khi giành được độc lập của nhà Lê Sơ Trong đó lý giải về nguồn gốc tư tưởng nhân nghĩa, tư tưởng thân dân, lòng tự hào dân tộc của Nguyễn Trãi được tác giả phân tích từ nhiều khía cạnh rất sâu sắc Công trình nghiên cứu của Trần Đình Hượu “Nguyễn Trãi và nho giáo, Nguyễn Trãi và văn hóa Việt Nam trung cận đại”, (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1998) Nhất là công trình nghiên cứu của Phạm Văn Đồng
- Võ Nguyên Giáp: “Nguyễn Trãi người anh hùng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất” (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1982) đã phân tích sâu về tư tưởng yêu nước, thương dân, tư tưởng văn hóa của ông Nhìn chung các công trình này đều tập trung phân tích tư tưởng cốt lõi của Nguyễn Trãi đó là tư tưởng về dân, tư tưởng nhân nghĩa và tư tưởng về quốc gia dân tộc
Nhóm thứ hai: Tập trung nghiên cứu những đóng góp về mặt tư tưởng quân sự của Nguyễn Trãi
Công trình nghiên cứu của Nguyễn Lương Bích “Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước” (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973), nội dung cơ bản của công trình nghiên cứu này là nói về tư tưởng quân sự phong phú và nghệ thuật quân sự tài ba của Nguyễn Trãi được vận dụng và phát huy trong cuộc kháng chiến chống quân Minh Nghiên cứu của Nguyễn Đông Chi - Mai Hanh - Lê Trọng Khánh: “Nguyễn Trãi nhà văn học nhà chính trị thiên tài” (Nxb Văn -
Sử - Địa, Hà Nội, 1957), trình bày nội dung, kiến thức và nghệ thuật quân sự
Trang 9uyên bác tầm lý luận của ông, đã được thực hiện trong cuộc đấu tranh chống quân Minh giải phóng đất nước và cả trong thời bình
Nhóm thứ ba: Tập trung nghiên cứu về những nhân tố làm nên nguồn gốc hình thành tư tưởng ở Nguyễn Trãi, vai trò của Nho - Phật - Đạo và những ảnh hưởng của chúng đến tư tưởng Nguyễn Trãi
Trong công trình nghiên cứu của Võ Xuân Đàn “Tư tưởng Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử Việt Nam”(Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1996)
ng đã trình bày những điều kiện, nhân tố cơ bản hình thành tư tưởng chính trị - quân sự của Nguyên Trãi Nhưng phân tích trong các sách như: “Nho giáo và văn hóa Việt Nam trung cận đại” của Trần Đình Hượu (Nxb Giáo dục, 1994), “Lịch sủ tư tưởng Việt Nam tập VI, VII: Nguyễn Trãi với khủng hoảng
ý thức hệ Lê - Nguyễn, (1380 - 1442)” của Nguyễn Đăng Thục (Nxb TP HCM, 1998), sách “Lịch sử tư tưởng Việt Nam”, tập 1 do Nguyễn Tài Thư làm chủ biên, bài viết: “Nhân cách nhà Nho trong con người Nguyễn Trãi” của Nguyễn Văn Bình (Tạp chí Triết học số 4/1998), các tác giả này đều nhất trí cao khi khẳng định tư tưởng Nguyễn Trãi chịu ảnh hưởng nhiều của Nho giáo Ngoài ra còn một số bài viết như: “Về cảm quan Phật giáo trong thơ văn Nguyễn Trãi” của Nguyễn Hữu Sơn (Tạp chí Văn học, số 6 2000) “ nh hưởng của Đạo gia trong thơ Nguyễn Trãi” của Lã Nhâm Thìn (Tạp chí Văn học số 6 2000)… Các công trình này đã phân tích, bổ sung, ngoài những ảnh hưởng của Nho giáo, Nguyễn Trãi còn chịu ảnh hưởng của Phật giáo, Đạo
giáo, phân tích ảnh hưởng của Tam giáo đối vời tư tưởng của ông
Như vậy, đến nay chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu về tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi một cách có hệ thống Trên cơ sở tiếp thu,
kế thừa và phát triển những thành quả nghiên cứu của những thế hệ trước trong luận văn này chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu “Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi và ý nghĩa của nó”, một chủ đề trọng tâm xuyên suốt trong tư
tưởng của ông
Trang 103 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* : Hệ thông hóa và phân tích nguồn gốc hình
thành, những nội dung cơ bản tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi, đồng thời chỉ ra một số ý nghĩa tư tưởng này đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam, cũng
như giá trị của nó đối với giáo dục truyền thống ở Việt Nam hiện nay
* : Để đạt được mục đích trên, trong quá trình
nghiên cứu luận văn phải giải quyết các nhiệm vụ sau
- Chỉ ra cơ sở thực tiễn và tiền đề tư tưởng hình thành tư tưởng nhân văn ở Nguyễn Trãi
- Hệ thống hóa và phân tích những nội dung cơ bản trong tư tưởng nhân văn của ông
- Chỉ ra những đóng góp của tư tưởng này trong tiến trình lịch sử tư tưởng Việt Nam và giá trị của nó đối với giáo dục truyền thống ở Việt Nam
hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* : Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi và ý
nghĩa của nó
* : Trong khuôn khổ của luận văn này phạm vi
nghiên cứu là cuộc đời, thơ, văn của Nguyễn Trãi còn được lưu giữ đến ngày nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* : Dựa trên những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng liên quan đến tư tưởng nhân văn
* : Trong luận văn chúng tôi chủ yếu vận
dụng phương pháp nghiên cứu của lịch sử triết học, phương pháp logic - lịch
sử, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp phân tích - tổng hợp, so sánh, đối chiếu, diễn dịch - quy nạp…
Trang 116 Đóng góp của luận văn
Căn cứ vào cơ sở lý luận mác xít, tư liệu lịch sử và nội dung trước tác của Nguyễn Trãi, luận văn chỉ ra một cách có hệ thống nguồn gốc hình thành, nội dung cơ bản tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi, và ý nghĩa tư tưởng này trong lịch sử tư tưởng dân tộc và giá trị trong sự nghiệp đổi mới
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung và tư tưởng Nguyễn Trãi nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 2 chương, 6 tiết:
Chương 1: Những cơ sở cho sự hình thành và phát triển tư tưởng nhân
văn của Nguyễn Trãi
Chương 2: Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng nhân văn của
Nguyễn Trãi
Trang 12Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ CHO SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN CỦA NGUYỄN TRÃI
1.1 Khái lược về tư tưởng nhân văn và nội dung tư tưởng nhân văn trong lịch sử tư tưởng Việt Nam
1.1.1 K ề â
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử khi cơ sở kinh tế thay đổi thì tư tưởng cũng dần thay đổi theo Trên phương diện lý luận và thực tiễn chúng ta có thể khẳng định rằng, là một giá trị tư tưởng, thì tư tưởng nhân văn được hình thành phát triển gắn với những điều kiện hoàn cảnh cụ thể của mỗi dân tộc, mỗi thời đại trong lịch sử phát triển của xã hội loài người Lịch sử của các quốc gia, dân tộc luôn biến đổi nên khái niệm để biểu đạt các giá trị nhân văn cũng không ngừng vận động biến đổi, tức là nội hàm của khái niệm được bổ xung ngày càng thêm phong phú hơn, mở rộng hơn
Trong thời kì cộng sản nguyên thủy con người nương tựa vào tự nhiên, hòa quyện vào tự nhiên nên chưa xuất hiện khái niệm “nhân văn” cùng với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, công cụ lao động bằng kim loại ra đời đã làm cho năng xuất lao động tăng nhanh, lúc này giai cấp xuất hiện và hình thành nên nhà nước Trong xã hội xuất hiện hai gia cấp cơ bản đối lập nhau về quyền lợi kinh tế và chính trị, đó là gia cấp thống trị và gia cấp bị thống trị Khát vọng được giải thoát mọi khổ đau, mơ ước về một xã hội tốt đẹp… đã hình thành nên một nhận thức về vai trò và giá trị của con người trở thành những giá trị nhân văn, trong đó nổi bật lên nội hàm đề cao con người, nhu cầu được sống được hạnh phúc, giải phóng năng lực con người khỏi các
áp bức bất công, nô dịch
Làm rõ các khái niệm “nhân văn”, “tư tưởng nhân văn” theo chúng tôi
là hết sức cần thiết Đây là cơ sở để giải quyết các nhiệm vụ xuyên suốt luận
Trang 13văn Để hiểu khái niệm tư tưởng nhân văn trước hết chúng ta phải hiểu tư tưởng là gì? Tư tưởng là sự suy nghĩ là quan điểm hay ý nghĩ chung của con người đối với hiện thực khách quan và xã hội nói chung [65, tr.1262] “tư tưởng là ý nghĩ sâu sắc” [59, tr.1019] “là sự suy nghĩ là những quan điểm và
ý nghĩ chung của con người về thế giới tự nhiên và xã hội” [66, tr.841]
Ban đầu người ta sử dụng thuật ngữ gốc Latinh là Studia Humanitatis nghĩa là chủ nghĩa nhân văn, dùng để chỉ việc nghiên cứu các môn học của người Hy Lạp cổ như: nghệ thuật, văn học, lịch sử, đạo đức đó là những môn học tách hẳn khoa học tự nhiên, siêu hình học và thần học mà người ta cho rằng là đề cập đến con người, tư duy và trí tuệ, tư cách sống của con người Như vậy tư tưởng lấy con người tiến lên tự do làm trung tâm, xuất phát
từ sự tôn trọng giá trị con người, tin vào sức mạnh vô biên của con người, yêu thương con người và cuộc sống trần gian
Đến thời kì Phục Hưng ở phương tây, khái niệm “chủ nghĩa” nhân văn mới xuất hiện với tư cách là hệ thống quan điểm lý luận, coi con người là tinh hoa của đất trời, coi trọng phẩm giá con người và lấy con người làm trung tâm, ca ngợi cuộc sống tự do, hạnh phúc nơi trần thế, đề cao sự sáng tạo của con người Trong buổi bình minh của giai cấp tư sản, chủ nghĩa nhân văn thời
kì Phục Hưng đã giáng một đòn mạnh mẽ vào ý thức hệ của chế độ phong kiến và tư tưởng của giáo hội… trước hết là giải thoát con người về mặt tư tưởng, tinh thần sau đó là về mặt thể xác thoát khỏi đêm trường Trung Cổ, khẳng định những giá trị tốt đẹp của con người, đưa con người bước sang một chân trời mới Vừa tỏ rõ sự kế thừa văn minh cổ đại, vừa để dễ chống đỡ với quyền uy đương thời, để tránh bị gán cho là tà đạo những người đi đầu thời đại phục hưng đề xướng sự trở về với những cội nguồn thời cổ đại Đó chính
là sự trở về với những yếu tố nhân văn chủ nghĩa đã nảy sinh từ thời kì cổ đại, trở về với vấn đề con người Vì thế họ tự xưng là nhân văn chủ nghĩa để đối lập với dòng tư tưởng của nhà thờ, giáo hội đương thời Trong khi dòng tư
Trang 14tưởng chính thống tập trung nghiên cứu vào thượng đế thì những nhà nhân văn chủ nghĩa tập trung vào nghiên cứu con người Lần đầu tiên một sự đối lập giữa con người và thượng đế được thiết lập dưới hình thức công khai hay
bí mật Đây là sự phản ứng quyết liệt giữa con người và Thượng đế, nói chính xác là với Thượng đế do đức tin giáo hội trung cổ áp đặt Tôn giáo đã làm cho con người lu mờ trong những tín điều, nghi lễ của sự phục tùng tuyệt đối Vì thế các nhà nhân văn chủ nghĩa vén bức màn tôn giáo ấy để cho con người hiển hiện như vốn có Họ thấy rằng con người không phải tự nó chìm ngập giữa đống tội lỗi, bắt đầu từ “tội tổ tông” để rồi hộ phải suốt đời cứu rỗi bằng cách hiến mình cho thượng đế Họ thấy rằng con người là một thực thể sống với tất cả những nhu cầu những khát vọng của chính nó Sự phát triển của lực lượng sản xuất làm cho chủ nghĩa tư bản bộc lộ hết bản chất “ăn cướp” của mình, trong chủ nghĩa tư bản ngày càng khoét sâu giữa lý tưởng nhân văn với thực tiễn xã hội, sự “tha hóa lao động” đã làm cho con người phát triển méo
mó, phiến diện, biến họ trở thành những cỗ máy, công cụ kiếm lời cho chủ nghĩa tư bản Khi chủ nghĩa đế quốc ra đời, con người không được giải phóng, mà ngày càng bị cột chặt vào những quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản Để đạt được mục đích thống trị thế giới loài người, chủ nghĩa đế quốc đã không từ một thủ đoạn bẩn thỉu nào, chúng đã gieo rắc tội ác ở khắp nơi, ở đâu có bước chân của chúng Đằng sau khẩu hiệu “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái” là sự chết chóc, là những cuộc chiến tranh thảm khốc, là sự áp bức bóc lột các dân tộc thuộc địa cũng như sự kì thị chủng tộc, kích động mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo…
Như vậy, “Chủ nghĩa nhân văn là toàn bộ những quan niệm đạo đức, chính trị, bắt nguồn từ cái không phải siêu nhiên, kì ảo, từ những nguyên lý ngoài đời sống nhân loại mà từ con người tồn tại thực tế và hiện thực của nó
Và những nhu cầu khả năng ấy đòi hỏi phải được phát triển đầy đủ, phải được thỏa mãn” [81, tr.5-6] “Ở cấp độ thế giới quan, chủ nghĩa nhân văn là toàn bộ
Trang 15những tư tưởng, tình cảm quý trọng các giá trị như trí tuệ, tình cảm, phẩm giá, sức mạnh, vẻ đẹp Chủ nghĩa nhân văn không phải là một khái niệm đạo đức đơn thuần và bao hàm cả cách nhìn nhận, đánh giá con người về nhiều mặt (vị trí, vai trò, khả năng, bản chất) trong các quan hệ tự nhiên, xã hội, con người” [24, tr.75-76] Theo Từ điển tiếng Việt “Nhân văn: Thuộc về văn hoá loài người” Khái niệm “chủ nghĩa nhân văn” được hiểu “Chủ nghĩa nhân văn là
hệ thống quan điểm triết học - đạo đưc, chính trị - xã hội coi con người và đời sống hiện thực trần thế của nó, một đời sống văn minh, hạnh phúc, hữu ái là mục đích cao nhất Nó giải thích những nguyên nhân gây ra cho nhân loại cảnh bất hạnh, tội lỗi, đồi trụy… và đề ra phương pháp giải quyết những hiện tượng đó, để cho con người được sống ngày càng tốt đẹp hơn” [24, tr.75-76] Thuật ngữ Nhân văn được hiểu theo nghĩa chiết tự của nó như sau:
Nhân = người Ý nói mang các đặc trưng con người, bản chất con người Văn = văn hóa Ý nói văn hóa con người và trình độ văn minh của con
người
Theo đó Nhân văn: là mang những nét đặc trưng thuộc bản chất của con người kết hợp với nó là có tri thức văn hóa, văn minh Những đức tính là thuộc tính của nhân văn bao gồm:
Có trí tuệ, có tri thức và khát vọng vươn lên về tri thức, trí tuệ Có tình yêu thương đồng loại, hiểu biết và quý trọng tự nhiên Tình yêu thương đó có khi có lúc trở nên sâu sắc, rộng khắp đến vô giới hạn - biểu hiện của từ bi, bác
ái Có văn hóa, biết tích lũy kinh nghiệm sống và phát triển chúng để trở thành văn minh
Từ những quan niệm, tư tưởng về Nhân văn phát triển thành trào lưu tư tưởng Nhân văn, rồi hình thành ra một hệ thống tư tưởng mang nội dung "Đề cao giá trị con người" được gọi là "chủ nghĩa nhân văn"
Đối lập với nhân văn tư sản, chủ nghĩa nhân văn cộng sản ra đời, đánh dấu bước phát triển về chất trong lịch sử tư tưởng nhân văn của nhân loại Tư
Trang 16tưởng nhân văn cộng sản phản ánh quyền lợi, giá trị tinh thần của gia cấp vô sản và nhân dân lao động chân chính Trong toàn bộ hệ thống tư tưởng của Mác - Ănghen - Lênin những quan điểm về triết học, kinh tế, chính trị, xã hội các ông chủ trương xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa - cơ sở của sự thống trị áp bức bóc lột người, xây dựng một xã hội tốt đẹp, không còn áp bức bóc lột, một xã hội đại đồng
Ở phương Tây khi nói đến chủ nghĩa nhân văn, người ta thường liên tưởng ngay đến cở sở thực tiễn của nó là sự phát triển các đô thị, đến nền kinh
tế hàng hóa và sự ra đời của giai cấp tư sản Nếu đem áp đặt công thức chủ nghĩa nhân văn phương Tây như chúng ta vừa nói trên vào nghiên cứu biểu hiện cụ thể của lịch sử tư tưởng Việt Nam là phi logic Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam được nảy sinh, phát triển trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm, trong một không gian và thời gian của một nền kinh tế - xã hội điển hình cho xã hội phương Đông theo phương thức sản xuất châu Á chính điều này đã tạo nên những nét độc đáo của chủ nghĩa nhân văn Việt Nam Theo một số nhà nghiên cứu văn hóa, chủ nghĩa nhân văn Việt Nam trong lịch sử có những đặc điểm là thường nghiêng về chủ nghĩa nhân văn hành động, đậm tính hiện thực, ít có tính lý thuyết, nhập thế nhiều hơn,
ưu trội nhiều hơn nhưng lại không bài bác kình địch những giá trị tâm linh xuất thế Cho nên chủ nghĩa nhân văn Việt Nam là chủ nghĩa nhân văn mở, bao dung và hòa đồng
1.1.2 K ề â V ế r ớ ế kỷ XV
Chúng ta có thể khẳng định rằng, “truyền thống là tập hợp những tư
tưởng tình cảm, những tập quán, thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của một cộng đồng người nhất định, được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định” [29, tr.25]
Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định, tồn tại xã hội quyết định ý thức
xã hội, khi tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội cũng thay đổi theo Với
Trang 17cách tiếp cận duy vật lịch sử đó thì những giá trị tinh thần nói chung, trong đó
có tư tưởng nhân văn nói riêng phải bắt đầu từ sự phản ánh các vấn đề thực tiễn trong mối quan hệ biện chứng qua lại với ý thức xã hội - tồn tại xã hội
Với phương pháp tiếp cận duy vật lịch sử, chúng ta có thể tìm thấy những giá trị nhân văn truyền thống của dân tộc trước thời kì độc lập tự chủ, thời kì mà nhân dân ta phải sống trong cảnh nô lệ dưới ách thống trị và âm mưu đồng hóa của phong kiến phương Bắc Qua thực tế lịch sử và những điều
mà sử sách Trung Quốc ghi chép lại, chúng ta thấy rõ những giá trị nhân văn
lớn nhất bao trùm lên đời sống tinh thần xã hội là khát vọng của con người
Việt Nam đòi được sống được bình đẳng, được tôn trọng, thoát khỏi ách đô
hộ để được sống độc lập, tự chủ Biểu hiện của tư tưởng nhân văn trong giai
đoạn này là: Ý thức về cố kết cộng đồng và chủ quyền đất nước; ý thức chống Hán hóa; khát vọng hòa bình; yêu thương đồng bào, đồng loại, quyền được bảo tồn bản sắc văn hóa
Trong suốt hơn một nghìn năm Bắc thuộc, sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc đó là hành trình tìm lại bản sắc văn hóa là khôi phục độc lập
và chủ quyền đất nước Bao sự phản kháng của người Việt nổ ra đều bị dìm trong biển máu, nhưng điều đó càng chứng tỏ sức mạnh văn hiến của một dân tộc không cam chịu kiếp sống lầm than nô lệ Sự đè nén, thống trị của các thế lực ngoại bang đã làm cho người Việt càng thêm đoàn kết, nhằm tăng thêm sức mạnh của cá nhân và cộng đồng, để tìm lại quyền con người cho dân tộc
Chúng ta có thể khẳng định rằng, trong hơn nghìn năm Bắc thuộc, do chính sách “đồng hóa” của kẻ xâm lược, và quá trình tiếp biến văn hóa, lẽ tất nhiên để tồn tại và phát triển người Việt tiếp thu những giá trị văn hóa phù hợp với văn hóa bản địa nhưng mặt khác người Việt cũng luôn đấu tranh để giữ vững nền văn hiến Văn Lang - Âu Lạc của mình Từ thế kỉ VI, khi thắng giặc, Lý Bí tự xưng là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, lấy quốc hiệu
là Thiên Đức, đặt tên chùa là Khai Quốc Điều đó không chỉ chứng tỏ ý thức
Trang 18độc lập dân tộc mà còn khẳng định quyền sống quyền được độc lập tự chủ và
sự ngang hàng bình đẳng với Trung Quốc của người Việt
Bước sang kỉ nguyên độc lập tự chủ, một điều hết sức có ý nghĩa khẳng định một dân tộc có chiều sâu văn hiến, đó là các triều đại rất có ý thức ghi chép, bảo tồn và nâng cao những giá trị văn hóa của dân tộc Những công trình đó trước hết có giá trị về mặt lịch sử, song qua đó chúng ta cũng hiểu được phần nào đời sống tinh thần nói chung và tư tưởng nhân văn nói riêng của dân tộc trong quá trình dựng nước và giữ nước
Qua đọc những truyện Con Rồng cháu Tiên, Sơn Tinh Thủy Tinh, trường ca Đẻ đất đẻ nước, truyện Bà Trưng, Bà Triệu, Triệu Quang Phục, Mai Thúc Loan… một câu hỏi đặt ra: có gì khác nhau trong đặc điểm nhân văn truyền thống của người Việt với các dân tộc khác trên thế giới? Cũng là các tư tưởng đề cao vẻ đẹp con người mang giá trị nhân văn: tự ý thức về chính bản thân mình, ước mơ chinh phục tự nhiên, khát vọng đấu tranh cho con người được sống yên vui hạnh phúc, thương yêu những con người nghèo khó trong
xã hội, nhưng trong cái phổ quát đó chúng ta vẫn nhận thấy nét đặc thù cơ
bản Một trong những nét đặc thù đó là “ý thức cố kết cộng đồng dân tộc”
Nó được biểu hiện ở một số khía cạnh sau:
- Giải thích về con người bao giờ cũng gắn với nguồn gốc dân tộc, giải thích về nguồn gốc giống nòi bao giờ cũng liên quan đến sự nghiệp dựng nước
và giữ nước của tổ tiên (tiêu biểu là Con Rồng cháu Tiên, con Lạc cháu Hồng)
- Giữa thù nhà và nợ nước thì nội dung tư tưởng nhân văn lớn nhất trước hết là cứu nước, cứu con người thoát khỏi ách nô lệ, đọa đầy đau khổ
- Sức mạnh để giải phóng dân tộc, giải phóng con người, đem lại hạnh phúc cho con người là sức mạnh cộng đồng, sức mạnh của sự cố kết giữ các thành viên trong xã hội
- Giá trị Người cao nhất được nhân dân tôn thờ là con người anh hùng
xả thân hy sinh vì cộng đồng (được nhân dân tôn thờ, đền, miếu…)
Trang 19Đối với dân tộc Việt Nam, thực tiễn lịch sử đặc thù ấy đã sớm đặt ra hai nhiệm vụ to lớn, lâu dài có ý nghĩa cốt yếu, mà chỉ có cố kết cộng đồng mới giải quyết được: đó là chinh phục tự nhiên và chống quân xâm lược bảo vệ độc lập dân tộc Từ buổi đầu dựng nước đến sau này người Việt đã cùng một lúc phải đối phó với hai thứ giặc: thiên tai - địch họa Cho nên cơ sở tư tưởng nhân văn dân tộc Việt Nam xuất phát từ chính nghĩa Đó là tất cả những giá trị nhằm hướng tới mục tiêu đấu tranh giành độc lập dân tộc, để con người có quyền tự do làm ăn sinh sống trên mảnh đất vốn là thành quả do bàn tay, khối
óc của mình đã giành giật được từ thiên nhiên, địch họa
Một trong những nội dung tư tưởng nhân văn truyền thống nổi bật từ thời
kì dựng nước tới thế kỉ XIV đó là sự yêu thương con người gắn với yêu nước
Trong mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã phải dành rất nhiều thời gian (hơn 12 thế kỉ), để chống ngoại xâm và sự đô hộ của các thế lực bên ngoài Nếu tính từ cuộc kháng chiến chống quân Tần vào thế kỉ thứ III.TCN cho đến thời kì Bắc thuộc, nước ta đã phải tiến hành hàng chục cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng giành lại độc lập Trong điều kiện
mà kẻ thù luôn luôn mạnh hơn mình gấp nhiều lần và chúng ta chỉ có thể dựa vào chính bản thân mình, vào sức mạnh cộng đồng thì việc giải phóng con người gắn với giải phóng dân tộc, yêu thương con người gắn với yêu nước là tất yếu Ở đây có sự thống nhất giữa tư tưởng và tình cảm, giữ lý luận và thực tiễn trong nội dung tư tưởng nhân văn truyền thống
Bước sang thời kì độc lập tự chủ, chúng ta có thể thấy mối quan hệ giữa
tư tưởng về vấn đề con người nói chung, tư tưởng nhân văn nói riêng càng gắn chặt, với vấn đề dân tộc ở trong gia đoạn lịch sử này nó còn được thể hiện
ở sự xả thân hi sinh để bảo vệ đất nước, khi cần sẵn sàng hi sinh lợi ích của gia đình dòng tộc và bản thân mình cho cộng đồng cho Tổ quốc
Triều đại Lý - Trần là triều đại mà giai cấp phong kiến đang lên đề cao tinh thần thương dân, yêu nước, thống nhất lợi ích dân tộc và lợi ích vương
Trang 20triều trong nhận thức và hành động, yêu nước và trung quân có sự thống nhất với nhau Xả thân hy sinh vì dân tộc là biểu tượng cao đẹp của tư tưởng nhân văn Việt Nam nói chung, thời đại Lý - Trần nói riêng đã làm tiền đề cho sự phát triển tư tưởng nhân văn ở giai đoạn tiếp theo mà biểu hiện ở Nguyễn Trãi
là rõ nhất
Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam truyền thống (thời kì dựng nước và giữ nươc đến thế kỉ XIV) những quan điểm về vị trí con người trong xã hội trân trọng bảo vệ sự sống là một trong những cơ sở quan trọng để chúng ta đánh giá phân tích nội dung tư tưởng nhân văn của thời Lê sơ mà tiêu biểu nhất là trong nội dung tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi
Trong tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi có dòng chảy liên tục của nội dung tư tưởng về con người đã hình thành trong buổi đầu dựng nước và giữ nước là sự phản ánh mối quan hệ của con người trong quá trình đấu tranh với tự nhiên, xã hội Đối với người Việt quá trình đó là một hiện thực lịch sử sinh động Đó là nhận thức đúng gắn vấn đề giải phóng con người với vấn đề giải quyết nhu cầu độc lập dân tộc, chủ quyền đất, làm sao đánh đuổi kẻ xâm lược để cứu nước, cứu con người, đó là thái độ ứng xử với nhau có nhân văn trong cuộc sống cộng đồng… Nét nổi bật nhất trong tư tưởng nhân văn người Việt thời kì đó còn là sự ý thức về bản thân, về vị trí của mình đối với non sông đất nước của bậc tiền nhân để lại Do đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt, do sự thống trị của ngoại bang đã khiến cho con người trên mảnh đất này đều cố gắng tìm thấy những điểm chung giữa các thành viên để gắn bó với nhau thành một khối, nhằm tăng thêm sức mạnh của cá nhân và cộng đồng trong các hoạt động sinh tồn và phát triển
Quan niệm về vị trí và vai trò của con người trong tư tưởng nhân văn dân tộc trước thế kỉ XV là quan niệm về quan hệ thân thiết giữa con người với
con người Những khái niệm như “bà con”, “làng xã”, quan hệ trong làng
ngoài họ, nói lên tình cảm gắn bó, nói lên trách nhiệm, sự đồng lòng đồng chí
Trang 21trong cách ứng xử với tự nhiên, xã hội Trong ý thức của người Việt, không những họ vốn “cùng một mẹ sinh ra” (đồng bào) nên phải đoàn kết yêu thương nhau, mà họ còn mong muốn xây dựng một mối quan hệ xã hội tốt đẹp Ngay trong buổi đầu dựng nước đến trước thời kì này con người Việt Nam đã tự khẳng định được sự ưu tiên xếp hạng các giá trị Trong thang các
giá trị thì luôn dành hàng đầu cho giá trị Người Câu chuyện Kinh Dương
Vương được chép lại trong Đại Việt Sử kí toàn thư, đã khẳng định rằng tộc Việt không phải là dân Man Di như quan niệm của phong kiến phương Bắc,
mà người Việt và người Hán vốn cùng chung một tổ tiên, là con cháu của Viên Đế họ Thần Nông
Những tiền đề khách quan đã chuẩn bị cho sự hình thành và phát triển những tư tưởng nhân văn của người Việt trong thời kì dựng nước được kế thừa và phát triển trong thời kì độc lập tự chủ đến trước thế kỉ XV với những nội dung chủ yếu là:
- Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để mỗi con người xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc là mục tiêu và động lực để con người hành động
- Con người là lực lượng quyết định trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc trong vấn đề xây dựng hạnh phúc cho bản thân
- Quan tâm đến hạnh phúc, đời sống của mỗi người là việc cốt lõi của đạo trị nước “lo cho sinh dân, như lo cho điều lo thiết kỉ” là định hướng đúng đắn của triều đình phong kiến trong thời kì tự chủ
- Ý thức đạo đức và quan niệm nhân sinh cao đẹp là sự bình đẳng, yêu thương đồng loại, là sự xả thân hy sinh vì cộng đồng vì đất nước là giá trị nhân văn cốt lõi quy tụ khối đại đoàn kết dân tộc là giá trị truyền thống Việt Nam
Tất cả những nội dung cốt lõi trên được thể hiện trong ý thức chính trị, trong văn hóa tinh thần của thời đại, nhằm đáp ứng nhu cầu đánh giặc ngoại xâm xây dựng, phát triển thống nhất đất nước Chính vì thế mà quan điểm về
Trang 22vị trí, vai trò của con người ở thời kì này có sự thống nhất chặt trẽ giữa chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng và chủ nghĩa nhân đạo Đây là cơ sở quan trong cho sự hình thành và phát triển tư tưởng nhân văn trong những giai đoạn tiếp theo mà trong phần chương 2 chúng ta sẽ đi sâu phân tích trong phần biểu hiện một số nội dung cơ bản tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi, như là sự kế thừa và phát triển chúng lên một tầm cao mới trong thời phong kiến nhờ tài năng và các phẩm chất của thiên tài Nguyễn Trãi
1.2 Cơ sở thực tiễn, yêu cầu giải phóng và xây dựng đất nước Đại Việt cuối thế kỉ XIV đầu thế kỉ XV
Trong tiến trình phát triển lịch sử dân tộc Việt Nam cuối thế kỉ XIV sang đầu thế kỉ XV đã có những biến động mạnh mẽ tác động rất lớn đến vận mệnh dân tộc Trong khoảng gần 30 năm, từ năm 1400 đến năm 1428 đã có tới ba triều đại thay thế nhau đó là nhà Trần - Hồ - Lê sơ, cùng với đó là những cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc chống lại quân xâm lược và nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân chống lại triều đình
Triều Trần được coi là một trong những triều đại hiển hách trong lịch
sử các triều đại phong kiến Việt Nam, đã củng cố nền độc lập của dân tộc, phát triển kinh tế, ổn định đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông những khó khăn về kinh tế - xã hội dần được khắc phục Trong thời kì này, nhà Trần áp dụng chế độ phong kiến tản quyền, chính điều này đã tạo điều kiện cho tầng lớp quý tộc, đẩy mạnh hoạt động mở rộng phạm vi cát cứ, bành trướng điền trang thái ấp, tăng số lượng nông nô, nô tì, củng cố địa vị thống trị ở địa phương mình quản lý
Bước vào nửa cuối thế kỉ XIV tình hình kinh tế - xã hội Đại Việt rơi vào tình trạng khủng hoảng Chế độ điền trang, thái ấp mang nặng tính chất khép kín, ngày càng đè nặng lên các tầng lớp lao động trong xã hội và kìm hãm sự phát triển của sản xuất Đối lập với nó là nền kinh tế địa chủ phát triển mạnh và ngày càng chiếm ưu thế Vấn đề bức thiết đặt ra cho nhà Trần lúc
Trang 23này là cần xóa bỏ điền trang, thái ấp, giải phóng nô tì, thúc đẩy kinh tế địa chủ phát triển Đi ngược lại yêu cầu của lịch sử, tầng lớp quý tộc quan liêu nhà Trần ngày càng suy đồi vơ vét, bóc lột để sống một cuộc sống xa hoa “Do mất mùa đói kém, nông dân đã phải bán vợ, bán con, bán mình làm nô tì cho các quý tộc, địa chủ giàu có Bọn này nhân đó xâm chiếm hoặc mua rẻ ruộng đất, mở rộng điền trang, tăng thêm số người làm Nhiều chùa cũng trở thành chủ đất lớn với nhiều điền nô” [52, tr.248]
Nhận định về tình trạng đó Nguyễn Trãi viết: “Xưa họ Trần cậy mình giàu có, mặc dân khốn khổ, chỉ ham chơi đắm đối tửu sắc Những việc vô ích bày ra hàng ngày, nào là đánh cờ, đánh bạc, chọi gà, thả chim, nào là chim rừng nhốt lồng, cá vàng nuôi chậu Khoe cái tài năng nhỏ mọn giành lấy hơn thua, quên hẳn thiên hạ lớn lao chẳng hề đoái nghĩ Kẻ oan uổng bị khổ ở chốn giam cầm hai ba năm không được xét hỏi, người thân sơ phải chết ở trong tay nội gián… khanh tướng lập bè đảng riêng tây, triều đình thiếu người cai quản” [69, tr.186, 197]
Sự mục nát của nhà Trần đã làm cho mâu thuẫn giữa quý tộc và nô tì, nông nô vốn đã âm ỷ nay càng thêm sâu sắc Nhân dân ngày càng bị bần cùng hóa và bị phá sản trên quy mô lớn Trong bối cảnh như vậy, việc các cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra là điều tất yếu Năm 1344 Ngô Bệ đã nổi dậy chống lại triều đình; năm 1379 Nguyễn Thanh tụ tập dân nghèo ở Thanh Hóa khởi nghĩa; nhà sư Phạm Sư n cũng phất cờ khởi nghĩa ở Quốc Oai (Hà Tây cũ) vào năm 1390… Các cuộc khởi nghĩa của nông dân cuối đời Trần chứng
tỏ sự khủng hoảng và mục nát của chế độ phong kiến Trần và những mâu thuẫn sâu sắc trong chế độ ruộng đất của thời kì đó, chính vì vậy những giá trị người trong giai đoạn này đã bị trà đạp, con người sống trong sự cơ cực, tủi nhục
Hồ Quý Ly là một võ tướng, một đại thần của vương triều Trần dần dần thoán đạt quyền bính, năm 1400, Hồ Quý Ly đã phế truất vua Trần lập nên
Trang 24nhà Hồ, đổi quốc hiệu thành Đại Ngu Họ Hồ trước và sau khi lên nắm chính quyền đã nhận thức được một số nguyên nhân sâu xa tình trạng khủng hoảng
xã hội Đại Việt cuối thế kỉ XIV, nên đã tiến hành hàng loạt các cuộc cải cách nhằm chấn hưng đất nước Hồ Quý Ly đã thực hiện chính sách hạn điền, hạn
nô có những quy định cụ thể: “Đại vương, trưởng công chúa không hạn định, dưới đến thứ dân không được có quá 10 mẫu Người nào nhiều ruộng được phép lấy ruộng chuộc tội, số ruộng thừa ra thì sung công” [52, tr.254] Đồng thời Hồ Quý Ly còn đưa ra chính sách hạn nô, các quan lại quý tộc chiếu theo phẩm cấp chỉ được nuôi một số nô tì nông nô nhất định Hạn chế thế lực nhà chùa, sa thải tăng lữ, bắt tất cả các nhà sư chưa đến 50 tuổi phải hoàn tục, cùng với đó là tổ chức thi về giáo lý nhà Phật, ai thông hiểu mới được ở lại làm sư Các chính sách hạn chế quyền lợi của tầng lớp quý tộc phong kiến, đo đạc lại ruộng đất, tổ chức lại cách thức phân chia ruộng đất, tiến hành sử dụng tiền giấy nhằm kích thích kinh tế hàng hóa phát triển, đổi mới giáo dục, thay đổi chế độ khoa cử… Những cải cách của Hồ Quý Ly có những điểm tích cực tiến bộ Mặc dù vậy, Hồ Quý Ly cũng là một con người có nhiều thủ đoạn, để củng cố sự thống trị của triều đại khi mới được xây dựng, loại trừ những mối nguy hại mà triều đại trước có thể gây ra, Hồ Quý Ly đã có những sai lầm như thảm sát những quan lại của triều Trần khi có âm mưu đảo chính, điều này đã gây thêm những mâu thuẫn trong nội bộ xã hội, ảnh hưởng sâu sắc đến
ý thức đại đoàn kết dân tộc Việc làm của ông khiến cho nhân dân không ủng
hộ đối với cải cách của triều Hồ, không đoàn kết được các lực lượng xã hội để thực hiện công cuộc xây dựng vào bảo vệ đất nước trước các nguy cơ ngoại bang xâm lược
Nhà Minh đã có âm mưu xâm lược Đại Việt, khi Hồ Quý Ly soán ngôi nhà Trần thì nhà Minh lại càng đẩy mạnh công cuộc chuẩn bị cho sự xâm lược này Năm 1406, lấy cớ phù Trần diệt Hồ, dưới sự chỉ huy của Trương Phụ, quân Minh đã tiến hành xâm lược nước ta Chỉ trong vòng một thời gian
Trang 25ngắn cuộc kháng chiến của nhà Hồ chống quân Minh đã bị thất bại Cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược của nhà Hồ thất bại không phải do nhân dân ta không có lòng yêu nước và không có tinh thần đánh giặc mà do nhà Hồ để mất lòng dân, không có được sự ủng hộ của nhân dân, chính vì thế không thu hút được dân tham gia vào cuộc kháng chiến Sau này Nguyễn Trãi
đã nói: “Họ Hồ dùng gian trí để cướp lấy ngôi, lấy gian trí để hiếp lòng dân Lệnh bảo sao ban bố mà mọi người oán nỗi thương sinh, việc di dân thi hành
mà mọi người kêu bề thất sở Gia dĩ thuế má phiền, lao dịch nặng, pháp luật ngặt, hình phạt nghiêm Chỉ vụ ích kỉ phì gia, chẳng nghĩ khổ dân hại nước Yêu người gần, vị tình riêng Họ hàng thì người thấp cũng tôn quý, tiểu nhân
mà nịnh cũng tin dùng Nhân mừng mà thưởng khen, nhân giận mà phạt giết Người trung thực phải khóa miệng, kẻ lương thiện phải ngâm oan” [69, tr.141] Khi đã đánh mất lòng dân thì sự thất bại của nhà Hồ trong cuộc kháng chiến chống quân Minh là một tất yếu Nhưng đứng trên quan điểm duy vật lịch sử, phân tích một cách khách quan mà nói, không thể đổ mọi tội lỗi lên nhà Hồ, kết quả này là còn do sự khủng hoảng về kinh tế, chính trị từ cuối thời Trần để lại
Nhà Hồ sụp đổ, quân Minh đặt ách thống trị lên đất nước ta, chúng thi hành nhiều chính sách dã man, tàn độc, chúng muốn thực hiện dã tâm đồng hóa nước ta, xóa bỏ vĩnh viễn đất nước ta Chúng làm tàn lụi tận gốc rễ tất cả nguồn sống, những giá trị về vật chất, tinh thần, những giá trị văn hóa, biến nước ta thành quận huyện thuộc ngoại vi Trung Quốc
Trong 20 năm cai trị nước ta giặc Minh dùng nhiều thủ đoạn thâm độc với dân ta Về kinh tế, chúng tiêu diệt con đường sinh tồn của dân tộc, đẩy mạnh vơ vét của cải tài nguyên thiên nhiên nước ta để đem về Bắc quốc, chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, bắt nhân dân ta phải lao dịch, bắt nhân dân ta phải lên núi tìm vàng, xuống biển mò ngọc trai… “sau hơn một năm xâm lược
và cướp bóc, số chiến lợi phẩm mà Trương Phụ tâu lên vua Minh gồm: 235.000
Trang 26con voi, 13.000.000 thạch thóc, 8670 chiếc thuyền, 2.539.800 đồ quân khí” [52, tr.354] Về văn hóa, chúng tìm mọi cách để tận diệt nền văn hóa Đại Việt, với chủ trương “một mảnh giấy, một chữ viết đều thiêu hủy hết”… Những tội ác của giặc thật là trời không dung, đất không tha “thui dân đen trên lò bạo ngược, hãm con đỏ dưới hầm tai ương, dối trời lừa người, kế gian dủ muôn nghìn khóe, cậy binh gây hấn, ác chứa gần hai chục năm” [69, tr.78]
Trước những chính sách cai trị nham hiểm, thâm độc, dân tộc nghìn năm văn hiến của ta có nguy cơ vĩnh viễn biến mất Lúc này để giành lại quyền sống, quyền con người phải đứng lên lật đổ ách đô hộ của quân Minh, quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi Đại Việt, khôi phục nền độc lập dân tộc là nhiệm vụ lịch sử và là yêu cầu của thời đại Sự nghiệp giải phóng đất nước cũng là sự nghiệp giải phóng con người Việt Nam khỏi ách nô lệ
Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng, với truyền thống bất khuất tự cường suốt 20 năm đó đã bền bỉ đấu tranh anh dũng hoàn thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng dân tộc, đoạt lại quyền sống, quyền tự do xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc Năm 1407, nhân dân huyện Đông Lan và Tra Thanh (Diễn Châu, Nghệ An) nổi dạy phá nhà ngục giết bọn quan lại Cuộc khởi nghĩa do Trần Ngỗi và Trần Quý Kháng lãnh đạo đã thu hút hàng vạn người tham gia, làm cho quân Minh khốn đốn ở nhiều nơi, nhưng do sự mất đoàn kết không thống nhất đồng lòng của những người đứng đầu cho nên cuối cùng cuộc khởi nghĩa đã bị thất bại Giữa năm 1410 có cuộc khởi nghĩa của Đồng Mặc (Thanh Hóa)…
Ở miền núi, phong trào đấu tranh chống quân minh cũng phát triển mạnh mẽ Đó là các cuộc khởi nghĩa của Chu Sư Nhạn, Bùi Quý Thắng ở Thái Nguyên, Nông Văn Lịch ở Lạng Sơn…
Các cuộc đấu tranh giành lại độc lập, tự do, đòi quyền sống của nhân dân ta nổ ra chống quân Minh đã chứng minh tinh thần yêu nước, ý chí quật cường không bao giờ chịu khuất phục, chịu mất nước Mặc dù các cuộc khởi
Trang 27nghĩa chưa đi đến thắng lợi nhưng nó cũng làm cho quân Minh suy yếu phần nào Lòng yêu nước và ý chí căm thù giặc của nhân dân ta vẫn luôn nóng bỏng trong mỗi người con Đại Việt để chờ khi người anh hùng áo vải Lê Lợi dựng cờ tụ nghĩa tại đất thiêng Lam Sơn - Thanh Hóa sẽ bùng lên Năm 1416,
Lê Lợi và 18 người đã tổ chức hội thề Lũng Nhai, nêu cao quyết tâm đoàn kết diệt giặc Đầu năm 1418, Lê Lợi tự xưng là Bình Định Vương, tuyên hịch kêu gọi tập hợp nhân dân đứng lên tự giải phóng Ngay sau khi nổ ra khởi nghĩa, nghĩa quân phải liên tiếp chống lại ba lần quân địch bao vây ở núi Chí Linh,
ta và địch có sự chênh lệch hết sức lớn cả về lực lượng và vật chất Trong chiến đấu gian khổ, có nhiều gương chiến đấu hi sinh dũng cảm, điển hình là gương người anh hùng “Lê Lai liều mình cứu chúa” Khó khăn thiếu thốn trăm bề: “Khi Linh sơn lương hết mấy tuần, lúc Khôi Huyện quân không một đội”,
“Cơm ăn chẳng nề hai bữa, áo mặc chẳng phân đông hè, quân khí chỉ độ vài nghìn, khí giới thì thật tay không” Nhưng với sự chính nghĩa của những con người bị tước hết điều kiện sống, bị tước hết quyền con người Khi cuộc kháng chiến bùng nổ và lòng yêu nước cao độ thì không có một khó khăn nào
mà họ không thể vượt qua bởi chúng ta có cả một bề dày lịch sử anh hùng, và đằng sau họ là cả một dân tộc “chúng chí thành thành”, muôn người dân như một, đồng lòng vì một mục tiêu duy nhất là độc lập dân tộc đòi quyền sống cho mọi người
Sau một thời gian bị giam lỏng ở Đông Quan, Nguyễn Trãi đã tìm đến khởi nghĩa Lam Sơn và được Lê Lợi tin dùng, là quân sư trong màn trướng, ngày đên cùng chủ tướng trù mưu tính kế, 10 năm kháng chiến (1418 - 1428)
“nếm mật năm gai”, cuộc kháng chiến chống quân Minh của nhân dân ta đã vang khúc khải hoàn đưa lịch sử dân tộc sang một trang mới, kỉ nguyên độc lập xây dựng đất nước Thời đại đặt ra yêu cầu mới phải yên dân, phải kiến thiết và xây dựng đât nước hòa bình, nhân dân ấm no, hạnh phúc
Trang 28Ở thời kì này vai trò là người hoạch định chiến lược, dựng quốc, an dân của Nguyễn Trãi càng được thể hiện rõ Sau kháng chiến một công việc bức thiết để đảm bảo an dân là kiện toàn bộ máy nhà nước Thời kì này là một bước ngoặt lịch sử, một sự chuyển đổi mô hình chính trị từ nền quân chủ quý tộc phân quyền thời Trần sang nền quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền thời Lê Sơ, vị trí vai trò của nhà vua được đẩy lên vị trị độc tôn “tôn quân” Theo đó nhà vua là “Thiên tử”, người thay trời trị dân, an dân Nhà Lê Sơ đã vận dụng nhiều nội dung tư tưởng chính trị của Nho giáo vào quản lý đất nước Người tổng kết các bài học lịch sử để “thiết kế” nên kiến trúc thượng tầng của triều đại Lê Sơ là Nguyễn Trãi đã đặt biệt chú ý đến quyền sống
trong hòa bình an lạc của dân
Về mặt hành chính: Dưới sự tư vấn của Nguyễn Trãi nhà Lê đã thống
nhất quản lý đất nước, Lê Thái Tổ chia nước thành 5 đạo, sau đó Lê Thái Tông cải tổ lại, chia thành 13 đạo (sau đổi thành 13 thừa tuyên) đứng đầu các đạo thừa tuyên là các tuyên Phủ sứ Ở mỗi thừa tuyên được chia làm 3 ty Các xã được chia thành 3 loại: xã lớn (500 hộ), xã vừa (trên 300 hộ), xã nhỏ (trên 100 hộ) Chức xã quan do dân bầu, nhà nước chỉ đạo và xét duyệt, tiêu chuẩn là các giám sinh, sinh đồ, từ 30 tuổi trở lên và có hạnh kiểm “Tổng số quan lại từ cấp huyện trở lên thời Lê Thánh Tông là 5370 người gồm 2755 quan trong triều và
2615 quan ở các địa phương, đại bộ phận xuất thân từ khoa cử” [50, tr.118]
Về mặt kinh tế: Nguyễn Trãi đã thấy được bài học kinh nghiệm của thời
trước từ đó đưa ra đường lối giúp nhà Lê Sơ kế thừa những thành quả của những cuộc cải cách kinh tế của triều Hồ, nhà Lê tiếp tục thực hiện các chính sách về hạn điền, hạn nô và hạn chế tối đa sự tồn tại, hình thành điền trang, thái ấp, giải phóng nô tì, xét về mặt khách quan những việc làm này là phần nào để củng cố quyền lực của nhà vua Nhưng trong đó chúng ta cũng phải thừa nhận rằng nó mang lại quyền lợi cho người dân, đó là người dân đã có tư liệu sản xuất phát triển kinh tế, ổn định đời sống
Trang 29Nhà Lê quản lý chặt ruộng công để đảm bảo cho dân có ruộng Trong nông nghiệp bao gồm có ruộng đất Nhà nước, ruộng công làng xã, ruộng tư
“Ruộng Nhà nước, có ruộng quốc khố là ruộng nhà nước trực tiếp quản lý và sản xuất, thu hoạch đưa vào kho công Lộc điền là loại ruộng Nhà nước ban
cấp cho những quan liêu cao cấp (từ tứ phẩm trở lên), gồm có ruộng ban cấp được phép kế thừa và ruộng ban cấp tạm thời, có thể thu hồi lại sau khi chết Diện tích lộc điền có thể thay đổi từ 40 mẫu (quan tứ phẩm) đến 2000 mẫu (các vương thân) [50, tr.120] Lộc điền thời Lê thay thế điền trang thái ấp thời
Lý - Trần, hạn chế sự tập trung ruộng đất và tay các quý tộc quan lại, không tạo điều kiện cho sự cát cứ phong kiến xuất hiện và phát triển
Ruộng làng xã gồm các loại công điền và tư điền Dưới thời Lê sơ Nhà nước thực hiện chính sách quân điền, theo đó ruộng đất công xã cứ 6 năm
chia lại một lần Chính sách quân điền thời Lê sơ là một bước tiến trong quá trình phong kiến hóa làng xã, chuyển từ nền kinh tế điển trang quý tộc sang nền kinh tế tiểu nông Qua đó, Nhà nước nắm được một cơ sở kinh tế quan trọng của xã hội đó là làng xã, mặt khác phát triển được sản xuất và ổn định đời sống nhân dân Đây là một biện pháp tích cực thời Lê sơ thấm đầy tính nhân văn
Trong lĩnh vực thủ công nghiệp, có bước tiến mới là đẩy mạnh hoạt động của các quan xưởng chuyên về đúc tiền, chế tạo vũ khí, đóng thuyền, sản xuất đồ nghi lễ, phục phẩm… phục vụ nhu cầu của triều đình Trong lĩnh vực thương nghiệp thời Lê sơ các hoạt động chủ yếu đó là buôn bán nhỏ thông qua mạng lưới chợ nông thôn và thành thị, thương nghiệp trong thời kì này là không phát triển do chính sách trọng nông ức thương của triều đình
Nhìn một cách tổng quát với sự tham mưu của Nguyễn Trãi triều Lê đã
có những chính sách quan tâm đến nhu cầu sống của nhân dân về cả vật chất
và tinh thần Nhà nước Lê sơ là một nhà nước trọng nông, đã đề ra nhiều biện pháp khuyến khích và phát triển nông nghiệp, ổn định đời sống nhân dân
Trang 30Kết cấu xã hội xã hội Đại Việt thời Lê sơ là một kết cấu đảm bảo xã hội
ổn định và phát triển, tuy rằng là một xã hội mang tính đẳng cấp, có hai đẳng
cấp chính đó là quan liêu và thứ dân Nhưng ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo nên tuy quan liêu là đẳng cấp cầm quyền, cai trị, đồng thời cũng được coi là
tầng lớp ưu tú của xã hội, chú trọng trách nhiệm chăm dẫn và giáo hóa dân Đầu thời Lê các công thần chủ yếu là võ quan, sau dần quan lại phải được đào tạo và vai trò dần chuyển sang các quan văn Với việc mở rộng khoa cử, các nho sĩ trí thức bình dân đã dần có điều kiện tham gia chính quyền Tuy nhiên, quan lại thời kì này, bị kiểm soát ràng buộc nghiêm ngặt bởi các lễ thức, quy phạm của lễ và luật, vì vậy đã mang nhiều tính chuyên chế và ít còn thân dân Đẳng cấp thứ dân là giai cấp xã hội bị trị mà nông dân là tầng lớp đông đảo nhất đã là lực lượng được đề cao chú trọng đến quyền sống trong tư tưởng của Nguyễn Trãi đã tổng kết cô đúc về vai trò của họ
Văn hóa tư tưởng từ thời Lý - Trần dần dần Nho giáo bước lên vũ đài tư
tưởng và chính trị, nước ta từ cuối thời Lý, đến giữa thời Trần - Hồ thì Nho giáo phát triển tiến lên giành ưu thế trong kiến trúc thượng tầng của xã hội, sang thời Lê sơ triều đình đã dần từ bỏ chính sách sử dụng hệ tư tưởng Tam giáo đồng nguyên thời Lý - Trần để chuyển sang một chính sách văn hóa đó là
đề cao Nho giáo “Tống nho đã được đề cao như một hệ tư tưởng chính thống nhà nước, làm bệ đỡ tử tưởng cho chế độ quân chủ quan liêu” [50, tr.124] Nguyễn Trãi là người được đào tạo bởi Nho giáo, ông tiếp thu những yếu tố tư tưởng nhân văn từ Nho giáo là điều thấy rõ ng chịu ảnh hưởng của các giá trị nhân văn từ Nho giáo và các học thuyết khác nhằm giúp nước, giúp dân
Tóm lại, hiện thực cuộc sống sinh động và đầy những biến đổi không ngừng đặt ra trong đời sống chính trị, tư tưởng Đại Việt cuối thế kỉ XIV đầu thế
kỉ XV nhận thức vấn đề về vai trò của con người mà trước hết là tầng lớp nhân dân lao động, điều đó quy định quan niệm của tất cả các nhà tư tưởng thời kì này, trong đó có tư duy logic ở mức cao nhất thể hiện ở con người tài hoa
Trang 31Nguyễn Trãi Đặc biệt hơn Nguyễn Trãi là người đã tham gia trực tiếp vào những biến động của lịch sử, sau đó tham gia tích cực và đóng vai trò là bộ não, với tư cách là vị quân sư, tham mưu chính trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
và là trụ cột thiết kế nên thượng tần kiến trúc của nhà Lê Sơ, dưới thời Lê Thái
Tổ, Lê Thái Tông trong việc xây dựng đất nước, phát triển kinh tế xã hội theo
xu hướng đề cao nhân dân, chú ý đến lợi ích củ người lao động ng đã hiểu được quy luật vận động phát triển tất yếu của lịch sử là phải có sự ủng hộ của nhân, hiểu được những giá trị cao đẹp đích thực của con người Chính những nhân tố khách quan của thực tiễn đất nước, trải nghiệm cuộc sống phong phú làm tư duy nhận thức ông thêm sâu sắc thấm đầy tư tưởng nhân văn
1.3 Nguyễn Trãi con người - sự nghiệp - tư tưởng
Trong tiền đề tư tưởng của Nguyễn Trãi, không thể không đề cập đến nhân tố chủ quan, nó giữ vai trò lớn trong việc hình thành tư tưởng nhân văn của ông
Nguyễn Trãi sinh năm 1380, hiệu là Ức Trai, người làng Nhị Khê thuộc Thường Tín - Hà Tây (nay thuộc Hà Nội) Cha ông là Nguyễn Ứng Long, sau đổi tên là Nguyễn Phi Khanh Mẹ là bà Trần Thị Thái, con gái thứ ba quan tư
đồ Trần Nguyên Đán, cháu bốn đời thượng tướng Trần Quang Khải, một danh tướng tên tuổi của ông đã gắn liền với các chiến thắng oanh liệt ở Chương Dương, Thăng Long, Tây Kết, Hàm Tử đánh tan quân Mông - Nguyên xâm lược thế kỉ XIII
Trần Nguyên Đán giao cho thầy đồ Nguyễn Ứng Long nhiệm vụ dạy dỗ
cô con gái của ông là Trần Thị Thái Quá trình dạy học, gần gũi Nguyễn Ứng Long, một người thầy tài hoa, mẫu mực, cô Thái đã đem lòng yêu quý thầy và hai người có tình cảm với nhau Khi bà Trần Thị Thái có mang, Nguyễn Ứng Long sợ sẽ bị Trần Nguyên Đán trị tội vì một thầy giáo nghèo giám yêu cô tiểu thư cành vàng lá ngọc, hơn nữa lại vi phạm những chuẩn mực đạo đức Nho gia, nên ông đã bỏ trốn Khi biết được đầu đuôi sự việc, Trần Nguyên
Trang 32Đán đã cho người tìm Nguyễn Ứng Long về và bảo rằng: “Người xưa cũng đã
có như thế Chắc anh cũng đã biết chuyện Trác Văn Quân và Tư Mã Tương Như Nếu anh làm được như Tương Như, lưu danh đến đời sau, thì đó là nguyện vọng của ta” [69, tr.49]
Cảm động trước tấm lòng độ lượng và sáng suốt của Trần Nguyên Đán, Nguyễn Ứng Long ra sức dùi mài kinh sử, năm Giáp Dần 1374 niên hiệu Long Khánh thứ hai của vua Trần Duệ Tông, Nguyễn Ứng Long ra ứng thí và
đã đậu thái học sinh (tiến sĩ)
Nguyễn Ứng Long lấy bà Trần Thị Thái, sinh được bảy người con, năm trai hai gái Nguyễn Trãi sinh năm 1380 tại quê làng Nhị Khê, sau đó cùng mẹ
về quê ngoại ở Thăng Long sống trong dinh quan tư đồ Trần Nguyên Đán Trần Nguyên Đán là người thuộc dòng dõi quý tộc, đồng thời cũng là người giữ quyền cao chức trọng dưới vương triều Trần ng một lòng dốc sức cho dân cho nước, lo cho vận mệnh của dân tộc Cuộc đời tư tưởng và danh tiết của ông đã có ảnh hưởng sâu sắc đến Nguyễn Trãi sau này Đồng thời Trần Nguyên Đán là một người hết sức uyên thâm Phật học cũng như Nho học, chính vì thế những tư tưởng của ông nói chung và tư tưởng về Phật giáo, đã trực tiếp hay gián tiếp qua ông ảnh hưởng lớn đến Nguyễn Trãi Năm 1385, bà Trần Thị Thái thân mẫu Nguyễn Trãi qua đời, mùa Thu năm đó, Trần Nguyên Đán cáo quan về nghỉ hưu trên núi Côn Sơn thuộc huyện Chí Linh - Hải Dương Nguyễn Trãi trở về làng Nhị Khê sống với cha là Nguyễn Ứng Long
Sinh ra trong một gia đình trí thức, được sống trong nền giáo dục Nho học và nền văn hóa sâu đậm của dân tộc, Nguyễn Trãi đã học tập ở người cha đáng kính, người ông nhân từ, hiền hậu những kiến thức sâu rộng, tâm hồn cao đẹp hết lòng vì nước vì dân Với sự thông minh và được giáo dục tốt, cộng thêm đức tính cần cù quyết tâm dùi mài kinh sử “Vườn chư tử, bể lục kinh”, Nguyễn Trãi cũng đã tiếp thu được tư tưởng uyên bác của các nhà nho trong lịch sử và đương thời, rèn luyện ý chí cũng như lòng tự hào dân tộc, yêu
Trang 33nước thương dân Vào năm 1400 lúc đó Nguyễn Trãi 20 tuổi, trong kì thi đầu tiên của nhà Hồ, Nguyễn Trãi đã đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) cùng với cha ra làm quan cho nhà Hồ, giữ chức Ngự Sử Đài Chánh Trưởng, với một hoài bão cao cả là đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân theo lý tưởng nhà Nho
Như vậy, sau hai mươi năm, với sự yêu thương chăm sóc của ông ngoại, cùng với sự dạy bảo, truyền thụ học vấn của cha “sao Khuê” của đất Việt đã tỏa sáng Trong tâm hồn, tư tưởng của Nguyễn Trãi là sự hội tụ những
gì tinh túy nhất của trí tuệ, đạo đức của quan tư đồ Trần Nguyên Đán và học vấn uyên thâm của thầy đồ Nguyễn Ứng Long, cùng với đó là kết quả của sự
nỗ lực trong chính bản thân, con người biết vượt khó vươn lên của Nguyễn Trãi Trong hai mươi năm ấy, ngoại trừ thời gian được sống cùng ông ngoại ở Thăng Long và Côn Sơn, thì Nguyễn Trãi đã phải sống một cuộc sống nghèo khổ nhưng đầy ý nghĩa với cha ở quê nhà Cuộc sống nơi thôn quê với những người dân lao khổ, với tình làng nghĩa xóm, đây là một trong những cơ sở thực tiễn sinh động, giúp ông có cái nhìn toàn diện sâu sắc về con người về xã hội Chúng ta có thể khẳng định rằng, tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi được bắt nguồn và nảy sinh từ chính hiện thực cuộc sống gắn bó với nhân dân
mà ông đã từng trải
Năm 1400 Hồ Quý Ly đã ép Trần Phế Đế nhường ngôi cho mình để thiết lập nên nhà Hồ Ông thực thi nhiều cải cách táo bạo để hòng thay đổi cục diện đất nước Chính vì thế mà Hồ Quý Ly bị quy vào tội “thoán nghịch” cướp ngôi của nhà Trần Cha con Nguyễn Trãi ra làm quan với nhà Hồ, để cống hiến tài năng cho đất nước, cho nhân dân, họ đã vượt qua giới hạn quan niệm về chữ “trung” của một nhà Nho Với Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi được cống hiến tài năng của mình cho dân, cho nước, làm cho nhân dân
có được cuộc sống ấm no, yên bình là điều cao cả nhất Như vậy Nguyễn Trãi
đã có một quan niệm về con người có nhân, nghĩa, trung, hiếu, nghĩa quân thần mới và tiến bộ Với ý thức hệ Nho giáo nhân là phải giữ lễ, nhân là phải
Trang 34trung với vua vì trung, hiếu với vua là trung hiếu với nước Vua và nước hòa làm một “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” (Vua bảo tôi chết mà tôi không chết là không trung thành) Chính vì thế, trung với vua, kể cả những tên hôn quân, bạo chúa là hành động mà người theo hủ Nho phải tuyệt đối chấp hành Chính vì điều này mà đã có nhiều người trung thành một cách mù quáng, thậm chí phản bội lại Tổ quốc, phản bội lại nhân dân Với Nguyễn Trãi, về trung hiếu, về nghĩa quân thần, đạo phụ tử đã được ông nói rất nhiều Ngay từ bé ông đã được cha, ông ngoại dạy cho rất nhiều và có ảnh hưởng sâu sắc đối với Nguyên Trãi “Nếp nhà thi lễ nòi giống thần minh, có hoài bão một lòng vì nước” (Chuyện cũ về Băng Hồ tiên sinh) Nguyễn Trãi miệt mài đèn sách với quan niệm rằng, học để “Trọn niềm trung hiếu” Trung hiếu là phẩm chất là lẽ sống của Nguyễn Trãi:
“Bui có một niềm trung hiếu cũ Chẳng nằm thức dậy nẻo ba canh”
Mặc dù trung, hiếu ở Nguyễn Trãi là: “Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen” nhưng trung hiếu ở Nguyễn Trãi lại là trung, hiếu với nước mang nội dung phù hợp với yêu cầu thực tiễn của dân tộc Cái gốc là từ sách vở thánh hiền nhưng quan niệm của Nguyễn Trãi là vì con người khác hẳn với quan niệm của Nho giáo Quả thật như vậy, Nguyễn Trãi là một nhà nho vì thế điều tất yếu những phạm trù đạo đức Nho giáo phải được ông am hiểu và vận dụng một cách sâu sắc nhưng không phải ông bê nguyên xi vào nếp tư duy, sự hành động của mình Nhân, nghĩa của Nho gia nhất là ở Mạnh Tử được hình thành trên cơ sở mâu thuẫn đấu tranh giữa các tiểu vương quốc, chư hầu thời Xuân Thu chiến quốc Và đến Nguyễn Trãi, nội dung tư tưởng nhân, nghĩa ấy cũng
đã được ông tiếp thu vận dụng để nêu lòng yêu nước chống ngoại xâm Rõ ràng những quan niệm của Nguyễn Trãi về các phạm trù cơ bản của Nho giáo
là hoàn toàn có những yếu tố mới dân tộc, nhân văn Đây chính là đặc điểm đặc sắc trong tư tưởng nhân văn tiêu biểu ở Nguyễn Trãi
Trang 35Chúng ta nhận thấy rằng việc cha con Nguyễn Trãi ra làm quan với nhà
Hồ là sự lựa chọn đúng đắn Bởi vì, họ ra làm quan mà không hề màng đến danh lợi, quyền lực, ở đây mục đích duy nhất là hoài bão cống hiến vì cuộc sống yên vui của nhân dân, để đất nước phồn thịnh Những năm tháng làm quan dưới triều Hồ, với một tấm lòng sắc son vì dân Đến khi giặc Minh sang xâm lược nước ta, chứng kiến cuộc kháng chiến của nhà Hồ, sự bất lực của triều đình trước sức mạnh của quân xâm lược, hơn ai hết Nguyễn Trãi hiểu được nguyên nhân của những biến cố lịch sử đau thương ấy của dân tộc và càng tăng thêm ý chí sắt đá cứu nước, cứu dân Nhưng chính thực tiễn sinh động của cuộc sống ấy lại là cơ sở cho những tư tưởng nhân văn hết sức sâu sắc của Nguyễn Trãi sau này
Giặc Minh sau khi xâm lược, tiến hành đô hộ nước ta, chúng đã bắt cha con Hồ Quý Ly và gần như toàn bộ triều thần nhà Hồ, trong đó có Nguyễn Phi Khanh, cha của Nguyễn Trãi Nguyễn Trãi đã cùng với người em trai theo đoàn xe tù lên biên giới với ý định sang Trung Hoa muốn được bên cha chăm sóc, báo hiếu với cha trong những ngày cuối cùng của cuộc đời Với một tư tưởng tiến bộ, vượt lên những giới hạn hẹp hòi của Nho giáo về chữ “trung”
và chữ “hiếu”, mà ở đây là một lòng đại hiếu yêu nước, yêu dân chân thành, Nguyễn Phi Khanh đã khuyên Nguyễn Trãi: “Ta coi thiên văn hai mươi năm sau, ở phương Tây sẽ có chân chúa hưng khởi, con quyết chí theo đi để rửa hận cho nước, để rửa thù cho cha, thế là đại hiếu Chứ cứ bo bo ở dưới gối có phải là hiếu đâu” [69, tr.519] Nguyễn Trãi đã thực hiện đại hiếu với nước với dân quên cả mình, đều này thể hiện chiều sâu tư tưởng nhân văn trong con người Nguyễn Trãi
Khi về Đông Quan, Nguyễn Trãi bị giặc Minh bắt, biết được tài năng của ông chúng tìm mọi cách để dụ dỗ, lôi kéo ông ra làm quan cho chúng nhưng ông đã tìm mọi cách để từ chối, vì vậy chúng đã giam lỏng ông ở đó Những năm tháng bị giam cầm cở Đông quan Nguyễn Trãi đã phải chịu một
Trang 36cuộc sống khó khăn thiếu thốn rất lớn về vật chất Những thiếu thốn về vật chất không khiến ông bận tâm nhiều Nhưng điều đáng lo và đáng sợ với một người mang trong mình một hoài bão vì nghĩa lớn như Nguyễn Trãi đó là cuộc sống mất tự do, luôn bị kẻ thù kìm tỏa Trong thời gian này, Nguyễn Trãi
có dịp tìm hiểu kẻ thù về chính trị, quân sự, về âm mưu thống trị đàn áp dân ta của chúng Sau một thời gian bị giam lỏng ở Đông Quan, Nguyễn Trãi vượt được vòng vây của giặc, ông đã sống nhiều năm tháng giữa lòng nhân dân
“sống trong không khí và chứng kiến những hành động anh hùng, bất khuất những gương hi sinh vì nước của những anh hùng nghĩa sĩ như Nguyễn Biểu, Đặng Dung… Những tấm gương ấy đã tác động mạnh vào tư tưởng, làm ông ray rứt ngày đêm, quyết tìm phương lược cứu nước” [17, tr.50] Quá trình đi tìm minh chúa để phù, mặc dù có rất nhiều các vương tôn quý tộc nhà Trần đứng lên chống giặc nhưng Nguyễn Trãi đã không theo và ông đã chọn lựa đến với Lê Lợi trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Có thể nói trong cuộc đời, Nguyễn Trãi đã hai lần đứng trước sự lựa chọn Lần đầu, lúc nhà Trần đang bước dần vào tình trạng khủng hoảng và đi đến suy vong, Hồ Quý Ly là đại diện cho cái mới với những cải tổ tiến bộ Cha con Nguyễn Trãi chấp nhận
Hồ Quý Ly, dẫu biết rằng chính họ Hồ là kẻ cướp ngôi vua Trần Lần sau là việc tìm đường cứu nước, tìm chân chúa mà thờ ng đã không theo hai cuộc kháng chiến của nhà Hậu Trần (1407 - 1413) mà phải nghĩ suy cân nhắc, để sau đó mới đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vào năm 1418 do Lê Lợi chủ xướng
và hoàn thành được khát vọng giải phóng nhân dân khỏi sự áp bức của giặc Minh, xây dựng cuộc sống mới ấm no hạnh phúc cho nhân dân Chính những năm tháng sống cùng nhân dân, ông đã thấy cảnh lầm than, cơ cực của nhân dân Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến tư tưởng nhân văn của ông về đề cao quyền sống của nhân dân và xây dựng cuộc sống nhân dân ấm
no, hạnh phúc
Trang 37Những năm tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Nguyễn Trãi đã tận lực tận tâm đóng vai trò vai trò là “quân sư” tham mưu chính cho Lê Lợi đánh giặc cứu nước, cuối cùng tâm huyết của ông cũng đã được tại nguyện, nợ nước đã trả, thù nhà đã báo Cuộc kháng chiến chống quân Minh giành thắng lợi, đất nước được hoàn toàn giải phóng nhân dân khắp nơi vang khúc khải hoàn đó chính là tư tưởng mang tính nhân văn rộng rãi và chân thực nhất Với
lý tưởng và hoài bão cao đẹp, Nguyễn Trãi không ngừng phấn đấu xây dựng một xã hội mà ở đó có “Vua sáng, tôi hiền”, cuộc sống của nhân dân được ấm
no, hạnh phúc “vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn” Nhưng thực tế không như Nguyễn Trãi mong muốn, triều đình phong kiến nhà Lê sau khi thiết lập được bộ mày nhà nước, một số quan cao trong triều ỷ thế là người khai quốc công thần, đã ra sức bóc lột hà hiếp nhân dân, tìm cách củng cố quyền lực và phục vụ lợi ích cho riêng mình mà không nghĩ đến sinh dân, đến đất nước Ngay cả Lê Lợi một chủ tướng sáng suốt công minh, khi ngồi lên ngai vàng
để bảo vệ quyền lợi địa vị của dòng tộc, nghe theo lời xu nịnh của gian thần
đã giết hại những người cùng vào sinh ra tử với mình trong kháng chiến, đó là những khai quốc công thần như: Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo
Trong bối cảnh xã hội và triều đình phong kiến đó, Nguyên Trãi vẫn một lòng chung thủy với lý tưởng nhân văn cao đẹp của mình đó là hết lòng
vì dân vì nước ng ra làm quan với mong muốn được cống hiến hết tâm huyết của mình cho sự yên vui của trăm họ Nhưng những mâu thuẫn của ông với những tên nịnh thần kém tài, thiếu đức ngày càng lớn Thất vọng và bế tắc trước hiện thực phũ phàng của cuộc sống, Nguyễn Trãi đã cáo quan về Côn Sơn để “di dưỡng tinh thần” tìm cách nâng đỡ con người bị đau khổ, những người lao động, đề cao giá trị của đạo đức, tinh thần
Sau khi Lê Lợi mất, Lê Thái Tông lên ngôi, nhà vua đã vời ông ra làm quan và giao nhiều trọng trách mới phục vụ đất nước Như vậy, một lần nữa Nguyễn Trãi lại được mang tài năng, tâm huyết và đức độ của mình ra giúp
Trang 38dân, giúp nước, chính vì vậy ông trở thành cái gai của thế lực tha hóa và chúng tìm mọi cơ hội để hãm hại ông
Cuộc đời Nguyễn Trãi khép lại bằng nỗi oan khuất và nỗi đau đến ngàn thu bởi vụ án Lệ Chi Viên Tấm bi kịch tại Lệ Chi Viên xảy ra chính là hậu quả của những hạn chế không thể khắc phục được của chế độ phong kiến Việt Nam đương thời Nhưng nỗi đau lịch sử ấy đã minh chứng cho tư tưởng nhân văn cao đẹp thuỷ chung vì dân, vì nước của Nguyễn Trãi Hậu thế mãi biết đến ông không chỉ với tư cách là một nhà tư tưởng, chính trị, quân sự lỗi lạc mà còn là một con người cho đến tận những giây phút cuối cùng của cuộc đời đã hi sinh cho lý tưởng nhân văn cao đẹp là phấn đấu hy sinh cho dân, cho nước
Vượt lên trên những giới hạn nhất định của khuôn khổ Nho, Phật,re Đạo và vượt lên trên cả những hạn chế của xã hội phong kiến Việt Nam, Nguyễn Trãi đã để lại cho hậu thế cả một di sản quý báu về tư tưởng, đó là sự kết tinh tài năng đức độ và trên hết là tư tưởng yêu nước, thương dân, nhất là người dân lao khổ, “đêm ngày cuồn cuộn nước triều dâng” của ông Ông đã hiến cả cuộc đời, tài năng, nghị lực cho dân, cho nước
Trang 39Chương 2 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN
CỦA NGUYỄN TRÃI
2.1 Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi trong thời kì kháng chiến chống quân Minh giải phóng dân tộc: một số nội dung cơ bản
Đô (Thăng Long) Quân nhà Hồ rút về vùng Hoàng Giang (thuộc địa phận Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) Quân Minh do Mộc Thạnh chỉ huy kéo đến uy hiếp Quân nhà Hồ do Hồ Nguyên Trừng chỉ huy đem 300 chiến thuyền đánh quân Minh, bị thất bại, phải rút về Muộn Hải (cửa sông Hồng ở Giao Thuỷ - Hà Nam) Quân đội nhà Hồ ở Lạng Giang do Hồ Đỗ, Hồ Xá chỉ huy cũng bị thua
Trang 40trận phải bỏ Bình Than rút về hội quân với cánh quân Hồ Nguyên Trừng ở Muộn Hải Quân Minh tấn công Muộn Hải, quân nhà Hồ thua, bỏ Muộn Hải chạy về cửa Đại An (Hà Nam) Quân Minh bị bệnh tật, ốm đau nhiều, buộc phải bỏ Muộn Hải rút về Hàm Tử (Hưng Yên) Cuối tháng 3-1407, Hồ Nguyên Trừng chỉ huy một lực lượng lớn gồm bộ binh và thuỷ binh tấn công quân Minh ở Hàm Tử nhưng bị đại bại Hồ Quý Ly, Hồ Nguyên Trừng, Hồ Hán Thương và tướng sĩ nhà Hồ chạy về cố thủ ở Tây Đô (Vĩnh Lộc, Thanh Hoá) Tháng 4-1407, Trương Phụ, Mộc Thạnh, Lý Bân đem một lực lượng mạnh gồm có kỵ binh, bộ binh, thuỷ binh tiến vào đánh bại quân nhà Hồ ở Tây Đô Triều đình nhà Hồ chạy vào ẩn náu ở vùng Ngàn Sâu (rừng núi Nghệ An) Tháng 6-1407, cha con Hồ Quý Ly cùng nhiều tướng lĩnh, quan lại triều
Hồ trong đó có cả cha của Nguyễn Trãi bị quân Minh bắt giải về Kim Lăng (Trung Quốc) Vùng Thuận Hoá (Quảng Trị, Thừa Thiên) lần lượt rơi vào tay quân xâm lược Minh
Sau khi xâm lược nước ta và cơ bản bình định được nước ta quân Minh tiến hành công cuộc đô hộ vơ vét của cải, nhân tài vật lực nước ta Đời sống nhân dân lầm than cơ cực Chứng kiến tận mắt sự suy vong của hai triều đại Trần - Hồ và sự tàn ác của giặc Minh Nguyễn Trãi đã căm giận lên án tội ác
vô cùng dã man của quân “cuồng Minh” Trước cảnh đất nước bị đô hộ, chia cắt thành quận huyện, và bị áp chế dưới chính sách cai trị vô cùng độc ác, làm cho con người Việt Nam điêu đứng :
“Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây họa, Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh” [69, tr.78]
Kế thừa truyền thống yêu nước thương dân, Nguyễn Trãi dùng ngòi bút của mình tố cáo bộ mặt phản nhân văn của quân xâm lược Minh, thông cảm
và chia sẻ những nỗi khổ đau của nhân dân ta gánh chịu trong chiến tranh Tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” là bản cáo trạng đanh thép hủy diệt con người, hủy diệt sự sống, hủy diệt nền văn hóa Việt Nam của giặc Minh trong suốt