Ở công trình này tác giả đã đưa ra khái niệm văn hóa thẩm mỹ là một hệ thống chỉnh thể bao hàm bên trong nó những năng lực tinh thần – thực tiễn đặc biệt giúp con người có khả năng hoạt
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ -
LÊ THỊ THÙY DUNG
VAI TRÒ CỦA VĂN HOÁ THẨM MỸ ĐỐI VỚI
SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH SINH VIÊN
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Hµ Néi – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ -
LÊ THỊ THÙY DUNG
VAI TRÒ CỦA VĂN HOÁ THẨM MỸ ĐỐI VỚI
SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH SINH VIÊN
VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNDVBC&CNDVLS
Mã số: 62 22 80 05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Văn Huyên
Hµ Néi – 2013
Trang 3MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU……… 4
B NỘI DUNG……… 18
Chương 1 LÝ LUẬN VỀ VAI TRÕ CỦA VĂN HÓA THẨM
MỸ ĐỖI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH SINH VIÊN
18
1.1 Văn hoá thẩm mỹ, nhân cách, những nét tương đồng giữa
văn hóa thẩm mỹ và nhân cách……… 18
1.2 Vai trò của văn hoá thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách
sinh viên……… 49
Chương 2 VAI TRÕ CỦA VĂN HÓA THẨM MỸ ĐỐI VỚI SỰ
PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN
NAY – THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA……… 69
2.1 Đặc điểm nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay……… 69
2.2 Sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay do văn
hóa thẩm mỹ mang lại thông qua hoạt động giảng dạy và học tập
80
2.3 Sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay do văn
hóa thẩm mỹ mang lại thông qua hoạt động chính trị - xã hội và
hoạt động vui chơi giải trí……… 98
2.4 Sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay do văn
hóa thẩm mỹ mang lại thông qua môi trường nhà trường……… 107
2.5 Những vấn đề đặt ra trong sự phát triển nhân cách sinh viên
Việt Nam hiện nay do việc vận dụng, phát huy vai trò của văn
hóa thẩm mỹ chưa tốt……… 120 Chương 3 PHƯƠNG PHƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ
YẾU PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA VĂN HÓA THẨM MỸ ĐỐI
VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH SINH VIÊN VIỆT NAM
HIỆN NAY……… 133
Trang 43.1 Phương hướng phát huy vai trò của văn hoá thẩm mỹ đối với
sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay………
133
3.2 Những giải pháp chủ yếu phát huy vai trò của văn hoá thẩm
mỹ đối với sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay
149
C KẾT LUẬN……… 178
D DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN………
182
E TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 183
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói riêng, thế hệ trẻ ngày càng có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng Đại hội XI của Đảng đã xác định: “Chú trọng xây dựng nhân cách con người Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống, thể chất, lòng tự tôn dân tộc, trách nhiệm xã hội, ý thức chấp hành pháp luật, nhất là trong thế hệ trẻ” [30, tr 126] Sinh viên là một bộ phận ưu tú trong thế hệ trẻ, nguồn bổ sung chủ yếu cho giới trí thức và là hiện thân tương lai của đất nước Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu trong Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ VI năm 1999 đã xác định, sinh viên “là bộ phận trí tuệ và ưu tú trong thế hệ thanh niên, nơi kết tinh nhiều tài năng sáng tạo, là nguồn lao động có học vấn cao, có chuyên môn sâu và đại
bộ phận sinh viên sẽ trở thành trí thức của đất nước” [50, tr 67] Sự phát triển toàn diện của sinh viên chính là tiền đề cho sự đóng góp tích cực của họ đối với tiến bộ xã hội
Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xu thế hội nhập khu vực, hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ
và sôi động, sự phát triển nhảy vọt của cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới đòi hỏi sinh viên Việt Nam phải nỗ lực rèn luyện, phấn đấu vươn lên toàn diện về thể lực, trí lực, đạo đức, nhân cách, để đáp ứng yêu cầu của thời đại, đưa đất nước từng bước tiến kịp các nước trong khu vực và trên thế giới Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ: “Tập trung xây dựng đời sống, lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh; coi trọng văn hoá trong lãnh đạo, quản lý, văn hoá trong kinh doanh và văn hoá trong ứng xử” [30, tr 126]
Tuy nhiên, trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, bên cạnh xu hướng tích cực và tiến bộ, nhiều yếu tố tiêu cực từ bên ngoài
Trang 6cũng thâm nhập, tác động không nhỏ tới nhận thức và hành vi của một bộ phận sinh viên nước ta Nhiều vấn đề có liên quan tới tư tưởng, quan điểm, lối sống, đạo đức, nhân cách của sinh viên đang bị suy thoái, lệch lạc; những giá trị truyền thống, thuần phong mỹ tục của dân tộc đang có xu hướng bị sinh viên xem nhẹ; việc tìm hiểu, phân tích và tiếp thu các xu hướng tư tưởng và trào lưu của xã hội hiện đại trong sinh viên còn có phần cảm tính, thiếu cân nhắc và chọn lọc….Tất cả những “lệch chuẩn” trong nhân cách ấy cần phải được điều chỉnh để tạo ra những sinh viên đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của thời đại
Văn hóa thẩm mỹ hiện diện trong tất cả các hoạt động của con người, đặc biệt nó tác động đến con người bằng cái đẹp và thông qua cái đẹp, trong
sự hài hoà với cái chân, cái thiện, cái có ích Nó đánh thức không chỉ năng lực thẩm mỹ mà toàn bộ năng lực sáng tạo tiềm ẩn, lay động những sợi dây tình cảm tinh tế nhất của tâm hồn con người Tác động thẩm mỹ làm nảy sinh nhu cầu cảm thụ và sáng tạo cái đẹp không chỉ trong lĩnh vực nghệ thuật mà trong toàn bộ hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần Nhờ đó, nó tác động đến toàn bộ thế giới tinh thần, tình cảm của con người, góp phần hình thành và phát triển nhân cách con người nói chung và sinh viên nói riêng
Văn hoá thẩm mỹ và nhân cách là hai khía cạnh trong bản chất con người, chúng có những nét đặc thù gần gũi Văn hoá thẩm mỹ thống nhất về bản chất với nhân cách cao đẹp Văn hoá thẩm mỹ chính là sự đồng hoá, thẩm
mỹ hoá, văn hoá hoá bản chất con người, là sự sáng tạo mà quá trình lịch sử chứa đựng xu hướng tự thoát khỏi cái thực dụng vật chất tầm thường, nhằm phát hiện và khẳng định một cách đầy đủ nhất bản chất người, tức là bản chất
xã hội của con người Ở một trình độ phát triển cao, mục đích của văn hoá thẩm mỹ trùng khớp với mục đích nhân hoá, văn hoá hoá con người, xây dựng những nhân cách theo yêu cầu của xã hội
Trang 7Nghiên cứu, làm rõ bản chất và sức mạnh đặc thù của văn hóa thẩm
mỹ, từ đó làm rõ vai trò của văn hoá thẩm mỹ trong đời sống xã hội và phát triển con người là một trong những nhiệm vụ quan trọng để góp phần xây dựng và phát triển nhân cách của giới trí thức tương lai, góp phần xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, cho đến nay, vấn đề này chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức Vì những lí do trên, việc đi sâu nghiên
cứu đề tài “Vai trò của văn hoá thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay” là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
cấp thiết hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu về vấn đề văn hóa thẩm mỹ
Dưới những hình thức và mức độ nhất định, vấn đề văn hóa thẩm mỹ
đã được đề cập đến từ xa xưa trong lịch sử Khái niệm văn hóa thẩm mỹ chỉ được sử dụng phổ biến bắt đầu từ những năm 60, 70 của thế kỷ XX trong giới nghiên cứu khoa học triết học, chuyên ngành mỹ học và văn hoá học
Ở Liên Xô trước đây đã có những công trình nghiên cứu về văn hóa thẩm mỹ Công trình chuyên khảo của M.X Cagan “Văn hóa thẩm mỹ của con người Xô Viết”- Trường Đại học Tổng hợp Lêningrát (1976), đã khảo sát bản chất của văn hoá thẩm mỹ, xem giáo dục thẩm mỹ như một phương tiện hình thành nhân cách và khẳng định vai trò của nghệ thuật trong sự phát triển nhân cách của con người nói chung Giáo trình “Cơ sở lý luận văn hóa Mác- Lênin”, Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1983 của tập thể tác giả Liên Xô do giáo sư A.I.Ácnônđốp chủ biên đã dành cả chương XV để trình bày về “Văn hóa thẩm mỹ xã hội chủ nghĩa” Trong chương này tác giả đã trình bày những quan niệm chung nhất về văn hoá thẩm mỹ, chức năng và các lĩnh vực biểu hiện của nó Văn hoá nghệ thuật được xem là hạt nhân của văn hoá thẩm mỹ
và là một nội dung quan trọng trong nhiệm vụ giáo dục thẩm mỹ cho nhân
Trang 8dân lao động Tuy chưa đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh song các tác giả đã có quan niệm rõ nét về bản chất, chức năng, đặc thù của văn hoá thẩm mỹ Trong cuốn “ Nguyên lý mỹ học Mác- Lênin” của IU.A Lukin và V.C Xcacherơsicôp, Nxb Sách giáo khoa Mác- Lênin, Hà Nội, 1984, các tác giả cho rằng: “Văn hoá thẩm mỹ được hình thành bởi các giá trị thẩm mỹ”
Ở trong nước cũng có nhiều tác giả nghiên cứu như: “Văn hóa thẩm mỹ
và nhân cách” của Lương Quỳnh Khuê - Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1995 Ở công trình này tác giả đã đưa ra khái niệm văn hóa thẩm mỹ là một
hệ thống chỉnh thể bao hàm bên trong nó những năng lực tinh thần – thực tiễn đặc biệt giúp con người có khả năng hoạt động theo các quy luật của cái đẹp nhằm cảm thụ, nhận thức, đánh giá, và sáng tạo trên các giá trị thẩm mỹ;
tác giả cũng đã phân tích cơ cấu nội tại của văn hóa thẩm mỹ bao gồm năng lực thẩm mỹ, hoạt động thẩm mỹ và giá trị thẩm mỹ cũng như tác động của chúng đối với sự phát triển các phẩm chất văn hóa của con người Nguyễn Văn Huyên cũng nghiên cứu về văn hóa thẩm mỹ với “Văn hóa thẩm mỹ và văn hóa nghệ thuật nâng cao năng lực sáng tạo của con người” trong sách
“Văn hóa mới Việt Nam, sự thống nhất và đa dạng” – Nxb Khoa học Xã hội,
Hà Nội, 1996; “Văn hóa thẩm mỹ và sự phát triển nhân cách con người Việt Nam trong thế kỷ mới”, của nhiều tác giả do Nguyễn Văn Huyên chủ biên,
2001 Trong những công trình này, tác giả đã tiếp cận một cách toàn diện với văn hoá thẩm mỹ trên ba bình diện: nhận thức luận, bản thể luận và giá trị luận để thể hiện đầy đủ bản chất, cấu trúc và các tầng ý nghĩa của văn hóa thẩm mỹ Trong luận án tiến sĩ “Văn hóa thẩm mỹ và sự phát triển năng lực sáng tạo của con người‟ của Nguyễn Ngọc Thu - Viện triết học, 1998, tác giả
cho rằng, văn hóa thẩm mỹ chính là sự thể hiện và thực hiện những năng lực
thẩm mỹ của con người trong toàn bộ các hoạt động xã hội của họ, là phương thức thẩm mỹ của các hoạt động đó Nguyễn Văn Phúc với “ Quan hệ giữa
Trang 9cái thẩm mỹ và cái đạo đức trong cuộc sống và trong nghệ thuật”, 1997; “Xây dựng và phát triển nền văn hoá thẩm mỹ ở nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào trong điều kiện đổi mới và hội nhập quốc tế” của Xỉ Lửa Bun Khăm- Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2001; “Tính phổ quát và tính đặc thù trong các khía cạnh thẩm mỹ của văn hóa” trong sách “Đạo đức học - mỹ học
và đời sống văn hóa nghệ thuật” của Đỗ Huy – Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 2002; “Thị hiếu thẩm mỹ trong đời sống” của Nguyễn Chương Nhiếp, 2004;
“Vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ” của Trần Túy, 2005; luận
án tiến sĩ “Giáo dục thẩm mỹ với việc hình thành lối sống văn hóa của thanh niên vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay” của Lương Thanh Tân – Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2009; “Vai trò của giáo dục thẩm mỹ trong xây dựng lối sống văn hóa cho sinh viên trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp hiện nay” của Lương Thanh Tân, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2012… Các công trình trên có tính chuyên sâu về mỹ học Trên các bình diện khác nhau như triết học, thẩm mỹ học, xã hội học, tâm lý học, văn hóa học… các tác giả đã đề cập đến các vấn đề: khái niệm văn hóa, văn hóa thẩm mỹ; bản chất, cấu trúc và chức năng của văn hóa thẩm mỹ; giá trị thẩm mỹ, vai trò của văn hóa thẩm mỹ trong sự hình thành và phát triển con người Đồng thời, các công trình trên cũng đã đưa ra một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của văn hóa thẩm mỹ Những công trình này đã nghiên cứu vấn đề văn hóa thẩm mỹ dưới nhiều góc
độ khác nhau, trong đó tập trung chủ yếu khai thác quan điểm mácxít về văn hóa thẩm mỹ Những công trình này có giá trị tham khảo rất cao đối với đề tài luận án
Về khái niệm văn hóa thẩm mỹ: Chúng ta biết rằng, văn hóa thẩm mỹ
là một khía cạnh của văn hóa, đó là một phạm trù rất rộng, để làm rõ nó, cần được nghiên cứu toàn diện từ nhiều khoa học khác nhau Các công trình của
Trang 10các nhà nghiên cứu trước đã bàn khá kỹ lưỡng về khái niệm, cấu trúc và vai trò của văn hóa thẩm mỹ Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu thường chỉ được tiếp cận, phân tích từ một ngành khoa học cụ thể, cho nên nội hàm khái niệm văn hóa thẩm mỹ chỉ được làm rõ ở khía cạnh mà từng công trình nghiên cứu quan tâm; nó có thể được phân tích rất sâu từ khía cạnh tâm lý học, nghệ thuật học, văn hóa học Từ cách tiếp cận có tính tổng hợp phải nói tới các công trình nghiên cứu từ triết học, chuyên ngành mỹ học Đây là mảng công trình có nhiều đóng góp vào làm rõ dần khái niệm văn hóa thẩm mỹ
Về vai trò của văn hóa thẩm mỹ: Vai trò của văn hóa thẩm mỹ từ lý
luận chung được quan tâm bởi nhiều nhà triết học, trong đó có mỹ học ở Liên
Xô và một số nước châu Âu Kết quả nghiên cứu của họ làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu vấn đề này ở Việt Nam những năm qua, tuy nhiên các công trình nghiên cứu ở Việt Nam cũng đi sâu vào lý thuyết Các nhà nghiên cứu tiền bối thường chỉ đánh giá vai trò của văn hóa thẩm mỹ tới nhân cách nói chung
mà ít có tác giả đề cập tới vai trò của văn hóa thẩm mỹ tới đối tượng hẹp là nhân cách sinh viên, kể cả các công trình nghiên cứu dưới dạng các bài báo cũng như các đề tài cấp nhà nước
2.2 Tình hình nghiên cứu về vấn đề nhân cách và nhân cách sinh viên
Vấn đề nhân cách cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu Năm 1984, Nhà xuất bản sách giáo khoa Mác - Lênin đã xuất bản bộ sách “Chủ nghĩa xã hội và nhân cách” của L.M.Ackhanghenxky do Đỗ Trọng Thiều và Đào Anh San dịch Bộ sách này gồm hai tập Trong tập một, tác giả đưa ra khái niệm nhân cách, đặc trưng của nhân cách Xã hội Chủ nghĩa và vai trò tích cực của con người trong sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản Trong tập hai, tác giả trình bày sự phát triển nhân cách về mặt đạo đức, tự do và trách nhiệm của nhân cách, giáo dục nhân cách trong tập thể lao động và những phương pháp
Trang 11giáo dục nhân cách xã hội chủ nghĩa Năm 2004, Phạm Minh Hạc và Lê Đức Phúc đồng chủ biên cuốn sách “Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách” Trong cuốn sách này, các tác giả định nghĩa nhân cách theo cách tiếp cận hoạt động – giá trị và đánh giá bằng độ trùng hợp của thang giá trị và thước đo giá trị
của chủ thể và của xã hội với định nghĩa như sau: Nhân cách của con người
là hệ thống các thái độ của mỗi người thể hiện ở mức độ phù hợp giữa thang giá trị và thước đo giá trị của người ấy với thang giá trị và thước đo giá trị của cộng đồng và xã hội; độ phù hợp càng cao nhân cách càng lớn Trên cơ
sở đó, các tác giả đã phân biệt khá rõ ràng những khái niệm gần với nhân cách như con người, cá thể, cá nhân; Những công trình trên đã bàn sâu về khái niệm, cấu trúc và đặc trưng của sự hình thành nhân cách nhưng chủ yếu là đi vào lý luận về nhân cách con người nói chung, chưa được xem xét ở những đối tượng cụ thể Chúng có giá trị tham khảo rất cao về lý luận cho việc triển khai luận án này
Một số tạp chí cũng có những bài viết về đề tài nhân cách như: “Những phẩm chất nhân cách cần giáo dục cho sinh viên”, Mạc Văn Trang, Tạp chí Nghiên cứu Đại học và Giáo dục Chuyên nghiệp, số 4 năm 1992; “Thẩm định những chuẩn mực giá trị trên bình diện nhân cách” của Đỗ Huy, Tạp chí Triết học, số 3 năm 1993; “Hình thành và phát triển nhân cách trong kinh tế thị trường” , Lê Đức Phúc, Tạp chí Cộng sản, số 6 năm 1995…
Một số luận án về nhân cách dưới góc độ triết học và tâm lý học đã được bảo vệ như: “Vai trò của đạo đức với sự hình thành nhân cách con người Việt Nam trong điều kiện đổi mới hiện nay”, Lê Thị Thuý, H.2000; “Những đặc điểm nhân cách tạo thành uy tín của nữ giảng viên đại học đối với sinh viên”, Hoàng Mộc Lan, H.2003; “Phát triển giá trị văn hoá trong nhân cách sĩ quan trẻ quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, Nguyễn Xuân Trường,
Trang 12H.2005; “Định hướng giá trị nhân cách của học sinh trung học phổ thông”, Nguyễn Thị Mai Lan, H 2009; …
Một số công trình nghiên cứu khoa học công nghệ cấp nhà nước có liên quan tới đề tài nhân cách đã được thực hiện như Chương trình KX07, KXKH04 Chương trình KX-07 “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” có một số đề tài liên quan đến nhân cách như: “Giá trị, định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị”, Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), H.1995; “Kết quả điều tra về vai trò của nhà trường trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam”, Hoàng Đức Nhuận (chủ biên), H.1995 Trong đó, đề tài nghiên cứu trực tiếp về nhân cách là KX07-04 “Đặc trưng và xu thế phát triển nhân cách con người Việt Nam trong sự phát triển kinh tế - xã hội” Đề tài này đã tiến hành nghiên cứu nhân cách dưới dạng nghiên cứu lý luận về nhân cách song song với điều tra
xã hội học trên cơ sở coi đặc trưng của nhân cách con người Việt Nam thể hiện trên ba mặt cơ bản là: định hướng giá trị, tiềm năng – khả năng – kỹ năng; phẩm chất – nếp sống – thói quen Tuy nhiên, đề tài này chưa làm rõ vì sao lại coi „hệ thống giá trị và định hướng giá trị là thành phần cơ bản và cốt lõi của nhân cách” hay vì sao lại nghiên cứu nhân cách thông qua tiềm năng – khả năng – kỹ năng và phẩm chất – nếp sống – thói quen Trong chương trình KHXH-04, trực tiếp liên quan đến nhân cách có đề tài “Mô hình nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Đề tài này đã nghiên cứu về cơ sở lý luận của nhân cách bao gồm: khái niệm con người, khái niệm nhân cách con người, cấu trúc nhân cách, con đường hình thành nhân cách và tìm hiểu về hiện trạng nhân cách con người Việt Nam bằng trắc nghiệm Cattell 16 PF Phần cơ sở lý luận của nghiên cứu nhân cách được tiến hành công phu, nêu rõ được mục tiêu và xác định được giới hạn của đề tài, song cũng như chương trình KX07, đề tài này chưa lý giải
Trang 13được tại sao lại lựa chọn sử dụng trắc nghiệm Cattel 16 PF mà không phải là trắc nghiệm khác nên độ thuyết phục chưa cao, hơn nữa kết quả thu được mới chỉ dừng lại ở việc có được những nhận xét riêng lẻ về các đặc trưng của nhân cách mà không đi đến một hiện trạng nhân cách toàn diện của con người Việt Nam
Tiếp nối các đề tài trên, chương trình KX.05 đã được triển khai trong giai đoạn 2001- 2005, trong chương trình này, vấn đề con người, đặc biệt là nghiên cứu giá trị xã hội và giá trị nhân cách là một trong những hướng nghiên cứu chính Đề tài nhánh KX.05.07 “Xây dựng con người Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường, mở cửa
và hội nhập quốc tế” có nhiệm vụ chính là nghiên cứu các giá trị xã hội và giá trị nhân cách người Việt Nam hiện nay để tìm ra cơ sở lý luận khoa học cho việc xây dựng người Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập quốc tế Kết quả nghiên cứu của
đề tài đã khẳng định, các giá trị nhân cách cơ bản: lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, niềm tin, bản lĩnh là những giá trị nhân cách
cơ bản được người Việt Nam hiện nay hướng tới
Với đối tượng hẹp là nhân cách sinh viên cũng đã có một số tác giả bàn đến như: Trần Sỹ Phán với luận án “Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành
và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”; “Giáo dục nhân cách cho học sinh, sinh viên trong bối cảnh của cơ chế thị trường”, Phạm Thị Minh, T/c Tâm lý học, số 7 năm 2005, “Xây dựng nhân cách sinh viên sư phạm phục vụ việc đào tạo nguồn nhân lực tỉnh Khánh Hòa”, luận án tiến sĩ của Vũ Thị Kim Oanh, Hà Nội, 2011… Tuy nhiên, nhân cách sinh viên mới chỉ được bàn đến ở khía cạnh đạo đức hoặc dưới góc độ tâm lý học
Trong đề tài “Mô hình nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” thuộc Chương trình KHXH04 cũng
Trang 14đưa ra kết quả nghiên cứu nhân cách sinh viên bằng trắc nghiệm Cattel 16 PF
có tham khảo kết quả của một nghiên cứu so sánh xuyên văn hóa đặc trưng nhân cách của sinh viên Trung Quốc và Việt Nam của Phùng Đình Mẫn Kết quả của nghiên cứu này có giá trị tham khảo rất cao trong đề tài của chúng tôi
Về đối tượng sinh viên: Ở Việt Nam, đối tượng sinh viên cũng đã được
các cơ quan chức năng như Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục Thanh – Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, Viện nghiên cứu Thanh niên, các trường đại học, cao đẳng và các tổ chức thế giới như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF)… chọn làm đối tượng nghiên cứu Các công trình nghiên cứu của các cơ quan, tổ chức này đã đề cập tới vấn đề lý luận và thực tiễn căn bản liên quan tới sinh viên Trong thời gian gần đây, trước tình hình nóng bỏng của các vấn đề tệ nạn xã hội có liên quan tới sinh viên thì đối tượng sinh viên được quan tâm nghiên cứu với mật độ dày đặc hơn Nhiều kết quả điều tra, khảo sát đã được công bố Với mục đích nghiên cứu và góc độ nghiên cứu khác nhau, những công trình nghiên cứu này chủ yếu đề cập tới lối sống, đạo đức của sinh viên hiện nay Những vấn đề lý luận về nhân cách sinh viên, đặc biệt là nhân cách sinh viên hiện nay, chưa được quan tâm đầy
đủ
2.3 Tình hình nghiên cứu về vai trò của văn hóa thẩm mỹ đối với
sự phát triển nhân cách sinh viên
Trong các sách giáo khoa về thẩm mỹ của các tác giả Liên Xô, sau các phần về thẩm mỹ, văn hóa thẩm mỹ, còn có phần bàn về vai trò của văn hóa thẩm mỹ đối với phát triển con người Trước hết phải kể đến các công trình của IU.A Lukin và V.C Xcacherơsicôp, Iri Bôrep, Vanxlốp, Iuri Babuskin, Egirốp, Ovxianicốp, v.v Về vai trò của văn hóa thẩm mỹ và nghệ thuật đối với phát triển con người phải kể đến các công trình của V.I Kifasenkô,
Trang 15Leizerov, Oderov, v.v Kế thừa và phát triển tư tưởng của các nhà thẩm mỹ Liên Xô, ở Việt Nam có một số nhà nghiên cứu đi sâu và mở rộng phạm vi ứng dụng vai trò của văn hóa thẩm mỹ đối với phát triển con người Việt Nam vào thập niên 70 – 80 của thế kỷ XX Trước hết, phải nói tới các công trình thẩm mỹ của Vũ Khiêu, Đỗ Huy, Như Thiết, Phạm Khiêm Ích, Hoài Lam, Đỗ Văn Khang Vũ Khiêu có công trình: Đẹp – bàn về giáo dục thẩm mỹ cho thanh niên thế hệ mới; Như Thiết bàn về quán triệt tính Đảng trong văn hóa nghệ thuật; Đỗ Huy bàn về mấy vấn đề giáo dục thẩm mỹ Lê Ngọc Trà, Huỳnh Khái Vinh đi sâu vào vai trò của nghệ thuật trong phát triển nhân cách con người nói chung, thanh niên nói riêng Trường Lưu, Hồ Sĩ Vịnh đi sâu vào giá trị văn hóa dân tộc và vai trò của nó đối với việc giữ gìn các giá trị truyền thống Việt Nam Nguyễn Văn Huyên khai thác giá trị thẩm mỹ từ góc
độ phản ánh luận, làm rõ sự tác động đặc thù của nó đối với sự gợi mở tính năng sáng tạo của con người nói chung và phát triển các phẩm chất nhân cách con người Việt Nam nói riêng Đó là các công trình: Nghệ thuật với sự gợi
mở các tiềm năng sáng tạo của con người, trong sách “Văn hóa thẩm mỹ với
sự phát triển con người trong thế kỷ mới”, Nxb Văn hóa, 2001 Trong giáo trình Mỹ học đại cương, Nxb Chính trị Quốc gia, 2004, Nguyễn Văn Huyên dành cả một chương cho vấn đề vai trò của giá trị thẩm mỹ đối với phát triển con người hiện nay, trong đó tác giả đã chứng minh giáo dục thẩm mỹ nói chung, vai trò của giáo dục nghệ thuật nói riêng có ưu thế đặc biệt, do đó có sức mạnh đặc biệt trong sự phát triển các phẩm chất người; tác giả cũng đưa
ra một số phương thức và loại hình giáo dục thẩm mỹ trong điều kiện hiện tại
Nhìn chung, các mảng vấn đề liên quan đến đề tài luận án đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và có nhiều công trình nghiên cứu hết sức sâu sắc, có giá trị lớn về khoa học, đó là kho tài liệu quý báu làm cơ sở lý luận cho việc tham khảo nghiên cứu, thực hiện luận án Một số tác giả đã bàn đến vai trò của văn
Trang 16hóa thẩm mỹ đối với sự phát triển con người nói chung Tuy nhiên, cho đến nay, vấn đề vai trò của văn hóa thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay hầu như vẫn còn bỏ ngỏ Việc thực hiện đề tài mới có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn cấp bách đối với việc phát triển con người mới xã hội chủ nghĩa nói chung, nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay cần được kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học tiền bối
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
- Mục đích:
Trên cơ sở lý luận về văn hóa thẩm mỹ, nhân cách và vai trò của văn hóa thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách, luận án phân tích, làm rõ vai trò của văn hoá thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của văn hoá thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong điều kiện hiện nay
+ Phân tích thực trạng sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay do văn hóa thẩm mỹ mang lại, đồng thời, chỉ ra những vấn đề đặt ra trong thực trạng ấy;
Trang 17+ Đề ra phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm góp phần phát huy vai trò của văn hoá thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –Lênin, đặc biệt là mỹ học Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa nghệ thuật và về xây dựng con người Việt Nam; đường lối và chính sách văn hóa, phát triển con người của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là phương pháp luận của việc nghiên cứu, giải quyết các nhiệm vụ, thực hiện mục đích của luận án
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: luận án sử dụng các phương pháp lịch sử
và lôgíc, phương pháp liên ngành, phân tích và tổng hợp, khái quát hóa, gắn lý luận với thực tiễn…
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng: Văn hóa thẩm mỹ, vai trò của văn hóa thẩm mỹ trong các
trường đại học, cao đẳng đối với sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam giai đoạn từ đổi mới đến nay
Phạm vi: Văn hoá thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách sinh viên có
thể được nghiên cứu ở nhiều góc độ, nhiều khía cạnh khác nhau: văn hóa dân tộc; hoạt động sống; môi trường xã hội; v.v Trong khuôn khổ của luận án này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích và làm rõ vai trò của văn hoá thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay thông qua việc phân tích và đánh giá chất lượng giảng dạy, đào tạo của nhà trường
và các hoạt động của sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng ở nước ta
Trang 186 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án phân tích một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về văn hoá thẩm mỹ và nhân cách, chỉ ra tính tương đồng giữa văn hóa thẩm mỹ và nhân cách, từ đó, làm rõ vai trò của văn hóa thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam;
- Phân tích thực trạng sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay do văn hóa thẩm mỹ mang lại, đồng thời, chỉ ra những vấn đề đặt ra trong thực trạng ấy;
- Đề xuất và luận giải tính khả thi của một số giải pháp thiết thực nhằm phát huy vai trò của văn hoá thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần phát triển lý luận về văn hoá thẩm mỹ, nhân cách và vai trò của văn hoá thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách sinh viên nói riêng, con người Việt Nam nói chung hiện nay
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, học tập và giảng dạy về văn hóa thẩm mỹ trong các trường đại học, cao đẳng Luận án cũng có ý nghĩa gợi ý, khuyến nghị đối với những người làm công tác quản lý văn hoá nghệ thuật, công tác giáo dục đào tạo và những người hoạch định các chính sách xã hội trong giai đoạn hiện nay
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu gồm 3 chương, 9 tiết
Trang 19Chương 1
LÝ LUẬN VỀ VAI TRÕ CỦA VĂN HÓA THẨM MỸ ĐỐI VỚI SỰ
PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH SINH VIÊN 1.1 Văn hóa thẩm mỹ, nhân cách, những nét tương đồng giữa văn hóa thẩm mỹ và nhân cách
1.1.1 Văn hoá thẩm mỹ
1.1.1.1 Khái niệm và bản chất của văn hóa thẩm mỹ
Khi tìm hiểu về văn hoá thẩm mỹ dưới các khía cạnh khác nhau, các nhà nghiên cứu nước ngoài và các nhà nghiên cứu Việt Nam đã đưa ra nhiều quan niệm về văn hoá thẩm mỹ Như trong giáo trình “Cơ sở lý luận văn hoá Mác-Lênin”, tập thể tác giả Liên Xô do A.I.Ácnônđốp chủ biên đã khẳng định: “Văn hoá thẩm mỹ là một thành tố nằm trong hệ thống văn hoá tinh thần Chức năng đặc thù của văn hoá thẩm mỹ là đem lại cho chủ thể con người một biểu tượng trực quan một hiện thực như lý tưởng mong muốn” [1,
tr 217] Bằng cách liệt kê những lĩnh vực biểu hiện của văn hoá thẩm mỹ, hai tác giả I.A.Lukin và Scacherơsicốp cho rằng, “văn hoá thẩm mỹ được hợp thành bởi các giá trị thẩm mỹ (tức là bởi những giá trị thể hiện cái đẹp và cái cao cả trong mọi hoạt động sống của con người như trong lĩnh vực lao động, trong các quan hệ xã hội, trong giao tiếp, trong sinh hoạt, trong nghệ thuật); bởi những tập quán, phương thức, phương tiện mà con người có được và sử dụng để cảm thụ, nhận thức, chiếm lĩnh các giá trị này; bởi các năng lực tự hoạt động sáng tạo được thực hiện trong các công trình lao động, khoa học và nghệ thuật mang tính chất và ý nghĩa thẩm mỹ” [77, tr 339]
Các nhà nghiên cứu Việt Nam, như Đỗ Huy trong cuốn “Mỹ học với tư cách là một khoa học” coi văn hoá thẩm mỹ là biểu hiện tập trung của quan hệ thẩm mỹ Văn hoá thẩm mỹ chính là trình độ của con người trong thưởng
Trang 20thức, đánh giá và sáng tạo thẩm mỹ: “Văn hoá thẩm mỹ là sự thể hiện những năng lực thẩm mỹ của bản chất con người Đó là sự thể hiện toàn bộ sức mạnh, khả năng sáng tạo có dự kiến của con người theo quy luật cái đẹp Trong quá trình thể hiện các lực lượng bản chất theo quy luật cái đẹp, con người xác lập các quan hệ thẩm mỹ Hành động lịch sử đầu tiên của con người là thoả mãn nhu cầu thực dụng Bản chất người là bản chất sáng tạo Con người khi sáng tạo ra đời sống xã hội thì nó cần tái sản xuất các thể chất
cá nhân Nó tạo ra các hoạt động sống, kiểu sống nhất định, trạng thái nhất định của hoạt động sống Đó là quá trình hoàn thiện cuộc sống vươn tới giá trị chân thiện mỹ” [55, tr 73]
Mặc dù có những khác biệt trong chi tiết song các quan niệm trên đều thống nhất ở chỗ cho rằng văn hoá thẩm mỹ là một phương diện đặc thù của văn hoá nói chung Nó không có lĩnh vực tồn tại riêng mà hoà quyện vào nền văn hoá, làm cho nền văn hoá đạt tới sự vận hành “theo quy luật của cái đẹp” Nếu văn hóa được hiểu như là mức độ biểu hiện và thực hiện các sức mạnh bản chất của con người như là phương thức nhân tính của các hoạt động đó thì văn hóa thẩm mỹ chính là sự thể hiện và thực hiện các năng lực thẩm mỹ của con người trong toàn bộ các hoạt động xã hội của họ, phương thức thẩm mỹ của các hoạt động đó Tính đặc thù của văn hoá thẩm mỹ thể hiện ở nhân tố thẩm mỹ Nó được hình thành trong hoạt động thẩm mỹ, trong đời sống thẩm
mỹ, do các nhu cầu cảm thụ, nhận thức, đánh giá và sáng tạo thẩm mỹ của con người thôi thúc, quy định và đến lượt mình, văn hoá thẩm mỹ lại là công
cụ để con người cảm thụ, nhận thức, đánh giá và sáng tạo các giá trị thẩm mỹ
Văn hoá thẩm mỹ là khái niệm dùng để chỉ những giá trị được mang lại
từ những hoạt động của con người trong thưởng thức, đánh giá và sáng tạo các giá trị thẩm mỹ, nó biểu hiện một loại hình đặc thù, có trình độ tổng hợp phát triển cao của văn hoá xã hội Văn hóa thẩm mỹ là một bộ phận quan
Trang 21trọng hợp thành và là bộ phận hữu cơ của nền văn hóa nhân loại Văn hoá thẩm mỹ thống nhất với văn hoá từ bản chất, đặc trưng đến cấu trúc, đồng thời văn hoá thẩm mỹ lại biểu hiện như một lĩnh vực văn hoá đặc thù – lĩnh vực thẩm mỹ
Văn hoá thẩm mỹ tồn tại trong mọi hoạt động của con người Trong đó, văn hoá nghệ thuật là hạt nhân của văn hoá thẩm mỹ Bởi, mục đích trực tiếp của sáng tạo nghệ thuật chính là việc thể hiện những năng lực tinh thần, tình cảm, cảm quan, những quan điểm và lý tưởng thẩm mỹ của con người Nói như vậy, không có nghĩa văn hoá thẩm mỹ chỉ tồn tại trong các hoạt động nghệ thuật mà nó còn tồn tại trong những hoạt động ngoài nghệ thuật của con người Dù trong lĩnh vực sản xuất vật chất hay sản xuất tinh thần thì bản chất của con người chính là năng lực sáng tạo một cách toàn diện, vươn tới cái đẹp, cái hài hoà, hoàn mỹ Hoạt động của con người bao giờ cũng là hoạt động có đối tượng, kết quả cuối cùng của hoạt động thẩm mỹ là việc tạo nên các giá trị thẩm mỹ Do đó, ở đâu có hoạt động sống của con người thì ở đó
có văn hoá thẩm mỹ
Kế thừa quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trước, tác giả nhận định: văn hóa thẩm mỹ là một thể thống nhất hữu cơ các giá trị thẩm mỹ và hoạt động sáng tạo thẩm mỹ của con người đang hiện thực hóa những năng lực thẩm mỹ của họ, đồng thời, văn hóa thẩm mỹ còn là một hệ thống độc đáo xuyên suốt tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, khoa học… đến các quan hệ, các giao tiếp của con người Văn hoá thẩm
mỹ là một hệ thống chỉnh thể bao hàm bên trong nó những năng lực tinh thần
- thực tiễn đặc biệt, giúp con người có khả năng hoạt động theo các quy luật của cái đẹp nhằm cảm thụ, nhận thức, đánh giá và sáng tạo các giá trị thẩm
mỹ Nó góp phần to lớn vào việc giáo dục, xây dựng và phát triển nhu cầu
Trang 22thẩm mỹ, ý thức thẩm mỹ, năng lực thẩm mỹ và tình cảm thẩm mỹ cho con người, làm cho con người và xã hội ngày càng hoàn thiện hơn
1.1.1.2 Cấu trúc của văn hóa thẩm mỹ
Các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều quan niệm về văn hoá thẩm mỹ thì đồng thời cũng có nhiều cách phân chia cấu trúc của văn hoá thẩm mỹ Các giáo trình thẩm mỹ của các tác giả Liên xô và Việt Nam đều cho rằng văn hoá thẩm mỹ được thể hiện trong các lĩnh vực chủ yếu, đó là khách thể thẩm mỹ, chủ thể thẩm mỹ và nghệ thuật Trong các công trình nghiên cứu của mình, các nhà nghiên cứu mỹ học ở Việt Nam như: Hoài Lam, Đỗ Huy, Đỗ Văn Khang, Nguyễn Văn Huyên, Lê Ngọc Trà … về cơ bản cũng đồng quan điểm như trên Theo Lương Quỳnh Khuê, văn hoá thẩm mỹ bao gồm: năng lực thẩm mỹ, hoạt động thẩm mỹ và các giá trị thẩm mỹ Kế thừa và phát triển các tư tưởng nêu trên, chúng tôi cho rằng cấu trúc của văn hoá thẩm mỹ bao gồm các yếu tố cơ bản sau: ý thức thẩm mỹ, năng lực thẩm mỹ, hoạt động thẩm mỹ và giá trị thẩm mỹ
Ý thức thẩm mỹ là sự phản ánh hiện thực vào ý thức con người trong quan hệ với nhu cầu thưởng thức thẩm mỹ nói chung và nhu cầu sáng tạo cái
vẹn, sinh động, đầy sắc thái tình cảm, nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức, đánh giá và sáng tạo hiện thực Tuy mang tính chất cảm tính, nhưng ý thức thẩm mỹ không đơn thuần chỉ là sự phản ánh các yếu tố thuộc hình thức bề ngoài của sự vật, hiện tượng “Sự độc đáo diệu kỳ của ý thức thẩm mỹ chính
là ở chỗ nó vừa giữ được những ấn tượng cảm tính phong phú vừa đồng thời khái quát hoá, thâm nhập vào những mối liên hệ và quan hệ bản chất ẩn kín của các hiện tượng” [95, tr 110-111]
Ý thức thẩm mỹ có vai trò to lớn trong hoạt động thẩm mỹ nói riêng và trong toàn bộ sự nghiệp cải tạo thiên nhiên và xã hội của con người nói
Trang 23chung Thiếu đi sự dẫn dắt của nó con người sẽ không thực hiện được sự
“nhào nặn vật chất theo quy luật của cái đẹp” Nó phản ánh tồn tại khách quan trong dạng hình tượng - tình cảm nhằm đáp ứng nhu cầu sáng tạo hiện thực theo quy luật của cái đẹp
Hoạt động thẩm mỹ gắn liền với một loại năng lực đặc biệt, đó là năng
lực thẩm mỹ Năng lực thẩm mỹ là một tập hợp các khả năng thể hiện tâm lý,
tư tưởng, tình cảm cũng như phẩm chất đặc biệt về thể chất và tinh thần giúp cho con người có khả năng cảm thụ, nhận thức, đánh giá và sáng tạo các giá trị thẩm mỹ Năng lực thẩm mỹ là năng lực tinh thần, thực tiễn, là phẩm chất
bậc cao của con người và chỉ con người mới có Mác viết: “Thông qua sự phong phú đã được phát triển về mặt vật chất của con người thì sự phong phú
về tính cảm giác chủ quan của con người mới phát triển và một phần, thậm chí lần đầu tiên mới sản sinh ra lỗ tai thính âm nhạc, con mắt thấy được cái đẹp của hình thức – nói tóm lại là những cảm giác có khả năng về hưởng thụ
có tính người và tự khẳng định mình như một lực lượng bản chất của con
người” [82, tr 118]
Sự hình thành và phát triển năng lực thẩm mỹ ở con người là cả một quá trình học tập và rèn luyện Ở một khía cạnh khác, năng lực thẩm mỹ còn được hình thành từ yếu tố năng khiếu bẩm sinh Song, nó được giải thích một cách biện chứng và khoa học Thực tiễn cũng đã chứng minh rằng, năng khiếu chỉ là dấu hiệu của tài năng còn hoạt động thực tiễn mới là yếu tố quyết định cho sự phát triển của năng lực và tài năng Hoạt động thẩm mỹ cũng không nằm ngoài quy luật ấy
Hoạt động thẩm mỹ là khái niệm phản ánh các hoạt động của con người do nhu cầu thẩm mỹ và mục đích thẩm mỹ quy định nhằm tạo ra một giá trị thẩm mỹ nhất định Đây là hoạt động đặc biệt chỉ có ở con người, biểu
hiện sâu sắc những phẩm chất văn hoá của hoạt động người nói chung nhằm
Trang 24khám phá, nhận thức, thấu hiểu, chiếm lĩnh, đánh giá và sáng tạo thế giới một
cách thẩm mỹ
Hoạt động thẩm mỹ chính là việc đưa các yếu tố thẩm mỹ vào các lĩnh vực khác nhau của hoạt động người nhằm trau dồi sự sâu sắc, tinh tế về phương diện thẩm mỹ trong toàn bộ hoạt động đời sống con người Chính với nghĩa này mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, văn hoá không bao giờ tồn tại dưới những hình thức thô thiển; văn hoá nào cũng là văn hoá thẩm mỹ Hoạt động thẩm mỹ chính là sự biểu hiện sâu sắc của tính sáng tạo, tính tự do và khuynh hướng vươn tới cái đẹp
Hoạt động thẩm mỹ, như đã phân tích ở trên, là loại hoạt động dù vượt thoát thế giới hiện thực, nhưng bao giờ cũng hướng tới thế giới hiện thực; nó vừa khám phá vẻ đẹp của thế giới hiện thực, vừa thẩm mỹ hoá nó vì sự hoàn thiện của thế giới và vừa vì sự hoàn thiện của con người Cho nên, hoạt động thẩm mỹ vừa là một thành tố của văn hóa thẩm mỹ, vừa sáng tạo ra giá trị thẩm mỹ
Giá trị thẩm mỹ là kết quả của quá trình hoạt động thưởng thức, đánh giá và sáng tạo thẩm mỹ của chủ thể thẩm mỹ Giá trị thẩm mỹ là một loại giá
trị tinh thần thể hiện quan hệ giữa đối tượng thẩm mỹ và chủ thể thẩm mỹ, ở
đó chứa đựng xúc cảm, tình cảm, lý tưởng thẩm mỹ, phản ánh các chuẩn mực
cuộc sống theo khát vọng chân – thiện – mỹ
Chúng tôi đồng quan điểm với các nhà nghiên cứu đi trước cho rằng: giá trị thẩm mỹ mang tính chủ quan cảm tính của chủ thể thẩm mỹ Cùng một đối tượng thẩm mỹ nhưng dưới lăng kính của những chủ thể thẩm mỹ khác nhau sẽ đem lại những giá trị thẩm mỹ khác nhau Bản thân sự đánh giá của chủ thể thẩm mỹ không tạo nên giá trị thẩm mỹ nhưng mọi giá trị thẩm mỹ đều phải thông qua sự đánh giá của chủ thể thẩm mỹ thì giá trị thẩm mỹ mới được xác định
Trang 25Các giáo trình mỹ học theo quan niệm macxít đều thống nhất cho rằng, giá trị thẩm mỹ được thể hiện dưới hình thức cái đẹp, cái cao cả, cái bi, cái hài… trong đó cái đẹp là trung tâm Đó là những giá trị được hình thành trong quan hệ thẩm mỹ của con người đối với thế giới hiện thực Chính vì được hình thành trong quan hệ thẩm mỹ và thực tiễn thẩm mỹ, nên cái cao cả, cái
bi, cái hài… chính là những biến thể, dạng phái sinh, các hình thức tồn tại khác của cái đẹp trong những điều kiện nhất định Vì vậy, từ phương diện giá trị, khi phân biệt văn hoá thẩm mỹ với các dạng văn hoá khác, người ta thường coi cái đẹp là tiêu chí tiêu biểu nhất cho tính đặc thù của văn hoá thẩm
mỹ
Giá trị thẩm mỹ biểu hiện vô cùng đa dạng, nó có mặt ở toàn bộ các quan hệ thẩm mỹ của con người Tuy nhiên, giá trị thẩm mỹ được biểu hiện cao nhất trong giá trị nghệ thuật Nghệ thuật là sự phản ánh (sáng tạo) một cách cô đọng thế giới hiện thực (tự nhiên, xã hội, con người); sự thể hiện tập trung nhất tư tưởng, tình cảm, khát vọng, ý chí, lý tưởng của con người và xã hội Giá trị nghệ thuật khắc phục được những giới hạn về không gian, thời gian của giá trị thẩm mỹ Giá trị thẩm mỹ được coi là nguồn gốc, nền tảng và tiền đề trực tiếp của giá trị nghệ thuật
1.1.1.3 Chức năng của văn hóa thẩm mỹ
Khi tìm hiểu về chức năng của văn hóa thẩm mỹ, tác giả tìm hiểu nhiều quan niệm của các học giả đi trước và nhận thấy:
Thứ nhất: những nhà nghiên cứu khác nhau phân chia số lượng và tên gọi các chức năng thẩm mỹ cũng khác nhau, mà phổ biến là các chức năng như chức năng thưởng thức, chức năng thẩm mỹ, chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng giao lưu, chức năng thông tin - giao tiếp, chức năng giải trí Stolovich - nhà mỹ học người Nga phân loại chức năng thẩm mỹ
Trang 26thành 12 chức năng; ngoài các chức năng như trên, ông còn đưa ra các chức năng khoái cảm, chức năng tiên đoán, chức năng dự báo, v.v
Thứ hai: dựa trên những tiêu chí phân chia khác nhau, các nhà nghiên cứu có nhiều cách phân chia chức năng của văn hóa thẩm mỹ khác nhau, song tựu trung lại có hai cách phân chia phổ biến như sau: cách thứ nhất xếp các chức năng của văn hóa thẩm mỹ song song, ngang bằng nhau; cách thứ hai, chức năng thẩm mỹ là chức năng bao hàm các chức năng khác Trong công trình “Lại bàn về chức năng của nghệ thuật”, Nguyễn Văn Huyên luận giải có sức thuyết phục rằng, không thể đặt chức năng thẩm mỹ bên cạnh (ngang bằng) các chức năng khác (nhận thức, giáo dục, sáng tạo…); chức năng thẩm
mỹ bao hàm trong tất cả các chức năng nhận thức, giáo dục, sáng tạo… Tác giả đồng quan điểm với cách phân chia thứ hai và tham khảo thành tựu của những nhà nghiên cứu đi trước để đưa ra những luận giải của mình về chức năng của văn hóa thẩm mỹ
Văn hoá thẩm mỹ là một phương diện đặc thù của văn hoá Chức năng của văn hoá thẩm mỹ cũng giống như tất cả các lĩnh vực văn hoá khác là hoàn thiện con người xã hội, đảm bảo cho con người sự phát triển tự do và toàn diện tất cả các khả năng, tự khẳng định chính mình Tuy nhiên, văn hoá thẩm
mỹ lại thực hiện chức năng đặc thù, chức năng bao trùm nhất của văn hoá thẩm mỹ là thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ của con người Bởi vì, văn hoá thẩm
mỹ ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu phản ánh thế giới và thể hiện thế giới tinh thần của con người trên bình diện thẩm mỹ, một phương diện cuộc sống mà các hình thái ý thức xã hội khác không thể có được Tố chất thẩm mỹ ẩn chứa trong tất cả các hoạt động của con người, hơn nữa nhu cầu thẩm mỹ được coi
là một trong những nhu cầu cao nhất trong mọi nhu cầu của con người Vì vậy, thoả mãn được nhu cầu thẩm mỹ cũng có nghĩa là góp phần thoả mãn được những mong muốn cao đẹp nhất của con người Điều đó cũng có nghĩa
Trang 27là, thông qua chức năng bao quát - chức năng thẩm mỹ của văn hoá thẩm mỹ thì các chức năng khác như nhận thức thẩm mỹ, giáo dục thẩm mỹ … sẽ được thực hiện
Văn hoá thẩm mỹ đi sâu vào khía cạnh cảm thụ, nhận thức và sáng tạo cái đẹp trong toàn bộ hoạt động của con người Vì vậy, văn hoá thẩm mỹ trực tiếp tác động tới các giác quan, cảm xúc của con người, thông qua đó góp phần hình thành và phát triển nhân cách con người Từ chức năng thẩm mỹ chung nhất, văn hoá thẩm mỹ góp phần hình thành và phát triển nhân cách con người thông qua các chức năng xã hội mang những đặc trưng riêng cơ bản như sau: chức năng thưởng thức, chức năng nhận thức, chức năng giáo dục và chức năng giao lưu
Chức năng thưởng thức là chức năng đặc biệt và ưu trội của văn hoá
thẩm mỹ, bởi vì, chỉ có văn hóa thẩm mỹ mới đem lại khoái cảm thẩm mỹ, thích thú thẩm mỹ, hưng phấn thẩm mỹ với tư cách là một loại khoái cảm, thích thú, hưng phấn riêng … mà không có gì thay thế được trong quá trình sống, chiến đấu, lao động và học tập
Con người có thể thưởng thức các giá trị vật chất từ các ý nghĩa xã hội, nhân văn của nó, thưởng thức các thú vui tinh thần như các loại hình thể thao, giải trí, v.v Song giá trị đỉnh cao trong các loại hình thưởng thức đó là giá trị thẩm mỹ, là văn hoá thẩm mỹ Không gì vượt qua được văn hoá thẩm mỹ ở tính xúc cảm và sự lây lan tình cảm: từ tình cảm sang lý trí, từ thực tại sang liên tưởng, tưởng tượng, gây sảng khoái tinh thần Các khoái cảm do văn hoá thẩm mỹ mang lại là khoái cảm thẩm mỹ - loại khoái cảm vừa mang tính giải trí vừa làm thanh thản tâm hồn, đem lại niềm hưng phấn trọn vẹn chân - thiện
- mỹ Xukhômlinxky đã khái quát ý nghĩa thưởng thức của văn hoá thẩm mỹ: cái đẹp là thể dục của tinh thần
Trang 28Văn hoá thẩm mỹ cô đọng trong nghệ thuật Nghệ thuật ra đời góp phần đáp ứng nhu cầu thưởng thức thẩm mỹ của con người Nghệ thuật không chỉ giải toả trạng thái căng thẳng sau thời gian làm việc, bù đắp sức lao động
đã mất, mà còn nhận thêm kiến thức thẩm mỹ, tăng khả năng sáng tạo vốn tiềm tàng ở mỗi con người Có thể nói rằng, đến với nghệ thuật ta như được tắm mình trong thế giới của cái đẹp Đó là cái đẹp của hiện thực được phản ánh một cách sáng tạo trong tác phẩm, là cái đẹp trong tư tưởng tình cảm, lý tưởng thẩm mỹ của nghệ sĩ và là cái đẹp của hình thức nghệ thuật do tài năng của nghệ sĩ tạo nên
Chức năng nhận thức: văn hóa thẩm mỹ giúp cho con người nhận thức
được những giá trị thẩm mỹ, biết rung cảm trước cái đẹp, mang lại cho con người những tri thức thẩm mỹ về cuộc sống, về con người xung quanh Văn hoá thẩm mỹ là sự tập trung lý tưởng con người, nó nhận thức thế giới bằng các cảm quan - cảm xúc mạnh mẽ, đi vào chiều sâu nội tâm của đối tượng; phát hiện các quy luật tình cảm rất riêng của con người Vì vậy, lượng tri thức thẩm mỹ phong phú có thể đi sâu và mở rộng thế giới tinh thần của con người
và quan hệ giữa con người với thế giới
Văn hoá thẩm mỹ giúp con người nhận thức về cái đẹp, điều đó có nghĩa giúp con người hiểu biết cả cái cao cả, cái bi, cái hài… Các phạm trù thẩm mỹ như cái bi, cái hài, cái cao cả, cái trác tuyệt… đều là sự biểu hiện cái đẹp ở các trạng thái và các mức độ khác nhau Cái bi là cái đẹp bị tiêu diệt, cái hài là cái đẹp bị biến dạng, méo mó, cái cao cả là cái đẹp siêu việt, v.v Một tác phẩm nghệ thuật chân chính vẫn có thể là đẹp ngay cả khi nó phản ánh cái xấu Khi đó giá trị thẩm mỹ bộc lộ ở phương diện hình thức nghệ thuật và bộc lộ trong cái đẹp của tâm hồn, tư tưởng của tác giả khi họ xuất phát từ một lý tưởng thẩm mỹ đúng đắn, tiến bộ để phê phán và phủ định cái xấu, làm cho người ta nhận diện nó rõ hơn, căm ghét và tránh xa cái xấu
Trang 29Chức năng nhận thức của văn hoá thẩm mỹ được biểu hiện rõ khi nó phản ánh đời sống xã hội Là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, văn hoá thẩm mỹ không chỉ giúp con người nhận thức ở hiện tại, trở về quá khứ mà còn dự báo cả tương lai Nó không chỉ giúp con người nhận thức thế giới hữu hình mà còn khám phá tâm hồn, tình cảm của con người Sự phản ánh của các chủ thể sáng tạo chân thực, đúng đắn bao nhiêu thì khả năng nhận thức mà văn hoá thẩm mỹ mang lại cho con người càng đầy đủ, sâu sắc và chuẩn xác bấy nhiêu
Chức năng giáo dục: Là một hình thức phản ánh thế giới - phản ánh cái
bản chất, cái điển hình của cuộc sống, cô đọng và thể hiện khát vọng tiến bộ, những chuẩn mực giá trị chân - thiện - mỹ, văn hoá thẩm mỹ thực hiện chức năng giáo dục; nó tác động có định hướng, có kế hoạch nhằm xây dựng và phát triển ở con người các năng lực nhận thức thẩm mỹ, cảm thụ thẩm mỹ và sáng tạo các giá trị thẩm mỹ
Ưu thế độc tôn trong chức năng giáo dục của văn hoá thẩm mỹ chính là việc gây dựng và rèn luyện cảm xúc thẩm mỹ, bồi dưỡng năng lực đánh giá, định hướng giá trị về sáng tạo thẩm mỹ Để xây dựng một tình cảm lành mạnh, thế giới tinh thần phong phú và sâu sắc, hình thành nếp sống, nếp nghĩ cao đẹp của con người không có một hình thức tư tưởng nào có thể thay thế
và vượt qua được văn hoá thẩm mỹ Hơn nữa, văn hoá thẩm mỹ đi vào lòng người một cách tự nhiên, thông qua chính nhu cầu của con người mà không cần phải lý giải, giải thích, khuyên bảo Con người cảm thụ thẩm mỹ mà không bị ức chế bởi tâm lý “bị giáo dục”, họ đến với tinh thần thoải mái và tự
do, họ được cuốn vào “trò chơi” với những khả năng kỳ diệu của sắc màu, ngôn ngữ, âm thanh, nhịp điệu, các tình huống bất ngờ, v.v Chúng sẽ mang lại niềm sảng khoái, say mê, khâm phục, kích thích khát vọng vươn tới cái đẹp
Trang 30Chức năng giáo dục của văn hoá thẩm mỹ được thể hiện tập trung nhất thông qua nghệ thuật Điều này đã được M.Goocki nhận xét: mục đích của nghệ thuật là giúp con người tự hiểu lấy mình, nâng cao lòng tin tưởng ở nơi mình, thức tỉnh con người khát vọng vươn tới chân lý, đấu tranh chống lại những thói thô bỉ của người đời; biết phát hiện ra cái tốt ở nơi con người, khơi dậy lòng dũng cảm, sự căm giận, chí sáng tạo của họ, làm cho tất cả những gì cần thiết ở nơi họ trở nên tráng kiện và cho họ biết vận dụng tinh hoa thần thánh của cái đẹp làm cảm hứng cho đời họ
Chức năng giao lưu: Cuộc sống của con người không thể thiếu thông
tin giao tiếp Thông tin giao tiếp giúp cho con người trao đổi tư tưởng, tình cảm, truyền đạt kinh nghiệm trong sản xuất và cuộc sống Văn hóa thẩm mỹ
là một kênh thông tin giao tiếp khác với các kênh thông tin khác Văn hoá thẩm mỹ là sự thăng hoa tinh thần con người, nên lợi thế đặc biệt của nó là giao lưu bằng cái đẹp, bằng ngôn ngữ, hình ảnh, màu sắc, hình khối, đường nét… với những kết hợp ước lệ mà bất cứ dân tộc nào cũng hiểu Mỗi dân tộc đều có sắc thái tình cảm riêng, cách thể hiện tình cảm ước lệ riêng, song cái chung, ngôn ngữ chung là hình tượng thẩm mỹ Khi các hình thức giao tiếp khác của con người không đạt được hiệu quả tối ưu thì người ta dùng đến hình tượng thẩm mỹ, đến nghệ thuật Thông qua hình tượng thẩm mỹ, qua nghệ thuật, đời sống tinh thần của con người với con người được giao lưu, chia sẻ, thông hiểu và đồng cảm sâu sắc với nhau
Thông tin được truyền đạt thông qua các đối tượng thẩm mỹ Nó không chỉ được truyền đạt giữa người này với người khác, cộng đồng này với cộng đồng khác, dân tộc này với dân tộc khác trong cùng một thế hệ mà nó còn được truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác, đồng thời văn hoá thẩm mỹ còn
có khả năng dự báo tương lai Sêchxpia sống cách thời đại chúng ta bốn thế
kỷ, song thông qua các tác phẩm vĩ đại của mình, ông đã dự báo và cảnh báo
Trang 31cho chúng ta về tác hại xấu của đồng tiền Những bài sấm của trạng Trình- Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đã dự báo chính xác vận mệnh của đất nước mấy chục năm về sau thời ông sống
Văn hóa thẩm mỹ nói chung, văn hóa nghệ thuật nói riêng, không chỉ tồn tại trong cuộc sống như một phương thức giải trí của con người mà chúng thực sự là những kênh thông tin đặc sắc và mạnh mẽ tác động đến toàn bộ đời sống tinh thần, tình cảm của con người, kích thích cảm hứng, trí tưởng tượng, thúc đẩy nhu cầu thưởng ngoạn và khát vọng sáng tạo của con người Trong đời sống chính trị, chúng là phương thức biểu hiện thông tin, tuyên truyền, cổ động chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước
1.1.2 Nhân cách
1.1.2.1 Khái niệm và bản chất của nhân cách
Từ lâu, nhân cách đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn như tâm lý học, đạo đức học, xã hội học, v.v Các ngành khoa học khác nhau quan tâm tới nhân cách dưới các góc độ riêng khác nhau của nó, song để giải đáp những vấn đề chung nhất về nhân cách, trước hết đó là nhiệm vụ của triết học Khi bàn về nhân cách, nhiều người có
sự hiểu nhầm và sử dụng lẫn lộn các khái niệm như: con người, cá thể, cá nhân, nhân cách Thực chất các khái niệm nêu trên là khác nhau Mặc dù, nội hàm của chúng có sự gần gũi, có các phần đan xen lẫn nhau, chồng lấn lên nhau, nên phân biệt các khái niệm trên chỉ mang tính chất tương đối Phạm Minh Hạc khi phân biệt bốn khái niệm này đã viết: “Con người với tư cách là tột đỉnh tiến hóa của thế giới sinh vật và tiếp tục phát triển thành cá thể, cá nhân và nhân cách Khi con người là đại diện của loài thì ta gọi đó là cá thể Với tư cách là thành viên xã hội thì con người được gọi là cá nhân như một thực thể độc lập, và khi nó có đủ khả năng để trở thành chủ thể của hoạt động
Trang 32học tập, lao động, vui chơi thì con người trở thành nhân cách.” [43, tr 13] Chúng tôi đồng ý và kế thừa quan điểm trên
Khái niệm gốc hay xuất phát điểm của nhân cách là khái niệm con
người Theo quan niệm của Mác, con người là một thực thể thống nhất giữa
mặt tự nhiên và mặt xã hội Trước hết, con người là một thực thể tự nhiên-
toàn bộ các yếu tố sinh học của con người như đặc điểm cơ thể, não, giác quan,… Con người là một loài động vật phát triển cao nhất trong tất thảy các loài động vật, đồng thời con người là một bộ phận của tự nhiên, là sản phẩm của tự nhiên, mang bản tính sinh học, nên mọi thuộc tính, đặc điểm sinh học, quá trình tâm- sinh lý, các giai đoạn phát triển của con người đều tuân theo quy luật của tự nhiên
Mặt quan trọng của con người là con người với tư cách một thực thể xã hội, bởi chính trong lịch sử phát triển của loài người, con người đã biết sử dụng những công cụ lao động, sản xuất ra những tư liệu sản xuất, thông qua
đó, con người đã làm thay đổi, cải biến giới tự nhiên, tạo ra “tự nhiên thứ hai” cho mình Hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người Chính trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, con người sản xuất ra tinh thần, hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy, đồng thời, xác lập các quan hệ xã hội
Khái niệm cá thể được dùng để chỉ thành phần của loài Nếu hiểu khái
niệm con người để phân biệt với thế giới loài vật, là đỉnh cao trong nấc thang tiến hóa của thế giới sinh vật thì cá thể người được hiểu là thành phần của loài người đã bứt ra khỏi loài vật Nó vừa chứa đựng thành tựu tiến hóa của thế giới sinh vật, chịu sự chi phối của thế giới đó, vừa đứng ngoài sự chi phối của thế giới đó Nghĩa là nó vừa chịu sự tác động của các quy luật trong vũ trụ, vừa chịu tác động của các quy luật sinh vật, vừa bắt đầu chịu tác động của các quy luật xã hội
Trang 33Con người với tư cách là một thực thể loài, được cụ thể hóa trong
những cá nhân hiện thực Khái niệm cá nhân dùng để chỉ một cá thể riêng lẻ
với tư cách là đại biểu cho loài sinh vật phát triển cao nhất hoặc có thể coi cá nhân là một phần tử đơn nhất, riêng lẻ của cộng đồng xã hội, được xem xét cụ thể riêng từng người với các đặc điểm tâm sinh lý xã hội để phân biệt giữa các cá nhân khác trong cộng đồng Cá nhân với tư cách là một chỉnh thể đơn
nhất đặc biệt, có đặc trưng là tính chỉnh thể của tổ chức hình thái và tâm- sinh
lý, tính ổn định trong sự tương tác với môi trường và tính tích cực trong xã hội Cá nhân là một thành viên của xã hội, kẻ mang tổng hòa các quan hệ xã hội, vừa chịu ảnh hưởng của chúng, vừa góp phần tạo ra chúng
Khái niệm cá nhân là nền tảng để nghiên cứu nhân cách Nhân cách bao hàm cả phần xã hội và phần tâm lý, tính cách, phẩm chất của cá nhân Đó là con người với tư cách là một thành viên xã hội nhất định, là chủ thể của các quan hệ người, của các hoạt động có ý thức và giao lưu X.L.Rubinstein nhấn mạnh: “Con người là cá tính do nó có những thuộc tính đặc biệt, không lặp lại, con người là nhân cách do nó xác định được quan hệ của mình với những người xung quanh một cách có ý thức” [trích theo 33, tr 84]
Triết học Mác ra đời đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử tư tưởng của nhân loại Mác đã vạch rõ bản chất của con người với luận điểm: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan
hệ xã hội” [78, tr 11] Quan điểm này của Mác không phủ nhận hay coi nhẹ mặt tự nhiên, cơ sở di truyền sinh vật, tâm sinh lý của cá nhân, trên cơ sở đó hình thành nhân cách Con người là một thực thể sinh học – xã hội, trong đó, mặt sinh học và mặt xã hội không tách rời nhau mà liên hệ, tác động qua lại với nhau, trong đó, cái tự nhiên tồn tại trong sự tác động của cái xã hội, chúng thâm nhập vào nhau, in dấu ấn lên toàn bộ hoạt động sống của con người
Trang 34Nhân cách tồn tại trong từng con người cụ thể, do vậy, nó vừa mang tính chất
xã hội, vừa có những đặc điểm cá nhân, có cá tính của mỗi người
Trên cơ sở quan niệm của Mác về bản chất con người, ở Việt Nam đã hình thành và xây dựng nên nhiều quan niệm khác nhau về nhân cách Theo
Từ điển tâm lý (chủ biên: Nguyễn Khắc Viện) nhân cách là “tổng hòa tất cả những gì hợp thành một con người, một cá nhân với bản sắc và cá tính rõ nét: đặc điểm thể chất, tài năng, phong cách, ý chí, đạo đức, vai trò xã hội và là một cá nhân có ý thức về bản thân, đã tự khẳng định được, giữ được phần nào tính nhất quán trong mọi hành vi” [138, tr 190]
Từ góc độ giá trị học, Phạm Minh Hạc và Lê Đức Phúc cho rằng, “nhân cách của con người là hệ thống các thái độ của mỗi người thể hiện ở mức độ phù hợp giữa thang giá trị và thước đo giá trị của người ấy với thang giá trị và thước đo giá trị của cộng đồng và xã hội, độ phù hợp càng cao nhân cách càng lớn.” [43, tr 24]
Từ góc độ triết học, có quan niệm cho rằng, “nhân cách của mỗi con người đều được quy định bởi nhân tố xã hội, nhân tố sinh vật và nhân tố tâm
lý, trong đó nhân tố xã hội đóng vai trò quyết định” [136, tr 118] Theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng, khái niệm nhân cách phải bao gồm một
hệ thống các quan hệ của con người với thế giới xung quanh, nó sinh thành do
hoạt động có tính xã hội - lịch sử Chúng tôi cho rằng, nhân cách là tổng hợp
những đặc điểm về phẩm chất, năng lực của cá nhân quy định con người như một thành viên của xã hội, mang các giá trị đạo đức, cốt cách của cá nhân, thể hiện thái độ, hành vi, bản lĩnh của cá nhân phù hợp với các giá trị xã hội.
Khái niệm nhân cách bao hàm tất cả các mặt, các phẩm chất có ý nghĩa
xã hội trong một con người Nhân cách được hình thành và phát triển nhờ những quan hệ xã hội mà cá nhân đó sống, hoạt động Từ đó, những đặc điểm, thuộc tính, thái độ của họ biến đổi và dần dần được hoàn thiện, trở
Trang 35thành những đặc điểm, thuộc tính mang tính người, tính xã hội - đạo đức Nhân cách là tổng hợp các thái độ, những đặc điểm những thuộc tính tâm lý trong quan hệ hoạt động của từng người đối với thế giới tự nhiên, xã hội và đối với chính bản thân mình Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm về phẩm chất, năng lực, về thuộc tính tâm lý của cá nhân, nó biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người
Nói đến nhân cách là nói đến con người đã trưởng thành về mặt xã hội,
là sự biểu hiện chức năng xã hội của con người, là chủ thể của sự nhận thức
và cải tạo thế giới, là chủ thể của quyền hạn và nghĩa vụ, chủ thể của các mối quan hệ và những giá trị xã hội, chịu hoàn toàn trách nhiệm về những hành vi của mình trước xã hội và bản thân Đặc trưng của nhân cách trước hết là quá trình xã hội hóa cá nhân độc đáo, quá trình cá nhân thường xuyên điều chỉnh hành vi của mình, quá trình phản tư của cá nhân trước nhu cầu của xã hội, quá trình tự đánh giá, tự ý thức hợp thành cốt lõi của nhân cách Nhân cách không chỉ thể hiện cái tinh thần, nó phải được thể hiện bằng hành động trực tiếp làm biến đổi hiện thực theo nhu cầu cá nhân, làm cho sự tồn tại và vận động của
xã hội mang dấu ấn của cá nhân, là sản phẩm của những cá nhân
Con người được sinh ra không phải đã là một nhân cách mà mới chỉ là một cá thể người Cá nhân này chỉ trở thành nhân cách khi nó mang tính chất
là một chủ thể các quan hệ xã hội Sự phân biệt giữa hai khái niệm “cá nhân”
và “nhân cách” cũng chỉ là tương đối Khi nói tới “cá nhân” là muốn nhấn mạnh tới tính độc đáo riêng biệt ở từng cá thể người trong mối quan hệ của nó với xã hội Khi nói tới “nhân cách” là muốn nói tới những đặc điểm, thuộc tính, phẩm chất,… độc đáo riêng biệt ấy trong mối quan hệ giữa những cá nhân, là cái để phân biệt giữa cá nhân này với cá nhân khác Biểu hiện rõ nhất của nhân cách là thái độ, bản lĩnh, hành vi của cá nhân phù hợp với thang giá trị xã hội
Trang 36Nhân cách không chỉ là sản phẩm của một xã hội mà còn là sự kết hợp độc đáo của những thuộc tính chung vốn có của chủng loài, truyền thống và văn hóa riêng của dân tộc, đồng thời là cái đơn nhất gắn liền với đặc tính di truyền và môi trường vi mô mà trong đó cá nhân trưởng thành Cho nên nhân
cách bao giờ cũng biểu hiện ra là một cá tính Cá tính là sự thể hiện vẻ riêng
đặc sắc, tính độc đáo không lặp lại của nhân cách Cá tính là cái ổn định
trong sự thường xuyên biến động và phát triển của cuộc đời con người
Sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân phụ thuộc vào các mối quan hệ xã hội mà cá nhân đó tham dự Cá nhân càng đi sâu vào đời sống xã hội bao nhiêu, các mối quan hệ của cá nhân càng phong phú bao nhiêu thì nhân cách của cá nhân đó càng phát triển phong phú, toàn diện và sâu sắc bấy nhiêu Thông qua các mối quan hệ đó, con người thực hiện các chức năng xã hội, đồng thời tự biểu hiện, tự khẳng định mình với tư cách là một con người xã hội, một cá nhân mang nhân cách
1.1.2.2 Cấu trúc của nhân cách
Cấu trúc của một nhân cách được hình thành và phát triển dần dần trong quá trình trưởng thành của mỗi cá nhân, đi từ quá trình ít được phân hóa đến một sự phân hóa tỉ mỉ hơn, từ những thuộc tính rời rạc tiến lên những cấu tạo, cấu trúc gồm các thuộc tính, quy định mức độ hoạt động bền vững tương đối đặc trưng cho một con người Do vậy, nhân cách vừa có tính ổn định tương đối vừa có tính biến đổi Việc xác định đúng và đủ các thành phần cấu trúc của nó là một yêu cầu về lý luận và phương pháp
Có nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc nhân cách Dưới góc độ tâm
lý học và xã hội học, quan niệm của A.G Kovaliov được nhiều nhà nghiên cứu ở nước ta tán thành hơn cả Quan niệm này cho rằng cấu trúc của nhân cách bao gồm bốn yếu tố: xu hướng, năng lực, tính cách, khí chất
Trang 37Con người là một thực thể xã hội, do đó, không thể có hoạt động của con người mà không có mục tiêu, mục đích, không có đối tượng, không có phương hướng Sự hướng tới này được phản ánh vào trong tâm lý của mỗi
người như là xu hướng của nhân cách Xu hướng là một thuộc tính tâm lý điển
hình của cá nhân, bao hàm trong đó một hệ thống những động lực quy định tính tích cực hoạt động của cá nhân và quy định sự lựa chọn các thái độ của
nó Nếu xu hướng nhân cách nói lên ước vọng của mỗi cá nhân thì năng lực là
phương tiện để thực hiện nó Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của
cá nhân, phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả Tính cách là mặt đạo đức của nhân cách Tính cách là một thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân để phân biệt cá nhân này với cá nhân khác, bao gồm một hệ thống thái độ của cá nhân đối với thế giới hiện thực, thể hiện trong hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng, giao tiếp Sự
phân biệt giữa cá nhân này với cá nhân khác không chỉ biểu hiện qua tính
cách mà còn biểu hiện qua khí chất của họ Khí chất là thuộc tính tâm lý phức
hợp của cá nhân, biểu hiện cường độ, tốc độ, nhịp độ của các hoạt động tâm
lý, thể hiện sắc thái, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của cá nhân
Bốn thuộc tính trên đây có liên hệ chặt chẽ với nhau, chúng thể hiện các nội hàm tâm lý con người, đồng thời mang bản chất xã hộitổng hợp lại thành một cấu trúc chặt chẽ, xác định đặc điểm của nhân cách
Trên cơ sở tiếp cận tâm lý học và xã hội học nêu trên, đồng thời, kế thừa quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu triết học, chúng tôi tiếp cận nhân cách từ góc độ triết học với tính khái quát của nó, ở đó cấu trúc nhân cách bao gồm hai mặt thống nhất với nhau, đó là phẩm chất và năng lực (đức và tài)
Phẩm chất (đức) là cái làm nên giá trị xã hội của con người, nó được
thể hiện ở những khía cạnh chủ yếu sau:
Trang 38Phẩm chất xã hội bao gồm: thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, lập
trường, thái độ chính trị - xã hội,… Sự phát triển của những phẩm chất xã hội làm cho cá nhân luôn có những nhận thức và hành động hợp lý trong những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau Trong đó, thế giới quan là thuộc tính chủ yếu của nhân cách Nó giữ vai trò quyết định trong toàn bộ hoạt động cá nhân Chỉ khi nào xác lập được thế giới quan thì mỗi cá nhân mới khẳng định được nhân cách của mình trong xã hội Thế giới quan tích cực, đúng đắn là tiền đề cho sự hình thành nhân cách phù hợp với những giá trị và yêu cầu của xã hội Ngược lại, thế giới quan phản khoa học, sai lầm sẽ hình thành nên nhân cách không phù hợp với giá trị và yêu cầu của xã hội
Phẩm chất đạo đức cá nhân: Theo quan điểm của triết học mácxít, đạo
đức là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh
và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan vệ với
xã hội Đạo đức là cái xuất phát, đồng thời, cũng là một trong những cái đích của sự phát triển nhân cách Nó không chỉ là gốc của con người mà còn là tiêu chuẩn của nhân cách
Phẩm chất tính cách: Tính cách như một thành tố của phẩm chất đạo
đức bao gồm những phẩm chất ý chí và hệ thống thái độ ổn định như tính kỷ luật, tự chủ, quả quyết, phê phán… trong cách cư xử của cá nhân đối với bản thân và cá nhân với các quan hệ khác Sự phát triển đúng đắn của tính cách làm cho cá nhân luôn thể hiện được nhu cầu của mình và đáp ứng được yêu cầu của xã hội trong các quan hệ ứng xử
Sự phát triển cao của tình cảm thẩm mỹ là một phẩm chất quan trọng trong nhân cách Tình cảm thẩm mỹ là tình yêu đối với cái đẹp Có tình cảm thẩm mỹ phong phú và thanh cao, cá nhân sẽ có tinh thần vui vẻ, hài hòa, khoáng đạt, khơi dậy tiềm năng sáng tạo và luôn hướng tới cái đẹp
Trang 39Năng lực (tài) là khả năng có thể thực hiện một loại hoạt động nào đó,
làm cho hoạt động ấy đạt đến một kết quả nhất định Nói đến năng lực bao giờ ta cũng nói đến tài năng của một chủ thể hoạt động cụ thể như năng lực hoạt động chính trị, năng lực hoạt động nghệ thuật, năng lực tổ chức, v.v không có năng lực chung chung cho mọi hoạt động Đồng thời, những cá nhân khác nhau thì biểu hiện năng lực – tài năng cũng khác nhau, như cùng là khả năng vẽ tranh nhưng tranh của Bùi Xuân Phái khác với tranh của Tô Ngọc Vân Năng lực của cá nhân, một mặt, được xây dựng trên những cơ sở của những phẩm chất tâm sinh lý; mặt khác, quan trọng hơn là kết quả của quá trình tích lũy tri thức, kinh nghiệm trong hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn, là sự phát triển về mặt tư chất được biểu hiện ra các mức độ như: năng khiếu, tài năng, thiên tài Năng lực của mỗi cá nhân được thể hiện ở tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và khả năng vận dụng chúng vào những hoạt động cụ thể của cá nhân đó Năng lực nói lên người đó có thể làm gì, làm đến mức nào, chất lượng ra sao Năng lực mà thể hiện mức độ thực hiện công việc cao chính là tài năng Ở mức độ chung nhất, năng lực được phản ánh ở những mặt sau:
Năng lực xã hội hóa: biểu đạt khả năng chiếm lĩnh tri thức, vốn tri thức được tích lũy, dùng những tri thức đó làm cơ sở cho sự sáng tạo của chủ thể trong hoạt động thực tiễn
Năng lực chủ thể hóa: biểu đạt khả năng thể hiện tính độc đáo, đặc sắc, bản lĩnh và dấu ấn cá nhân, thể hiện “cái tôi” trong các quan hệ xã hội
Năng lực hành động: thể hiện khả năng hành động theo mục đích, có tinh thần chủ động và cao nhất là thể hiện tính tích cực xã hội của chủ thể
Năng lực trong mỗi nhân cách phát triển ở mức độ khác nhau, tùy thuộc vào năng khiếu bẩm sinh, nhưng yếu tố giữ vai trò quyết định hơn cả là quá trình tu dưỡng, rèn luyện, học tập trong hoạt động thực tiễn của mỗi cá nhân
Trang 40Nhân cách chính là sự thống nhất giữa hai mặt phẩm chất và năng lực hay đức và tài trong mọi hoạt động Người có nhân cách tốt là người có đủ cả Đức và Tài, phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của xã hội Đạo đức và tài năng là hai yếu tố có mối quan hệ biện chứng với nhau Đạo đức là cơ sở của tài năng, tài năng là biểu hiện của đạo đức
1.1.3 Những nét tương đồng giữa văn hóa thẩm mỹ và nhân cách
1.1.3.1 Văn hoá thẩm mỹ là tinh thần của nhân cách
Văn hoá thẩm mỹ là lĩnh vực độc đáo biểu hiện một cách tổng hợp toàn
bộ thế giới thẩm mỹ bên trong của con người, góp phần quan trọng cải tạo bản thân con người theo quy luật của cái đẹp Nghệ thuật là biểu hiện tập trung, là đỉnh cao của văn hóa thẩm mỹ, lại càng là yếu tố tinh thần quan trọng trong quá trình phát triển nhân cách
Văn hóa thẩm mỹ thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên, xã hội và của con người Vẻ đẹp của tự nhiên, của xã hội đựơc thể hiện ngay trong mọi hoạt động của con người, từ hoạt động sản xuất ra của cải vật chất, hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạt động văn hoá văn nghệ, v.v Mọi hoạt động của con người cũng đều hướng tới cái đẹp Đồng thời, mọi góc cạnh, mọi trạng thái của tâm hồn con người đều được văn hoá thẩm mỹ, đặc biệt là văn hóa nghệ thuật khám phá sâu sắc Chỉ có những người sáng tạo thẩm mỹ với tấm lòng đôn hậu, nhân cách trong sáng mới có thể khám phá được những nét độc đáo, riêng có ấy Cũng chỉ có tài năng của người sáng tạo thẩm mỹ mới có thể bằng ngôn ngữ riêng của mình thể hiện được những điều bí ẩn, phi thường nhất, làm cho tác phẩm thẩm mỹ có giá trị trong đời sống nhân loại và sống mãi cùng thời gian
Văn hóa thẩm mỹ được biểu hiện trong nghệ thuật cũng biểu hiện ước
mơ cao đẹp của con người thông qua các loại hình nghệ thuật Nó thể hiện