Tài liệu tham khảo Chủ thể hợp đồng kinh tế trong quá trình phát triển của chế độ hợp đồng kinh tế ở Việt Nam
Trang 1Lời nói đầu
Xã hội loài ngời trong lịch sử đã trải qua năm hình thái kinh tế xã hội,
đó là hình thái cộng sản nguyên thuỷ, hình thái chiếm hữu n"lệ, hình tháiphong kiến, hình thái t bản chủ nghĩavà hình thái chủ nghĩa xã hội Trong
đó ở hình thái cộng sản nguyên thuỷ cha có sự phân công lao động, cha có
sự trao đổi hàng hoá Đến khi có sự phân công lao động xã hội phản ánh sựphát triển cao của nền sản xuất, đòi hỏi tất yếu phải có sự trao đổi sảnphẩm- một khâu quan trọng của quá trình tái sản xuất xã hội Sự trao đổinày thiết lập trên cơ sở tự do ý chí giữa các chủ thể trong quan hệ trao đổisản phẩm hàng hoá khi đợc pháp luật tác động đến quan hệ kinh tế này, nó
sẽ trở thành quan hệ pháp luật và thông qua"bản giao kèo”, nó còn đợc gọi
là khế ớc hay hợp đồng
Nh vậy, sự ra đời của hợp đồng kinh tế là đòi hỏi khách quan của nềnkinh tế sản xuất hàng hoá, đã có sản xuất hàng hoá tất yếu phải có hợp đồngphục vụ cho quá trình trao đổi sản phẩm hàng hoá Sau đó cùng với sự phấttriển của xã hội, hợp đồng đã phát triển ra ngoài phạm vi trao đổi sản phẩmhàng hoá Tất nhiên, trong mỗi xã hội khác nhau thì bản chất, đặc điểm vànội dung của bản hợp đồng là khác nhau hay nói cách khác mỗi nhà nớc có
hệ thống chính trị, xã hội và đặc biệt kinh tế khác nhau thì bản chất, đặc
điểm và nội dung là khác nhau ở Việt Nam trải qua hai cơ chế khác nhau,
đó là cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp và cơ chế thị trờng
Do đó, bản chất, đặc điểm hợp đồng kinh tế cũng nh chủ thể của hợp đồngkinh tế cũng khác nhau ở từng giai đoạn
Hiện nay nền kinh tế của chúng ta tồn tại nhiều thành phần, phát triểnbình đẳng trong cơ chế thị trờng, có sự quản lý của nhà nớc, theo định hớngxã hội chủ nghĩa Trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình các
đơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế đều đợc đa vào các quan hệ hợp
đồng kinh tế Nói cách khác, hợp đồng kinh tế là quan hệ trao đổi hàng hoá,dịch vụ hợp pháp tất yếu, tất cả các đơn vị kinh tế thuộc các thành phầnkinh tế phải thực hiện Việc xem xét mức độ phù hợp về chủ thể hợp đồnghiện nay với các quy định trong các văn bản pháp luật trớc đây là điều hếtsức quan trọng
Đây chính là lý do em chọn đề tài: "Chủ thể hợp đồng kinh tế trong quá trình phát triển của chế độ hợp đồng kinh tế ở việt nam”.
Kết cấu đề tài gồm bốn phần:
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Trang 2I- Quá trình phát triển chế độ hợp đồng kinh tế ở việt nam.
II- Chủ thể ký kết hợp đồng kinh tế trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung.III- Chủ thể ký kết hợp đồng kinh tế theo pháp lệnh về hợp đồng kinh tế25/9/1989
IV- Luật doanh nghiệp)12/6/1999) và những vấn đề đặt ra trong vấn đề chủthể ký kết hợp đồng kinh tế
Nội dung đề tài
Trang 3I- Quá trình phát triển của chế độ hợp đồng kinh tế ở việt nam
1 Thời kỳ đầu xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc:
Trong thời kỳ này nền kinh tế nớc ta bao gồm nhiều thành phần kinh
tế khác nhau, ngoài kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể còn có kinh tế cá thểtrong nông nghiệp, thủ công nghiệp và thành phần kinh tế t bản t doanh cha
đợc cải tạo hợp đồng kinh tế của các cơ quan, xí nghiệp nhà nớc của các
đơn vị kinh tế tập thể tiến hành song song với kinh tế của t nhân Để thu hútmọi hoạt độnh kinh tế đi theo hớng có lợi cho việc cải tạo quan hệ sản xuất
cũ, từng bớc xây dựng quan hệ sản xuất mới- quan hệ sản xuất xã hội chủnghĩa Thủ tớng chính phủ đã ban hành nghị định 735/ ttg ngày 10/4/ 1957,kèm theo nghị định là bản điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh tế, bản điều lệnày bao gồm những quy định điều chỉnh các quan hệ hợp đồng giữa các
đơn vị kinh tế nh các đơn vị kinh tế quốc doanh, hợp tác xã, công t hợpdoanh, t doanh, ngời Việt Nam hay ngoại kiều kinh doanh trên đất ViệtNam
Đến năm 1960 ở miền bắc chúng ta đã hoàn thành cơ bản công cuộccải tạo xã hội chủ nghĩa, bớc vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội mở
đầu kế hoạch năm năm lần thứ nhất 1960-1965 Các quan hệ kinh tế có sựthay đổi về cơ cấu chủ thể và về tính chất, công tác kế hoạch hoá và hoạchtoán kinh tế đòi hỏi phải có những quy định mới về điều chỉnh các quan hệhợp đồng kinh tế giữa các đơn vị kinh tế Vì vậy, điều lệ tạm thời về chế độhợp đồng kinh tế đợc nhà nớc ban hành kèm theo nghị định 04/ttg ngày04/01/1960, đồng thời nhà nớc quyết định thành lập hội đồng trọng tài kinh
tế để thực hiện chức năng quản lý công tác hợp đồng kinh tế và giải quyếtcác tranh chấp kinh tế)nghị định 20/ttg ngày 14/01/1960) Hợp đồng kinh tế
đã thực sự trở thành công cụ điều chỉnh và củng cố các quan hệ kinh tế xãhội chủ nghĩa
Trớc yêu cầu của việc cải tiến quản lý kinh tế: xoá bỏ lối quản lý hànhchính cung cấp, thực hiện quản lý theo phơng thức kinh doanh xã hội chủnghĩa, khắc phục cách quản lý thủ công, phân tán theo lối sản xuất nhỏ, xâydựng cách tổ chức quản lý của nền công nghiệp lớn nhằm thúc đẩy quátrình đa nền kinh tế quốc dân từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủnghĩa, ngày 10/03/1975 nhà nớc đã ban hành bản điều lệ về chế độ hợp
đồng kinh tế)ban hành kèm theo Nghị định 54/cp ngày 10/03/1975 của Hội
đồng Chính phủ) Điều lệ này đã quy định tơng đối đầy đủ các vấn đề nh:vai trò của hợp đồng kinh tế, giải quyết tranh chấp và trách nhiệm do viphạm chế độ hợp đồng kinh tế
2 Sau đại hội lần VI Đảng cộng sản Việt Nam (11/1986):
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Trang 4Tháng 11/1986 Đại hội lần thứ VI Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng
định nội dung đờng nối đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, phát triển kinh tếhàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của nhà n-ớcvà định hớng xã hội chủ nghĩa Để thực hiện nội dung đổi mới cơ chếquản lý kinh tế, cần xáo bỏ hoàn toàn cơ chế quản lý hành chính quan liêubao cấp, xác định rõ phạm vi quản lý nhà nớc về kinh tế và quản lý sản xuấtkinh doanh, xác lập và mở rộng quyền tự chủ quyền sản xuất kinh doanhcho các đơn vị kinh tế cơ sở, bảo đảm sự bình đẳng về mặt pháp lý trongcác đơn vị kinh tế giữa các thành phần kinh tế và không phân biệt thànhphần kinh tế
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành các quan
hệ hợp đồng kinh tế giữa các đơn vị kinh tế mang một nội dung mới Bản
điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế ban hành kèm theo Nghị định 54/cpngày 10/03/1975 không còn phù hợp nữa Vì vậy, nhà nớc đã ban hànhpháp lệnh về hợp đồng kinh tế ngày 25/09/1989, nó đã thể chế hoá đợcnhững t tởng lớn về đổi mới kinh tế của Đảng, trả lại giá trị đích thực chohợp đồng kinh tế với t cách là sự thống nhất ý chí của các bên Pháp lệnhhợp đồng kinh tế và các văn bản pháp lý cụ thể hoá pháp lệnh đã tạo thànhmột hệ thống các quy phạm làm cơ sở pháp lý quan trọng điều chỉnh cácquan hệ hợp đồng kinh tế trong cơ chế kinh tế mới hiện nay
II- Chủ thể hợp đồng kinh tế trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung:
1 Đặc điểm, bản chất của hợp đồng kinh tế trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung
Trong mọi xã hội sản xuất hàng hoá, trao đổi là điều kiện tồn tại và là
điều kiện tất yếu, ở những xã hội mà sản xuất hàng hoá dựa trên chế độchiếm hữu t nhân về t liệu sản xuất, trao đổi giữa những chủ sở hữu t liệusản xuất độc lập với nhau vì những điều kiện kinh tế, lợi ích kinh tế riêngtừng ngời Giữa những hàng hoá đem trao đổi, có sự khác nhau về giá trị sửdụng nhng lại có một cái chung, đó là giá trị, giá trị hàng hoá làm chonhững ngời sản xuất hàng hoá khác nhau trao đổi đợc với nhau và đó chính
là mục đích của họ Quá trình trao đổi thông qua các quan hệ kinh tế màmục đích tối cao là lợi nhuận, các chủ thể là ngời sản xuất độc lập và tự docạnh tranh với nhau muốn giải quyết vấn đề này, giữa những ngời trao đổiphải đạt đợc thoả thuận cho ý chí và lợi ích của từng bên, hình thức trao đổidựa trên sự tự nguyện nh thế gọi là hợp đồng Với hình thức hợp đồng, quy
Trang 5Nhằm điều chỉnh các quan hệ kinh tế, nhà nớc ta đã dùng pháp luậtkinh tế là một trong những công cụ, pháp luật kinh tế nhằm điều chỉnh cácquan hệ kinh tế thể hiện dới nhiều hình thức, nhiều biện pháp khác nhau.Nhà nớc có thể dùng quyền lực chính trị để tạo mệnh lệnh có tính chất hànhchính đối với quan hệ kinh tế, ví dụ nh trong việc thu thúê, trích nộp lợinhuận, kiểm tra, kiểm soát và công tác kế hoạch hoá…sử dụng quyền lựcsử dụng quyền lựcchính trị trong quản lý kinh tế là điều kiện cần thiết trong thời kỳ quá độ,nhất là điều kiện lúc bấy giờ ở nớc ta phải ổn định và củng cố trật tự phânphối lu thông xã hội chủ nghĩa, chống lại xu hớng tự phát t bản chủ nghĩa.Dựa trên quyền lực chính trị nhà nớc đã ban hành các quy phạm hành chínhbắt buộc mọi chủ thể phải tuân theo, đó là một u thế để nhà nớc xã hội chủnghĩa đảm bảo cho các quan hệ kinh tế quán triệt đợc nôị dung và kế hoạch.Song nếu chỉ dùng mệnh lệnh hành chính thì không thể đảm bảo sự kếthợp lợi ích trong khi giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích tập thể và lợi íchchung của toàn xã hội, nếu đơn thuần dùng mệnh lệnh hành chính gò ép cáctập thể phải thực hiện kế hoạch nhà nớc thì trong điều kiện đó sẽ khôngkhuyến khích, tận dụng đợc mọi mặt năng lực sản xuất, hoạt động kinh tếkém hiệu quả và thông thờng lợi ích kế hoạch thể hiện trong việc hoànthành những chỉ tiêu kế hoạch cũng kém hiệu quả, không đảm bảo Vậymuốn điều chỉnh một quan hệ kinh tế có nội dung tổng hợp thì cũng cầndùng những quy phạm mà về phơng diện điều chỉnh là tổng hợp của hai ph-
ơng pháp hành chính và kinh tế, bên cạnh việc đa ra mệnh lệnh còn phải sửdụng các đòn bẩy kinh tế, thực hiện khuyến khích lợi ích vật chất…sử dụng quyền lựccó nhthế mới hớng các quan hệ lu thông đi vào quỹ đạo có tổ chức và có kếhoạch mà vẫn đảm bảo đợc hiệu quả kinh tế, nh thế đòi hỏi nhà nớc phảikết hợp sử dụng cả hai mặt quỳên lực và kinh tế
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Trang 6Lu thông kinh tế xã hội chủ nghĩa có thể có những quan hệ thực hiệntrên cơ sở ra mệnh lệnh theo luật hành chính, luật tài chính Nhng nhữngquan hệ đó không nhiều, phần thực hiện sản phẩm qua các quan hệ đókhông phải là phần lớn trong tổng số các sản phẩm của quỹ lu thông xã hộichủ nghĩa Những quan hệ khác thông qua chúng phần lớn sản phẩm xã hội
đợc thực hiện qua lu thông đòi hỏi phải giải quyết đồng thời hai yếu tố, đó
là cần vừa có những hình thức tác động mà vừa ra mệnh lệnh vừa cho phépcác chủ thể có những lợi ích kinh tế riêng của họ Cách tốt nhất và cũng làmọi cách làm của mọi nhà nớc trong thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xãhội đó là duy trì và mua bán ở đây mua bán phải nằm trong quỹ đạo củanhà nớc, mua bán trong lu thông xã hội chủ nghĩa khác với trong chế độ thữu t liệu sản xuất, ở chỗ quan hệ này phải nhằm phục vụ thực hiện kếhoạch, đặt lợi ích nhà nớc làm mục tiêu chính Nhà nớc chỉ đạo bằng cáchban hành các quy định, nguyên tắc, phơng pháp và các chỉ tiêu kế hoạch.Tuy nhiên, vì nó vẫn là quan hệ mua bán, tức là trao đổi giữa những ngờisản xuất)có sự độc lập tơng đối với nhau) có những lợi ích kinh tế riêng nêngiữa các chủ thể đó phải có sự bình đẳng và phải có sự thoả thuận ở mộtmức độ nhất định, có nghĩa là cần phải sử dụng đến hình thức hợp đồng.Hợp đồng dùng trong các quan hệ mua bán của quá trình lu thông kinh tếxã hội chủ nghĩa dựa trên sự thoả thuận giữa các tổ chức xã hội chủ nghĩavới nhau nhằm thực hiện kế hoạch hoá nhà nớc gọi là hợp đồng kinh tế Tập trung vào mục đích cao nhất là lợi ích kế hoạch nhà nớc nhng cóchú ý kết hợp giữa lợi ích nhà nớc và lợi ích tập thể là đặc điểm cơ bản quánxuyến trong toàn bộ các khâu của quá trình tiến hành công tác hợp đồngkinh tế trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung Đặc điểm này quy định bảnchất của hợp đồng kinh tế xã hội chủ nghĩa, điều này phải đợc xác định làmột t tởng chỉ đạo đối với mọi cấp, mọi ngành và mọi ngời tham gia vàoviệc thực hiện công tác này
Trang 7Ngoài đặc điểm cơ bản trên, hợp đồng kinh tế trong cơ chế tập trungbao cấp còn có một số đặc điểm khác Sự bình đẳng giữa các chủ thể là đặc
điểm chung của mọi loại hợp đồng, nhng trong điều kiện của xã hội chủnghĩa nó mang một nội dung mới, sự bình đẳng này có tinh thần là bình
đẳng giữa những ngời tuy có nhiệm vụ cụ thể khác nhau nhng chung mộtmục đích cuối cùng phải bình đẳng trong sự hợp tác, tơng trợ lẫn nhau Cácchủ thể của quan hệ hợp đồng kinh tế xã hội chủ nghĩa chỉ có thể là tổ chứcchứ không thể là một cá nhân với ý nghĩa là một cá thể, điều đó xuất phát từcơ sở là chế độ công hữu về t liệu sản xuất, những ngời sản xuất, những ng-
ời tham gia vào lu thông, phân phối là những ngời chủ t liệu sản xuất hay
đ-ợc giao quyền quản lý tài sản phải là một tổ chức có t cách pháp nhân Các
tổ chức xã hội chủ có thể có sự khác nhau về trình độ, hình thức sởhữu)quốc doanh, hợp tác xã, công ty hợp doanh…sử dụng quyền lực) có nhiệm vụ sản xuấtkinh doanh khác nhau và lợi ích riêng của họ cũng không giống nhau Nhngcác tổ chức đó gặp nhau và xác lập quan hệ hợp đồng kinh tế với nhau trêncơ sở vì lợi ích chung của nhà nớc, vì thế chúng đều đợc pháp luật nhà nớcbảo vệ và duy trì sự bình đẳng, sự bình đẳng này vừa là điều kiện đảm bảocho sự cân đối giữa các nghĩa vụ của các bên vừa là sự thể hiện tính cân đốigiữa các hoạt động củak ế hoạch hoá nhà nớc, vừa là điều kiện đảm bảo củamỗi đơn vị
Cũng vì những đặc điểm trên trong các hợp đồng kinh tế trong cơ chếtập trung bao cấp, nếu có các tranh chấp hoặc vi phạm của các chủ thể thìviệc xử lý thuộc thẩm quyền của các cơ quan quản lý kinh tế, nhng trớc hết
do tự các bên thơng lợng với nhau Thủ tục truy cứu cũng nh các hình thứctrách nhiệm do các cơ quan quản lý nhà nớc áp dụng khi giải quyết các viphạm chủ yếu nhằm vào lợi ích kinh tế của các tổ chức đã vi phạm và cólỗi
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Trang 8Tính chất bắt buộc của hợp đồng kinh tế cũng là một đặc điểm nổibật của hợp đồng kinh tế trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, tính bắt buộcnày xuất phát từ chỗ hợp đồng kinh tế là công cụ thực hiện kế hoạch nhà n-
ớc mà kế hoạch nhà nớc lại có tính pháp lệnh Hợp đồng kinh tế tham giavào tất cả các khâu kế hoạch hoá, những cam kết sơ bộ)gọi là hợp đồngkinh tế sơ bộ) là những căn cứ thực tế để xác định các chỉ tiêu khi đơn vịxây dựng kế hoạch chỉ có thể dựa trên các khả năng thực tế về mua bán vật
t, thiết bị, cung ứng nhiên liệu động, lực điện, điện,…sử dụng quyền lựcvà tiêu thụ sản phẩmthì kế hoạch mới có căn cứ chắc chắn Nhất là thực tế trong thời kỳ này,một trong những phơng châm mới của công tác kế hoạch hoá là mở rộngtính đân chủ của kế hoạch, phát huy tính độc lập, tự chủ của đơn vị nên bêncạnh việc nhà nớc tập trung quản lý những mặt hàng quan trọng thì xu hớngthì xu hớng trong lu thông là thu hẹp danh mục chỉ tiêu pháp lệnh và cácchỉ tiêu mặt hàng nhà nớc quản lý, còn lại hàng triệu mặt hàng nhà nớc chophép các đơn vị cơ sở có những quyền rộng rãi và linh hoạt hơn khi lập kếhoạch lu thông Kế hoạch toàn diện của một đơn vị gồm các chỉ tiêu pháplệnh và các chỉ tiêu kế hoạch do xí nghiệp tự làm bằng nguyên liệu tự lo,chỉ có thể đợc thực hiện khi mà xây dựng nó đã có những cam kết sơ bộ vớinhững cơ quan có liên quan, những hợp đồng kinh tế sơ bộ cũng chính lànhững căn cứ vững chắc để bảo vệ kế hoạch, chính trong quá trình bàn bạc
đã ký kết những hợp đồng kinh tế sơ bộ, đơn vị cơ sở có thể nhận thấy trớcnhững khó khăn, thuận lợi của quá trình thực hiện sau này và cũng qua đóphát hiện những mặt mất cân đối của kế hoạch, từ đó có những phơng ánbảo vệ, nếu cần có thể điều chỉnh kế hoạch
Ngoài những đặc điểm chung của hợp đồng kinh tế mà chúng ta đãphân tích ở trên, tuỳ vào từng điều kiện kinh tế-chính trị-xã hội khác nhau
mà hợp đồng kinh tế có những đặc điểm, bản chất và nội dung khác nhau
1.1 Bản chất, đặc điểm của hợp đồng kinh tế trong giai đoạn 1975.
Trang 9Đầu năm 1960 khi công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế sắp hoànthành thì cơ cấu kinh tế có sự thay đổi, thành phần kinh tế tập thể đã đợc
mở rộng qua phong trào hợp tác hoá trong nông nghiệp và thủ công nghiệp,kinh tế t bản t doanh đã đợc thay thế bằng hình thức t bản nhà nớc dới công
ty hợp doanh Vào thời điểm này, nhà nớc ta đã xác định bớc vào xây dựngnền kinh tế xã hội chủ nghĩa, một nền kinh tế đợc xác định chỉ còn tồn tạihai thành phần kinh tế chủ yếu đó là quốc doanh và tập thể, đợc tập trungvào kế hoạch hoá cao độ dới sự quản lý của nhà nớc Do đó, điều lệ tạmthời về hợp đồng kinh tế số 735/ttg ngày 10/04/1956 đợc coi là không thíchhợp nữa Trong điều kiện đó, nhà nớc đã ban hành điều lệ tạm thời về chế
độ hợp đồng kinh tế theo nghị định số 04/ttg ngày 04/01/1960 của Thủ tớngchính phủ, đây là một mốc quan trọng trong quá trình phát triển của phápluật kinh tế ở nớc ta
Về khái niệm hợp đồng kinh tế, bản điều lệ này đã đa ra một kháiniệm chung:”hợp đồng kinh tế nói trong điều lệ này là hợp đồng về sảnxuất, về cung cấp và tiêu thụ hàng hoá, về vận tải, xây dựng, baothầu…sử dụng quyền lực”(điều 1) Về nguyên tắc ký kết điều 2 đã quy định:”ký kết hợp đồngkinh tế là một kỷ luật bắt buộc trong quan hệ kinh tế giữa các xí nghiệpquốc doanh, các cơ quan nhà nớc” Cơ sở ký kết hợp đồng kinh tế là chỉ tiêu
kế hoạch nhà nớc, các xí nghiệp quốc doanh, cơ quan nhà nớc chỉ đợc kýkết hợp đồng trong phạm vi chỉ tiêu kế hoạch nhà nớc
Hợp đồng kinh tế chỉ đợc điều chỉnh hay huỷ bỏ khi đợc nhà nớc điềuchỉnh hay huỷ bỏ các chỉ tiêu pháp lệnh nhà nớc, ngoài ra trong quá trìnhthực hiện hợp đồng, nếu gặp phải những trở ngại khách quan không tthểkhắc phục đợc, hai bên ký kết hợp đồng có thể điều chỉnh hợp đồng trongphạm vi không đợc ảnh hởng đến việc thực hiện kế hoạch nhà nớc và đợchội đồng trọng tài đồng ý(điều 4)
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Trang 10Nghiên cứu bản điều lệ này ta thấy, bản thân hợp đồng kinh tế trởthành công cụ để thực hiện kế hoạch nhà nớc của các xí nghiệp, cơ quancho nên việc ký kết hợp đồng trở thành một nghĩa vụ, một kỷ luật bắt buộc,hợp đồng dần dần mất đi giá trị đích thực của nó Chủ thể hợp đồng kinh tế
bị hạn chế chỉ trong phạm vi các tổ chức kinh tế quốc doanh và các cơ quannhà nớc, rõ ràng hợp đồng kinh tế lúc này là một biện pháp để hình thứchoá quan hệ kế hoạch Do quan niệm và cơ chế quản lý lúc đó chủ yếu theoquan hệ dọc chỉ huy từ trên xuống dới, báo cáo từ dới lên, hơn nữa nhà nớc
ta đang muốn thu hẹp, trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độ, hợp
đồng kinh tế dù đợc ký kết thể hiện sự phối hợp, hợp đồng giữa các bên
nh-ng lợi ích giữa các bên ít đợc quan tâm Việc thực hiện đúnh-ng hợp đồnh-ng đợccoi là nghĩa vụ của hai bên đã ký đối nhà nớc, đồng thời là trách nhiệm giã
đôi bên Chính do cơ chế kế hoạch hoá nên các đơn vị sản xuất kinh doanhtheo kế hoạch nhà nớc, lãi nộp ngân sách, lỗ xin trên, do vậy việc xử lý viphạm hợp đồng và đặc biệt các biện pháp đảm bảo thi hành hợp đồng không
đợc điều lệ này đề cập đến
1.2 Bản chất - đặc điển của hợp đồng kinh tế trong giai đoạn 1975-1986
Qua 15 năm thực hiện chế độ hợp đồng kinh tế theo điều lệ tạm thời
về chế độ hợp đồng kinh tế dần đi vào nền nếp đã góp phần thúc đẩy việchoàn thành kế hoạch nhà nớc, cải tiến một bớc kế hoạch hoá Nhng do cơcấu của nền kinh tế tiếp tục có những biến đổi và nhằm đáp ứng yêu cầumới của quản lý kinh tế, thực hiện nghị quyết trung ơng lần thứ 20)khoá III
đề ra là:"Xoá bỏ lối hành chính cung cấp, thực hiện quản lý theo phơngthức kinh doanh xã hội chủ nghĩa", ngày 10-3-1975, Hội đồng chính phủ đãban hành điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế Bản điều lệ này đã đa ra kháiniệm:"hợp đồng kinh tế là công cụ pháp lý của nhà nớc trong việc xây dựng
và phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Nó góp phần quan trọng trongviệc kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân, củng cố chế độ hạch toán kinh tế
Nó làm cho lợi ích của các đơn vị kinh tế cơ sở khớp với lợi ích chung củanền kinh tế quốc dân, gắn liền công tác quản lý của nhà nớc với sự tự chịutrách nhiệm của các tổ chức kinh tế cơ sở Nó xác lập và thắt chặt mối quan
hệ hợp tác xã hội chủ nghĩa giữa các bên có liên quan đến việc ký kết hợp
đồng kinh tế và thực hiện hợp đồng kinh tế đã ký kết, quy định rõ nghĩa vụ
và trách nhiệm của từng bên đối với nhau, bảo vệ quyền lợi hợp pháp củacác bên ký kết chuẩn bị kế hoạch, xây dựng kế hoạch một cách vững chắc,thực hiện thắng lợi kế hoạch nhà nớc với hiệu quả cao nhất“(điều1)
Trang 11Vẫn với quan điểm hớng nền kinh tế theo một kế hoạch thống nhất vàcoi hợp đồng kinh tế là công cụ để thực hiện kế hoạch nên bản điều lệ này
đã đề ra nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế tại điều 2:"Ký kết hợp đồngkinh tế là một kỷ luật nhà nớc" Nhà nớc bắt buộc mọi tổ chức kinh tế phải
ký hợp đồng kinh tế trong mọi hoạt động kinh tế có liên quan với nhau.Tính bắt buộc đó là do tính pháp lệnh của nhà nớc quy định
Nghiên cứu bản điều lệ hợp đồng ban hành kèm theo Nghị định số 54/
CP ngày 10-3-1975 có thể đa ra những nhận xét khái quát nh sau: Các tổchức phải ký kết hợp đồng kinh tế khi có chỉ tiêu pháp lệnh; chỉ tiêu pháplệnh là cơ sở để ký kết hợp đồng kinh tế, hợp đồng không đợc thay đổi, huỷ
bỏ theo ý chí của các bên, nó chỉ đợc thay đổi, huỷ bỏ khi chỉ tiêu bị thay
đổi, huỷ bỏ Cũng vì mang nặng tính tập trung hành chính nên bản điều lệnày đã không đề cập dến biện pháp bảo đảm của hợp đồng Dù sao đâycũng là một khiếm khuyết của chế định này Tính hành chính còn thể hiệntrong quy định về cơ quan giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế có cả cơquan quản lý cấp trên Về mặt kỹ thuật lập pháp, chế định hợp đồng kinh tế
đợc thể hiện khá rõ, khá chính xác bằng các quy đinh về nội dung hợp
đồng, thủ tục ký kết và trách nhiệm thực hiện hợp đồng kinh tế
2 Chủ thể hợp đồng kinh tế:
Trong điều kiện của thời kỳ quá độ, tại nớc nào cũng vậy, nền kinh tế
có nhiều thành phần nên các quan hệ kinh tế rất phức tạp, đa dạng ở nớc tatrong giai đoạn này có 6 thành phần kinh tế và tất cả đều tham gia vào quátrình trao đổi Trong đó chủ yếu là các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa.Những xí nghiệp quốc doanh, các hợp tác xã và các cơ quan nhà nớc, các
đơn vị quân đội và một số tổ chức xã hội là chủ thể chính, thờng thấy trongquan hệ hợp đồng kinh tế
Trong quá trình cải tạo công thơng nghiệp t bản, t doanh, hai thànhphần, công ty hợp doanh và t bản t doanh đợc phép kinh doanh taị MiềnNam cũng là những ngời tham gia vào quá trình lu thông xã hội chủ nghĩa
và cũng có mục đích phục vụ kế hoạch nhà nớc Nh vậy, có thể coi cả 4thành phần kinh tế trên đều là những chủ thể của quan hệ hợp đồng kinh tế.Tuy nhiên, xoay quanh vấn đề này còn nhiều ý kiến cha thống nhất,những tổ chức và cơ sở kinh tế nh thế nào mới đợc tham gia vào quan hệhợp đồng kinh tế ? Trong thực tế hiện nay có những tổ chức, cơ sở quốcdoanh hay tập thể ký những bản hợp đồng với t nhân, ngời sản xuất cá thể,cũng có ý kiến cho đây cũng là những hợp đồng kinh tế, nhng trong đóhàng loạt các vấn đề khác nh: trách nhiệm khi vi phạm, vấn đề giám sát,kiểm tra, thực hiện hợp đồng lại không thể áp dụng nhng quy định nh đốivới giữa các tổ chức với nhau
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368