1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách kinh tế mới và công cuộc đổi mới ở Việt Nam

23 657 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách kinh tế mới và công cuộc đổi mới ở Việt Nam
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2001
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 90,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tài liệu tham khảo Chính sách kinh tế mới và công cuộc đổi mới ở Việt Nam

Trang 1

Lời nói đầu

Di sản lý luận mà V.I Lê nin để lại cho nhân loại là vô cùng phong phú và đadạng Một trong những di sản quý báu đó là "chính sách kinh tế mới" (Novajaekonomicheskaja politika, gọi tắt là NEP) NEP chứa đựng trong đó sự tổng hợpcác giải pháp kinh tế - xã hội - chính trị mang tính quy luật của thời kỳ quá độ lênCNXH NEP không chỉ là con đờng xây dựng CNXH ở nớc Nga mà tầm vóc lịch

sử của nó đã vợt ra khỏi phạm vi nớc Nga và mang tính phổ biến trên thế giới.Những năm gần đây, trên thế giới có nhiều biến động dữ dội, nhất là từ sự đổ

vỡ chế độ CNXH ở Liên Xô và các nớc Đông Âu Việt Nam sau hơn một thập kỷkhủng hoảng kinh tế - xã hội, từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của ĐảngCộng sản Việt Nam (năm 1986), đã quyết định đổi mới toàn diện đất nớc Tinhthần đổi mới của Đại hội VI đã đồng nghĩa với sự giải phóng tiềm năng của conngời Việt Nam Quá trình đổi mới ở Việt Nam là quá trình định hớng đi lênXHCN Thực chất của quá trình định hớng XHCN là giữ vững độc lập dân tộc,thực hiện dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh, con ngời hạnh phúc.Quá trình đổi mới càng diễn ra trên quy mô rộng và càng đi vào chiều sâu,thì chúng ta càng nhận ra rằng , trên nhiều vấn đề cơ bản chúng ta dờng nh đangtrở lại với NEP (tất nhiên không phải trở lại nguyên xi nh cũ, áp dụng một cáchmáy móc những điều mà nớc Nga đã làm trớc đây vào Việt Nam ngày hôm nay).Vấn đề đặt ra là phải nhận thức lại một cách đầy đủ hơn về NEP, từ đó tìm ranhững tiềm ẩn, những sức mạnh, những bài học cho công cuộc đổi mới ở ViệtNam Chính vì vậy, việc nghiên cứu NEP trong tình hình hiện nay là đề tài vừa có

ý nghĩa lý luận, vừa đáp ứng đợc những đòi hỏi đang đặt ra từ thực tiễn cuộc sống.Xuất phát từ vị trí quan trọng của NEP, có ý nghĩa quan trọng đối với các n-

ớc đang phát triển và chậm phát triển trên con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội, từ khi

ra đời đến nay, NEP đã đợc giới khoa học ở các nớc, nhất là các nhà khoa học ởLiên Xô cũ quan tâm nghiên cứu

ở nớc ta trớc đây cũng có một số nhà khoa học nghiên cứu về NEP, đặc biệttrong thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay) việc nghiên cứu NEP đợc quan tâmnhiều hơn Nét nổi bật của các công trình nghiên cứu là đã đề cập tới nhiều nộidung của NEP dới nhiều góc độ của lịch sử, chủ nghĩa cộng sản khoa học, nhất làdới góc độ kinh tế chính trị

Với các lý do nêu trên bài chuyên đề “Chính sách kinh tế mới và công cuộc đổi mới ở Việt nam“ này muốn làm sáng tỏ về hoàn cảnh lịch sử ra đời của

Trang 2

NEP và một số vấn đề của NEP trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam Qua đó rút

ra những bài học kinh nghiệm đối với công cuộc đổi mới ở nớc ta hiện nay

Tháng 09 năm 2001

o0o

Trang 3

-Chơng I Chính sách kinh tế mới là bớc phát triển tất yếu của

công cuộc xây dựng nớc nga

I Hoàn cảnh lịch sử ra đời của NEP

1 Các điều kiện khách quan:

Trong lịch sử của nớc Nga Xô viết từ năm 1921 - 1927, NEP đợc xuất hiện

nh một hiện tợng lịch sử - tự nhiên, trong đó đợc chứa đựng sự thống nhất biệnchứng của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan

Trớc hết, chúng ta thấy NEP xuất hiện là do hậu quả của các cuộc chiếntranh Vừa ra đời, còn non trẻ nhng nớc Nga Xô viết đã phải đối đầu với hai cuộcchiến tranh liên tiếp: Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) và cuộcnội chiến ở nớc Nga kéo dài 4 năm (1917-1921)

Mặc dù là chiến tranh vệ quốc, song những cuộc chiến tranh đó đã gây racho nớc Nga Xô viết non trẻ những sự tàn phá nặng nề cả về vật chất lẫn tinh thần

a- Về kinh tế:

Các cuộc chiến tranh đã tàn phá một cách ghê gớm nền kinh tế quốc dân,

ảnh hởng đến đời sống vật chất của nhân dân nớc Nga Cuối năm 1920, đất nớcXô - viết chuyển sang giai đoạn hoà bình xây dựng từ những điều kiện cực kỳ khókhăn gian khổ với sự thiệt hại cha từng có về kinh tế do chiến tranh gây ra Hậuquả nặng nề của 7 năm chiến tranh đế quốc và nội chiến đã làm cho tình hình kinh

tế xã hội của nớc Nga Xô viết trở nên nóng bỏng biểu hiện rõ nét ở nhiều mặt sau:

mất đi, trong đó nền công nghiệp bị tổn thất lớn nhất, tổng sản lợng công nghiệp(tính triệu rúp) năm 1920 bị giảm đi hơn 4 lần so với năm 1917 Lực lợng sản xuấtgiảm sút, một biểu hiện đáng lo ngại là có quá nửa số công nhân trong các ngànhcông nghiệp thiếu việc làm, không phấn khởi sản xuất và đã bỏ nhà máy, hầm mỏ,

xí nghiệp của mình đi về nông thôn

* Về nông nghiệp: Sự biến động của nền kinh tế nớc Nga đã ảnh hởng trực

tiếp đến nền sản xuất công nghiệp: diện tích gieo trồng, sản lợng ngũ cốc, sảnphẩm chăn nuôi đều bị giảm mạnh dẫn đến hậu quả tổng sản lợng nông nghiệpnăm 1921 chỉ còn lại 60% so với năm 1913 Bình quân lơng thực trên đầu ngời tr-

ớc chiến tranh thế giới là 405 kg/ngời thì đến năm 1920 giảm xuống chỉ còn lại

246 kg/ngời

Trang 4

* Về giao thông vận tải: Do chiến tranh, hệ thống giao thông của nớc Nga bị

tàn phá hết sức nghiêm trọng: 61% số đầu máy và 28% số toa xe của tàu hoả bịtàn phá h hỏng, 4000 chiếc cầu, nhà ga, kho tàng bị phá huỷ Năm 1920, khối lợngvận chuyển chỉ còn 20%

* Về tài chính - tín dụng: Nớc Nga - Xô viết bị lâm vào tình trạng rối loạn,

ngân sách bội chi quá lớn (năm 1918 bội chi 31 tỷ rúp, nhng đến năm 1920 con sốbội chi lên tới 21.937 tỷ rúp)

b- Về chính trị - xã hội:

Sự sút kém về mặt kinh tế đã dẫn đến tình trạng đời sống của nhân dân lao

động nớc Nga ngày càng trở nên khó khăn hơn

* Trong thời kỳ nội chiến nớc Nga phải thực hiện CSCSTC, tất nhiên đã gây

ra những thiệt hại về lợi ích của giai cấp công nhân và nông dân Mặc dù nh vậy,nhng những sự thiếu thốn, khó khăn về vật chất cũng cha gây nên sự mỏi mệt vềtinh thần, bởi vì quần chúng lao động sẵn sàng lao động quên mình để góp phầnvào việc tiêu diệt bọn phản cách mạng và giữ vững chính quyền của nhân dân, bảo

vệ những thành quả cách mạng tháng Mời vĩ đại

* Bên cạnh những hậu quả do chiến tranh gây ra, bản thân nớc Nga khi lênchủ nghĩa xã hội với một nền kinh tế tơng đối lạc hậu: là sự quyện chặt giữa t bản

độc quyền hiện đại với những tàn tích phong kiến Biểu hiện của quan hệ tiền tbản chủ nghĩa chính là nền nông nghiệp chiếm vị trí chủ yếu trong nền kinh tếquốc dân ở nớc Nga lúc này, nông dân chiếm 82,4% dân số, sản phẩm nôngnghiệp chiếm 51,4% tổng thu nhập quốc dân

2 Điều kiện chủ quan

Bên cạnh các điều kiện và nguyên nhân khách quan, về mặt chủ quan, thìthời gian này ngay cả V.I Lênin trong nhận thức về CNXH cũng đã vấp phảinhững sai lầm: do đã không nhận thức rõ các quy luật khách quan, nên việc xác

định các chủ trơng chính sách có phần không phù hợp, nóng vội và đốt cháy giai

đoạn Cụ thể, trong những năm tháng sau cách mạng tháng Mời do hoàn cảnhkhách quan mà nớc Nga phải áp dụng CSCSTC đã hình thành quan niệm về khảnăng quá độ trực tiếp đi lên CNXH Từ quan niệm này đã xuất hiện hàng loạt chủtrơng, biện pháp không thích hợp nh: quốc hữu hoá ngay tất cả các xí nghiệp, xoá

bỏ thơng nghiệp t nhân, cấm buôn bán, thực hiện ngay việc sản xuất và phân phốitheo kiểu cộng sản chủ nghĩa… dẫn đến cuộc khủng hoản kinh tế - xã hội Cuộc

Trang 5

khủng hoảng này đã đặt vận mệnh của nớc Nga Xô - viết non trẻ vào tình trạng

"nghìn cân treo đầu sợi tóc"

Chúng ta có thể nhận thấy rằng: Những điều kiện khách quan kết hợp vớinhân tố chủ quan chính là tiền đề trực tiếp dẫn đến sự ra đời của NEP NEP chính

là phản ánh tiến trình phát triển hợp qui luật của đời sống xã hội

II- Sự ra đời của chính sách kinh tế mới.

NEP là một khái niệm không có nghĩa nh một vài chính sách kinh tế cụ thể,

ở đây nó mang ý nghĩa bao trùm Đó chính là đờng lối xây dựng chủ nghĩa xã hội

ở một số nớc kinh tế còn lạc hậu nh nớc Nga

Khi dùng khái niệm NEP, V.I Lênin còn có ý định để phân biệt NEP vớiCSCSTC ở đây ngời muốn nhấn mạnh yếu tố kinh tế trong quan hệ với các yếu tốkhác

NEP vừa là giải pháp trớc mắt để chống khủng hoảng đồng thời là một nộidung mới có tính chiến lợc lâu dài Từ các biện pháp mang tính mang tính chấttrực tiếp đi lên CNXH ở trong CSCSTC đã đợc thay bằng các biện pháp gián tiếpthông qua những hình thức kinh tế quá độ, từ việc xoá bỏ thơng nghiệp chuyểnsang khôi phục thơng nghiệp và thực hiện trao đổi hàng hoá thông qua lu thông, sửdụng lại đồng tiền

Việc mở ra và đẩy mạnh sản xuất hàng hoá dới CNXH, tiến hành trao đổihàng hoá hai chiều đã có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp, côngnghiệp và nhằm cải thiện đời sống của nhân dân Việc đi lên CNXH thông qua con

đờng chủ nghĩa t bản nhà nớc và hợp tác xã là một bớc phát triển mới sáng tạo về

t duy lý luận của V.I.Lênin

Vì vậy, khi tiếp cận với các nội dung của NEP, hãy xuất phát từ cách nhìnnhận theo quan điểm hệ thống, có nghĩa là phải nhìn rõ các mối quan hệ tác động

và ảnh hởng lẫn nhau Nếu đem tách riêng từng nội dung, từng vấn đề ra thì khôngthể nhận thức đợc một cách đầy đủ về NEP, thậm chí có thể hiểu sau nội dung củanó

III nội dung và mục tiêu của chính sách kinh tế mới

1 ổn định kinh tế

Bớc vào thời kỳ hoà bình xây dựng, nhân dân nớc Nga phấn đấu để thực hiệnmục tiêu mà NEP đã nêu ra: Quyết tâm bảo vệ và xây dựng thành công CNXH ởnớc Nga Nhằm làm cho nớc Nga trở thành một nớc có nền kinh tế phát triển, nền

Trang 6

quốc phòng vững mạnh, đời sống nhân dân đợc ngày càng ấm no hạnh phúc Đó làmục tiêu lớn, bao trùm suốt thời kỳ quá độ Mục tiêu đó lại đợc thể hiện trong cácbớc đi cụ thể mà NEP đã vạch ra:

+ Thực hiện tốt chính sách thu thuế lơng thực

+Khôi phục, phát triển hàng hoá trong nông nghiệp

+Khôi phục và tổ chức lại nền sản xuất công nghiệp

đầu so với kinh tế Sau khi giai cấp công nhân giành đợc chính quyền, trọng tâmchính trị chuyển dần vào lĩnh vực kinh tế, chính trị ở ngay trong kinh tế V.I.Lênin còn nhấn mạnh:" Chính trị chủ yếu của chúng ta lúc này là xây dựng nớcnhà về mặt kinh tế để tích góp đợc nhiều lúa mì hơn, để sản xuất đợc nhiều thanhơn, để sử dụng đợc lúa mì và than đó có hợp lý hơn sao cho không còn ngời đói".3.kích thích vật chất và tinh thần

Nếu trong CSCSTC lợi ích của ngời lao động, trớc hết là lợi ích vật chất, cha

đợc quan tâm một cách thích đáng Chủ nghĩa bình quân đã không kích thích đợctính năng động của ngời lao động, cha khai thác hết tiềm năng của các lực lợngsản xuất Để khắc phục tình trạng này, trong NEP, V.I Lênin đã nêu bật vai tròcủa các loại lợi ích, lợi ích vật chất, lợi ích cá nhân có vai trò hết sức quan trọng.Chúng là động lực thúc đẩy con ngời hoạt động:

1 Lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy con ngời hoạt động ở mọi quy mô mọicấp độ của xã hội

Trang 7

2 Các quan hệ kinh tế biểu hiện tập trung thành quan hệ lợi ích kinh tế đợcphản ánh thành nội dung chi phối đời sống chính trị, t tởng của xã hội.

3 Lợi ích kinh tế là cơ sở, là nền tảng cho việc hình thành và giải quyết cáclợi ích khác nhau của con ngời Tuy nhiên, không đợc tuyệt đối hoá lợi ích kinh tế(vật chất), biến nó thành cái duy nhất Mặt khác, nếu không thấy lợi ích kinh tế,hoặc hạ thấp vai trò của nó, sẽ phủ nhận nguyên tắc khuyến khích vật chất, triệttiêu động lực của con ngời, triệt tiêu động lực phát triển xã hội

Dới chế độ xã hội mới, không chỉ có các lợi ích kinh tế đóng vai trò động lực

mà các nhân tố kích thích tinh thần trong lao động cũng có một ý nghĩa quan trọng

4 Kích thích vật chất và tinh thần điều quan trọng là quan tâm và chú ý thoả

đáng đến lợi ích cá nhân ngời lao động Nếu không thực hiện tối loị ích cá nhânngời lao động thì sẽ khó mà thực hiện các lợi ích khác Lợi ích cá nhân ngời lao

động trở thành lợi ích trực tiếp và xuất phát để thực hiện các lợi ích khác trong sựnghiệp phát triển kinh tế - xã hội

-

o0o -Ch ơng II

chính sách kinh tế mới đối với công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam.

I Đặc điểm của hai dân tộc khi vận dụng nep

Thắng lợi của công cuộc đối mới trên đất nớc ta mới chỉ là bớc đầu Trớc mắtcũng nh lâu dài, để thực hiện công cuộc đổi mới thắng lợi hoàn toàn, Đảng ta,nhân dân ta còn phải trải qua nhiều gian khổ, gay go và quyết liệt Nớc Nga - XôViết và Việt Nam vốn là hai dân tộc: cách xa về địa lý, dân số, phong tục tậpquán, truyển thống văn hoá.v.v Nhng trong lịch sử đấu tranh cách mạng giảiphóng dân tộc, đặc biệt trong công cuộc kiến thiết xây dựng đất nớc - xây dựngchủ nghĩa xã hội, dới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, cả hai dân tộc, lại cónhững điểm tơng đồng và khác biệt

1 Những điểm t ơng đồng

1 Bớc vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cả nớc Việt Nam và nớc Nga

đều mới thoát ra khỏi cuộc chiến tranh kéo dài với sự tàn phá hết sức nặng nề

2 Cả hai nớc bớc vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đều nằm trong tìnhhình kinh tế cha phát triển ở nớc Nga, theo V.I Lênin, chủ nghĩa t bản mới phát

Trang 8

triển ở mức trung bình Còn ở Việt Nam, chủ nghĩa t bản chỉ mới có mầm mống:một số nhà t bản dân tộc vốn liếng cha đáng kể, còn một cơ sở sản xuất nhỏ dobọn t bản nớc ngoài để lại nằm trong tình trạng thiếu thốn, què quặt.

3 Tuy có khác nhau về mức độ, nhng trong thời kỳ quá độ lên CNXH, ở nớcNga - Xô Viết (năm 1921) cũng nh khi bớc vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam(năm 1986), đời sống nhân dân đều gặp rất nhiều khó khăn, tình hình xã hội thiếu

sự ổn định, nhiều hiện tợng tiêu cực nảy sinh

4 ở nớc Nga bớc vào thời kỳ quá độ lên CNXH và ở Việt Nam bắt đầu côngcuộc đổi mới đất nớc theo định hớng XHCN Mặc dù ở hai thời điểm lịch sử khácnhau, thời gian cách xa nhau hơn sáu thập kỷ, nhng trong nhận thức, lý luận cung

nh trong chỉ đạo thực tiễn của những ngời cộng sản cả hai nớc đều có những điểmsai lầm chủ quan

2 Những nét khác biệt:

Trên cơ sở phân tích những nét khác biệt để làm sáng tỏ sự sáng tạo của

Đảng ta trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và NEP nói riêng

Do có sự khác biệt, nên việc vận dụng bao giờ cũng phải sáng tạo, không thể vậndụng nguyên xi, máy móc, cứng nhắc, rập khuôn

a Các đặc điểm bên trong mỗi n ớc:

Mặc dù, nớc Nga, nh Lênin đã nhận xét khi bớc vào thời kỳ quá độ lênCNXH, tuy chủ nghĩa t bản đã phát triển ở mức trung bình, là một nớc mà sự pháttriển kinh tế kém nhất Châu Âu, song so với Việt Nam, điểm xuất phát đi lênCNXH của nớc Nga vẫn cao hơn nhiều

Mặt khác, muốn đạt đến một nền sản xuất lớn, hiện đại ở trình độ cơ khí hoá,hoá học hoá, tự động hoá, một nền khoa học kỹ thuật tiên tiến, v.v trớc hết phải cómột đội ngũ chuyên gia giỏi về chuyên môn, giỏi về quản lý mới đủ sức để vậnhành nền sản xuất đa lại năng suất lao động cao Nhng ở nớc Nga trớc đây, khi b-

ớc vào thời kỳ quá độ lên CNXH, đội ngũ chuyên gia này thiếu nghiêm trọng

Tr-ớc tình hình đó, Lênin đã phải dùng biện pháp thuê chuyên gia các nTr-ớc t bản vớimức lơng rất cao Song, làm việc cũng rất khó khăn, vì nằm trong sự bao vây củacác nớc t bản Điều quan trọng trên đây lại đợc khẳng định trong lời nói của Ngời:Sẵn sàng đổi một tá những ngời cộng sản tồi để lấy một chuyên gia t sản giỏi.Còn ở nớc ta bớc vào giai đoạn đổi mới đất nớc, chúng ta đã có thuận lợi hơnnhiều so với nớc Nga trớc đây Mặc dù, trong cuộc chiến tranh kéo dài, nhng Đảng

ta cũng đã dự đoán trớc ngày thắng lợi, do đó có sự chuẩn bị trớc đội ngũ cán bộ

Trang 9

để sau này xây dựng đất nớc Vì vậy đến nay, nớc ta đã có một đội ngũ cán bộ kỹthuật, cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật lành nghề khá đông đảo.

b Thế giới và thời đại:

Ngoài những nét khác biệt có tính chất bên trong của mỗi nớc, chúng ta cònthấy có những nét khác biệt về tình hình thế giới cũng nh sự phát triển chung củamỗi thời đại (bên ngoài) Đây cũng là một trong những nhân tố ảnh hởng khôngnhỏ đên việc xây dựng đất nớc của mỗi quốc gia, dân tộc

Nớc Nga- Xô Viết xây dựng CNXH trong một thời điểm mà cả thế giới cha

ai làm Chủ nghĩa đế quốc lại có âm mu cấu kết cấu với bọn phản động trong nớchòng bóp chết ngay từ đầu CNXH còn non trẻ Chẳng những chúng muốn tiêu diệtcách mạng nớc Nga mà còn ngăn chặn sự phát triển của CNXH trên toàn thế giới

Đối với Việt Nam hiện nay, mặc dù hệ thống XHCN trên thế giới đã bớc vàomột giai đoạn biến đổi sâu sắc (sự sụp đổ của CNXH ở các nớc Đông Âu, đặc biệt

là Liên Xô) Về một phơng diện nào đó, chúng ta không tránh khỏi sự xao xuyến,nếu nh không muốn nói là dao động trong nhận thức, trong t tởng, trong niềm tin

về CNXH Không chỉ ở trong một bộ phận của nhân dân, mà ngay cả không itnhững ngời cộng sản Thế nhng, so với nớc Nga - Xô Viết trớc đây, dẫu sao nhữngthành tựu của CNXH vẫn còn in đậm trong nhân dân, trong những ngời cộng sảnchân chính

ii Sự vận dụng chính sách kinh tế mới ở Việt Nam.

Sự vận dụng NEP vào công cuộc đổi mới của nớc ta đợc thể hiện trên nhữngvấn đề cơ bản sau đây:

Quá trình đổi mới ở Việt Nam là quá trình định hớng XHCN Thực chất củaquá trình định hớng XHCN là giữ vững độc lập dân tộc, thực hiện dân giàu nớcmạnh, xã hội công bằng, văn minh, con ngời hạnh phúc

Có một điều lý thú là khi sự nghiệp đối mới càng phát triển, thì chúng tacàng nhận ra rằng, trên nhiều vấn đề cơ bản, chúng ta dờng nh đang trở lại vớiNEP của Lênin

NEP đã có tác dụng chuyển nền kinh tế theo hớng phát triển kinh tế nhiềuthành phần, phát triển quan hệ hàng hoá - tiền tệ, đặc biệt là quan hệ trao đổi hànghoá giữa công nghiệp và nông nghiệp Thực hiện chế độ hạch toán kinh tế, dùng

động lực kinh tế, lợi ích kinh tế , lợi ích ngời lao động là chủ yếu để phát triểnkinh tế Xây dựng các hình thức quản lý kinh tế mềm dẻo hơn, phát huy tính năng

động sáng tạo của cơ sở với việc tiến hành kế hoạch hoá thống nhất nền kinh tế

Trang 10

Xây dựng một hệ thống tài chính, tín dụng và tiền tệ ổn định Tiến hành đồng bộcác biện pháp, các đòn bẩy nhằm mục tiêu phát triển kinh tế Xây dựng đội ngũcủa cán bộ lãnh đạo kinh tế kiểu mới: biết phân tích kinh tế, thực hiện mục tiêu vàhạch toán kinh tế Từ phát triển kinh tế, tiến hành giải quyết các vấn đề khác củaxã hội theo hớng chủ nghĩa xã hội.

Thực chất những giá trị phổ biến của NEP đối với công cuộc đổi mới ở ViệtNam có thể nêu lên ở một số điểm nh sau:

Một là, phải thực hiện đổi mới toàn diện đất nớc, nhng phải lấy phát triển

kinh tế làm trung tâm

Hai là, phải phát triển kinh tế hàng hoá, phát triển kinh tế nhiều thành phần.

Ba là, phải chú ý tới tính biện chứng của nhiệt tình cách mạng và lợi ích vật

chất

Bốn là, phải đổi mới phơng pháp lãnh đạo - quản lý kinh tế - xã hội.

Ngày nay, Việt Nam đang đổi mới, chúng ta không sao chụp và bê nguyênNEP vào cuộc đời đã phát triển hôm nay, nhng chúng ta đang tìm thấy ở NEPnhững tiềm ẩn, những sức mạnh để khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng của đất n-

ớc, mọi tiềm năng của con ngời Việt Nam trong quá trình định hớng XHCN Thựchiện dân giàu nớc mạnh, xã hội văn minh, con ngời hạnh phúc Tăng trởng kinh tế,cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, phát huy quyền làm chủcủa dân, củng cố quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại và không ngừngnâng cao uy tín và vị trí của nớc ta trên trờng quốc tế, v.v

o0o

-Chơng III

Một số vấn đề đặt ra khi vận dụng NEP trong công cuộc

đổi mới ở Việt Nam

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra

đờng lối đổi mới, mở ra bớc ngoặt quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩaxã hội ở nớc ta Công cuộc đổi mới đó là một cuộc cách mạng, mỗi bớc đi của nó

là một sự tìm kiếm và khám phá mới mẻ Lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng HồChí Minh làm cơ sở lý luận nền tảng cho sự tìm kiếm và khám phá mới mẻ này,

Trang 11

trong công cuộc đổi mới đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa, NEP và những

t tởng cơ bản của V.I.Lênin về NEP đã đợc chúng ta nhìn nhận lại và vận dụngmột cách sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của nớc ta

I NEP với t cách là cơ sở lý luận về con đờng quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội.

Khi đề cập đến vấn đề này, trớc hết chúng ta cần khẳng định rằng với NEP,V.I.Lênin đã đem lại cho chúng ta t tởng về con đờng quá độ đặc biệt - quá độgián tiếp lên chủ nghĩa xã hội, từ nền kinh tế tiểu nông, sản xuất hàng hoá nhỏ Ttởng của V.I.Lênin về con đờng quá độ đặc biệt lên chủ nghĩa xã hội đó đã trởthành cơ sở lý luận xuất phát và phơng pháp luận của đờng lối cách mạng xã hộichủ nghĩa ở những nớc lạc hậu, trong đó có Việt Nam Với t tởng đó, trong bốicảnh của công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xớng tại Đại hội VI của Đảng, chúng

ta đã nhận rõ nguyên nhân của những sai lầm nôn nóng, chủ quan duy ý chí củachủ trơng "tiến nhanh, tiến thẳng" lên chủ nghĩa xã hội trong những năm trớc đổimới ở nớc ta Khi đó, với mục đích đúng đắn là nhanh chóng nâng cao hiệu quảcủa sản xuất nông nghiệp (đúng, vì quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nớc tiểunông, chúng ta không thể không đặt ra mục đích đó), song biện pháp và bớc đi lạiquá vội vàng, chúng ta đã quá vội tiến hành hợp tác hoá và xây dựng các hợp tácxã bậc cao, bất chấp quy luật phát triển khách quan của nó và cũng cha tính đếnmột cách đầy đủ hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của nớc ta, và do vậy, kết quả mang lại

đã không đợc nh ý muốn Chúng ta đã thiếu quan tâm đến những hình thức nhỏcủa sản xuất nông nghiệp và có lẽ phần nào đã không đánh giá đúng một luận

điểm quan trọng của V.I.Lênin trong NEP - luận điểm về tính không khả thi củaviệc chuyển nền sản xuất nhỏ, lạc hậu lên nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa bằngcách ban bố những sắc lệnh từ trên xuống Hậu quả của việc làm đó không chỉ ởchỗ, sản xuất nông nghiệp không phát triển, mà còn ở chỗ, niềm tin của ngời nôngdân vào con đờng làm ăn tập thể phần nào bị giảm sút do lợi ích kinh tế của họkhông đợc đáp ứng, đời sống của họ ít đợc cải thiện Trong lĩnh vực công nghiệp

và các lĩnh vực sản xuất khác, tình hình cũng diễn ra một cách tơng tự nh vậy.Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nớc ta trong những năm trớc đây và ởcác nớc xã hội chủ nghĩa khác trong hệ thống xã hội chủ nghĩa những năm quacho thấy rõ, NEP là mẫu mực về một giải pháp tình thế và đối với nớc ta, NEP còn

là đờng lối mang tính chiến lợc, là cái đem lại cho chúng ta cơ sở lý luận về con ờng quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội Và kinh nghiệm thực hiện NEP ở nớcNga đầu những năm 20 vẫn là bài học bổ ích cho chúng ta trong bối cảnh quốc tế

đ-và trong nớc hiện thời

Ngày đăng: 11/04/2013, 14:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w