tài liệu tham khảo Vấn đề kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện Nay
Trang 1Mục lục
Trang
Lời nói đầu 2
Những lý luận chung về KTNB và thực trạng tổ chức KTNB trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay 4 I- Những vấn đề lý luận chung về KTNB 4
1 .KTNB và vai trò của KTNB trong các doanh nghiệptrong nền kinh tế thị trờng 4
2 .Vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn và nội dung hoạt độngcủa KTNB 5
3 .Mô hình, nguyên tắc và nhiệm vụ tổ chức KTNB 7
II- Thực trạng của việc tổ chức KTNB trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay 11
1 .Sự cần thiết của KTNB trong các DNNN ở Việt Namhiện nay 11
2 .Đánh giá sự phát triển KTNB trong các DNNN ở ViệtNam hiện nay 13
3 .Những khó khăn chính trong việc tổ chức bộ máyKTNB trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay 15
III- Một số giải pháp trong việc giải quyết khó khăn trong việc hình thành KTNB trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay 19
1 .Hoàn thiện về mặt chính sách 19
2 .Hỗ trợ về mặt đào tạo và các điều kiện khác đểnâng cao và phát triển đội ngũ KTVNB 21
3 .Về chính sách vật chất và phơng tiện kỹ thuật 21
4 .Về tổ chức bộ máy KTNB 22
IV- Một số kiến nghị rút ra từ thực tế 23
1 .Mô hình tổ chức 23
2 .Về cơ cấu bộ phận KTNB ở các tổng công ty, cácdoanh nghiệp có quy mô lớn 24
Trang 23 .Hớng nghiên cứu mới 24
Kết luận 26 Tài liệu tham khảo 27
Lời nói đầu
Theo thời gian, cùng với sự phát triển và tiến bộ của xãhội, cơ chế thị trờng ra đời làm cho các hoạt động tàichính và sở hữu ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp,chức năng kiểm tra kế toán không đáp ứng đợc nhu cầucủa ngời sử dụng thông tin Chính vì thế, kiểm toán ra
đời nh một đòi hỏi khách quan để đáp ứng nhu cầu đó.Càng ngày, kiểm toán càng trở nên có vai trò quan trọng vàcàng phát triển, khẳng định là một môn khoa học, mộtlĩnh vực nghiên cứu riêng Cơ chế thị trờng cạnh tranh gaygắt đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực vơn lên từ chínhbản thân mình, các nhà quản trị phải có những quyết
định và phơng pháp quản lý đúng đắn để đảm bảo choviệc kinh doanh có hiệu quả Cũng từ đó, kiểm toán nội bộ(KTNB ) ra đời nh một nhu cầu tất yếu, cần thiết để giúpcho các nhà quản trị có đầy đủ thông tin chính xác vềtình hình hoạt động của doanh nghiệp mình, về các báocáo tài chính đợc lập để làm cơ sở cho việc quản trịdoanh nghiệp
ở Việt Nam hiện nay, KTNB có một vai trò hết sức tolớn trong đánh giá tính chính xác của các báo cáo tài chính,kiểm toán tuân thủ hoạt động trong doanh nghiệp, tạoniềm tin cho những ngời sử dụng thông tin và là cơ sở để
Trang 3ra các quyết định của nhà quản trị Tuy nhiên, KTNB làlĩnh vực rất mới mẻ ở Việt Nam, việc tổ chức KTNB trongcác DNNN có một ý nghĩa rất to lớn đối với việc nâng caohiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và nhất là trong quátrình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nớc hiện nay Docòn mới mẻ nên việc tổ chức bộ máy KTNB trong các DNNN ởViệt Nam hiện nay vẫn còn có nhiều vấn đề khó khăn.
Đề tài với chủ đề: "Đánh giá tổ chức bộ máy KTNB
trong các doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam " sẽ giúp
ta nhìn nhận rõ hơn về thực trạng của việc tổ chức bộmáy KTNB trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay cũng nh
đề cập tới một số kiến nghị và giải pháp để giải quyếtnhững khó khăn đó
Đề tài đợc chia làm 2 phần:
Phần I: những vấn đề lý luận chung về KTNB và thực trạng
tổ chức KTNB trong các DNNN ở nớc ta hiện nay.
Phần II: một số kiến nghị và giải pháp tổ chức bộ máy KTNB
trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo - giảng viên: Bùi
Minh Hải đã hớng dẫn tận tình và giúp đỡ em hoàn thành
Trang 4Phần I Những vấn đề lý luận chung về kiểm toán nội bộ và thực trạng tổ chức kiểm toán nội bộ
trong các DNNN ở nớc ta hiện nay.
I- Những vấn đề lý luận chung về KTNB.
1 KTNB và vai trò của KTNB trong các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng.
a) Kiểm toán nội bộ là gì?
Lịch sử phát triển hoạt động kiểm toán ở các nớc cónền kinh tế thị trờng cho thấy KTNB là một nghề nghiệpmới mẻ Tuy lúc đầu KTNB mang tính chất không chuyên,không tồn tại ở các doanh nghiệp hoặc đợc coi nh một
Trang 5phần của kiểm toán độc lập, nhng về sau nó đã trở thànhmột nghề có tính chuyên nghiệp.
Một cách cơ bản có thể hiểu KTNB là một bộ phận đợclập ra trong một đơn vị, thực hiện chức năng kiểm tra,giám sát để giúp các nhà quản lý cấp cao trong đơn vị đógia tăng đợc quyền lực của mình nhằm quán xuyến đựoccác hoạt động đã và đang diễn ra trong đơn vị, bao gồm:những quy tắc đặt ra có đợc tuân thủ không? Tài sản có
đợc toàn vẹn không? Cán bộ, CNV làm việc có hiệu quảkhông? Các quy định hiện hành có phù hợp khi điều kiệnthay đổi? Đánh giá tính chính xác của các báo cáo tàichính
Nh vậy, KTNB hình thành và phát triển xuất phát từnhu cầu quản lý của bản thân doanh nghiệp KTNB thựchiện chức năng đánh giá một cách độc lập và khách quancơ cấu kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp Phạm vi củaKTNB bao gồm tất cả các mặt hoạt động của của doanhnghiệp và ở tất cả các cấp quản lý khác nhau KTNB xemxét, đánh giá và báo cáo về thực trạng của hệ thống kiểmsoát nội bộ, đa ra những phân tích, kiến nghị, t vấnmang tính chất chuyên nghiệp để lãnh đạo doanh nghiệp
có cơ sở tin cậy trong việc quản lý thành công các hoạt
động của doanh nghiệp
b) Vai trò và ý nghĩa của KTNB trong các doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp có một hệ thống kiểm soát nội bộ là
điều kiện cần thiết và lý tởng để Ban Giám đốc và Hội
đồng Quản trị chỉ đạo, quản lý kinh doanh một cách cóhiệu quả, cũng nh mang lại sự đảm bảo chắc chắn, tincậy và hiệu quả cho các quyết định và chế độ quản lý.KTNB là một bộ phận cơ bản và quan trọng trong hệ thống
Trang 6kiểm soát nội bộ, vì thế KTNB có một ý nghĩa rất quantrọng và tồn tại nh một nhu cầu cần có của doanh nghiệp.Trong nền kinh tế thị trờng cạnh tranh ác liệt hiện nay,
đối tác kinh doanh đợc mở rộng với sự cạnh tranh của cácluật chơi trên thị trờng Trong điều kiện các báo cáo tàichính của doanh nghiệp chỉ có ý nghĩa công khai với các
đối tợng bên ngoài khi có xác nhận của kiểm toán độc lậpthì KTNB cũng ý nghĩa và cần thiết đối với ngời quản lý
và điều hành doanh nghiệp, cũng nh đối với tổ chức kiểmtoán độc lập khi xem xét và kiểm toán báo cáo tài chínhcủa doanh nghiệp
Xuất phát từ mục tiêu của KTNB là nhằm củng cố cơ cấukiểm soát nội bộ, thúc đẩy việc sử dụng tiết kiệm và cóhiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp, ta thấy việc tổchức bộ máy KTNB trong các doanh nghiệp trong điều kiệnthị trờng hiện nay là hết sức cần thiết và có ý nghĩa to lớntrong công tác quản trị doanh nghiệp
2 Vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn và nội dung hoạt động của KTNB.
Trớc hết cần phải khẳng định rằng KTNB là nhu cầu tựthân của các doanh nghiệp, chính vì thế phạm vi củaKTNB là rất linh hoạt và tùy thuộc vào quy mô, cơ cấu củadoanh nghiệp cũng nh nhu cầu quản lý đơn vị, do vậyKTNB trong các doanh nghiệp khác nhau là khác nhau vàphù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp
a) Chức năng và vị trí của KTNB:
KTNB hình thành do nhu cầu quản lý nên chức năngcủa nó cũng trải qua quá trình phát triển từ thấp tới caocùng với khoa học quản lý kinh tế, trình độ và kinh nghiệmquản lý của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Mặc dù theokinh nghiệm của các nớc có nền kinh tế thị trờng phát
Trang 7triển, chức năng của KTNB hiện đại là đánh giá độc lập hệthống kiểm soát nội bộ, nhng chức năng truyền thống củaKTNB là xem xét , đánh giá độ tin cậy, thống nhất của cácthông tin tài chính, đánh giá việc sử dụng tiết kiệm, hữuhiệu vốn và tài sản của doanh nghiệp Chính vì thế, việcquy định chức năng, nhiệm vụ cho KTNB cần phải xem xétphù hợp với điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng khuvực kinh tế, từng ngành và từng đơn vị.
Về vị trí của KTNB: Trong sơ đồ quản lý doanh
nghiệp, trách nhiệm và nhiệm vụ càng lớn thì vị trí càngcao Do tính chất đặc thù của hoạt động kiểm toán, đảmbảo tính khách quan trong công việc, bộ phận KTNB cần
đợc tổ chức độc lập với các bộ phận quản lý và điều hànhkinh doanh trong doanh nghiệp và chịu sự chỉ đạo trựctiếp của ( Tổng ) Giám đốc hoặc HĐQT của doanh nghiệp
b) Nhiệm vụ của KTNB:
Về cơ bản, nhiệm vụ của KTNB bao gồm các nhiệm vụ sau:
- Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ, tàiliệu, số liệu kế toán, việc chấp hành chế độ, thể lệ kếtoán tài chính của nhà nớc
- Kiểm tra và xác nhận mức độ trung thực, hợp lý củacác báo cáo quyết toán do kế toán và các bộ phận kháctrong doanh nghiệp lập ra
- Kiểm tra xác nhận giá trị vốn góp của doanh nghiệp vàcác đối tác tham gia liên doanh với doanh nghiệp Kiểm traxác nhận tính trung thực, hợp lý, đầy đủ của số liệu kế toán
và báo cáo quyết toán của đơn vị liên doanh
- Kiểm tra tính hiệu quả và tính pháp lý của hệ thốngkiểm soát nội bộ trong đó có hệ thống kế toán Giám sát sựhoạt động và tham gia hoàn thiện chúng
Trang 8- Kiểm tra tính hiệu quả và tính pháp lý của quy chếkiểm soát nội bộ, đồng thời có kiến nghị hoàn thiện cácquy chế này.
- Thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ trên KTNB cótrách nhiệm hớng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ kế toán và các cán
bộ nghiệp vụ khác có liên quan, đề xuất các quyết định quản
lý, xử lý về tài chính và các nội dung xử lý khác
c) Quyền hạn của KTNB:
Do đặc trng của KTNB là thực hiện các nhiệm vụ chủyếu nêu trên, cho nên KTNB có những quyền hạn riêng để
đảm bảo mục đích hoạt động KTNB có quyền:
- KTNB độc lập với các bộ phận khác trong doanhnghiệp, độc lập về chuyên môn nghiệp vụ trong phạm vikhuôn khổ pháp luật và các chuẩn mực, phơng phápnghiệp vụ chuyên môn
- Có quyền yêu cầu các bộ phận và các cá nhân có liênquan cung cấp đầy đủ, kịp thời các tài liệu về kế toán, tàichính và các tài liệu khác có liên quan tới nội dung đợc kiểmtoán
- Có quyền đối chiếu xác minh các thông tin kinh tế cóliên quan tới đối tợng đợc kiểm toán ở trong và ngoài doanhnghiệp
- Có quyền kiến nghị với chủ thể đợc kiểm toán cóbiện pháp sửa chữa sai phạm và có quyền ghi kiến nghịcủa mình vào báo cáo kiểm toán
- Đề xuất với lãnh đạo doanh nghiệp những kiến nghị
và biện pháp về quản lý
Đó là một số quyền hạn cơ bản của KTNB, bên cạnh đó tùy thuộc vào từng doanh nghiệp, từng điều kiện mà KTNB
có thể có thêm các quyền khác.
Trang 9d) Nội dung hoạt động của KTNB:
Hoạt động của KTNB trong doanh nghiệp thực hiện một
số nội dung chủ yếu sau:
- Rà soát lại hệ thống kế toán và các quy chế kiểm soátnội bộ có liên quan, giám sát sự hoạt động của các hệ thốngnày cũng nh tham gia hoàn thiện chúng
- Kiểm tra các thông tin tác nghiệp, thông tin tài chính,bao gồm việc soát xét lại các phơng tiện đã sử dụng đểxác định, tính toán, phân loại và báo cáo những thông tinnày, kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ, các số d và các bớccông việc
- Kiểm tra tính hiệu quả, sự tiết kiệm và hiệu suất củacác hoạt động, kể cả các quy định không có tính chất tàichính của doanh nghiệp
Nh vậy, lĩnh vực hoạt động của KTNB bao gồm cả kiểm toán tài chính và kiểm toán nghiệp vụ trong doanh nghiệp.
3 Mô hình, nguyên tắc và nhiệm vụ tổ chức KTNB.
a) Mô hình tổ chức:
Từ những vai trò của KTNB trong doanh nghiệp thì việc
tổ chức KTNB trong doanh nghiệp là cần thiết để nâng caohiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên, tùy theoquy mô của doanh nghiệp mà tổ chức bộ máy kiểm toán chophù hợp Bộ phận KTNB trong các doanh nghiệp nhà nớc nên
đợc tổ chức nh thế nào ? Về vấn đề này, có 2 loại quan
điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất: Bộ phận KTNB trực thuộc HĐQT mà trực tiếp là chịu sự chỉ đạo của Ban kiểm soát Có nh vậy bộ phận KTNB mới phát huy đợc tính độc
Trang 10lập, kết quả KTNB mới có tính khách quan, khắc phục tình
trạng " vừa đá bóng vừa thổi còi".
Mô hình 1: Mô hình bộ máy KTNB theo quan điểm này nh sau
Quan điểm thứ hai: Bộ phận KTNB nên đặt trực thuộc Tổng Công ty (Giám đốc) của doanh nghiệp.
Quan điểm này dựa trên cơ sở KTNB là một bộ phậnquan trọng của doanh nghiệp, đặt tại doanh nghiệp, tiếpcận thờng xuyên, liên tục với mọi hoạt động của doanhnghiệp, đánh giá kệ thống kiểm soát nội bộ và phát hiệnkịp thời những sai sót, sơ hở, những điểm yếu để báocáo kịp thời cho lãnh đạo để có các kiện pháp khắc phục,hoàn thiện Để đạt đợc mục tiêu, vai trò của KTNB cần phải
Cán bộ quản lý cấp
Quan hệ trực thuộc
Quan hệ kiểm tra
Trang 11đặt KTNB trực thuộc cấp lãnh đạo cao nhất điều hànhhoạt động của doanh nghiệp.
Mô hình 2 : ktnb trực thuộc Tổng Công ty (giám đốc) của dn
Quan hệ trực thuộc
Quan hệ kiểm tra
Luồng thông tin phản hồi
Cách tổ chức theo mô hình này phù hợp với điều kiệnthực tiễn của các DNNN trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên
để KTNB thực sự có hiệu quả thì ngời đứng đầu bộ phậnKTNB phải đợc quyền tự do báo cáo kết quả kiểm toán vớiBan kiểm soát của HĐQT (nếu doanh nghiệp có HĐQT)
Nh vậy qua việc phân tích những chức năng, đặc
điểm của KTNB thì việc hình thành KTNB trong cácdoanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trờng pháttriển đa chiều, cạnh tranh gay gắt là một điều cần thiết
để nâng cao tính hoạt động có hiệu quả của các doanhnghiệp, chỉ ra các vấn đề, các hớng để hoàn thiện hệthống chính sách, hệ thống kế toán trong doanh nghiệp,
Tổng Công ty
Hội đồng Quản trị
Bộ phận KTNB
Cán bộ quản lý cấp trung gian Cán bộ quản lý cấp DN
Trang 12đồng thời tùy theo mỗi nhu cầu tự thân, mỗi điều kiệnhoàn cảnh của các doanh nghiệp mà có cơ cấu tổ chứcKTNB cho phù hợp, đảm bảo tính hiệu quả của bộ phận nàytrong quá trình kiểm toán và kiến nghị chiến lợc cho cácnhà quản trị trong quá trình lãnh đạo doanh nghiệp ở cảtầm vĩ mô và vi mô.
b) Nguyên tắc, nhiệm vụ của tổ chức bộ máy KTNB.
Bộ máy kiểm toán bao gồm con ngời và các phơng tiệnchứa đựng các yếu tố cấu thành của kiểm toán để thựchiện chức năng của kiểm toán
Tổ chức bộ máy kiểm toán chính là việc tạo ra các mốiliên hệ giữa các yếu tố cấu thành kiểm toán, giữa cácphân hệ trong hệ thống kiểm toán và chín giữa bản thâncủa hệ thống kiểm toán với các yếu tố khác trong môi trờnghoạt động của kiểm toán Chính từ việc tổ chức bộ máykiểm toán mà các mối liên hệ đợc duy trì đảm bảo cho hệthống thực hiện tốt chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến
Tổ chức bộ máy KTNB phải đảm bảo:
- Tính khoa học: Tổ chức bộ máy KTNB phải phù hợp với
nguyên lý chung của lý thuyết kiểm toán Tùy theo đặc
điểm tổ chức của doanh nghiệp là tổ chức theo phơngpháp chức năng hay trực tuyến tham mu mà đa ra môhình tổ chức bộ máy KTNB cho phù hợp
- Tính nghệ thuật: Tổ chức bộ máy KTNB phải chú ý tới
nhân tố con ngời
Trong sơ đồ tổ chức bộ máy kiểm toán cần phải phâncông rõ ràng chức năng và nhiệm vụ của mỗi ktv nhằm đạthiệu quả và hiệu suất cao
- Phải đảm đủ về số lợng nhân viên trong bộ phậnkiểm toán cũng là một vấn đề quan trọng
Trang 13Số lợng nhân viên kiểm toán có thể đợc xác định quacông thức sau:
Số lợng nhân viên KTNB =
Trong đó:
ai: Thời gian cần thiết để tiến hành kiểm toán một hoạt
động hoặc một bộ phần của doanh nghiệp bao gồm cảthời gian kiểm toán dự tính, thời gian đi lại nếu có
t: Tần suất kiểm toán các bộ phận hoặc các hoạt động
t-ơng ứng/năm
b: Thời gian dự kiến phát sinh cho các hoạt động đào tạo,nghỉ phép, hội họp
k: Thời gian làm việc trung bình của một KTV/năm
n: Tổng số bộ phận hoặc hoạt động cần đợc kiểm toán
- Điều quan trọng trong tổ chức KTNB là phải xác định quy mô của doanh nghiệp: Doanh nghiệp có thực sự cần bộ
máy KTNB hay không, quy mô của doanh nghiệp nh thếthì bộ máy KTNB nên có quy mô nh thế nào thì thíchhợp
- Tùy theo cơ cấu của doanh nghiệp nh thế nào mà tổ
chức KTNB cho phù hợp sao cho đem lại hiệu quả cao nhất,tốn chi phí ít nhất
- Tổ chức bộ máy KTNB phải quán triệt nguyên tắc tậptrung dân chủ: Tập trung dân chủ thích ứng với từng bộphận kiểm toán
- Hệ thống bộ máy KTNB bao gồm các mối liên hệ trong
và ngoài khác nhau và phải phù hợp với nguyên lý chung của
lý thuyết tổ chức và quy luật biện chứng về mối liên hệ
Để tổ chức bộ máy KTNB thì cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
Trang 14- Phải xác định kiểu mô hình tổ chức phù hợp với đặc
điểm, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
- Xác định kiểu liên hệ trong từng mô hình
- Xây dựng mối liên hệ giữa các yếu tố cơ bản cấu
Xuất phát từ những lý luận chung về KTNB, từ vai trò
và ý nghĩa của KTNB đối với sự phát triển của doanhnghiệp chúng ta đi tìm hiểu về thực trạng KTNB trong cácDNNN ở Việt Nam hiện nay, những khó khăn trong việchình thành KTNB, những tồn tại trong việc tổ chức KTNBhiện nay
1 Sự cần thiết của KTNB trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay:
KTNB là hoạt động trong phạm vi doanh nghiệp, do
ng-ời của doanh nghiệp thực hiện để phục vụ cho các yêu cầuquản lý sản xuất kinh doanh và quản lý tài chính của bảnthân doanh nghiệp Với mục tiêu nh vậy, đặc biệt là trongcơ chế quản lý tài chính kiện nay - doanh nghiệp đợcquyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt độngsản xuất kinh doanh, tài chính đến mức cao nhất - thìKTNB càng là một đòi hỏi cấp bách với tất cả các DNNN.Theo Nghị định số 59/NĐ-CP ngày 03/10/1996 củaChính phủ, từ năm 1997 cơ quan quản lý tài chính các cấp
sẽ không tiến hành kiểm tra phê duyệt quyết toán sản xuấtkinh doanh hàng năm của các DNNN Các DNNN phải côngkhai báo cáo tài chính và chịu trách nhiệm về các số liệu,
Trang 15chỉ tiêu đã công bố Đây là một quy định nhằm nâng caotính chủ động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các DNNNnhng đồng thời cũng gây không ít khó khăn, lúng túng cho
họ Từ trớc năm 1997, sau khi quyết toán năm đợc duyệt,lãnh đạo doanh nghiệp hoàn toàn yên tâm về kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, về các mặthoạt động và giải pháp tài chính trong năm vì đã đợc cáccơ quan có thẩm quyền của Nhà nớc xác nhận Mọi sai sót,
vi phạm của doanh nghiệp cũng đã đợc giải quyết hoặcxóa bỏ thông qua việc duyệt quyết toán Chính vì vậy,trong điều kiện không còn kiểm tra phê duyệt quyết toánhàng năm, KTNB với chức năng kiểm tra, xác nhận tínhtrung thực và hợp lý, hợp pháp của các thông tin trong báocáo tài chính sẽ giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp bớt lúngtúng, yên tâm hơn khi ký các báo cáo tài chính và côngkhai báo cáo tài chính theo cơ chế về quản lý tài chínhDNNN
ở Việt Nam hiện nay, mô hình HĐQT ở các Tổng công
ty đợc thành lập theo Nghị định 90/CP và 91/CP có khác
so với các nớc Trong mỗi Tổng công ty nhà nớc có Ban kiểmsoát trực thuộc HĐQT, ngoài các thành viên chuyên trách,HĐQT còn có một số thành viên kiêm nhiệm Trong Bankiểm soát, ngoài Trởng Ban kiểm soát, phần lớn các ủy viên
là các thành viên kiêm nhiệm, có thành viên không thuộcTổng công ty Với bộ máy nh vậy, Ban kiểm soát khó lòngthực hiện các nhiệm vụ và trách nhiệm theo quy định củanhà nớc mới đợc ban hành theo điều lệ mẫu của Tổng công
ty nhà nớc Vì vậy, ở các DNNN mà trớc hết là các Tổng
công ty cần thiết phải tổ chức bộ phận KTNB để giúp chủ doanh nghiệp điều hành và quản lý mọi mặt hoạt động
có hiệu quả Đó là một nhu cầu cần thiết và nên làm vì sự
phát triển của doanh nghiệp
Trang 16Đối với nớc ta hiện nay đang tiến hành quá trình cổ phần hóa các DNNN, việc cổ phần hóa sẽ thúc đẩy các
doanh nghiệp phải luôn luôn cố gắng vơn lên để đứngvững trên thị trờng, hơn nữa các cổ đông đòi hỏi phảibiết thông tin chính xác về tình hình hoạt động củadoanh nghiệp để chia sẻ các lợi ích và rủi ro cũng nh thamgia quản lý doanh nghiệp, do vậy KTNB lại càng cần thiếthơn bao giờ hết đối với các DNNN đang tiến hành cổphần hóa, và nó không thể thiếu đối với các doanh nghiệp
đã chuyển đổi sang hình thức cổ phần
Nớc ta đang phát triển và mở rộng hoạt động của thị trờng chứng khoán, thông tin tài chính của doanh nghiệp là
hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với nhữngngời tham gia thị trờng, theo đó, KTNB cung cấp thông tin
và kiến nghị các biện pháp quản lý về doanh nghiệp sẽ tạoniềm tin cho các cổ đông và giúp cho doanh nghiệp quản
lý tốt, có các biện pháp để phát triển sản xuất kinh doanh
Nh vậy, xét tình hình hiện nay, việc tổ chức bộ máyKTNB trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay là một nhu cầucần thiết để đảm bảo cho các doanh nghiệp hoạt độngtốt, và là cơ sở để doanh nghiệp cạnh tranh, tồn tại vữngtrên thị trờng
2 Đánh giá sự phát triển KTNB trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay:
Nh đã nói ở trên, KTNB có một vai trò và vị trí đặcbiệt trong doanh nghiệp, tuy nhiên chúng ta còn hiểu biếtquá ít về lĩnh vực này so với KTNN và KTĐL Trên thực tế,chúng ta cha có một công trình, một đề tài nào nghiêncứu một cách có hệ thống và sâu sắc về KTNB, trong
điều kiện đó, vớng mắc về nhận thức là lẽ đơng nhiên,
Trang 17việc triển khai hoạt động KTNB ở các doanh nghiệp lại cànglúng túng.
ở Việt Nam đã xuất hiện những nhu cầu và điều kiệncần thiết cho việc thiết lập hệ thống KTNB trong các đơn
vị kinh tế lớn nh các Tổng công ty 90, 91; các Bộ, ngành,
địa phơng trong phạm vi cả nớc Tuy nhiên, đây mới chỉ
là giai đoạn đầu của việc hình thành một hệ thống KTNBtrong hầu hết các doanh nghiệp, chính vì thế KTNB mớihình thành đợc rất ít, còn chập chững, tập trung chủ yếu
ở các Tổng công ty, các doanh nghiệp có quy mô lớn Hơnnữa, KTNB bớc đầu còn gặp nhiều khó khăn, lúng túngtrong việc tổ chức và hoạt động, bộ phận KTNB còn quámỏng manh so với cả một khối lợng công việc khổng lồ.Chúng ta có thể lấy ví dụ về hoạt động KTNB trong cácTổng công ty tiêu biểu: Xin lấy mô hình KTNB của Tổngcông ty xây dựng Sông Đà và Tổng công ty xăng dầu ViệtNam (Petrolimex):
Tổng công ty xây dựng Sông Đà là một doanh nghiệp
có quy mô tầm trung bình trong số những tổng công ty
90 của Nhà nớc, hình thành và hoạt động hơn 30 năm quavới nhiều công trình xây dựng lớn Xác định đúng đắn
sự cần thiết của KTNB đối với sự phát triển của Tổng công
kể Tại các doanh nghiệp thành viên của Tổng công ty tuycòn đang hoàn thiện về công tác tổ chức nhng 100% đơn
Trang 18vị đã bổ nhiệm đợc KTV hoặc thành lập tổ KTNB Tuynhiên, chỉ một số đơn vị sớm tuyển chọn bổ nhiệm đợcKTV đủ năng lực và ổn định tổ chức thì phát huy đợc tácdụng bớc đầu, có đóng góp vào công tác chấn chỉnh quản
lý tại doanh nghiệp Sau khi Bộ Tài chính ban hành Thông t
số 171/TT-BTC, phần lớn KTNB tại các doanh nghiệp thànhviên trong hệ thống KTNB Tổng công ty vẫn cha thực sự đivào hoạt động Có nhiều lý do nhng nguyên chính là sựkhó khăn về tuyển chọn và điều động cán bộ Để hoạt
động KTNB đi vào nền nếp, hiện nay Dự thảo quy chếKTNB của Tổng công ty đang đợc hoàn thiện khâu cuốicùng
Petrolimex là một trong những doanh nghiệp đặc biệtcủa Nhà nớc, doanh số và luân chuyển vốn hàng năm rấtlớn, mạng lới kinh doanh rộng khắp Tháng 2/1999 PhòngKTNB Tổng công ty ra đời và đi vào hoạt động Qua mộtquá trình hoạt động, do khối lợng công việc là rất lớn và dotính u thế của KTĐL trong lĩnh vực này, phòng KTNB Tổngcông ty đã đề xuất phơng án tiến tới thuê kiểm toán độclập thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm, KTNBchỉ phối hợp hỗ trợ và học hỏi kinh nghiệm Theo đề xuất,nhiệm vụ chính của KTNB là kiểm toán hoạt động và kiểmtoán tính tuân thủ, điều này phù hợp với lực lợng kiểm toántrong nội bộ, đồng thời giảm chi phí đáng kể so với thuêkiểm toán độc lập hoàn toàn
Nh vậy có thể thấy rằng hiện nay hệ thống KTNB ởViệt Nam cha phát triển mà đang trong giai đoạn đầuhình thành, lực lợng KTV còn quá ít, hệ thống chính sách,quy chế về KTNB cha đợc xây dựng và hoàn thiện, cha
đáp ứng đợc nhu cầu kiểm toán của doanh nghiệp, hiệuquả hoạt động cha cao, còn nhiều lúng túng, khó khăntrong quá trình hình thành và hoạt động