Đề tài về : Nhân vật tái hiện trong tác phẩm của Honore de Balzac
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHU CHIÊU LINH
LÁ SỐ TIỀN ĐỊNH CỦA KIM LĂNG THẬP NHỊ KIM THOA
TRONG HỒNG LÂU MỘNG
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Mã số: 60 22 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Thành phố Hồ Chí Minh – 2007
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc PGS TRẦN XUÂN ĐỀ, người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn:
- Các giáo sư đã giảng dạy,
- Ban Giám hiệu, Phòng Khoa học Công nghệ Sau đại học, Ban Chủ nhiệm khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh,
- Quý Thầy Cô khoa Trung Văn Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh,
- Ban Chủ nhiệm cùng quý Thầy Cô khoa Ngoại Ngữ Trường Đại học Tôn Đức Thắng,
- Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
Đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
CHU CHIÊU LINH
Trang 3TÀO TUYẾT CẦN (1715? – 1763?)
Trang 4CAO NGẠC (1738? – 1815?)
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tào Tuyết Cần sáng tác Hồng lâu mộng không nhằm mục đích tạo dấu ấn riêng
trên bức tường của sự lãng quên Nhưng từ khi tác phẩm ra đời và chịu sự thử thách của thời gian, đến nay kiệt tác này đã chứng tỏ được mình là viên đá nặng nhất trong tòa lâu đài văn học của đất nước Trung Hoa chứ không phải là viên đá vô dụng không
đủ tài vá trời phải nằm lăn lóc dưới chân núi Thanh Ngạnh
Cùng với thời gian, việc thưởng thức, đánh giá, tranh luận, viết tiếp cùng các
hoạt động dịch thuật … đã khẳng định vị trí và giá trị của danh tác Hồng lâu mộng
trên văn đàn thế giới
Phùng Kỳ Dung – nhà hồng học Trung Quốc, đồng thời là chủ biên học san Hồng lâu mộng đã dành cho “tuyệt thế kỳ thư” này lời nhận xét đầy trân trọng:
“Hồng lâu mộng là một thiên ly tao không vần Từ khi Hồng lâu mộng ra đời, tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc không còn xuất hiện tác phẩm nào khác có thể vượt qua
nó Hồng lâu mộng là một tác phẩm thiên cổ tuyệt bút, tiền bất kiến cổ nhân, hậu bất kiến lai giả” [chuyển dẫn 69, tr.3]
Dịch giả Maria Carnoguska người Slôvakia hết lời ngợi ca tác phẩm: “Hồng lâu
mộng là một bộ tiểu thuyết thiên tài, là bản giao hưởng giữa thơ và văn xuôi, là một
bộ bách khoa toàn thư vĩ đại tập trung tất cả nền văn hóa quan trọng vốn có của Trung Quốc, nó là một quyển tiểu thuyết chứa đựng thế giới quan và triết lý nhân sinh quan trọng – mà một tác phẩm văn học ở vị trí “đại sư” như thế này không có ở bất cứ nơi nào trên thế giới” [chuyển dẫn 69, tr.4]
Nhật Chiêu khẳng định: “Nghệ thuật của Hồng lâu mộng trác tuyệt ở chỗ nó tự
nhiên như chính đời sống đến mức gần như “phi nghệ thuật” Hầu như không có dấu vết của công phu và nhân tạo Vậy mà hễ chạm vào nó là mê: Hồng mê” [13, tr 175]
Những lời nhận xét đánh giá trên cho thấy Hồng lâu mộng đã vượt qua ranh giới
quốc gia, thông qua dịch thuật lại vượt lên trên chủng loại ngôn ngữ, tiếp theo là vượt qua những khác biệt về tập quán xã hội và mối quan hệ giữa người và người vốn được hình thành theo khu vực địa lý, lịch sử để được người đọc khắp nơi đón nhận
Thế nhưng, theo Chu Nhữ Xương – nhà nghiên cứu Hồng lâu mộng thuộc thế hệ Tân hồng học thì: “Hồng lâu mộng không phải là một tác phẩm dễ đọc, dễ hiểu”
[chuyển dẫn 69, tr.332] Đây tuyệt đối không phải là lời phát biểu khinh suất mà nhận
định này xuất phát từ kinh nghiệm thực tế của cả đời ông khi nghiên cứu Hồng lâu
mộng
Theo nhận xét chủ quan của người viết, Hồng lâu mộng khó đọc không phải chỉ
vì phạm vi phản ánh của tác phẩm quá rộng: “Hồng lâu mộng phản ánh kiến trúc
Trang 6thượng tầng từ phong tục, tập quán, đạo đức, giáo dục, văn hóa, hội họa, y học, ẩm thực, phục trang cho đến các quan điểm triết học, tôn giáo, kinh học, sử học …” [60,
tr.82] mà còn do đặc thù ngôn ngữ và tính dân tộc sâu sắc của tác phẩm
Như chúng ta đã biết “văn chương là nghệ thuật dùng ngôn từ làm phương tiện
biểu đạt” [27, tr.10] Trong khi đó, ngôn ngữ lại là kết tinh của văn minh nhân loại
Do đó, một tác phẩm viết bằng ngôn ngữ dân tộc nào, tất nhiên nó sẽ phản ánh truyền
thống, văn hóa, cách sống, lối suy nghĩ của dân tộc đó Thông qua Hồng lâu mộng,
Tào Tuyết Cần đã chứng tỏ được khả năng khai thác tiềm năng ngôn ngữ, văn hóa của dân tộc mình
Nhưng cũng chính những hạt nhân văn hóa đậm đặc trong tác phẩm đã làm hạn chế cái hay của bản dịch Dịch giả – nhà Hán học người Anh David Hawkes phải
thừa nhận trong lời tựa bản dịch tiếng Anh “The story of the stone”: “Nếu như tôi có
thể truyền đạt lại phần nào cảm giác thỏa mãn của tôi về bộ tiểu thuyết Trung Hoa này cho độc giả thì thật sống không uổng kiếp này”[chuyển dẫn 69, tr.298] Lời tâm
sự chân thành trên cho thấy dịch Hồng lâu mộng là một công việc đầy khó khăn Liên
hệ đến bản dịch Hồng lâu mộng ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy: Tuy Việt Nam và
Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng về văn hóa, ngôn ngữ, văn tự … nhưng từ khi Latinh hóa tiếng Việt thành công, chữ Quốc ngữ ra đời thay thế chữ Hán, chữ Nôm
và việc dùng chữ Quốc ngữ để ghi lại tiếng Việt theo nguyên tắc ghi âm, đã ghi lại một cách chính xác, đơn giản, thuận tiện, kinh tế hơn chữ Nôm Nhưng cũng chính những thuận lợi này đã khiến cho thế hệ trẻ ngày nay gặp không ít khó khăn khi tìm hiểu văn học cổ nước nhà, càng khó khăn hơn khi tiếp xúc với văn học Trung Quốc
nói chung và Hồng lâu mộng nói riêng
Mặt khác, Trung Hoa là một đất nước không chỉ nổi tiếng về nền văn hóa lâu đời, phong phú mà nền văn hóa ấy còn hấp dẫn các dân tộc khác ở tính chất thần bí sâu đậm của nó Những câu chuyện về ẩn sĩ tiên nhân, kỳ môn độn giáp, tiên tri cấm kỵ, xem tướng đoán chữ … luôn là một mạch ngầm tuôn chảy suốt hàng ngàn năm trong đời sống tư tưởng người dân Trung Quốc Hấp thu tinh hoa văn hóa truyền thống và chịu sự ảnh hưởng của những tác phẩm ra đời trước, Tào Tuyết Cần đã dệt nên chiếc
áo mang màu sắc thần bí để khoác lên kiệt tác Hồng lâu mộng Nếu khéo léo kéo nó xuống, chúng ta dễ dàng nhận ra: “Tào Tuyết Cần không phải là người mê tín và
Hồng lâu mộng là một tác phẩm rất hiện thực” [65, tr.48]
Chính vì những lí do trên, cùng với việc xuất phát từ góc độ người đọc Hồng lâu
mộng thông qua bản dịch, chúng tôi hiểu được những khó khăn mà độc giả Việt Nam
gặp phải khi thưởng thức danh tác này Vì thế, chọn đề tài “Lá số tiền định của Kim
Lăng thập nhị kim thoa trong Hồng lâu mộng”, chúng tôi mong muốn góp phần nhỏ
vào quá trình “giải mã” tác phẩm, nhằm giúp người đọc có thể cảm nhận Hồng lâu
Trang 7mộng một cách thấu đáo hơn Đồng thời, người viết cũng mong muốn thông qua việc
tìm hiểu “tuyệt thế kỳ thư” này để khơi dậy nhiệt tình của bản thân trong việc nghiên
cứu rộng hơn và sâu hơn những bộ tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa
2 Lịch sử vấn đề
Có những tác phẩm văn học thiên tài, kết tinh văn hóa tinh thần của một đất nước, phô bày vẻ đẹp của một thứ tiếng, biểu hiện tài hoa của một dân tộc Chúng chẳng những trở thành niềm đam mê tự hào của dân tộc đó mà còn là chiếc cầu nối
đem lại bao nhiêu tình yêu và lòng kính trọng của các dân tộc khác Hồng lâu mộng
của Tào Tuyết Cần là một tác phẩm như thế Có lẽ vì thế mà trong khối lượng đồ sộ
tiểu thuyết đời Thanh “Hồng lâu mộng được nghiên cứu đầy đủ nhất, tỉ mỉ nhất” [61,
tr.35] Thế nhưng, ý thức tư tưởng và ý thức xã hội phát triển đến đâu thì sự nghiên cứu và khám phá tác phẩm sẽ phát triển đến đó Cho nên, từ khi ra đời đến nay, cuộc
sống và ý nghĩa của Hồng lâu mộng luôn nằm trong thế khả năng, trong sự tiếp thu
của người đọc từ môi trường này sang môi trường khác, từ thời đại này sang thời đại khác Chính điều này đã góp phần gợi mở và làm phong phú thêm cho bản thân tác
phẩm Mặt khác, người đọc yêu mến Hồng lâu mộng không ngừng gia tăng khiến cho những công trình nghiên cứu Hồng lâu mộng càng trở nên đồ sộ, phong phú, đa dạng
và kỹ lưỡng Vì thế, chúng tôi khó lòng bao quát hết tài liệu đã được công bố Do đó, chúng tôi không đặt cho mình nhiệm vụ khảo sát hết các công trình nghiên cứu về
Hồng lâu mộng mà chỉ tổng thuật những vấn đề có liên quan đến đề tài
Lịch sử nghiên cứu, phê bình Hồng lâu mộng bắt đầu ngay từ khi tác phẩm còn dang dở Trong quyển “Chi Nghiễn Trai Hồng lâu mộng tập bình”, nhà Hồng học Du
Bình Bá đã thu thập được khoảng ba ngàn lời bình Sau Chi Nghiễn Trai, hoạt động
nghiên cứu Hồng lâu mộng ngày càng sôi nổi hình thành nên ngành nghiên cứu gọi là
Hồng học
Lịch sử Trung Quốc trải qua mấy nghìn năm nhưng bất cứ cái gì từ khởi thủy
đến giờ đều có thể truy tầm được Lịch sử nghiên cứu Hồng lâu mộng cũng liên tục
như thế nên chúng ta có thể tìm về và dõi theo từng chặng đường phát triển của quá
trình nghiên cứu Hồng lâu mộng của các học giả Trung Quốc
Sau phái điểm bình Hồng lâu mộng mà đại diện là Chi Nghiễn Trai thì đến nhóm
Cựu Hồng học, tiêu biểu là phái “Sách ẩn”, đại diện là Vương Mộng Nguyễn, Thẩm
Bình Am với “Hồng lâu mộng sách ẩn”, Thái Nguyên Bồi với “Thạch đầu ký sách
ẩn” Những nhà Hồng học này cho rằng Hồng lâu mộng viết về người thật, việc thật
trong lịch sử nên chỉ cần tìm tòi, khảo chứng được câu chuyện là có thể hiểu được ý
nghĩa thực sự của tác phẩm Trong quyển “Sơ lược lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc”,
Lỗ Tấn đã thống kê có tất cả là ba thuyết được lưu truyền rộng rãi: Thuyết gia sự của
Nạp Lan, Thành Đức; thuyết cố sự giữa vua Thanh Thế Tổ và bà Đổng Ngạc Phi;
Trang 8thuyết tình hình chính trị đời Khang Hy [54, tr.309-310] Chính vì mỗi nhà nghiên
cứu đưa ra một nguyên mẫu khác nhau nên không chỉ tạo nên sự khiên cưỡng, phụ họa mà còn cho thấy sự mâu thuẫn giữa các thuyết trên Đồng thời, thực tiễn cũng không thừa nhận những tìm tòi, suy đoán vô căn cứ của họ
Trào lưu nghiên cứu Hồng lâu mộng sau cuộc vận động Ngũ Tứ đến năm 1954,
Hồ Thích với “Hồng lâu mộng khảo chứng”, Du Bình Bá với “Hồng lâu mộng biện”
là những đại diện tiêu biểu cho nhóm Tân hồng học Tân hồng học ra đời khi chủ nghĩa lịch sử xuyên thấm vào mọi ngành khoa học Trong thời kỳ này thịnh hành quan niệm tác phẩm văn học dùng để ký thác tâm sự, do đó người ta luôn cố tìm hiểu mối quan hệ giữa nhà văn và tác phẩm Xuất phát từ góc độ này, phái Tân hồng học
đã phê phán cách nghiên cứu của phái “Sách ẩn”, cho đó là phương pháp duy tâm tư sản, họ chủ trương tìm hiểu tác phẩm thông qua thân thế và cuộc đời riêng của tác giả
Bằng phương pháp khảo chứng họ rút ra kết luận Hồng lâu mộng chính là tự truyện
của Tào Tuyết Cần, nhà họ Giả chính là nhà họ Tào, Giả Bảo Ngọc chính là Tào Tuyết Cần
Vào thời điểm ấy, cách nghiên cứu trên là tự nhiên và hợp lý Tuy vậy, phương pháp này chỉ mới thấy được cái trực tiếp ngẫu nhiên mà chưa thấy được cái gián tiếp tất yếu có ý nghĩa quyết định đến chân giá trị của tác phẩm Vì vậy, phái Tân hồng học khó đi đến những kết luận mang tính khoa học và không thấy được sự ảnh hưởng của thời đại, của cuộc sống đối với sự hình thành tác phẩm Thế nhưng, những khảo chứng của phái Tân hồng học cũng đã đóng góp rất nhiều cho việc tìm hiểu thân thế Tào Tuyết Cần và khẳng định tính hiện thực của tác phẩm
Những hạn chế của Cựu và Tân hồng học là do chịu ảnh hưởng của truyền thống kinh học Nho gia Đứng trước một tác phẩm văn học ưu tú, người ta thích tìm những
vi ngôn đại ngữ nằm ngoài tác phẩm chứ không chịu thừa nhận một tác phẩm văn học dựa vào đời sống hằng ngày để viết ra nhưng bản thân nó lại bao hàm những giá trị bất hủ
Vào những năm 20 của thế kỷ XX, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác, việc
nghiên cứu Hồng lâu mộng đã có những thành tựu đáng kể Nổi bật là Thái Ngu,
Vương Côn Luân với bài viết phân tích trực tiếp về hình tượng nhân vật Lâm Đại Ngọc, Tiết Bảo Thoa, Vương Hy Phượng, những bài viết trên cho thấy họ đã thâm nhập vào tác phẩm và xem nhân vật là sáng tạo văn học của nhà văn Thái Ngu chỉ ra
rằng “Bi kịch của Lâm Đại Ngọc là do mâu thuẫn giữa tính cách và thời đại”
[chuyển dẫn 68, tr.50] Kết luận trên cho thấy Thái Ngu là người đọc đầu tiên thấu hiểu hình tượng nhân vật Lâm Đại Ngọc Quan điểm này của ông được nhiều nhà nghiên cứu sau này kế thừa Còn Vương Côn Luân thì dùng một câu để khái quát sức
hấp dẫn của hình tượng nhân vật Vương Hy Phượng: “Hận Phượng Thư, mắng
Trang 9Phượng Thư, không thấy Phượng Thư lại nhớ Phượng Thư” [chuyển dẫn 74, tr.41],
và bài viết của ông về nhân vật Vương Hy Phượng đến nay vẫn còn giá trị tham khảo
Năm 1954, Lý Hy Phàm cho đăng bài “Lâm Đại Ngọc và Tiết Bảo Thoa – hai điển
hình đối lập trong Hồng lâu mộng” trên tạp chí Tân quan sát kỳ 23 nhằm phản bác
quan điểm “Thoa – Đại hợp nhất” của Du Bình Bá, bài viết nêu: “Lâm Đại Ngọc và
Tiết Bảo Thoa là hai tính cách hoàn toàn đối lập nhau, thể hiện hai lực lượng xã hội khác nhau, Lâm Đại Ngọc là kẻ phản nghịch trong xã hội phong kiến, theo đuổi lý tưởng sống cao đẹp, yêu cầu được tự do phát triển cá tính do đó tạo nên mâu thuẫn với thế lực phong kiến, cuối cùng dẫn đến bi kịch Còn Tiết Bảo Thoa là kẻ kiên quyết bảo vệ chế độ phong kiến, có đầy đủ “đức” “tài” như yêu cầu của lễ giáo phong kiến” [chuyển dẫn 68, tr.50] Đây là những bài viết đầu tiên đánh dấu bước tiến mới
trong việc nghiên cứu Hồng lâu mộng
Năm 2000, giới văn học Trung Quốc đã có một hoạt động lớn kỷ niệm 100 ra đời nền văn học mới Trung Quốc (tính từ Lỗ Tấn) và 100 năm dịch thuật văn học Phương Tây tại Trung Quốc, bên cạnh những vấn đề hiện đại đó, có hoạt động đánh giá lại Hồng học (theo [29])
Hai thập niên cuối thế kỷ XX, giới nghiên cứu phê bình văn học Trung Quốc trên cơ sở “phản tư”, họ nhận thấy lý luận văn học lạc hậu so với sáng tác văn học, vì thế họ ra sức giới thiệu thành tựu của lý luận và phương pháp nghiên cứu văn học Âu
Mỹ cho giới nghiên cứu trong nước Từ đó việc vận dụng phương pháp mới, khám phá tác phẩm dưới góc độ văn hóa, mỹ học, triết học, tâm lý học, chủ nghĩa nữ quyền, chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa cấu trúc, phê bình mới, hiện tượng học, giải thích học … đạt nhiều thành tựu đáng kể Những phương pháp nghiên cứu này cũng được
vận dụng để nghiên cứu Hồng lâu mộng và đã mở ra nhiều cánh cửa, nhiều góc độ để
người đọc khám phá ra nhiều điều mới mẻ từ bản thân tác phẩm
Trương Thụy Nga và Trần Đức Dụng trong bài “Do nữ tính chủ nghĩa khán
“Hồng lâu mộng” phán từ đích Anh dịch”[76] cho rằng Hồng lâu mộng được Tào
Tuyết Cần sáng tác trên lập trường, tiêu chuẩn nữ tính Xuất phát từ quan điểm cơ bản của chủ nghĩa nữ tính là sự bình đẳng giới Nhưng trong xã hội đương thời, sự phân biệt giới tính, phân biệt đối xử đã dẫn đến sự bất bình đẳng giữa hai giới Nhận thức được sự bất bình đẳng đó, Tào Tuyết Cần lên tiếng ca ngợi và bênh vực nữ giới
Dưới góc độ văn hóa Trương Diễm Bình trong bài “Thí luận Lão Trang tư
tưởng đối “Hồng lâu mộng” đích ảnh hưởng” cho rằng văn học cổ đại Trung Quốc
chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng Lão Trang và Hồng lâu mộng cũng nằm trong
khuynh hướng đó “Bất luận là chủ đề bài “Hảo liễu ca” hay hình tượng nhân vật
chính Giả Bảo Ngọc đều chịu ảnh hưởng sâu sắc triết học nhân sinh Lão Tử Đồng
Trang 10thời quan niệm về sống chết và những mối quan hệ trong luật quy luật phát triển của
sự vật cũng ảnh hưởng sâu sắc đến Hồng lâu mộng” [77, tr.87]
Xuất phát từ cội nguồn văn hóa Trung Quốc, yếu tố văn hóa âm dương truyền thống Trung Quốc, Vương Phú Bằng phân tích sự chuyển hóa trong đặc trưng tính cách của Giả Bảo Ngọc và cho đây là nhân vật có đặc trưng “song tính hóa tính cách”
Tác giả kết luận, “Tào Tuyết Cần tôn sùng văn hóa nữ tính và phê phán văn hóa nam
tính, đó chính là nguyên nhân, là động cơ tư tưởng trực tiếp để sáng tạo nên hình tượng nhân vật này”[72, tr.45]
Nhiều nhà nghiên cứu tiếp tục nghiên cứu tính bi kịch Hồng lâu mộng nhưng
dưới góc độ văn hóa như: “Hồng lâu mộng Trung Quốc cổ đại nữ tính chỉnh thể nhân
cách bi cục đích tổng kết” [71]; “Cổ đại tiểu thuyết Trung Quốc phụ nữ mệnh vận đích văn hóa thấu thị”[73]; “Hồng lâu mộng nữ tính quan dữ Minh Thanh nữ tính văn hóa” [74]… Những bài viết trên đã đưa ra những gợi ý đáng quý cho đề tài của
chúng tôi
Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu Hồng lâu mộng của Trung Quốc được người đọc biết đến ban đầu chỉ là một bộ phận trong Văn học sử, như: “Sơ lược lịch
sử tiểu thuyết Trung Quốc” của Lỗ Tấn, “Lịch sử văn học Trung Quốc” của nhóm tác
giả Dư Quan Anh, Tiền Chung Thư, Phạm Ninh, “Trung Quốc văn học sử” của Chương Bồi Hoàn, Lạc Ngọc Minh, “Tiểu thuyết sử thoại Trung Quốc” của Trương
Quốc Phong, Thái Trọng Lai … Năm 2002, Nguyễn Phố cho ra mắt bạn đọc bản dịch
“Mạn đàm về Hồng lâu mộng” của Trương Khánh Thiện và Lưu Vĩnh Lương Có thể
xem đây là bản dịch đầu tiên công trình nghiên cứu riêng về Hồng lâu mộng ở Việt
Nam “Mạn đàm về Hồng lâu mộng” đã đưa ra những lời bình luận khá sắc sảo và
độc đáo xung quanh thủ pháp nghệ thuật của Tào Tuyết Cần về việc miêu tả, khắc họa tính cách nhân vật Thập nhị kim thoa được tác giả phân tích dưới nhiều góc độ
như: “Lâm Đại Ngọc nghe hát” cho ta thấy được ở “Đại Ngọc kết tụ những đặc trưng
có sức hấp dẫn của nền văn hóa Trung Quốc” [56, tr.57], Tiết Bảo Thoa luận về thơ
và họa thể hiện “tư tưởng thẩm mỹ và chủ trương nghệ thuật của Tào Tuyết Cần”[56, tr.73] Tích Xuân và Diệu Ngọc trong bài “Tâm hướng hồng trần và tâm hướng Phật
môn” được phân tích dưới cái nhìn so sánh sắc sảo “Một phương diện khác trong
tính cách Lí Hoàn” cho thấy “Tào Tuyết Cần cũng đã miêu tả tính cách của nàng có
những khía cạnh khác biệt, khiến cho hình tượng nhân vật này càng phong phú, càng phức tạp, càng hàm súc” [56, tr.143]
Một năm, trước khi Hồng lâu mộng được xuất bản, Nguyễn Đức Vân cho đăng bài: “Giá trị bộ tiểu thuyết Hồng lâu mộng” trên tạp chí văn học số 3 năm 1962 Mục đích của bài viết như tác giả nói là: “Giới thiệu nội dung tư tưởng và hình thức nghệ
thuật của bộ kiệt tác ấy, căn cứ theo công trình của các nhà nghiên cứu Hồng lâu
Trang 11mộng ở Trung Quốc” [65, tr.46] Bài viết đi theo hướng đề cao chủ nghĩa hiện thực,
tính nhân dân của tác phẩm Trong đĩ cĩ một mục riêng về nghệ thuật nhưng cịn rất
sơ lược Bẵng đi một thời gian khá lâu, gần đây chúng ta mới được đọc những bài
nghiên cứu về Hồng lâu mộng trên các tạp chí như: “Hồng lâu mộng và Chu Dịch” [3]; “Nghệ thuật xây dựng nhân vật chính diện trong Hồng lâu mộng”[4]; “Nhĩm
nhân vật điển hình trong tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc” [5]; “Thể nghiệm mộng ảo của các tác gia cổ đại Trung Quốc”[6] Trong bài viết này, Trần Lê Bảo nhận định:
“ Trong tác phẩm Hồng lâu mộng, tác giả đã dùng mộng ảo làm cơ sở soi chiếu cuộc sống, đem lại toàn bộ nội dung biểu hiện đặt vào khuôn viên của mộng Mượn hiện thực cuộc sống đan đầy bi kịch để dẫn đến phản tư sâu sắc và phủ định triệt để hiện thực” [6, tr.65]; “Một quan niệm nghệ thuật về con người trong Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần” (2004) của Nguyễn Thị Diệu Linh; “Việc nghiên cứu ảnh hưởng Phật giáo và Đạo giáo trong mấy bộ tiểu thuyết tiêu biểu của Trung Quốc”
[14] của Phạm Tú Châu Đây là những hướng nghiên cứu mới, cĩ chiều sâu, đem đến cho người đọc nhiều kiến giải mới mẻ, thú vị và hấp dẫn
Theo sự quan sát của chúng tơi, hiện nay ở Việt Nam chưa cĩ cơng trình in thành
sách nào nghiên cứu riêng về Hồng lâu mộng Hồng lâu mộng chủ yếu được đề cập
đến trong các cơng trình nghiên cứu chung về tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa Tiêu
biểu như: “Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc”[19] của tác giả Trần Xuân Đề; “Để hiểu
tám bộ tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc”[56] của Lương Duy Thứ; “Lịch sử văn học Trung Quốc”[46] của Nguyễn Khắc Phi … Các cơng trình trên thường đặt Hồng lâu mộng vào hệ thống chung của tiểu thuyết Minh – Thanh để vạch ra những nét đặc sắc
cơ bản về nội dung cũng như nghệ thuật, đồng thời đánh giá cao tính hiện thực của
Hồng lâu mộng Đây là những định hướng tốt cho chúng tơi trong việc thực hiện đề
tài
Ngồi ra, cịn cĩ thể kể đến một số luận văn thạc sĩ, luận văn tốt nghiệp chọn
Hồng lâu mộng làm đề tài, như: “Nghệ thuật miêu tả tâm lý các nhân vật nữ chính trong Hồng lâu mộng”(1986) của Đinh Phan Cẩm Vân; “Sự tương đồng về thi pháp nhân vật truyện Kiều và Hồng lâu mộng”(1999) của Hà Thanh Vân; “Nghệ thuật tổ chức khơng thời gian trong Hồng lâu mộng”(2002) của Nguyễn Thị Minh Hậu;
“Thực và hư trong Hồng lâu mộng”(2003) của Nguyễn Thị Diệu Linh; Luận văn tốt
nghiệp“Mộng và thực trong Hồng lâu mộng”(2006) của Phạm Vũ Lan Anh Những
luận văn trên đã đưa ra những gợi ý đáng quý cho đề tài của chúng tơi
3 Phạm vi nghiên cứu
Trang 12Theo Tống Kỳ trong “Hồng lâu mộng thức yếu”, Thập nhị kim thoa bao gồm:
chính sách, phó sách, hựu phó sách, tam phó sách, tứ phó sách Nếu căn cứ vào tư liệu này, ta thấy Thập nhị Kim thoa gồm sáu mươi nhân vật nữ, cụ thể:
Kim lăng thập nhị kim thoa chính sách gồm: Lâm Đại Ngọc, Tiết Bảo Thoa, Giả Nguyên Xuân, Giả Thám Xuân, Sử Tương Vân, Diệu Ngọc, Giả Nghênh Xuân, Giả Tích Xuân, Vương Hy Phượng, Xảo Thư, Lý Hoàn, Tần Khả Khanh
Kim lăng thập nhị kim thoa phó sách gồm: Hương Lăng, Tiết Bảo Cầm, Hình Tụ Yên, Lý Ỷ, Lý Văn, Bình Nhi, Uyên Ương, Vưu Nhị Thư, Vưu Tam Thư, Trí Năng, Vưu Thị, Hạ Kim Quế
Kim lăng thập nhị kim thoa hựu phó sách gồm: Tình Văn, Tập Nhân, Xạ Nguyệt, Tiểu Hồng, Tử Quyên, Oanh Nhi, Kim Xuyến, Ngọc Xuyến, Con Tư, Thu Văn, Tây Tuyết, Bích Ngân
Kim lăng thập nhị kim thoa tam phó sách gồm: Phương Quan, Linh Quan, Ngẫu Quan, Nhuỵ Quan, Dược Quan, Đậu Quan, Ngải Quan, Văn Quan, Bảo Quan, Ngọc Quan, Già Quan, Quỳ Quan
Kim lăng thập nhị kim thoa tứ phó sách gồm: Thuý Lũ, Xuân Yến, Thái Vân, Thái Hà, Hổ Phách, Bão Cầm, Thư Kỳ, Thị Thư, Nhập Họa, Con Năm Liễu, Tố Vân, Con Ngốc [67, tr.402]
Trong số sáu mươi kim thoa ấy, Tào Tuyết Cần đã trực tiếp đưa ra mười bốn lá
số tiền định của mười lăm nhân vật Những lá số đó đề cập đến số phận Kim lăng thập nhị kim thoa chính sách và ba nhân vật còn lại là Hương Lăng, Tập Nhân và Tình Văn Thông qua việc phân tích Lá số tiền định của Kim Lăng thập nhị kim thoa chính sách dưới góc nhìn của những phương tiện nghệ thuật, chúng tôi khẳng định lại một lần nữa tài năng sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Tào Tuyết Cần Đồng thời
chứng minh Hồng lâu mộng là một tác phẩm hiện thực chứa đựng tính nhân văn,
nhân đạo sâu sắc
Văn bản chính mà chúng tôi sử dụng là bộ Hồng lâu mộng, 6 tập, của nhà xuất
bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, Vũ Bội Hoàng và Nguyễn Doãn Địch dịch
theo bản Trung văn “Hồng lâu mộng bát hồi hiệu bản”, do Nhà xuất bản Văn học
nhân dân Bắc Kinh xuất bản năm 1958 Ngoài ra, trong một số trường hợp cần thiết,
chúng tôi tham khảo thêm quyển “Hồng lâu mộng” của nhà xuất bản Yên Sơn – Bắc
Kinh, năm 2004
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu và khách thể nghiên cứu bao giờ cũng gắn bó chặt chẽ với nhau Phương pháp nghiên cứu không phải quyết định bởi sự yêu thích hứng thú của cá nhân chủ thể nghiên cứu mà quyết định bởi đặc trưng bản chất của khách thể
Trang 13nghiên cứu Do đó, trong quá trình thực hiện đề tài, người viết đã lựa chọn và sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp của phương pháp luận nghiên cứu văn học như:
Phương pháp khảo sát văn bản Phương pháp này nhằm đối chiếu kiểm chứng nội dung bản dịch so với nguyên tác để nêu lên những khác biệt, những chỗ khó hiểu hoặc những điểm độc đáo của nguyên tác mà bản dịch chưa chuyển tải được
Phương pháp phân tích – tổng hợp Đây cũng là một phương pháp quan trọng nhằm làm nổi bật các luận điểm được triển khai
Phương pháp so sánh văn học và phương pháp loại hình (đồng đại và lịch đại)
Đặt Hồng lâu mộng trong mối quan hệ với những tác phẩm cùng thời và những tác
phẩm ra đời trước để thấy được những đổi mới về tư tưởng, nghệ thuật của Tào Tuyết Cần
Phương pháp liên ngành: đặt tác phẩm trong mối quan hệ với lịch sử, xã hội, văn hóa, triết học, tôn giáo … Vì nhà văn thời cổ thường kiêm nhà sử học, triết học, thư pháp, họa sĩ … Tào Tuyết Cần là người đa tài đa nghệ, giỏi làm thơ, vẽ tranh, có thể diễn kịch đánh đàn, yêu thiên nhiên, thích ngao du sơn thủy … Tất cả những điều ấy
được kết tinh trong Hồng lâu mộng Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà Hồng lâu
mộng lại được mệnh danh là bộ bách khoa về văn hóa, lịch sử, xã hội … Trung Quốc
thế kỷ XVIII Do đó, nghiên cứu tác phẩm cần vay mượn thành quả của các ngành
khác để đem đến bộ mặt mới cho việc tìm hiểu và khám phá Hồng lâu mộng
5 Đóng góp của luận văn
Kế thừa những thành quả nghiên cứu Hồng lâu mộng của người đi trước, luận văn
đưa ra một cách nhìn hệ thống về “Lá số tiền định của Kim Lăng thập nhị kim thoa
trong Hồng lâu mộng” Qua đó, lý giải những kết cấu và tư duy nghệ thuật đặc sắc của
Tào Tuyết Cần
Qua quá trình triển khai đề tài, luận văn góp phần làm rõ những giá trị nhân văn, nhân đạo trong quan niệm về người phụ nữ của Tào Tuyết Cần Đồng thời, thông qua đặc trưng tính cách của Thập nhị kim thoa luận văn chứng minh nghệ thuật sáng tạo hình tượng nhân vật độc đáo của tác giả Bên cạnh đó, việc phân tích bi kịch của Thập nhị kim thoa, luận văn tái khẳng định số phận bi kịch của họ chính là bi kịch của tính cách, của thời đại, chứ không phải do định mệnh đã an bày
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài hai phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn được sắp xếp thành ba chương:
Chương 1: Hồng lâu mộng trong bối cảnh tiểu thuyết Minh - Thanh
1.1 Thời đại hoàng kim của tiểu thuyết chương hồi Minh – Thanh
1.1.1 Hồng lâu mộng – bộ bách khoa về văn hóa, xã hội Trung Quốc thế kỷ
XVIII
Trang 141.1.2 Hồng lâu mộng – sự khởi đầu của tư tưởng và cách viết mới 1.2 Sự gặp gỡ giữa hai tác giả Tào Tuyết Cần – Cao Ngạc
1.2.1 Tào Tuyết Cần – sống trong phồn hoa, chết trong luân lạc 1.2.2 Cao Ngạc – sự tiếp bút tài hoa với những kỳ vọng ước mơ mới mà cũ
Chương 2: Những lá số tiền định của Kim Lăng thập nhị kim thoa
2.1 “Tiền định” – một quan niệm trong hệ thống triết học Trung Hoa cổ 2.2 Lá số tiền định dưới góc nhìn của những phương tiện nghệ thuật 2.3 Những ám chỉ trong mười một lá số tiền định
Chương 3: Thập nhị kim thoa trong thế giới hiện thực
3.1 Thập nhị kim thoa – những nhân cách lý tưởng “song tính đồng thể” 3.2 Thập nhị kim thoa – bi kịch của tính cách và thời đại
3.3 Thập nhị kim thoa – quá trình hưng - vong của Tứ đại gia tộc
3.3.1 Thập nhị kim thoa – sự hưng thịnh của Tứ đại gia tộc
3.3.2 Thập nhị kim thoa – sự suy vong của Tứ đại gia tộc
Trang 15Chương 1: HỒNG LÂU MỘNG TRONG BỐI CẢNH TIỂU
THUYẾT MINH – THANH
Những thể loại văn học nổi lên rồi chìm xuống, nào anh hùng ca, nào sử thi, nào
bi kịch … Những đỉnh cao trỗi dậy một thời rồi tàn lụi Riêng tiểu thuyết đến nay vẫn
còn là “thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và còn chưa định hình” [9, tr.21], nó vẫn đang “nhịp bước cùng con người thường xuyên và chân thành” [44,
tr.10] Quá trình phát triển của tiểu thuyết nói riêng và văn học nói chung luôn mang tính kế thừa Những tác phẩm ra đời sau bao giờ cũng chứa đựng những kinh nghiệm
trước đó Hồng lâu mộng, tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa là một tác phẩm như thế và còn hơn thế nữa vì kỳ thư này vừa là đứa con cuối cùng trong phả hệ tiểu thuyết Minh
– Thanh vừa khởi đầu cho thế hệ mới Thế nhưng, cuộc sống với vô vàn biến động
nên tuy là một tác phẩm vĩ đại nó cũng có phần không hoàn chỉnh Do đó, dù Hồng
lâu mộng có mênh mông như biển cả, dù tiểu thuyết đã ôm trọn vào lòng nó bao yếu
tố của thời đại, dù tác phẩm đã đánh một dấu son vào lịch sử tiểu thuyết cổ điển
Trung Quốc, dù được xem là “quốc bảo” của Trung Hoa thì tác phẩm gây khoái cảm
cho người đọc không phải chỉ bằng những gì mà Tào Tuyết Cần đã hoàn tất mỹ mãn
mà còn bằng những gì ông nhằm tới nhưng chưa đạt được
1.1 Thời đại hoàng kim của tiểu thuyết chương hồi Minh – Thanh
Trung Quốc cổ đại là một trong những chiếc nôi của nền văn minh nhân loại Từ thời xa xưa, nơi đây đã sản sinh ra những nhà tư tưởng vĩ đại như: Lão Tử, Khổng
Tử, Mạnh Tử, Hàn Phi Tử … Tuy vậy, kho tàng triết lý của nhân loại lại nằm trong những tác phẩm văn học nhiều hơn những quyển sách triết Vì nhà tư tưởng luôn tìm cách hoàn tất một hệ thống tư tưởng cụ thể, còn nhà văn chỉ kể chuyện, câu chuyện lang thang giữa vùng sáng tối của trái tim con người, nó không khẳng định cũng không phủ định Thế nhưng, câu chuyện ấy vừa nói được với số đông lại vừa nói được với từng người
Tuy vậy, mỗi giai đoạn, mỗi thời đại, con người lại có những nhu cầu và thị hiếu thẩm mỹ khác nhau Vì thế, một thể loại văn học ra đời, phát triển và mất đi, suy cho cùng là do cuộc sống quy định Thành tựu của văn chương Trung Quốc là một minh chứng hùng hồn nhất cho nguyên lý này Các đỉnh cao văn chương Trung Quốc thực chất là thành tựu của các thể loại tương ứng với từng thời kỳ lịch sử Do vậy, ở đây
có sự thống nhất giữa thể loại và thời đại tới mức hễ nhắc tới thể loại là người ta nhớ ngay đến thể loại thành công bao trùm thời đại Ngược lại, hễ nói tới thời đại nào đó, người ta lại nhớ ngay đến thể loại thành công nhất, tiêu biểu nhất của thời đại đó, như: Hán phú, Đường thi, Tống từ, Nguyên khúc, Minh Thanh tiểu thuyết Quá trình
Trang 16phát triển liên tục ấy chứng minh sức sống, sức sáng tạo không ngừng nghỉ, không mệt mỏi của một dân tộc có truyền thống văn hóa lâu đời Trong lịch sử phát triển hàng ngàn năm của thể loại tiểu thuyết thì Minh – Thanh xứng đáng được tôn xưng là thời đại hoàng kim của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc Thành tựu của tiểu thuyết giai đoạn này là tiền đề cho sự phát triển của văn học giai đoạn sau
1.1.1 Hồng lâu mộng – bộ bách khoa về văn hóa, xã hội Trung Quốc thế kỷ
XVIII
Tào Tuyết Cần xuất thân trong một gia đình thế gia vọng tộc nhưng cuộc đời dâu
bể đã biến một “hào môn vọng tộc” thành một “tế tộc cô môn” Quá trình biến đổi từ
thịnh đến suy, từ thăng đến trầm, từ vinh đến nhục đã thâu tóm trong cuộc đời Tào Tuyết Cần, để lại cho ông những dấu ấn khó phai Tào Tuyết Cần đã tiếp thu tất cả những biến thiên của thời đại bằng khả năng phân tích và thấu thị phi thường Dần dần những tích tụ ấy được ông chuyển vào ngòi bút và hóa thân trở lại từ những trang
tiểu thuyết Thông qua tác phẩm Hồng lâu mộng, người đọc vừa cảm nhận được tâm
tư tình cảm của tác giả vừa hình dung được gương mặt thời đại mà ông đang sống
Do đó, giá trị của bộ tiểu thuyết Hồng lâu mộng từ lâu đã vượt qua cái khung văn học đơn thuần Người Trung Quốc còn nhắc đến Hồng lâu mộng như một thành tựu văn
hóa bởi tác phẩm có thể coi là một tấm gương phản chiếu và tổng hợp nền văn hóa vật chất lẫn tinh thần của xã hội Trung Quốc
Khi bước vào làng văn - Balzac - nhà văn vĩ đại của văn học Pháp, người khai sinh ra khuynh hướng văn học hiện thực mang sắc thái phê phán, đã sớm có ý định tập hợp những sáng tác của mình thành một tác phẩm lớn với một đề cương chi tiết gồm các phần: khảo luận phong tục, khảo luận triết học, khảo luận phân tích Ông đã vạch ra những nhiệm vụ cụ thể cho bộ sách chung mang tên Tấn trò đời Với số lượng hơn 90 tác phẩm, 2209 nhân vật, 515 nhân vật tái xuất hiện, đã khiến cho những tác phẩm độc lập ấy kết nối lại với nhau thành một bức tranh chỉnh thể thống
nhất về xã hội Pháp thế kỷ XIX Còn Tào Tuyết Cần, ngược lại, “Tác giả khéo léo
thu hẹp xã hội thượng lưu vương giả thời bấy giờ vào khung cảnh một gia đình quý phái tiêu biểu: Giả phủ” [51, tr.115] Thế rồi, từ một gia đình, tác giả cho ta
thấy“một hiện tượng sinh hoạt xã hội vô cùng phức tạp nhưng vẫn có mạch lạc thứ
tự” [65, tr.49]; “Trong Hồng lâu mộng mọi lĩnh vực của xã hội phong kiến từ pháp lệnh chế độ, đạo đức pháp luật, văn hóa giáo dục, tôn giáo tín ngưỡng, tư tưởng quan niệm, cho đến phong tục tập quán … đều được Tào Tuyết Cần đề cập đến một cách rộng rãi sâu sắc”[1, tr.665] ; Vì thế “Hồng lâu mộng đã đưa đến cho người đọc những hiểu biết sâu sắc về xã hội và về con người Nó là cuốn bách khoa sinh động
về xã hội Trung Quốc phong kiến” [62, tr 101]; Những nhận định đánh giá này đã
được chứng minh rõ nét trong những quyển sách viết về Lịch sử văn học Trung Quốc
Trang 17mà Hồng lâu mộng là một bộ phận Chẳng hạn, Lương Duy Thứ nhấn mạnh Hồng lâu mộng là “Bức tranh thu nhỏ của xã hội phong kiến Trung Quốc trên bước đường suy
tàn”[57, tr.85] Trong đó, tác giả tập trung phân tích mối quan hệ và mâu thuẫn nội
tại của xã hội thượng lưu; mâu thuẫn giữa giai cấp quý tộc và quần chúng bị áp bức; Gia đình họ Giả - hình ảnh của một giai cấp thối nát suy tàn và bất lực; Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc - những đứa con phản nghịch và dấu hiệu suy tàn của chế độ; Tam giác tình yêu Giả Bảo Ngọc, Lâm Đại Ngọc và Tiết Bảo Thoa không phải là tấn tuồng “tình yêu tay ba” mà là bi kịch tình yêu và hôn nhân dưới chế độ phong kiến Quyển Lịch sử văn học Trung Quốc do Dư Quan Anh chủ biên nhấn mạnh đến tính
chất phê phán xã hội phong kiến của Hồng lâu mộng “Hồng lâu mộng phản ánh một
cách phức tạp lắt léo nhiều hiện tượng xã hội quan trọng của thời kỳ lịch sử ấy”[1,
tr.663]; “Hồng lâu mộng còn vạch trần biết bao hiện tượng đen tối của xã hội phong
kiến”[1, tr.664]; “Qua việc miêu tả hàng loạt chi tiết sinh hoạt thường ngày, ông đã khắc họa được cuộc sống thối nát tột cùng của giai cấp thống trị phong kiến, và từ đó vạch trần tình trạng mục ruỗng toàn bộ từ gốc đến ngọn của xã hội phong kiến”[1,
tr.665] Tóm lại, Hồng lâu mộng được mệnh danh là bách khoa về văn hóa, xã hội
Trung Quốc thế kỷ XVIII, vì tác phẩm đã phản ánh xã hội với tầm rộng lớn Hộ hoa
chủ nhân tổng bình Hồng lâu mộng, có đoạn nói: “Trong Hồng lâu mộng, nói về văn
học thì có: Thơ từ, ca phú, văn thư, hý khúc, đối liễn, biến ngạch, tửu lệnh, chuyện vui, không lối văn nào là không hay Nói kỹ thuật thì có: cầm kỳ thi họa, bói toán, thuốc men, làm nhà, trồng cây, nuôi chim, thả cá, nấu nướng thêu thùa, lớn nhỏ đều
đủ Nói về nhân vật thì có: người chính, người tà, người ác, người thiện, người hào cường, người nhu nhược, nữ tướng đời trước, thi nữ ngoại dương, quỷ ma, tiên phật,
ni cô, tăng đạo, cô đào, gái hát, tôi tớ, trộm cướp, lưu manh, vô lại, không thiếu một hạng nào Nói về sự việc thì có: tiệc tùng, yến ẩm, xa xỉ dâm ô, quan tham lại nhũng, nghi lễ cung đình, buồn vui suy thịnh, xử án đánh giặc, kinh kệ đàn tràng, bán buôn chạy chọt, việc gì cũng đủ Thậm chí những việc như: chết bệnh chết non, thuốc độc,
tự vẫn, bị giết, trầm mình, nhảy sông, treo cổ, nuốt vàng, nuốt thuốc, đập đầu, thoát tinh … thảy đều đầy đủ, thật là bao la vạn tượng Tác giả không nghề gì không biết
và không nghề gì không tinh”[chuyển dẫn 65, tr.61]
Với ngòi bút sắc bén và trái tim mẫn cảm, Tào Tuyết Cần không chỉ tạo nên một
bộ bách khoa về văn hóa, xã hội Trung Quốc trong Hồng lâu mộng mà tác phẩm còn
là bộ bách khoa về trái tim con người Văn học là lương tâm của xã hội và tâm lý xã
hội cũng chính là tâm lý con người Thế nên, Hồng lâu mộng cũng là câu chuyện về
số phận của những cá nhân con người, đó còn là những số phận điển hình cho một giai cấp, một tầng lớp Điểm mấu chốt chính là chủ nghĩa cảm thương mà tác giả gửi gắm vào nhân vật nữ Những con người đã nếm trải tất cả những vinh nhục thăng
Trang 18trầm, vui buồn của đời người Đó là những con người biết ước mơ, biết sống cho lý tưởng của đời mình nhưng mơ ước không thành nên điều đọng lại trong tác phẩm
chính là nỗi buồn, là bi kịch của đời sống nhân loại Do đó, Hồng lâu mộng không chỉ
phản ánh đơn thuần bộ mặt xã hội mà Tào Tuyết Cần còn thấu hiểu nó trong vô vàn
xáo động của thời đại mà ông đang sống Hồng lâu mộng không chỉ là bộ bách khoa
về văn hóa, xã hội mà thông qua bộ bách khoa này, tác phẩm trở thành bản cáo trạng đanh thép, dài dòng và đầy đủ, nhẹ nhàng và sâu sắc đối với xã hội đương thời
Không chỉ tố cáo, phê phán, Hồng lâu mộng còn mang sức mạnh của sự khẳng định
và cải tạo xã hội bằng hình ảnh của những con người mới, con người mang tư tưởng dân chủ, dám đấu tranh cho tình yêu tự do, bênh vực lẽ phải và cái đẹp Đó chính là hình ảnh xã hội Trung Quốc trong tương lai mà tác giả đã chạm đến nhưng chưa nắm giữ được
1.1.2 Hồng lâu mộng – sự khởi đầu của tư tưởng và cách viết mới
Hồng lâu mộng không chỉ chiếm một địa vị nhất định trong lịch sử tiểu thuyết
mà còn đóng góp đáng kể vào việc thúc đẩy tiến trình phát triển của lịch sử văn học
dân tộc Trung Quốc – đó là sự khởi đầu của tư tưởng và cách viết mới Hồng lâu
mộng báo hiệu một sự trở mình giữa tiểu thuyết cổ điển sang tiểu thuyết thời hiện đại
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu rực rỡ của tiểu thuyết trường thiên, sự khởi
đầu của tư tưởng và cách viết mới của Hồng lâu mộng có thể khái quát ở những điểm
cơ bản sau:
Đây là sáng tác của một cá nhân, không có sự lưu truyền tích tụ các giai thoại từ nhiều đời thành các thoại bản như tiểu thuyết chương hồi khác Để có được một hình tượng Tôn Ngộ Không trong sáng tác của Ngô Thừa Ân là một quá trình lâu dài Tam Quốc chí, Thủy hử với những thoại bản tồn tại trong nhân dân từ lâu đời Trong khi
đó, sáng tác Hồng lâu mộng trong “lưng vốn” của Tào Tuyết Cần chưa hề tồn tại một
thoại bản nào Chỉ dựa vào tài năng, sự trải nghiệm, vốn văn hóa, Tào Tuyết Cần đã sáng tác một thiên cổ kỳ thư cho riêng mình, góp phần hình thành một “loại hình nhà
văn” trong sáng tác và đã soi sáng văn học bằng các sự kiện văn hóa Tuy Hồng lâu
mộng không phải là tác phẩm đầu tiên do cá nhân sáng tác Vì vị trí đó đã được dành
cho Kim Bình Mai Nhưng có thể xem Hồng lâu mộng là sự kế thừa và phát triển
những thành tựu của Kim Bình Mai và sự kế thừa ấy không đơn thuần chỉ là kỷ xảo
nghệ thuật thông thường mà Hồng lâu mộng chính là kết tinh của sự thăng hoa trong sáng tạo nghệ thuật và tư tưởng mỹ học của Tào Tuyết Cần.“Kim Bình Mai chính là
tác phẩm đã xây dựng được những nhân vật mang đặc trưng thời đại, đã miêu tả được những hoạt động tất yếu của nhân vật trong hoàn cảnh điển hình của xã hội phong kiến ruỗng nát; là tác phẩm đồ sộ đầu tiên lấy cái chuyện một gia đình làm trung tâm, đề cập đến một môi trường xã hội rộng lớn, mặt đối mặt với đời sống,
Trang 19thấm đượm mùi vị cuộc đời chứ không phải siêu phàm xa lạ như trước kia” [chuyển
dẫn 58, tr.59] So với Kim Bình Mai, Hồng lâu mộng xây dựng được một thế giới lý
tưởng, nhân vật được khắc họa mang nội dung mỹ học sâu sắc Hồng lâu mộng phê
phán toàn bộ kiến trúc thượng tầng xã hội phong kiến và phản ánh sự mâu thuẫn, đối lập giữa tư tưởng dân chủ và phong kiến Trong khi đó Kim Bình Mai chỉ miêu tả những mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp phong kiến Nếu so sánh với những tác phẩm
ra đời trước như Tây sương ký, Mẫu đơn đình, Đào hoa phiến thì kết thúc bi kịch của
Hồng lâu mộng đã phá vỡ những hạn chế của tiểu thuyết tài tử giai nhân Điều này
chứng tỏ, tác giả Hồng lâu mộng đã khéo léo thâm nhập vào những tác phẩm ra đời trước và nhận ra những tác phẩm ấy “nghìn bộ đều theo một khuôn sáo”[8, tr.25],
“đầy những lời sáo ngữ cũ rích, gán ghép bừa bãi, toàn nói chuyện vụt gặp vụt tan”[8, tr.26] Do đó, Tào Tuyết Cần đã mở ra một con đường mới cho tiểu thuyết
hiện đại bằng phương pháp sáng tác hiện thực, “căn cứ vào hiện thực”, “ghi chép
những sự việc và tình cảm tôi đã trải qua”[8, tr.24], “từ đầu đến cuối đều theo sát sự thực không thêm bớt tô vẽ chút nào, không vì chiều lòng người đọc mà xuyên tạc sự thực”[8, tr.25] … với những cách tân đó, Tào Tuyết Cần tin chắc tác phẩm của mình
sẽ khiến cho người đời đổi tầm con mắt
Đó còn là sự sáng tạo nhân vật trong Hồng lâu mộng: “mỗi con người một diện
mạo, sự phong phú về nội hàm tính cách, sự phơi bày đời sống tâm linh” Nhân vật
trong Hồng lâu mộng chiếm một dung lượng đồ sộ với hơn bốn trăm nhân vật,
nhưng tất cả đều là những con người có thanh có sắc, có da có thịt không thể nhầm lẫn Có rất nhiều nhân vật bước từ đời sống văn học ra đời sống sinh hoạt với những đặc tính riêng như Bảo Ngọc, Đại Ngọc, Tiết Bảo Thoa, Vương Hy Phượng … Tất cả đều minh chứng cho sự đa dạng, muôn màu muôn vẻ của cuộc sống con người, sự
“đa nhân cách” với những mặt đối lập cùng tồn tại trong bản thân mỗi nhân vật Từ
đây, con người trong văn học không còn là con người đơn giản, một chiều mà đã là con người sinh động, khó đoán, khó nắm bắt Trần Lê Bảo đã chỉ ra nét độc đáo trong
cách khắc họa nhân vật chính diện trong Hồng lâu mộng, đó là kiểu nhân vật “chính
tà kiêm phú” “tức chính và tà có cả trong tính cách mỗi nhân vật”[4, tr.120], nhân
vật vừa có cái đáng ghét và đáng yêu Như Giả Bảo Ngọc, Lâm Đại Ngọc, Tình Văn … cho ta thấy ở họ vừa có cái đáng yêu vừa có cái đáng quí , khiến ta vừa yêu vừa kính, trong họ còn ẩn chứa sức sống sức đấu tranh với những giáo điều của lễ giáo phong kiến đồng thời cũng chưa thể thoát khỏi sự bao bọc của xã hội ấy Tuy nhân vật có nhiều điểm đối lập thể hiện sự đa nhân cách nhưng tính cách của họ vẫn thống nhất từ đầu đến cuối tác phẩm Mặc dù bốn mươi hồi sau dưới ngòi bút của Cao Ngạc biểu hiện bề ngoài của Bảo Ngọc, Đại Ngọc, Bảo Thoa nhiều khi trái
ngược với lúc đầu nhưng vẫn thể hiện được sự kế tục hợp lí những hồi trước
Trang 20Nghệ thuật tự sự của Hồng lâu mộng đã cĩ những biến đổi: sự dung hợp giữa tả
thực với thi vị hĩa, là một kết cấu mạng lưới hỗn dung nhất thể với sự chuyển biến đổi thay của điểm nhìn tự sự Và cuối cùng là ngơn ngữ văn học được cá tính hĩa Từ
đĩ, cĩ thể thấy: cá tính, phong cách nghệ thuật của nhà văn và sự sáng tạo của nhà văn trong một thể loại là rất quan trọng Tất cả đều cấp cho người đọc cái nhìn cuộc sống từ nhiều gĩc độ Do đĩ, tính hiện thực của văn học được cơ đúc và hình dung cụ thể hơn
Tự hào mình là đất nước của thơ ca, người Trung Hoa thích chen những đoạn thơ vào giữa những lời văn xuơi Ngay từ thời Đường, ta thấy giữa những đoạn truyền kỳ có sự xuất hiện của một vài đoạn thơ, bài thơ nho nhỏ Điều đó cũng thật dễ hiểu nếu ta biết về môi trường diễn xướng của truyện kể Ngoài việc được ấn hành trên giấy, ở Trung Hoa còn một hình thức lưu truyền truyện kể nữa, đó là thông qua những nghệ nhân dân gian Những đoạn thơ được chen vào giữa những lời kể nhằm mục đích thư giãn giữa những tình tiết gay cấn hồi hộp, lại vừa tạo thêm dáng phong nhã cho câu chuyện Cũng không phải là chỉ có những truyện giai nhân tài tử mới có đoạn thêm thắt thơ ca vào mà ngay cả những truyện phiêu lưu lịch sử, chí quái, phong tục cũng có thơ như trường hợp của Tây Du Ký, Tam Quốc Chí, Kim Bình Mai …
Những bài thơ câu hát này nhiều khi không có ăn nhập gì đến truyện kể nhân vật cả, nhưng cũng có trường hợp thơ ca trở thành phương tiện đắc dụng dùng để miêu tả tâm tình nhân vật Loại thơ này nếu tách đứng riêng ra một mình, nó khó mà có chỗ đứng trong làng thơ Trung Hoa vốn đã quá nhiều những tuyệt phẩm, nhưng nó lại làm cho câu chuyện trở nên phong phú hấp dẫn hơn Nó cũng chứng minh cho thấy sức dung nạp lớn của tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa với các thể loại khác như thơ, phú, từ, âm nhạc …
Tuy nhiên phải nhận thấy rằng rất nhiều thơ ca, từ, phú trong tiểu thuyết có giá trị nghệ thuật không cao lắm Bên cạnh đó sức liên kết giữa thơ ca với nội dung chính trong truyện chẳng mấy chặt chẽ Người ta có thể bỏ đi dễ dàng những đoạn thơ mà vẫn cảm thấy hết được cái phong vị của truyện, không gây ảnh hưởng gì lớn lắm đến nghệ thuật và cốt truyện
Thế nhưng với Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần, có thể nói, thơ ca được
đưa vào trong truyện đã trở thành đỉnh cao Gọi là đỉnh cao vì nó phát huy hết được sức mạnh nghệ thuật của mình Thơ ca trong tác phẩm Tào Chiêm không phải chỉ là để giữ nhịp thư thái cho giọng truyện nữa mà đã trở thành công cụ đắc
Trang 21lực, gắn chặt với cốt truyện và trở thành một phần không thể thiếu được trong truyện
Hồng lâu mộng là sự chuyển đổi căn bản về tính chất của tiểu thuyết cổ điển
Trung Quốc, từ tiểu thuyết sử thi đến tiểu thuyết đời thường Hồng lâu mộng là một
minh chứng cho sự thành thục về phương diện sáng tác Nhân vật ít nhiều khơng cịn
là nhân vật hành động mà đã cĩ sự trăn trở, đắn đo, day dứt, suy tư khơng ngừng về cuộc sống và số phận con người Tác phẩm đã chú ý đến sự mơ tả những diễn biến tinh tế trong nội tâm nhân vật, cĩ cách nhìn nhận con người khơng những ở chiều ý thức mà cịn trong cả tiềm thức và vơ thức
Tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc đạt đến đỉnh cao với Hồng lâu mộng báo hiệu một yêu cầu mới trong thị hiếu cơng chúng: ấy là lúc người nghe đang chuyển hĩa thành người đọc – họ muốn đọc được những điều nhà văn khơng nĩi, họ muốn được nhìn thấy nhân vật trong những thế giới sâu kín mà nhà văn khơng miêu tả, và muốn theo dõi khơng chỉ một tuyến cốt truyện hoặc vài ba tuyến cốt truyện song song theo đường thẳng mà là những cốt truyện đan bện, chồng chéo, đĩ mới là hình ảnh của cuộc đời thật hay chí ít cũng giúp họ hình dung cuộc đời thật từ nhiều điểm nhìn
[25 tr.1720]
Như một sự cơ đúc những giá trị đặc sắc mà tuyệt thế kỳ thư Hồng lâu mộng đã
tạo được sự khởi đầu của tư tưởng và cách viết mới
1.2 Sự gặp gỡ giữa hai tác giả Tào Tuyết Cần – Cao Ngạc
Truyện kể Genji là viên ngọc quí của văn học Nhật Bản, Hồng lâu mộng là đỉnh
cao của tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc Cả hai tác phẩm đều là tiểu thuyết đồ sộ của phương Đơng và cĩ vị trí xứng đáng trong văn học thế giới Do nội dung phong phú, nên cả hai tác phẩm đã hình thành “Hồng học” và “Genji học” rất sơi nổi Điều đáng ngạc nhiên là hai tác phẩm này cĩ nhiều chỗ tương đồng rất thú vị Truyện Genji gồm 54 quyển, Murasaki Sikibu chỉ viết cĩ 44 quyển, cịn 10 quyển sau do con
gái bà viết Tào Tuyết Cần viết Hồng lâu mộng 80 hồi, 40 hồi sau do Cao Ngạc viết
tiếp Phần viết tiếp khơng hay bằng nguyên tác Nhưng ở gĩc độ người tiếp nhận, cĩ thể nĩi, Cao Ngạc chính là tri âm, tri kỉ của Tào Tuyết Cần
1.2.1 Tào Tuyết Cần – sống trong phồn hoa, chết trong luân lạc
Tào Tuyết Cần (1715? – 1763?) tên Triêm, tự Mộng Nguyễn, hiệu Tuyết Cần, Cần Phố, Cần Khê Quê ở Liêu Dương, tổ tiên vốn là người Hán, thời kỳ Nỗ Nhĩ Cáp Xích, ơng tổ đời thứ năm của Tào Tuyết Cần là Tào Tích Viễn đã nhập tịch Mãn Châu Nhà họ Tào bắt đầu hưng thịnh vào những năm Khang Hy (1662 – 1722)
Những tài liệu ít ỏi tìm được về thân thế Tào Tuyết Cần cho ta biết ơng xuất thân trong một gia đình quý tộc thậm chí cịn giàu sang, danh giá và cĩ quan hệ mật thiết
Trang 22với nhà vua hơn cả gia tộc họ Giả được miêu tả trong Hồng lâu mộng
Tào Tuyết Cần từ bé đã được sống trong một gia đình quyền thế và giàu sang
bậc nhất Nhà họ Tào không chỉ là gia đình “bách niên vọng tộc” mà còn là nhà “thi
thư môn đệ” Trong cảnh đầy tớ hàng đàn, sống đời cao sang, tuổi thơ Tào Tuyết Cần
không chỉ được tận hưởng vinh hoa phú quý chốn trần gian mà còn được hấp thu nền văn học phong phú Kể từ ngày mở mắt chào đời, Tào Tuyết Cần đã được hun đúc trong bầu không khí văn chương và ông cũng chính là người kế thừa chân chính truyền thống văn học của gia đình Ông nội - Tào Dần - là một nhà văn xuất sắc ở vùng Giang Ninh, có trình độ học vấn rất sâu, đồng thời là người lưu giữ sách có
tiếng thời đó Ông chính là tác giả của bộ “Luyện đình thi sao” và là người được vua Khang Hy tín nhiệm giao cho việc tập hợp và biên soạn, in ấn bộ “Toàn Đường thi”
Tào Tuyết Cần tuy không được ông nội trực tiếp dạy dỗ nhưng hình ảnh người ông chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc đời ông Vì chính ông nội đã gieo hạt giống văn học vào vào tâm linh hãy còn bé bỏng của ông
Song sự hưng thịnh của gia tộc chỉ kéo dài đến năm ông mười ba tuổi Khi vua Khang Hy chết, Ung Chính lên ngôi đã bắt đầu thanh lọc những người thân tín của vua cha Những năm đầu thời Ung Chính gia đình Tào Tuyết Cần bị kết tội tham ô, cách chức và bị tịch biên gia sản Đây đương nhiên là một cú sốc lớn đối với cậu công tử quen sống cảnh vinh hoa phú quý Tào Tuyết Cần Tuy nhiên, dời về Bắc Kinh, gia tộc vẫn còn giữ được một ít nhà cửa và điền sản Đến đầu thời Càn Long,
do một biến cố chưa rõ nguyên nhân, nhà họ Tào lại phải trải qua một cơn gia biến khác, khiến cho con em trong họ bị hạ xuống mức thấp nhất trong xã hội Cảnh sống túng bẫn bất đắc chí của Tào Tuyết Cần còn được ghi nhận đến những năm cuối đời Cái chết của ông cũng thấm đẫm chất thê lương, chết vì đau khổ sau khi đứa con trai, cũng là đứa con độc nhất lìa đời, để lại một người vợ nghèo và tám mươi hồi Thạch đầu ký còn dang dở Nhiều nghiên cứu khẳng định rằng nếu bản thân không phải là
con người xuất thân từ một “bách niên vọng tộc” thì Tào Tuyết Cần chắc chắn không
thể có những trang viết sinh động và tinh vi đến như vậy về cuộc sống trong phủ Giả,
từ việc khái quát không khí chung đến việc đi sâu vào những chi tiết nhỏ nhặt nhất;
càng không thể có những trình bày uyên thâm đến mức tạo nên một “bách khoa toàn
thư” về văn hóa truyền thống Trung Quốc trong tác phẩm Điều này tự bản thân
người đọc có lẽ cũng phần nào nhận thấy khi so sánh tám mươi hồi đầu do Tào Tuyết Cần viết với bốn mươi hồi sau do Cao Ngạc viết (dù về kết cấu chung, Cao Ngạc được đánh giá là đã tỏ ra rất trung thành với ý đồ nghệ thuật ban đầu của Tào Tuyết Cần) Tất nhiên, điều quan trọng ở đây không chỉ là những trải nghiệm thực tế của Tào Tuyết Cần được diễn tả theo một cách thức nào đó lên trang giấy, mà còn là những chân lý được tác giả rút ra từ những trải nghiệm đó Và đây mới chính là nơi
Trang 23thể hiện rõ nét nhất quan niệm của riêng tác giả, thứ quan niệm vừa mang tính chất kinh nghiệm nhân sinh vừa mang tính triết lý, cũng là một thứ quan niệm độc đáo
không thể bị trùng lặp với một tác giả nào khác, tương tự như Hồng lâu mộng không
thể bị nhầm lẫn với một tiểu thuyết nào khác
Tào Tuyết Cần không phải là loại nhà văn “trước tác đẳng thân” Tác phẩm duy nhất ông để lại cho đời là “Thạch đầu ký” với tám mươi hồi còn dang dở Có thể
khẳng định rằng Tào Tuyết Cần sáng tác trước hết là để giải tỏa chính nỗi lòng tích tụ bao tâm sự cứ ngày một chồng chất Điều này hoàn toàn phù hợp với những thổ lộ về
quá trình sáng tác “mười năm đọc bộ sách này ở trong hiên Điệu hồng, thêm bớt năm
lần” [10, tập 1, tr.27] cùng những câu thơ đề của chính tác giả: “Đầy trang những truyện hoang đường / Tràn trề nước mắt bao nhường chua cay”[10, tập 1, tr.27]
Thậm chí có ý kiến cho rằng “Có lẽ trong lịch sử Trung Quốc, ngoại trừ Tư Mã
Thiên viết Sử Ký, thì không còn ai giống Tào Tuyết Cần đã đốc hết tình cảm sâu xa
và tâm huyết của mình vào việc trước tác” [27, tr.742] Điều này có lí do riêng của nó
Khí chất con người Tào Tuyết Cần là thông minh và nhạy cảm Những tài liệu còn lại
cho biết ngay cả khi rơi vào cảnh túng quẫn nhất Tào Tuyết Cần “vẫn thường uống
rượu giải sầu và nhìn bọn người dung tục bằng con mắt khinh bỉ” [8, Lời giới thiệu]
Trong xã hội nhiều thăng trầm, không ít gia tộc rơi vào cảnh như nhà họ Tào, không
ít công tử danh gia vọng tộc rơi vào hoàn cảnh của Tào Tuyết Cần nhưng để lại cho
đời chỉ có một bộ Hồng lâu mộng mà thôi Có thể nói, chính bản tính vừa thâm trầm,
vừa nhạy cảm trong con người Tào Tuyết Cần đã giúp ông vượt qua những vòng xoáy thăng trầm vinh nhục của thời cuộc
“Sống trong phồn hoa, chết trong luân lạc” là sự khái quát cuộc đời và số phận
Tào Tuyết Cần, một cuộc đời niên thiếu sống trong tột đỉnh giàu sang phú quý nhưng
đến cuối đời lại sống cảnh “đám cỏ lều tranh, giường tre bếp đất” [10, tập 1,tr 20],
“cả nhà rau cháo, rượu thường mua chịu” [10, tập 1, tr 7] Tào Tuyết Cần đã đem
toàn bộ tâm huyết đời mình hiến dâng cho Hồng lâu mộng và vào đêm trừ tịch ông đã
mang theo cõi lòng đầy bi phẫn và ý chí chưa được toại nguyện của mình về với cõi Đại hoang
1.2.2 Cao Ngạc – sự tiếp bút tài hoa với những kỳ vọng ước mơ mới mà cũ
Người sáng tác văn chương luôn cố gắng tìm tòi những đề tài mới, những cách thể hiện sáng tạo sao cho không bị xem là bắt chước, phụ họa Sự sao chép, trùng lắp
về đề tài được xem là điều tối kỵ trong sáng tác văn chương nghệ thuật Thế nhưng, ở thời Trung đại, con người lúc ấy chưa có khái niệm về bản quyền tác giả và họ xem việc viết tiếp hay chỉnh sửa tác phẩm của người khác là một việc bình thường và nếu
có hứng thú với những tác phẩm đã xuất hiện trước đó, họ có thể bắt tay vào sáng tạo thêm cho tác phẩm hoàn chỉnh theo mong muốn của chính họ Thế nên, người đọc
Trang 24giai đoạn này còn có thể là người đồng sáng tác với tác giả trên chính văn bản chứ không phải chỉ đồng sáng tác trong quá trình tiếp nhận tác phẩm Do đó, ngày nay có rất nhiều tác phẩm xa xưa được lưu truyền dưới nhiều dị bản Có trường hợp tác phẩm chưa hoàn thành thì tác giả đã qua đời, có người vì quá yêu tác phẩm ấy nên đã dụng công sáng tác thêm cho hoàn chỉnh Trường hợp này có thể kể đến truyện Genji của Nhật Bản và Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần Và cả hai sau đó không chỉ trở thành tuyệt tác của đất nước mình, của quê hương mình mà còn là một tác phẩm có
giá trị của nhân loại Nhưng so với Truyện Genji, Hồng lâu mộng có hơn bốn mươi
bộ sách viết tiếp, hơn hai mươi bộ phỏng tác Chính vì thế, việc viết tiếp Hồng lâu
mộng của Cao Ngạc được đánh giá là hành động dũng cảm vì: “Viết nối một tác phẩm chưa hoàn thành – lại là một tác phẩm bất hủ, - rõ ràng là một công trình hết sức khó khăn, nếu không nói là nguy hiểm” [33, tr.209] Cao Ngạc đã dụng tâm
nghiên cứu tỉ mỉ nguyên ý của Tào Tuyết Cần và đã viết tiếp cho phù hợp “Vì thế,
trong khi tất cả các bản viết nối khác đều bị quên lãng thì bản của Cao tiên sinh lại được vinh dự đứng chung với nguyên tác lưu lại đời sau” [33, tr.209] Điều này
chứng tỏ Cao Ngạc cũng là một văn tài xuất chúng
Cao Ngạc (1738? – 1815?), tên chữ là Lan Thự, Vân Sĩ Vì ông đặc biệt yêu
thích tác phẩm Hồng lâu mộng nên lấy biệt hiệu là “Hồng lâu ngoại sử” Quê hương
của Cao Ngạc ở Thiết Lĩnh (nay thuộc Liêu Ninh), những năm đầu nhà Thanh tổ tiên ông sống tại Bắc Kinh Thuở nhỏ ông thích đi du ngoạn cảnh đẹp của quê hương Ông là người chăm học, thuộc lòng kinh sử, giỏi văn bát cổ, thi, từ, tiểu thuyết, hí khúc, hội họa … Chăm học nên Cao Ngạc chọn cho mình con đường tiến thân bằng khoa cử Thời Càn Long năm thứ 53 ông thi đỗ cử nhân, năm thứ 60 (1795) đỗ tiến sĩ Năm Gia Khánh thứ 6 (1801), Cao Ngạc làm chủ khảo trong cuộc thi Hương Năm thứ 14, ông làm Giám sát ngự sử ở Giang Nam Năm thứ 18 ông lên chức Hình khoa cấp sự trung Cao Ngạc được xem là người tiết tháo, làm việc cẩn thận, có tài năng nhưng về già phải sống cảnh thanh bần
Cao Ngạc làm quan dưới hai triều Càn Long – Gia Khánh, trải qua lắm hoạn nạn
trên con đường hoạn lộ Ông viết thêm bốn mươi hồi sau cho “Thạch đầu ký” căn cứ
trên nền tảng ý tưởng, văn phong của Tào Tuyết Cần Tác phẩm hoàn thành, Cao
Ngạc đổi tên “Thạch đầu ký” thành “Hồng lâu mộng” Giới nghiên cứu nhận định
bốn mươi hồi sau của Cao Ngạc không thể sánh với tám mươi hồi đầu của Tào Tuyết Cần về mặt nội dung và tư tưởng nghệ thuật Nhưng đóng góp to lớn của Cao Ngạc là
đã tiếp tục được tuyến ẩn dụ ám chỉ của Tào Tuyết Cần, về đại thể đã hoàn thành được kết cấu bi kịch của toàn tác phẩm, khiến cho câu chuyện trở nên hoàn chỉnh,
nhờ thế Hồng lâu mộng nhanh chóng được lưu truyền rộng rãi Đối với một số tình
tiết quan trọng như sự suy sụp của nhà họ Giả, những tai ương liên tiếp xảy đến và
Trang 25cuối cùng nhà họ Giả bị tịch biên gia sản, Đại Ngọc chết, Bảo Ngọc đi tu, kết thúc cuộc tình duyên đầy bi kịch đã được Cao Ngạc tiếp nhận từ chính sáng tác của Tào Tuyết Cần và tiếp nối một cách tài hoa Việc xử lý những chi tiết nghệ thuật ấy thể hiện được dụng tâm nghệ thuật của Tào Tuyết Cần, có sự thống nhất với những hồi trước, tạo nên không khí bi kịch đậm đặc trong những hồi cuối, tạo nên sự cảm thương u uất đến nghẹn ngào Ở một vài đoạn thể hiện được bút pháp miêu tả sinh động của Cao Ngạc như chi tiết liên quan đến Hạ Kim Quế; Giả Chính làm quan; Đại Ngọc đốt khăn lụa và tập thơ; chi tiết Tập Nhân lấy chồng … Tuy nhiên thiếu sót nghiêm trọng của Cao Ngạc là về cơ bản ông đã không kế thừa được tinh thần nguyên tác khi kết thúc tác phẩm bằng việc để Giả Bảo Ngọc thi đậu cử nhân, nhà họ Giả được trung hưng, lan quế đua thơm … Kết thúc ấy rõ ràng đã không kế thừa
được nguyên ý của Tào Tuyết Cần và chưa thoát khỏi mô típ kết cục “đại đoàn viên”
trong truyền thống văn học Trung Quốc Nhưng cho dù còn nhiều hạn chế nhưng bốn mươi hồi sau do Cao Ngạc viết vẫn hơn hẳn những phần viết tiếp của các tác giả khác
Do đó mới có thể kết hợp với tám mươi hồi đầu của Tào Tuyết Cần và lưu truyền cho
đến ngày nay Thế nên, có thể nói, bốn mươi hồi cuối của Hồng lâu mộng chính là
một sự tiếp nối tài hoa với những kỳ vọng, ước mơ mới mà cũ của tiến sĩ Cao Ngạc,
khiến cho tác phẩm trở thành một “thiên cổ kỳ thư” trong hơn ba trăm tác phẩm
chương hồi thuộc hai triều Minh – Thanh
Trang 26Chương 2: NHỮNG LÁ SỐ TIỀN ĐỊNH CỦA KIM LĂNG
THẬP NHỊ KIM THOA
Người xưa tin rằng bên cạnh cuộc sống hiện hữu của con người còn có một thế giới khác song song tồn tại Thế giới ấy bao gồm các vị thần có khả năng chi phối và điều khiển mọi hoạt động của con người trên thế gian, thậm chí sắp đặt mọi việc và
an bày số phận con người Quan niệm ấy tuy đã được khoa học hiện đại bác bỏ nhưng sức ảnh hưởng của nó vẫn còn tồn tại dai dẳng trong tâm thức con người
Bằng tác phẩm văn học, Tào Tuyết Cần phủ định thuyết thiên mệnh, tiền định một cách sâu sắc và tinh tế hơn Tác giả sáng tạo nên thế giới Thái hư Ảo Cảnh, nơi cất giữ quyển sổ vô tri, dự báo số phận bi kịch của biết bao cô gái Thế giới ấy, những
lá số tiền định ấy tạo nên một cảnh tượng giả nhằm tránh thảm họa văn tự ngục và hoàn cảnh chính trị đầy bất trắc Điều này chứng tỏ thế giới hư ảo được sinh ra từ
chính sự xung đột của bi kịch nhân sinh trong cuộc đời thực Vì “nếu thế giới hiện
thực có thể dung hòa và nuôi dưỡng nhân tính con người thì thế giới hư ảo kia sẽ không còn lí do tồn tại nữa” [38, tr.90] Cho nên, không có lý do gì để ta cho rằng
việc sáng tạo nên những “lá số tiền định” là sự phản ánh những hạn chế trong nhân
sinh quan của tác giả Ngược lại, tác giả mượn hình thức thơ ca để tái hiện số phận bạc mệnh của các nhân vật chính, biểu hiện sự thịnh suy của Tứ đại gia tộc Giả, Sử, Vương, Tiết, dự báo sự sụp đổ tất yếu của gia tộc này, đồng thời đề cập đến quá trình phát triển của toàn bộ câu chuyện, khái quát cao độ về cuộc sống xã hội phong kiến
đương thời Vì thế, “Mặc dù Hồng lâu mộng từ đầu đến cuối luôn bao trùm một nỗi
thương cảm và tâm trạng bi đát đối với định mệnh nhưng cũng từ đầu đến cuối không
hề buông bỏ khát vọng vươn tới một lý tưởng đẹp” [31, tr.761] “Giá trị chính của tác phẩm là thể hiện nhiệt tình của tác giả đối với nhân sinh (…) là nhiệt tình của con người yêu đời nhưng chán ghét trần tục” [20, tr.142]
2.1 “Tiền định” – một quan niệm trong hệ thống triết học Trung Hoa cổ
2.1.1 Xã hội Trung Quốc từ thời Ân Thương đến thời Tây Chu, thế giới quan
thần thoại, mê tín và tôn giáo duy tâm với các biểu tượng về Thiên mệnh, về ý chí của Thượng đế và quỷ thần – những lực lượng tinh thần tối cao, chi phối và quyết định sự biến hoá của vũ trụ và đời sống xã hội đã trở thành hình thái ý thức chiếm địa
vị thống trị thời bấy giờ Đó có thể do khởi nguyên của văn hóa Trung Hoa là văn hóa nông nghiệp Thiên thời địa lợi tốt xấu có liên quan trực tiếp đến việc được mùa hay mất mùa Điều này đồng nghĩa với việc điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người Từ việc không giải thích được những hiện tượng thiên biến vạn hóa trong thiên nhiên, con người đã sáng tạo ra một vị thần có sức mạnh siêu nhiên,
Trang 27siêu tự nhiên có khả năng chi phối và quyết định tất cả mọi vấn đề kể cả cuộc sống và
sự sống của con người
Ban đầu, Thiên mệnh chỉ có quan hệ với một mình Thiên tử Chỉ có vua mới được tế trời, nghe mệnh lệnh của Thượng đế Khi các quan hệ xã hội phức tạp hơn và cũng để có thực quyền hơn, “mệnh” được quy thành quyền thống trị của một họ Dần dần “mệnh” mở rộng ra nhiều phạm vi, nhiều đối tượng Mệnh dần dần có ý nghĩa là
“mệnh vận” Quá trình mở rộng phạm vi chi phối của “mệnh” là quá trình mở rộng phạm vi chi phối của thần chí thượng, trừu tượng Điều này chứng tỏ giai cấp thống trị dùng vũ khí tôn giáo này ngày càng một tinh vi hơn
Khổng Tử – người sáng lập ra Nho giáo cho rằng người ta không thể cưỡng lại
mệnh “chữa được bệnh chứ không chữa được mệnh” Khổng Tử nhấn mạnh: “Không
biết mệnh, không phải là quân tử” (Bất tri mệnh, vô dĩ quân tử giả) Trong quá trình
tu dưỡng, ông coi việc biết “mệnh” là một bước cao hơn cả biết Lễ và Trí Nhưng mặt
khác, Khổng Tử lại đề cao sức mạnh con người, ông cho rằng “tận nhân lực, tri thiên
mệnh”, cứ làm hết sức mình để đợi mệnh trời Tuy Khổng Tử đề cao con người
nhưng cuối cùng họ vẫn không thoát khỏi bàn tay an bày của tạo hóa
Mạnh Tử kế thừa học thuyết của Khổng Tử nên cũng rất tin ở mệnh trời Mạnh
Tử cho rằng con người có “tính” và “mệnh” đều do trời cho Con người giống nhau
về “tính” nhưng “mệnh” (giàu, nghèo, thọ, yểu, quý, tiện …) khác nhau Do vậy, con người có những phạm vi mà mức tự do và chủ động khác nhau
Đổng Trọng Thư cho Trời và người cảm thông với nhau “thiên nhân cảm ứng”,
trời là chủ tể của việc người, với người có công thì thưởng, với người có tội thì phạt; bắt khổ phải khổ, cho sướng được sướng
Cùng với sự phát triển của xã hội, con người dần dần nhận ra thuyết Thiên mệnh chỉ là công cụ mị dân của tầng lớp phong kiến thống trị Cho nên, ngay từ thời Xuân Thu – Chiến Quốc, trong khi Khổng Tử luôn đề cao mệnh trời thì ở Trung Quốc cũng xuất hiện nhiều học thuyết chống lại thuyết Thiên mệnh Những nhân vật tiên tiến như Tử Sản, Quản Trọng đã nhìn thấy sức mạnh của con người và nghi ngờ tác dụng của mệnh trời Đặc biệt là Mặc Địch và thuyết “kiêm ái” của mình, ông đưa ra thuyết
“phi mệnh” đối lập với thuyết “mệnh” của Khổng Tử Mặc Tử chỉ ra tác hại của nó
Ông chỉ ra căn nguyên của sự phổ biến thuyết mệnh: “bạo vương sở tái, cùng nhân
sở thuật” (bọn quan lại dùng thuyết mệnh để tự bênh vực, dân dùng để tự an ủi)
Thuyết mệnh theo ông là có tác dụng lừa dối kẻ thật thà, làm mọi người lầm lẫn Mặc
dù thuyết “kiêm ái” đại diện là Mặc Tử đã chỉ ra được chỗ vô lý của thuyết Thiên mệnh nhưng do hạn chế của thời đại, ông chỉ dừng lại ở việc đưa ra khái niệm “lực” (sức mạnh của con người) để chống lại “mệnh” nhưng không phủ định được Trời vì
Trang 28dù thế nào thì con người cũng bị trời quy định, vẫn không tránh được sự sắp đặt tùy tiện, vẫn không sao giải quyết được vấn đề sống chết, cùng bao nhiêu mâu thuẫn trong thực tế khách quan, những ngẫu nhiên trong tự nhiên và xã hội Tóm lại trong
xã hội nô lệ chủng tộc, vì muốn khẳng định và tập trung quyền lực thống trị, giai cấp thống trị đã mở rộng khái niệm Thiên mệnh đến mọi tầng lớp nhân dân Khổng Tử tiếp tục nhấn mạnh vai trò của người quân tử đối với Mệnh trời Mặc Tử tuy chống lại thuyết “mệnh”, đề cao sức mạnh của con người nhưng không phủ định được Trời
2.1.2 Nếu thuyết số mệnh khiến cho con người yên trí rằng giàu hay nghèo,
sang hay hèn, sướng hay khổ, thông minh hay ngu dốt, thọ hay yểu đều do số trời đã định, thì với thuyết Nghiệp báo cũng cho người ta sự yên trí tương tự: khi gặp lành người ta bảo tại trước kia đã ở hiền, khi gặp dữ người ta lại bảo tại kiếp xưa đã vụng
đường tu Điều này đã được nêu ra trong Phật học từ điển: “Cái nghiệp đã định sẵn
một cách chắc chắn, không cải đổi được Đó là cái nghiệp nhơn định sẵn chỗ thọ quả sướng hoặc khổ trong khi mình luân hồi Định nghiệp có hai thứ: định nghiệp lành và định nghiệp dữ Cái định nghiệp lành sắp đặt sẵn cái quả báo vui sướng cho mình hưởng Cái định nghiệp dữ sắp đặt sẵn cái quả báo buồn khổ cho mình chịu” [16,
quyển 1, tr.565] Nhưng xét kỹ nội dung thuyết Nghiệp báo đã không giống với thuyết Số mệnh ở chỗ có thể thay đổi tuỳ theo ý muốn của con người Vì Số mệnh hay đúng hơn là Nghiệp báo không phải ở đâu ngoài năng lực con người Mỗi người chính là kẻ thụ hưởng mà cũng chính là chủ nhân sáng tạo ra đời mình, ra số mệnh mình Số mệnh không phải là một tự nhiên mà là một chế tạo của nhân duyên tâm hành
Từ đó ta thấy cơ sở và hạt nhân của định nghiệp chính là duyên khởi thuyết Nói một cách đơn giản, Phật giáo cho rằng vạn vật do nhân duyên mà sinh mà diệt, tất cả mọi vật, mọi sự đều nằm trong mối quan hệ nhân quả Mỗi sự, mỗi vật trong vũ trụ đều đồng thời là nhân và duyên Nó là nhân để sinh ra quả của nó nhưng cũng là duyên để giúp nhân khác tạo ra quả khác Nhân duyên ấy hoạt động trong vòng tuần hoàn nên Phật giáo đưa ra thuyết gọi là Thập nhị nhân duyên Thập nhị nhân duyên gồm:
1 Vô minh: ngu dốt, mê lầm, tối tăm, không hiểu chân lý của vũ trụ, không nhận thấy bản thể, thật tánh của người và vạn vật
2 Hành: hành động Vì ngu dốt nên hành động sai lầm, làm những việc không đúng với chân lý, không hợp với thật tánh, nghĩa là làm những ác nghiệp
3 Thức: hiểu biết nhưng hiểu biết không sáng suốt, tưởng rằng có ta thật nên ham muốn sống mãi trong cảnh ấy Lòng ham muốn tạo thành một sức mạnh, một động lực sinh tử để đầu thai
Trang 294 Danh sắc: danh nghĩa là tên gọi, chỉ tâm linh hay tinh thần, vì tinh thần có tên gọi mà không có hình tướng để trông thấy Sắc tức là xác thân chỉ vật chất Hành động và hiểu biết sai lầm nên mới tạo ra nghiệp đầu thai Bào thai là vật do sự phối hợp của hai thứ vật chất và tinh thần
5 Lục nhập: lục là sáu, nhập là vào, tức là sáu căn hay sáu giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý Sáu căn này đem những cảm giác đối với hoàn cảnh bên ngoài vào bên trong cho thai
6 Xúc: là động chạm Ở trong bụng mẹ hay lọt lòng ra ngoài, thai đã tiếp xúc, động chạm với hoàn cảnh xung quanh
7 Thụ: là lãnh lấy, nhận lấy Động chạm tới hoàn cảnh tất sinh ra cảm giác Sáu căn tiếp nhận cảm giác ấy
8 Ái: là ưa thích Khi nhận những cảm giác mà cho là nó hợp với mình thì ưa thích
9 Thủ: là giành giữ lấy Ưa thích sự vật gì cố giành giữ lấy, tạo ra các nghiệp
10 Hữu: là hữu thân sau này Những nghiệp đã làm là nhân để sinh ra thân đời sau, vì trong nhân đã có quả làm sẵn
11 Sanh: là sinh ra Khi gặp đủ duyên thì thân sau sẽ sinh ra, nối tiếp cho thân hiện tại
12 Lão, tử: là già và chết Thân hiện tại già và chết Thân sau sinh ra sẽ lại già
và chết, để nhận một thân mới nữa nối tiếp như thế không bao giờ ngừng Vòng sanh
tử - tử sanh cứ quay tròn mãi
Thập nhị nhân duyên của Phật giáo giúp ta hiểu rằng con người sinh tử luân hồi
là do kết quả của ác nghiệp và sở dĩ tạo ra ác nghiệp là vì ngu dốt, mê lầm, không
nhận ra bản thể sáng suốt, chân tâm trong sạch của mình “Chính Vô Minh dẫn dắt ta
đi trong vòng quanh ảm đạm Rầy đây mai đó của chuỗi dài sanh - tử, tử - sanh vô cùng tận” [45, tr.339]
Đây là thuyết ảnh hưởng sâu sắc nhất đến đời sống con người, đồng thời ảnh hưởng sâu sắc đến tiểu thuyết, không chỉ ở Trung Quốc mà ở tất cả các nước chịu ảnh hưởng của Đạo phật
2.1.3 Trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc, ba nhà Nho, Đạo, Phật thường hòa
chung một dòng Vì thế, Đạo gia cũng có quan niệm riêng về số mệnh
Trong lúc Khổng Tử khuyên người ta nên theo những mệnh lệnh của Trời để trở thành những thành viên giàu lòng nhân ái và tốt đẹp của xã hội, Lão Tử khuyên họ cư
xử theo tính cách tự nhiên Đạo gia giải thích Trời là đạo tự nhiên vốn tự có, con người lấy đạo thuận ứng với tự nhiên làm nguyên tắc xử thế Nói về ba quan hệ phạm trù, trời, người, xã hội thì con người không thể tách biệt xã hội và cùng sống với tự nhiên Điều Lão Tử gọi là “Đạo” tức là đạo trời, vũ trụ vận hành là phép tắc quy luật
Trang 30tự nhiên Lão Tử dạy con người bắt chước đạo trời vĩnh hằng Lão Tử nói: “Đạo
thường vô vi, Nhi vô bất vi, Hầu vương nhược đăng thủ chi, vạn vật tương tự hóa, Hóa nhi dục tác, Ngô tương trấn chi” (Đạo thường không làm / Nhưng không gì
không làm / Bậc hầu vương giữ được nó, Vạn vật sẽ tự thay đổi / Thay đổi mà muốn làm / Ta nên ngăn lại – Đạo Đức kinh – Chương 27)
Trang Tử được xem là người có công mài giũa viên ngọc “Đạo” của Lão Tử để thể hiện đầy đủ vẻ lấp lánh huyền hoặc của nó “Tự nhiên vô vi” là một điểm quan
trọng của tư tưởng Lão Trang Trang Tử nói: “Thuận vật tự nhiên nhi vô dung tư yên,
nhi thiên hạ trị hĩ” (Thuận theo tính tự nhiên của muôn vật, không theo ý riêng mình,
mà thiên hạ trị) Tự nhiên mà Trang Tử nói đến là mở rộng tự do tính người, phát triển đầy đủ nhân cách, không cưỡng ép người khác theo ý muốn của mình Như thế,
có thể duy trì được mối quan hệ con người ngang hàng nhau Học phái đạo gia cũng thừa nhận con người là một thể tự nhiên, là điều có thực Lão Tử chủ trương “Vô
thân” Ông nói: “Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả, vi ngô hữu thân, cập ngô vô thân, ngô
hữu hà hoạn” (Nghĩa là: Ta sở dĩ có lo lớn là vì có thân, nếu ta không có thân, ta sao
có lo gì?) Lão Tử cho rằng những mối lo của con người là do có thân mình Con người nếu như tự quí trọng thân mình, tự quí trọng sự sống của mình thì mối lo sợ càng nặng Người ta nếu không quí thân mình, không quí sự sống của mình, cũng tức
là từ ngoài thân mình, từ ngoài sự sống thì sẽ tránh được những mối lo vô cùng tận Lão Tử đề xướng “vô thân”, Trang Tử chủ trương “bảo thân” (bảo vệ thân mình), hai cách nói khác nhau nhưng tinh thần phòng họa tránh lo thực ra có chỗ nhất trí Đạo giáo kế thừa tư tưởng Đạo gia và phương thuật thần tiên, lấy dưỡng sinh trọng sinh, quí sinh, theo đuổi trường sinh làm giáo nghĩa căn bản Đạo giáo cho rằng con người
là tích tinh tụ khí hòa hợp thụ sinh Bao Phác Tử viết: “Ngã mệnh tại ngã bất tại thiên” (Nghĩa là: mệnh mình ở mình chứ không phải ở trời), sự tồn vong của sinh mệnh con người, sống lâu chết non quyết định ở bản thân mình, chứ không phải quyết định ở mệnh trời Con người có thể trải qua tu luyện nhất định, sẽ trở thành thần tiên, trường sinh bất tử
Học thuyết của Dương Chu về thế giới, căn bản đứng trên lập trường chủ nghĩa duy vật ngây thơ Ông đã kịch liệt phê phán quan niệm tôn giáo và niềm tin vào sự bất tử Theo Dương Chu, tất cả các biến cố và hiện tượng tự nhiên xã hội đều chịu sự tác động của nguyên lý tất yếu tự nhiên, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người và không phụ thuộc vào thần thánh ma quỷ Nhưng khi lẽ tự nhiên chi phối đời sống của vạn vật, mạnh mẽ sâu kín, không biết tại sao nó lại như vậy Dương Chu gọi đó là mệnh trời
Trang 31Thuyết Thiên mệnh hay Mệnh trời của Nho gia, Thuyết Nghiệp hay Định Nghiệp, nhân quả luân hồi của Phật giáo, tuy tên gọi và cách lý giải khác nhau nhưng
không ngoài mục đích chỉ cho con người thấy rằng: “Phàm việc gì đều có số định
trước, sức người không thể dời đổi được Như giàu, nghèo, thọ, yểu, phước, họa đều
do tiền định”[16, tr.102] Tiền định chính là tên gọi khác của các học thuyết trên
được lưu truyền rộng rãi trong nhân gian Thuyết tiền định đã thâm nhập vào tâm thức con người nên không thể một sớm một chiều mà xóa bỏ được Trong thuyết Tiền
định, “con người được xem là đồ chơi nhu nhược của thần linh hay của tự nhiên,
được khởi động một lần và không thể thay đổi tiến trình đã được vạch sẵn của các biến cố”[63, tr.335]
Đạo gia không phủ nhận sinh mệnh của con người nhưng chủ trương con người nên thuận theo tự nhiên mà sống Đạo giáo coi trọng sinh mệnh con người và mong muốn kéo dài tuổi thọ Bên cạnh đó Đạo giáo cũng còn cho rằng vạn vật trong vũ trụ
là do thiên thần địa thị chủ tể và ngay cả các bộ phận trong cơ thể con người cũng bị thần linh khống chế
Hồng lâu mộng ra đời trong bối cảnh: “Đến đời Thanh, các vua chúa một mặt đề
xướng Nho học, mặt khác càng say mê Phật giáo, Đạo giáo, cho truyền bá tư tưởng Phật, Đạo tạo nên không khí tin sùng tôn giáo cực thịnh thời bấy giờ Triều đình tôn sùng thì dân chúng học theo, đến mức tất cả đều tin thuyết nhân quả, trốn vào hư vô,
ăn chay thành nếp nhà, bàn Thiền thành quốc chính; một vài người xướng lên phía trước, trăm ngàn người họa ở đằng sau; thậm chí ra khỏi thì triều phục, về đến nhà lại mặc áo nhà sư, khiến kẻ trí mê hoặc, người ngu kinh hoàng, ai thấy nghe đều sợ hãi” [12, tr.65] Không khí đời sống xã hội như vậy, ít nhiều đã có ảnh hưởng đến
quá trình sáng tác Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần
Ba tư tưởng Nho, Phật, Đạo cùng với truyền thống văn hóa và văn học Trung
Quốc đã hình thành trong Hồng lâu mộng một thế giới tâm linh mang màu sắc phức
hợp Điều đó tạo nên tính chất kỳ bí hư ảo cho Lá số tiền định của người tài nữ đất
Kim Lăng Chúng ta biết rằng “Định mệnh là vũ trụ quan và nhân sinh quan mà
người xưa dùng để giải thích cuộc đời”[52, tr.204] Bằng cách sáng tạo nên những lá
số tiền định, Tào Tuyết Cần đã cụ thể hóa những học thuyết ấy một cách hình tượng
và sinh động Để sau đó ông khéo léo phủ nhận nó Điều này chứng tỏ, tính khuynh hướng trong tác phẩm nghệ thuật không hề dễ dãi Nó phản ánh hiện thực có khi trực tiếp, có khi gián tiếp, cũng có khi ẩn náu, có khi mâu thuẫn … và cũng có khi dưới hình thức phủ định mà lại khẳng định, chập chờn ẩn hiện, thật kỳ thú
Trang 322.2 Lá số tiền định dưới góc nhìn của những phương tiện nghệ thuật
Hồng lâu mộng có tất cả ba mươi hai giấc mộng lớn nhỏ Trong đó giấc mộng
Giả Bảo Ngọc được đưa đến cõi tiên – Thái Hư Ảo Cảnh là dài nhất Nương theo giấc
mơ của mình, Bảo Ngọc tận mắt trông thấy quyển sổ ghi chép số phận bi kịch của những người con gái đất Kim Lăng Đó cũng chính là Lá số tiền định của Kim Lăng thập nhị kim thoa Những lá số tiền định này vừa có tính dự báo số phận của nhân vật
đồng thời nó còn có tác dụng chi phối toàn bộ câu chuyện diễn ra trong Hồng lâu
mộng Lá số tiền định đóng vai trò như một đề cương chi tiết, giúp tác giả triển khai
những tình tiết phức tạp, phong phú trong tác phẩm một cách rõ ràng, khúc chiết, khéo léo như mây trời không để lộ đường may
Tuy Tào Tuyết Cần chưa viết xong Hồng lâu mộng nhưng những lá số tiền định
ấy đã hé lộ cho người đọc biết số phận của các Kim thoa cùng những a hoàn thân tín Đồng thời báo trước bi kịch tình yêu giữa Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc, không những thế lá số ấy còn cho thấy cả tương lai hoang tàn đổ nát của Tứ đại gia tộc, rộng hơn nữa là dự báo sự sụp đổ tất yếu của chế độ phong kiến Dựa vào những lá số tiền định này mà Cao Ngạc có cơ sở để viết tiếp bốn mươi hồi sau, góp phần hoàn thiện tác phẩm Tuy nhiều tình tiết ở bốn mươi hồi sau phần lớn không phù hợp với những
ẩn ý của phần trước, cũng như sự ám thị về số phận các nhân vật ở hồi năm Đó là do
sự trải nghiệm của Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc không giống nhau nên Cao Ngạc chưa có được tinh thần phủ định sâu sắc và triệt để xã hội phong kiến.
Những lá số tiền định của Kim Lăng thập nhị kim thoa đều có chung một hình thức Đó là những bài thơ ngắn, kèm theo mỗi bài thơ và một bức họa Mỗi bài thơ được cấu tạo như một câu đố Ngôn ngữ súc tích, lời thơ giản dị nhưng chứa đựng nhiều thông tin mang tính tự sự nhằm ám chỉ toàn bộ cảnh ngộ và số phận của các kim thoa Đáp án của những câu đố này cũng chính là toàn bộ cuộc đời và số phận bi kịch của họ
Giả Bảo Ngọc là người có cơ duyên tận mắt trông thấy những lá số này, và tuy là
người có “tư chất thông minh, tính tình mẫn tuệ” [10, tập1, tr.104] nhưng Bảo Ngọc
vẫn không thể hiểu hết ý nghĩa của những lá số mình đọc Mặt khác, nàng tiên Cảnh
Ảo cũng sợ “tiết lộ thiên cơ” nên vội giục Bảo Ngọc đi nơi khác, khiến chàng không
thể xem kỹ và có thời gian ngẫm nghĩ Nhưng cho dù Bảo Ngọc có thời gian cảm nhận và chiêm nghiệm những gì mình đọc được thì chàng cũng khó mà hiểu hết ý nghĩa của nó Mãi đến khi chứng kiến cảnh ngộ bất hạnh của những người con gái gần gũi, thân thiết, những chị em ruột thịt, những người mà chàng thương yêu, nâng niu, quý trọng cùng với việc trở lại Cảnh Ảo lần thứ hai, Giả Bảo Ngọc mới ngộ ra được những ẩn ý mà chàng đã được xem Điều này không có vẻ gì là khó hiểu Chính
độc giả khi đọc Hồng lâu mộng cũng có cảm giác tương tự như Giả Bảo Ngọc Đó là
Trang 33vì nhiều chi tiết thơ của lá số phải đến kết truyện hoặc đọc đi đọc lại nhiều lần mới thấu hiểu hết ngụ ý trong đó Khi hiểu được lời tiên đoán lại muốn giở trang truyện ra đọc lại thêm lần nữa để ngẫm nghĩ cái ý vị của lời tiên báo Hiệu quả nghệ thuật ấy chính là nét độc đáo trong quá trình sáng tạo lá số tiền định của Tào Tuyết Cần Nhìn
từ góc độ thông tin, ta thấy lá số tiền định có đặc điểm“tuy ẩn mà lộ”, “tuy lộ mà
ẩn” Để tạo được đặc điểm ấy đòi hỏi tác giả phải khéo léo trong việc thiết kế để tạo
nên sự liên kết và thống nhất trong toàn tác phẩm Đồng thời do đặc điểm trên của lá
số nên đòi hỏi bản dịch phải tuân theo một số yêu cầu như: bản dịch phải giữ được hình thức đơn giản, súc tích của lời thơ; bản dịch thơ phải có khả năng kết nối, hô ứng với những tình tiết của câu chuyện; bản dịch phải khiến cho độc giả phân biệt và
nhận ra những nhân vật được ám chỉ; cuối cùng bản dịch cũng không được “tiết lộ
thiên cơ”
Chính vì không thể tuân thủ một cách nghiêm ngặt những yêu cầu của việc dịch
lá số tiền định nên bản dịch Hồng lâu mộng có đôi chỗ khó hiểu, hoặc có khi cần
“ẩn” lại “hiện”, khi cần “hiện” thì lại không thể “hiện” Một trong những khó khăn khi không thể chuyển tải ý đồ nghệ thuật của Tào Tuyết Cần trong bản dịch thơ là do tác giả đã vận dụng những phương tiện tu từ nghệ thuật phổ biến, tạo nên tính hàm ẩn trong những lá số Những phương tiện nghệ thuật ấy kết hợp với đặc thù ngôn ngữ tiếng Hán tạo nên sắc thái văn hóa riêng biệt, độc đáo, thú vị Do đó, muốn “giải mã”
lá số tiền định, chúng ta cần phải xem xét nó dưới góc độ của những phương tiện nghệ thuật như: ẩn dụ, điển cố, song quan, chiết tự
Ẩn Dụ: Theo Đinh Trọng Lạc: “ Ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa
hình tượng, dựa trên sự tương đồng hay giống nhau (có tính chất hiện thực hoặc tưởng tượng ra) giữa khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) A được định danh với khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) B có tên gọi được chuyển sang dùng cho A” [36, tr.52] Để đạt được hiệu quả tượng trưng, trong lá số tiền định
Tào Tuyết Cần đã sử dụng rất nhiều hình ảnh ẩn dụ Ý nghĩa nội hàm của ẩn dụ có liên quan mật thiết đến văn hóa Trung Quốc Ví dụ lá số đầu tiên trong hựu phó sách
viết: “Trăng trong khó gặp, mây đẹp dễ tan” [10, tập 1, tr 106] Nguyên tác là: “Tế
nguyệt nan phùng, thái vân dị tán”[ 67, quyển thượng, tr.16] Câu thơ dịch đã chuyển
tải khá tốt ý thơ nguyên tác Nhưng bản dịch chỉ nói được nghĩa hiển ngôn của câu thơ, chứ không thể giúp người đọc cảm nhận được nghĩa hàm ẩn thông qua hình ảnh
ẩn dụ Vì hai chữ “tế nguyệt” trong nguyên tác vừa miêu tả vẻ đẹp của ánh trăng
đồng thời còn ám chỉ tính cách bộc trực, cởi mở, thẳng thắn, phẩm cách quang minh
lỗi lạc của con người; “thái vân” nghĩa là ráng mây, là “mây đẹp” đồng thời còn
được dùng để ví những điều tốt đẹp Trong khi đó câu thơ dịch chỉ gợi cho ta cảm giác đây là một câu thơ tả cảnh chứ không thể gợi liên tưởng đến những phẩm chất
Trang 34tốt đẹp của con người Ngoài ra, hai chữ “tế nguyệt” và “thái vân” còn ẩn chứa tên của Tình Văn “Tình” nghĩa là trời quang, trời nắng đẹp, “Văn” nghĩa là mây có hình hoa văn Và cái tên “Tình Văn” nghĩa là áng mây đẹp Tuy nhiên, người đọc rất khó nhận ra ý nghĩa của tên gọi ấy nên càng khó nhận biết tên của Tình Văn ẩn trong lá số
Điển cố: Theo Nguyễn Xuân Hoà việc các tác gia Trung đại thường vận dụng
điển tích trong tác phẩm của mình là “do quan niệm thẩm mỹ của người phương
Đông, lại sống trong xã hội phong kiến ngưng đọng, kém phát triển, con người ta thường hoài cổ cho rằng xã hội ngày xưa là tốt đẹp Vì vậy các tác gia ngày trước thường mượn các sự tích trong các truyện lịch sử, truyện cổ tích và thơ văn của những tác giả nổi tiếng vào trong tác phẩm của mình” [30, tr.40 – 41] Lại Nguyên
Ân và Bùi Văn Trọng Cường trong Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến thế
kỷ XIX giải thích thuật ngữ điển cố: “Trong hành văn thường hay nhắc đến một sự
tích xưa hoặc một vài câu thơ, câu văn cổ để diễn tả ý mình, nhưng đây không phải là lối trích dẫn nguyên văn, mà là lối dùng lại vài chữ cốt gợi nhớ được đến tích cũ ấy, câu văn cổ ấy Lối này được gọi chung là dùng điển cố, bao gồm phép dùng điển và phép lấy chữ” [2, tr.121] Điển cố, điển tích được sử dụng rộng rãi ở mọi nơi, trong
mọi nền văn học Sự phổ biến của điển tích, điển cố là do tiết kiệm, người xưa luôn hướng tới việc truyền đạt nhiều thông tin nhất với lượng ngôn từ nhỏ nhất Vì thế, điển cố là một phương tiện nghệ thuật không thể thiếu trong quá trình sáng tác của người nghệ sĩ Bên cạnh đó, điển cố xuất hiện trong những lá số tiền định còn có tác
dụng ám chỉ người hoặc tình tiết, sự việc nhằm đạt mục đích không “tiết lộ thiên cơ”
Thế nên, bên cạnh ẩn dụ, điển cố càng có mối quan hệ gắn bó mật thiết với lịch sử, văn hóa Trung Quốc Đồng thời, điển cố còn thể hiện ý nghĩa ở hai tầng nội hàm và ngoại diên Việc vận dụng điển cố trong lá số tiền định càng làm tăng thêm hàm lượng thông tin và tính chất ngụ ý trong số phận nhân vật Lấy lá số của Tương Vân làm ví dụ, ta thấy dễ dàng nhận ra hai điển cố “sông Tương” và “mây Sở” được tác giả vận dụng để ám chỉ hạnh phúc ngắn ngủi Tương Vân: “Sông Tương nước chảy mây Sở trôi”
Song quan: “song quan” được hiểu là “hai ý nghĩa”, “là cách dùng từ đặt câu
sao cho bề ngoài là một ý nhưng lại ngầm có ý khác bên trong” [8, tr.1768] Biện
pháp nghệ thuật song quan trong tiếng Hán có điểm tương đồng với nghệ thuật chơi chữ dựa vào hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt Đồng âm trong tiếng Việt chỉ
những từ có cùng một vỏ âm thanh nhưng lại có ý nghĩa hoàn toàn khác nhau Những
câu đối hoặc những câu thơ được tổ chức bằng cách khai thác những đặc điểm này thường đem lại cho người đọc những bất ngờ thú vị Tương tự như thế, trong tiếng Hán, ranh giới giữa các hình vị, âm tiết và từ trùng khít với nhau nên thường tạo nên những hiện tượng từ đồng âm, từ đa nghĩa … Song quan chính là cách thức mượn
Trang 35đặc điểm của từ đa nghĩa, từ đồng âm để tạo nên từ có hai tầng ý nghĩa trở lên nhằm làm cho việc diễn đạt ngụ ý thêm sâu sắc và có nhiều điều thú vị Biện pháp nghệ thuật song quan là cách thức quan trọng tạo nên hiệu quả sấm truyền trong việc ám chỉ số phận nhân vật Lấy lá số của Lý Hoàn làm ví dụ, ta thấy tác giả đã dùng hình ảnh chậu lan để ám chỉ Giả Lan Chúng ta nhận ra điều đó vì biện pháp nghệ thuật song quan khá gần gũi với tiếng Việt và âm Hán Việt đã tạo thuận lợi cho việc nhận diện biện pháp nghệ thuật này
Chiết tự: Chữ Hán được xem là thứ văn tự độc đáo gồm: Âm – hình – nghĩa
“tam vị nhất thể” Đặc trưng của chữ Hán là chữ tượng hình, có đặc điểm hình thanh, biểu ý nên trong bản thân hình dáng của chữ đã mang ý nghĩa nhất định Phương thức cấu tạo chữ Hán được người Trung Quốc nghiên cứu nhiều, và đưa ra lý luận “lục thư” (6 phép cấu tạo chữ Hán) gồm: tượng hình, chỉ sự, hội ý, hình thanh, chuyển chú, giả tá
Những phương pháp tạo chữ thần kỳ và độc đáo của chữ Hán, đã giúp người ta
có thể từ kết cấu mặt chữ tìm hiểu ý nghĩa nguyên thuỷ của một chữ nào đó Chữ Hán
có lịch sử lâu đời, quá trình phát sinh phát triển của chữ Hán từ một góc độ nào đó đã phản ánh văn hoá của dân tộc Trung Hoa, chữ Hán và ý thức văn hoá của dân tộc Trung Hoa có mối quan hệ mật thiết không thể tách rời Chính vì đặc thù của chữ đã tạo nên cách chơi chữ độc đáo
Bản chất của hiện tượng chơi chữ là tiến đến phản ánh một loại đối tượng mà trong những hoàn cảnh nhất định không cho phép nói thẳng ra Bằng sự hiểu biết sâu sắc đặc điểm tiếng Hán, nhà nghệ sĩ luôn hướng ngòi bút của mình làm thế nào đó để
cuối cùng sử dụng “một mũi tên mà bắn trúng hai đích”
Phần lớn các trường hợp khi xuất hiện chơi chữ thì đồng thời cũng xuất hiện những dụng ý của nhà văn, nhà thơ Dụng ý này thường ẩn sâu sau các kiểu cấu trúc
Nó chỉ được đánh thức dậy bằng những liên tưởng sâu xa, bằng chính sự hiểu biết tinh tế của người đọc Bởi thế bản chất của hiện tượng chơi chữ là việc thiết lập nên mối quan hệ giữa hình thức biểu hiện với nhiều nội dung ngữ nghĩa khác nhau tồn tại dưới hình thức biểu hiện ấy
Chơi chữ kiểu chiết tự là cách nhà thơ khai thác đặc điểm về tính nhiều nét nghĩa của chữ Hán, trên cơ sở những chữ có cách viết gần giống nhau để tiến hành chơi chữ bằng cách tách bớt nét chữ hoặc thêm vào sắp xếp lại các chữ tạo thành chữ mới Trong ngôn ngữ có thể có nhiều chữ cách viết gần giống nhau, tương tự nhau nhưng không phải chỉ chọn các chữ có cách viết gần giống nhau là có thể tạo được thủ pháp chơi chữ Vấn đề là trong mối quan hệ về hình thức (cách viết giữa các chữ ấy có mối quan hệ về ý nghĩa hay không?) Chơi chữ kiểu chiết tự là một việc làm có tính chất
“vừa phá vừa xây” các yếu tố ngôn ngữ Cho nên ở đó thường biểu hiện trí tuệ thông
Trang 36minh sắc sảo, sự suy ngẫm tập trung của nhà thơ Hơn nữa, trong thơ ca, người sáng tác còn bị câu thúc bởi quy luật vần điệu, tình hình sẽ càng khó hơn Cho nên, chơi chữ bằng cách chiết tự trong thơ thường xuất hiện ở những tài năng kiệt xuất về khả năng hiểu và sử dụng ngôn ngữ Tóm lại, chơi chữ là một hiện tượng rất lý thú trong thơ ca Và Tào Tuyết Cần đã tận dụng được khả năng, tính chất đặc thù của chữ Hán bằng cách chơi chữ để tạo nên những ám chỉ trong lá số tiền định Ví dụ, câu thơ thứ
ba trong lá số tiền định của Hương Lăng:“Từ lúc cây trồng hai chỗ đất” [10, tập 1,
tr.106] đã thể hiện thủ pháp chiết tự bằng cách ghép chữ “Cây” trong tiếng Hán là chữ “mộc”, “đất“ là chữ “thổ”, “mộc” kết hợp với hai chữ “thổ” xếp chồng lên nhau tạo thành chữ “quế”, mà “quế” lại ám chỉ tên của Hạ Kim Quế vợ của Tiết Bàn Câu thơ trực tiếp chỉ ra chính Hạ Kim Quế là người đã khiến cho Hương Lăng phải gửi
“hương hồn trở lại chốn quê nhà” [10, tập 1, tr.106]
Việc khám phá ý nghĩa lá số tiền định của Kim lăng thập nhị kim thoa dưới góc nhìn của những phương tiện nghệ thuật là cơ sở để chúng tôi đi vào giải mã những
ám chỉ trong mười một lá số tiền định
2.3 Những ám chỉ trong mười một lá số tiền định
Thập nhị kim thoa – những đóa hoa hương sắc, “mỗi người một vẻ mười phân vẹn
mười” Mỗi người một số phận, một cuộc đời nhưng họ cùng có một điểm chung đó
là ra đi từ nơi Cảnh Ảo, hội ngộ ở vườn Đại Quan Ở nơi cao sang vương giả, tận hưởng cuộc sống vui tươi ngắn ngủi để rồi mỗi người lại nhận lấy một kết cục đau buồn Đâu rồi quán Tiêu Tương, nơi chôn chặt hồn hoa của nàng thiếu nữ được sinh
ra từ giọt lệ hồng; Đâu rồi bóng dáng một Vương Hy Phượng quyền uy; một Bảo Thoa tinh tế biết phận theo thời; một Tích Xuân cô đơn với ngọn đèn bên cạnh Phật bà; một Thám Xuân với cánh diều đứt dây; một hồng nhan bạc mệnh Nguyên Xuân; bước nhầm hang cọp của nàng Nghênh Xuân; trái với đạo lý để tự đày ải mình của Tần Khả Khanh; hay người ngoài cửa Diệu Ngọc; một đời thủ tiết Lý Hoàn; hay vùi mình trong phong trần như Sử Tương Vân; và một Xảo Thư – cô tiểu thư – bỗng chốc trở thành thôn nữ Tất cả những nỗi bi ai ấy đã được tác giả ám chỉ trong mười
một lá số tiền định
2.3.1 Lá số thứ nhất (Lá số của Lâm Đại Ngọc và Tiết Bảo Thoa)
Đứng đầu Kim Lăng thập nhị kim thoa chính sách là lá số của Lâm Đại Ngọc và Tiết Bảo Thoa Hai nữ nhân vật này thường xuất hiện bên nhau, soi rọi vào nhau để làm nổi bật những nét tương đồng và khác biệt nhưng chủ yếu là khác biệt Lâm Đại Ngọc và Tiết Bảo Thoa cùng xuất hiện trong một lá số tiền định:
Than ôi có đức dừng thoi,
Thương ôi cô gái có tài vịnh bông
Ai treo đai ngọc giữa rừng,
Trang 37Trâm vàng ai đã vùi trong tuyết dày? [10, tâp 1, tr.107]
Trong lá số trên, tác giả đã sử dụng hai biện pháp nghệ thuật: điển cố và song quan
Hai câu thơ đầu gồm hai điển cố: “đức dừng thoi” và “tài vịnh bông” “Đức
dừng thoi” là điển cố lấy từ “Hậu Hán thư – Liệt nữ truyện” “Đức dừng thoi” chỉ
đức tính tốt đẹp của người phụ nữ, phù hợp với yêu cầu của lễ giáo phong kiến Tương truyền thời Đông Hán, Nhạc Dương Tử đi tầm sư học đạo nhưng nửa đường
bỏ dở quay về, vợ của ông đang ở nhà dệt vải, thấy thế đã dừng thoi lại lấy kéo cắt đứt tấm vải đang dệt Hành động đó của người vợ nhằm khuyên chồng nên cố gắng tiếp tục đi theo con đường học vấn nhằm tạo lập công danh sự nghiệp Điển tích ấy
ám chỉ Tiết Bảo Thoa, vì nàng là một thục nữ phong kiến điển hình chỉ biết khuyên chồng theo đuổi sự nghiệp công danh, khoa cử
“Tài vịnh bông” là điển cố dẫn từ “Tấn đại tài tử” trong Thế thuyết tân ngữ
Điển cố này dùng để chỉ người phụ nữ giỏi thơ văn Chúng ta đã biết, hầu hết những thiếu nữ nơi Đại quan viên đều có tài làm thơ, nhất là Tiết Bảo Thoa, người có thể sánh với Đại Ngọc và cùng Đại Ngọc thay nhau giành ngôi vị quán quân trong cuộc
thi tao nhã của Hải Đường thi xã Thế nhưng vì sao ba tiếng “tài vịnh bông” lại được
dành cho Đại Ngọc? Đó là vì Bảo Thoa không xem việc làm thơ là chính Nàng luôn quan niệm con gái không có tài là đức, con gái chỉ cần biết thêu thùa may vá còn việc ngâm thơ đề vịnh không biết cũng chẳng sao Nhưng Đại Ngọc thì ngược lại, nàng yêu thơ, nàng thích làm thơ và luôn muốn khoe tài làm thơ của mình Thực tế, nàng thực sự có tài năng thi phú, có tâm hồn thi sĩ, nàng là một thiếu nữ chan chứa tình thơ
và có một trái tim thi sĩ ôm nặng nỗi đau đời
Hai câu thơ tiếp theo:
“Ai treo đai ngọc giữa rừng,
Trâm vàng ai đã vùi trong tuyết dày?”
Trong nguyên tác là:
“Ngọc đái lâm trung quải
Kim trâm tuyết lý mai” [67, quyển thượng, 16]
Ba chữ “ngọc đái lâm”, ngoài ý nói lên mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa
“ngọc” là Giả Bảo Ngọc và “lâm” là Lâm Đại Ngọc, trong câu thơ trên tác giả còn sử dụng nghệ thuật song quan bằng cách dùng từ đồng âm kết hợp với nói láy để ẩn tên nhân vật “Ngọc đái lâm” tiếng Hán đọc là “Yù dài lín”, đọc ngược lại thành “lín dài yù” mà “lín dài yù” lại đồng âm với tên Lâm Đại Ngọc
Câu thơ thứ tư ẩn tên Bảo Thoa, vì hai chữ “kim trâm” đồng nghĩa với “kim thoa” dùng để chỉ đồ trang sức cài trên đầu phụ nữ Chữ “thoa” trong “kim thoa”
Trang 38đồng âm với chữ “Thoa” tên của Bảo Thoa và chữ “tuyết” gần âm với chữ “tiết” là họ
“Tiết” của Tiết Bảo Thoa
Từ những phân tích trên, ta thấy lá số tiền định đầu tiên đề cập đến số phận hai nhân vật Lâm Đại Ngọc và Tiết Bảo Thoa, đồng thời qua đó hé mở cho ta thấy đặc điểm tính cách đặc trưng của hai nhân vật này Đó là chữ “đức” được dành cho Bảo Thoa, nàng chính là mẫu người hiền đức theo đúng quan niệm và yêu cầu của xã hội phong kiến, còn chữ “tài” thuộc về Lâm Đại Ngọc
2.3.2 Lá số thứ hai (Lá số của Giả Nguyên Xuân)
Lá số của đại tiểu thư nhà họ Giả vẽ hình một cây cung, trên cây cung treo một quả phật thủ cùng với lời sấm:
Sau tuổi hai mươi đã trải đời,
Kìa hoa lựu nở cửa cung soi
Ba xuân nào được bằng xuân mới,
Thỏ gặp hùm kia giấc mộng xuôi [10, tập 1, tr.107]
Trong lá số này ta thấy tác giả tiếp tục sử dụng nghệ thuật song quan, nghĩa là dùng từ đồng âm để ám chỉ nhân vật Hình ảnh cây cung là một vũ khí tượng trưng cho mâu thuẫn và chiến tranh, đồng thời chữ “cung” còn đồng âm với chữ “cung” trong chữ cung vi, cung đình Còn quả phật thủ, âm Hán Việt là “hương duyên” đọc
là “xiang yuán” đồng âm với chữ “yuán” là “nguyên”, ẩn tên “Nguyên” của Giả Nguyên Xuân Cuộc đời Giả Nguyên Xuân được dự báo trong lá số tiền định là:
Nguyên Xuân sống trong cung hơn hai mươi năm, nàng có sự thấu hiểu sâu sắc
về cuộc đời về những thị phi gian trá nơi cung cấm, đồng thời cũng đã nếm trải đủ mùi vinh nhục, sướng khổ ở đời nên câu đầu tiên trong lá số tiền định của nàng viết:
“Sau tuổi hai mươi đã trải đời” Tuy tuổi đời còn khá trẻ nhưng Nguyên Xuân đã thụ
hưởng tất cả mọi vinh hoa phú quý Cuộc đời vinh sang cao quý mà nàng có được là
do nàng được sự sủng ái của Hoàng đế Thế nên từ chức sử nữ nàng được Hoàng thượng phong chức Thượng thư ở cung Phượng Tảo Cuộc đời nàng như hoa lựu đến
ngày đơm hoa kết trái: “Kìa hoa lựu nở cửa cung soi”
“Ba xuân” trong câu “Ba xuân nào được bằng xuân mới” chỉ ba cô em gái của
Nguyên Xuân: Nghênh Xuân, Thám Xuân và Tích Xuân Cả ba cô em gái đều không thể sánh với chị về địa vị cao quý, uy quyền tột đỉnh, giàu sang vinh hiển Không những thế nàng còn là điểm tựa, là chỗ dựa của nhà họ Giả lúc hưng thịnh Tên của nàng là Nguyên Xuân còn có nghĩa là “xuân mới”, vì nàng sinh vào đúng ngày mồng một tháng giêng, ngày đầu xuân và ngày đầu tiên trong năm Vì thế, Thám Xuân có
lần đã nói: “Ngày mồng một Tết cũng có sinh nhật, chính chị Nguyên Xuân đẻ vào
ngày ấy đấy Không trách chị ấy hưởng phúc nhiều, đến ngày sinh nhật cũng chiếm
Trang 39trước tiên”[10, tập 4, tr.26] Thế nhưng, ngày vui mau tan, cảnh đẹp mau tàn, nên chỉ
mới bốn mươi tuổi hơn thì lá số tử vi của nàng đã ứng nghiệm:“Thỏ gặp hùm kia
giấc mộng xuôi” “Thỏ” và “hùm” là hai chi “Mão” và “Dần” trong địa chi Theo lá
số này thì Nguyên Xuân mất vào cuối năm Dần, đầu năm Mão
Bốn câu thơ trên đã khái quát cả cuộc đời của Nguyên Xuân từ những năm còn
là sử nữ theo hầu các công chúa phi tần đọc sách, đến lúc được vinh hiển, ở trên tột
đỉnh uy quyền và danh vọng nhưng thời gian ấy không dài thì nàng “hưởng hết
phúc” Nguyên Xuân được Hoàng thượng thương yêu vì nàng đã tuân thủ và giữ trọn
yêu cầu lễ giáo, đạo đức phong kiến Vì thế, khi lâm chung Hoàng thượng phong nàng là “Hiền đức phi” Nguyên Xuân trở về nơi Cảnh Ảo là dấu hiệu cho thấy bi kịch của gia tộc họ Giả bắt đầu
Nhớ tiếc thanh xuân ra bến khóc
Gió đông nghìn dặm mộng xa đi [10, tập 1, tr.107]
Cuộc đời Thám Xuân, nhất là kết cục lấy chồng xa của nàng có nhiều kiến giải
khác nhau Bài viết “Đoán trước việc lấy chồng xa của Thám Xuân”[56, tr.181-196] trong quyển “Mạn đàm về Hồng lâu mộng” của hai tác giả Trương Khánh Thiện và
Lưu Vĩnh Lương đã phân tích và luận giả khá chi tiết Tác giả cho rằng hình ảnh hai người thả diều chính là Giả Chính và Vương phu nhân Họ là người quyết định chuyện hôn nhân đại sự của Thám Xuân Họ mong cho cánh diều Thám Xuân có thể tìm được người chồng tương xứng nhưng không ngờ, thả diều ra, diều bay cao bay xa, sau đó đứt dây, diều bay mất Diều đứt dây, bay vào nơi vô định ngụ ý sự bất hạnh và không ổn định của cuộc đời Thám Xuân Vậy việc thả diều của Giả Chính và Vương phu nhân không những không đem lại hạnh phúc cho Thám Xuân mà lại khiến cho
nàng phải rơi vào cảnh “nhớ tiếc thanh xuân ra bến khóc”, một kết cục ôm hận xa
nhà Câu thơ thứ ba của bản dịch đã không chuyển tải được thời điểm Thám Xuân đi
lấy chồng qua hình ảnh ẩn dụ “thanh minh”: “Thanh minh thế tống giang biên vọng”
(Thanh minh khóc tiễn bên sông đứng nhìn) Thanh minh là thời điểm thích hợp để thả diều nhưng đó cũng là tiết của ma quỷ, là thời điểm rất xấu Chính lúc ấy Thám Xuân lại rời gia đình đi lấy chồng xa
Trong gia đình họ Giả, nhất là trong các chị em, Thám Xuân là người tương đối tỉnh táo và có cái nhìn thấu suốt hơn cả, đồng thời nàng cũng là cô gái mang nhiều
Trang 40hoài bão và ước mơ, nhưng sinh bất phùng thời “gặp lúc nhà suy vận cũng suy”
Những câu nói, nhận định xác đáng, phản ánh đúng thực trạng gia tộc họ Giả đều xuất phát cửa miệng nàng Chính nàng là người nhận thấy mâu thuẫn sâu sắc trong gia đình, trong nội bộ giai cấp thống trị, luôn tranh giành đấu đá lẫn nhau, mọi người chỉ hận là không thể ăn thịt được nhau Nàng cũng nhận thấy gia tộc mình không sớm thì muộn sẽ lâm vào cảnh cây đổ vượn tan đàn Cho nên việc Thám Xuân lấy chồng
xa chẳng phải là chuyện ngẫu nhiên Việc nàng lấy chồng xa, một mặt cho thấy sự chia rẽ trong gia đình quý tộc phong kiến, mặt khác nó là kết cục tất yếu của việc Thám Xuân quản lý gia đình thất bại
2.3.4 Lá số thứ tư (Lá số của Sử Tương Vân)
Trên lá số của nàng Sử Tương Vân có một bức họa vẽ hình đám mây bay, một dòng nước chảy cùng bài thơ:
Giàu sang cũng thế thôi
Từ bé mẹ cha bỏ đi rồi
Nhìn bóng chiều ngậm ngùi,
Sông Tương nước chảy mây Sở trôi [10, tập 1, tr.108]
Hai câu thơ đầu cho thấy Tương Vân sinh trong một gia đình phong kiến hào
môn vọng tộc, giàu sang danh giá Câu nói lưu truyền trong dân gian: “Cung A phòng
xây lên ba trăm dặm đã đủ chưa? Họ Sử đất Kim Lăng ở vẫn không vừa”[10, tập 1,
tr.85] chính là nói đến gia tộc của Tương Vân Nhưng cuộc đời cô tiểu thư con nhà quyền quý ấy có thực sự sung sướng hạnh phúc không? Lá số tiền định của nàng cho
biết: Tương Vân mồ côi cha mẹ từ tấm bé “từ bé mẹ cha bỏ đi rồi” Tuy sống trong
gia đình giàu sang nhưng không ai quan tâm chăm sóc nên tuổi thơ của nàng thiếu vắng tình cảm gia đình Nàng chỉ có thể một mình đối diện với ráng chiều mà thương
cho số phận mình Câu thơ cuối: “Sông Tương nước chảy mây Sở trôi” cùng với
hình ảnh một đám mây bay, một dòng nước chảy trong bức họa ẩn tên của Tương Vân Đồng thời “sông Tương” và “mây Sở” còn là điển cố, là hình ảnh ẩn dụ ám chỉ hạnh phúc gia đình tạm thời, ngắn ngủi của Tương Vân
2.3.5 Lá số thứ năm (Lá số của Diệu Ngọc)
“Muốn sạch mà không sạch
Rằng không chửa hẳn không
Thương thay mình vàng ngọc,
Bùn lầy sa vào trong”[10, tập 1, tr.108]
Bài thơ với ngôn từ giản dị dễ hiểu, tác giả không dùng hình thức ám chỉ nên chúng ta có thể thấy ngay đây là lá số của Diệu Ngọc Diệu Ngọc xuất gia một cách miễn cưỡng nên nàng chưa thể dứt khỏi vòng tục luỵ Khi sống trong am Lũng Thuý