- Phương pháp nghiên cứu: Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu các nội dung phát triển hoạt động kinh doanh công cụ phái sinh tiền tệ trong kinh doanh tiền tệ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và ph
Trang 1NGUYỄN THỊ NGỌC ANH
PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CÔNG CỤ PHÁI SINH TIỀN TỆ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
CHI NHÁNH PHÚ TÀI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng, 2014
Trang 2NGUYỄN THỊ NGỌC ANH
PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CÔNG CỤ PHÁI SINH TIỀN TỆ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
CHI NHÁNH PHÚ TÀI
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Võ Thị Thúy Anh
Đà Nẵng, 2014
Trang 3Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Đà Nẵng, tháng 4 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Anh
Trang 41 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
6 Kết cấu của luận văn 4
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH PHÁI SINH TIỀN TỆ CỦA NHTM 8
1.1 CÁC SẢN PHẨM PHÁI SINH TIỀN TỆ 8
1.1.1 Lịch sử phát triển của sản phẩm phái sinh 8
1.1.2 Định nghĩa, đặc điểm và vai trò của sản phẩm phái sinh 10
1.1.3 Phân loại sản phẩm phái sinh 12
1.1.4 Đối tượng tham gia PSTT 14
1.2 HOẠT ĐỘNG KINH DOANH PSTT CỦA NHTM 15
1.2.1 Vai trò của hoạt động kinh doanh PSTT đối với NHTM 15
1.2.2 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh PSTT tại các NHTM 18
1.3 PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH PSTT CỦA NHTM 19
1.3.1 Quan điểm và nội dung về phát triển hoạt động kinh doanh PSTT của NHTM 19
1.3.2 Tiêu chí đánh giá phát triển hoạt động kinh doanh PSTT của NHTM 23
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hoạt động kinh doanh PSTT của các NHTM 25
Trang 5VIỆT NAM – CHI NHÁNH PHÚ TÀI 28
2.1 TỔNG QUAN VỀ NH TMCP ĐT&PT VIỆT NAM – CN PHÚ TÀI 28
2.1.1 Lịch sử hình thành 28
2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh Giai đoạn 2010 – 2012 29
2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH PSTT TẠI NH TMCP ĐT&PT VIỆT NAM – CN PHÚ TÀI 30
2.2.1 Cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh phái sinh tiên tệ tại các NHTM Việt Nam 30
2.2.2 Đặc điểm của khách hàng 33
2.2.3 Đặc điểm của thị trường 33
2.2.4 Các sản phẩm PSTT của BIDV 34
2.2.5 Các giải pháp đang được chi nhánh áp dụng 38
2.2.6 Kết quả phát triển hoạt động kinh doanh PSTT tại BIDV Phú Tài 39
2.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH PSTT CỦA NH TMCP ĐT&PT VIỆT NAM – CN PHÚ TÀI 44
2.3.1 Nhân tố khách quan 44
2.3.2 Nhân tố chủ quan 50
2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH PSTT CỦA NH TMCP ĐT&PT VIỆT NAM – CN PHÚ TÀI 51
2.4.1 Kết quả đạt được 51
2.4.2 Những tồn tại và nguyên nhân của tồn tại 52
Trang 6NHÁNH PHÚ TÀI 54
3.1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 54
3.2 CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT 55
3.2.1 Phát triển quy mô 55
3.2.2 Tăng thị phần 61
3.2.3 Phát triển trong công tác triển khai sản phẩm 63
3.2.4 Tăng chất lượng dịch vụ và chất lượng phục vụ 66
3.2.5 Kiểm soát rủi ro 69
3.2.6 Gia tăng thu nhập 70
3.3 KIẾN NGHỊ 72
3.3.1 Đối với NHNN Việt Nam, Hiệp hội NH và Bộ Tài chính 72
3.3.2 Đối với NH ĐT&PT Việt Nam 73
3.3.3 Đối với khách hàng 77
KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
PHỤ LỤC
Trang 7NHTM: Ngân hàng thương mại
TTTM: Tài trợ thương mại
KDTT: Kinh doanh tiền tệ
PSTT: Phái sinh tiền tệ
TTQT: Thanh toán quốc tế
NHNN: Ngân hàng nhà nước
NH: Ngân hàng
BCTC: Báo cáo tài chính
CCPS: Công cụ phái sinh
Trang 8Số hiệu Tên bảng Trang 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh BIDV Phú Tài giai
đoạn 2010 – 2012
29
2.2 Tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh ngoại
hối trên tổng lợi nhuận tại một số NHTM
32
2.3 Tăng trưởng về số khách hàng tại BIDV Phú Tài
qua các năm 2010 – 2012
39
2.4 Tăng trưởng về doanh số thực hiện PSTT tại BIDV
Phú Tài qua các năm 2010 – 2012
40
2.5 Tăng trưởng về số lượng hợp đồng thực hiện PSTT
tại BIDV Phú Tài qua các năm 2010 – 2012
40
2.6 Dư nợ bình quân/khách hàng qua các năm 2010 –
2012
41
2.7 Thống kê thu nhập từ hoạt động kinh doanh PSTT
tại BIDV Phú Tài giai đoạn 2010 – 2012
44
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
2.1 Biểu đồ lãi suất cơ bản VND 2008 – 2012 do
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xuất hiện từ thế kỷ XVII, các công cụ phái sinh đã trải qua một thời gian dài phát triển và hoàn thiện Tốc độ phát triển của các công cụ này tăng đột biến sau cuộc khủng hoảng năm 1973, đạt 24%/năm trong 5 năm gần đây, tạo nên một thị trường phái sinh liên kết toàn cầu Năm 2009, tổng giá trị giao dịch phái sinh trên thế giới đạt hơn 600.000 tỷ USD Công cụ phái sinh đã giúp các doanh nghiệp trên thế giới phòng vệ hiệu quả trước nhiều cuộc khủng hoảng lớn Cùng lúc đó, những nhà đầu cơ và kinh doanh chênh lệch giá cũng thu được khoảng lời khổng lồ từ việc kết hợp linh hoạt các giao dịch phái sinh với các công cụ tài chính khác Chính vì vai trò to lớn như vậy nên thị trường phái sinh không chỉ bùng nổ tại các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật Bản mà ngay tại những nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ các doanh nghiệp và nhà đầu cơ cũng thường xuyên sử dụng công cụ tài chính phức tạp này Với một nền kinh tế đang trong giai đoạn hội nhập mạnh mẽ như Việt Nam, các hợp đồng phái sinh sẽ là một công cụ hữu ích giúp doanh nghiệp xuất nhập khẩu phòng ngừa rủi ro Tuy nhiên, dù đã bắt đầu hình thành từ cuối những năm 90, thị trường phái sinh Việt Nam cho tới hiện tại vẫn chưa phát triển mạnh Mới chỉ có các giao dịch kỳ hạn và hoán đổi được các chủ thể chào đón Hợp đồng quyền chọn và tương lai mới chỉ được sử dụng rất ít Các doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với những rủi
ro rất lớn mỗi khi thị trường biến động mà không có biện pháp phòng ngừa nào Tại Việt Nam, các nhà đầu cơ và kinh doanh chênh lệch giá rất hiếm khi
sử dụng các công cụ phái sinh Bên cạnh việc sử dụng các công cụ phái sinh với mục đích phòng vệ, các NHTM đóng vai trò trung tâm trong chiến lược phát triển thị trường phái sinh Việt Nam Là những đơn vị đi tiên phong trong việc sử dụng và phát triển các hợp đồng phái sinh, NHTM là chìa khóa giúp
Trang 10công cụ tài chính này trở nên phổ biến trên thị trường tài chính, thúc đẩy thị trường phái sinh Việt Nam phát triển Thực tế, số lượng giao dịch phái sinh tại các NHTM Việt Nam vẫn ở mức rất hạn chế Trong thời gian tới, xu hướng phát triển của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, giảm thiểu sự kiểm soát của Nhà nước đặt ra yêu cầu cấp thiết phát triển các nghiệp vụ phái
sinh tại các NHTM Việt Nam
Theo một nghiên cứu khá toàn diện của Wharton School được thực hiện năm 2003, đối tượng điều tra là các công ty phi tài chính của Mỹ, thì có khoảng 40% doanh nghiệp sử dụng các giao dịch tài chính phái sinh, 76% trong số đó có sử dụng các giao dịch phái sinh tiền tệ để phòng ngừa rủi ro hối đoái Mục đích chính của các công ty khi sử dụng các giao dịch này là quản lý luồng tiền, tiếp đó là quản lý sự biến động trong thu nhập của chính
họ Với mục đích phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho các hợp đồng xuất nhập khẩu hoặc các giao dịch tài trợ quốc tế, 86% các doanh nghiệp cho rằng họ sẽ sử dụng hợp đồng kì hạn và tương lai và cho đó là công cụ phòng ngừa rất hữu hiệu Trong khi đó, nếu phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho giá trị thị trường của các doanh nghiệp thì nghiệp vụ “option” lại được xem là một công cụ quan trọng, khi có tới 67% doanh nghiệp lựa chọn Một lý do rất đơn giản khi giải thích tại sao giao dịch kì hạn lại được sử dụng nhiều hơn giao dịch quyền chọn vì giao dịch kì hạn tỏ ra thích hợp hơn khi phòng ngừa rủi ro tỷ giá, hơn nữa, chi phí phòng ngừa lại rẻ hơn nhiều so với các giao dịch phái sinh khác
Tuy vậy, một thực tế không thể phủ nhận rằng, bên cạnh mục đích phòng ngừa rủi ro về tỷ giá, các giao dịch phái sinh tiền tệ ngày càng được sử dụng với mục đích đầu cơ nhằm tìm kiếm lợi nhuận khổng lồ, đặc biệt là hợp đồng tiền tệ tương lai và quyền chọn Chính vì lẽ đó mà doanh số của các giao dịch này đã có sự gia tăng đáng kể qua các năm
NHTM cung cấp dịch vụ phái sinh tiền tệ cho khách hàng doanh nghiệp
Trang 11với mục đích tăng nguồn thu phí dịch vụ và tăng lợi nhuận trong các hợp đồng mua bán ngoại tệ, trong khi đó doanh nghiệp được lợi ích phòng ngừa rủi ro tỷ giá và được hưởng lãi suất vay thấp khi hoán đổi lãi suất giữa các đồng tiền
Là một ngân hàng thương mại lớn trên địa bàn là khu công nghiệp Phú Tài, BIDV Phú Tài có nền khách hàng là doanh nghiệp xuất – nhập khẩu lớn,
có nguồn thu ngoại tệ lớn, đây là cơ hội tốt nhất để phát triển dịch vụ phái sinh tiền tệ cụ thể thể là nghiệp vụ hoán đổi lãi suất (CCS)
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa nền tảng lý luận về phát triển hoạt động kinh doanh PSTT tại NHTM
- Đánh giá thực trạng phát triển hoạt động kinh doanh PSTT tại NH TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – chi nhánh Phú Tài
- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển hoạt động kinh doanh PSTT tại NH TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Phú Tài
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến sự phát triển hoạt động kinh doanh công cụ phái sinh tiền tệ tại BIDV Việt Nam – Chi nhánh Phú Tài
- Phương pháp nghiên cứu:
Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu các nội dung phát triển hoạt động
kinh doanh công cụ phái sinh tiền tệ trong kinh doanh tiền tệ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – chi nhánh Phú Tài
Phạm vi về không gian: Nghiên cứu tại Tỉnh Bình Định
Phạm vi về thời gian: Số liệu về hoạt động kinh doanh phái sinh tiền tệ
tại BIDV Phú Tài giai đoạn 2010 – 2012
Trang 124 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê; thu thập các số liệu quá khứ để phân tích sự vận động của hiện tượng nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu đạt được cuả các đề tài nghiên cứu trước về lĩnh vực phát triển hoạt động kinh doanh PSTT tại NHTM, kết hợp nền tảng lý luận về nghiệp vụ phái sinh và vận dụng kiến thức thực tiễn của bản thân để phân tích thực trạng phát triển hoạt động kinh doanh PSTT tại BIDV Phú Tài từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp
Số liệu nghiên cứu được thu thập qua Internet, sách báo, tạp chí, báo cáo NHNN, các báo cáo của BIDV Việt Nam và chi nhánh BIDV Phú Tài
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa học: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động kinh doanh phái sinh tiền tệ của ngân hàng thương mại Phân tích những rủi ro, lợi ích đạt được của NHTM trong kinh doanh phái sinh tiền tệ
Về mặt thực tiễn: Trên cơ sở phân tích về mặt lý thuyết, đề tài đánh giá thực trạng phát triển của hoạt động kinh doanh công cụ phái sinh tiền tệ tại BIDV chi nhánh Phú tài; nghiên cứu đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế, giúp BIDV chi nhánh Phú Tài phát triển ngày càng mạnh hơn, bền vững hơn trong hoạt động kinh doanh công cụ phái sinh, đặc biệt phái sinh tiền tệ
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, mục lục, danh mục các bảng biểu, tài liệu tham khảo, kết luận, đề tài được trình bày trong ba chương Cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động kinh doanh phái sinh tiền tệ của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động kinh doanh phái sinh tiền tệ tại NH TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – chi nhánh Phú Tài
Trang 13Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh phái sinh tiền tệ tại NH TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Phú Tài
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Để phục vụ cho công tác nghiên cứu về đề tài “Phát triển hoạt động kinh doanh công cụ phái sinh tiền tệ tại ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Phú Tài”, ngoài việc nghiên cứu kỹ về cơ sở lý thuyết được học, tôi đã tìm đọc một số đề tài, sưu tầm các tài liệu nghiên cứu về lĩnh vực nghiệp vụ này với mục đích đúc kết được nhiều kinh nghiệm đồng thời rút ra những thành công, hạn chế; những ưu và nhược điểm của những công trình nghiên cứu trước, vận dụng kiến thức của bản thân cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn để từ đó có được một công trình nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu về nghiệp vụ phái sinh đến nay còn khá ít do
đó việc tìm nguồn tư liệu còn gặp nhiều khó khăn Một số đề tài tôi đã tìm được và nghiên cứu tìm hiểu trong quá trình thực hiện đề tài của mình:
- Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, tác giả Lê Thị Minh Hưởng với
đề tài “Phát triển hoạt động kinh doanh phái sinh tiền tệ tại ngân hàng
thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Đà Nẵng”, thực hiện năm 2012
- “Phát triển công cụ tài chính phái sinh tiền tệ tại các ngân hàng
thương mại Việt Nam”, Thứ năm 11/07/2013 10:56, TS Nguyễn Thị Loan -
Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh – Tạp chí tài chính
- Luận văn cao học – Đại học Đà nẵng, tác giả Ngô Thị Hoài Thu với
đề tài “Nghiên cứu các điều kiện vận dụng các công cụ phái sinh tại Ngân
hàng TMCP Dầu khí toàn cầu”, thực hiện năm 2011
Qua nghiên cứu, phân tích những thành công và hạn chế nhằm kế thừa
và rút kinh nghiệm cho công tác nghiên cứu đề tài của mình, tôi có một số nhận định như sau:
Trang 14Đối với luận văn cao học – Đại học Đà nẵng của tác giả Ngô Thị Hoài
Thu, đề tài “Nghiên cứu các điều kiện vận dụng các công cụ phái sinh tại
Ngân hàng TMCP Dầu khí toàn cầu”, ưu điểm của đề tài là tác giả đã làm rõ
được các điều kiện để vận dụng công cụ phái sinh, bao gồm cả những công cụ phái sinh đối với loại tài sản cơ sở là hàng hóa, tiền tệ, chứng khoán … và các điều kiện để vận dụng công cụ phái sinh tại thị trường tài chính Việt nam nói chung Tuy nhiên, điểm tồn tại của đề tài đó là các viết vẫn mang tính tổng quát, chưa đi sâu và cụ thể hóa việc vận dụng thực tiễn trong ngân hàng hay các công ty chứng khoán cụ thể nào Chưa thu thập được số liệu liên quan đến tài sản cơ sở là chứng khoán và hàng hóa nên phân tích còn hạn chế
Đề tài “Phát triển hoạt động kinh doanh phái sinh tiền tệ tại ngân hàng
thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn
Thị Minh Hưởng trong việc đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển hoạt động kinh doanh PSTT đã có những phân tích về các nhân tố thuộc về khách hàng, nhân tố thuộc về ngân hàng và nhân tố thuộc về nhà nước Tuy nhiên tại chương 3 của đề tài, các giải pháp chưa bám sát các nhân tố đã được phân tích và vẫn mang tính chung chung, một số giải pháp khó thực hiện vì mang tính vĩ mô
Đề tài “Phát triển công cụ tài chính phái sinh tiền tệ tại các ngân hàng
thương mại Việt Nam”, TS Nguyễn Thị Loan là một nghiên cứu giúp bổ sung
một số cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu của tôi và tôi xem như một tài liệu hỗ trợ bổ túc kinh nghiệm và những nhìn nhận sâu hơn về ứng dụng phái sinh tiền tệ trong hoạt động kinh doanh của NHTM
Một số nghiên cứu khác nghiên cứu về ứng dụng của kinh doanh phái sinh tiền tệ cũng giúp tôi mở rộng hiểu biết về nghiệp vụ này
Tuy nhiên, phái sinh tiền tệ vẫn là nghiệp vụ còn mới mẻ và chưa được ứng dụng phổ biến trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, chủ yếu tập trung
Trang 15ở các ngân hàng lớn do đó số đề tài nghiên cứu vẫn còn khiêm tốn Việc thu thập các công trình nghiên cứu tương tự để có thêm kinh nghiệm cũng là một khó khăn lớn trong quá trình nghiên cứu của tôi
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
PHÁI SINH TIỀN TỆ CỦA NHTM 1.1 CÁC SẢN PHẨM PHÁI SINH TIỀN TỆ
1.1.1 Lịch sử phát triển của sản phẩm phái sinh
Sản phẩm phái sinh được ra đời từ sự khởi đầu đơn giản với các hợp đồng tương lai và kỳ hạn… Thị trường tương lai có thể được xem như đã xuất hiện từ thời trung cổ Lúc đầu đối tượng của các hợp đồng tương lai trên thị trường là các mặt hàng đơn giản như lúa mì hay cà phê Các nhà đầu tư mua
và bán các hợp đồng tương lai với mục đích làm giảm bớt sự lo ngại xảy ra những biến động giá cả trong vài tháng sau Vào thập niên 80 của thế kỷ XX, các hợp đồng future bắt đầu nở rộ và phổ biến trong các giao dịch thương mại
Hầu hết các thị trường kỳ hạn phát triển sớm là thị trường ngoại hối, còn được gọi là thị trường liên ngân hàng (interbank market) Thị trường này phát triển nhanh chóng nhờ vào sự thả nỗi của các đồng tiền mạnh vào đầu thập niên 1970 Thị trường liên ngân hàng bao gồm hàng trăm ngân hàng khắp thế giới, họ là những người đại diện cho chính họ hoặc cho các khách hàng thực hiện các cam kết giao sau và kỳ hạn với nhau
Những công cụ hiệu quả hơn cũng dần được ra đời đó là hợp đồng quyền chọn và hoán đổi Hoán đổi được xem là một nghiệp vụ phái sinh dựa trên sự trao đổi và thực hiện hợp đồng Các giao dịch hoán đổi là động lực chính của những phát triển trên hợp đồng kỳ hạn
Giao dịch đầu tiên của thị trường quyền chọn bắt đầu ở châu Âu và Mỹ
từ đầu thế kỷ XVIII Những năm đầu thị trường hoạt động thất bại vì nạn tham nhũng Một trong những người liên quan là nhà môi giới có quyền chọn
về một loại cổ phiếu đã nhận hối lộ để giới thiệu cổ phiếu cho khách hàng của
Trang 17họ Vào đầu thế kỷ XX - những năm 1900, một nhóm công ty đã thành lập hiệp hội những nhà môi giới và kinh doanh quyền chọn Mục đích của hiệp hội này là cũng cấp kỹ thuật nhằm đưa những người mua và những người bán gặp nhau Tháng 4 năm 1973 Chicago Board of Trade lập thị trường mới – Chicago Board Options Exchange, đặc biệt dành cho trao đổi quyền chọn về
cổ phiếu Từ đó thị trường quyền chọn trở nên phổ biến với nhà đầu tư Đến thập niên 80 của thế kỷ XX, thị trường quyền chọn đối với ngoại tệ, chứng khoán và hợp đồng tương lai phát triển ở Mỹ Thị trường chứng khoán Philadelphia là nơi giao dịch quyền chọn ngoại tệ đầu tiên
1630s – Tulipomania: Quyền chọn và kỳ hạn đối với hoa tulíp
1650s – Mua bán hoá đơn lưu kho gạo (future) – Osaka, Nhật Bản
1865 – Thị trường hàng hoá tập trung Chicago (CBOT), hợp đồng tương lai tiêu chuẩn hoá đầu tiên
1970s – Hợp đồng future tài chính đầu tiên được giao dịch tại Thị
trường Tiền tệ quốc tế (IMM - Một phân nhánh của CBOT), sau đó là sự ra đời của CBOE (option)
1980s – Sự phát triển của thị trường phái sinh phi tập trung (OTC – over the counter)
Đối với Việt Nam, giao dịch kỳ hạn xuất hiện từ 1999 theo quyết định
số 65/1999/QĐ - NHNN ngày 25/02/1999 Các giao dịch kỳ hạn được thực hiện trong hợp đồng mua bán USD và VND giữa NHTM với doanh nghiệp xuất nhập khẩu hoặc với các NHTM khác được cho phép của NHNN
Giao dịch hoán đổi cũng xuất hiện khá sớm theo quyết định số 430/QĐ-NHNN ngày 24/12/1997 và sau này là quyết định số 893/2001/QĐ-NHNN ngày 17/07/2001 do thống đốc NHNN ra quyết định
Các sản phẩm phái sinh tiếp tục xuất hiện và được các ngân hàng sử dụng do nhu cầu nội tại của các ngân hàng nhằm theo kịp chuẩn mực hoạt
Trang 18động ngân hàng quốc tế Ngân hàng nhà nước đã cho phép các ngân hàng thực hiện một số nghiệp vụ phái sinh phòng ngừa rủi ro lãi suất và tỷ giá Quyết định số 1133/QĐ-NHNN ngày 03/09/2003 về quy chế thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất cho phép mở rộng danh mục các ngân hàng, doanh nghiệp được sử dụng công cụ hoán đổi lãi suất
1.1.2 Định nghĩa, đặc điểm và vai trò của sản phẩm phái sinh
a Định nghĩa sản phẩm phái sinh(SPPS)
Sản phẩm phái sinh là một công cụ tài chính có giá trị phụ thuộc vào giá trị của một tài sản cơ bản (underlying asset)
b Đặc điểm
- Giá trị thay đổi theo sự thay đổi giá trị của tài sản cơ bản
- Không đòi hỏi đầu tư ban đầu hoặc đầu tư ban đầu nhỏ hơn các giao dịch thông thường
- Được thanh toán trong tương lai
c Vai trò của các sản phẩm phái sinh
- Vai trò quản trị rủi ro:
Chức năng nỗi bật của sản phẩm phái sinh đó là quản trị rủi ro Sản phẩm phái sinh mở ra cơ hội để người ngại rủi ro có thể chuyển giao rủi ro cho người sẳn sàng chấp nhận rủi ro, đó là những nhà đầu cơ Thị trường phái sinh giúp phân phối lại rủi ro giữa các nhà đầu tư, để mỗi người có thể chấp nhận những rủi ro phù hợp với năng lực của mình
Hợp đồng tương lai là công cụ hữu hiệu cho việc phòng nhừa rủi ro Khi sử dụng hợp đồng tương lai để bảo hiểm rủi ro, mục tiêu chính là giữ một
vị thế hợp đồng nhằm tạo sự trung hòa rủi ro
- Công cụ phục vụ cho nhu cầu đầu cơ:
Bên cạnh việc làm công cụ cho quản trị rủi ro, sản phẩm phái sinh còn
là một công cụ hiểu quả cho đầu cơ, khi người muốn phòng ngừa rủi ro phải
Trang 19tìm được một người khác có nhu cầu đối lập để làm đối tác , khi đó rủi ro của người này sẽ chuyển thành cơ hội cho người khác và đó chính là cơ hội đầu
cơ cho các nhà đầu cơ
- Kích thích phát triển cho nền kinh tế:
Khi có thể quản trị rủi ro tốt, có nghĩa là nhà đầu tư cảm thấy an toàn hơn trong kinh doanh, sinh nhà đầu tư sẽ mạnh dạn hơn trong việc đầu tư lượng vốn lớn hơn cho kinh doanh Điều này tạo nên điều kiện thúc đẩy nền kinh tế phát triền mạnh hơn, phát huy khả năng huy động vốn và giảm chi phí
sử dụng vốn
- Thông tin hiệu quả cho việc hình thành giá
Các thị trường kỳ hạn và tương lai là nguồn thông tin quan trọng đối với giá cả Đặc biệt, thị trường tương lai được xem là một công cụ chủ yếu để xác định giá giao ngay của tài sản Điều này không phải bất thường, bởi nhiều hàng hóa được giao dịch trên thị trường tương lai nhưng thị trường giao ngay của nó quá rộng lớn và phân tán nên rất khó có thể xác định được giá giao ngay của nó
Thông thường giá tương lai của những giao dịch sớm nhất sẽ được xác định là giá giao ngay Và thị trường giao sau trên thế giới thường nhộn nhịp hơn nên thông tin do nó cung cấp có độ tin cậy cao hơn Những thông tin được cũng cấp trên thị trường phái sinh dù là trực tiếp hay gián tiếp đều góp phần hình thành giá giao ngay trong tương lai một cách hiệu quả mà người tham gia thị trường có thể chốt lại trong giới hạn chấp nhận của mình
- Các lợi thế về hoạt động và thị trường hiệu quả
Kinh doanh trên thị trường phái sinh, các nhà đầu tư chỉ thực hiện giao dịch với những hợp đồng rất lớn mà không cần thực hiện việc giao ngay do
đó có sức hấp dẫn lớn và tạo ra cơ hội cho nhà đầu tư
- Công cụ đắc lực cho sử dụng đòn bẫy tài chính
Trang 20Phái sinh tài chính còn có một ý nghĩa lớn trong việc kích thích và mở
ra cơ hội đối với các nhà đầu tư muốn sử dụng đòn bầy tài chính Với số tiền vốn đầu tư trong giới hạn hco phép đủ ký quỹ theo quy định của ngân hàng, nhà đầu tư có thể đầu tư kinh doanh khối lượng hàng hóa lớn hơn nhiều lần so với nguồn vốn có được
1.1.3 Phân loại sản phẩm phái sinh
Sản phẩm phái sinh được phân làm 4 loại cơ bản:
- Giao dịch kỳ hạn (forward)
- Giao dịch tương lai (future)
- Giao dịch quyền chọn (option)
- Giao dịch hoán đổi (swap)
a Hợp đồng kỳ hạn
Hợp đồng kỳ hạn là một công cụ tài chính để mua hoặc để bán một số lượng tiền nhất định, tại một tỷ giá nhất định, tại một thời điểm xác định trong tương lai
Các hợp đồng kỳ hạn được ký kết và giao dịch giữa các ngân hàng và khách hàng, hay giữa hai ngân hàng với nhau Giao dịch kỳ hạn không diễn ra trên sở giao dịch, mà được tiến hành thông qua điện thoại, telex, vi tính và hệ thống SWIFT
Tỷ giá áp dụng trong giao dịch kỳ hạn được gọi là tỷ giá kỳ hạn Chúng
ta định nghĩa “Tỷ giá kỳ hạn là tỷ giá được thỏa thuận ngay từ ngày hôm nay
để làm cơ sở cho việc trao đổi tiền tệ tại một ngày xác định xa hơn ngày giá trị giao ngay” Như vậy, tỷ giá kỳ hạn bao gồm hai thành phần là tỷ giá giao
ngay và điểm kỳ hạn
b Hợp đồng tương lai
Hợp đồng tương lai là một dạng hợp đồng kỳ hạn đã được chuẩn hóa và được thực hiện tại Sở giao dịch, tuy nhiên có những điểm khác biệt sau:
Trang 21- Đối tượng của hợp đồng là các hàng hoá được tiêu chuẩn hoá như:
kim loại (sắt, nhôm, đồng ), cà phê, bông,…, và tiền tệ
- Thời gian giao hàng được chuẩn hoá (theo tuần, tháng)
- Giao dịch tương lại được thực hiện tại các thị trường tập trung như: London Commodities Exchange, CBOT …
c Hợp đồng quyền chọn
Hợp đồng quyền chọn tiền tệ là một công cụ tài chính, cho phép người mua hợp đồng có quyền (chứ không phải có nghĩa vụ) mua hoặc bán một đồng tiền nhất định, tại mức tỷ giá đã được thỏa thuận trước, trong một khoảng thời gian nhất định1
Khác với hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn cho phép người mua quyền chọn có sự lựa chọn
Hoặc là tiến hành giao dịch (thanh toán) theo tỷ giá đã thỏa thuận từ trước nếu tỷ giá đó là có lợi cho họ
Hoặc là để cho hợp đồng tự hết hạn mà không tiến hành bất cứ một giao dịch nào nếu họ thấy rằng làm như vậy thì ít tốn kém hơn
Mặt khác, người bán hợp đồng quyền chọn không có bất cứ sự lựa chọn nào khác ngoài việc luôn sẵn sàng tiến hành giao dịch khi người mua mong muốn
Để có được quyền này, người mua phải trả cho người bán hợp đồng quyền chọn một khoản tiền nhất định gọi là phí quyền chọn
Trong thực tế, có hai loại quyền chọn khác nhau căn cứ vào tập quán giao dịch Quyền chọn kiểu Mỹ cho phép thực hiện quyền chọn vào bất cứ ngày làm việc nào trong thời gian hiệu lực của hợp đồng Quyền chọn kiểu châu Âu chỉ cho phép thực hiện quyền chọn tại thời điểm hợp đồng đến hạn
Để đơn giản, khóa luận chỉ đề cập đến hợp đồng quyền cọn kiểu châu Âu
1
Peter S.Rose, Commercial bank management, 2005
Trang 22d Hợp đồng hoán đổi
Hợp đồng hoán đổi ngoại hối là hợp đồng diễn ra việc đồng thời và bán
ra một tiền tệ nhất định đối với mỗi bên, trong đó ngày giá trị mua vào và ngày giá trị bán ra là khác nhau2
Hợp đồng hoán đổi tiền tệ là loại hợp đồng hoán đổi ngoại hối có thời gian dài (thường từ vài năm trở lên) và lãi suất phát sinh được thanh toán định
kỳ trong thời gian hiệu lực của hợp đồng, khoản gốc chỉ được hoán đổi khi hợp đồng đáo hạn
Sự khác nhau:
Trong hợp đồng hoán đổi ngoại hối, gốc và lãi được thanh toán một lần tại thời điểm hợp đồng đến hạn, còn trong hợp đồng hoán đổi tiền tệ, lãi được thanh toán định kỳ trong khi gốc được thanh toán một lần tại thời điểm hợp đồng đến hạn
Hợp đồng hoán đổi ngoại hối được giao dịch trên FOREX, còn hợp đồng hoán đổi tiền tệ được giao dịch trên thị trường hoán đổi
Giao dịch swap tương đương với :
1 Giao dịch giao ngay + 1 Giao dịch kỳ hạn
1 Giao dịch kỳ hạn + 1 Giao dịch kỳ hạn
1.1.4 Đối tượng tham gia PSTT
Tham gia vào thị trường phái sinh gồm các chủ thể:
Người sử dụng cuối cùng là các doanh nghiệp với các mục đích:
- Bảo hiểm rủi ro
- Kinh doanh kiếm lời
Nhà trung gian tài chính là các NHTM:
- Đóng vai trò trung gian thực hiện giao dịch gối lưng và hưởng chênh lệch
2
David A Dubofsky & Thomas W.Miller, Derivatives-valuation and risk management, NXB Oxford, 2006,
tr 208-215
Trang 23Nhà làm thị trường:
- Ngân hàng có trạng thái mở đối với giao dịch phái sinh, chấp nhận rủi
ro để kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận và đáp ứng nhu cầu khách hàng
1.2 HOẠT ĐỘNG KINH DOANH PSTT CỦA NHTM
Bên cạnh các nghiệp vụ mang tính truyền thống, các ngân hàng đã không ngừng phát triển các nghiệp vụ mới, hiện đại, trong đó, phải kể đến các các công cụ phái sinh tiền tệ (Currency Derivaties) như các giao dịch, hợp đồng ngoại hối kì hạn, hợp đồng ngoại hối hoán đổi, hợp đồng ngoại hối quyền chọn và hợp đồng ngoại hối tương lai
Ngân hàng thương mại thực hiện giao dịch phái sinh, chấp nhận rủi ro
để kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận và đáp ứng nhu cầu khách hàng PSTT là những công cụ tài chính có thể đem lại lợi nhuận rất cao cho ngân hàng thương mại, nhưng nó cũng chứa đầy những rủi ro, vì khi tham gia hoạt động kinh doanh tiền tệ này, ngân hàng sẽ tạo ra trạng thái ngoại tệ mở và dẫn đến rủi ro tỷ giá cho ngân hàng Vì vậy, mặc dù trên các thị trường ngoại hối quốc
tế, các công cụ này đã được triển khai và phát triển, nhưng tại Việt Nam, số lượng NHTM thực hiện công cụ tài chính phái sinh tiền tệ còn khiêm tốn, với
tỷ trọng còn rất thấp
1.2.1 Vai trò của hoạt động kinh doanh PSTT đối với NHTM
PSTT là một bộ phận của hệ thống tài chính quốc gia, việc hoàn thiện
và phát triển thị trường này hiệu quả thể hiện chiều sâu và độ cao của phát triển Hệ thống tài chính là điều kiện cần để phát triển kinh tế ở tốc độ cao hơn Ngoài việc tạo ra lợi nhuận như bất kỳ việc kinh doanh một sản phẩm dịch vụ khác, NHTM còn sử dụng PSTT với các mục đích: bảo hiểm rủi ro trong kinh doanh ngoại hối; thiết kế những sản phẩm đáp ứng nhu cầu khách hàng trong bảo hiểm rủi ro tỷ giá và rủi ro lãi suất; phục vụ cho mục đích đầu
cơ của chính ngân hàng cũng như khách hàng của mình; kiểm soát nguồn vốn
Trang 24khả dụng; tạo liên kết với khách hàng; giúp gia tăng thu nhập và nâng cao năng lực kinh doanh và khả năng cạnh tranh
a PSTT với vai trò phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngoại hối
Rủi ro ngoại hối là rủi ro thường thấy trong hoạt động của ngân hàng Loại rủi ro này có thể làm tăng chi chí vay nợ của ngân hàng (trường hợp tỷ giá tăng) hoặc có thể làm giảm kế hoạch kinh doanh của ngân hàng (trường hợp tỷ giá giảm) Các sản phẩm phái sinh tiền tệ là những công cụ hữu hiệu
để cho ngân hàng xác định được trước và chính xác chi phí vay nợ, từ đó có thể xác định được trước kết quả kinh doanh để lên kế hoạch phù hợp
Các ngân hàng thường kết hợp sử dụng các hợp đồng phái sinh tiền tệ với nhau để phòng ngừa rủi ro tỷ giá bất lợi cho mình và kiếm lời từ chênh lệch tỷ giá Ngoài ra, các sản phẩm phái sinh tiền tệ còn đảm bảo số lượng ngoại tệ bất thường cho ngân hàng, giúp ngân hàng đảm bảo thanh khoản
b PSTT – dịch vụ bảo hiểm rủi ro tỷ giá và rủi ro lãi suất cho khách hàng
Xét ở góc độ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, PSTT giúp phòng ngừa rủi ro tài chính về tỷ giá, lãi suất Trong kinh doanh, doanh nghiệp luôn đối mặt với nhiều rủi ro Các biến động trên thị trường có thể làm cho một khoản lỗ thương mại trở thành lợi nhuận và ngược lại Chính vì vậy phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh là biện pháp tốt nhất để bảo toàn thu nhập
và chi phí Các giao dịch phái sinh với chi phí nhất định có thể giúp doanh nghiệp có thể xác định chi phí và bảo toàn lợi nhuận, tránh ảnh hưởng bởi sự biến động bất thường của tỷ giá và lãi suất Sản phẩm phái sinh là một trong những phương tiện rất hiệu quả giúp doanh nghiệp phòng chống các loại rủi
ro Tuy nhiên, do đối tượng của doanh nghiệp nhắm tới khi sử dụng các sản phẩm phái sinh không chỉ đơn thuần là tiền tệ, mà còn là hàng hóa; và quan
hệ trao đổi giữa các doanh nghiệp (trong nước với nhau, trong nước và ngoài
Trang 25nước) cũng phức tạp hơn cho nên cách nhìn nhận vai trò của công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro, đầu cơ ở doanh nghiệp cũng phong phú hơn Đứng trước nhu cầu lớn về sử dụng các sản phẩm phái sinh để phòng vệ cũng như đầu cơ của các doanh nghiệp, ngân hàng có thể thu được lợi nhuận khi cung cấp cho doanh nghiệp các dịch vụ phái sinh tiền tệ, lãi suất, tỷ giá
c PSTT – hỗ trợ cho hệ thống thanh khoản thông suốt
Xét ở gốc độ tổng thể của nền kinh tế, PSTT đóng góp tăng trưởng kinh tế thông qua việc phát huy tốt cho các chức năng của hệ thống tài chính, PSTT được xem là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư; sàng lọc, chuyển hóa và phân tán rủi ro; Giám sát doanh nghiệp; tăng tính thanh khoản của các công
cụ tài chính giúp vận hành hệ thống thanh khoản thông suốt Doanh nghiệp nhập khẩu có thể chủ động nguồn ngoại tệ phục vụ nhu cầu thanh toán trong tương lai Việc thiếu sự chuẩn bị nguồn ngoại tệ có thể đẩy doanh nghiệp vào tình trạng thiếu hụt ngoại tệ hoặc không có ngoại tệ khi đến hạn thanh toán
gây ra sự thụ động trong hoạt động kinh doanh
d PSTT - Những công cụ quan trọng cho mục đích đầu cơ của các NHTM
Đầu cơ vào các sản phẩm phái sinh là tham gia vào một vị thế trong hợp đồng phái sinh nhằm hưởng lợi trên sự biến đổi về giá trị của tài sản cơ
sở Các sản phẩm phái sinh nhằm mục đích đầu cơ của NHTM chủ yếu là hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn:
Đầu cơ hợp đồng tương lai: NHTM có thể dùng hợp đồng tương lai lãi
suất, tương lai chỉ số chứng khoán, tương lai tiền tệ để tiến hành hoạt động đầu cơ sinh lợi của mình Trong đó tương lai lãi suất khá tương đồng với tương lai tiền tệ, đều dựa trên suy đoán của ngân hàng về độ tăng giảm lãi suất cung như tỉ giá trong tương lai Còn các giao dịch tương lai chỉ số chứng khoán lại dựa trên dự đoán về động thái thị trường chứng khoán nói chung
Trang 26nhằm thu lợi nhuận Thông thường thì giao dịch này được sử dụng khi NHTM không có tiền mặt mua chứng khoán ngay Với mức tiền eo hẹp, NHTM vẫn
có thể đầu cơ vào sự biến động chỉ số chứng khoán nhằm thu lợi nhuận
Đầu cơ quyền chọn mua: NHTM đóng vai trò là bên mua trong hợp
đồng quyền chọn mua nếu dự đoán rằng giá của tài sản cơ sở sẽ tăng trong tương lai Trong trường hợp này, NHTM với tư cách là bên mua trong hợp đồng quyền chọn mua sẽ được cho vay một khoản tiền để mua tài sản cơ sở Khi hợp đồng đáo hạn, bên mua sẽ phải thanh toán các khoản lỗ ròng và hoàn trả lại số tiền ban đầu đã được cho vay (có thể kèm theo lãi) Khoản vay để bên mua tham gia vào hợp đồng quyền chọn tương tự như khoản vay để mua tài sản cơ sở theo cơ chế giao dịch đòn bẩy Hơn nữa, theo tính toán thì đầu từ vào quyền chọn mua mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn khi giá tài sản cơ sở trên thị trường tăng và tốn thất ít hơn khi giá tài sản cơ sở trên thị trường giảm Chính điều này đã khiến quyền chọn mua trở thành một công cụ đầu tư mạnh mẽ hơn cả bản thân tài sản cơ sở
Kinh doanh trên cơ sở chênh lệch giá: NHTM có thể khai thác chiều
hướng biến động có lợi của tỷ giá để thu lợi nhuận Một quyền chọn mua/bán (kiểu Mỹ) có thể được thể được thực hiện trước ngày đến hạn nếu tỷ giá cao hơn hay thấp hơn tỷ giá quyền chọn với dự báo tỷ giá có chiều biến động ngược chiều trong tương lai
1.2.2 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh PSTT tại các NHTM
Như bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào, hoạt động kinh doanh PSTTcó những rủi ro nhất định
- Rủi ro tỷ giá: Sự biến động bất thường của tỷ giá do sự tác động của các nhân tố trong thị trường tài chính tiền tệ Kinh doanh PSTT ngân hàng đương nhiên sẽ chấp nhận một rủi ro khi có biến động bất thường đối với tỷ giá các đồng ngoại tệ
Trang 27- Rủi ro lãi suất: Tại một số giai đoạn hay thời điểm nhất định, lãi suất
có thể trở nên thếu ổn định và có sự đột biến tăng hoặc giảm một cách đột ngột do tác động của kinh tế trên thị trường thế giới và trong nước cũng như một số chính sách NHNN ban hành Sản phẩm phái sinh tất nhiên sẽ chịu sự tác động của thị trường tài chính như bất kỳ các sản phẩm khác
- Rủi ro thị trường: Rủi ro khi giá thị trường hay dòng tiền tương lai của một sản phẩm phái sinh bị dao động do những biến động về lãi suất, tỷ giá hoặc giá cả khác
- Rủi ro thanh khoản: Là rủi ro xảy ra khi tham gia một giao dịch phái sinh và nhận thấy thị trường quá thưa thớt đến nỗi giá cả trên thị trường phải bao gồm khoản chiết khấu hoặc phần bù cho tính thanh khoản ngay khi nhà đầu tư không sẵn lòng giao dịch
1.3 PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH PSTT CỦA NHTM
1.3.1 Quan điểm và nội dung về phát triển hoạt động kinh doanh PSTT của NHTM
Quan điểm phát triển hoạt động kinh doanh PSTT của NHTM:
Phát triển là một khuynh hướng vận động đã xác định về hướng của sự vật: hướng đi từ thấp tới cao, từ đơn giản tới phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện Phát triển là quy luật tự nhiên, quy luật của xã hội, bản chất của sự vận động biến đổi Phát triển hoạt động kinh doanh PSTT của NHTM là việc
mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh phái sinh tiền tệ nhằm tăng thu nhập
từ hoạt động kinh doanh này đồng thời kiểm soát rủi ro và thực hiện chiến lượt của ngân hàng trong một thời kỳ nhất định, nâng cao năng lực cạnh tranh
so với các NHTM trên địa bàn
Nội dung phát triển hoạt động kinh doanh PSTT của NHTM:
Với quan điểm về phát triển hoạt động kinh doanh PSTT của NHTM như trên, việc phát triển hoạt động kinh doanh PSTT của NHTM được thực
Trang 28hiện qua các nội dung sau:
a Mở rộng quy mô
Mở rộng quy mô của một sản phẩm dịch vụ nhằm khai thác nhiều hơn lợi nhuận trong kinh doanh sản phẩm dịch vụ đó Sản phẩm dịch vụ của một ngân hàng luôn rất đa dạng, phong phú Tuy nhiên tùy giai đoạn lịch sử, tùy vào xu hướng của nền kinh tế để lực chọn nhóm sản phẩm mục tiêu để chú trọng tăng trưởng và mở rộng quy mô PSTT là dòng sản phẩm được xem là mới mẻ đối với thị trường tài chính Việt Nam, cơ hội khai thác lợi nhuận với
tỷ lệ cao và rủi ro thấp so với tín dụng thuần túy, chính vì vậy PSTT được ưu tiên khai thác mở rộng quy mô nhằm nâng cao vị thế của ngân hàng, tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường
b Mở rộng thị phần
Mở rộng thị phần (chiếm được một thị phần lớn hơn) trong kinh doanh
là nhiệm vụ xuyên suốt trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đối với các sản phẩm có thể mang lại lợi nhuận với tỷ lệ càng lớn thì ngân hàng càng đầu tư mở rộng thị phần cho loại sản phẩm đó Phái sinh tiền tệ là nhóm sản phẩm có nhiều ưu điểm giúp dễ khai thác phát triển nâng cao lợi nhuận đối với ngân hàng Thị trường phái sinh còn có sự cạnh tranh thấp hơn nhiều so với các sản phẩm khác vì đến nay vẫn còn ít ngân hàng đủ năng lực tham gia thị trường này Với các NHTM có vị thế đủ mạnh và quy mô lớn, có nền khách hàng tốt cùng với đội ngũ cán bộ với kiến thức chuyên môn vững, phát triển hoạt động kinh doanh PSTT được xem là khai thác vùng tài nguyên màu
mở và thường sẽ có định hướng tập trung chú trọng phát triển các sản phẩm, dịch vụ này, việc mở rộng thị phần có cơ hội thành công rất lớn
c Đa dạng hóa sản phẩm
Một ngân hàng với danh mục sản phẩm đa đạng phong phú có thể tạo
ra nhiều cơ hội cho khách hàng cũng như chính ngân hàng trong việc bán sản
Trang 29phẩm dịch vụ thông qua việc bán chéo sản phẩm, giúp ngân hàng nâng cao khả năng cạnh tranh Vì vậy để đánh giá vị thế, năng lực và tiềm năng phát triển của một ngân hàng cần được đánh giá trên cơ sở về sự đa dạng của hệ thống sản phẩm ngân hàng đang có, khả năng phát triển sản phẩm
Đánh giá sự đa dạng của sản phẩm cũng giúp ngân hàng thấy được vị thế của ngân hàng trên thị trường, sản phẩm thiết kế có đáp ứng kịp nhu cầu
và xu thế thị trường hay không, các sản phẩm đã thiết kế có được triển khai đưa vào thị trường tốt không hay bị mai một và nguyên nhân của sự mai một Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự hội nhập của đất nước, nhu cầu của doanh nghiệp đối với sản phẩm, dịch vụ ngân hàng ngày càng cao và đòi hỏi
về tính chuyên nghiệp, sự đa dạng phong phú, sự phù hợp và tính năng động của sản phẩm Ở cấp độ của hôi sở là sự đầu tư thiết kế sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của doanh nghiệp; đối với chi nhánh đó chính là trang bị đầy đủ về con người, về cơ sở vật chất; những đầu tư trong công tác điều hành, xây dựng chiến lượt để đưa sản phẩm đến với khách hàng – người
sử dụng cuối cùng sản phẩm chính là nhiệm vụ thiết thực
d Tăng chất lượng
Tăng chất lượng dịch vụ cũng như chất lượng phục vụ của một ngân hàng có thể nói lên khả năng phát triển bền vững của ngân hàng và khả năng trong giữ chân khách hàng cũ cũng như phát triển khách hàng mới, một nhiệm
vụ trọng tâm của ngân hàng để tồn tại trong thị trường ngày càng phát triển vợi sức cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt Vì vậy để có thể đánh giá khả năng cạnh tranh, phát triển của ngân hàng trong tương lai cần đánh giá sự đầu
tư chú trọng tăng chất lượng dịch vụ và chất lượng phục vụ của ngân hàng
Sự vận động của xã hội đi từ thấp đến cao, từ cái chưa hoàn thiện đến cái hoàn thiện Chính vì lẻ đó, một sản phẩm đưa vào thị trường nếu không có
sự cải thiện chất lượng thì vô hình dung phải chấp nhận sự đào thải bởi quy
Trang 30luật của sự phát triển Nâng cao chất lượng nhằm hoàn thiện sản phẩm, sự hoàn thiện không những giúp cho sản phẩm được tồn tại bền vững mà còn tạo
ra cơ hội để phát triển nhân rộng, tạo ưu thế cho sản phẩm và cơ hội vương đến đỉnh cao Sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng được quy tụ bởi sự thành công của các sản phẩm do ngân hàng cung ứng Mỗi sản phẩm là một nhân tố tạo nên sức mạnh và khả năng cạnh tranh của ngân hàng Chính vì vậy chú nâng cao chất lượng dịch vụ là nhiệm vụ thường xuyên đối với ngân hàng PSTT là nhóm sản phẩm mới, chính vì vậy càng cần được sự đầu tư tốt trong công tác nâng cao chất lượng
e Kiểm soát rủi ro
Trong kinh doanh ngân hàng, kiểm soát rủi ro giữ một vai trò rất quan trọng Kiểm soát rủi ro có ý nghĩa lớn và cần thực hiện từ khi quyết định đầu
tư cho đến khi kết thúc hợp đồng Kiểm soát được rủi ro càng tốt giúp ngân hàng càng chắc chắn trong thu lợi nhuận và tạo uy tín với khách hàng, với đối tác là các ngân hàng trong nước và quốc tế Thương hiệu của ngân hàng cũng
sẽ được nâng cao khi ngân hàng có sự kiểm soát rủi ro toàn diện, chặt chẽ
Hoạt động của ngân hàng gắn liền với các rủi ro trên nhiều phương diện PSTT là mảng nghiệp vụ mới, thường được sử dụng làm công cụ quản trị rủi ro tuy nhiên nội tại nó chứa đựng những rủi ro Chính vì vậy kiểm soát rủi ro trong kinh doanh PSTT giữ vai trò quan trọng đòi hỏi ngân hàng cần có chiến lượt cụ thể cùng với hệ thống văn bản pháp lý, quy trình nghiệp vụ được rõ ràng, chuẩn xác
f Tăng thu nhập
Mục đích cuối cùng của hoạt động kinh doanh ngân hàng là lợi nhuận mang lại cùng với sự an toàn ở mức cao nhất Hộng kinh doanh PSTT được đánh giá hiệu quả hay không? có đạt hiệu quả kinh tế như kỳ vọng không? Sự hài hòa giữa chi phí đầu tư và lợi nhuận mang lại hay không? Có nên xem
Trang 31PSTT là sản phẩm mục tiêu hay không ?… Tất cả những câu hỏi này được trả lời thông qua việc đánh giá sự tăng thu nhập từ hoạt động kinh doanh sản phẩm dịch vụ này để từ đó ngưỡi lãnh đạo có những quyết định phù hợp
Việc đưa vào triển khai sản phẩm mới thường chưa đặt nặng vấn đề thu nhập trong những năm đầu tiên, song định hướng cho tương lai và khi sản phẩm đã được đi vào hoạt động ổn định thì thu nhập là yếu tố quan trọng để định hướng cho sự tăng trưởng
1.3.2 Tiêu chí đánh giá phát triển hoạt động kinh doanh PSTT của NHTM
a Đánh giá về quy mô
Việc phát triển quy mô trong hoạt động kinh doanh PSTT được thực hiện trên sơ sở đánh giá quá trình của sự phát triển các tiêu chí sau đây trong giai đoạn nghiên cứu cụ thể là:
Khảo sát số lượng hợp đồng phái sinh tiền tệ thực hiện qua các năm; doanh số thực hiện hợp đồng phái sinh tiền tệ các năm; giá trị hợp đồng phái sinh tiền tệ lớn nhất, giá trị bình quân; Số lượng khách hàng sử dụng hợp đồng phái sinh tiền tệ cũng như thu nhập ròng từ hoạt động kinh doanh phái sinh tiền tệ nhằm đánh giá sự tăng trưởng về quy mô của hoạt động kinh doanh của NHTM đối với sản phẩm PSTT
b Đánh giá về sự tăng trưởng của thị phần hoạt động kinh doanh PSTT
Đánh giá sự gia tăng thị phần được thực hiện thông qua việc tính tỷ trọng doanh số kinh doanh PSTT của ngân hàng với tổng doanh số đạt được của các ngân hàng trên cùng địa bàn qua các năm Trên cơ sở đó đánh giá được vị thế của ngân hàng trên địa bàn trong hoạt động kinh doanh phái sinh tiền tệ nhằm có định hướng cho mục tiêu phát triển trong thời gian tới Sự gia
Trang 32tăng thị phần được đánh giá cho từng loại sản phẩm và tổng thể nhóm sản phẩm phái sinh tiền tệ
c Đánh giá về sự đa dạng của sản phẩm
Đánh giá sự phát triển trong việc triển khai các sản phẩm qua các năm của NHTM xem có phong phú không, có đáp ứng nhu cầu khách hàng không;
so sánh với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh nhằm tìm các thế mạnh của mình để khai thác tốt hơn cũng như xác định được những hạn chế của chính mình so với các ngân hàng trên địa bàn Việc đánh giá về sự đa dạng của sản phẩm được xét trên các tiêu chí: Sự gia tăng số lượng sản phẩm; sự đa dạng
về thời hạn hợp đồng phái sinh tiền tệ; sự đa dạng về loại ngoại tệ của hợp đồng phái sinh tiền tệ; sự đa dạng về mức phí (giá) hoặc phần trăm mức ký quỹ và sự đa dạng đối với tài sản đảm bảo, phương thức ký quỹ; công tác triển khai kết hợp công cụ tài chính phái sinh có sự kết hợp với các sản phẩm, dịch vụ khác như cho vay, bảo hiểm tỷ giá, lãi suất nhằm giá tăng lợi ích cho khách hàng để thấy được sự tiến bộ trong sản phẩm nhằm từ đó thấy được khả
năng đáp ứng nhu cầu khách hàng của NHTM
d Đánh giá chất lượng sản phẩm PSTT
So sánh chất lượng sản phẩm dịch vụ PSTT qua các năm trong giai đoạn nghiên cứu bằng định lượng và định tính Kiểm tra việc thực hiện nghiêm túc các văn bản pháp lý và thực hiện đúng các chương trình chăm sóc khách hàng, tính kịp thời trong xử lý nhu cầu khách hàng Chất lượng sản hẩm thể hiện năng lực cạnh tranh của NHTM, NHTM để cạnh tranh lành mạnh cần có giải pháp tích cực trong nâng cao chất lượng sản phẩm
e Đánh giá về sự kiểm soát rủi ro trong kinh doanh PSTT
Thống kê các rủi ro đã xảy ra nhằm muc đích tăng thêm các công cụ, biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh sản phẩm PSTT, kiểm soát được rủi ro đã xảy ra, có thể xảy ra
Trang 33Kiểm soát rủi ro của NHTM trong kinh doanh PSTT có thể được thực đánh giá qua các số liệu khảo sát cụ thể: Số hợp đồng bị mất vốn và xử lý khi xảy ra rủi ro; số tiền tổn thất và khả năng thu hồi thất thoát; tỷ lệ tổn thất cũng như những tổn thất khác; tỷ lệ trích dự phòng rủi ro và các loại bảo hiểm giúp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh PSTT là các yếu tố hỗ trợ khắc phục rủi
ro đối với NHTM trong kinh doanh
f Đánh giá thu nhập từ hoạt động kinh doanh PSTT
Đánh giá lợi nhuận đạt được trong kinh doanh PSTT và sự tăng trưởng qua các năm; tỷ lệ lợi nhuận so với tổng doanh số để thấy được hiệu quả kinh doanh tương ứng chi phí đầu tư, từ đó xây dựng chỉ tiêu cho sự tăng trưởng trong tương lai
Các chỉ tiêu chính cần đánh giá đó là thu dịch vụ ròng từ kinh doanh PSTT; chênh lệch lãi suất (NIM) của các hợp đồng và lợi nhuận ròng sau khi trích các chi phí đầu tư cho hoạt động kinh doanh PSTT
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hoạt động kinh doanh PSTT của các NHTM
Đối với hoạt động kinh doanh công cụ phái sinh của ngành tài chính
Trang 34Việt nam nói chung và BIDV Phú Tài nói riêng, bên cạnh một số kết quả nhất định và nổi bật thì đến nay hoạt động kinh doanh phái sinh tiền tệ vẫn còn không ít những trở ngại, bất cập, cản trở sự phát triển Cụ thể như:
Các công cụ tài chính phái sinh tiền tệ đã triển khai chưa thật sự tạo được sức hấp dẫn đối với khách hàng, vì vậy số lượng khách hàng tham gia còn khá khiêm tốn
Các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh tiền tệ và công cụ tài chính phái sinh chậm thay đổi, chưa tương thích với thay đổi của thị trường Chẳng hạn như Quyết định số 1820/NHNN-QLNH ban hành ngày 18/3/2009 trong đó quyền chọn chỉ được thực hiện giữa ngoại tệ và ngoại tệ, không được thực hiện quyền chọn giữa ngoại tệ và VND, chưa có quy định rõ ràng về kế toán đối với DN về phí quyền chọn sẽ được ghi nhận như một khoản chi phí hợp lý khi xác định thuế thu nhập DN, quy định về tỷ giá của NHNN vẫn còn tạo sự chênh lệch giữa tỷ giá niêm yết và tỷ giá trên thị trường
b Nhân tố chủ quan
Bên cạnh những nhân tố mang tính khách quan đã nêu trên, hoạt động kinh doanh phái sinh tiền tệ tại ngân hàng TMCP còn chịu sự tác đông của một số nhân tố mang tính chủ quan khác, cụ thể như: Nguồn nhân lực; Cơ sở vật chất; Các chính sách về khách hàng; Giá phí dịch vụ; Quy trình nghiệp vụ; Định hướng, chủ trương của hội sở chính
Hoạt động kinh doanh PSTT của NHTM đạt được sự thành công khi hội đủ các yếu tố mang tính chủ quan từ phía ngân hàng như: quy trình nghiệp
vụ đảm bảo chặt chẽ và chỉ dẫn hạch toán rõ ràng; mức phí dịch vụ phù hợp đảm bảo cạnh tranh; các chương trình chăm sóc khách hàng được đầu tư thỏa đáng; cơ sở vật chất được đầu tư đầy đủ đảm bảo phục vụ nhu cầu công việc; nguồn nhân sự đảm bảo trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm đảm bảo đủ khả năng am hiểu nghiệp vụ cũng như tư vấn tốt cho khách hàng; có
Trang 35định hướng phát triển của NHTM chú trọng phát triển nghiệp vụ PSTT
Nếu như các nhân tố khách quan được xem là điều kiện cần thì các nhân tố chủ quan sẽ là điều kiện đủ để NHTM có thể phát triển tốt hoạt động kinh doanh PSTT Các nhân tố khách quan cũng như chủ quan có những ý nghĩa, vai trò khác nhau và đều góp phần tạo nên sự thành công của NHTM trong phát triển hoạt động kinh doanh PSTT
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH PHÁI SINH TIỀN TỆ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐT&PT
VIỆT NAM – CHI NHÁNH PHÚ TÀI 2.1 TỔNG QUAN VỀ NH TMCP ĐT&PT VIỆT NAM – CN PHÚ TÀI
2.1.1 Lịch sử hình thành
a Lịch sử hình thành ngân hàng TMCP ĐT&PT Việt Nam
BIDV Việt Nam thành lập ngày 26/04/1957 Là Ngân hàng hàng đầu trong lĩnh vực kinh doanh ngoại hối và đi đầu tại Việt Nam trong các sản phẩm tài chính phái sinh như hoán đổi lãi suất một đồng tiền, hoán đổi tiền tệ chéo, quyền chọn tiền tệ, tiền gửi cơ cấu Quy mô: Tổng tài sản lên đến 370,000 tỷ đồng tương đương với 17 tỷ USD (Cập nhật báo cáo thường niên 2011) Tổng số chi nhánh, phòng giao dịch, đơn vị trực thuộc khoảng 650 đơn
vị với trên 16.000 nhân viên
Một số giải thưởng đã đạt được của BIDV từ 2005 đến nay:
Thương hiệu tốt nhất năm 2005 (Giải thưởng Sao vàng đất Việt)
Giải thưởng ADFIAP do Hiệp hội các định chế tài chính Châu Á Thái Bình Dương trao tặng năm 2007
Giải thưởng Trái phiếu đồng nội tệ tốt nhất khu vực do Tạp chí Financial Asia trao tặng năm 2006
Giải thưởng Ngân hàng nội địa cung ứng dịch vụ ngoại hối tốt nhất năm 2007, 2008 và 2009 do các ngân hàng và định chế tài chính bình chọn trên tạp chí Asiamoney
Cúp vàng “Hội nhập kinh tế Quốc tế”bdo Uỷ ban về hợp tác kinh tế quốc tế trao tặng
Giải thưởng Doanh nghiệp lớn ứng dụng Công nghệ thông tin hiệu quả nhất 2010 do Bộ Thông tin và Truyền thông trao tặng
Trang 37b Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Phú Tài
Thành lập 17/07/2006, được tách ra từ Chi nhánh cấp 2 thuộc BIDV Chi nhánh Bình Định
Tổng tài sản: 7.500 tỷ VND (số liệu đến 31/12/2013)
Quy mô: 18 phòng ban, trong đó có 8 phòng giao dịch trãi khắp các huyện và thành phố thuộc tỉnh Bình Định
2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh Giai đoạn 2010 – 2012
Là một Chi nhánh đứng đầu khu vực Miền Trung và Duyên Hải với tổng tài sản lên đến 7.500 tỷ và trên 150 cán bộ trẻ, năng động, nhiệt tình, BIDV Chi nhánh Phú Tài là một trong các Chi nhánh tiên phong năng động trong việc triển khai sản phẩm mới Với số lượng lớn khách hàng là các doanh nghiệp chuyên về ngành gỗ, khoáng sản, phân bón với doanh số xuất nhập khẩu cao Năm 2007, BIDV Chi nhánh Phú tài đã triển khai PSTT Trong thời gian 5 năm triển khai, BIDV Phú Tài luôn là Chi nhánh dẫn đầu toàn ngành trong kinh doanh PSTT Năm 2011, lợi nhuận đạt được từ kinh doanh SPPS của BIDV Phú Tài lên đến 14,7 tỷ đồng, chiếm 10% lợi nhuận của Chi nhánh
Từ 2007 đến nay, hoạt động kinh doanh PSTT tại BIDV đã không ngừng phát triển, luôn dẫn đầu hệ thống
Bảng 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh BIDV Phú Tài
Duy động vốn
Thu dịch
vụ ròng
Lợi nhuận trước thuế
Trang 382.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH PSTT TẠI NH TMCP ĐT&PT VIỆT NAM – CN PHÚ TÀI
Hoạt động kinh doanh PSTT được BIDV Phú Tài triển khai từ năm
2007 và phát triển mạnh mẽ giai đoạn 2009 – 2011 Tuy nhiên trong những năm 2012, 2013 do ảnh hưởng của cơ chế cấp tín dụng từ phía NH ĐT&PT Việt Nam, yếu tố nội tại của chi nhánh cũng như một số chính sách tiền tệ của NHNN đã có sự ảnh hưởng dẫn đến việc sút giảm nhiều về doanh số hoạt động cũng như lợi nhuân đạt được từ kinh doanh PSTT
2.2.1 Cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh phái sinh tiên tệ tại các NHTM Việt Nam
Thứ nhất, cơ sở pháp lý liên quan đến sự phát triển các công cụ tài chính phái sinh tiền tệ tại Việt Nam
Trên cơ sở Luật Các TCTD, Pháp lệnh Ngoại hối, NHNN đã ban hành các quy định làm nền tảng cho triển khai các công cụ tài chính phái sinh, tỷ giá giao dịch và quy định nhằm ngăn ngừa, hạn chế rủi ro đối với các ngân hàng thông qua yêu cầu về trạng thái ngoại hối
Từ năm 1999, NHNN Việt Nam đã ban hành quy định tạo điều kiện cho sự ra đời của công cụ tài chính phái sinh tại Việt Nam theo Quyết định số 65/1999/QĐ-NHNN 7 ngày 25/2/1999 về Giao dịch kỳ hạn Theo đó, các giao dịch kỳ hạn được thực hiện trong hợp đồng mua bán USD và VND giữa NHTM với doanh nghiệp (DN) xuất nhập khẩu hoặc với các NHTM khác được phép của NHNN
Giao dịch hoán đổi đã có cơ sở pháp lý từ những năm 90, cụ thể là Quyết định số 430/QĐ-NHNN13 ngày 24/12/1997, sửa đổi, bổ sung Quyết định số 893/2001 /QĐ-NHNN ngày 17/7/2001 Tiếp đến là Quyết định số 1133/QĐ-NHNN ngày 30/09/2003 về quy chế thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất cho phép mở rộng danh mục các NHTM và các TCTD, các DN được
Trang 39sử dụng công cụ hoán đối lãi suất Hoán đổi lãi suất được thực hiện đối với cả VND và ngoại tệ giữa các ngân hàng với DN vay vốn tại NH; giữa NH với những DN vay vốn tại các tổ chức tín dụng (TCTD) khác, kể cả vay vốn nước ngoài; giữa các NH trong nước với nhau và giữa các NHTM trong nước với các TCTD nước ngoài
Giao dịch quyền chọn tiền tệ được thực hiện theo Quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN, chỉ bao gồm giao dịch giữa các ngoại tệ (không liên quan đến VND) Đối tượng được tham gia giao dịch hối đoái bao gồm TCTD được phép, tổ chức kinh tế, tổ chức khác, cá nhân và NHNN Việt Nam TCTD được duy trì tổng giá trị hợp đồng quyền chọn không có giao dịch đối ứng tối đa là 10% so với vốn tự có Cũng trong Quyết định này, các TCTD không được mua quyền chọn của tổ chức kinh tế, tổ chức khác và cá nhân mà họ chỉ được phép bán quyền chọn cho các đối tượng này
mà thôi
Về tỷ giá giao dịch, Quyết định số 648/2004 do Thống đốc NHNN ban hành ngày 28/5/2004 quy định kì hạn của giao dịch kỳ hạn (Forward) và giao dịch hoán đổi (Swap) có thời hạn từ 3 ngày đến 365 ngày với tỷ giá kì hạn được xác định trên cơ sở: (i) Tỷ giá giao ngay của ngày kí hợp đồng kì hạn, hoán đổi; (ii) chênh lệch giữa 2 mức lãi suất hiện hành là lãi suất cơ bản của VND (tính theo năm) do NHNN công bố và lãi suất mục tiêu do Cục dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) công bố; và (iii) kì hạn của hợp đồng
Các giao dịch mua bán ngoại tệ của NHTM làm chuyển giao quyền sở hữu về ngoại tệ, từ đó, làm phát sinh trạng thái ngoại tệ trường (dương) hoặc đoản (âm) NHTM sẽ có khả năng rủi ro khi duy trì trạng thái ngoại tệ mở và
tỷ giá trên thị trường biến động Để kiểm soát và giới hạn rủi ro cho NHTM, Quyết định số 1081/2002/QĐ-NHNN ban hành ngày 7/10/2002 và Quyết định 1168/2003/QĐ-NHNN ban hành ngày 2/10/2003 quy định giới hạn trạng thái
Trang 40ngoại tệ đối với các NHTM Việt Nam, ngân hàng liên doanh và công ty tài chính Theo đó, các ngân hàng phải thực hiện tổng trạng thái ngoại tệ dương hoặc âm cuối ngày không được vượt quá 30% vốn tự có của mình
Thứ hai, các NHTM Việt Nam đã triển khai thực hiện kinh doanh ngoại
tệ và đã có lợi nhuận
Phần lớn các NHTM Việt Nam đã triển khai hoạt động thanh toán quốc
tế đi kèm với hoạt động mua bán ngoại tệ phục vụ khách hàng xuất nhập khẩu, cá nhân, chủ yếu là nghiệp vụ giao ngay và đã có thu nhập thuần từ mua, bán ngoại tệ
Bảng 2.2 Tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh ngoại hối trên
tổng lợi nhuận tại một số NHTM
Song song với thực hiện kinh doanh tiền tệ phục vụ đáp ứng nhu cầu mua, bán ngoại tệ với khách hàng, một số NHTM Việt Nam đã thực hiện kinh doanh ngoại tệ tự doanh (VCB, Eximbank, BIDV, ACB, Nam Á, Techcombank, Agribank, Quân đội, Sacombank ) và triển khai các công cụ tài chính phái sinh tiền tệ như giao dịch kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn
Bên cạnh đó, để kiểm soát và ngăn ngừa, hạn chế rủi ro các NHTM cũng đã xây dựng các hệ thống hạn mức như hạn mức/một giao dịch, hạn mức