Đề tài về : Thế giới trẻ thơ trong Trăng Non của R.Tagore
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ÐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN THỊ BÍCH THUÝ
Thành Phố Hồ Chí Minh- 2007
Trang 2Sau hơn bảy mươi năm lao động miệt mài, R Tagore đã để lại cho nhân loại một di sản đồ sộ các tác phẩm văn học nghệ thuật phong phú và đa dạng: 52 tập thơ, 42 vở kịch,
12 tiểu thuyết, hàng trăm truyện ngắn, hơn 2000 ca khúc( trong đó có quốc ca Ấn Độ), 63 tập tiểu luận và gần 3000 nghìn bức tranh Ông được coi là biểu tượng của văn hoá Ấn Độ
Với những thành tựu và đóng góp cho văn học dân tộc, ông đã tạo dựng nên một thời đại
Tagore bên cạnh các khái niệm thời đại Vê-đa, thời đại sử thi M Gandhi tụng xưng ông là
Gurudêva – bậc Thánh sư vĩ đại, người dẫn dắt tinh thần và hướng dẫn tâm linh Ấn Độ Năm 1913, Tagore là người Châu Á đầu tiên được giải thưởng Nobel văn chương
cho tập Thơ Dâng ( Gitanjali) Với tập thơ này, ông được xem là một phát hiện của thơ ca
thế kỉ, là “ kì công thứ hai của tạo hoá sau Kalidasa” trong văn học Ấn, “ một biểu tượng vĩ đại phối hợp trong mình hai nguồn tinh tuý Á – Au”
1.3 Ở Viêt Nam, bạn đọc biết đến Tagore khá sớm nhưng không nhiều như họ đã từng biết đến V Hugo, Balzac, W Shakespeare hay Lỗ Tấn… Tuy nhiên, từ năm 1984, sau những cố gắng tâm huyết của nhiều nhà Ấn Độ học Việt Nam mà tiêu biểu là các giáo sư Cao Huy Đỉnh, Lưu Đức Trung, văn học Ấn đã chính thức được đưa vào giảng dạy trong hệ thống các trường trung học, cao đẳng, đại học, sau đại học… Riêng ở bậc trung học cơ sở, tác
phẩm được giới thiệu giảng dạy là bài thơ Mây và sóng, trích trong tập Trăng non Đây là
tập thơ viết cho thiếu nhi , thuộc ba nội dung chính trong sáng tạo thơ ca của Tagore Để
khám phá giá trị nghệ thuật của mảng thơ này , chúng tôi đã chọn đề tài luận văn “ Thế giới
trẻ thơ trong Trăng non của R.Tagore” nhằm hai mục đích:
Thứ nhất, có được cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về con ngườ,i tài năng và tư tưởng nghệ thuật của Tagore Ông không chỉ là “nhà thơ trí tuệ muôn màu”[42, tr 217],
Trang 3“nhà thơ tình nổi tiếng”[ 45, tr 849] mà ông còn là nhà thơ của tuổi măng non, người thầy
vĩ đại của trẻ thơ Ấn Độ
Thứ hai, góp phần thiết thực hơn cho công việc nghiên cứu và giảng dạy thơ Tagore
2 Lịch sử vấn đề:
Năm 13 tuổi, với tập thơ Bông hoa rừng in trên tạp chí Bharati ( 1876), R Tagore
đã nổi tiếng trên văn đàn Ấn Độ Đến năm 1913, khi Thơ Dâng được trao giải Nobel thì
Tagore thật sự trở thành một hiện tượng văn học của Ấn Độ và nhiều nước trên thế giới
Năm 1909, Tagore xuất bản tập thơ viết cho trẻ em gồm 40 bài, có tên Sisu( trẻ thơ) Năm
1915, ông tiến hành dịch tập thơ từ tiếng Bengali sang tiếng Anh đặt tên là The Cressent
Moon ( Trăng non) Tờ The Golbe đã nhận xét tập thơ là: “a revelation more profound and
more subtle than that in the Gitanjali ( một sự khám phá sâu sắc và tinh tế, huyền ảo hơn trong Thơ Dâng)[chuyển dẫn từ 65, tr.3], còn tờ The Nation của Anh thì nhận thấy đây là
“a vision of childhood which is only paralleded in our literature by the work of William Blake” ( một trí tưởng tượng về tuổi thơ tương tự như những tác phẩm của William Blake
trong nền văn học của chúng ta) [ chuyển dẫn từ 65, tr 3] Như vậy, khi Trăng non ra đời,
nó đã mở ra một phương diện khác trong tài năng sáng tạo nghệ thuật của Tagore khiến cho những nhà nghiên cứu, những độc giả hâm mộ thơ ông chú ý một cách đặc biệt đến thi phẩm dành riêng cho trẻ thơ này Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi điểm qua một số công
trình nghiên cứu tiêu biểu về tập thơ Trăng non ở Việt Nam
2.1 Công trình nghiên cứu của những nhà nghiên cứu Tagore học ở Việt Nam:
Từ những năm 1961, giáo sư Cao Huy Đỉnh, một dịch giả có uy tín về thơ Tagore,
khi viết lời giới thiệu cho bản dịch Thơ Tagore đã nhận xét khái quát về tập thơ Trăng non:
“ đó là những bài thơ hết sức hồn nhiên trong sáng, những bức tranh mĩ lệ về tâm lí nhi đồng”[17, tr.29] Theo Cao Huy Đỉnh, chính sự trong sáng, hồn nhiên của trẻ đã giúp
Tagore biểu hiện “ những triết lí về cuộc đời” một cách sâu sắc và tinh tế Đồng thời ông
cũng nhấn mạnh đến đặc điểm nghệ thuật “ trí tưởng tượng phong phú” của Tagore “ đã khám phá một thế giới thần tiên và nghệ sĩ trong tâm hồn em bé”[ 17,tr 29]
Nhận xét của nhà nghiên cứu, dịch giả Đào Xuân Quý chú ý đến “ ngôn ngữ thích
hợp và vô cùng phong phú” mà R Tagore đã sử dụng trong Trăng non Ông đã chỉ ra sự
khác biệt độc đáo của Tagore và V Hugo trong những thi phẩm viết về trẻ thơ:
Trang 4“ Nhà thơ Ấn Độ đi vào thế giới của trẻ con với một tâm trạng hoàn toàn khác biệt Thơ về trẻ em của Tagore trong sáng, hồn nhiên và chân thực Ông tỏ ra am hiểu tâm hồn kì diệu của các em và để mô tả cái thế giới trẻ thơ này, Tagore đã dùng ngôn ngữ thích hợp vô cùng phong phú Nhưng mặt khác, nếu đọc kĩ ta sẽ thấy rằng thơ viết cho trẻ em của Tagore cũng là loại thơ có nhiều suy nghĩ và gắn liền với thực tiễn đau buồn của đất nước Ấn Độ” [42, tr 211]
Trong cảm nhận của PGS Lưu Đức Trung, Trăng non lại là những ấn tượng sâu
sắc về cách sử dụng hình ảnh và những câu chuyện kể phù hợp với các em Theo ông, chính những hình ảnh, những câu chuyện mang âm hưởng cổ tích đã bộc lộ rõ sự am hiểu tâm lí
trẻ thơ của Tagore Viết về Trăng non, ông còn nhấn mạnh đến thủ pháp đối lập, tương
phản được sử dụng trong tập thơ: “Tagore muốn đem tâm hồn trong sáng, bản chất Chân – Thiện – Mĩ đang tồn tại trong trẻ thơ đối lập với bản chất xấu xa, đê tiện đáng khinh của xã hội đồng tiền và quyền lực chi phối”[ 59, tr.158]
Tiếp nối với những nhận định của PGS Lưu Đức Trung, trong bài “ Chất trí tuệ,
điểm sáng thẩm mĩ trong thơ Tagore”, TS Nguyễn Thị Bích Thuý cũng phân chia thơ
Tagore thành ba nội dung lớn: thơ triết luận, thơ tình yêu và thơ viết cho trẻ em Với mảng
thơ trẻ em, tác giả tập trung vào tập thơ The Cressent Moon
( Trăng non) và nhận xét: “ Với Trăng non, gồm 40 bài viết về trẻ em, Tagore được coi là
V.Hugo của Ấn Độ Tình thương, tấm lòng trìu mến nâng niu của ông đối với trẻ em thấm đẫm trong từng chữ, từng câu”[ 50, tr.59] Đồng thời tác giả cũng dẫn lời của nhà thơ Ailen,
W B Yeats nói về Trăng non để khẳng định một lần nữa ý kiến của mình: “ Khi thi sĩ
nói đến trẻ thơ, đặc tính này như một phần của chính thi sĩ thì ta không rõ có phải thi sĩ nói đến thánh nhân hay không?”[50, tr.59]
TS Đỗ Thu Hà trong quyển “ Tagore, văn và đời” cũng tuân thủ cách phân chia
thơ Tagore thành 3 nội dung như trên Tác giả đã đưa ra những nhận xét khái quát nhất về
nội dung và nghệ thuật của tập Trăng non: “ Tagore đã viết những bài thơ để trả lời và lí
giải cho các em với những lời thơ dịu dàng, thơ mộng và tràn đầy tình yêu thương, trong đó, ông sử dụng một bút pháp đặc biệt Ông là người đã kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa hiện thực và huyền ảo: để thể hiện hiện thực Tagore đã dùng những huyền thoại, những viền giát xung quanh hiện thực của cuộc sống, đem lại cho nó một chiều sâu có tầm vũ trụ.”[26, tr.73]
Trang 5Như vậy, qua những nhận xét của những dịch giả và những nhà nghiên cứu về thơ Tagore ở Việt Nam, chúng ta phần nào có được cái nhìn tổng quát và toàn diện về tập thơ
Trăng non ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Các tác giả đều tập trung đề cao
tính hồn nhiên, trong sáng của thế giới trẻ thơ và chú ý nhấn mạnh đến những thủ pháp nghệ thuật cơ bản mà Tagore đã sử dụng trong cả tập thơ như một sự gợi mở, định hướng cho
những nghiên cứu chuyên sâu về tập thơ Trăng non ở bậc Đại học và sau Đại học
2.2 Các công trình nghiên cứu tập thơ Trăng non ở các trường Đại học:
Ở các trường Đại học, tập thơ Trăng non được khai thác dưới nhiều góc độ khác
nhau:
+ Luận văn thạc sĩ “ Thế giới trẻ em trong sáng tác văn chương Tagore” của
Nguyễn Phương Liên [65] đi sâu vào nghiên cứu những đặc trưng nghệ thuật đã được Tagore sử dụng trong việc xây dựng thế giới trẻ em được thể hiện trong sáng tác văn chương của Tagore ở cả 3 thể loại: thơ, văn xuôi và kịch Tác giả khẳng định: “ nhiệm vụ của chúng tôi là phân tích các tác phẩm thơ, văn, kịch của Tagore viết về trẻ em, chỉ ra những thủ pháp khác nhau mà Tagore vận dụng trong 3 phương thức sáng tác ấy để thấy được tính đa dạng trong tài năng Tagore”[65, tr.2]
+ Luận văn tốt nghiệp cử nhân “ Yếu tố huyền ảo trong tập thơ Trăng non của
R.Tagore” của Trần Kim Dung [ 11] quan tâm đến tác dụng của thủ pháp huyền ảo, làm
cho thế giới trong Trăng non lung linh, huyền diệu và giàu màu sắc hơn
+ Luận văn tốt nghiệp cử nhân “ Tagore với trẻ thơ qua tập Trăng non” của
Nguyễn Thị Ngọc Diệp [ 12] chủ yếu đi vào khai thác nội dung tư tưởng, tình cảm của Tagore dành cho trẻ nhỏ được thể hiện trong cả tập thơ
+ Luận văn tốt nghiệp cử nhân “ Nghệ thuật so sánh trong tập thơ Trăng non” của Trần Thị Hoài Phương [38] tập trung tìm hiểu nghệ thuật biểu hiện trong Trăng non qua thủ
pháp so sánh để làm bật nổi sự sáng tạo độc đáo của Tagore trong việc xây dựng một thế giới trẻ thơ hồn nhiên và kì diệu
* Nhìn chung, các công trình này chưa đặt việc nghiên cứu tập thơ Trăng non trong
một hệ thống một cách toàn diện
Cho đến nay ở bậc sau đại học( thạc sĩ và tiến sĩ) chưa có luận văn nào đi sâu vào
nghiên cứu Thế giới trẻ thơ trong Trăng non của Tagore ở cả hai phương diện : nội dung
tư tưởng và nghệ thuật biểu hiện
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Trang 6Đề tài luận văn đi sâu vào nghiên cứu nội dung tư tưởng và nghệ thuật biểu hiện
trong tập thơ Trăng non
Sử dụng nguyên bản tiếng Anh tập thơ The Cressent Moon do Tagore chuyển dịch
từ tiếng Bengali Đối chiếu với tập thơ đã được dịch sang tiếng Việt
( gồm 40 bài) của các dịch giả Cao Huy Đỉnh, Đào Xuân Quý, Lưu Đức Trung… trong tập
2, quyển R Tagore – Tuyển tập tác phẩm [ 45] Bên cạnh đó, tham khảo thêm bản dịch
Mảnh trăng non [46] của Phạm Hồng Dung, Phạm Bích Thủy
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các tác phẩm viết về trẻ thơ của Tagore in trong
các tập Thơ Dâng, Hái quả, Người thoáng hiện… và trong các sáng tác khác của ông
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thống kê – phân loại
Phương pháp này được sử dụng trong việc khảo sát văn bản, giúp thống kê phân loại một cách tỉ mỉ, cụ thể, đầy đủ các hình tượng thơ, những thi pháp đặc trưng mà nhà thơ
dùng để chuyển tải ý tưởng của mình trong Trăng non
4.2 Phương pháp phân tích
Qua việc phân tích những bài thơ tiêu biểu trong Trăng non để thấy được cái hay, cái
đẹp về nội dung tư tưởng và nghệ thuật biểu hiện trong cả tập thơ
4.3 Phương pháp đối chiếu – so sánh
Đối chiếu – so sánh cách sử dụng nghệ thuật so sánh và nhân cách hoá giữa các nhóm
đề tài trong Trăng non và giữa Trăng non với các tập thơ khác của Tagore để thấy được nét
độc đáo riêng của một tập thơ thiếu nhi
Đối chiếu – so sánh thơ thiếu nhi của R Tagore với thơ thiếu nhi của các nhà thơ khác để thấy được những sáng tạo riêng của R Tagore
5 Cấu trúc luận văn;
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: R Tagore với trẻ thơ
Chương 2: Vẻ đẹp toàn bích của thế giới tâm hồn trẻ thơ trong Trăng non
Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện thế giới trẻ thơ trong Trăng non
Cuối cùng là danh mục tư liệu tham khảo
Trang 7CHƯƠNG 1 R.TAGORE VỚI TRẺ THƠ
1.1 R Tagore – Thời thơ ấu và những ước vọng của tuổi thơ
1.1.1 Thời thơ ấu của một thiên tài
R Tagore sinh ngày 7 tháng 5 năm 1861 trong một gia đình trí thức giàu sang
tại vùng Calcutta, xứ Bengal miền Đông Ấn Độ Gia đình ông thuộc đẳng cấp quý tộc Bà la môn nổi tiếng và được mến phục vì đây là gia đình của những thiên tài, đã có nhiều cống hiến cho công cuộc cải cách xã hội ở Bengal và Ấn Độ Cha ông, Devendranath, là một lãnh
tụ của phong trào cải cách Hindu ở Ấn Độ cuối thế kỉ XIX, đồng thời là một nhà triết học nổi danh đã dốc hết sinh lực, trí tuệ và tiền của để làm việc thiện và hoạt động văn hóa xã hội
Trong gia đình, R Tagore là con trai út được yêu quý và chiều chuộng nhất Khi R Tagore chào đời, cha ông đã xem đó là phúc trời nên đặt tên cho ông là Rabindranath, có nghĩa là mặt trời với mong muốn cậu bé sẽ trở thành nhân tài mang ánh sáng trí tuệ soi rọi sự tăm tối của đất nước Ấn Độ nghèo nàn và đau khổ
Thuở nhỏ, R Tagore được sống trong thế giới của các gia nhân Trong Hồi ức
sau này, R Tagore gọi họ là “ vương quốc đầy tớ” một cách kính trọng Là một cậu bé thích
tự do, R Tagore thường lang thang bắt bướm hái hoa ngoài trời và tụ tập với bọn trẻ cùng phố chơi bi, chơi đáo Vì thế, mọi người cai quản cậu rất nghiêm ngặt Những giờ bị phạt trong nhà, cậu thường phóng tầm mắt nhìn ra ngoài cửa sổ ao ước tự do hoặc tìm đến góc nhà ngồi đọc sách Hễ cầm được cuốn sách nào là Tagore đọc nghiến ngấu suốt ngày Là cậu bé nhạy cảm, Tagore thường rơi lệ khi đọc những trang sách kể về nỗi đau khổ, chia li của người khác Ngoài những quyển truyện cổ Ấn Độ, Tagore thường tìm đọc sách nước ngoài viết cho thiếu nhi đã được dịch ra tiếng Bengali Cậu thích sách của Dickens, V Hugo
và nhất là tác phẩm Rôbinxơn Cruxô của Defoe Hình ảnh Rôbinxơn chống chọi với bão
táp, hòa nhập với thiên nhiên trên hoang đảo khiến Tagore xúc động Cậu bé lấy đó làm tấm gương cho cuộc sống tự lập của mình Cuốn sách đã kích thích trong lòng cậu ý tưởng được
ra khỏi nhà, được tự do bay nhảy Vào khoảng thời gian ở Cancutta xảy ra nạn dịch hạch, gia đình Tagore phải qua lánh nạn bên kia bờ sông Patma, một nhánh của con sông Hằng Sống trong biệt thự gần sông gần gũi với thiên nhiên tươi đẹp, cậu bé Tagore sung sướng
vô cùng Như một con chim sổ lồng, cậu chạy nhảy khắp nơi Chuyến đi đó là bài học đầu
Trang 8tiên về thiên nhiên của cậu Trong Hồi kí, Tagore kể lại: “ Cứ mỗi ngày khi màn đêm đã vén
lên, tôi thức dậy có cảm giác như chân trời kia đang đem đến cho tôi một bức thư báo nhiều tin tức tốt lành khi tôi bóc nó ra Tôi vội vàng không để chậm trễ một giây phút ngồi chễm chệ trong chiếc kiệu chuẩn bị đi ra ngoài trời Ngày nào cũng như ngày nào, tôi được nhìn nước sông Hằng dâng lên hạ xuống, tàu bè xuôi ngược đôi bờ thật rộn rịp, cây ngả bóng xuống dòng sông lấp lánh khi mặt trời lên cao Hoàng hôn buông xuống rừng cây như ngủ lặng trong một màu đen nhờ nhờ Có lúc, bất chợt một cơn mưa ập tới xóa nhòa cả chân trời rực sáng Dòng sông trở nên âm u cuộn lên những con sóng, gió ào tới lay động cả một rừng cây, đôi lúc có cảm giác sợ hãi” [60, tr 442]
Cảm giác ban đầu về thiên nhiên từ thuở ấu thơ đã gợi cho Tagore một ý niệm : thiên nhiên nhiên cũng có linh hồn giống con người Sự tươi thắm, kì diệu của hoa, lá của ánh sáng mặt trời … đã thức dậy nơi tâm hồn non nớt của cậu bé Tagore một tình yêu thiên nhiên sâu nặng Cuộc sống bó hẹp trong khuôn viên biệt thự làm cậu cảm giác như bị cầm
tù và khi đến tuổi đến trường cậu càng chán ghét không khí buồn tẻ, ngột ngạt của lớp học giữa bốn bức tường Trong kí ức của Tagore trường học không lưu lại những ấn tượng tốt đẹp: “ Cái khổ của tôi là phải học trong những nhà trường như thế Tôi đã từng thấy vũ trụ như đã biến mất quanh mình, chỉ được thấy những hàng ghế gỗ, những bức tường vôi trắng xoá Tôi cương quyết không muốn mình trở thành một đứa bé bị thầy giáo gõ đầu… May sao tôi thoát ra được những ngôi trường chật hẹp như cái chuồng hoặc như chiếc giầy bó chân của một người đàn bà Tàu…”[45, tr 459]
Ba lần R.Tagore được gửi đến trường là ba lần cậu bỏ học Cuối cùng, gia đình phải mời gia sư lại nhà Gyan Babu, con trai của học giả Vedantavaghish là người thầy đầu tiên của Tagore Biết Tagore là cậu bé thông minh không thích cách học của trường lớp nên ông đã giảng các tác phẩm văn học nổi tiếng cho Tagore nghe trước rồi yêu cầu cậu dịch từ tiếng Anh , tiếng Sanskrit sang tiếng Bengali Cách học này đã lôi cuốn Tagore và truyền cho cậu niềm say mê, yêu thích văn chương Năm lên bảy tuổi, Tagore bắt đầu tập tễnh làm thơ Làm được bài nào là nhét vào túi áo bài đó Nhiều người trong vùng rất thích thơ của cậu Từ nhỏ, Tagore đã nổi tiếng là cậu bé thần đồng của xứ Bengal Mười ba tuổi, Tagore
đăng trường ca Bông hoa rừng ( Benaphul) dài 1600 câu trên tạp chí Mầm kiến thức ( Gyânanka) Tiếp sau đó, cậu sáng tác hai tập thơ Tiếng hát buổi sáng (Prabhat Sangit) và
Tiếng hát buổi chiều ( Sandya Sangit) Hai tập thơ nhỏ này đã bộc lộ tài năng và lòng yêu
đời, yêu cuộc sống của Tagore
Trang 9Cha Tagore cũng là một người thầy đắc lực trong việc nâng cao học vấn cho Tagore Ông luôn tôn trọng tự do của con cái Từ năm 11 tuổi, ông đã cho Tagore theo mình trong những chuyến du lịch dài ngày lên đỉnh Himalaya, dạy cho Tagore bài học đầu tiên về tình yêu thiên nhiên, con người và cuộc sống
Thuở nhỏ, Tagore không chỉ tự trao giồi ngoại ngữ để học trong sách vở mà còn chú trọng học những người xung quanh, những người lao động bình thường trong “ vương quốc những người đầy tớ “ Tagore rất thích nghe họ kể và ngâm vịnh sử thi Ramayana, hát những bài ca dân gian đầy chất trữ tình, giàu lòng yêu con người Cái “ vương quốc đầy tớ” này có ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển tâm hồn và tài năng của Tagore Có thể nói rằng, cuộc đời của Tagore phân nửa gắn liền với môi trường sáng tạo của những thiên tài, phân nửa gắn liền với văn hóa truyền thống: “Bước đầu của tôi đi vào văn học có nguồn gốc của nó trong những cuốn sách được lớp người tôi tớ yêu thích và truyền tụng”[60, tr 443]
Suốt quãng đời thơ ấu, Tagore chủ yếu là tự học Ngoài sách vở thì mảnh vườn thân thiết sau nhà là “ngôi trường” lí tưởng của cậu bé Tagore Trong “ngôi trường” đó, Tagore được tự do mơ mộng Những sắc màu kì diệu của thiên nhiên đã đem đến cho cậu những câu hỏi ngây thơ về cuộc sống, cậu ao ước khám phá tất cả bằng trí óc non nớt của mình và từ chối những bài học gò ép nơi lớp học: “ Chúng tôi có một khu vườn nhỏ liền tiếp với nhà chúng tôi, đối với tôi, nó là mảnh đất thần tiên, hàng ngày hiện ra không biết bao nhiêu vẻ đẹp kì diệu Bầu trời như đem lại cho tôi tiếng gọi bạn bè và cả trái tim tôi, cả
cơ thể tôi nữa quen uống vào cái nguồn ánh sáng và yên tĩnh tràn trề của những giờ phút lặng lẽ đó Tôi lo lắng không bao giờ để quên mất một buổi sáng nào, vì mỗi buổi sáng đều quý cho tôi, còn quý hơn vàng đối với một kẻ cùng khổ… tôi được trời phú cho tính hay kinh ngạc, nó giúp cho đứa bé có quyền được vào trong kho tàng huyền bí trong lòng cuộc sống Tôi lơ là với những bài học vì chúng muốn lôi tôi ra ngoài thế giới ở quanh tôi…nó muốn cầm tù tôi trong những bức tường đá của các bài học”[ 45, 449]
Nơi trường học thiên nhiên, Tagore học được nhiều điều quan trọng Ngoài sự yêu thương, chỉ dẫn của gia đình, cậu còn được tự do hoà nhập với thiên nhiên Điều đơn giản này không phải bất cứ đứa tre nào cũng đều có được Vì thế, sau này trưởng thành, Tagore
đã thực hiện được ước mơ xây dựng một ngôi trường mới theo lí tưởng của mình: một ngôi
trường bình yên cho trẻ thơ Ấn Độ
Trang 101.1.2 Hướng tới một nền giáo dục của người Ấn Độ
Giáo dục trẻ bằng tình yêu thương và sự khoan dung chính là tư tưởng chủ đạo
mà Tagore muốn chuyển tới những bậc làm cha mẹ và những người chịu trách nhiệm về việc “ trồng người” Tư tưởng này bắt nguồn từ quan điểm giáo dục truyền thống của người Ấn Độ và từ trái tim giàu lòng trắc ẩn của nhà thơ bởi vì “ Tình ông bà yêu cháu, già yêu trẻ là một nét cảm động nhất của văn hoá Ấn Độ” [ 13, tr.186]
Thuở nhỏ, Tagore được nhận hưởng một nền giáo dục tốt đẹp từ người cha đáng kính của mình Chính phương pháp giáo dục của gia đình và truyền thống văn hoá của dân tộc đã ảnh hưởng rất nhiều đến tư tưởng của Tagore Ông luôn quan niệm: giáo dục trẻ nhỏ phải cần tình thương và sự khoan dung Roi đòn không thể thay đổi và hoàn thiện con người
mà chỉ có tình yêu mới làm con ngưởi trở nên tốt đẹp: “ Một đứa bé sinh ra phải nuôi mình bằng sữa mẹ, do đó nó vừa biết thứ sữa mình ăn vừa biết cả người mẹ mình nữa Thứ đồ ăn của bé đó vừa nuôi được cơ thể vừa nuôi được cả tâm hồn đứa bé Con người khi buớc vào đời cũng phải thế, nghĩa là phải lấy tình thương làm gốc, chứ không phải lấy quan hệ nhân quả làm nguyên tắc ”[45, tr 458]
Trong kí ức của Tagore, người cha luôn là một tấm gương lớn về nhân cách: “ Người muốn chúng tôi yêu sự thật bằng cả tấm lòng mình Cũng như trước kia, Người để tôi
tự do leo núi thì bây giờ Người cũng để tôi tự do chọn con đường đi đến sư thật Người không hoảng sợ khi thấy tôi lầm đường, lạc lối, không quá băn khoăn trước việc tôi có thể gặp khó khăn gian khổ dọc đường Người cầm trong tay ngọn cờ chỉ đạo cứ không phải một
chiếc roi kỉ luật như ai”[ 45, tr 424] Ông học hỏi và thừa hưởng ở cha mình một tấm lòng
nhân đạo và ái quốc, một tình yêu thương gia đình chung thuỷ, một tâm hồn vĩ đại và một tình yêu Con người cao cả Phương pháp giáo dục trọng tự do cá nhân của cha đã ảnh hưởng rất nhiều đến quan điểm giáo dục của Tagore
Năm 40 tuổi(1901), R.Tagore thực hiện được ước mơ xây dựng một ngôi trường
do chính mình làm chủ Khi ngôi trường Santiniketan ( chốn bình yên) ra đời, Tagore đã
thực hiện một phương pháp giáo dục khác trước mà ông từng ấp ủ: dạy cho học sinh ý thức
được hai mối quan hệ cơ bản của con người trong cuộc sống Đó là mối quan hệ hoà đồng giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên Ông muốn học trò của ông phải biết yêu thương, tôn trọng con người và phải biết đề cao, ngợi ca tình yêu thiên nhiên, tình yêu cuộc sống
Trang 11Theo Tagore “ Sự giáo dục phải lấy tình thương làm đầu”[45, tr 465] Ông chú
trọng đến việc hoàn thiện nhân cách con người Ông cho rằng mục đích giáo dục lớn nhất dành cho trẻ không phải chỉ là tri thức mà điều quan trọng hơn là giáo dục các em có được đời sống tâm hồn phong phú Chính vì quan niệm này mà Tagore rất chú trọng đến việc dạy văn học, nghệ thuật và âm nhạc cho trẻ nhỏ Ông nuôi dưỡng tâm hồn trẻ bằng vần điệu của lời thơ, tiếng hát Và thơ về trẻ em của ông bao giờ cũng là những bài học dạy làm người
Bốn mươi bài thơ trong Trăng non là những câu chuyện kể nhẹ nhàng về lòng can đảm, sự
chân thật, và tình yêu thương của con người và đặc biệt là tình mẫu tử thiêng liêng cao quý Chính ông cũng từng khẳng định giáo dục trẻ bằng tình thương mới là cách giáo dục tốt
nhất bởi vì chỉ những ai thật sự yêu thương thì người đó mới có quyền trừng phạt: “Khi tôi
trừng phạt nó Thì nó lại càng trở nên một phần của bản thân tôi Và khi tôi làm cho nó khóc Thì lòng tôi cũng khóc cùng với nó Chỉ tôi mới có quyền rầy la và trừng phạt Bởi vì
chỉ có ai thương Thì người đó mới có quyền trừng phạt.” ( Quan toa)
Là một nhà thơ đồng thời là một nhà giáo dục, Tagore cho rằng trường học tốt nhất để nuôi dưỡng tâm hồn trẻ nhỏ là trường học thiên nhiên Tư tưởng này xuất phát từ quan điểm giáo dục truyền thống của văn hóa Ấn Độ cổ xưa: “Thời xưa , ở Ấn Độ, con người sinh hoạt ở đâu là trường học ở đó Trường học không phải là một học viện, cũng không phải là chốn tu hành khổ hạnh Nơi đó, chính là để học cách nuôi dưỡng sinh vật, tự nuôi sống mình bằng cách nhặt củi, hái rau quả… Cuộc sống đó gọi là trường đại học ( tiếng Phạn là Chatuspathis)” Như vậy, trong cách nhìn của người Ấn Độ, thiên nhiên không chỉ
là nơi con người quan sát, chiêm nghiệm cuộc đời mà còn là nơi họ học cách tự giúp mình tồn tại bởi vì : “ giáo dục không phải chỉ học bài ở trong lớp học mà còn trong cuộc sống” [ 45, tr.465]
Trên cở sở kế thừa và tiếp nối quan điểm giáo dục truyền thống của văn hoá dân tộc, Tagore đã mở ra một cái nhìn mới về vấn đề giáo dục trẻ thơ theo tinh thần tự do, hoà nhập vào vũ trụ Theo ông, thiên nhiên là bà mẹ đời thứ hai tác động rất nhiều vào trẻ nhỏ
và là trường học lí tưởng nhất để hoàn thiện nhân cách một con người Chính nơi trường học thiên nhiên này, ông đã học được rất nhiều điều quan trọng, trong đó có cả tôn giáo của
riêng ông mà ông gọi là Tôn giáo Con người: “ Trong bụng mẹ, đứa trẻ được tự do lần thứ
nhất do sự sinh trưởng của nó Thế nhưng, sau khi lọt lòng mẹ, đứa trẻ đã bị xã hội can thiệp vào, kéo ra khỏi cái công nuôi dưỡng của Tao hoá, của trời xanh, của ánh sáng, của không khí mát lành Nhà trường cửa đóng kín, nó sống chung quanh các đồ vật ngày càng nhiều
Trang 12Nó không hiểu cuộc sống đó sẽ dần dần làm cho tâm hồn tê lạnh, làm mất đi cuộc sống tự nhiên, sinh động”[ 45, tr 460]
Từ những quan niệm, tư tưởng về việc xây dựng một nền giáo dục mới cho Ấn
Độ, Tagore đã thể hiện sâu sắc tình yêu thương và trách nhiệm của mình đối với trẻ thơ Ông muốn các em phải biết yêu thương và trân trọng cuộc sống Đó chính là lí tưởng giáo
dục cao đẹp của ông, là kinh điển của Tôn giáo Con người mà ông muốn gởi gắm và thực
hiện nơi ngôi trường Santineketan – ngôi trường của sự bình yên
1.2 R Tagore – Nhà thơ của thiếu nhi
1.2.1 Hoàn cảnh ra đời của tập thơ Trăng non
Nghĩ về tập thơ Trăng non, người ta thường nhớ đến những câu thơ Tagore viết trong Những cánh chim bay lạc:
Cõi đời hôn lên hồn tôi với nỗi đau thương
Và đòi hỏi tôi đáp lại bằng lời ca, tiếng hát [45, 731]
Và thật vậy, Trăng non chính là tiếng ca được cất lên từ những nỗi đau thương
Năm 1904 Tagore mất đứa con gái thứ hai, năm 1907 đứa con trai đầu của nhà thơ cũng từ giã cõi đời Cùng với cái chết của người vợ (1902) và cái chết của người cha (1905), Tagore gần như suy sụp Thế nhưng, kì diệu thay ông vẫn làm thơ! Chính ông đã từng nói:
“Khi tình cảm tự tìm cho mình một hình thức để bộc lộ ra ngoài, chúng ta có thơ” Và
Trăng non chính là thơ được cất lên từ cõi lòng Tagore nhiều đau thương mất mát Tập thơ
ra đời năm 1909 và ban đầu có tựa đề là Sisu ( Trẻ thơ) Đến năm 1915, nó được Tagore chuyển từ tiếng Bengali sang tiếng Anh và đổi tên là The Cressent Moon ( Trăng non) gồm
40 bài
Trăng non là tập thơ viết về trẻ thơ , là biểu tượng cho tâm hồn bản nguyên, thuần khiết của các em Với Trăng non, Tagore đã tái hiện lại một thiên đường đã mất trong
mỗi chúng ta, đó là thiên đường của tuổi ấu thơ tràn ngập tình yêu thương mẫu tử
1.2.2 Trăng non – Những cảm nhận tinh tế về trẻ thơ
Trăng non là tập thơ thể hiện sâu sắc tình thương yêu và niềm mong ước của
Tagore về một thế giới tươi đẹp dành riêng cho trẻ Trong thế giới ấy, trẻ thơ thoát ra mọi ràng buộc của cuộc sống đời thường và tự do đi về trong tưởng tượng Trẻ thơ là hiện thân của nước, của tinh khiết, vô vi và trong thế giới của trẻ mọi quyền uy, toan tính của con người đều trở nên
vô nghĩa Với Tagore, trẻ thơ là điều kì diệu mà Thượng đế đã ban tặng con người, là sợi dây nối kết mối giao hoà vĩnh cữu của thế giới thực tại và mộng tưởng, của mặt đất và bầu trời, của
Trang 13con người và thiên nhiên, của tình yêu giữa cha và mẹ… Trong vòng tay và trái tim của mọi người, trẻ thơ là thiên thần, là niềm vui, là buổi ban sơ của một đời người… Và trong trái tim Tagore, trẻ là tất cả những gì ngộ nghĩnh, hồn nhiên, trong trẻo Tagore không chỉ nhìn trẻ bằng
cái nhìn trìu mến của một người ông dành cho cháu như V.Hugo trong Nghệ thuật làm ông, không chỉ bao bọc, chở che bằng vòng tay, tình yêu của một người mẹ như Xuân Quỳnh (Ru
con), không chỉ thì thầm về những giấc mơ như Hoàng Trung Thông (Những cánh buồm )
…mà với Tagore, Trăng non là phép cộng của tất cả những thứ tình cao quý đó Nếu ngày
trước V.Hugo từng ngạc nhiên khi khám phá ra vị trí của trẻ trong vũ trụ: “Bé chính là bình
minh và hồn ta là cánh đồng bát ngát/ Cánh đồng đã ướp hương những loài hoa dịu mát vào
trong hơi thở của em ( Khi em bé hiện ra) thì đến Tagore ông lại cho rằng trẻ thơ là một thiên
thần , đến từ xứ sở thần tiên như một kẻ ăn mày để có thể đến xin cả kho báu tình thương của
mẹ Dường như trong cách cảm nhận của Tagore, trẻ thơ có phần gần gũi, chân thật và đáng
yêu hơn cả Được mệnh danh là V.Hugo của Ấn Độ, Tagore không chỉ xúc động nghẹn ngào
trước cô bé bán củi nghèo hèn: “ Em gái da sạm đen răng trắng/ Cánh tay bé nhỏ quắp sau
lưng/ Kéo lê run rẩy một bó củi/ Dịu dàng em chiếc bóng của hãi hùng” ( Em bé bán củi – V
Huygo) mà ông còn hoá thân vào những vui buồn thơ dại để phát hiện ra ước mơ, khát vọng của các em Tagore còn cho rằng chỉ có nỗi buồn tủi của chúng là đáng kể nhất bởi lẽ từ khi sinh ra trẻ đã có quyền được chơi đùa, yêu thương, được chăm sóc, nâng niu:
Nỗi buồn tủi của đám người đông đảo
Cũng không sao lớn bằng
Nỗi buồn tủi của chú bé kia
Chú không có nỗi một xu
Để mua một chiếc gậy tô màu
Đôi mắt thèm thuồng của chú
Làm cho tất cả đám người kia
Thương xót
( Người làm vườn, 1914)
Là một nhà thơ luôn đấu tranh không mệt mỏi vì tự do của con người, trong Trăng
non , Tagore mong muốn mang đến cho trẻ em một thế giới tự do tuyệt đối: tự do trong
tưởng tượng, tự do trong vui chơi, tự do bày tỏ tình cảm, ước vọng của mình Giữa cuộc sống bộn bề lo toan của người lớn, trẻ là sự hiền minh Sự tự do của trẻ là mong muốn mãnh liệt của người lớn khi họ vọng tưởng về thời ấu thơ Đó là sự tự do tuyệt đối không bị những
Trang 14vật chất tầm thường ràng buộc Trong bài Bản hợp đồng cuối cùng, R Tagore kể lại một
câu chuyện lí thú Một chàng thanh niên làm thuê vừa đi vừa rao lớn : “ Nào, ai thuê tôi thì
đến thuê?” Một ông vua “ ngồi trên xe đi tới và bảo: “ Ta muốn thuê ngươi bằng quyền lực của ta” Nhưng quyền lực của y có gì đáng kể và y lại ra đi “ Đến trưa “ dưới trời nóng bỏng”, anh ta gặp một tay triệu phú, hắn nhắc túi vàng lên và bảo: “ Ta thuê ngươi bằng tiền bạc của ta” Nhưng anh vẫn quay lưng Khi chiều xuống, anh gặp một cô gái đẹp và hứa sẽ
thuê anh bằng một nụ cười Nhưng “ nụ cười của cô ta đã nhạt đi và tan thành nước mắt”,
“ cô trở về trong bóng tối một mình” Anh đã từ chối tất cả từ quyền lực, của cải và sắc đẹp Cho đến khi anh gặp cậu bé, mọi việc đã hoàn toàn đổi thay:
Ánh mặt trời long lanh trên cát
Và sóng vỗ rì rào
Một cậu bé chơi với dăm vỏ ốc
Cậu ngẩng lên và dường như cậu nhận ra tôi rồi nói:
Tôi thuê anh với hai bàn tay trắng
Và từ khi bản hợp đồng được kí chơi với cậu bé
Tôi đã trở thành người tự do
( Bản hợp đồng cuối cùng)
Như vậy, sự lựa chọn cuối cùng của anh ta là tự do Trong Trăng non, sự tự do
của trẻ thơ đồng nghĩa với một tâm hồn thuần khiết và thánh thiện Tagore ca ngợi bản chất này ở trẻ và cho rằng chính nó đã đem đến cho trẻ cái nhìn trong trẻo về cuộc sống và những điều quý giá mà người lớn không thể nào có được: tự do, hạnh phúc, niềm vui và cao hơn cả là tình yêu trong sáng dành cho mẹ:
Trên mảnh đất của vầng trăng non bé bỏng
Bé tự do không hề ràng buộc chút nào
Nhưng không phải tự nhiên mà bé không cần đến tự do
Bé biết rằng trong góc nhỏ trái tim của mẹ
Có chứa một niềm vui vô tận vô cùng
Và được ghì được ôm trong chặt trong cánh tay thân yêu của mẹ
Còn dịu dàng hơn tất thảy tự do
( Cung cách của bé )
Khi sáng tác Trăng non, Tagore đã để tâm hồn tự lan toả thành thơ Chính tình
yêu và tấm lòng nhân đạo sâu sắc của ông đã giúp ông có được những cảm nhận tinh tế về
Trang 15trẻ nhỏ Nhập vai vào trẻ, Tagore đã nói lên được ước mơ khát vọng của các em Có thể nói, trong thơ ông trẻ thơ thật sự được tự do trong thế giới mộng tưởng của chính mình, được ban phước lành từ bàn tay tạo hoá:
Ban phước cho trái tim bé nhỏ, cho linh hồn trong trắng
Nhờ nó mà khiến trời hôn đất
Nó yêu ánh dương, nó yêu gương mặt mẹ hiền
Nó chưa biết khinh khi cát bụi và chạy theo bạc vàng
…Hãy giữ lòng tin của nó, dẫn nó đi thẳng và cầu chúc cho nó
Có đe dọa tới đâu linh khí từ trên trời cao cũng sẽ tới
Thổi căng buồm đưa nó tới cõi bình yên
( Ban phước)
Bàn tay tạo hóa đã ban cho trẻ sự sống giữa cõi đời này nhưng tâm hồn trẻ lại lớn lên nhờ tình yêu của mẹ Cho nên cuộc hành trình từ thiên đường của trẻ đến trần gian cũng chính là hành trình truy tìm Trái tim tình thương từ Mẹ Chính mẹ và cõi đời trần thế này mới là thiên đường thực sự mà trẻ cần tìm đến Tạo hoá có thể ban tặng trẻ mọi thứ từ vòng hoa rực rỡ sắc màu đến những phúc lành tràn trề bất tận nhưng điều trẻ cần lại chính là
hương thơm tình yêu từ trái tim của Mẹ: Nếu bé muốn thì ngay bây giờ bé có thể bay lên tận
trên trời Không phải tự nhiên mà bé không chịu rời bỏ chúng ta Bé thích đặt đầu vào trong lòng mẹ Và mắt bé không chịu rời xa mẹ bao giờ….Cái điều bé thích nhất là được học những lời của mẹ nói ra từ trên đôi môi của mẹ…Bé có hàng đống vàng đống ngọc Thế nhưng bé đã đến mặt đất này Như một kẻ ăn xin….Để có thể đến xin cả kho báu tình
thương của mẹ.(Cung cách của bé)
Là những bài thơ ghi lại bản chất thánh thiện của trẻ thơ, Trăng non thể hiện sâu
sắc tấm lòng nhân đạo Tagore dành cho trẻ nhỏ Trong cái vô cùng của vũ trụ, ông đã mang đến cho trẻ khát vọng được hoà nhập vào mây và sóng, được gửi gắm giấc mơ của mình trên những con thuyền giấy dưới ánh sao khuya, được thể hiện tình yêu dành cho
mẹ…Trong sắc màu hư ảo của mảnh Trăng non, trẻ là hiện thân của muôn vàn vẻ đẹp, là
buổi sớm mai của một đời người mà ai cũng một lần bước qua và không bao giờ quay trở lại
1.2.3 Trăng non – Tiếng thơ kì diệu của tuổi thơ
Trang 16Là một tập thơ viết cho thiếu nhi Trăng non hội đủ các yếu tố mang tính đặc
trưng của một tác phẩm văn học thiếu nhi
Khi viết Trăng non, Tagore đã thực sự sống với đời sống của lứa tuổi thiếu nhi
Ông cảm nhận sâu sắc, trọn vẹn những đặc trưng tâm lí của các em Bằng tình cảm chân thật của một người cha ông đã hồi tưởng và làm sống lại kí ức những năm tháng tuổi thơ một cách kì diệu và trong trẻo nhất
Đọc Trăng non, độc giả được sống trong một thế giới thần tiên và nghệ sĩ, một
thế giới pha trộn giữa hư và thực, giữa sự tưởng tượng và cuộc sống thực tại phong phú Công trình nghiên cứu của Coócnây Trucôpxki ( 1882- 1969), nhà văn, nhà nghiên cứu văn
học Liên Xô cũ cho chúng ta thấy Trăng non thật sự là một tập thơ viết cho thiếu nhi và
viết về thiếu nhi
Trăng non là một tập thơ giàu hình ảnh, màu sắc của hội hoạ Nhưng những sắc
màu , hình ảnh này khác với những sắc màu, hình ảnh ngoài cuộc sống vì nó được cảm nhận bằng trí tưởng tượng của trẻ thơ Chỉ có các em mới nhìn thấy nơi những vật vô tri vô giác
cả một thế giới sống động, diệu kì :
Tường điện bằng bạc trắng, mái điện bằng vàng ròng
Hoàng hậu sống trong cung có bảy sân chầu và đeo một hạt ngọc quý bằng châu báu của cả bảy nước
… Cô công chúa nằm ngủ trên bờ xa tít cách bảy biển không ai vượt nổi…
… Nàng mang vòng ở cổ tay, tay đeo ngọc trai và tóc dài chấm đất
Nàng sẽ thức giấc khi con khẽ chạm chiếc gậy thần và mỗi khi cười môi nàng tuôn trào châu báu…
này, trong quyển Trái tim tôi hiến dâng cho trẻ, Xukhômxlinxki, nhà giáo dục Nga đã viết:
“ Mỗi đứa trẻ không chỉ tri giác mà còn khắc hoạ, sáng tạo và xây dựng Sự nhìn nhận thế giới của trẻ là một sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo Hình ảnh mà trẻ tri giác đồng thời xây dựng mang trong nó sắc thái tươi sáng của cảm xúc Trẻ trải nghiệm một niềm vui dữ dội khi tri giác những hình ảnh của thế giới xung quanh và bằng trí tưởng tượng bổ sung vào những hình ảnh ấy một điều gì đó”[ 63, tr.16] Như vậy, trong sự phát triển thể chất và tinh
Trang 17thần của trẻ, tưởng tượng là một yếu tố không thể nào vắng mặt Bởi vì, trong cái nhìn của trẻ, cuộc sống vốn chứa nhiều bí mật Trẻ muốn khám phá nó qua sự tưởng tượng của mình
Vì thế, mỗi câu hỏi của trẻ đều ngộ nghĩnh, hồn nhiên : “Em hỏi: “ Buổi tối khi trăng tròn,
treo lơ lửng giữa lùm cây, có ai ôm được nó không?”/ Thế là anh cười chế nhạo: “ Ngốc ơi, mày là đứa bé, ngốc nghếch nhất trần gian/ Mặt trăng xa vời vợi/ Làm sao mà với
tới…”(Nhà thiên văn) Là “nhà lãng mạn sáng tạo” trẻ đã xây dựng nên trong thế giới của
mình một xứ xở thần tiên với “ những cánh đồng lúa chín vàng” bên bờ suối óng ánh hay
““hoa chàm vàm rụng rơi” trên lối mòn râm mát, còn những giọt sương long lanh trong ánh bình minh là “ ngọc trai run rẩy trên đồng, ngọc trai rơi trên nội cỏ non” và sóng biển dạt dào là “ ngọc trai trải xoè trên bờ cát”…
Có thể nói, bằng những dòng thơ lấp lánh sắc màu cổ tích, Tagore đã tạo cho các
em một thế giới diệu kì Trong thế giới đó các em được tự do vui chơi với sự tưởng tượng
cuả mình Đó là thế giới của trăng non, của những giấc mơ tươi đẹp, lạ kì
Trăng non còn là một tập thơ giàu chất trữ tình ( giàu chất thơ, chất nhạc) Với
đặc điểm của thể loại thơ văn xuôi ( A prose poem), một hình thức được xem là tự do, dân chủ nhất trong thể loại trữ tình, là loại “ thơ du dương không điệu, không vần, hơi mềm và hơi cứng, để có thể thích ứng với những chuyển động trữ tình của tâm hồn, với làn sóng nhấp nhô của mơ mộng, với những cảm xúc bất thường của lương tri”[ 22, tr 578] chất thơ
trong Trăng non được “tạo nên bởi cấu tứ và suy tưởng giàu sức khơi gợi, bất ngờ, chất
triết lí thâm thuý, thơ mộng.”[27, tr.319] Sức hấp dẫn của một bài thơ văn xuôi là ở vẻ đẹp của tư tưởng, tình cảm, ở những rung động tinh tế của cảm xúc, những khám phá mới mẻ, độc đáo của hình ảnh Thơ văn xuôi giàu tính nhạc, theo Xuân Diệu, đó là “cái nhạc bên trong của câu thơ… không thể hiện ra ở vần mà lỗ tai cảm thấy ngay” [14, tr 619] Giả Bình Ao, một nhà văn hiện đại của Trung Quốc đã dùng thể loại thơ văn xuôi dưới hình
thức đối thoại để viết về tình mẫu tử: “Mẹ ơi, mẹ bảo quả táo trên cây chin đỏ là nhờ có mặt
trời Thế thì củ cải đỏ lớn lên trong lòng đất vì sao mà nó đỏ? Mẹ ơi, mẹ bảo gà trống gáy thì trời sáng, thế sao gà trống chết rồi mà trời vẫn sáng? Mẹ ơi, mẹ bảo con không nên hỏi
mẹ như vậy, vì làm mẹ thì không bao giờ nói sai Vậy thì con cũng sẽ không bao giờ nói sai,
vì sau này con cũng sẽ làm mẹ”[ 64, tr 319]
Với hình thức đối thoại của thể thơ văn xuôi ( nhưng thực chất chỉ là cuộc độc thoại
vì đối tượng trữ tình ẩn đi, chỉ còn lời nhân vật trữ tình), những bài thơ trong Trăng non
vừa thơ mộng, dịu dàng vừa ngọt ngào, êm ái như lời thì thầm yêu thương của con và mẹ:
Trang 18Giá như con hoá thành một đoá hoa Chămpa
Chỉ để chơi thôi
Và mọc trên một cành cây cao nọ
Và reo cười đung đưa trong gió
Thì mẹ có nhận được con không hở mẹ?
Mẹ sẽ gọi: “ Bé ơi, con đâu rồi?”
Và con sẽ cười thầm lặng im không nói
Con sẽ len lén mở cánh rình xem lúc mẹ đang làm
( Hoa Chămpa)
Cuộc đối thoại ở bài thơ trên thực ra chỉ là cuộc độc thoại của con Đối tượng trữ tình (mẹ) đã bị giấu đi chỉ còn lại lời của nhân vật trữ tình ( con) bộc lộ Con đưa ra câu hỏi giả thiết, mường tượng ra phản ứng của mẹ và bộc lộ thái độ của mình trước hành động ấy
Dường như ân sau những câu hỏi của con là tiếng cười tinh nghịch, hồn nhiên Con sẽ “ bất
thình lình thả mình rơi xuống đất Và một lần nữa lại trở thành bé yêu của mẹ, và đòi mẹ kể chuyện cho con “ Này thằng quỷ, mày ở đâu thế? “ Mẹ ơi, con chẳng nói đâu Đấy là điều rồi hai mẹ con ta sẽ nói với nhau” Sự hoá thân hoá thân của con là một trò chơi nghịch
ngợm, thông qua trò chơi ấy con đã thể hiện tình thương yêu chân thành của mình dành cho
mẹ
Không chỉ viết về thế giới trẻ thơ, thế giới tràn ngập tình yêu của mẹ và bé,
Trăng non còn là bài học giáo dục trẻ thơ tinh tế và sâu sắc Những bài thơ trong Trăng non không phải là những triết lí, những mệnh đề khô cứng bởi tính chất chất giáo dục của
nó Bốn mươi bài thơ trong Trăng non là những câu chuyện kể nhẹ nhàng về lòng can đảm,
sự chân thật, và đức hiếu thảo ở mỗi con người … Sau khi đọc tập thơ, điều đọng lại trong tâm hồn chúng ta là hãy nâng niu và chăm sóc trẻ thơ, hãy giáo dục trẻ bằng tình yêu thương nhân hậu Chính sức mạnh tình thương sẽ cải hoá, hoàn thiện một con người
Trăng non chính là món quà đặc biệt Tagore dành cho trẻ nhỏ Bằng trái tim
của một người cha, ông đã viết nên những dòng thơ yêu thương về tình mẫu tử, về ước mơ
và khát vọng trẻ thơ… Trăng non mãi mãi là thiên đường mơ ước của mỗi chúng ta
Trang 19CHƯƠNG 2
VẺ ĐẸP TOÀN BÍCH CỦA THẾ GIỚI TÂM HỒN TRẺ THƠ
TRONG TRĂNG NON
2.1 Một thế giới thuần khiết trong thiên nhiên tươi đẹp
2.1.1 Thiên nhiên với đời sống văn học Ấn Độ
Trong đời sống văn hóa, văn học phương Đông, thiên nhiên là một tấm gương
phản chiếu tâm tư, tình cảm của con người Nếu trong ca dao, dân ca Việt Nam, thiên nhiên
là không gian khởi đầu cho những ước thệ chung tình: cây đa, bến nước, sân đình:
Cây đa cũ, bến đò xưa
giữa con người và thiên nhiên luôn có mối quan hệ gắn bó với nhau Quan niệm Con
người vũ trụ trong
triết học cổ đại Trung Quốc: “ thiên nhân hợp nhất”, “ thiên nhân tương dữ” ( trời và người quan hệ mật thiết với nhau), “ thiên địa dữ ngã tịnh sinh, vạn vật dữ ngã vi nhất” ( trời đất cùng sinh ra với ta, vạn vật với ta là một) đã thể hiện rõ mối quan hệ mật thiết này: Con người là một “ tiểu vũ trụ” trong lòng “ đại vũ trụ” Vì thế, trong thơ Đường Trung Quốc, con người luôn hòa mình vào thiên nhiên và đem thiên nhiên vào trong cõi lòng mình:
Trang 20Hoàng hà lạc thiên tẩu Đông Hải
Vạn lí tả nhập trung hoài gian
( Lí Bạch) [23, tr 47]
( Sông Hoàng Hà từ trời xuống chảy ra biển Đông
Muôn dặm dồn về giữa cõi lòng)
Văn hóa phương Đông không bao giờ phủ nhận tính chất hữu linh của thiên nhiên Cũng như con người, thiên nhiên cũng hữu linh, hữu tình, hữu tâm:
Mùa xuân ra đi
Xuân phong tri biệt khổ
Bất khiến liễu điều thanh
( Lí Bạch ) [23,tr 49]
( Dưới trời nơi đau khổ
Chính ở Lao lao đình
Gió xuân xót li biệt
Chẳng khiến liễu xanh cành)
Trong quan niệm của người phương Đông, có một sự cảm thông kì lạ giữa con người và thiên nhiên, đến nỗi khi con người không thể nói hết tâm tình của mình thì dùng ngôn ngữ thiên nhiên để thể hiện:
Khứ niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong
( Thôi Hộ ) [23,tr 46]
( Năm ngoái năm nay trong cánh cửa này
Mặt người và hoa đào, màu hồng ánh lẫn vào nhau
Giờ đây mặt người không biết đã đi đâu
Trang 21Chỉ còn hoa đào cười với gió đông như cũ)
Như vậy, từ trong truyền thống xa xưa của văn hóa phương Đông, thiên nhiên
đã có một sứ mệnh đối với con người Thiên nhiên không chỉ là tấm gương phản chiếu tâm hồn con người, mà thiên nhiên còn là một sinh linh có linh hồn và một nhân vật trữ tình trong sáng tác thi ca ( đây là điểm khác nhau giữa phương Đông và phương Tây trong quan niệm về thiên nhiên) Đối với các thi nhân phương Đông, thiên nhiên là cội nguồn của cảm hứng trữ tình, là “ ngôn ngữ” kì diệu nhất giúp con người bày tỏ nỗi lòng
Với văn hóa, văn học Ấn Độ( từ truyền thống đến hiện đại), thiên nhiên được miêu tả như một yếu tố có nhân tính, được tôn thờ như thần, là “ Bà mẹ thiên nhiên vĩ đại”,
là biểu tượng của sự lặng im giản đơn và lòng trong trắng Vì thế, trong đời sống văn hoá
Ấn Độ, thiên nhiên là phương tiện quan trọng để biểu cảm và thể hiện tình cảm con người
Kinh Upanishad triết luận về cuộc sống hữu hạn và mối tương quan giữa con người với thiên nhiên như sau: “ Đời sống của loài người là một cuộc sáng tạo, là ý nguyện vươn tới chiến thắng sức kháng cự của chất liệu chết, là ước mong khám phá ra được tất cả những điều bí ẩn của vật chất và bắt những sức mạnh vật chất của nó phải tuân theo ý muốn của con người, để phục vụ cho hạnh phúc của con người”[ chuyển dẫn từ 52, tr 49] Triết lí này dựa trên cơ sở triết học: con người là một bản thể của vũ trụ và sự hòa đồng giữa con người với tự nhiên sẽ đưa con người đến sự giải thoát
Trong thơ Ấn Độ, thiên nhiên là người bạn gắn bó khăng khít với con người, là nhân tố giúp cho tâm hồn và tình cảm của con người luôn được trong sáng Hòa mình vào thiên nhiên, con người tìm thấy sự thanh thản tuyệt đối của đời sống tâm hồn Trong bộ sử
thi Ramayana, thiên nhiên luôn được miêu tả như một nhân vật trữ tình luôn đồng cảm với
con người; giữa con người với thiên nhiên luôn có mối cảm tình sâu nặng với nhau Ngay từ những ngày đầu tiên đến Chitrakuta, bắt đầu cuộc sống lưu đày mười bốn năm trời, Rama
đã cảm thấy lòng yên bình, thanh thản Mọi u buồn, hiềm khích vì bị tước đoạt quyền uy và địa vị đều tan biến trong lòng Chàng nói với Sita mà như nói với chính mình: “ Gianaki ơi! Trông thấy những ngọn núi xinh đẹp này, anh không cảm thấy là mình đã mất vương quốc,
và anh đã không quá đau xót vì phải xa cách bạn bè Đẹp làm sao những ngọn núi kia, nơi quanh năm chim rừng trú ẩn! Cao biết bao những đỉnh núi như chọc thủng trời xanh”[2, tr 214] Với người Ấn Độ, thiên nhiên không chỉ là người bạn thân thiết mà còn là nơi trú ngụ,
Trang 22chở che, trả lại cho con người bản chất chân -thiện -mĩ, giúp con người thoát khỏi mọi dục vọng, khổ đau
Các nhà thơ trữ tình Ấn Độ không chỉ coi thiên nhiên là duyên cớ của những xúc cảm tâm hồn mà còn tìm thấy ở thiên nhiên những bí mật tiềm ẩn trong lòng đời sống Lịch
sử phát triển của thơ ca Ấn Độ truyền thống từ Veda qua Bhasa, Kalidasa, Kabir… đến các nhà thơ trữ tình lãng mạn những năm đầu thế kỉ XX cho thấy, cảm hứng về thiên nhiên luôn là một dòng chảy bất tận trong tâm hồn họ Chính điều naỳ đã góp phần làm nên bản sắc riêng cho thơ ca Ấn:
Khi trăng chạm vào bên má/ Con mèo liếm lấy vội vàng / Tưởng chừng như giọt sữa thơm
Khi trăng nằm trong cành lá / Con voi lộ vẻ ngỡ ngàng / Ngỡ hoa sen vàng đang
Những giờ chờ đợi chậm chạp trôi qua
Đêm tan dần
Sự im lặng do em vắng mặt
Thấm vào ánh trăng thoang thoảng hương thơm
Tôi đo cái đau của tôi
Bằng rễ cây mục và hoa héo
Và tôi nghe trong mỗi cánh hoa hồng
Tiếng thở dài của muôn vàn vi huyết mạch…
(Khu vườn của tôi – Thái Bá Tân dịch)[9, tr 73]
Trang 23Có thể nói, tình yêu thiên nhiên, sự hòa hợp, bình đẳng giữa con người và thiên
nhiên là cái đẹp vĩ đại của văn hóa Ấn Độ Trong vở kịch nổi tiếng Sơkuntơla của
Kalidasa, tác giả đã thể hiện rõ tư tưởng chủ đạo này qua lời cầu khẩn của một tu sĩ xin nhà vua tha chết cho con hươu: “ Không bao giờ, ôi! Không bao giờ mũi tên được sinh ra để xuyên thủng trái tim dịu dàng của một con hươu, cũng như lửa không phải sinh ra để đốt cháy những cành hoa”
Trong văn hóa của Ấn Độ, bản thân thiên nhiên cũng có đời sống riêng của nó Luôn gắn bó mật thiết với con người, thiên nhiên là “bà mẹ đời thứ hai” sẵn sàng chở che và trả lại cho con người chân bản thiện
2.1.2 Tâm hồn trẻ thơ thánh thiện được thể hiện qua các hiện tượng thiên nhiên
Trong Trăng non, thiên nhiên là tấm gương phản chiếu tâm hồn trẻ nhỏ Nó biểu
trưng cho những gì trong sáng, tươi đẹp và tự nhiên nhất trên cõi đời này Đọc Trăng non,
có một điều dễ nhận thấy, đó là sự phong phú, đa dạng của các hiện tượng thiên nhiên Kết quả khảo sát cho thấy chỉ có hai bài là không có hình ảnh thiên nhiên trên tổng số bốn mươi bài của cả tập thơ Phần còn lại, ba mươi tám bài (95%) đều xuất hiện hình ảnh thiên nhiên Đây là dấu hiệu cho thấy, thiên nhiên nhiên thực sự đã có một vị trí đặc biệt trong tư tưởng
– nghệ thuật của R Tagore Trong tiểu luận Nghệ thuật là gì?, Tagore viết: “ Có thể
phương Tây tin vào linh hồn của con người nhưng không thực sự tin rằng vũ trụ có linh hồn Thế nhưng nó lại là niềm tin tưởng của phương Đông và toàn bộ sự đóng góp của phương Đông về mặt tinh thần cho nhân loại đều chứa đầy cái ý niệm này”[ 45, tr 864] Cũng cách nhìn ấy, trong thư gởi S Moore (1/4/1914) ông khẳng định: “ Ở phương Đông chúng tôi, sự yên tĩn trong suốt của những đêm tối, sự chói sáng của ánh mặt trời những buổi trưa đầy nắng hoà vào làn sương mù dịu dàng trong bầu trời xanh, bản nhạc buồn của cuộc sống được cảm nhận nổi trôi trong cõi vô cùng, dường như đang thì thầm vào tai chúng tôi những điều bí mật lớn lao của sự tồn tại mà không một phương tiên nào có thể biểu đạt được” [chuyển dẫn từ 25, tr 134] Qua những nhận định trên của Tagore, có thể thấy, trong
Trăng non, sự phong phú đa dạng của thiên nhiên không chỉ là sự thể hiện một tâm hồn
nhạy cảm, yêu mến cảnh vật thiên nhiên mà nó còn là những cảm xúc suy tư mang đậm chất triết lí về vũ trụ, nhân sinh của nhà thơ Nó trở thành những hình ảnh tượng trưng , ẩn
dụ giàu biểu cảm diễn đạt được mọi cung bậc của tình cảm, tư duy
Trang 24Có thể nói, từ trong truyền thống xa xưa của văn hoá Ấn, thiên nhiên đã có một
sứ mệnh đặc biệt đối với con người Kế tục và phát triển quan niệm truyền thống, trong thơ Tagore, thiên nhiên hiện diện như người bạn thân thiết Thuở nhỏ, tâm hồn tuồi thơ Tagore
đã sớm nhạy cảm với vẻ đẹp thiên nhiên: “Ngay từ lúc còn bé, tôi đã rất nhạy cảm với vẻ đẹp của thiên nhiên, rất thích gần gũi, thân mật với cây cối, với mây và như nhập vào trong bản nhạc các mùa trong không khí”[45, tr.444] Ông gọi khả năng nhận cảm được vẻ đẹp này là tài sản lớn nhất của ông: “ Thật là một diễm phúc cho tôi là khi nào cũng ý thức được các sự kiện của thế giới quanh mình Rằng mây là mây, hoa là hoa, thế là đủ vì chúng trực tiếp ngỏ lời với tôi, vì tôi không thể hờ hững với chúng”[45, tr.444]
Có rất nhiều nguyên nhân để tác tạo thành thứ khả năng đặc biệt ấy ở Tagore Trước hết, đó là ảnh hưởng sâu sắc của người cha Từ nhỏ, Tagore đã được lớn lên trong môi trường rộng lớn của thiên nhiên, những buổi dã ngoại, những chuyến đi dài ngày lên đỉnh Hymalaya cùng cha đã tác động mạnh mẽ vào tâm hồn cậu bé Tagore một tình yêu thiên nhiên sâu đậm Sau nữa, đó chính là tình cảm tự nhiên của Tagore đối với thiên nhiên
từ thuở thơ ấu Câu thơ đầu tiên trong cuộc đời thi sĩ của ông là “ Trời mưa, lá rụng” Về
thực chất đó chỉ là những từ ngữ bình thường ghi lại một hiện tượng thiên nhiên nhưng đối với Tagore đó là chiếc chìa khoá thần kì đưa ông vào thế giới của thơ ca thế giới của trò
chơi vần điệu… Trong Hồi kí Đời tôi ( My life), ông viết: “ Tôi nhớ lại thời thơ ấu, khi , sau
một quá trình gian khổ theo học những chữ cái Bengal, lần đầu tiên tôi ghép những chữ
thành những từ trời mưa, lá rụng Tôi sung sướng đến run lên vì những hình ảnh mà các từ
đó gợi lên cho tôi Những mảnh riêng lẻ vô nghĩa không còn cô độc, lẻ loi nữa và trí óc tôi sung sướng trong cái nhìn thống nhất đó Cũng như thế, trong buổi sáng đó ở trong làng, những sự kiện trong đời sống bỗng hiện ra trước mắt tôi trong một khối chân lí sáng ngời Tất cả những vật tưởng như những ngọn sóng lang thang đã hiện ra trong trí tôi gắn liền với biển rộng mênh mông, không biên giới Từ thời đó, tôi có thể giữ vững lòng tin biết rằng, trong tất cả những kinh nghiệm của tôi về thiên nhiên và con người , có cái chân lí cơ bản cuả một hiện thực tinh thần”[ 45, tr 448]
Tagore yêu thiên nhiên như một người tình, ông chủ trương con người cần hoà nhập với thiên nhiên, cần xem thiên nhiên là đối tương để gần gũi và bày tỏ Ông từng
khẳng định: “ Nhà nghệ sĩ là người tình của thiên nhiên” ( Bài 76 – Những cánh chim bay
lạc) Hầu hết các tác phẩm của Tagore đều có tiêu đề lấy từ hình ảnh thiên nhiên : Vượt biển, Cánh thiên nga, Hái quả, Trăng non, Những cánh chim bay lạc… Đó là những hình
Trang 25ảnh thiên nhiên tương trưng mang nhiều tầng ý nghĩa, chứa đựng những tình cảm, những tư tưởng triết lí sâu xa
Trong thơ, Tagore lí giải phạm trù cá nhân – vũ trụ ( Atman – Brahman) ; con người – thiên nhiên trên bình diện triết học Theo ông, giữa con người và thiên nhiên phải
có sự thống nhất hoà đồng với nhau và khi đạt đến sự thống nhất hoà đồng đó con người
sẽ thoát ra được mọi ràng buộc, đau khổ và đạt đến chân lí tuyệt đối: “ Đối với chúng tôi, điều cần thiết là ta phải hoà đồng với thiên nhiên ấy, con người sở dĩ tư duy được là vì tư tưởng của mình phù hợp với các sự vật Con người sở dĩ sử dụng được các hiện tương thiên nhiên theo ý mình, chính chỉ vì sức mạnh của mình phù hợp với sức mạnh vũ trụ”[ chuyễn dẫn từ 52, tr 54]
Là người đã khám phá ra sự bí ẩn của mối tương quan giữa con người và thiên nhiên, Tagore cho rằng hoà hợp vào thiên nhiên con người sẽ ý thức sâu sắc hơn niềm vui, nỗi đau khổ của chính mình Với ông, Thiên nhiên không chỉ là nơi con người tìm đến để
giải thoát cuộc đời mà còn là nơi con người tìm đến với cuộc đời Ông viết: “ Sách có ghi:
lúc nào đến tuổi 50 nên từ giã xã hội ồn ào lên rừng ở ẩn, thế nhưng thi nhân lại bảo, cuộc sống ẩn dật trong rừng chỉ nên dành cho những mái đầu xanh Vì rừng xanh là quê hương của loài ong, vì rừng xanh là đất nước loài hoa, vì rừng xanh là tổ ấm loài chim Ở đó, nơi khuất kín đang chờ đợi tiếng thì thầm rạo rực của các cặp tình nhân, ở đó kết lại thành nụ hôn dành riêng cho hoa malati, ánh trăng thao thức nỗi niềm, song những người thấu hiểu niềm riêng ấy đều dưới rất nhiều tuổi 50”[ 45, tr.674]
Trong tất cả các sáng tác của Tagore đặc biệt là Trăng non, hình ảnh thiên nhiên
luôn tràn ngập Ngay cả tựa đề tập thơ cũng gợi lên trong lòng người đọc một cảm giác thanh bình, êm ả Tagore quan niệm: thiên nhiên là nơi con người tìm đến với cuộc đời vì thế thiên nhiên là nơi trẻ thơ tìm thấy được niềm vui, sự ngạc nhiên thích thú, nơi chứa đựng những ước mơ, những khát vọng hồn nhiên Với tư cách là những biểu tượng, thiên nhiên
trong Trăng non đa dạng, huyền ảo, và chứa đựng nhiều tầng ngữ nghĩa Khảo sát tập thơ,
chúng tôi nhận thấy hình ảnh thiên nhiên xuất hiện gần 300 lần trong cả tập thơ, chia làm 77 loại hình ảnh khác nhau và vô cùng đa dạng, phong phú Thế giới thiên nhiên vừa có những hình ảnh kì vĩ như: bầu trời, biển xanh, mặt trăng, mặt trời, vì sao, sa mạc… lại vừa có cả những sinh linh bé bỏng như: đom đóm, hoa, lá, chim chóc… Với ông, trong thế giới bao la này, tất cả mọi sự vật dù là vĩ đại hay bình thường, bé nhỏ đều có chỗ đứng của mình trong
vũ trụ với một tinh thần hoà hợp, bình đẳng Bới lẽ: “Trong thính đường vũ trụ bao la, lá cỏ
Trang 26đơn thuần nằm với ánh mặt trời và các vì sao khuya trên cùng tấm thảm” [ 45, tr.604] Đây
chính là tư tưởng triết lí mà Tagore đã tiếp nhận và kế thừa từ trong Upanishad và trong tư tưởng Phật giáo: “Với tất cả mọi sự, dẫu tôn quý hay ti tiện, thân hay sơ, hữu tướng hay vô tướng , chúng ta đều phải giữ các mối quan hệ bằng tình thương bất tận, không được chút sâu hận, không được chút sát hại” [chuyễn dẫn từ 45, 870]
Những hình ảnh thiên nhiên được Tagore sử dụng đều gần gũi với con người, thiên nhiên Ấn Độ Ông tuyệt nhiên không vay mượn một chất liệu ngoại lai nào Mọi hình ảnh thiên nhiên Ấn Độ đều trở thành hình tượng nghệ thuật trong thơ của ông Những đoá hoa Chămpa, những chiều mưa rả rích , những rừng sâu, núi thẳm và những câu chuyện thần kì về chàng Rama anh dũng … đều là những hình ảnh đặc thù của đất nước Ấn Độ:
Con sẽ giong buồm đi khắp nơi
Bảy biển mười ba sông của xứ sở thần tiên
Nhưng mẹ ơi mẹ đừng sụt sùi khóc lóc
Trong xó tối cô đơn
Con cũng không dại vào rừng sâu
Biền biệt mười bốn năm trời như chàng Rama anh dũng
…Con sẽ chèo thuyền qua sông cạn Tipujơni
Và bỏ lại đằng sau sa mạc Topanta
Khi thuyền trở về trời đã sẫm tối
Va sẽ kể mẹ nghe những điều trông thấy
Con đã vượt bảy biển mười ba sông của xứ sở thần tiên
( Người lái thuyền)
Thiên nhiên trong Trăng non đa số đều là những hình ảnh tượng trưng Có lẽ
chính vì điều này mà trong cả tập thơ rất ít xuất hiện những tính từ tác động trực tiếp đến thị
giác và thính giác của con người ( mặc dù trong tật Thơ Dâng đã có lần Tagore cho rằng
màu sắc, âm thanh, hương thơm là hiện thân của vẻ đẹp thiên nhiên) Chỉ có 7 loại tính từ chỉ màu sắc xuất hiện 22 lần trong cả tập thơ Trong đó tính từ màu vàng ( yellow, golden) xuất hiện 6 lần, màu trắng (white) 5 lần, màu xám ( grey) 4 lần, màu xanh ( green, blue) 2 lần, màu đỏ ( red) 2 lần, màu đen ( black) 2 lần và màu hồng ( pink) 1 lần Điều này cho thấy, bằng việc sử dụng những hình ảnh thiên nhiên tượng trưng ( ít sắc màu ) Tagore đã tạo nên một thế giới vừa hư vừa thực Đó là thế giới của mây và sóng, của mẹ và con, của sa mạc thần tiên và những câu chuyện thần kì Thế giới đó tồn tại trong tâm trí trẻ thơ nên đôi
Trang 27lúc nó nhoè đi trong tưởng tượng Chẳng hạn như trong Trăng non, hoa rất ít có sắc màu cụ
thể Nếu có nó chỉ là màu trắng tinh khôi Hoa nhài, hoa Siuli, hoa bakala… đều là những
hình ảnh tượng trưng mang nhiều tầng ý nghĩa Trong bài Hoa Chămpa, hoa là hiện thân
cao độ của tình mẫu tử Bằng nghệ thuật so sánh và nhân cách hoá, Tagore đã cho đứa trẻ biến thành hoa Chămpa dịu ngọt, quấn quýt bên mẹ bằng mùi hương của nó:
Khi tắm xong, tóc ướt xoã trên vai, mẹ đi qua bóng cây Chămpa
Để vào trong sân nhỏ cầu kinh
Mẹ sẽ nhận thấy mùi hương thơm ngát
Nhưng mẹ đâu có biết rằng
Hương thơm ấy là từ con bay đến
Cũng là hình ảnh bông hoa nhưng trong bài Những đoá nhài đầu tiên, hoa lại là
hình ảnh tượng trưng cho những kỉ niệm ấu thơ Màu trắng ( white) xuất hiện ba lần trong nguyên tác như xoá nhoà ranh giới giữa hư và thực, đánh thức những ước mơ, những tình
cảm thanh cao tưởng như đã lãng quên rồi trong quá khứ: “ Thế nhưng lòng tôi vẫn ngạt
ngào mùi hương kỉ niệm / của những đoá nhài tươi mát đầu tiên / mà tôi đã ôm đầy tay / khi hãy còn thơ dại”
Trong Trăng non, vầng trăng cũng là một hình ảnh tượng trưng Hình ảnh trăng
non ( the cressent moon) – đồng thời là tên tác phẩm xuất hiện nhiều lần trong tập thơ như một biểu tượng của sự hồn nhiên, trong sáng, nó là hình ảnh tượng trưng cho nụ cười , hạnh phúc, cho thế giới thần tiên của mọi trẻ thơ:
Nụ cười khẽ rung đôi môi em bé ngủ Ai biết nụ cười từ đâu đến? Ừ, nghe nói
có tia trăng non vàng viền quanh đám mây thu tàn; đó là nơi nụ cười hé nở đầu tiên, trong giấc mơ buổi sáng đầm sương
( Từ đâu?)
Trên mảnh đất của vầng trăng non bé bỏng
Bé tự do không hề bị ràng buộc chút nào
( Cung cách của bé )
Với các hình ảnh: “ tia trăng non”, “ vầng trăng non bé bỏng”, “ ánh trăng đong
đưa”, “ ánh trăng lạc loài”, “ trăng rằm” trong các bài Từ đâu?, Cung cách của bé, Bờ bên kia, Chung cuộc, Vu oan, trăng trở thành biểu tượng cho tâm hồn và thế giới trẻ thơ, cho
tình cảm yêu thương của con và mẹ: “con sẽ là mây, mẹ sẽ là trăng / Con sẽ lấy hai tay trùm
lên người mẹ/ Và mái nhà sẽ là bầu trời xanh thẳm” ( Mây và sóng)
Trang 28Không bị ràng buộc , không có những thành kiến về đẳng cấp và tôn giáo, những đứa trẻ trong thơ Tagore giống như vầng trăng trên bầu trời, bình đẳng với các vì sao, với mây
và gió, với vũ trụ vĩnh hằng Giữa bao la đất trời, thiên nhiên là sứ giả hoà bình của trẻ:
Ngày ngày, tôi thả thuyền giấy của tôi từng chiếc xuống dòng khe chảy xiết Tôi viết to và đậm tên tôi và tên làng tôi trên mạn thuyền
Tôi hi vọng có người ở nơi xa lạ nào bắt được thuyền và biết rõ tôi là ai
Trên thuyền, tôi chở những nụ hoa Siuli hái ở vườn nhà và mong rằng những nụ hoa thường nở vào buổi bình minh sẽ yên ổn cập bờ lúc đang đêm
Tôi thả thuyền giấy rồi nhìn lên trời thấy những áng mây nhỏ đang căng buồm trắng
Không biết bạn chơi nào của tôi ở trên trời cũng thả thuyền trong gió để đua với thuyền tôi
Đêm về, tôi dúi mặt vào cánh tay và mơ thấy thuyền giấy của tôi trôi miên man dưới ánh sao khuya
Những nàng tiên thường về trong giấc ngủ, ngồi trong thuyền tôi, mang theo nhiều lẵng mộng đầy
( Thuyền giấy )
Hình ảnh thuyền giấy là biểu tượng cho những ước mơ của trẻ thơ về một thế giới hoà bình, hoà hợp Trong con thuyền đó, trẻ gởi gắm biết bao tình cảm của mình Những đoá hoa Siuli mang hương sắc quê nhà, những áng mây nhỏ đang căng buồm trắng, những lẵng mộng đầy của nàng tiên giấc ngủ …đều là những hình ảnh thấm đẫm chất thơ thể hiện
cái nhìn tin yêu, trong trẻo của trẻ thơ vào cuộc sống: “ Tôi hi vọng có người ở nơi xa lạ nào
bắt được thuyền và biết rõ tôi là ai./ Trên thuyền, tôi chở những nụ hoa siuli hái ở vườn nhà
và monh rằng những nụ hoa thường nở vào buổi bình minh sẽ yên ổn cập bờ lúc đang đêm”
Trong cuộc sống đời thường, thiên nhiên luôn gắn liền với những cảm xúc trẻ thơ Khi đứa trẻ thì thầm với mẹ, thiên nhiên hiền hoà và đầy ắp tình thương
“ Con sẽ thành một luồng khí nhẹ vuốt ve mẹ, và con sẽ là làn sóng lăn tăn trong
nước mẹ tắm, hôn mẹ và hôn mẹ nữa
Trong đêm lộng gió, khi mưa rì rào trên lá, mẹ sẽ nghe thấy con thì thầm trong giường và tiếng con cười loé lên cùng ánh chớp qua cửa sổ ngỏ vào phòng mẹ
Trang 29Nếu mẹ nằm thao thức trên giường , nghĩ đến con mẹ đêm khuya thao thức
mãi, con sẽ từ trên ngàn sao hát ru mẹ: ngủ đi, mẹ ngủ cho say”
( Chung cuộc)
Khi đứa trẻ hoà mình vào những trò chơi, thiên nhiên ồn ào, nghịch ngợm
“ Bọn trẻ gặp nhau trên bến bờ những thế giới vô biên
Bầu trời mênh mộng trên đầu các em không động đậy
Mà nước thì gào réo liên hồi
Bọn trẻ gặp nhau trên bến bờ những thế giới vô biên
Cười reo nhảy múa
… Biển trào lên với những trận cười giòn giã
Và soi những nụ cười trên bãi cát xanh xao”
( Trên bờ biển)
Khi đứa trẻ tưởng tượng những câu chuyện thần tiên, thiên nhiên huyền diệu và bí
ẩn:
“ Con có thể tưởng tượng ra một ngày cũng u ám như hôm nay, chàng hoàng
tử trẻ tuổi một mình cỡi con ngựa xám qua sa mạc, đi tìm cô công chúa đang bị giam trong
toà lâu đài của tên khổng lồ bên kia dòng nước không tên”
Qua trí tưởng tượng, thiên nhiên “ hai lần đẹp” hơn trong con mắt trẻ thơ Những
sắc màu của hoa, những đường nét của lá, những vũ điệu của chim… đã gợi lên trong tâm
hồn trẻ thơ những bức tranh sinh động Chỉ trẻ thơ mới nhìn thấy ở thiên nhiên những sự
sống diệu kì:
Người ta nói rằng bên kia bờ cao có nhiều ao nằm khuất
Ở đó, từng đàn vịt trời bay tới khi mưa lạnh, và lau sậy rậm rịt quanh bờ chỗ
le le đẻ trứng
Ở đó, loài cuốc múa tít đuôi, in dấu chân xinh trên nền đất sạch mềm
Ở đó, ban đêm cỏ lao trổ cờ trắng xoá mời ánh trăng đong đưa
( Bờ bên kia )
Giữa trẻ thơ và thiên nhiên luôn có sự hoà hợp, bình đẳng với nhau Trong bài
Bao giờ và vì sao, Tagore đã lí giải triết lí mối quan hệ giữa trẻ và thiên nhiên ( Atman –
Bahraman) qua sự phát hiện ngỡ ngàng của mẹ: Khi mẹ hát, mẹ mới hiểu tại sao trong lá có
nhạc; Khi mẹ đặt bánh kẹo vào tay con, mẹ mới hiểu tại sao có mật trong chén hoa và cây
Trang 30dâng đầy nhựa ngọt ngào; Khi mẹ mang đồ chơi nhiều màu sắc cho con, mẹ mới hiểu vì sao cũng có nhiều màu trong nước, trong mây!
Ở mối quan hệ này , thiên nhiên đóng vai trò như một bà mẹ hào phóng ban tặng cho trẻ những điệu nhạc, những sắc màu và hương vị ngọt ngào Ngược lại, trẻ cũng trở thành một phần trong lòng bà mẹ thiên nhiên ấy Trẻ là đối tượng để thiên nhiên hướng tới
vì có trẻ mới có hoa, có nhạc, có sắc màu, hương thơm Cách lí giải trên của Tagore mang đậm dấu ấn triết học- tôn giáo Ấn Nó thể hiện cái nhìn tin yêu vào thiên nhiên một cách mãnh liệt của ông Từ thuở ấu thơ, ông đã dành cho thiên nhiên một mối cảm tình thiết tha, sâu đậm và khi đã đến tuổi xế chiều thiên nhiên vẫn là người tình mới lạ trong ông Thiên nhiên là nơi ông tìm đến với cuộc đời, nơi che chở và cất giữ bao kỉ niệm ngọt ngào của thời thơ ấu, nơi ông tìm thấy chính mình trong tình yêu cuộc sống bao la Ông từng nói rằng: “ Tôi yêu thiên nhiên không phải vì đường cong xinh xinh của những cánh hồng mà vì bông
hoa hồng là ngôn ngữ của tình yêu” ( My life)
Trong tập Nhớ lại, Tagore kể rằng trong thời thơ ấu của mình ông đã từng trải
qua ba lạc thú văn chương Lạc thú thứ nhất là lần đầu ông học đánh vần, câu đầu tiên ông thuộc là “ Mưa rào lộp độp, Lá cây hồi hộp”[45, tr 419] Với ông đó là dòng thơ đầu tiên của bài thơ vũ trụ mà ông được biết Lạc thú thứ hai là lần ông được anh trai hát cho nghe một bài ballade, âm thanh, nhịp điệu của những lời ca ấy như cuốn lấy ông Lạc thú thứ ba
mà ông nhớ mãi là câu hát sau đây của tuổi ấu thơ: “Giọt mưa rơi tầm tã, triều dâng ngược dòng sông” [45,tr 420] Những niềm vui đầu tiên trong cuộc đời ông đều gắn liền cùng hình
ảnh thiên nhiên Có lẽ chính vì điều này mà ở Trăng non, ông đã thể hiện sự hiểu biết tâm
hồn trẻ thơ đến vậy Thế giới trẻ thơ được ông thể hiện qua hình ảnh thiên nhiên và trong thiên nhiên các em đã để tâm hồn mình bay bổng Dưới ánh mắt của các em, thiên nhiên vừa là người mẹ thứ hai, vừa là thiên đường trần gian nhiều quyến rũ Trong thiên đường đó tình yêu của các em đã được thăng hoa và mọi ước mơ sẽ trở thành hiện thực
Trên thực tế, Tagore chịu ảnh hưởng rất lớn của văn chương Châu Âu với các nhà thơ , nhà văn tên tuổi như: Shakespeare, Bairơn, Dante…nhưng dường như cách nhìn nhận và biểu thị thiên nhiên của văn chương phương Tây không làm thay đổi những nguyên tắc nghệ thuật thơ đặc trưng của phương Đông, Ấn Độ trong các thi phẩm của Tagore Thơ trữ
tình Tagore vẫn mượn thiên nhiên để bộc lộ nội tâm nhân vật trữ tình Trong Trăng non,
Tagore dùng thiên nhiên để thể hiện thế giới tâm hồn trẻ thơ thuần khiết - một thế giới “ lí
Trang 31trí lấy luật của mình làm diều đem thả và chân lí giải thoát sự kiện ra khỏi xích xiềng”[ 45, tr.635]
2.2 Một thế giới yêu thương vô biên trong tình mẫu tử thiêng liêng
Từ xưa đến nay, tình mẫu tử vốn là chủ đề, cảm hứng thường trực trong thơ ca, đặc
biệt là thơ thiếu nhi Đó là tình cảm thiêng liêng, sâu đậm nhất có từ đầu đến cuối trong nhân cách con người Xuân Quỳnh đã nói được cái vô biên của tình mẹ thương con một cách giản dị mà thấm thía:
Dẫu con đi đến suốt đời
Vẫn không đi hết những lời mẹ ru
Âm vang thiên đường
Đến với R Tagore, tình mẫu tử không chỉ đơn thuần là mối quan hệ
mẹ – con sâu nặng mà còn là “ niềm hạnh phúc tràn đầy” [45, tr 619] và “ sự dịu dàng hơn tất thảy tự do”[ 45, tr 619] – nó mang đậm triết lí nhân sinh của ông về con người và cuộc sống
Quan niệm ấy đã được Tagore kế thừa và cụ thể trong tiểu luận triết học quan trọng
của ông The religion of man Ông luôn khẳng định tôn giáo của ông là tôn giáo của con
người Khi nhận xét về vấn đề này trong sáng tác của Tagore, PGS Lưu Đức Trung có viết:
Trang 32“ Con người đối với Tagore là vĩ đại, là ánh sáng thiêng liêng, là lòng khoan hồng rộng mở,
là tâm hồn thanh thản, là tình yêu, là kẻ thù kiêu ngạo và bạo tàn”[ 59, tr 149]
Ở Ấn Độ, các tôn giáo đều xem con ngừời là sản phẩm sáng tạo cuả Thượng đế, chịu sự quyết định của Thượng đế theo quy luật luân hồi… Đối với con người, đời sống trần thế chỉ là ảo ảnh ( Maya) Kế thừa quan niệm đề cao con người trong quan niệm truyền thống của văn hoá Ấn, Tagore một mặt thưà nhận sự gắn bó giữa con người và Thượng Đế, một mặt lại xem con người là hiện thân của Thượng Đế Thượng Đế chỉ là một khái niệm trừu tượng, siêu hình Với ông, đời sống trần thế của con người và tất cả những sự vật, hiện tượng đang hiện tồn trong vũ trụ bao la này đều là những hiện thân khác nhau của Thượng
đế Từ nhận thức trên, Tagore đã đưa ra một khái niệm mới về con người theo quan điểm của riêng ông, đó là khái niệm Con người –Thượng Đế Năm 1914, nữ văn sĩ người Đức Andre Karpeles Hoegman viết thư cho Tagore Trong thư, bà có đưa ra câu hỏi: “Ông thuộc tôn giáo nào?” Tagore viết thư trả lời, trao đổi về quan niệm tôn giáo của mình: “ Tôi không thuộc tôn giáo nào cả, mà chẳng nghiêng về đức tin đặc biệt nào cả Có điều khi Thượng đế sinh ra tôi thì Người đã biến Người thành cuộc đời tôi rồi Ngày ngày Người triển khai con người tôi trong cuộc sống và nâng niu con người tôi với nhiều sinh lực và vẻ đẹp khác nhau trong thế giới này Chính sự kiện tôi hiện hữu đã mang trong nó lòng yêu thương vĩnh cửu rồi” Như vậy, về cơ bản cuộc đối thoại bằng thư năm ấy là một trong
những lí do để ông viết Tôn giáo con người ( The religion of man, 1931) Đây là tiểu luận
triết học quan trọng thể hiện cao nhất sự hiện hữu của con người ở Cái tôi ( Atman) và đồng thời xác nhận sự liên thông sâu sắc giữa con người với thế giới tự nhiên
Vive kanada ( 1863) , nhà hiền triết sống cùng thời với Tagore cũng gợi mở những cách nhìn mới về Con người Ông cho rằng : “ Chỉ có một Thượng đế có ý thức là nòi giống chúng ta, đâu đâu cũng có bàn tay của người Người là bao trùm hết thảy Sự sùng bái chính đáng nhất là sự sùng bái vạn vật quanh ta Những thần linh mà ta thờ phụng trước hết là đồng bào ta”[ chuyển dẫn từ 52, tr 41] Triết lí của Vivekananda ảnh hưởng sâu sắc đến
quan niệm Tôn giáo của con người của Tagore Ông đã tiếp nhận các hình tượng Brahma,
Thượng Đế, Chúa… của Hindu giáo và trần thế hoá thành Con người Thượng đế Theo ông, Thượng đế có sẵng trong mỗi chúng ta, Thượng đế chính là bản ngã con người, là chuẩn mực thanh cao mà con người cần vượt lên để đặt nhân cách mình vào đấy Trong thơ của ông, Thượng đế với Con người hoà nhập là một Theo nhận xét của Ts Nguyễn Thị Bích Thuý thì “ Hình ảnh Chúa xuất hiện trong thơ Tagore với tần số cao và là kết quả của
Trang 33quá trình tư duy sáng tạo đã trở thành biểu tương nghệ thuật Chúa trời, Thượng đế đã từ một ý niệm tôn giáo về đấng sáng tạo cao siêu đầy quyền uy quyết định số phận con người trên trần thế trở thành vị “Chúa đời”, là chính cuộc sống đang hiện hữu và biến đổi không ngừng, là ước mơ, là khát vọng để con người vươn tới”[50, tr 61]
Như vậy, trong sáng tác thơ, Tagore đã đưa những ý niệm siêu hình về Thượng đế, Chúa trời vào đời sống thực của con người và nâng lên thành những biểu tượng đậm chất Tagore Xét về nguồn gốc, Chuá trời, Thượng đế là những biểu tượng của văn hoá và tôn giáo Ấn Độ cổ Từ xưa, người Ấn Độ đã cho rằng Thượng đế tồn tại trong mỗi Atman( bản ngã) , là mức thanh cao mà con người vươn đến để đặt nhân cách mình vào đấy và tìm đến được Thượng đế cũng chính là đạt tới sự giải thoát cuồi cùng Kinh sách, thần thoại Veda, Kinh Upanishad, sử thi… đã chuyển những phạm trù tôn giáo này thành những hình ảnh tượng trưng, biểu tượng đậm sắc màu văn hoá Ấn Riêng với Tagore, ông đã biến những biểu tượng tôn giáo thành biểu tượng nghệ thuật và lí giải chúng từ hai yếu tố tôn giáo, cuộc sống
Về cơ bản, khái niệm Con người – thần thánh của Tagore là sự kế thừa , phát triển khái niệm Con người – Vũ trụ trong triết học Upanishad Đó là con người tự nhiên gắn bó mật thiết với vũ trụ Tuy nhiên cái mới của Tagore là ở chỗ trong mối tương quan với vũ trụ ông đề cao con người , tôn thờ con người, xem con người là hiện thân của Thượng đế và đặc biệt hơn nữa
là ông khẳng định một cách mạnh mẽ sự tồn tại của Cái tôi trong mỗi con người: “ Tôi tuyệt đối độc đáo Tôi là tôi, tôi vô song Tất cả khối lượng của vũ trụ hẳn không sao đè được cái cá tính này vốn là của tôi”
Ở mảng thơ viết cho thiếu nhi, hình ảnh Chúa đời được Tagore sử dụng như một
biểu tượng cho trẻ thơ, cho đứa con của mẹ Trong bài Buổi sơ khai ( The beginning), ông
đã thể hiện rõ quan niệm Con người thần thánh của mình qua hình ảnh đứa con, vị Chúa
của đời mẹ: “ When with clay I made the image of my god every morning I made and
unmade you then”[66, tr 15]:
Và mỗi buổi sáng khi mẹ lấy đất sét nặn ra
Hình ảnh Chúa đời của mẹ
Thì mẹ đã năn đi nặn lại con rồi
Với Tagore, sự bắt đầu ( the beginning) , nguồn gốc ( the source) của trẻ vô cùng thiêng liêng và huyền bí Nó là kết tinh của tình yêu, nỗi mong chờ, niềm hạnh phúc của
mẹ, là cái đẹp diệu kì của tạo hoá, thần tiên:
Trang 34Con đã được nuôi dưỡng từ đời này sang đời khác
Trong lòng của vị thần linh bất tử ngự trị ở nhà ta
Khi, trong thời con gái trái tim mẹ nở xoè như một doá hoa
Con đã lượn quanh nó như một mùi hương phảng phất
Vẻ tươi mát của con
Nở trên chân tay non trẻ của mẹ
Như một ánh hồng
Trên trời cao
Trước buổi bình minh
Bằng hình thức đối thoại của thơ văn xuôi, bài thơ trên mang dáng dấp một cuộc đối thoại triết học, lí giải về nguồn cội con người Câu trả lời của mẹ là dòng cảm xúc tuôn
trào khi con khơi gợi vào đúng điều bí ẩn và huyền diệu nhất của cuộc đời: Con từ đâu tới,
mẹ nhặt con ở đâu? Con là hoá thân của Thượng đế, là kết tinh tình yêu của cha và mẹ và
giữa cõi đời này con đã đến để mang lại cho mẹ suối nguồn bất tận những yêu thương:
Con là đứa con cưng của Thượng đế
Là anh em sinh đôi với ánh bình minh
Con đã theo dòng nước trôi xuôi đến cuộc đời trần tục này
Và cuối cùng con đã được đặt vào trong lòng mẹ
Khi mẹ ngây nhìn khuôn mặt của con
Mẹ như bị ngập trong bao điều bí ẩn
Và con, vốn là của chung của tất cả mọi người
Đã trở thành của riêng của mẹ
Sợ mất con đi mẹ đã siết chặt con trên ngực mẹ
Không biết sự diệu kì nào
Đã chiếm lĩnh cái kho vàng trên cõi thế
Và đặt vào đôi tay mảnh khảnh của mẹ đây
Bằng những hình ảnh tượng trưng, Tagore đã gọi trẻ thơ là : đứa con cưng của
thượng đế, anh em sinh đôi với ánh bình minh, ánh hồng trên trời cao, kho vàng trên cõi thế, nụ vui, ánh trăng non trẻ… để lí giải những vấn đề về bản chất trẻ thơ, về tình yêu của
mẹ dành cho con và tình cảm trìu mến của con dành cho mẹ theo quan niệm triết lí của riêng mình Trong khi những nhà thơ khác khi sáng tác mảng thơ thiếu nhi thường bắt đầu từ những gì rất cụ thể :