Khi Thái tử Tất-đạt-đa nhận thấy tất cả mọi người dân đang chìm trong đau khổ, và ngay chính bản thân mình rồi cũng phải chịu qui luật già, bệnh, chết nên quyết chí xuất gia học đạo. Đức Phật thành đạo tại thế gian này và cũng hoằng pháp bốn mươi chín năm cũng tại thế gian này
Trang 1Tư tưởng Tịnh độ trong kinh Duy Ma Cật
Khi Thái tử Tất-đạt-đa nhận thấy tất cả mọi người dân đang chìm trong đau khổ, và ngay chính bản thân mình rồi cũng phải chịu qui luật già, bệnh, chết nên quyết chí xuất gia học đạo Đức Phật thành đạo tại thế gian này và cũng hoằng pháp bốn mươi chín năm cũng tại thế gian này.
Khi Thái tử Tất-đạt-đa nhận thấy tất cả mọi người dân đang chìm trong đau khổ, và ngay chính bản thân mình rồi cũng phải chịu qui luật già, bệnh, chết nên quyết chí xuất gia học đạo Đức Phật thành đạo tại thế gian này và cũng hoằng pháp bốn mươi chín năm cũng tại thế gian này
Nếu như nói Tịnh độ hay quốc độ của Phật là nơi mà có Phật đang ở và thuyết giáo thì cõi Ta bà này có phải là Tịnh độ không? Nếu là Tịnh độ vì đây là cõi giáo hóa của Phật thì tại sao vẫn còn uế trược và đau khổ của chúng sanh? Đây là câu hỏi của ngài Xá-lợi-phất nêu ra trong kinh Duy-ma-cật Nhưng bằng phương tiện của Phật, ngài Xá-lợi-phất cùng chúng hội nhận ra rằng chính tâm của mình có cấu uế nên mới thấy cõi này là cấu uế và đau khổ Vậy thì làm sao cải hóa tâm của chúng sanh từ chỗ bị cấu uế do tham, sân, si và bị năm thứ triền phược trói buộc để chúng sanh cũng có được Tịnh độ như Phật? Đây là câu hỏi đặt ra cho những vị bồ-tát sơ phát tâm hành đạo bồ-tát Và cũng theo kinh Duy-ma-cật, đức Phật nói rằng chính cõi chúng sanh là cõi Tịnh độ Phật của bồ-tát Do đó, nhiệm vụ của bồ-tát là giáo hóa tất
cả chúng sanh được thanh tịnh để cõi Phật của mình được thanh tịnh
Chính Duy-ma-cật đã nói rằng vì tâm chúng sanh bị cấu uế nên chúng sanh cũng bị cấu
uế, nếu tâm chúng sanh được thanh tịnh thì chúng sanh cũng được thanh tịnh Đây là điểm then chốt quan trọng chủ yếu cho người hành đạo bồ-tát biết phương pháp xây dựng Tịnh độ cho chính mình Vậy theo kinh Duy-ma-cật, vị bồ-tát phải làm những gì để quốc độ Phật của mình được thanh tịnh?
Trang 2B. NỘI DUNG
Thế giới này là nơi tồn tại của rất nhiều chúng sanh, bao gồm loài người và không phải người Sự hình thành những cộng đồng dân tộc của loài người và những tập quần của các loài sinh vật không phải người là hệ quả tất yếu trong việc đấu tranh với các sự nguy hiểm để sinh tồn Các sự nguy hiểm này có thể là đến từ thiên nhiên như động đất, bão lụt, núi lửa…, và đôi khi đến từ chính đồng loại của mình
Tất cả sự xung đột của xã hội loài người nói riêng và muôn loài nói chung đều xuất phát
từ khát vọng sinh tồn, ham muốn hưởng thụ và bảo vệ cuộc sống của chính mình Nguyên nhân sâu xa nhất của những vấn đề này có thể tóm tắt trong ba thứ là tham lam, sân hận, si mê
như trong kinhTạp A-hàm, đức Phật đã nói:
Này các tỳ-kheo! Phải khéo tư duy quán sát tâm mình Vì sao vậy? Từ lâu tâm này đã bị tham dục làm nhiễm ô, bị sân nhuế, ngu si làm nhiễm ô Này các tỳ-kheo! Tâm này bị phiền não
thì chúng sanh bị phiền não; tâm thanh tịnh thì chúng sanh được thanh tịnh.[1]
Do vậy, chiến tranh, giết chóc, cướp giật… đã tạo nên một thế giới xã hỗn loạn, đau khổ,
hận thù… Như trong kinh Giải thâm mật nói:
Bạch Thế tôn! Trong uế độ thì những việc gì dễ được, việc gì khó được? Trong tịnh độ thì những việc gì dễ được, việc gì khó được? Này thiện nam tử! Trong uế độ có việc dễ được, hai
sự khó được Tám sự dễ được là những gì? Một là ngoại đạo; hai là chúng sanh bị khổ; ba là
sự hưng suy khác nhau của các gia tộc; bốn là làm việc các việc ác; năm là hủy phạm giới cấm; sáu là ác thú; bảy là hạ thừa; tám là có Bồ tát ý lạc và gia hành đều thấp kém Hai sự khó được
là những gì? Một là các vị Bồ tát mà ý lạc và gia hành đều tăng thượng; hai là khó có sự xuất hiện của Như lai Này Văn-thù-sư-lợi! Trong tịnh độ thì ngượi với những điều trên, cần biết rằng
có tám điều khó được và hai điều dễ được.[2]
Có thể nói, tám điều khó mà kinh nói trên đây đã khái quát tất cả những vấn đề mà
chúng sanh gặp phải trên thế gian này Ở điều thứ nhất, tuy rằng ngoại đạo cũng có lập trường giáo thuyết của riêng mình nhưng hầu hết đều thuộc tà chấp hoặc trước nơi cái tưởng sai lầm của mình Do đó, nếu ai tin và hành theo thì dễ sa vào tà đạo Điều thứ hai, chúng sanh trong thế giới này tất nhiên phải bị nhiều thứ khổ chi phối, đôi khi có người muốn cầu giải thoát nhưng lại gặp phải ngoại đạo Có những gia đình quyền quí cao sang, hay bậc vua chúa… nhưng khi gặp tai tương thì không còn gì cả trong hoàn cảnh nào đó, có thể là lợi trước mắt hay vì sân giận nhất thời, hoặc là vì kế sanh nhai mà chúng sanh dễ dàng làm việc ác Có những người phát nguyện thọ trì giới cấm của Phật nhưng lại hủy phạm Những người quyết chí tu hành nhưng chỉ cầu giải thoát riêng mình, không màng tới sự đau khổ của người khác Hoặc có người khá hơn là phát nguyện tu hành bồ-tát hạnh nhưng trong khi hành bồ-tát hạnh thì gặp quá nhiều trở ngại lại sanh tâm thối lui… Tất cả những điều đó là những biểu hiện và cũng là nguyên nhân mà chúng sanh trong thế giới này luôn đau khổ và xã hội cũng không một
Trang 3ngày được an ổn.Chính vì vậy mà ở thế giới này có hai điều khó được là sự xuất hiện của chư Phật, vì lẽ ác duyên của chúng sanh quá nhiều, vô minh che lấp quá lâu nên làm cho nhân duyên của chúng sanh với chư Phật bị tiêu mất hoặc không thể dễ dàng thuận lợi để sanh tín tâm với Phật pháp Lại nữa, nếu ở thế giới này mà có người phát tâm hành bồ-tát hạnh một cách mạnh mẽ, dù gặp muôn vàn khó khăn, đôi khi ảnh hưởng đến tánh mạng nhưng vẫn không bỏ hạnh nguyện của mình và càng tinh trấn dõng mãnh hơn thì thật là rất khó Cho nên khi chỉ cho thế giới khổ đau mà chúng ta đang sống, kinh gọi là ta-bà thế giới Trong Thành duy thức luận sớ sao nói:
Sớ: Sách-ha thế giới (sahālokadhātu) này, cựu dịch âm là sa-bà, nay gọi là sách-ha là vì phát âm tương tự, dịch nghĩa là kham nhẫn Ở cõi này, mỗi khi làm việc gì, phần nhiều bị ác nhân ác sự làm não loạn Vì vị bồ-tát (hành đạo) cũng phải kham nhẫn nên thế giới này được gọi là thế giới kham nhẫn Lại nữa, chúng sanh ở thế giới này tuy bị nhiều thứ đau khổ nhưng lại không cầu thoát khỏi nên lại tái sanh cõi này Vì chúng sanh ở thế giới này phải kham nhẫn
nên thế giới này cũng được gọi là thế giới kham nhẫn.[3]
Chúng sanh ở thế giới này tuy bị đau khổ nhưng chỉ biết cam chịu mà không muốn thoát
ly, nếu muốn thoát ly cũng không biết cách nào để thoát ly Bồ-tát hành đạo trong cõi này cũng
bị những nghịch duyên phá hoại nên họ cũng phải kham chịu mới hành đạo có kết quả được Bởi vì thế giới này đa phần là sự ác nên quả báo phải lãnh chịu là đau khổ Hay nói khác hơn, đây là thế giới của thập ác vậy Tuy nhiên, như chúng ta đã thấy, tất cả những nỗi khổ của chúng sanh đều do nghiệp lực từ chính những hành động bất thiện của chính chúng sanh gây
ra Do đó, muốn tận trừ nỗi khổ thì chính chúng sanh phải cải đổi hành vi của mình Nếu được như thế thì uế độ chính là tịnh độ, tùy theo tâm của chúng sanh uế hay tịnh thì sẽ có một thế giới tương ứng, nên kinh này đã khẳng định: vì tâm bị tạp nhiễm nên các chúng sanh tạp nhiễm, vì tâm thanh tịnh nên các chúng sanh được thanh tịnh.[4]
Tịnh độ được hiểu là một nơi trong sạch hoàn toàn, đầy đủ an vui, ngược lại với những điều gặp phải trong uế độ Tịnh độ trong Phật giáo là nơi giáo hóa của một vị Phật nào đó Và tịnh độ là cõi có Phật nên cũng được gọi là Phật quốc độ Trong ấy, mọi người được thấm nhuần trong giáo pháp của Phật để trừ bỏ phiền não và hướng đến niết-bàn toàn diện Như trên ta đã thấy, trong cõi uế độ thì chánh báo và y báo của chúng sanh đều xấu, còn trong cõi tịnh độ thì ngược lại Ngài Huệ Viễn giải thích:
Gọi là Tịnh độ, trong kinh hoặc có khi gọi là Phật sát, hoặc gọi là Phật giới, hoặc Phật
quốc, hoặc gọi là Phật độ, hoặc có khi gọi là Tịnh sát, Tịnh giới, Tịnh quốc, Tịnh độ.[5]
Có thể nói, những đặc điểm của cõi tịnh độ, theo các kinh Tịnh độ như A-đà-kinh, Vô lượng thọ… đã trình bày là một thế giới thật lý tưởng tốt đẹp, nơi đó chỉ có sự an lạc nên gọi là Tịnh độ (Sukhāvatī) Theo giải thích của ngài Thế Thân thì trong cõi tịnh độ, quả báo của chúng sanh có những đặc điểm sau:
Trang 4Cần phải biết rằng quả báo trong cõi tịnh độ lìa hai loại lỗi đáng cơ hiềm Một là thể, hai
là danh Thể có ba thứ: một là người tu theo nhị thừa, hai là nữ nhân, ba là những người khiếm căn, trong cõi tịnh độ không có ba loại này nên gọi là ly thể cơ hiềm Danh cũng có ba thứ: không những không có ba thể trên mà thậm chí còn không nghe tên gọi của nhị thừa, nữ nhân,
khiếm căn nên gọi là ly danh cơ hiềm.[6]
Đó là cõi lý tưởng mà chỉ những người tu hành thanh tịnh mới có thể có được quả báo như thế Như vậy, cõi tịnh độ trong các kinh Đại thừa diễn tả như một cõi thật của Phật A-di-đà hoặc vô lượng cõi Phật của chư Phật khác Tuy nhiên, như đoạn kinh Tạp A-hàm đã dẫn ở trên, ta thấy Phật dạy rằng, nếu tâm chúng sanh được thanh tịnh thì chúng sanh thanh tịnh, và đây cũng là ý nghĩa khác của tịnh độ Khi tâm thanh tịnh thì chúng sanh thanh tịnh, trong ấy hoàn cảnh sống mà người có tâm thanh tịnh cũng được nhận thức là thanh tịnh Ý nghĩa này là xác thực nếu chúng ta xét đến khía cạnh thực tế của con người Trong một hoàn cảnh xã hội giống nhau nhưng có người thấy hạnh phúc, có người thấy đau khổ Do vậy hạnh phúc hay đau khổ nằm ở tầm nhận thức của con người chứ không hẳn là xuất phát từ những lý do bên ngoài Đồng thời, qua quá trình phát triển của Phật giáo như chúng ta đã thấy, đức Phật Thích ca cũng thành đạo ngay trong cõi này, các đệ tử của Ngài cũng đạt được giải thoát ngay trong cõi này, thế thì giải thoát hay đau khổ đều phụ thuộc vào việc cá nhân đó có biết tu hay không Từ
ý nghĩa đó, tịnh độ phụ thuộc vào nhận thức cá nhân nên ngay trong cuộc sống này, có người thấy là uế độ, có người thấy là tịnh độ, mà lý do như ở trên đã đề cập qua
Tiến trình thành tựu quả Phật của đức Thế tôn là trải qua sự tu hành không biết mệt mỏi,
mà theo các kinh Đại thừa đã nói, là Ngài đã trải qua vô lương kiếp tu hành, thực hiện vô lượng ba-la-mật Hay nói khác hơn, trước khi thành tựu Phật quả, Ngài đã thực hiện viên mãn công hạnh của một vị bồ-tát là lục độ Và lục độ là con đường mà bất kỳ một người nào muốn hướng đến quả vị Phật đều phải trải qua Không những bố thì, trì giới, nhẫn nhục… để tích công lũy phước mà còn phải có trí tuệ ba-la-mật thông qua quá trình tu tập thiền định
Nói đến công hạnh bồ-tát là phải nói đến tinh thần dấn thân vào cõi đời để hóa độ chúng sanh Mục tiêu của bồ-tát là hướng chúng sanh đến sự giải thoát Nếu tất cả chúng sanh được giải thoát thì y báo và chánh báo của chúng sanh tại cõi này chính là tịnh độ Đây là ý nghĩa tích cực của hạnh bồ-tát mà cũng là ý nghĩa siêu việt của lý tưởng tịnh độ Như vậy, mục tiêu của bồ-tát là hình thành tịnh độ từ ngay uế độ này, biến chúng sanh đau khổ trong uế độ thành chúng sanh an vui trong tịnh độ
2 Tịnh độ của bồ-tát
Phẩm đầu tiên của kinh Duy-ma-cật[7] là phẩm Nhân duyên thanh tịnh quốc độ
Phật[8] giới thiệu nhân duyên của pháp hội, với địa điểm là vườn Āmrapālīvana, thuộc thành
Vaiśāli
Vườn Āmrapālīvana vốn là do kĩ nữ Āmrapālī hiến cúng cho Phật, và đây cũng là nơi đức Phật nhiều lần thuyết pháp cho các vị tỳ-kheo Āmrapālī vốn là một kĩ nữ, có nhan sắc
Trang 5tuyệt trần Trong Tạp A-hàm có tường thuật lại việc đức Phật thuyết pháp cho Āmrapālī Khi Āmrapālī nghe đức Phật cùng chúng tỳ-kheo trên đường hoằng hóa đã đi ngang khu rừng này
và nghỉ ngơi tại đây, cô đã đi đến để xin nghe thuyết pháp Khi thấy cô từ xa đi đến, đức Phật
đã nói với các tỳ-kheo rằng: Này các tỳ-kheo! Các ông phải nên tinh cần nhiếp tâm an trú trong chánh niệm và chánh trí Nay có cô gái Am-la đi đến nên ta phải răn nhắc các ông.[9] Vì sao đức Phật phải khẩn trương răn nhắc các tỳ-kheo khi cô ta đi đến? Vì với sắc đẹp của cô ta, có thể nhiều tỳ-kheo chưa có đủ chánh niệm vững vàng sẽ sinh tâm động niệm Cũng vì sắc đẹp
mà đã đưa đẩy số phận của cô ta đi qua nhiều ngã rẽ của cuộc đời, cuối cùng phải làm một kĩ nữ
Vườn Āmrapālīvana nằm trong thành Vaiśāli, mà như ta đã biết, đây là thành phố phát triển mạnh mẽ về kinh tế cũng như văn hóa lúc bấy giờ Tất nhiên, bên cạnh mảng sáng của xã hội sẽ hàm chứa trong nó những bất công và cả những tệ nạn Khi đức Phật và chúng tỳ-kheo trú trong vườn này thì có năm trăm công tử thuộc bộ tộc Licchavi, là những người đại diện cho giai tầng thượng lưu của xã hội, được che chở bởi những thế lực uy quyền cũng đến Những người này còn tuổi thanh niên thì chắc chắn không thể thoát ra khỏi chiếc lưới của dục vọng,
mà kĩ nữ là một trong những đối tượng mà họ lui tới để tìm thú vui Có thể khu vườn này đã là nơi mà nhiều lần họ tìm đến đây, nhưng lần này đặc biệt hơn mọi lần trước, họ không tìm đến vườn xoài để tìm thú vui thấp hèn, mà vì một mục đích cao cả hơn, đó chính là nghe Phật thuyết pháp
Tại khu vườn này, trước khi đức Phật và Tăng đoàn tới, nó được xem là nơi dung túng cho những gì thấp hèn và đáng bị khinh bỉ nhất của xã hội, thì giờ đây, nó là nơi chứng kiến một cuộc cách mạng thật sự trong ý thức của những người mà bị xem là thuộc thành phần đê hèn ấy, đó là cuộc tìm đến ánh sáng giác ngộ của Phật pháp Nàng kĩ nữ đã trở thành bậc xuất gia chứng đạo,[10] và năm trăm vương tôn công tử đã phát tâm hành bồ-tát đạo Và đây cũng
là nơi mà kinh Duy-ma-cật lấy đó làm bối cảnh
Như vậy, qua đây chúng ta thấy rằng, mỗi người đều có thể là một người tốt, cũng có thể
là một người xấu, mà phần lớn là chịu tác động tốt xấu khác nhau của xã hội và khả năng nhận thức của mỗi cá nhân Như cô kĩ nữ và năm trăm vương tử nhờ nhân duyên gặp đức Phật mà được giác ngộ, thế thì những người tu tập theo giáo pháp của Ngài cần phải làm gì để cho mọi người cũng được giác ngộ, thoát khỏi khổ đau như bản hoài của đức Thế tôn? Đây là câu hỏi cần thiết và vô cùng quan trọng Câu hỏi này không có lời giải đáp từ đâu khác ngoài chính những vị đệ tử, những người mang sứ mệnh truyền bá giáo lý của Phật phải thực hiện Những người thực hiện sứ mệnh này phải là những người có đủ những phẩm chất về từ bi và trí tuệ
để có đủ phương tiện đáp ứng với từng căn cơ cụ thể của chúng sanh
Như trong kinh Chuyển pháp luân cho chúng ta biết rằng, bài kinh đầu tiên đức Phật thuyết cho năm anh em Tôn giả Kiều-trần-như là về pháp Tứ đế Từ sự thật là thế gian này đầy rẫy đau khổ, nhưng khi biết nguyên nhân của sự khổ đau đó, bằng sự tu tập thông qua con đường Đạo đế mà đức Phật đã dạy, năm vị ấy đã lần lượt chứng quả A-la-hán (Arhat) và tận diệt mọi khổ đau Qua đây, chúng ta sẽ nhận ra được sự thật là đối với đức Phật cũng như năm
Trang 6vị ấy, khi chưa thấy được pháp Tứ đế thì cũng bị khổ đau chi phối, khi hiện tiền thấu suốt được
sự thật thì các vị đã có niết-bàn an lạc ngay trong cuộc sống này và cũng tại cõi này Ngoài ra, trong hàng đệ tử của Phật còn có rất nhiều vị đã giải thoát hoàn toàn khổ đau và không còn phải tái sanh luân hồi Thế thì, khi mê thì cõi này là uế độ, khi ngộ rồi thì thấy ngay đây là tịnh
độ Đây là cơ sở để đưa đến một nhận định rằng, biến uế độ với những chúng sanh khổ đau thành tịnh độ bao gồm tất cả những người đã giải thoát là một việc khả thi, dù trong một giới hạn cụ thể, mà bất kì ai cũng có thể làm được, chứ không phải là một cao vọng hão huyền
Cõi này là uế độ, chúng sanh trong cõi này vẫn còn chìm đắm trong đau khổ triền miên Nhưng như trong kinh Duy-ma-cật này ta sẽ thấy, dưới nhãn quan giác ngộ của Phật, nó cũng
là tịnh độ Cũng như, vườn xoài kia là nơi ô uế, nhưng khi được chiếu soi bởi sự giác ngộ, nó
đã trở thành nơi thanh tịnh vì những người ở trong ấy giờ đây là những người đã trừ sạch ô uế của nội tâm, sống đời trong sáng hoàn toàn Do đó, cõi uế độ này sẽ được thanh tịnh nếu như chúng sanh trong ấy được thanh tịnh Muốn được vậy thì vị hành bồ-tát hạnh phải là người dấn thân vào tận cùng xã hội để giáo hóa cho mọi thành phần trong ấy được thanh tịnh Đây là mục đích cơ bản mà vị bồ-tát hướng đến
Bảo Tích cùng với năm trăm người con của các trưởng giả, sau khi cúng dường và nói
kệ xưng tán Phật xong, bèn thưa Phật rằng:
Bạch đức Thế tôn! Tất cả năm trăm người con của dòng Licchavi đều đã phát tâm đối với
vô thượng chánh đẳng chánh giác Và họ hỏi về sự thành tựu Phật quốc độ rằng: sự thành tựu Phật quốc độ của các bồ-tát như thế nào? Lành thay! Bạch đức Thế tôn! Xin Như lai dạy cho
sự thành tựu Phật độ của các bồ-tát đó.[11]
Ở đây, sự mong muốn của các người con dòng Licchava là biết được cách mà các vị
bồ-tát đã làm để họ thực hành theo Bản chất của các pháp thuộc khí thế gian này không phải
là tịnh hay nhiễm mà là do chính tâm ý của con người với động cơ tốt hay xấu nên nó được xem là xấu hay tốt mà thôi Cho nên để biến cõi này thành tịnh độ thì không còn cách nào khác ngoài việc phải cải hóa tâm chúng sanh từ ô nhiễm thành thanh tịnh Người phát nguyện hướng dẫn chúng sanh tu tập là những người phát bồ-tâm, tu bồ-tát hạnh Điều cần thiết là họ phải có
đủ phương tiện để đáp ứng với từng căn cơ Nếu họ chỉ có tâm bồ-đề không là chưa đủ, mà tự mình phải thành tựu trí tuệ ở một mức độ nào đó, đồng thời phải biết căn cơ của chúng sanh và các biện pháp phù hợp để đối trị Muốn được như vậy thì vị đó phải học và đó là mục đích của câu hỏi của Bảo tích hướng đến Phật dạy:
Này thiện nam tử! Quốc độ của chúng sanh là Phật quốc độ của bồ-tát Lý do vì sao vậy? Chừng nào vị bồ-tát thực hiện sự thành thục đối với các chúng sanh thì chừng ấy vị đó đạt được quốc độ Phật Có bao nhiêu sự điều phục của chúng sanh thì vị ấy đạt được Phật quốc
độ bấy nhiêu Các chúng sanh thâm nhập Phật trí nhờ sự thâm nhập bao nhiêu quốc độ Phật thì vị ấy đạt được Phật quốc độ bấy nhiêu Các loại căn Thánh chủng của chúng sanh sinh khởi
Trang 7nhờ sự thâm nhập bao nhiêu quốc độ Phật thì vị ấy đạt được Phật quốc độ bấy nhiêu Lý do vì sao vậy? Này thiện nam tử! Quốc độ Phật của các bồ-tát chính là làm sinh ra lợi ích cho chúng
sanh.[12]
Theo giải thích của ngài La-thập thì muốn thành tựu cõi Phật thì phải hội đủ ba nhân duyên là công đức của bồ-tát, chúng sanh và công đức của chúng sanh Nếu ba nhân duyên này đều thành tựu thì Phật độ được thành tựu.[13] Người muốn giáo hóa chúng sanh thì trước hết phải có nhân duyên đối với chúng sanh đó Trong quốc độ Phật phải có chúng sanh và chúng sanh này phải có đủ công đức để tự trang nghiêm cho thân và tâm của mình
Bồ-tát lấy chúng sanh làm đối tượng để hóa đạo, vừa giúp chúng sanh giác ngộ mà cũng
là thành tựu phước đức cho chính mình Vì vậy, bồ-tát không ở trong niết-bàn của mình để an hưởng sự nhàn tịnh của niết-bàn mà thâm nhập vào thế giới của chúng sanh, nơi nào còn chúng sanh đang bị đau khổ thì nơi đó phải có mặt của bồ-tát để tùy phương tiện giáo hóa cho chúng Do đó, nơi của bồ-tát ở phải là nơi chúng sanh đang ở, nên Phật dạy quốc độ của chúng sanh là Phật quốc độ của bồ-tát vậy Nếu rời bỏ chúng sanh thì bồ-tát không còn cơ hội
để thực hiện bản nguyện cũng như trau dồi các đức tánh của mình thì không thể vượt lên chính quả vị mình đang có để tiến lên sự thành tựu viên mãn là quả vị Phật được Ngay cả khi thành Phật thì việc hóa độ chúng sanh vẫn còn được tiếp tục
Chính vì như thế nên khi vị bồ-tát đang giáo hóa chúng sanh thì cũng là đang làm cho quốc độ của mình được thanh tịnh Như trên đã nói, bồ-tát lấy quốc độ của chúng sanh làm Phật quốc độ của chính mình, nên khi giáo hóa cho một chúng sanh được thanh tịnh, nghĩa là một phần quốc độ của bồ-tát cũng trở nên thanh tịnh, vì nơi đó đang có chúng sanh thanh tịnh Cũng vậy, bồ-tát giáo hóa cho bao nhiêu chúng sanh được thanh tịnh thì tịnh độ của bồ-tát cũng được thanh tịnh nhiều bấy nhiêu Khi một chúng sanh được thành thục an ổn thì nơi chúng sanh đang ở đó không còn có nghiệp ác, thì quốc độ của bồ-tát nơi đó cũng được an ổn Càng nhiều chúng sanh được điều phục trong giáo pháp giải thoát thì khi ấy cõi tịnh độ của bồ-tát càng được thanh tịnh nhiều hơn Điều phục chúng sanh ở đây chính là làm cho chúng sanh
bỏ làm ác mà làm thiện, từ sự chấp ngã cố hữu mà phóng xả để đạt sự vô ngã, từ sự tham chấp vạn pháp mà biết xả ly để hướng đến sự tu tập Tuy vậy, dù tát hành đạo nhưng vị bồ-tát phải xem chúng sanh là vô ngã và cũng hướng chúng sanh đến sự nhận thức về vô ngã như vậy Như Duy-ma-cật nói: tất cả chúng sanh là đạo tràng vì chúng sanh là vô ngã.[14] Và
từ sự hướng dẫn chúng sanh bỏ đi những tham chấp trần tục đó mà chuyển hướng phát bồ-đề tâm, cũng thực hiện hạnh nguyện độ sanh như mình
Nơi nào chúng sanh ở thì nơi đó cũng là quốc độ của bồ-tát, cho nên nơi nào có chúng sanh sanh được thiện căn cao quý, hướng đến sự giải thoát thì biên cương tịnh độ của bồ-tát cũng mở rộng đến đó Tùy theo mức độ thanh tịnh của chúng sanh bao nhiêu thì tịnh độ của bồ-tát thanh tịnh với mức độ tương ứng Thế thì, nếu bồ-tát mà bỏ chúng sanh thì tịnh độ của bồ-tát sẽ không được thanh tịnh, vì nơi đó vẫn còn vô lượng chúng sanh đang còn bị vô minh,
ác hạnh bao phủ
Cho nên, muốn thành tựu quốc độ của mình thì bồ-tát phải thành tựu cho chúng sanh
Trang 8trước hết, vì tịnh độ của bồ-tát và chúng sanh là không thể tách rời Vì tâm bi thúc đẩy nên các bồ-tát mới phát nguyện độ chúng sanh, cho nên mục đích của bồ-tát luôn luôn làm sao cho chúng sanh được lợi ích Lợi ích của chúng sanh ở đây là được thuần hóa và tu tập trong giáo pháp giác ngộ của chư Phật, mà cụ thể nhất là thoát khỏi sự chi phối của ba căn bản phiền não
là tham, sân, si Chính vì ba pháp này mà chúng sanh bị ô nhiễm, dẫn đến quốc độ của chúng sanh cũng bị ô nhiễm, nên quốc độ Phật của bồ-tát cũng bị ô nhiễm Mục đích đức Thế tôn xuất hiện nơi đời cũng là chỉ cho chúng sanh con đường thoát khỏi các phiền não này, và các bồ-tát cũng tiếp nối mục đích này để thành tựu quốc độ Phật của mình Trong Tạp A-hàm, Phật đã nói rằng:
Có ba pháp mà thế gian không yêu thích, không nghĩ đến, không vừa ý Ba pháp đó là những gì? Đó là già, bệnh và chết Nếu thế gian không có ba pháp không yêu thích, không nghĩ đến, không vừa ý này thì Như lai, bậc Ứng cúng, Đẳng chánh giác không xuất hiện nơi cõi đời
Và thế gian cũng không biết về chánh pháp và luật mà Như lai đã biết, đã thấy và tuyên thuyết Bởi vì có ba pháp già, bệnh và chết là ba pháp không yêu thích, không nghĩ đến, không vừa ý, cho nên Như lai, bậc Ứng cúng, Đẳng chánh giác xuất hiện nơi cõi đời; và thế gian cũng được
biết về chánh pháp và luật mà Như lai đã biết, đã thấy và tuyên thuyết.[15]
Sự già suy, bệnh tật và sự chết là tiến trình tất yếu mà chúng sanh nào cũng phải trải qua Chính vì sự chấp ngã nên chúng sanh không cam tâm chịu như thế Do vậy mà chúng cảm thấy đau khổ triền miên và luân hồi từ kiếp này sang kiếp khác nhưng lại không biết cách nào chấm dứt vĩnh viễn tiến trình ấy Sự xuất hiện của đức Như lai đã chỉ ra con đường cho chúng sanh biết nẻo xu hướng mà thoát ly Người phát tâm hành bồ-tát hạnh cũng phải lấy việc hướng dẫn chúng sanh thoát ly khỏi tình trạng này làm sự nghiệp chính của đời mình Đức Như lai đã vì mục đích như thế, thì các bồ-tát cũng phải làm như thế Nếu bồ-tát không giáo hóa chúng sanh mà muốn thành tựu quả Phật, muốn thành tựu Phật quốc độ của chính mình thì điều đó cũng như là xây nhà trên hư không, điều không bao giờ thực hiện được
Do đó, vị bồ-tát dù xuất hiện ở đâu cũng phải mang đến sự an lạc và lợi ích cho chúng sanh, như chính sự lợi ích mà đức Phật xuất hiện ở đời:
Này các tỳ-kheo! Có một người sanh ra ở đời là vì lợi ích cho nhiều người, vì an lạc cho nhiều người; vì thương xót thế gian, vì có lợi, vì có ích, vì an lạc cho loài người và loài trời mà
sanh Một người đó là ai? Là Như lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng chánh giác.[16]
2.3 Các hình thức tịnh độ khác
2.3.1. Bốn loại tâm là tịnh độ
Chúng sanh là đối tượng để người phát tâm hành bồ-tát hạnh trang nghiêm tịnh độ, nhưng chính vị ấy cũng phải tự trang nghiêm chính mình, đồng thời, các pháp mà các vị ấy ứng dụng tu tập và hành đạo cũng là tịnh độ của các vị ấy Phật dạy:
Này Bảo Tích! Quốc độ của chánh trực tâm là Phật quốc độ của bồ-tát, khi bồ-tát đạt
Trang 9được giác ngộ, những chúng sanh không cong vạy, không giả dối sẽ sinh vào Phật quốc độ đó.
[17]
Trực tâm (āśaya) là tâm ngay thẳng, không quanh co, dua vạy, gian dối , đây là tâm căn bản phát triển mọi thiện hạnh Một người không có trực tâm thì không dũng cảm nhận lỗi của mình, đồng thời luôn lừa dối người khác bằng cách chối quanh chối co, không bao giờ biết hối cải sau khi phạm tội Trực tâm ở đây còn được hiểu là chánh niệm, tâm không bị nhiều thứ khác nhau khuấy nhiễu, chỉ chuyên chú vào một việc duy nhất Ví dụ khi nghe pháp, người đó không khởi tâm hướng đến sự gì khác ngoài việc nghe pháp Đây là điều kiện tiên quyết của văn huệ, từ đây mà ghi nhớ pháp không bị bỏ sót hay sai lầm Người có trực tâm thì không tạo việc ác, đồng thời biết đâu là sự thật, đâu là giả dối nên không khởi tâm lừa lọc người khác Và đây là nhân duyên lớn để vào đạo, tu đạo và chứng quả Trong kinh Tạp A-hàm, Phật dạy:
Nếu hễ có pháp nào, mà mỗi mỗi pháp được hiểu rõ, chứng đạt thì đều là do trí vô úy của Như lai sanh ra Nếu có tỳ-kheo đi đến và làm thanh văn (làm đệ tử theo nghe pháp) của ta
mà không nịnh hót, không dối trá, sanh tâm ngay thật thì ta sẽ thuyết pháp để dạy dỗ, trao truyền cho người đó Vào buổi sáng ta sẽ thuyết pháp để dạy dỗ, trao truyền cho người đó, đến lúc giữa trưa người đó đạt đến sự tiến bộ vượt bậc; nếu vào buổi tối, ta thuyết pháp để dạy
dỗ, trao truyền cho người đó thì đến sáng sớm hôm sau người đó đạt đến sự tiến bộ vượt bậc Dạy dỗ như thế rồi, người ấy sanh tâm chánh trực, điều gì thật biết là thật, điều gì không thật biết là không thật, bên trên thì biết là bên trên, không phải bên trên biết là không phải bên trên, điều gì đang biết, đang thấy, đang được, đang cảm nhận, hết thấy đều biết rõ Điều đó là có
thật.[18]
Tâm chánh trực này là tịnh độ của bồ-tát, cũng có nghĩa là vị bồ-tát phải có tâm chánh trực Tâm chánh trực này, như đã nói trên, là điều kiện để tịnh hóa tâm mình, chỉ có trực tâm mới làm cho tâm trở nên trong sạch mà thôi, nên nó là Phật quốc độ của bồ-tát Bồ-tát cũng phải giáo hóa chúng sanh có được trực tâm như mình Những chúng sanh nào có trực tâm thì
sẽ sanh vào Phật quốc độ của bồ-tát có trực tâm Đây là sự tương giao tương cảm, nói cách khác, tâm thanh tịnh của bồ-tát trực tâm và tâm thanh tịnh của chúng sanh có trực tâm là một, thì quốc độ thanh tịnh của bồ-tát cũng là một với quốc độ thanh tịnh của chúng sanh có trực tâm ấy Người có trực tâm rồi, sau khi nghe pháp sanh trí hiểu biết thì càng thâm tín Phật pháp nên kinh nói:
Này thiện nam tử! Quốc độ của tâm chí thành là quốc độ Phật của bồ-tát, khi bồ tát đạt được giác ngộ thì tất cả những chúng sanh tích tụ được đầy đủ điều thiện sẽ sinh trong Phật quốc độ
ấy.[19]
Tâm chí thành (adhyāśaya) hay thâm tâm là một tâm có sự tiến bộ hơn so với trực tâm
Adhi- là tiếp vĩ ngữ chỉ cho cái gì đó ở trên, vượt quá cái khác Ở đây, người có trực tâm rồi thì sanh tâm tin sâu, tín thành với Phật pháp, một lòng hướng về quả Phật mà không bị xoay chuyển hay thối thất bởi một trở duyên nào khác Người này đắm mình trong biển Phật pháp, trong sự an lạc do Phật pháp mang lại nên tâm càng chuyên nhất, vào sâu trong những tầng giác ngộ do tâm thẩm thấu trong quá trình thực hành pháp được nghe Đồng thời, khi đã chí
Trang 10thành tin sâu nơi Tam bảo thì cố nhiên người này sẽ hành tất cả việc thiện nhằm lợi lạc hữu tình Cả hai việc tu tập cho chánh mình và hóa đạo chúng sanh phải tiến hành song song và bền bỉ, do đó cần phải tinh tấn liên tục mới mong tiến đến kết quả cuối cùng Kinh nói:
Quốc độ của sự gia hành là Phật quốc độ của bồ-tát, khi bồ-tát đạt được giác ngộ, tất cả
chúng sanh đã trụ nơi thiện pháp ở đây sẽ sanh về Phật quốc độ đó.[20]
Gia hành là giai đoạn nỗ lực tinh tấn Cũng như trên, giai đoạn này là nỗ lực thiền định
và nỗ lực giáo hóa chúng sanh Trong việc giáo hóa chúng sanh thì có khuyến khích chúng sanh quy y Tam bảo, giữ giới , tự mình cũng giữ giới, thiền định Tất cả công đức này sẽ làm cho nơi chúng sanh được thuần thiện, nên những ai đã hành đầy đủ thiện pháp, không phạm
ác hành thì sẽ cùng sanh nơi Phật quốc độ vậy Trong giai đoạn này tuy qua nhiều thứ bậc khác nhau và có những phước đức nhau, nhưng nếu không đủ trí tuệ thì dù phước nhiều cũng
dễ sa đọa Cho nên việc tối cần thiết và tối cao là phải phát bồ-đề tâm Phát bồ-đề tâm là phát tâm hướng đến sự giác ngộ cuối cùng, tức thành Phật Trước khi đi đến quả vị này, dù trải qua tầng bậc thấp hơn, tuy có hỷ lạc nhưng không được chấp đắm vào đó Kinh nói:
Sự sanh tâm bồ-đề tối thượng là Phật quốc độ của bồ-tát, khi bồ-tát đạt được giác ngộ
thì những chúng sanh hướng đến Đại thừa ở đây sẽ sanh nơi Phật quốc độ đó.[21]
Những chúng sanh đã phát tâm bồ-đề thì chắc chắn sẽ thành tựu quả bồ-đề, dù trải qua thời kỳ rất lâu xa Và người đã phát tâm bồ-đề thì chắc chắn sẽ sinh cùng tịnh quốc độ với những người đã phát tâm bồ-đề khác Mà phát tâm bồ-đề hướng đến quả vị Phật thì đó chính
là tâm Đại thừa Tâm Đại thừa không chỉ hướng đến quả Phật mà còn nhắm đến sự nghiệp độ tận chúng sanh Vị bồ-tát phải thực hiện vô lượng hạnh khác nhau, tùy theo đối tượng, sự kiện
mà có những pháp thích hợp để hóa độ, cốt làm sao không bỏ sót một chúng sanh đang bị đau khổ do vô minh nào
Theo giải thích của ngài Trạm Nhiên thì quán Tứ đế gọi là trực tâm, quán nhân duyên gọi
là tâm chí thành, quán tứ hoằng thệ nguyện gọi là Đại thừa tâm.[22]
Cũng trong kinh này, phẩm Thanh văn và Bồ-tát thăm bệnh,[23]Duy-ma-cật cũng nói với Quang Nghiêm đồng tử rằng:
Này Thiện nam tử! Đạo tràng của trực tâm là đạo tràng của bồ-đề vì nó không phải là giảo hoạt Gia hành là đạo tràng vì nó là sự vượt qua Tâm chí thành là đạo tràng vì nó là sự
hành thù thắng Tâm bồ-đề là đạo tràng vì nó không quên sót.[24]
Trong Đại thừa khởi tín, về việc phát tâm của bồ-tát có nói:
Lại nữa, tín thành tựu phát tâm đó là phát những tâm gì? Nói tóm, có ba loại Ba loại đó
là gì? Một là trực tâm, vì chánh niệm về pháp chân như; hai là thâm tâm, vì muốn tập hợp tất cả
thiện hành; ba là đại bi tâm, vì muốn tất cả chúng sanh đang đau khổ.[25]