Nội dung nghiên cứu Nội dung chính của luận văn bao gồm các chương sau: Chương 1: Lý luận chung về công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp trong ngân hàng thươ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
UẬN V N THẠC SĨ QUẢN TRỊ INH DO NH
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TR NG Á TH NH
Đà Nẵng Năm 2014
Trang 2ỜI C ĐO N
Tôi xin cam đoan đề tài “Hoàn thiện công tác xếp hạng tín dụng nội
bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam, Chi nhánh ĐăkLăk” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu cũng nhƣ kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung
thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
NGUYỄN THỊ THU HÀ
Trang 3ỤC ỤC
Ở ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa nghiên cứu 2
6 Nội dung nghiên cứu 3
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CH NG 1: UẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG N I Đ I V I HÁCH HÀNG DO NH NGHIỆP TRONG NG N HÀNG TH NG ẠI 7
1.1 TỔNG QUAN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1.1 Khái niệm xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp 7
1.1.2 Sự cần thiết của việc xếp hạng tín dụng trong Ngân hàng thương mại 8
1.1.3 Mục đích của xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp 11
1.2 CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP 13
1.2.1 Nội dung của công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp 13
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp 25
Trang 41.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp 29 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1: 34
CH NG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG N I
Đ I V I HÁCH HÀNG DO NH NGHIỆP TẠI VC Đ 35
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM-CHI NHÁNH ĐĂK LĂK 35 2.1.1 Quá trình ra đời của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam, Chi nhánh Đăk Lăk 35 2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh tại VCB Đăk Lăk 38 2.1.3 Tình hình cho vay khách hàng doanh nghiệp tại VCB Đăk Lăk 39 2.2 KHÁI QUÁT CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI VCB 41 2.2.1 Xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại VCB 42 2.2.2 Đánh giá công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại VCB 51 2.3 CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI VCB ĐĂK LĂK 52 2.3.1 Nội dung công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại VCB Đăk Lăk 52 2.3.2 Đánh giá kết quả công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại VCB Đăk Lăk 64 2.3.3 Đánh giá chung công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại VCB Đăk Lăk 68 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71
CH NG 3: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG N I
Đ I V I HÁCH HÀNG DO NH NGHIỆP 73
Trang 5TẠI VCB ĐĂK LĂK 73
3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA VCB ĐĂK LĂK ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP 73
3.1.1 Mục tiêu định hướng 73
3.1.2 Định hướng các chỉ tiêu hoạt động kinh doanh, tín dụng giai đoạn 2014-2016 74
3.2 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI VCB ĐĂK LĂK 77
3.2.1 Hoàn thiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp 77
3.2.2 Một số giải pháp hỗ trợ cho công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại VCB Đăk Lăk 85
3.2.3 Giải pháp khác 89
3.3 KIẾN NGHỊ 91
3.3.1 Kiến nghị đối với Nhà nước 91
3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam 94
3.3.3 Kiến nghị khác 95
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 97
ẾT UẬN 99 TÀI IỆU TH HẢO
QUYẾT ĐỊNH GI O ĐỀ TÀI UẬN V N (bản sao)
PHỤ ỤC
Trang 6Bảng 2.1 Kết quả kinh doanh của Chi nhánh từ năm 2010-2012 38 Bảng 2.2
Tình hình cho vay doanh nghiệp của Chi nhánh từ
Bảng 2.3 Xếp hạng doanh nghiệp theo lĩnh vực/ngành 45 Bảng 2.4 Tiêu chí phân loại qui mô doanh nghiệp 49 Bảng 3.1
Định hướng các chỉ tiêu kinh doanh, tín dụng đến năm 2016
75
Trang 7Ở ĐẦU
1 Tính cấp thiết đề tài
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, hoạt động tín dụng là nghiệp
vụ cơ bản, chiếm vai trò quan trọng nhất vì nó là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu cho ngân hàng Tuy nhiên đây cũng là nghiệp vụ tập trung hầu hết các rủi ro nghiêm trọng, gây tổn thất cho các ngân hàng thương mại Rủi ro trong cho vay còn nhân lên gấp bội, bởi vì ngân hàng không những gánh chịu những rủi
ro do những nguyên nhân chủ quan của ngân hàng mà còn gánh chịu những rủi ro khách quan do khách hàng gây ra Vì vậy, việc thực hiện quản trị rủi ro nhất là rủi ro tín dụng nhằm đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng tín dụng
là điều kiện sống còn để các ngân hàng ổn định và phát triển
Các NHTM đã không ngừng mở rộng mạng lưới, cải tiến công nghệ và hoàn thiện các quy trình nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ đồng thời giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng Điều đó, đòi hỏi ngân hàng phải có những giải pháp hữu hiệu trong việc quản lý nhằm hạn chế, kiểm soát tốt nhất các rủi ro tín dụng Trên thực tế, các ngân hàng ngày nay có nhiều biện pháp
để quản lý rủi ro tín dụng, trong đó xếp hạng tín dụng nội bộ là một trong những công cụ quản lý rủi ro tín dụng một cách khoa học và hiệu quả mà các NHTM hiện nay đang triển khai áp dụng Nhận thức được tầm quan trọng của việc XHTD nên từ năm 2008 VCB đã bắt đầu xây dựng một hệ thống xếp hạng phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và ứng dụng với yêu cầu cơ quan quản
lý Tuy nhiên, từ khi áp dụng chính thức trên toàn hệ thống VCB nói chung và VCB Đăk Lăk thì công tác XHTD nội bộ này vẫn còn tồn tại ít nhiều khuyết điểm cần phải được bổ sung, chỉnh sữa để có thể áp dụng được yêu cầu quản trị rủi ro tín dụng trong điều kiện hiện nay cũng như trong tương lai Đó cũng
là lý do cần thiết để tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Hoàn thiện công
Trang 8tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam, chi nhánh ĐăkLăk”
2 ục tiêu nghiên cứu
- Lý luận về công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp của NHTM
- Đánh giá thực trạng công tác XHTD nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam- Chi nhánh ĐăkLăk Xác định những kết quả đạt được, tồn tại trong công tác này và nguyên nhân của những tồn tại trong thời gian qua
- Đề xuất những giải pháp để hoàn thiện công tác XHTD nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam- Chi nhánh ĐăkLăk trong thời gian tới
3 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phương pháp lịch sử, phương pháp chuyên gia, phương pháp thống kê phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh…thu thập các số liệu quá khứ để phân tích sự vận động của hiện tượng nghiên cứu
- Nguồn thông tin dữ liệu được lấy từ nhiều nguồn bao gồm: số liệu của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam - Chi nhánh ĐăkLăk và một số đơn vị, cá nhân khác
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: là công tác XHTD nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp đang áp dụng tại VCB ĐăkLăk
- Phạm vi nghiên cứu: Khách hàng doanh nghiệp tại VCB Đăk Lăk, giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2012
5 nghĩa nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu và công trình khoa học đã được công
Trang 9bố có liên quan đến công tác xếp hạng tín dụng, luận văn đã có những đóng góp sau:
- Tổng hợp và trình bày một cách có hệ thống các vấn đề lý luận về xếp hạng tín dụng, công tác xếp hạng tín dụng của Ngân hàng thương mại
- Qua phân tích, đánh giá thực trạng xếp hạng tín dụng của VCB Đăk Lăk, luận văn chỉ ra những hạn chế và tồn tại trong công tác xếp hạng tín dụng nội
bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại VCB ĐăkLăk
- Luận văn đã đưa ra đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại VCB Đăk Lăk
6 Nội dung nghiên cứu
Nội dung chính của luận văn bao gồm các chương sau:
Chương 1: Lý luận chung về công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp trong ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại VCB Đăk Lăk
Chương 3: Hoàn thiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại VCB Đăk Lăk
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Năm 2005 Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN về việc “Phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi
ro để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng” Với quy định tại điều
7, quyết định 493 NHNN đã có định hướng khuyến khích các ngân hàng thương mại (NHTM) chủ động nghiên cứu triển khai XHTD làm cơ sở để phân loại nợ và trích lập dự phòng theo phương pháp định tính Đây là căn cứ
để các NHTM xây dựng và triển khai XHTD, phục vụ quản lý rủi ro tín dụng
Trang 10và thực hiện chính sách khách hàng Sau một thời gian thực hiện công tác XHTD khách hàng của các Ngân hàng đã đạt được một số kết quả bước đầu Hầu hết các NHTM lớn tại Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của XHTD, chủ động nghiên cứu triển khai trong hoạt động tín dụng Về cơ bản việc XHTD tại các NHTM đều đã tính đến yếu tố định tính và định lượng, chỉ tiêu tài chính và phi tài chính của khách hàng Kết quả XHTD tại một số ngân hàng đã được sử dụng đề xuất cấp tín dụng và đưa ra chính sách lãi suất, giới hạn tín dụng với khách hàng (trên cơ sở chấm điểm tín dụng dựa trên tính chất tài sản bảo đảm, hạn chế rủi ro tín dụng của khách hàng, mức độ rủi ro của ngành hàng) Một số NHTM đã được NHNN phê duyệt XHTD và cho phép thực hiện phân loại nợ theo định tính Nhờ đó việc quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả hơn, khả năng phòng ngừa rủi ro tín dụng cũng được cải thiện
và dần tiệm cận thông lệ quốc tế
Bên cạnh một số kết quả đạt được, XHTD nội bộ còn những hạn chế nhất định, do vậy thời gian qua các Ngân hàng cũng như các đơn vị, cá nhân ở Việt Nam tiến hành nhiều hoạt động học tập, nghiên cứu nhằm hoàn thiện hơn công tác XHTD nói chung và công tác XHTD nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp nói riêng tại NHTM
Trong quá trình thực hiện đề tài này, tác giả cũng đã tham khảo từ một số nghiên cứu đi trước có liên quan, như:
- Đề tài: “Hoàn thiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách
hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam, chi nhánh Bình Định”, tác giả Thái Vĩnh Chí, Luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng
(2012)
- Đề tài: “Hoàn thiện hệ thống chấm điểm xếp loại khách hàng trong cho
vay tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hải Vân”, Nguyễn Thanh Minh,
Luận văn Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh, Đại Học Đà Nẵng (2012)
Trang 11- Bài báo đăng tại trang websites:
+ “Xếp hạng tín dụng nội bộ tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam – thực
trạng và giải pháp hoàn thiện”, tác giả: TS Phạm Huy Hùng, chủ tịch
HĐQT-Vietinbank
+ “Xếp hạng tín dụng đối với bảo đảm an toàn hoạt động tín dụng của Ngân
hàng thương mại”, tác giả: Nguyễn Văn Tuân, Phó tổng Giám đốc VCB
Qua đó nhận thấy, liên quan đến công tác XHTD nội bộ, hệ thống XHTD nội bộ, các tác giả nêu bật được tầm quan trọng của công tác XHTD nội bộ đối với các NHTM ở Việt Nam Khẳng định đó là một trong những công cụ quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả mà các NHTM đã và đang áp dụng khi cấp tín dụng cho khách hàng Trên cơ sở đánh giá khái quát thực trạng XHTD nội
bộ tại các NHTM Việt Nam, các tác giả đưa ra những hạn chế còn tồn tại và
đề xuất giải pháp hoàn thiện khá hợp lý và mang tính thực tiễn cao
Các tác giả đã hệ thống hóa tương đối đầy đủ cơ sở lý luận về hệ thống XHTD nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp, bao gồm các chỉ tiêu chấm điểm, cách tính điểm của hệ thống
Đối với phân tích, đánh giá thực tế thực hiện công tác XHTD nội bộ tại các ngân hàng: các tác giả khái quát được cơ bản hoạt động kinh doanh của VCB, VCB Đăk Lăk trong đó có những mặt được và chưa được của hệ thống XHTD nội bộ Các tác giả đã nêu được những khó khăn về việc thu thập thông tin tài chính chưa đáng tin cậy do các doanh nghiệp Việt Nam chưa tuân thủ nghiêm túc pháp luật về kế toán, thống kê,…nên cung cấp cho ngân hàng các báo cáo tài chính với số liệu chưa đáng tin cậy, làm ảnh hưởng kết quả xếp hạng khách hàng Tác giả đã nêu được tính khả thi và hữu ích của hệ thống XHTD
Đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện: Tác giả nêu được đề xuất hoàn thiện mô hình tổ chức nhân sự cho công tác XHTD nội bộ Hoàn thiện
Trang 12phương pháp XHTD, xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu đồng bộ, giám sát việc triển khai và ứng dụng XHTD trong hoạt động tín dụng, đưa bổ sung thêm chỉ tiêu là giá trị tài sản bảo đảm vào hệ thống XHTD
Tuy nhiên, các tác giả nghiên cứu công tác xếp hạng tại VCB, VCB Đăk Lăk chỉ mới tìm hiểu, phân tích về hệ thống XHTD một chương trình để chấm điểm tự động dùng để nhập dữ liệu, chấm, tính điểm, xếp hạng khách hàng thuộc công tác XHTD nội bộ chưa đi sâu vào các nội dung của công tác XHTD một cách toàn diện
Mối liên hệ của những nghiên cứu trước đây, nêu trên với việc nghiên cứu
đề tài: “Hoàn thiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam, chi nhánh ĐăkLăk” lần này Trên cơ sở đúc kết những kinh nghiệm thực tiễn qua quá
trình thực hiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ tại VCB Đăk Lăk và cơ sở
lý luận cũng như các kết luận từ nghiên cứu của những tác giả đi trước Những cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện theo đề tài này sẽ được nghiên cứu, đưa ra trên cơ sở kế thừa, đề xuất thêm so với những nghiên cứu trước đây cũng như hướng đến việc hoàn thiện hơn công tác XHTD nội bộ áp dụng trong thực tiễn
Trang 13CH NG 1
UẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG
N I Đ I V I HÁCH HÀNG DO NH NGHIỆP TRONG
NG N HÀNG TH NG ẠI1.1 TỔNG QU N VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG N I Đ I V I
HÁCH HÀNG DO NH NGHIỆP TẠI NG N HÀNG TH NG ẠI
1.1.1 hái niệm xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh
nghiệp
Tín dụng: Xuất phát từ chữ la tinh là Creditium có nghĩa là sự tin tưởng,
tín nhiệm Tiếng Anh và tiếng Pháp đều lấy từ gốc này viết là Credit Theo
ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng là sự vay mượn lẫn nhau Trong thực
tế cuộc sống, thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tùy
theo bối cảnh cụ thể Trong quan hệ tài chính, tín dụng có thể hiểu là một giao
dịch về tài sản trên cơ sở có sự hoàn trả giữa hai chủ thể hay là phương pháp
chuyển dịch từ quỹ cho vay sang người đi vay hay là một số tiền cho vay mà
các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng (còn gọi là cho vay)
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với mọi chủ thể
khác trong nền kinh tế xã hội Trong mối quan hệ này, ngân hàng đóng vai trò
là trung gian, vừa là người cho vay vừa là người đi vay
Theo công ty Mood’s thì “Xếp hạng tín dụng là ý kiến về khả năng và sự
sẵn sàng của một nhà phát hành trong việc thanh toán đúng hạn cho một
khoản nợ nhất định trong suốt thời gian tồn tại của khoản nợ”
Từ các định nghĩa trên, thì xếp hạng tín dụng có thể được khái quát như
sau: “Xếp hạng tín dụng là việc đưa ra nhận định về mức độ tín nhiệm đối với
mức độ tài chính; hoặc đánh giá mức độ rủi ro tín dụng phụ thuộc vào các yếu
tố bao gồm năng lực đáp ứng các cam kết tài chính, khả năng dễ bị vỡ nợ khi
các điều kiện kinh doanh thay đổi, ý thức và thiện chí trả nợ của người đi
Trang 14vay” XHTD nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp là công cụ quan trọng giúp ngân hàng đánh giá, thẩm định khách hàng doanh nghiệp trước, trong và sau khi cấp tín dụng Hệ thống xếp hạng là một chương trình được ngân hàng xây dựng, thiết lập với những chỉ tiêu chấm điểm được xác định trước để phục vụ việc chấm điểm XHTD nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp Trong quá trình thực hiện công tác XHTD, Cán bộ ngân hàng làm công tác XHTD tiến hành nhập các thông tin tài chính và phi tài chính,… của doanh nghiệp cần xếp hạng vào từng chỉ tiêu chấm điểm của hệ thống này và sau đó thực hiện tính điểm, xếp hạng thì hệ thống sẽ cho ra kết quả chấm điểm, mức điểm, thứ hạng của từng doanh nghiệp đưa vào thực hiện XHTD
1.1.2 Sự cần thiết của việc xếp hạng tín dụng trong Ngân hàng thương mại
Hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường là một trong những hoạt động kinh tế có nhiều rủi ro hơn hết Có thể nói rủi ro được xem là một yếu tố không thể tách rời với quá trình hoạt động của Ngân hàng thương mại trên thị trường Rủi ro trong cho vay còn được nhân lên gấp bội bởi vì Ngân hàng không phải hứng chịu những rủi ro do những nguyên nhân chủ quan của mình mà còn gánh chịu những rủi ro do khách hàng gây ra Hơn nữa, rủi ro trong hoạt động ngân hàng có thể gây ra những tổn thất to lớn cho nền kinh tế hơn bất cứ rủi ro của các loại hình doanh nghiệp khác vì tính chất lây lan của
nó có thể làm rung chuyển toàn bộ hệ thống kinh tế của một quốc gia trên toàn thế giới Vì vậy, để hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay thì các NHTM cần có một số công cụ xếp hạng tín dụng nội bộ phù hợp với hoạt động kinh doanh của chính mình
a) Xếp hạng tín dụng phục vụ công tác quản trị rủi ro
Tăng trưởng tín dụng đi đôi với việc đo lường rủi ro phát sinh để có các giải pháp kiểm soát luôn là nhiệm vụ quan trọng của ngân hàng Công tác xếp
Trang 15hạng tín dụng có vai trò quan trọng trong việc phân tích đánh giá thường xuyên khách hàng cả trước và sau khi cấp tín dụng
- Xếp hạng khách hàng trước khi cấp tín dụng
Khi khách hàng đề nghị vay vốn, ngân hàng dựa nguồn thông tin thu thập được về khách hàng, thực hiện phân tích các yếu tố định lượng và định tính để đo lường khả năng trả nợ và thiện chí trả nợ của khách hàng Số liệu phân tích là cơ sở xếp hạng tín dụng khách hàng vay vốn và kết quả xếp hạng
là một trong những căn cứ quan trong để quyết định cho vay hay từ chối cho vay Nếu cho vay thì căn cứ vào xếp hạng này để định giá khoản vay, áp dụng chính sách tín dụng thích hợp khác để giảm thiểu rủi ro tín dụng trong quá trình cho vay sau này
- Tái xét đánh giá và xếp hạng tín dụng khách hàng theo định kỳ:
Trong thời hạn hợp đồng có hiệu lực, định kỳ ngân hàng phải tiến hành phân tích khả năng trả nợ gốc và lãi của khách hàng cho các khoản đã cho vay, dựa vào nguồn thông tin thu thập được về khách hàng đi vay từ lúc giải ngân cho đến thời điểm tái xếp hạng, nhằm đánh giá việc thực hiện các cam kết của khách hàng trong hợp đồng tín dụng, chú trọng đến những phạm vi hợp đồng, từ đó so sánh đánh giá sự thay đổi rủi ro tín dụng so với ban đầu Qua đó, điều chỉnh mức hạng của khách hàng Đồng thời, đó là cơ sở để đưa
ra giải pháp xử lý các khoản nợ có vấn đề nhằm giảm thiểu nguy cơ rủi ro tín dụng Nếu rủi ro tín dụng thay đổi theo chiều hướng tăng, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng đi vay bổ sung vốn tự có hoặc tài sản thế chấp hoặc yêu cầu bảo lãnh làm tăng khả năng trả nợ của khách hàng Như vậy, tái xếp hạng khách hàng đi vay theo định kỳ để xem xét sự thay đổi rủi ro so với ban đầu nhằm có biện pháp thích hợp có hiệu quả giảm thiểu nguy cơ gây rủi ro tín dụng Từ đó, tại điều kiện mở rộng và đa dạng hóa hình thức tài trợ,…điều này đặc biệt có ý nghĩa trong xu hướng cho vay tín chấp ngày càng tăng giúp
Trang 16ngân hàng lựa chọn những khách hàng tốt để cho vay và là cơ sở để khách hàng tự soát xét chính mình
- Xếp hạng tín dụng khi không hoàn trả nợ đúng hạn:
Khách hàng không hoàn trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng nhƣ đúng cam kết, tức là xuất hiện khoản nợ quá hạn Việc XHTD khách hàng không hoàn trả nợ đúng hạn là cơ sở để xác định mức tổn thất tín dụng hoặc đƣa ra các biện pháp giảm tổn thất mà ngân hàng phải hứng chịu
b) Cơ sở để xây dựng chính sách khách hàng
Trên cơ sở định hạng khách hàng, Ngân hàng có thể xác định một cách hợp
lý, chính xác ở mức độ cao nhất lƣợng tổn thất tín dụng theo từng sản phẩm hoặc lĩnh vực, ngành kinh tế, phân tích đƣợc lợi nhuận của các dòng theo sản phẩm, kết hợp với việc áp dụng chính sách khách hàng về lãi suất cho vay, hạn mức cho vay, thời hạn tín dụng phù hợp từ đó hình thành lên một chiến lƣợc trong hoạt động tín dụng đạt chất lƣợng cao, cụ thể: Đối với doanh nghiệp có độ tín nhiệm cao, định hạng cao ngân hàng sẽ áp dụng chính sách ƣu đãi cho vay với lãi suất thấp, số lƣợng vay nhiều, điều kiện cho vay nới lỏng,…Ngƣợc lại, đối với doanh nghiệp có độ tín nhiệm thấp, định hạng thấp cũng đồng nghĩa với những khoản tín dụng ẩn chứa nhiều rủi ro, Ngân hàng sẽ áp dụng chính sách cho vay và biện pháp chặt chẽ hơn nhằm hạn chế khả năng rủi ro tín dụng xảy ra
c) Góp phần thực hiện nguyên tắc cho vay của Ngân hàng
Hai nguyên tắc trong hoạt động tín dụng là doanh nghiệp sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận và hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn theo hợp đồng tín dụng ký kết và tái xét xếp hạng đƣợc tiến hành định kỳ (sau khi hợp đồng tín dụng đã đƣợc ký kết), dựa trên cơ sở phân tích khả năng và thiện chí trả nợ ngân hàng với mục đích hạn chế rủi ro tín dụng Đây là biện pháp phòng bệnh nhằm thực hiện tốt các nguyên tắc cho vay của ngân hàng, đặc biệt là nguyên tắc
“Hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn đã thỏa thuận trng hợp đồng tín dụng”
Trang 17d) Giúp ngân hàng xây dựng chính sách phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro
Căn cứ theo Điều 7, Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN “Tổ chức tín dụng
có đủ khả năng và điều kiện thực hiện phân loại nợ theo phương pháp định tính thì xây dựng chính sách phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro và được sự đồng ý của NHNN” cụ thể phân loại như sau:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD đánh giá
là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD đánh giá là
khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: các khoản nợ được TCTD đánh giá
là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được
tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả
năng tổn thất cao
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD
đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn
Việc phân loại nợ theo phương pháp định tính khác với việc phân loại nợ vẫn được sử dụng trước đây, dựa vào tuổi nợ của khoản vay Việc phận loại các khoản nợ này dựa trên xếp hạng tín dụng nội bộ của Ngân hàng về khách hàng vay vốn
1.1.3 ục đích của xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp
a) Đối với ngân hàng thương mại
Hoạt động của NHTM bao gồm nhiều loại nghiệp vụ nhưng tựu trung lại là loại hình kinh doanh tiền tệ - tín dụng của một loại trung gian tài chính dựa trên
Trang 18cơ sỡ thu hút tiền của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền để cho vay và thực hiện các nghiệp vụ thanh toán Để duy trì khả năng hoàn trả số tiền huy động của khách hàng và bảo trì vốn thì NHTM phải bảo đảm thu hồi được số vốn đã cho vay của mình Vì vậy, mục đích của XHTD đối với ngân hàng là:
Hạn chế ngăn ngừa rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng luôn gắn liền với hoạt động cho vay của ngân hàng Để giảm thiểu rủi ro tín dụng thì các ngân hàng áp dụng các biện pháp như: thẩm định hiệu quả phương án kinh doanh, giám sát quá trình hoạt động và tình hình tài chính khách hàng, xem xét khả năng trả nợ, quy định hạn mức tín dụng, tài sản thế chấp,…Bên cạnh các biện pháp đó thì XHTD đã cho thấy phần nào mức
độ rủi ro của khách hàng nên để hạn chế rủi ro các NHTM chỉ xét cho vay những khách hàng có kết quả XHTD đạt một mức được quy định cụ thể
Xây dựng chính sách khách hàng
Chính sách khách hàng của ngân hàng sẽ được áp dụng cho từng nhóm khách hàng dựa trên kết quả của XHTD Chính sách khách hàng bao gồm: chính sách tín dụng, chính sách lãi suất, chính sách tài sản đảm bảo, chính sách các loại phí…
b) Đối với các nhà đầu tư và thị trường chứng khoán
XHTD cung cấp những thông tin cần thiết cho nhà đầu tư về tình trạng của nhà phát hành để lựa chọn khi đầu tư vào một loại chứng khoán thích hợp, đồng thời tạo điều kiện huy động vốn trên thị trường chứng khoán thực hiện được dễ dàng, thuận tiện hơn Ngày nay hầu hết thị trường chứng khoán của các nước trên thế giới đều tồn tại các tổ chức xếp hạng tín dụng, đây là xu thế phù hợp với điều kiện kinh tế thế giới hiện nay, vì thế kết quả xếp hạng tín dụng là một nguồn cung cấp thông tin cho những nhà đầu tư, kết quả xếp hạng tín dụng làm xóa tan
đi khoảng tối thông tin giữa người cho vay và người đi vay Vai trò quan trọng của xếp hạng tín dụng trên thị trường tài chính là:
Trang 19- Các nhà đầu tư sử dụng kết quả xếp hạng tín dụng để thực hiện chiến lược đầu tư sao cho rủi ro thấp nhất nhưng kết quả đạt được như mong muốn
- Các tổ chức đi vay cần huy động vốn sử dụng kết quả xếp hạng tín dụng
để tạo niềm tin với nhà đầu tư, từ đó thực hiện được chiến lược huy động vốn với chi phí thấp, huy động lượng vốn như mong muốn
- Thông qua xếp hạng tín dụng các tổ chức khác sử dụng kết quả xếp hạng tín dụng để quảng bá hình ảnh của tổ chức mình, cung cấp thông tin cho các đối tác, tạo niềm tin của thị trường
- Xác định ngành kinh tế: Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ được thiết lập sẵn một số ngành kinh tế chung nhất, cán bộ làm công tác xếp hạng sẽ dựa vào hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng mà lựa chon hoạt động sản xuất kinh doanh chính của khách hàng cần xếp hạng cho phù hợp với ngành nghề mà doanh nghiệp đang sản xuất, kinh doanh chính
- Xác định quy mô: Quy mô hoạt động của khách hàng phụ thuộc vào ngành kinh tế mà khách hàng đang hoạt động Các chỉ tiêu thông thường được xác định gồm: Số lượng lao động; Doanh thu thuần; Nguồn vốn chủ sở hữu; Tổng tài sản Kết quả xếp hạng sẽ xác định quy mô của doanh nghiệp được xếp hạng thành 03 quy mô như: Quy mô lớn; Quy mô trung bình và quy mô nhỏ
Trang 20- Xác định loại hình sở hữu của doanh nghiệp, thông thường bao gồm các loại hình như: Doanh nghiệp nhà nước; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Doanh nghiệp khác
- Nội dung chấm điểm, gồm có 2 phần chính đó là:
+ Phần tài chính: Việc đánh giá yếu tố tài chính của doanh nghiệp dựa trên phương pháp định lượng qua việc phân tích báo cáo tài chính của 01 hay 02 năm gần nhất Các nhóm chỉ tiêu thường được xem xét bao gồm:
ảng 1.1 Nhóm chỉ tiêu tài chính
Tính thanh khoản
- Khả năng thanh toán hiện hành
- Khả năng thanh toán nhanh
- Khả năng thanh toán tức thời
- Lợi nhuận gộp/Doanh thu thuần
- Lợi nhuận từ HĐKD/Doanh thu thuần
- Lợi nhuận sau thuế/Tổng TS bình quân
- Lợi nhuận sau thuế/ VCSH
+ Phần phi tài chính: Các yếu tố phi tài chính được đánh giá bằng phương pháp định tính và định lượng, bao gồm nhóm chỉ tiêu:
Trang 21ảng 1.2 Nhóm chỉ tiêu phi tài chính
- Nhân thân của người đứng đầu doanh nghiệp,
- Kinh nghiệm chuyên môn, học vấn, năng lực điều hành, quan hệ với các cơ quan hữu quan, tính năng động, nhạy bén của người đứng đầu doanh nghiệp,
- Môi trường kiểm soát nội bộ , cơ cấu tổ chức, nhân sự của doanh nghiệp,
- Tầm nhìn chiến lược kinh doanh từ 02-05 năm của doanh nghiệp
Quan hệ với ngân hàng
- Lịch sử quan hệ vay trả nợ với ngân hàng, tình hình cơ cấu nợ, nợ quá hạn,
- Tình hình cung cấp thông tin theo yêu cầu của ngân hàng,
- Tỷ trọng doanh thu chuyển qua ngân hàng,
- Mức độ sử dụng dịch vụ của ngân hàng; thời gian quan hệ với ngân hàng,
- Tình hình quan hệ tín dụng với các tổ chức tín dụng khác,
- Mức độ phụ thuộc của hoạt động kinh doanh của
Trang 22doanh nghiệp vào các điều kiện tự nhiên
Đặc điểm của doanh nghiệp
- Mối quan hệ với công ty mẹ,
- Sự phụ thuộc nhà cung cấp đầu vào, người tiêu thụ sản phẩm đầu ra,
- Tốc độ tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận, - Số năm hoạt động trong ngành thương hiệu của doanh nghiệp, Khả năng tiếp cận vốn,
- Triển vọng phát triển của doanh nghiệp
+ Thang điểm cho từng chỉ tiêu: Thông thường số điểm cho mỗi chỉ tiêu được đánh giá từ 20 đến 100 điểm và tỷ trọng cho từng chỉ tiêu thay đổi tùy thuộc vào ngành nghề và quy mô doanh nghiệp của khách hàng
+ Tổng hợp điểm của khách hàng doanh nghiệp:
Điểm của KH = Điểm các chỉ tiêu tài chính* Trọng số phần tài chính + Điểm
các chỉ tiêu phi tài chính * Trọng số phần phi tài chính
Trong đó, trọng số của phần tài chính và phi tài chính phụ thuộc vào các báo cáo tài chính của khách hàng có được kiểm toán hay không được kiểm toán Theo đó, báo cáo tài chính khách hàng đã được kiểm toán thì sẽ nhận được trọng số phần tài chính và phi tài chính cao hơn doanh nghiệp chưa được kiểm toán báo cáo tài chính
ảng 1.3 Trọng số áp dụng tính điểm
được kiểm toán
áo cáo tài chính chưa được kiểm toán
Trang 23+Kết quả xếp hạng tín dụng khách hàng: Tổng điểm kết hợp của hai yếu
tố định tính và định lượng sẽ giúp xác định mức phân loại của khoản vay, chi tiết theo
ảng 1.4 Phân loại các khoản vay
- Tiềm lực tài chính đặc biệt mạnh đáp ứng được tốt mọi yêu cầu trả
nợ
- Cho vay đối với khách hàng này
có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi vay đúng hạn
2 83-90 AA 1 Đủ tiêu
chuẩn
- Là khách hàng rất tốt, hoạt động kinh doanh có hiệu quả và tăng trưởng vững chắc
- Tình hình tài chính tốt đảm bảo thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đã cam kết
- Cho vay đối với khách hàng này
có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi vay đúng hạn
chuẩn
- Là khách hàng tốt, hoạt động kinh doanh luôn tăng trưởng và có
Trang 24hiệu quả
- Tình hình tài chính ổn định, khả năng trả nợ đảm bảo
- Cho vay đối với khách hàng này
có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi vay đúng hạn
4 71-77 BBB 2 Cần chú
ý
- Là khách hàng tương đối tốt, hoạt động kinh doanh có hiệu quả nhưng nhạy cảm về các điều kiện thay đổi về ngoại cảnh
- Tình hình tài chính ổn định
- Cho vay đối với khách hàng này
có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ
5 65-71 BB 2 Cần chú
ý
- Là khách hàng bình thường, hoạt động kinh doanh có hiệu quả, tuy nhiên hiệu quả không cao và rất nhạy cảm với các điều kiện ngoại cảnh
- Khách hàng này có một số yếu điểm về mặt tài chính, về khả năng quản lý
- Cho vay đối với các khách hàng này có khả năng thu hồi đầy đủ cả
nợ gốc, lãi nhưng dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ
Trang 256 59-65 B 3 Cần chú
ý
- Là khách hàng cần chú ý, hoạt động kinh doanh gần như không có hiệu quả, năng lực tài chính suy giảm, trình độ quản lý còn nhiều bất cập
- Dư nợ vay của khách hàng này có khả năng tổn thất một phần nợ gốc
và nợ lãi
7 53-59 CCC 3 Dưới tiêu
chuẩn
- Là khách hàng yếu, hoạt động kinh doanh cầm chừng, năng lực quản trị không tốt
- Tài chính mất cân đối và chịu tác động lớn khi có thay đổi về môi trường kinh doanh
- Dư nợ vay của khách hàng này có khả năng tổn thất một phần nợ gốc
và nợ lãi
8 44-53 CC 3 Dưới tiêu
chuẩn
- Là khách hàng yếu kém, hoạt động kinh doanh thua lỗ và rất ít khả năng phục hồi
- Dư nợ vay của khách hàng này có khả năng tổn thất một phần nợ gốc
và lãi
9 35-44 C 4 Nghi ngờ - Là khách hàng rất yếu, kinh
doanh thua lỗ và rất ít khả năng
Trang 26phục hồi
- Dư nợ vay của khách hàng thuộc loại này có khả năng tổn thất rất cao
10 < 35 D 5
Có khả năng mất vốn
- Đây là khách hàng đặc biệt yếu kém, kinh doanh thua lỗ kéo dài và không còn khả năng phục hồi
- Dư nợ vay của khách hàng thuộc loại không còn khả năng thu hồi, mất vốn
Tùy theo mỗi hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của các Ngân hàng/đơn
vị tổ chức xếp hạng khác nhau mà có quy định khác nhau đối với thang điểm cho cột điểm và kết quả xếp hạng sẽ tương ứng với số điểm đạt được
a) Tổ chức thực hiện công tác xếp hạng
Nội dung đầu tiên và quan trọng nhất đối với công tác XHTD nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp là việc tổ chức thực hiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ, bao gồm ban hành các quy định, quy trình thực hiện theo từng công đoạn, phân công thực hiện công tác xếp hạng cho từng các cá nhân, đơn
vị gắn với từng công đoạn Để thực hiện tốt việc này, ngân hàng phải thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:
- Đối với các đơn vị được phân công soạn thảo văn bản, quy định về công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp:
+ Ban hành quy định về căn cứ, nguyên tắc, phương pháp, đối tượng, phạm vi áp dụng và mục đích… của công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp
Trang 27+ Quy định về quy trình, trình tự thực hiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp, trong đó quy định rõ trách nhiệm thực hiện cho từng cá nhân, tập thể thực hiện công tác này theo từng khâu, từng bước, từng công đoạn thực hiện
+ Quy định về định kỳ, tầng suất thực hiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ
+ Xây dựng, ban hành hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp với những chỉ tiêu chấm điểm được thiết lập sẵn có, dùng
để thực hiện chấm điểm, xếp hạng tự động phục vụ khâu chấm điểm, xếp hạng của công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp được thực hiện tự động, nhanh chóng, chính xác
+ Rà soát, kiểm tra, đánh giá, cập nhật công tác xếp hạng tín dụng nội bộ: định kỳ tiến hành rà soát, kiểm tra kết quả thực hiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ qua các khâu của quá trình thực hiện các nội dung công tác xếp hạng tín dụng nội bộ
- Đối với các cá nhân, đơn vị được phân công theo từng công đoạn thực hiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ, phải triển khai thực hiện tốt công tác xếp hạng theo từng quy định, quy trình đã được ngân hàng xây dựng và ban hành
b) Thu thập, sàng lọc và lưu trữ thông tin
Định kỳ thực hiện công tác XHTD nội bộ, đối với các ngân hàng ở Việt Nam hiện nay thông thường thực hiện công tác này định kỳ một quý/lần, CBTD tiến hành thu thập thông tin, trong đó các thông tin chủ yếu cần thu thập để phục vụ công tác XHTD nội bộ, gồm:
- Thông tin tài chính:
Báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp
-Thông tin phi tài chính:
Trang 28Hồ sơ pháp lý và ngành nghề kinh doanh của khách hàng Các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp liên quan đến hoạt động kinh doanh, tài chính, tài sản, khả năng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết của khách hàng Mức độ tín nhiệm của khách hàng trong các giao dịch với ngân hàng và với các ngân hàng khác, bao gồm thời điểm hiện tại và lịch sử Các nhân tố gồm: Môi trường nội bộ; môi trường bên ngoài; xu hướng phát triển của khách hàng, triển vọng ngành,…
có ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của khách hàng
Để việc thu thập thông tin được khoa học, nhanh, gọn, chính xác, cán bộ ngân hàng cần nắm rõ các chỉ tiêu chấm điểm trong hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đối với doanh nghiệp mà ngân hàng đang áp dụng, để từ đó hạn chế tối đa việc thu thập dư thừa các thông tin không cần thiết hoặc thiếu thông tin cần thu thập
Sau khi thu thập được thông tin, ngân hàng tiến hành, xử lý, sàng lọc, hoàn thiện thông tin sẵn sàng cho việc tính điểm, xếp hạng:
- Thông tin sau khi thu thập, sẽ tiến hành kiểm tra, đánh giá một cách cẩn thận, khoa học để đảm bảo thông tin xác thực, có độ tin cậy cao Chẳng hạn, đối với các thông tin tài chính cần xem xét các khoản mục trên báo cáo tài chính của khách hàng xem có phản ánh đúng tình hình tài chính của khách hàng hay không,… Đối với các thông tin phi tài chính phải đảm bảo được cập nhật chính xác và thời điểm thu thập thông tin là gần, sát với thời điểm thực hiện xếp hạng khách hàng
- Sau khi sàng lọc tất cả các thông tin, lựa chọn thông tin, cán bộ ngân hàng tiến hành loại bỏ những thông tin không cần thiết, cần bổ sung để đảm bảo cho việc nhập thông tin, dữ liệu vào hệ thống xếp hạng để chấm điểm, xếp hạng khách hàng được nhanh, gọn và chính xác
Trang 29Lưu trữ thông tin, tài liệu, dữ liệu để phục vụ XHTD nội bộ, thông tin sau khi sàng lọc và hoàn thiện cần đưa vào lưu trữ khoa học để làm cơ sở là
dữ liệu lịch sử, phục vụ cho các kỳ xếp hạng tiếp theo trong tương lai
so sánh chúng với những tiêu chuẩn đã được xây dựng trong hệ thống xếp hạng cho mỗi loại khách hàng, tương ứng với từng ngành nghề kinh doanh và quy mô của doanh nghiệp, để cho điểm từng chi tiêu Sau khi tính điểm tổng hợp, xác định được kết quả xếp hạng, sẽ trình duyệt cho người kiểm soát (phụ trách bộ phận phòng tín dụng) để xem xét phê duyệt
- Phê duyệt kết quả xếp hạng: người kiểm soát được phân công căn cứ vào kết quả xếp hạng khách hàng của cán bộ (thông thường là cán bộ tín dụng) được phân công căn cứ vào kết quả xếp hạng khách hàng của cán bộ trình duyệt, sẽ quyết định:
+ Phê duyệt kết quả xếp hạng khách hàng ( nếu đồng ý)
+ Từ chối phê duyệt kết quả xếp hạng khách hàng (nếu không đồng ý) và yêu cầu cán bộ chấm điểm, xếp hạng thực hiện lại việc xếp hạng khách hàng đảm bảo chính xác, đúng
d) Sử dụng kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp
Trang 30Xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp có vai trò quan trọng đối với công tác cấp tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng đối với ngân hàng Do vậy, kết quả xếp hạng sẽ được ngân hàng sử dụng, cụ thể:
- Phục vụ thực hiện chính sách khách hàng, quản lý chất lượng tín dụng: + Kết quả xếp hạng khách hàng được sử dụng là một trong các căn cứ để đưa ra quyết định cấp tín dụng và áp dụng các chính sách khách hàng đối với từng nhóm khách hàng tương ứng với từng mức điểm xếp hạng Kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ giúp cho ngân hàng trong việc kiểm soát và đo lường được mức độ rủi ro của danh mục tín dụng
+ Kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ sẽ giúp cho ngân hàng xác định một cách hợp lý, chính xác nhất chất lượng tín dụng và mức độ rủi ro (tổn thất) theo từng dòng sản phẩm hoặc lĩnh vực hay ngành kinh tế Phân tích được lợi nhuận của các dòng sản phẩm và đây là điều kiện quan trọng để xây dựng chiến lược trong hoạt động tín dụng đạt chất lượng cao
+ Căn cứ vào kết quả xếp hạng khách hàng, các quy trình tín dụng và chính sách khách hàng (xác định lãi suất, thủ tục tín dụng,…) sẽ được xây dựng một cách đồng bộ, rõ ràng chi tiết cụ thể, nhờ đó mà chi phí quản lý cũng sẽ được tiết liệm hơn
- Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng:
+ Kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ là căn cứ để ngân hàng thực hiện phân loại nợ (tài sản tín dụng) theo thông lệ quốc tế
+ Ngân hàng căn cứ vào kết quả phân loại nợ để tính toán và trích lập dự phòng rủi ro theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
+ Kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ cũng sẽ trợ giúp cho ngân hàng tính toán trích lập dự phòng rủi ro theo chuẩn mực kế toán quốc tế, phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
Trang 31- Căn cứ để đánh giá, khen thưởng: công tác khen thưởng đối với từng cán bộ ngân hàng, các bộ phận làm công tác tín dụng nói chung sẽ được ngân hàng ghi nhận chính xác hơn thông qua việc phân tích, đánh giá chất lượng tín dụng của từng khách hàng do ngân hàng quản lý cho vay
e) Kiểm tra đánh giá, cập nhật công tác xếp hạng
Công tác xếp hạng sẽ được thường xuyên kiểm tra và đánh giá trên phạm
vi toàn ngân hàng đối với toàn bộ khách hàng được xếp hạng, để có những phát hiện và đề xuất chỉnh sửa kịp thời những điểm không phù hợp, chưa phù hợp của công tác xếp hạng, hệ thống xếp hạng, đảm bảo tính khách quan và chính xác của công tác xếp hạng Các nội dung kiểm tra và đánh giá bao gồm: Phân tích đánh giá toàn danh mục tín dụng để đưa ra các nhận định về những vấn đề không hợp lý của kết quả xếp hạng
- Thường xuyên có những kiểm tra trên cơ sở chọn mẫu khách quan để đánh giá, đo lường chất lượng xếp hạng Những phân tích này dựa trên những thông tin tổng hợp toàn ngân hàng, cũng như những thông tin phân tích về các
Trang 32a) Khả năng đo lường được rủi ro
Kết quả chấm điểm xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp giúp ngân hàng đánh giá chất lượng tín dụng và đo lường được mức
độ rủi ro đối với từng khoản vay của khách hàng được xếp hạng trong quan hệ tín dụng với ngân hàng Do vậy, công tác xếp hạng tín dụng nội bộ của ngân hàng tốt hay không tốt thể hiện qua khả năng đo lường rủi ro tín dụng thông qua kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ
Theo đó, tỷ lệ nợ xấu phát sinh của từng nhóm khách hàng theo kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ là một trong những chỉ tiêu cho phép đánh giá khả năng đo lường mức độ tín nhiệm về khả năng tài chính của doanh nghiệp thông qua công tác xếp hạng Chẳng hạn, nếu tỷ lệ nợ xấu phát sinh trong kỳ xếp hạng của nhóm AAA cao hơn nhóm A hoặc BBB thì có nghĩa là công tác xếp hạng, kết quả xếp hạng khách hàng của ngân hàng đã đánh giá, đo lường không chính xác về mức độ tín nhiệm, về khả năng trả nợ của khách hàng Bởi vì, nhóm khách hàng có kết quả AAA là kết quả tốt nhất qua thời gian quan hệ tín dụng lại có tỷ lệ phát sinh nợ xấu cao hơn các nhóm khách hàng
có kết quả xếp hạng là A hoặc BBB (kết quả xếp hạng thấp hơn nhóm AAA)
b) Số lượng doanh nghiệp được xếp hạng
Đây là tiêu chí thể hiện quy mô công việc của công tác xếp hạng tín dụng nội bộ, thông qua số lượng doanh nghiệp được ngân hàng xếp hạng tín dụng nôi bộ cho một kỳ xếp hạng Theo đó:
- Một ngân hàng có công tác XHTD nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp được đánh giá là thành công, thì công tác XHTD nội bộ của ngân hàng
đó phải trải qua nhiều kỳ xếp hạng với số lượng doanh nghiệp (khách hàng) đưa vào xếp hạng không hạn chế nhưng vẫn cho ra kết quả xếp hạng khách hàng đảm bảo đo lường được rủi ro tín dụng một cách chính xác nhất Nghĩa
là dù số lượng khách hàng xếp hạng cs nhiều hay ít thì kết quả xếp hạng tín
Trang 33dụng nội bộ vẫn được đảm bảo có chất lượng, chính xác, phản ánh đúng thực trạng khách hàng, đo lường được rủi ro tín dụng
- Trường hợp ngược lại: Công tác xếp hạng tín dụng nội bộ chỉ có kết quả tốt khi só lượng khách hàng đưa vào xếp hạng chỉ giới hạn ở một số lượng nhất định Còn nếu vượt qua số lượng doanh nghiệp đưa vào xếp hạng này, nghĩa là tăng quy mô công việc thông qua tăng số lượng khách hàng đưa vào xếp hạng,thì kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ sẽ không còn chính xác, khả năng đo lường được rủi ro tín dụng giảm sút so với các kỳ xếp hạng có số lượng khách hàng xếp hạng ít hơn Như vậy có thể thấy công tác xếp hạng tín dụng ở ngân hàng này chưa được tốt, chưa thành công vì còn phụ thuộc vào quy mô công tác xếp hạng, số lượng doanh nghiệp doanh nghiệp đưa vào xếp hạng
c) Thông tin, dữ liệu đầu vào của doanh nghiệp được xếp hạng
Thông tin dữ liệu đầu vào phục vụ cho công tác xếp hạng là một nội dung quan trọng đầu tiên của quá trình thực hiện công tác xếp hạng khách hàng Từ thông tin, dữ liệu thu thập được có độ chính xác cao, có chất lượng thì kết quả xếp hạng sẽ phản ánh đúng thực trạng của doanh nghiệp đưa vào xếp hạng và ngược lại Do vậy, để đảm bảo thông tin thu thập có chất lượng,
có độ tin cậy cao, phản ánh đúng toàn diện thực trạng của doanh nghiệp thì thông tin mà ngân hàng thu thập được phải đáp ứng được một số điều kiện cơ bản sau:
- Thu thập về tình hình tài chính thông qua các báo cáo tài chính: Thông tin thu thập được phải đảm bảo đầy đủ, chính xác Báo cáo tài chính phải là báo cáo tài chính năm, phải có số dư đầu kỳ và cuối kỳ, số liệu phải trung thực, chính xác,… Để thông tin tài chính có chất lượng, đảm bảo độ tin cậy, ngân hàng có thể căn cứ vào báo cáo tài chính của doanh nghiệp đã kiểm toán hoặc quyết toán thuế, trong đó doanh nghiệp đã thực hiện các bút toán hạch
Trang 34toán điều chỉnh (nếu có) theo yêu cầu của cơ quan thuế Ngoài ra ngân hàng
có thể căn cứ vào số liệu trên báo cáo tài chính, dòng tiền phát sinh qua quá trình kinh doanh, đối chiếu số dư đầu kỳ, phát sinh trong kỳ, số dư cuối kỳ của các báo cáo tài chính trong 03 năm liền kề Từ đó, ngân hàng đưa ra các nghi vấn về chế độ chính xác của số liệu đối với các khoản mục mà ngân hàng
có nghi vấn, qua đó doanh nghiệp tiến hành điều chỉnh lại số liệu các khoản mục chưa chính xác (nếu có) Như vậy, sẽ nâng cao được chất lượng, độ tin cậy số liệu về tài chính của các doanh nghiệp trước khi đưa vào chấm điểm, xếp hạng khách hàng
- Thông tin phi tài chính thu thập được cũng phải đảm bảo một số điều kiện như:
+ Thông tin về pháp lý thu thập được phải đầy đủ, chính xác đảm bảo đáp ứng đúng, đảm bảo tính pháp lý theo quy định của pháp luật, như loại hình sở hữu, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp hợp pháp, phải được
cơ quan có thẩm quyền cấp phép thành lập, hoạt động Để thông tin về pháp
lý đảm bảo được chất lượng, có độ tin cậy, ngân hàng có thể căn cứ vào: Hồ
sơ thành lập doanh nghiệp, các văn bản như giấy phép thành lập, các biên bản họp hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần, biên bản họp hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn Qua đó, thể hiện được chắc chắn rằng ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp là hợp pháp, người đại diện pháp luật của doanh nghiệp trực tiếp ký kết, giao dịch với ngân hàng được chủ sở hữu ủy quyền và được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền,… Do vậy, sẽ tránh được trường hợp các văn bản ký kết giữa khách hàng và ngân hàng bị vô hiệu, làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay cho ngân hàng, rủi ro tín dụng phát sinh
Trang 35+ Thông tin về mô hình hoạt động, quy mô lao động: Các thông tin thu thập được phải đảm bảo phản ánh được số lượng lao động, mô hình bố trí, tổ chức bộ máy lao động
+ Thông tin về lịch sử quan hệ tín dụng: trong mối quan hệ với ngân hàng thực hiện công tác xếp hạng và các ngân hàng khác đã từng có nợ quá hạn hoặc cơ cấu nợ hay chưa, tỷ trọng nợ quá hạn, nợ cơ cấu (nếu có) trong tổng dư nự vay Ngoài ra còn có chỉ tiêu thông tin về uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp trong kinh doanh,…
d) Tần suất xếp hạng tín dụng nội bộ
Tần suất XHTD nội bộ theo cách hiểu thông thường đó là lần thực hiện công tác XHTD nội bộ trong một năm Việc đưa ra tiêu chí tần suất để đánh giá kết quả công tác XHTD nội bộ là nhằm đảm bảo việc đánh giá lại năng lực trả nợ của Doanh nghiệp được tiến hành một cách thường xuyên, định kỳ, cập nhật được các thay đổi của môi trường kinh tế cũng như các yếu tố bên trong Doanh nghiệp Nếu Ngân hàng thực hiện xếp hạng tín dụng nội bộ doanh nghiệp với tần suất quá thấp thì rủi ro tín dụng sẽ càng cao do các yếu
tố tác động đến Doanh nghiệp hay những yếu tố tự thân củ Doanh nghiệp đã thay đổi nhưng không được cập nhật kịp thời, đồng thời chất lượng tín dụng của Ngân hàng cũng không được phản ánh chính xác Tuy vậy, công tác xếp hạng tín dụng nội bộ không hẳn tiến hành với tần suất cao là tốt mà tại các thời điểm nền kinh tế khó khăn, NHTM cần phải tiến hành xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng doanh nghiệp với tần suất cao hơn bình thường
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp
a Các nhân tố bên trong ngân hàng
Các nhân tố bên trong ngân hàng thương mại ảnh hưởng đến xếp hạng tín dụng doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng thương mại đó là: trình độ hiện
Trang 36đại hóa công nghệ ngân hàng, phương pháp và các tiêu chuẩn đánh giá, năng lực của người thực hiện xếp hạng tín dụng…
Trình độ hiện đại hóa công nghệ ngân hàng
Công nghệ sử dụng hiện đại và đạt tiêu chuẩn hay không rõ ràng quyết định đến chất lượng công tác xếp hạng tín dụng Chất lượng công tác chấm điểm tín dụng không thể cao khi mà các công ty này vẫn được tiến hành một cách thủ công tùy theo trình độ đánh giá chủ quan của cán bộ tín dụng Khi được tiến hành theo quy trình trên phần mềm chấm điểm và định dạng thì kết quả thu được sẽ cao hơn Khi sử dụng phần mềm chấm điểm tự động sẽ hạn chế được sai sót do lỗi chủ quan của cán bộ, rút ngắn được thời gian chấm điểm do đó nâng cao chất lượng công tác này
Phương pháp và các tiêu chuẩn đánh giá xếp hạng tín dụng
Một NHTM có thể lựa chọn một hoặc kết hợp các phương pháp XHTD phù hợp với hệ thống các chỉ tiêu XHTD Ví dụ: đối với các chỉ tiêu tài chính, ngân hàng có thể lựa chọn phương pháp cho điểm theo tiêu chuẩn kết hợp phương pháp so sánh; đối với các chỉ tiêu phi tài chính có thể lựa chọn phương pháp chuyên gia Việc áp dụng các phương pháp khác nhau có thể dẫn tới kết quả đánh giá, xếp hạng khác nhau
Bên cạnh đó, kết quả XHTD cũng phụ thuộc vào các tiêu chuẩn đánh giá Nếu các tiêu chuẩn đánh giá càng rõ ràng, có hướng dẫn chi tiết, cụ thể thì kết quả xếp hạng tín dụng càng chính xác, có khả năng so sánh cao Khi xác định các tiêu chuẩn đánh giá, các ngân hàng cũng nên cân nhắc mức độ hợp lý giữa các tiêu chuẩn đánh giá và mục đích sử dụng kết quả xếp hạng tín dụng mà ngân hàng theo đuổi
Năng lực của người thực hiện xếp hạng tín dụng
Nhân tố con người luôn có ảnh hưởng lớn đến chất lượng công tác XHTD Một hệ thống chỉ tiêu đánh giá dù tốt đến đâu cũng chỉ phản ánh được
Trang 37những nội dung cơ bản cho phần lớn các trường hợp XHTD khách hàng cho vay vốn Đó là công cụ để người phân tích sử dụng để đánh giá xếp hạng doanh nghiệp Trong quá trình thao tác thực tế, người thực hiện công tác xếp hạng tín dụng phải hiểu được bản chất của vấn đề phân tích và nhận biết được tình huống trong từng điều kiện cụ thể, không máy móc áp dụng các tiêu chuẩn đánh giá
b Các nhân tố bên ngoài ngân hàng
Trong khi các nhân tố bên ngoài ngân hàng thương mại thuộc về chủ quan của ngân hàng, ngân hàng có thể kiểm soát, giới hạn được thì các nhân
tố bên ngoài là các nhân tố tác động mang tính khách quan, ảnh hưởng đến xếp hạng tín dụng khách hàng Các nhân tố bên ngoài có ảnh hưởng đến xếp hạng tín dụng các khách hàng vay vốn tại ngân hàng thương mại bao gồm:
Quy định, chính sách của nhà nước
Quy định pháp luật về doanh nghiệp và loại hình doanh nghiệp:
Mỗi loại hình doanh nghiệp có một đặc điểm riêng khác nhau Chính vì vậy, các tiêu chuẩn xếp hạng tín dụng cũng có sự khác nhau giữa các loại hình doanh nghiệp này Nhìn chung, các quy định về doanh nghiệp và loại hình doanh nghiệp của Việt Nam ngày càng được quy định cụ thể, rõ ràng theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế, giúp việc phân loại doanh nghiệp theo từng loại hình trở nên dễ dàng hơn
- Quy định về phân ngành kinh tế và phân loại ngành nghề đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh:
Phân ngành kinh tế và phân loại ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp là cơ sở cho việc xác định quy mô doanh nghiệp và điều kiện phân tích, so sánh các chỉ tiêu tài chính giữa các doanh nghiệp với nhau
- Các quy định và hướng dẫn trực tiếp của nhà nước liên quan đến xếp hạng tín dụng:
Trang 38Các quy định và hướng dẫn này vừa đòi hỏi bắt buộc của Nhà nước đối với việc sử dụng xếp hạng tín dụng như một công cụ quản lý rủi ro tại các Ngân hàng thương mại vừa mang nội dung hỗ trợ về kỹ thuật đối với phân tích xếp hạng doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng thương mại Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Ngân hàng Nhà nước có quy định trong vòng 03 năm kể từ khi quyết định có hiệu lực thì tổ chức tín dụng phải xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để hỗ trợ cho việc phân loại nợ, quản lý chất lượng tín dụng phù hợp với phạm vi hoạt động, tình hình thực tế của tổ chức tín dụng Ngày 21/06/2006 Ngân hàng Nhà nước mới có quyết định số 1253/QĐ-NHNN thay thế Quyết định 473/QĐ – NHNN ngày 28/04/2004 phê duyệt đề án phân tích, xếp hạng tín dụng doanh nghiệp Theo
đó, Ngân hàng nhà nước cho phép Trung tâm tín dụng thực hiện chính thức nghiệp vụ phân tích, xếp hạng tín dụng doanh nghiệp nhằm mục đích tăng cường công tác quản lý rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng và đánh giá năng lực của các doanh nghiệp
Chuẩn mực kế toán
Thực tế cho thấy các nước áp dụng cùng phương pháp phân tích và xếp hạng thì kết quả đánh giá vẫn không thể thống nhất, nếu áp dụng các chuẩn mực kế toán khác nhau Doanh nghiệp đang áp dụng chuẩn mực kế toán quốc gia hay quốc tế ? Nếu là chuẩn mực kế toán quốc gia thì mỗi quốc gia có một chuẩn mực kế toán riêng nhằm đáp ứng yêu cầu khác nhau của người sử dụng báo cáo tài chính ở quốc gia đó Ví dụ: phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho ở từng nước có sự khác nhau dẫn đến giá trị hàng tồn kho khác nhau, các chỉ tiêu tài chính liên quan đến hàng tồn kho khác nhau nên xếp hạng tín dụng khác nhau
Nếu sử dụng chuẩn mực kế toán quốc tế thì các tiêu chuẩn đánh giá xếp hạng doanh nghiệp cúng không thể giống nhau vì nhiều nguyên nhân như:
Trang 39hoàn cảnh kinh tế-xã hội, pháp luật…của mỗi quốc gia khác nhau Ví dụ: Việt Nam hiện nay vẫn là nước đang phát triển, nếu so sánh các chỉ tiêu tài chính với các tiêu chuẩn quốc tế thì rất ít doanh nghiệp được xếp hạng tín dụng cao
Chất lượng nguồn thông tin
Đây là nhân tố ảnh hưởng tới thông tin mà Cán bộ tín dụng thu thập Khi tiến hành thu thập thông tin, CBTD vấp phải nhiều khó khăn từ phía doanh nghiệp do đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì vấn đề bảo mật thông tin mang tính quan trọng hàng đầu Họ không muốn tiết lộ nhiều thông tin mang tính cạnh tranh với các doanh nghiệp khác hoặc những thông tin mật về phương thức và bí quyết kinh doanh Vì thế những tài liệu họ cung cấp cho ngân hàng thường không thực sự chính xác và đầy đủ Đây cũng là một nguyên nhân làm cho công tác đánh giá, xếp hạng doanh nghiệp của CBTD gặp nhiều khó khăn
Nếu như có quy định rõ ràng về chính sách, công khai thông tin hoạt động doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện để CBTD thu thập thông tin dễ dàng và chính xác hơn, nâng cao chất lượng nguồn thông tin từ đó nâng cao hiệu quả công tác XHTD
Trang 40ẾT UẬN CH NG 1
Chương 1 luận văn đã trình bày khái quát cơ sở lý luận về XHTD , vai trò của XHTD đối với ngân hàng, đối với cơ quan quản lý nhà nước và đối với thị trường chứng khoán Ngoài ra thì các phương pháp XHTD và quy trình XHTD cũng được đề cập Bên cạnh đó, luận văn cũng trình bày một số nhân tố ảnh hưởng đến XHTD nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp tại NHTM Từ những cơ sở lý luận này, luận văn sẽ nghiên cứu thực trạng hệ thống XHTD nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp của VCB, đưa ra những hạn chế của hệ thống XHTD nội bộ khách hàng doanh nghiệp VCB nói chung và VCB Đăk Lăk nói riêng trong chương 2