ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ LÊ THỊ HƯỜNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LÊ THỊ HƯỜNG
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LÊ THỊ HƯỜNG
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS PHẠM CÔNG NHẤT
HÀ NỘI - 2013
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VÀ SỰ CẦN THIẾT
PHẢI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY 9
1.1 Nguồn nhân lực chất lượng cao 9 1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao 9 1.1.2 Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong phát triển kinh
tế - xã hội ở nước ta hiện nay 19 1.2 Đặc điểm của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh
Bắc Ninh và sự cần thiết phải phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay 25 1.2.1 Đặc điểm của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh
Bắc Ninh hiện nay 25 1.2.2 Tính tất yếu phải phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay 32 1.2.3 Những yếu tố tác động đến quá trình phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay 37
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN
LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY 45
2.1 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay 45 2.1.1 Khái quát về quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc
Ninh hiện nay 45 2.1.2 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay 50
Trang 42.1.3 Đánh giá chung về thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của nó 61
2.1.4 Một số mâu thuẫn đặt ra hiện nay 69
2.2 Quan điểm và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh Bắc Ninh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay 71
2.2.1 Những quan điểm chủ yếu 71
2.2.2 Một số giải pháp chủ yếu 75
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 98
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhân loại đang chứng kiến sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ với những thành tựu hết sức to lớn Sự phát triển ấy đã đưa nền kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn mới - kinh tế tri thức Thay đổi này đặt ra cho mỗi quốc gia trên thế giới những thời cơ và thách thức mới Quan niệm phát triển truyền thống dựa vào tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực rẻ đang ngày càng giảm bớt vai trò Thay vào đó là lợi thế về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học công nghệ Trong xu thế đó , người lao động ngày nay ngoài phẩm chất đạo đức , tinh thần lao động hăng say phải có kiến thức , kỹ năng nghề nghiệp , tinh thần sáng tạo th́ì mới có thể đáp ứng được nhu cầu của sự phát triển kinh tế Chính
vì thế phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao đang là một trong những vấn đề bức thiết, có tính ưu tiên hàng đầu đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển
Việt Nam bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước, theo đi ̣nh hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) với rất nhiều thời cơ và thách thức Mô ̣t trong những thách thức lớn đối với nước ta hiện nay là phải nhanh chóng nâng cao tiềm lực mọi mặt để thực hiện rút ngắn quá trình công nghiê ̣p hóa , hiê ̣n đa ̣i hóa đất nước Trong số các nguồn lực cần thiết cho sự thành công của sự nghiệp công nghiê ̣p hóa , hiê ̣n đa ̣i hóa thì nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định
Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực , thấm nhuần tư tưởng của chủ nghĩa Mác -Lênin: Dù ở thời đại nào , thì yếu tố con người cũng luôn giữ vai trò quyết định, tác động trực tiếp đến tiến trình phát triển của lịch
sử xã hội Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời tới nay luôn chăm lo phát triển nguồn nhân lực, nhất là trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì
Trang 6mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ: “Nội lực có vai trò quyết định đối với sự phát triển Có phát huy được nội lực mới thu hút và sử dụng có hiệu quả ngoại lực Nội lực được tăng cường mới bảo đảm được độc lập tự chủ về kinh tế và thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế thành công Phát huy nội lực trước hết là phát huy nguồn lực con người, nguồn lực của toàn dân tộc, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và sử dụng tốt nhất các nguồn lực của nhà nước” [21, tr.179] Trong văn kiện “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2011 - 2020” (Đại hội XI của Đảng) khẳng định vấn đề trên một cách sâu sắc hơn: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hính tăng trưởng
và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả
và bền vững” [22, tr.130]
Bắc Ninh là một tỉnh cửa ngõ phía Bắc của thủ đô Hà Nội, là một trong
8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, là tỉnh có vai trò quan trọng trong việc góp phần thực hiện thành công CNH, HĐH đất nước Điều này đòi hỏi Bắc Ninh cần phải có nguồn nhân lực chất lượng cao bao gồm những con người có đức, có tài, ham học hỏi, thông minh sáng tạo, được chuẩn bị tốt về kiến thức văn hoá, được đào tạo thành thạo về kỹ năng nghề nghiệp, về năng lực sản xuất kinh doanh, có trình độ khoa học - kỹ thuật cao Đó phải là nguồn nhân lực của một nền văn hoá công nghiệp hiện đại
Trong quá trình CNH, HĐH ở Bắc Ninh hiện nay, đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao đã có nhiều đóng góp quan trọng, khẳng định vai trò to lớn của mình vào sự phát triển kinh tế của tỉnh Tuy nhiên việc quản lý, phân bố
và sử dụng nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao còn nhiều bất cập, làm cho nguồn nhân lực bị lãng phí Vì vậy, tại Đại hội Đảng
bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVIII đã xác định: “Tập trung mọi nguồn lực, đẩy
Trang 7mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, xây dựng nông thôn mới, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và an sinh xã hội, phấn đấu đến năm 2015 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, tạo tiền đề đến năm 2020 trở thành thành phố trực thuộc trung ương” [24, tr.58] Cho nên việc nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng nguồn nhân lực để có những giải pháp nhằm tạo ra một sự chuyển biến về chất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH của tỉnh Bắc Ninh trở thành nhiệm vụ cần thiết Với ý nghĩa trên, tác giả chọn vấn đề :
“Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sỹ
triết học của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Cho đến nay, nguồn lực con người, nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp CNH, HĐH được rất nhiều các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, có thể chia ra thành các nhóm công trình nghiên cứu sau”
Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu được công bố dưới dạng các bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành:
“Tài nguyên con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thời đại ngày nay”, Nguyễn Quang Du, Tạp chí Cộng sản số 8/1994; “Nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nguyễn Trọng Chuẩn, Tạp chí Triết học số 2/1994; “Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Phạm Minh Hạc chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995; “Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, của Đoàn Văn Khái, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995; “Nguồn nhân lực, động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nguyễn Thế Nghĩa, Tạp chí Triết học số 1/1996;
“Phát triển con người Việt Nam với tư cách là mục tiêu, là động lực của sự
Trang 8nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Đặng Hữu Toàn, Tạp chí Khoa học Xã hội, số 3/1997; “Vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, của Phạm Văn Đức, Tạp chí Triết học
số 6/1998; “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”
Thứ hai, nhóm công trình được công bố dưới dạng sách chuyên khảo, sách tham khảo:
Tác giả: Mai Quốc Chánh chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nguyễn Thanh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; “Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam”, Bùi Ngọc Lan, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam”, Nguyễn Hữu Dũng, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2003; “Xung quanh vấn
đề xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao” của tác giả Nguyễn Huy Trung, Tạp chí Lao động - Xã hội, 2006; “Phát huy nhân tố con người trong phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay”, Phạm Công Nhất, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007; “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam, một số vấn đề lý luận
và thực tiễn” của tác giả Lê Thị Hồng Điệp, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012
Các công trình trên đã đề cập một cách tương đối có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đồng thời phân tích một cách khoa học sự tác động qua lại giữa các nguồn lực: Nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên,
cơ sở vật chất kỹ thuật, vị trí địa lý trong đó yếu tố quyết định vẫn là nguồn lực con người
Thứ ba: nhóm các công trình được nghiên cứu dưới dạng luận văn, luận án: Vấn đề nguồn lực con người cũng là đề tài nghiên cứu của một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, đáng chú ý như luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ:
Trang 9Luận án tiến sĩ “Phát huy nguồn lực thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay”, của tác giả Nguyễn Thị Tú Oanh (1999); Luận án tiến sỹ “Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, của tác giả Đoàn Văn Khái (2000); Luận án tiến
sĩ “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức
ở Việt Nam” của tác giả Lê Thị Hồng Điệp (2010)
Luận văn thạc sỹ: Luận văn “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Quảng Ninh” của tác giả
Vũ Thị Phương Mai (2004); Luận văn “Phát triển nguồn lực con người trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bến Tre”, của tác giả Lê Thị Mai (2005); Luận văn “Phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Kon Tum ”, của tác giả Trịnh Ngọc Dương (2006); Luận văn “Nguồn lực chất lượng cao ở tỉnh Long An trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, của tác giả Nguyễn Thị Phương Loan (2008); Luận văn “Phát huy vai trò nguồn lực con người trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Lâm Đồng hiện nay”, của tác giả Đinh Xuân Thuỷ (2009); Luận văn “Nguồn nhân lực chất lượng cao trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay”, của tác giả Mai Thị Lĩnh (2011)
Ở Bắc Ninh trong những năm gần đây đã có một số đề tài đề cập đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực như: Luận văn “Đào tạo và phát triển nguồn lực con người ngành giáo dục tỉnh Bắc Ninh hiện nay” của tác giả Vũ Thị Huyền (2004); Luận văn “Giải pháp phát triển và sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đến năm 2020 ở Bắc Ninh”, của tác giả Nguyễn Xuân Bình (2005); Luận văn “Nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ở Bắc Ninh” của tác giả Trần Bá Tú (2006)
Trang 10Nhìn chung các công trình nghiên cứu này đã đưa ra cái nhìn tổng thể
về vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Qua việc phân tích thực trạng các tác giả đã đề xuất những giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực trong thời gian tới Tuy nhiên vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh Bắc Ninh vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu Đây là vấn đề cần thiết, vì việc đánh giá đúng thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao trên địa bàn tỉnh sẽ là cơ sở thực tiễn để đề xuất phương hướng, giải pháp phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay, luận văn đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực này trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn hướng vào giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:
Thứ nhất, làm rõ về mặt lý luận về nguồn nhân lực chất lượng cao, vấn
đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Bắc Ninh hiện nay
Thứ hai, phân tích th ực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
ở Bắc Ninh hiện nay từ đó chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và các mặt mâu thuẫn đặt ra cần giải quyết
Thứ ba, kiến nghị mô ̣t số gi ải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao ở Bắc Ninh trong quá trình c ông nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình CNH, HĐH ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn phạm vi: Nguồn nhân lực chất lượng cao trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Thời gian từ năm 2000 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu triết học: Duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các phương pháp nghiên cứu chung: Phân tích, tổng hợp, so sánh Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số các phương pháp khác có tính liên ngành như: Thống kê, điều tra xã hội học
6 Đóng góp mới của luận văn
- Luận văn luận giải những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn nhân lực chất lượng cao và vai trò của nó trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
- Luận văn đề xuất một số giải pháp chủ yếu mang tính khả thi nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh
* Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy những vấn đề liên quan ở các trường cao đẳng và đại học
- Những kết quả đạt được của luận văn có thể là cơ sở cho các cấp lãnh đạo tỉnh Bắc Ninh tham khảo trong việc hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh
Trang 127 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 4 tiết:
Chương 1: Nguồn nhân lực chất lượng cao và sự cần thiết phải phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay
Chương 2: Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay
Trang 13Chương 1 NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY
1.1 Nguồn nhân lực chất lượng cao
1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
và ngày nay trong công cuộc hội nhập và phát triển đất nước nhằm mục tiêu
“dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”, Đảng ta luôn xác định: Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, có truyền thống yêu nước, cần
cù, sáng tạo, có nền tảng văn hoá, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ Đó chính là nguồn lực quan trọng nhất - nguồn lực nội sinh Vậy nguồn lực là gì?
Hiện nay chưa có tài liệu chính thức nào đưa ra định nghĩa và khái niệm nguồn lực mà chỉ đưa ra quan niệm dưới dạng tổng quát, “nguồn lực” là toàn bộ các yếu tố cả vật chất lẫn tinh thần đã, đang và sẽ tạo ra sức mạnh góp phần thúc đẩy cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội và chính trị của quốc gia đó Hay nguồn lực được hiểu là tổng thể vị trí, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường, lối chính sách, vốn và thị trường ở cả trong nước và nước ngoài có thể được khai thác nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế ở một lãnh thổ nhất định
Như vậy, khi nói đến nguồn lực không chỉ nói đến sức mạnh, năng lực
đã được bộc lộ và đang phát huy tác dụng, mà cả những sức mạnh, năng lực tồn tại dưới dạng tiềm ẩn, tiếp tục nảy sinh và sẽ được khơi dậy, khai thác, sử dụng trong quá trình phát triển khi gặp điều kiện thuận lợi Cách phân loại nguồn lực phụ thuộc vào các tiêu chí và xem xét chúng trong các quan hệ xác
Trang 14định, có thể phân chia nguồn lực thành: Nguồn lực vật chất, nguồn lực tinh thần, nguồn lực kinh tế, nguồn lực văn hoá, nguồn lực trong nước hay nguồn lực nước ngoài Nhìn chung cho đến nay chủ yếu người ta phân nguồn lực thành: Nguồn nhân lực (nguồn lực con người), nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực tài chính, nguồn lực khoa học công nghệ trong đó, nguồn lực con người là quan trọng nhất, là nhân tố chủ động, có khả năng định hướng và gắn kết các nguồn lực khác vì mục tiêu phát triển đất nước Nguồn lực con người hay nguồn nhân lực là khái niệm được hình thành trong trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực cho sự phát triển Cho đến nay, có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực
Trong lý luận mác xít về lực lượng sản xuất, con người được coi là yếu
tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất và do đó quyết định tăng năng suất lao động và tiến bộ xã hội Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, con người được nhìn nhận như một phương tiện chủ yếu bảo đảm tốc độ tăng trưởng Bản thân nguồn lực con người tự nó đã
là một nguồn lực để tăng trưởng và phát triển kinh tế Đồng thời nguồn lực con người là nguồn lực duy nhất để khai thác và sử dụng các nguồn lực khác Trong thời đại ngày nay khi khoa học công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì vai trò của nguồn lực con người ngày càng rõ nét và quan trọng hơn Nguồn lực con người góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến
bộ xã hội
Theo Liên Hợp Quốc thì: Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước Quan niệm này xem xét nguồn lực của con người chủ yếu ở phương diện chất lượng con người và vai trò, sức mạnh của nó đối với sự phát triển của xã hội Chính vì vậy, Liên Hợp Quốc
đã kêu gọi các quốc gia quan tâm hơn nữa tới nguồn nhân lực bởi việc tập
Trang 15trung phát triển con người sẽ đem lại tốc độ phát triển cao hơn, ổn định hơn
và công bằng hơn trong phân phối lợi ích của sự phát triển
Theo Tổ chức Lao động quốc tế thì nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho
sự phát triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của
xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân
cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào lao động, là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động
Theo ý kiến của một số nhà khoa học tham gia chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước: “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” mang mã số KX - 07 do GS.TS Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm cho rằng: “Nguồn nhân lực (nguồn lực con người ) là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia vào công cuộc nào đó, tức là những người lao động có khả năng (hay khả năng nói chung) bằng con đường lao động đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [26, tr.269]
PGS.TS Phạm Công Nhất đưa ra quan niệm: “Nhân tố con người là tổng thể các yếu tố có liên quan đến con người, là sự thống nhất biện chứng giữa các mặt chủ quan và khách quan để tạo nên năng lực, phẩm chất và trí tuệ của con người được hình thành và phát huy tác dụng vào trong thực tiễn
Trang 16sản xuất vật chất hay quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi cộng đồng, quốc gia trong những giai đoạn lịch sử nhất định” [45, tr.25]
Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá VIII khẳng định: “Nguồn lực con người là người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt, được đào tạo, bồi dưỡng, phát huy bởi nền giáo dục tiên tiến, gắn liền với một nền khoa học, công nghệ hiện đại” [18, tr.9]
Cũng bàn về vấn đề này PGS.TS Đoàn Văn Khái cho rằng, khái niệm
“nguồn nhân lực” ngoài nghĩa rộng được hiểu như “nguồn lực con người” còn được hiểu theo nghĩa hẹp là nguồn lao động, có khi được hiểu là lực lượng lao động Nguồn lực con người là khái niệm chỉ dân số, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển của xã hội” [32, tr.62]
Từ những quan niệm nêu trên có thể thấy rằng: Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về nguồn nhân lực từ đó xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực Tuy nhiên các quan điểm này điều có điểm thống nhất với nhau đó là: Các tác giả đều xem nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng
và năng lực của con người được huy động vào trong quá trình sản xuất, lao động và phát triển của mỗi quốc gia hay cộng đồng sở hữu nó
Như vậy, với góc độ nghiên cứu của đề tài có thể hiểu: Nguồn nhân lực
là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thế xã hội tạo thành năng lực của con người và của cộng đồng người Năng lực đó khi được sử dụng, phát huy sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội
Từ sự phân tích và làm rõ quan niệm về nguồn nhân lực, chúng ta cũng
có thể hiểu một cách cơ bản rằng: Nguồn nhân lực chất lượng cao đó là bộ phận ưu việt của nguồn nhân lực Nói cách khác, nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận lao động có chất lượng cao hơn trong nguồn nhân lực nói
Trang 17chung Ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ lịch sử cũng có những quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực này
Vào thời kỳ của C.Mác, Ph.Ăngghen thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao chưa được sử dụng, nhưng khi khẳng định tính vượt trội và ưu thế của loại lao động trình độ cao so với lao động giản đơn, C.Mác viết: “Lao động phức tạp là lao động giản đơn được nâng lên luỹ thừa, hay nói đúng hơn
là lao động giản đơn được nâng lên” [42, tr.75] Từ đầu thế kỷ XIX, C.Mác đã chỉ ra, chính hoạt động sáng tạo của con người đã làm cho khoa học ra đời, phát triển mạnh mẽ và khoa học sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và các loai lao động phức tạp, trí tuệ, lao động quản lý sẽ có xu hướng ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản phẩm Ngày nay, nhận định này của C.Mác đã trở thành hiện thực với việc ứng dụng rộng rãi những thành tựu của khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất xã hội đã tạo ra năng suất lao động tăng gấp bội và làm ra tăng giá trị những tri thức trong sản phẩm, đồng thời làm gia tăng giá thành của sản phẩm
Đối với Việt Nam, ngay sau khi đất nước giành được độc lập, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, và dốt nát cũng là một thứ bệnh, nó nguy hiểm không kém gì giặc ngoại xâm Do vậy, tìm người tài đức trong dân, chiêu hiền, đãi sĩ của chế độ cũ, mời gọi trí thức Việt kiều trở về phục vụ đất nước và phát triển đội ngũ trí thức, nhân tài mới của giai cấp công nhân trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng
và cấp bách của Đảng
Vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề con người, nhận thức rõ tiềm năng sáng tạo của con người Việt Nam, trong chiến lược phát triển KT - XH của mình, Đảng ta luôn đặt con người ở vị trí trung tâm Trong thời đại ngày nay, nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố hàng đầu trong sự phát triển của mỗi quốc gia Nó quuyết định quy mô, tốc độ, tính chất và hiệu quả của sự phát triển KT - XH của quốc gia
Trang 18Vai trò mới và mức độ quuyết định của nó đối với sự phát triển do chính các đặc điểm và các quá trình đang diển ra trong xã hội hiện đại ấn định
Tại Hội nghị Ban Chấp hành TW khoá IX, Đảng ta lần đầu tiên đã sử dụng thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao với ý nghĩa là một yêu cầu cấp thiết trong tiến trình hội nhập Điều này thể hiện bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng và nhân dân ta về chiến lược phát triển con người, đồng thời cũng là phù hợp với xu thế phát triển của thời đại Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua con đường phát triển giáo dục đào tạo, khoa học
và công nghệ chính là khâu then chốt để nước ta vượt qua tình trạng nước nghèo, kém phát triển Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI, Đảng ta một lần nữa nhấn mạnh thuật ngữ này khi đưa ra định hướng chính sách tập trung phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao, trọng dụng nhân tài, trọng dụng các nhà khoa học đầu ngành, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân có tay nghề cao Từ đó các nhà nghiên cứu Việt Nam dần từng bước tìm hiểu, hình thành nên quan niệm có liên quan tới vấn đề nguồn nhân lực này
GS.TS KH Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nguồn nhân lực chất lượng cao là đội ngũ nhân lực có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, thực hiện có kết quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là hạt nhân đưa lĩnh vực của mình đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá được mở rộng theo kiểu vết dầu loang bằng cách dẫn dắt những trình bộ phận có trình độ và năng lực thấp hơn, đi lên với tốc độ nhanh” [27, tr.148]
Thay vì gọi nguồn nhân lực chất lượng cao, GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn đưa ra khái niệm: “Một nguồn nhân lực mới” mang tinh thần khái niệm của nguồn nhân lực chất lượng cao để chỉ “một lực lượng lao động có học vấn, có trình độ chuyên môn cao và nhất là khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất” [13, tr.185]
TS Nguyễn Hữu Dũng cho rằng “nhân lực chất lượng cao là khái niệm
để chỉ một con người, một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về
Trang 19chuyên môn kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn kỹ thuật nhất định (trên đại học, đại học, cao đẳng, công nhân kỹ thuật lành nghề)” [16, tr.20]
Theo tác giả Đinh Sơn Hùng và Trần Gia Trung Đỉnh thì nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ những người lao động đã được đào tạo,
có trình độ học vấn, trình độ tay nghề cao (về chuyên môn, kỹ thuật) tương ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu chí phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (trên đại học, đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề) và trên thực tế có kỹ năng lao động giỏi Những lao động này có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi liên tục của môi trường công việc, có sức khoẻ và phẩm chất tốt, có tính kỷ luật, có đạo đức và tác phong nghề nghiệp, mong muốn đóng góp tài năng, công sức của mình cho sự thành công, phát triển chung của tập thể Cao hơn nữa, đó là những lao động có khả năng vận dụng những tri thức, kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm sáng tạo, cải tiến năng suất, chất lượng và mang lại hiệu quả cao trong công việc
Ngoài những quan niệm về nguồn nhân lực cao nêu trên, còn có những thuật ngữ cụ thể mang nghĩa gần gũi và được xã hội chấp nhận Những thuật ngữ này có nội hàm hẹp hơn để chỉ những người lao động có trình độ, có tay nghề, đạt hiệu quả cao trong hai lĩnh vực chủ yếu: Sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần Trong lĩnh vực sản xuất vật chất có những thuật ngữ như: Chuyên gia, nghệ nhân, công nhân lành nghề Trong lĩnh vực tinh thần, bên cạnh những học hàm, học vị của nhà nước quy định còn có các thuật ngữ như: Bác học, nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành Ngoài ra để tôn vinh nguồn nhân lực chất lượng cao, xã hội còn gọi họ là nhân tài, tinh hoa đất nước, nguyên khí của quốc gia
Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận ưu việt của nguồn nhân lực, kết tinh những gì tinh tuý nhất của nguồn nhân lực Đó là bộ phận của lực lượng lao động có khả năng đáp ứng nhu cầu cao của thực tiễn
Trang 20Họ được đặc trưng bởi trình độ học vấn và chuyên môn cao, có khả năng nhận thức, tiếp thu nhanh kiến thức mới, có năng lực sáng tạo, vốn tri thức và tay nghề giỏi, biết vận dụng thành tựu của khoa học công nghệ, kinh nghiệm sản xuất vào thực tiễn, đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động cao hơn
so với lao động phổ thông Mặt khác đây còn là bộ phận lao động có tác phong nghề nghiệp, tính kỷ luật cao, có tinh thần yêu nước, có ý thức tình cảm dân tộc, ý trí tự lập, tự cường và đạo đức trong nghề nghiệp
Để làm rõ khái niệm “nguồn nhân lực chất lượng cao”, cũng như để dễ dàng hơn trong việc thống kê, phân tích và đánh giá lực lượng lao động này cần xác lập cấu trúc của nguồn nhân lực chất lượng cao đồng thời xem xét từng bộ phận cấu thành của nó trong hệ thống chỉnh thể Với cách tiếp cận ấy, nguồn nhân lực chất lượng cao được hợp thành bởi các bộ phận cơ bản sau:
Một là: Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý Nhà nước, cán bộ chính trị
cao cấp, các chính trị gia
Đây là bộ phận tinh tuý của nguồn nhân lực bởi họ là những người có trình độ học vấn nghề nghiệp cao, có vai trò quan trọng trong các quyết sách chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, hệ tư tưởng của Đảng Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhất là cán bộ, công chức lãnh đạo quản lý là lực lượng tham mưu cho Đảng và Chính phủ trong việc hoạch định chiến lược, kế hoạch, chủ trương, chính sách, bước đi, giải pháp thực hiện nhiệm vụ phát triển KT - XH của các ngành, các lĩnh vực và các địa phương Đồng thời đội ngũ này cũng là những người lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các nội dung, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị công lập Có thể nói rằng không một lĩnh vực, một nội dung, nhiệm vụ nào lại không cần đến đội ngũ cán bộ, công chức, cán bộ quản lý - lực lượng quan trọng, đi đầu trong việc tham mưu, đề xuất và lãnh đạo tổ chức thực hiện các chế độ chính sách nhà nước
Hai là: Đội ngũ trí thức, trong đó đội ngũ trí thức khoa học và công
nghệ giữ vai trò hạt nhân của nền kinh tế tri thức, là nhân tố cơ bản cho sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo hướng rút ngắn
Trang 21vào phát triển kinh tế tri thức Trong quá trình lãnh đạo Đảng ta luôn đánh giá cao vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định, ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển Họ
là những người thành thạo chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực tiếp thu có chọn lọc và ứng dụng có hiệu quả những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại Đây là lực lượng có năng lực sáng tạo cả về phương diện lý thuyết và thực hành, có năng lực giải quyết những vấn đề trước mắt cũng như lâu dài của nền kinh tế xã hội Nói cách khác, đây là lực lượng xung kích đi đầu trong việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, thực hiện việc đưa các thành tựu khoa học công nghệ vào các lĩnh vực góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Bên cạnh đó, họ có năng lực dẫn dắt, bồi dưỡng đào tạo những bộ phận lao động có năng lực và trình độ thấp hơn được phát triển hơn, bổ sung vào nguồn nhân lực chất lượng cao
Ba là: Đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề, nhất là bộ phận công
nhân trí thức ở tất cả các lĩnh vực hoạt động sản xuất của đời sống KT - XH Đây là lực lượng lao động được đào tạo nghề nghiệp căn bản có kiến thức, kỹ năng và tay nghề giỏi, luôn thích nghi được với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học và công nghệ, có khả năng tiếp cận, ứng dụng và làm chủ các dây chuyền công nghệ mới của thế giới Họ là những người trực tiếp lao động sản xuất, ứng dụng và cung cấp các dịch vụ có hàm lượng trí tuệ đạt chất lượng theo tiêu chuẩn của quốc tế để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Đây còn là lực lượng có năng lực trí tuệ tiếp thu được công nghệ tiên tiến và bằng tri thức khoa học kết hợp với những kinh nghiệm được tích luỹ trong quá trình sản xuất trực tiếp sẽ dần làm chủ những kinh nghiệm đó Lực lượng lao động này chủ yếu làm việc trong những ngành công nghiệp dịch vụ công nghệ cao
Trang 22Bốn là: Những nghệ nhân, nhất là các nghệ nhân trong các lĩnh vực
ngành nghề truyền thống Họ chính là những người lao động có bàn tay vàng, những nghệ nhân có trình độ kỹ năng, kỹ xảo giỏi Sản phẩm họ làm ra chính
là sự sáng tạo hàm ẩn những giá trị truyền thống dân tộc đồng thời đem lại giá trị kinh tế cao Hiện nay với chủ trương bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống của Đảng ta, lực lượng lao động này đang phát triển nhanh chóng cả về số lượng cũng như chất lượng Điều này được thể hiện thông qua
sự gia tăng nhanh chóng của kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của nước ta ra thị trường thế giới Nói cách khác, nước ta không chỉ đi lên bằng công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà còn đi lên bằng các sản phẩm truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc
Năm là: Những người nông dân giàu kinh nghiệm trong sản xuất, có
trình độ khoa học kỹ thuật, đi đầu trong việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng nông sản theo hướng gia tăng kim ngạch xuất khẩu Đồng thời họ có khả năng tiếp thu, ứng dụng các thành tựu công nghệ sinh học tiên tiến của thế giới vào thực tiễn nông nghiệp Việt Nam qua việc chuyển đổi, ứng dụng, lai tạo ra nhiều giống cây trồng, vật nuôi cho năng suất cao, chất lượng tốt
Sáu là: Tầng lớp doanh nhân, những người sản xuất, kinh doanh giỏi,
có trình độ quản lý, có đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội cao Họ chính là những người góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động Với khả năng và năng lực của mình, tầng lớp doanh nhân đã nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo dựng và giữ gìn thương hiệu hàng hoá Việt Nam Trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế tri thức hiện nay, tầng lớp doanh nhân ngày càng thể hiện vai trò của mình đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Như vậy, qua phân tích cấu trúc nguồn nhân lực chất lượng cao thì nguồn nhân lực chất lượng cao bao gồm nhiều bộ phận khác nhau có trong tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và hệ thống sản xuất Mỗi bộ phận có vai
Trang 23trò khác nhau trong xã hội nhưng họ đều có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia Do vậy, trong thời đại ngày nay, thời đại của khoa học công nghệ và kinh tế tri thức thì xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao luôn là hướng ưu tiên hàng đầu trong chính sách của nhiều quốc gia
1.1.2 Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay
Một là: Nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện tiên quyết đảm bảo
sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cần có hệ thống nguồn lực như: Nguồn nhân lực, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất
kỹ thuật Các nguồn lực này có mối quan hệ biện chứng với nhau cùng tham gia vào quá trình sản xuất, nhưng mỗi nguồn lực lại có vị trí và tầm quan trọng khác nhau, trong đó nguồn nhân lực được coi là nguồn lực nội sinh chi phối quá trình phát triển KT - XH của mỗi quốc gia So với các nguồn lực khác thì nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi bật ở chỗ: Nó không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý Còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn, nó chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng Muốn phát huy các nguồn lực này một cách tích cực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì phải kết hợp với nguồn lực con người
Đề cập tới vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước văn kiện Đại hội VIII của Đảng ta khẳng định: “Nâng cao dân trí và phát huy nguồn lực to lớn của người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [19, tr.21] Khi Việt Nam đang bước vào giai đoạn đẩy nhanh và mạnh quá trình phát triển kinh tế và thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH thì yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là trí lực có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH, góp phấn làm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững
Trang 24Do vậy, phát triển NNL ở Việt Nam đặc biệt quan trọng cho sự thành công của CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế Cho nên, cần tạo ra và cải thiện tất cả các điều kiện cần thiết để phát triển NNL nhanh, có chất lượng, đáp ứng nhu cầu cấp bách của công cuộc đổi mới, của CNH,HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế
Hai là: Nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu và tăng trưởng nhanh
Trước xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, nền kinh tế tri thức đang dần hình thành và phát triển, chúng ta ngày càng nhận thức rõ hơn về vai trò quyết định của nguồn lực con người trong phát triển, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao Các lý thuyết tăng trưởng gần đây đã chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và bền vững phải dựa trên ít nhất 3 trụ cột cơ bản là: Áp dụng công nghệ mới, phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trong đó yếu tố cũng là động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững, rút ngắn khoảng cách tụt hậu chính là yếu tố con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao Trong một nền kinh tế toàn cầu đầy biến động
và cạnh tranh quyết liệt thì ưu thế cạnh tranh thuộc về các quốc gia nào có nguồn nhân lực chất lượng cao, môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư và một xã hội ổn định
Nếu xem xét từ góc độ phát triển bền vững (bao gồm tăng trưởng kinh
tế, an toàn xã hội và bảo vệ môi trường), thì phát triển nguồn vốn con người, vốn nhân lực vừa là nguồn lực, vừa là mục tiêu cuối cùng, là đỉnh cao nhất của quá trình phát triển ở mỗi quốc gia vì nó gắn liền với phát triển con người
và lấy con người làm trung tâm của mọi sự phát triển Tuy nhiên nguồn lực con người đó phải được phát triển và huy động tối đa vào quá trình phát triển kinh tế xã hội, tức là việc làm mang tính nhân văn Chỉ có trên cơ sở giải phóng mọi tiềm năng, lao động mới có thể trở thành nguồn lực, động lực và yếu tố cơ bản nhất của sự phát triển bền vững
Trang 25Con người ở đây được xem xét trong mối quan hệ thống nhất giữa hai mặt: Con người với tư cách là ngưới tiêu dùng sản phẩm dịch vụ và các kho tàng văn hoá, đồng thời con người với tư cách là người lao động tạo ra tất cả các sản phẩm đó với sức lực và óc sáng tạo vô hạn
Để tồn tại và phát triển, con người phải được đáp ứng những nhu cầu
về mặt vật chất Sự tiêu dùng của con người không chỉ là sự tiêu hao kho tàng vật chất và kho tàng văn hoá mà con người tạo ra, mà đó chính là nguồn gốc động lực để phát triển xã hội Bởi để không ngừng thoả mãn nhu cầu vật chất ngày càng cao trong điều kiện các nguồn lực khác đều có hạn thì con người ngày càng phát huy đầy đủ hơn khả năng thể lực và trí lựccho sự phát triển đời sống vật chất và đời sống tinh thần của mình Suy cho cùng mục đích của sản xuất là để tiêu dùng Trong nền kinh tế thị trường, khối lượng và cơ cấu tiêu dùng là một yếu tố quyết định quy mô và cơ cấu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Vì vậy những khu vực đông dân cư, có nhu cầu cao và phong phú thường là những điểm hấp dẫn cho đầu tư kinh doanh và phát triển
Với tư cách là người sản xuất thì con người đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển Không thể không thừa nhận rằng, con người với khả năng thể lực và trí lực của mình là yếu tố cơ bản nhất, quyết định nhất của sự phát triển xã hội, rút ngắn khoảng cách tụt hậu Tất cả các kho tàng vật chất và văn hoá đã có và đang tiếp tục phát triển sáng tạo thêm, làm phong phú thêm sản phẩm lao động của con người, đều là kết quả hoạt động lao động của con người Trong bất cứ trình độ văn minh sản xuất nào thì lao động của con người vẫn là yếu tố đóng vai trò quyết định Cùng với sự phát triển của văn minh sản xuất sẽ dẫn đến sự thay đổi vị trí của người lao động trong đó lao động trí óc ngày càng đóng vai trò quan trọng
Đối với nước ta tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, là điều kiện đi đầu trong việc chống tụt hậu về kinh tế, rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định: “Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến quan trọng về
Trang 26nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh
tế tri thức, tạo nền tảng đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” [21, tr.185-186]
Trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang đứng trước thách thức rất lớn về NNL chất lượng cao Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, năm 2010, trong số 20,1 triệu lao động đã qua đào tạo trên tổng số 48,8 triệu lao động đang làm việc, thì chỉ có 8,4 triệu người có bằng cấp, chứng chỉ do các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước cấp Nhân lực đào tạo các bậc hàng năm vẫn tăng, nhưng đội ngũ nhân lực chất lượng cao vẫn rất thiếu so với nhu cầu xã hội Nhiều ngành nghề, lĩnh vực có tình trạng thừa, thiếu nhân lực
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam thấp so với các nước khác Nếu lấy thang điểm là 10 thì chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm - xếp thứ 11/12 nước Châu Á tham gia xếp hạng của Ngân hàng Thế giới; trong khi Hàn Quốc là 6,91; Ấn Độ là 5,76; Malaysia là 5,59; Thái Lan là 4,94 Với hơn 50 triệu người ở độ tuổi lao động, nhưng số người từ 15 tuổi trở lên được đào tạo nghề
và chuyên môn kỹ thuật rất thấp, mới chiếm 40% Cơ cấu đào tạo hiện còn bất hợp lý được thể hiện qua các tỷ lệ: ĐH và trên ĐH là 1, trung học chuyên nghiệp là 1,3 và CNKT là 0,92; trong khi trên thế giới, tỷ lệ này là 1-4-10 Từ
đó dẫn đến một loạt các yếu kém khác như: Trình độ vận dụng khoa học kỹ thuật kém, năng suất lao động thấp, giá thành sản phẩm cao và Đương nhiên dẫn đến sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta còn ở vị trí rất thấp
Trong khi dư thừa rất lớn lao động phổ thông, thì lại thiếu hụt nghiêm trọng lao động có trình độ cao, nhất là lao động cung cấp cho các khu công nghiệp, khu chế xuất và cho xuất khẩu lao động Đây là tình trạng đáng báo
Trang 27động, không phù hợp với quy luật tăng trưởng là tỷ lệ tăng trưởng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật bao giờ cũng phải cao hơn tốc độ tăng GDP để đảm bảo tăng GDP một cách vững chắc
Như vậy, vấn đề cơ bản, có tính chất chiến lược trong phát triển NNL chất lượng cao là phải tăng nhanh về số lượng để nâng cao tỷ lệ lao động được đào tạo, đặc biệt chú trọng đào tạo nghề, đảm bảo cơ cấu đào tạo hợp lý giữa đại học, cao đẳng trở lên so với trung học chuyên nghiệp và đào tạo nghề, đồng thời nâng cao chất lượng NNL với tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất và năng lực phù hợp với yêu cầu kinh tế tri thức ở Việt Nam, có như thế mới rút ngắn được khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu vực và thế giới, góp phần tăng trưởng nhanh và bền vững
Ba là: Nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng hiện đại
Cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động có mối quan hệ biện chứng với nhau
Cơ cấu kinh tế luôn ở trạng thái động, hình thành và biến đổi theo yêu cầu của thị trường, chịu sự tác động của sự áp dụng khoa học công nghệ mới Chính
vì vậy, cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh hơn cơ cấu lao động, thị trường lao động cần loại lao động nào, số lượng, chất lượng, cơ cấu đào tạo tay nghề ra sao trong một thời gian đều do cơ cấu kinh tế chuyển dịch và chi phối Tuy nhiên chuyển dịch cơ cấu kinh tế không thể nhanh và bền vững được nếu cơ cấu lao động quá lạc hậu và khôn phù hợp Đây chính là lực cản lớn nhất trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đẩy nhanh việc chuyển dịch cơ cấu lao động, mặt khác chuyển dịch cơ cấu lao động tạo điều kiện và tiền đề chuyển dịch cơ cấu lao kinh tế
Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế để phát huy tiềm năng và thế mạnh của từng vùng, từng ngành, từng thành phần kinh tế trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với một tư duy mới là nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, lựa chọn những ngành hàng, những sản phẩm
và dịch vụ có thể tạo ra bước đột phá trong tốc độ phát triển kinh tế, mà ở đó
Trang 28nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận của cơ cấu lao động, là lực lượng nòng cốt Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện, tiền đề để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tổng thể
Với ý nghĩa đó, nguồn nhân lực chất lượng cao có một vị trí hết sức quan trọng với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế Sự thiếu hụt về số lượng, chất lượng lao động, bao gồm cả cơ cấu chuyên môn, lao động quản lý, nhà nghiên cứu, các chuyên gia là một lực cản lớn đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Bốn là: Nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực chủ yếu tiếp cận và phát triển nền kinh tế tri thức
Trong thế giới hiện đại khi chuyển sang nền kinh tế tri thức và trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế chúng ta càng nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao Nguồn gốc giàu có của một quốc gia phụ thuộc nhiều vào tri thức và chỉ có con người mới có khả năng nắm giữ và sản sinh tri thức
Thực tế, quá trình CNH ở các quốc gia trên thế giới cho thấy: Trong tiến trình CNH, nếu nước nào biết dựa vào việc khai thác và sử dụng năng lực của nguồn nhân lực, thì luôn giữ được tốc độ tăng trưởng cao và ổn định như Nhật Bản, Phần Lan, Ireland là những nước nghèo tài nguyên, nhưng đã vươn lên thành những quốc gia giàu có hàng đầu
Không ai nhiều dầu lửa hơn các nước Trung Đông, nhưng chưa có quốc gia nào ở đó vượt lên để gia nhập nhóm “các nước phát triển” mà mãi vẫn dừng lại ở “các nước đang phát triển” Không đâu đất đai rộng lớn hơn châu Phi Nhưng hầu hết các quốc gia đó vẫn đang ở mức "kém phát triển”
Trong nền kinh tế tri thức và toàn cầu hoá, thì lực lượng sản xuất sẽ không ngừng phát triển và ngày càng mang tính quốc tế hoá cao Điều này thể hiện ở chỗ cùng với những thuộc tính và đặc trưng của tri thức, nguồn nhân lực chất lượng cao vận động và phát triển không ngừng theo hướng trao đổi, hợp tác song phương hay đa phương giữa các quốc gia về nghiên cứu , ứng
Trang 29dụng, chuyển giao các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại để tạo ra các sản phẩm có hàm lượng tri thức cao Đây chính là cơ hội, là tiền đề cho các nước chậm phát triển, đang phát triển có thể bỏ qua những giai đoạn phát triển lịch sử quá độ nhất định, mở cửa ra thế giới, tăng cường hợp tác quốc tế, nhanh chóng tiếp cận với kinh tế tri thức, nắm bắt tri thức mới của thời đại để
đi tắt, đòn đầu, rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển Vì thế, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có chiến lược phát triển kinh tế tri thức theo những cách riêng, mang tính đặc thù, phù hợp với những điều kiện thực tế của nền kinh tế - xã hội trong nước và xu thế tất yếu của thời đại
Để thực hiện thành công đường lối nói trên, thì điều kiện cần và đủ là Việt Nam phải gấp rút “tập trung phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao” Như vậy, nhân tố đóng vai trò quyết định cho sự phát triển bền vững của các quốc gia chính là nguồn nhân lực chất lượng cao, chứ không chỉ là nguồn của cải vật chất Do vậy, hình thành và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao là yếu tố quan trọng nhất không chỉ trong sự phát triển kinh tế
- xã hội của mỗi quốc gia, mà còn tạo cơ hội tiếp cận kinh tế tri thức
Tóm lại: Động lực, mục tiêu của sự phát triển và tác động của sự phát
triển tới bản thân con người cũng nằm trong chính bản thân con người Điều
đó lý giải tại sao con người, mà trước hết là ngồn nhân lực chất lượng cao được coi là nhân tố năng động nhất, quyết định nhất của sự phát triển kinh tế -
xã hội
1.2 Đặc điểm của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh và sự cần thiết phải phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay
1.2.1 Đặc điểm của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay
Quan niệm chung về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
“Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện toàn bộ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, và quản lý xã hội từ sử dụng
Trang 30lao động thủ công là phổ biến sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động được đào tạo cùng với công nghệ tiên tiến, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [17, tr.42]
Công nghiệp hoá là bước đi tất yếu đối với mỗi quốc gia trên thế giới muốn có một nền kinh tế phát triển cao, tránh nguy cơ tụt hậu so với các quốc gia khác Bởi công nghiệp hoá sẽ tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, từ đó thúc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật hùng mạnh cho đất nước
Ở Việt Nam, để rút ngắn khoảng cách chênh lệch, tránh nguy cơ tụt hậu
xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, Đảng ta đã khẳng định phải tiến hành công nghiệp hoá để phát triển đất nước Tuy nhiên,
do tác động của yếu tố thời đại và do điều kiện cụ thể của đất nước, công nghiệp hoá ở Việt Nam hiện nay phải gắn liền với hiện đại hoá để tận dụng thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại nhằm rút ngắn quá trình phát triển
Cùng với cả nước, Bắc Ninh thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
mà trọng tâm cấp bách là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn để giải quyết mối quan hệ giữa nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng và dịch vụ của tỉnh
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh có những đặc thù sau:
Thứ nhất, công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh tập trung trước hết là vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Đường lối của Đảng và Nhà nước ta là đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, lấy nông nghiệp, nông thôn làm mặt trận ưu tiên, quyết định đến sự thành công của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trong văn kiện Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ, khoá VII, Đảng ta đã xác định: Từ nay đến cuối thập kỷ, phải rất quan tâm đến công
Trang 31nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phát triển toàn diện nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Có thể nói đây là lần đầu tiên trong các văn kiện của Đảng đã đưa ra phạm trù công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn Quán triệt quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng đề ra, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVII (2006 - 2010) đã chỉ rõ: “Đẩy mạnh CNH - HĐH nông nghiệp và nông thôn, tiếp tục đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, đổi mới quan hệ sản xuất, phát huy mạnh
mẽ các nguồn lực đầu tư phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới” [23, tr.53] Tại Đại hội XVIII của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã xác định:
Xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn toàn diện, đa dạng theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, gắn tăng trưởng kinh tế với xoá đói giảm nghèo nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho nhân dân Phát triển nông nghiệp với tốc độ nhanh, ổn định, đa dạng, bền vững theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với công nghiệp chế biến và thị trường Sử dụng có hiệu quả quỹ đất nông nghiệp bằng việc thâm canh, tăng năng suất, chất lượng, giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích, nâng cao sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá, thực hiện tốt chủ trương dồn điền đổi thửa, bảo đảm an ninh lương thực Cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng: Tăng tỷ trọng chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp, cây công nghiệp, cây ăn quả, phát triển các cây, con có giá trị phù hợp với điều kiện của từng địa phương Xây dựng các vùng sản xuất hàng hoá tập trung gắn với công nghiệp chế biến và tiêu thụ như: Vùng rau sạch, vùng cây ăn quả đặc sản, vùng trồng lúa, trồng cây cảnh, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản tập trung, công tác dồn điền đổi thửa đến hết năm 2011 sẽ
cơ bản hoàn thành, gắn nông nghiệp của tỉnh với nông nghiệp của vùng đồng bằng sông Hồng
Trang 32Kinh tế nông thôn phát triển theo hướng: Tăng tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng và lao động nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng KT - XH, quy hoạch phát triển nông thôn
Đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất nông
- lâm - ngư nghiệp Chú trọng đầu tư công nghệ bảo quản sau thu hoạch, đặc biệt chú ý tới những tiến bộ về sử dụng có hiệu quả, bền vững, tiến bộ về giống, chuyển dịch cơ cấu mùa vụ
Thực hiện chủ trương đó, được sự quan tâm của Trung ương, lãnh đạo tỉnh và các cấp, các ngành hữu quan, ngành nông nghiệp của tỉnh đã có những chuyển biến rõ rệt Trong những năm đầu tái lập tỉnh, ngành nông nghiệp của tỉnh chủ yếu là sản xuất theo hướng tự cung, tự cấp, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn Đứng trước tình hình ấy, tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành giao đất, cải tạo đồng ruộng, chuyển đổi cơ cấu giống, cây trồng, vật nuôi, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất cây trồng, vật nuôi, đồng thời phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá Nhờ đó mà giá trị sản xuất nông nghiệp không ngừng tăng lên (Năm 2000 là 940 tỷ đồng, năm 2008 là 1113 tỷ đồng, năm 2011 là 2212,5 tỷ đồng, năm 2012 đạt 2712 tỷ đồng) Đến nay, về cơ bản người dân trong tỉnh đã thoát khỏi tình trạng nghèo đói, đồng thời tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao, tạo việc làm cho người người lao động
Có thể nói, Bắc Ninh là địa phương đã hội tụ nhiều yếu tố thuận lợi để thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp với qui mô hàng hoá, chất lượng cao Tuy nhiên tới nay nông nghiệp Bắc Ninh còn bộc lộ một số những hạn chế ảnh hưởng tới quá trình phát triển như: Qui mô ruộng đất nhỏ hẹp, manh mún, phương thức và công cụ sản xuất tiên tiến chưa phổ biến, kỹ thuật thâm canh
áp dụng chưa đồng bộ và đồng đều… Đặc biệt sản xuất nông sản theo tiêu chuẩn sạch, an toàn (GAP) chưa thực sự được chú trọng, qui mô chưa đáng
kể, chưa hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất hàng hoá ở qui mô trang trại hiện chủ yếu mới tập trung trong chăn nuôi (tới 2011 hầu
Trang 33như chưa có trang trại trồng trọt nào đạt tiêu chí giá trị sản phẩm hàng hoá từ 500-100 triệu đồng/năm trở lên, trong 311 trang trại đạt tiêu chí có tới 85,5%
là trang trại chăn nuôi, còn lại là trang trại nuôi trồng thuỷ sản và tổng hợp)… Các khâu bảo quản, chế biến sau thu hoạch còn nhiều hạn chế Do vậy, với nhiều sản phẩm năng suất còn thấp, giá thành cao, chất lượng không ổn định dẫn tới khả năng cạnh tranh kém Ngay cả các sản phẩm có lợi thế của Bắc Ninh như rau, quả, hoa - cây cảnh, thịt lợn, gia cầm cũng chưa thực sự khẳng định ưu thế trên thị trường trong nước và xuất khẩu
Thứ hai, công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh Bắc Ninh gắn liền với phát triển các làng nghề truyền thống, nhằm khai thác lợi thế của địa phương
và phi vật thể của văn hoá dân tộc gắn với nó là những người thợ thủ công có
kỹ thuật và những nghệ nhân Họ chính là bộ phận không thể thiếu được của nguồn nhân lực chất lượng cao Bởi họ đã góp phần vào việc bảo tồn, phát triển làng nghề, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống lao động nông thôn, ổn định trật tự xã hội, xoá đó giảm nghèo tại địa phương
Theo thống kê của Sở Công Thương Bắc Ninh, trên địa bàn tỉnh hiện
có 63 làng nghề với 42 ngành nghề Trong đó, có một số làng nghề rất phát triển đem lại giá trị kinh tế không nhỏ và tạo việc làm cho nhiều lao động nông thôn địa phương và lao động ngoại tỉnh như: Làng nghề mộc Đồng Kỵ, gốm Phù Lãng, đúc đồng Đại Bái, Dương Ổ với những sản phẩm thủ công
Trang 34tinh xảo, độc đáo và hoàn mỹ Ở đây hội tụ các nghệ nhân, những người thợ thủ công tài hoa, họ tạo ra các sản phẩm đặc sắc của riêng họ
Trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tỉnh Bắc Ninh luôn nhận thức rõ tầm quan trọng của sự phát triển các làng nghề Nhận thức
đó thể hiện ở các chủ trương, chính sách lớn của tỉnh từ năm 1997 đến nay như: Nghị quyết 04 về phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp (1998); Nghị quyết số 12 NQ/TU của ban thường vụ Tỉnh uỷ về: “Xây dựng và phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp đa nghề và làng nghề (5- 2001)”, Nghị quyết về đưa khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất tiểu thủ công nghiệp (năm 2002)
Việc quy hoạch, xây dựng các khu, cụm công nghiệp làng nghề, cụm công nghiệp vừa và nhỏ đang kích thích nguồn nội lực từ các làng nghề Các
cơ sở sản xuất kinh doanh có mặt bằng sẽ có điều kiện đầu tư công nghệ mới thay đổi mặt hàng đạt chất lượng cao phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế Hàng năm khu vực làng nghề tiểu thủ công nghiệp tạo ra 70% - 75% giá trị sản xuất ngoài quốc doanh và hơn 35% - 40% giá trị công nghiệp toàn tỉnh
Sản xuất thủ công nghiệp và làng nghề của tỉnh Bắc Ninh trong những năm qua tuy có những bước phát triển nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương, hoạt động sản xuất còn nhỏ lẻ, áp dụng công nghệ sản xuất cũ, lạc hậu, sức cạnh tranh trên thị trường không cao… Vì vậy, để thúc đẩy ngành thủ công nghiệp, phát triển làng nghề truyền thống đòi hỏi cần có đội ngũ lao động có kỹ thuật cao, những nghệ nhân giỏi để các làng nghề truyền thống luôn phát huy thế mạnh của mình
Thứ ba, công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở gắn chặt giữa nông nghiệp với công nghiệp, phát triển mạnh công nghiệp chế biến
Để thực hiện mục tiêu chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có lợi thế gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm, cần xây dựng và phát triển một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá hiệu quả, bền vững có sức cạnh tranh cao Đó là
Trang 35một nhiệm vụ quan trọng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh Lợi thế của tỉnh là nằm trong khu vực có vị trí địa lý thuận lợi, lực lượng lao động dồi dào, lực lượng lao động trẻ dưới 45 tuổi chiếm tỷ lệ cao gần 52% (năm 2012),
tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2012 là 45% Đây là lợi thế cho Bắc Ninh trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển nông nghiệp chất lượng cao nói riêng Tuy nhiên nông nghiệp sẽ không phát triển nhanh được nếu không có sự hỗ trợ của công nghiệp, khoa học kỹ thuật và dịch vụ Trong mối quan hệ đó, công nghiệp hỗ trợ đắc lực và phục vụ đắc lực và phục vụ đắc lực cho nông nghiệp phát ttriển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nhằm thu hút đầu tư, tạo nguồn vốn cho ngành công nghiệp chế biến Bắc Ninh đã có nhiều cơ chế, chính sách thông thoáng, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia Vì vậy, công nghiệp chế biến tương đối phát triển với các ngành chủ yếu như: Chế biến lâm sản đặc biệt là đồ gỗ cao cấp, chế biến lương thực, thực phẩm Song nhìn chung, công nghiệp chế biến của tỉnh quy mô vẫn còn nhỏ, công nghệ lạc hậu
Công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu ở nông thôn đã góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng chuyên canh sản xuất hàng hoá lớn, từng bước hiện đại hoá nông thôn, hằng năm giải quyết việc làm cho hơn 3000 lao động Tuy nhiên, ngành công nghiệp chề biến phát triển chưa đồng đều, chất lượng, hiệu quả chưa cao, khả năng cạnh tranh thấp Công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu ngành nhưng việc tác động của nó tới việc thay đổi cơ cấu và phát triển cây trồng vật nuôi chưa mạnh, chưa phát triển bền vững Vì vậy, mục tiêu của giai đoạn 2010 - 2015
là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp chế biến nông - lâm - thuỷ sản, chú trọng những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh và vùng nguyên liệu dồi dào, có thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước, củng cố những sản phẩm hiện có, đầu tư phát triển thêm những sản phẩm mới Bên cạnh đó, giảm nhanh các ngành sơ chế, phát triển các ngành
Trang 36công nghiệp chế biến gắn với chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, giải quyết nguồn nhân lực dư thừa ở nông thôn
Công nghiệp hoá, hiên đại hoá nông nghiệp nông thôn tiến hành chậm
và chưa rõ nét, chưa có lĩnh vực đột phá Nông nghiệp chưa phát huy được lợi thế nhất là vùng nông - lâm nghiệp và phát triển chăn nuôi, hoạt động thương mại, dịch vụ nông nghiệp còn chậm Công tác quy hoạch và đầu tư phát triển
cơ sở hạ tầng các khu đô thị, các khu cụm công nghiệp chưa được quan tâm đúng mức Việc đổi mới, sắp xếp, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước, nhất là công tác cổ phần hoá còn rất chậm, lúng túng gặp nhiều khó khăn Nhiều doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài Kinh tế tập thể chưa có sự chuyển biến mạnh cả về chất và lượng, nhiều hợp tác xã hoạt động mang tính hình thức
Từ thực tế trên cho thấy, công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh còn nhỏ bé , chưa rõ nét, chủ yếu tập trung ở một số ngành Vì vậy, rất cần sự tác động tích cực của nhiều yếu tố, trong đó phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được xem là khâu đột phá nhằm thúc đẩy mạnh hơn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh
1.2.2 Tính tất yếu phải phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay
Yêu cầu đặt ra đối với việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá tự bản thân nó cũng đặt ra những đòi hỏi khách quan về số lượng, chất lượng và cơ cấu của nguồn nhân lực để thích ứng với những yêu cầu và bối cảnh của từng thời kỳ Nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và xu thế tri thức hoá người lao động ngày càng cao Trước những điều kiện mới như vậy, quá trình
Trang 37công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh cũng đặt ra những yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao cho mình:
Thứ nhất, phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh Bắc
Ninh đủ về số lượng, chất lượng và cơ cấu đáp ứng yêu cầu đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá với quy mô lớn, tốc độ nhanh
Xuất phát từ những mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVIII (tháng 9/2010) khẳng định: “Tập trung mọi nguồn lực đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển công nghiệp, công nghệ cao, nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, xây dựng nông thôn mới Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và an sinh xã hội, phấn đấu đến năm 2020 trở thành thành phố trực thuộc Trung ương” [24, tr.9] Đến năm 2015 tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 13% - 14%, trong đó công nghiệp và xây dựng tăng bình quân 15% - 16%, dịch vụ tăng 13,5% - 14,5%, nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 1,5 % - 2%, GDP bình quân đầu người đạt 3500 USD Để đạt được mục tiêu đó, cần chú trọng phát triển giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực đến năm 2015 đưa lực lượng lao động qua đào tạo là 60%
Hiện nay, Bắc Ninh có nguồn lao động dồi dào (trên 60% dân số), nhưng nguồn nhân lực với tư cách là động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá xét cả về số lượng, chất lượng, và cơ cấu nghề nghiệp đều chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình này Trong tổng số lực lượng lao động của toàn tỉnh thì chỉ có 45% lao động qua đào tạo (năm 2012) So với mục tiêu năm
2015 là 60% lao động qua đào tạo thì hiện nay tỉnh vẫn thiếu lao động qua đào tạo để cung ứng cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh
Theo báo cáo của Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Ninh, thời gian qua, sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh tiếp tục được quan tâm đầu tư phát triển, quy mô đào tạo của tỉnh không ngừng được tăng lên nhưng
Trang 38vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế Mặt khác, hiện nay
tỷ lệ lao động có trình độ trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật và trình độ cao đẳng, đại học vẫn còn thấp Như vậy, việc mở rộng quy mô đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao được xác định là tăng nhanh số lượng lao động qua đào tạo và đào tạo nghề cho các ngành kinh tế mũi nhọn, vùng kinh
tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu công nghệ cao cho xuất khẩu lao động Để giải quyết vấn đề này cần phải thực hiện có hiệu quả công tác quy hoạch hệ thống cơ sở dạy nghề đã được chính phủ phê duyệt, đồng thời điều chỉnh hợp lý quy mô tuyển sinh và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao có trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay đang đặt ra những yêu cầu rất cao về trí tuệ của nguồn nhân lực - những người lao động Họ không những phải có khả năng tiếp thu tri thức mới, vận dụng có hiệu quả vào sản xuất mà còn phải biết thường xuyên tiếp cận với tri thức mới để không bị lạc hậu trước sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ Vì vậy, nguồn nhân lực cần thiết cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải bao gồm những người lao động có sự phát triển cao về năng lực trí tuệ, đủ sức làm chủ, tiếp thu công nghệ mới, có khả năng làm việc chủ động, linh hoạt và sáng tạo Xuất phát từ yêu cầu đó, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhất thiết phải nâng cao chất lượng chung của nguồn nhân lực và con đường cơ bản nhất thiết phải nâng cao chất lượng chung của nguồn nhân lực và con đường cơ bản nhất để phát huy tiềm năng nhân lực là biến dân tộc đó thành xã hội có học vấn Điều đó lý giải vì sao cuộc chạy đua về kinh tế giữa các quốc gia hiện nay là cuộc chạy đua về phát triển giáo dục và đào tạo dựa trên nền tảng mặt bằng dân trí của nguồn nhân lực
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bắc Ninh đòi hỏi nguồn lực con người phải có sự chuyển biến tích cực về phẩm chất đạo đức, tâm lý, tinh thần Người lao động cần phát huy tính tích cực đã có, hạn chế dẫn tới
Trang 39xoá bỏ những yếu tố tiêu cực đồng thời bổ sung những yếu tố mới phù hợp với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đó là phẩm chất chính trị, đạo đức, văn hoá lao động cao
Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phù hợp với quá trình
chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh
Xem xét cơ cấu nguồn lao động, cái quan trọng nhất là phải xem xét cơ cấu đào tạo, cơ cấu ngành nghề Xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế, từ nhu cầu sử dụng mà những người lao động phải được đào tạo phân bổ và sử dụng theo cơ cấu kinh tế hợp lý, đảm bảo tính hiệu quả nhất trong sử dụng Một quốc gia có lực lượng lao động đông đảo nhưng nếu phân bổ không hợp
lý giữa các ngành, các vùng, cơ cấu đào tạo không phù hợp với nhu cầu sử dụng thì nguồn lao động đó không thể trở thành nguồn lực để phát triển mà nhiều khi lại là gánh nặng cản trở sự phát triển
Trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế của tỉnh Bắc Ninh cũng đang dần chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cùng với sự tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng: Lao động dịch vụ, công nghiệp tăng cả về tương đối lẫn tuyệt đối, tỷ trọng lao động nông nghiệp ngày càng giảm trong cơ cấu lao động tổng thể Cùng với đó, cấu trúc của nguồn nhân lực cũng biến đổi theo hướng:
Tỷ trọng lao động thành thạo ngày càng tăng lên trong khi tỷ lệ lao động có trình độ thấp ngày càng giảm, tỷ trọng lao động trí lực ngày càng cao trong chi phí lao động, tỷ trọng lao động thể lực ngày càng giảm Đây là vấn đề hết sức quan trọng cần phải tính đến trong quá trình phát triển và sử dụng nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh
Tóm lại, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa một mặt phải đáp ứng yêu cầu chuyển đổi cơ cấu lao động Mặt khác, phải đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Điều đó đòi hỏi trong chiến lược phát triển
Trang 40nguồn nhân lực chất lượng cao cần phải có quy hoạch trong đào tạo, định hướng ngành, nghề phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, trong đó giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực nói chung, đào tạo lao động kỹ thuật, công nhân lành nghề nói riêng phải đi trước một bước
Thứ ba, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phân bố, sử
dụng và giải quyết việc làm
Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao theo định hướng nhu cầu trên thị trường lao động là yêu cầu quan trọng nhất đối với sự nghiệp giáo dục nghề nghiệp ở nước ta nói chung và ở tỉnh Bắc Ninh nói riêng trong bối cảnh hiện nay Đào tạo, giải quyết việc làm là một thể thống nhất, quan hệ biện chứng với nhau, xét cả về ý nghĩa kinh tế và ý nghĩa xã hội:
Về kinh tế, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là khâu hoạt động đầu tiên, trang bị cho người lao động có nhiều cơ hội việc làm, thông qua các chương trình phát triển kinh tế, là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, các công trình kinh tế phải sử dụng công nghệ cao, hiện đại, điều đó đặt ra nhiệm vụ cho công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phải đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở khía cạnh này mang ý nghĩa kinh tế
Về xã hội, đào tạo lại nguồn nhân lực bị dôi dư, bị sa thải, bị thất nghiệp, thiếu việc làm, để các đối tượng này tự tạo việc làm hoặc tìm việc làm thích hợp, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm, tăng thu nhập, góp phần ổn định và an toàn xã hội Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở khía cạnh này mang ý nghĩa xã hội
Tuy nhiên, để đào tạo và giải quyết việc làm thật sự phù hợp với nhau
là vấn đề đặt ra cho công tác định hướng, phân luồng đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân Sự lớn mạnh của hệ thống giáo dục đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và phải có hệ thống thông tin thị trường lao động, giới