1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Diện và hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam

115 448 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là những cách thức mà các chủ thể được phép xử sự theo quy định của pháp luật: Được để lại di sản thừa kế như thế nào, phân định phần di sản cho từng người thừa kế ra sao, việc lập di

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HUẾ

DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HUẾ

DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự

Mã số: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN AM HIỂU

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét

để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Huế

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục bảng, biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỪA KẾ 5

1.1 Khái niệm chung 5

1.1.1 Thừa kế và quyền thừa kế 5

1.1.2 Người để lại di sản thừa kế 8

1.1.3 Người thừa kế 10

1.2 Diện và hàng thừa kế 13

1.2.1 Khái quát chung về diện và hàng thừa kế 13

1.2.2 Diện và hàng thừa kế theo quy định của một số nước trên thế giới 17

1.2.3 Tập quán của Việt Nam về thừa kế 24

1.2.4 Cơ sở của việc xác định diện và hàng thừa kế theo pháp luật 29

Tiểu kết chương 1 33

Chương 2: DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM 34

2.1 Diện thừa kế 34

2.1.1 Diện thừa kế theo quan hệ huyết thống 34

2.1.2 Diện thừa kế xét theo quan hệ hôn nhân 44

2.1.3 Diện thừa kế theo quan hệ nuôi dưỡng 56

2.2 Hàng thừa kế 67

2.2.1 Hàng thừa kế thứ nhất 67

Trang 5

2.2.2 Hàng thừa kế thứ hai 73

2.2.3 Hàng thừa kế thứ ba 78

Tiểu kết chương 2 81

Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ 82

3.1 Thực trạng giải quyết các tranh chấp về thừa kế trong những năm gần đây 82

3.2 Nguyên nhân của thực trạng diện và hàng thừa kế theo quy định pháp luật Việt Nam 91

3.3 Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về diện và hàng thừa kế 95

3.3.1 Kiến nghị chung hoàn thiện các quy định pháp luật về thừa kế 95

3.3.2 Kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về diện và hàng thừa kế 96

Tiều kết chương 3 102

KẾT LUẬN 103

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 6

5 TAND : Tòa án nhân dân

6 TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao

7 UBND : Ủy ban Nhân dân

8 XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 3.1: Thống kê số lượng vụ án giải quyết tranh chấp

thừa kế của TANDTC từ năm 2006 – 2013 85

Biểu đồ 3.1: Các tranh chấp thừa kế giải quyết tại Tòa án từ

Biểu đồ 3.2: Thống kê thụ lý, giải quyết tranh chấp về thừa kế

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quyền thừa kế ra đời là một trong những phương thức pháp lý để bảo toàn và gia tăng tích lũy của cải trong xã hội Nhà nước đã công nhận quyền thừa kế của cá nhân đối với tài sản, coi thừa kế là một trong những căn cứ xác lập quyền sở hữu Điều này không chỉ có tác dụng kích thích tính tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng mà còn tạo động lực đẩy mạnh niềm say mê, kích thích sự quản lý năng động của mỗi con người tạo ra khối tài sản của mình Khi họ chết, các tài sản của họ để lại sẽ trở thành di sản và được phân chia cho các thế hệ con cháu, sự chuyển dịch di sản theo chế định thừa kế chính là

sự nối tiếp về quyền sở hữu Pháp luật công nhận quyền thừa kế đã đáp ứng phần nào mong mỏi của con người là tồn tại mãi mãi Chính vì thế, pháp luật thừa kế trên thế giới nói chung và pháp luật thừa kế ở Việt Nam nói riêng đã không ngừng phát triển và hoàn thiện chế định này

Tại Việt Nam, Việt Nam, sớm nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của thừa kế, nên ngay những ngày đầu mới dựng nước, các triều đại Lý, Trần, Lê cũng đã quan tâm đến ban hành pháp luật về thừa kế Pháp luật thành văn về thừa kế ở nước ta, lần đầu tiên được quy định trong chương

"Điền sản" của Bộ luật Hồng Đức dưới triều vua Lê Thái Tổ Trải qua quá

trình đấu tranh cách mạng, xây dựng CNXH ở nước ta, các quy định này đã được ghi nhận, mở rộng, phát triển và được thực hiện trên thực tế tại các Điều

19 Hiến pháp 1959 "Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo vệ quyền thừa kế tài

sản tư hữu của công dân" Điều 27 Hiến pháp 1980 "Nhà nước bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân", Điều 58 Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013 và

đặc biệt là sự ra đời của Bộ luật Dân sự 1995, sau đó Bộ luật Dân sự năm

2005 đã đánh dấu một bước phát triển của pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về thừa kế nói riêng

Trang 9

Bộ luật Dân sự 2005 được xem là kết quả cao của quá trình pháp điển hoá những quy định của pháp luật về thừa kế Nó kế thừa và phát triển những quy định phù hợp với thực tiễn, không ngừng hoàn thiện để bảo vệ quyền lợi của người thừa kế một cách có hiệu quả nhất Hiện nay các tranh chấp về thừa

kế có xu hướng ngày càng gia tăng và trở nên phức tạp hơn Sự nhận thức không đầy đủ về pháp luật của cá nhân, sự áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các cấp Tòa án là những yếu tố làm cho các vụ kiện gặp nhiều khó khăn, thời gian giải quyết kéo dài, ảnh hưởng không tốt đến truyền thống đạo đức tốt đẹp vốn có từ lâu đời của dân tộc Việt Nam Đặc biệt, một trong những khó khăn vướng mắc lớn khi áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết tranh chấp thừa kế chính là vấn đề xác định sao cho đúng về diện

và hàng thừa kế Trước tình hình đó, việc nghiên cứu, phân tích, kiến nghị để làm sáng tỏ một số vấn đề về diện và hàng thừa kế trong chế định thừa kế theo pháp luật là một đòi hỏi tất yếu, khách quan cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn giải quyết các tranh chấp thừa kế

2 Tình hình nghiên cứu

Do tầm quan trọng của vấn đề thừa kế nên nội dung này đã được rất nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm, nghiên cứu.Tiến sĩ Phùng Trung Tập đã

giới thiệu với bạn đọc tác phẩm "Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam

từ năm 1945 từ trước đến nay"; Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện là tác giả của cuốn

"Bình luận khoa học về thừa kế trong Bộ luật dân sự Việt Nam"; Phó giáo sư, Tiến sĩ Đinh Văn Thanh - Trần Hữu Biền có tác phẩm "Hỏi đáp về pháp luật

thừa kế" Ngoài ra, còn có nhiều bài viết về đề tài này được đăng tải trên sách,

báo, tạp chí Bên cạnh đó còn có nhiều cử nhân, học viên chọn nội dung thừa kế làm đề tài cho các bài tập cá nhân, bài tập lớn hay luận văn tốt nghiệp của mình

Có công trình nghiên cứu trên phạm vi rộng mang tính toàn diện, bao quát toàn

bộ chế định thừa kế, cũng có công trình chỉ một phần nhỏ của chế định thừa kế

Trang 10

Riêng với đề tài "Diện và hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam", tác giả tập

trung nghiên cứu, làm sáng tỏ nội dung, bản chất của diện và hàng thừa kế dọc theo chiều dài lịch sử pháp luật Việt Nam qua đó đi sâu vào quy định pháp luật hiện hành về Diện và hàng thừa kế, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị mang tính giải pháp hoàn thiện các quy định về nội dung và hình thức trong luật

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, nội dung, bản chất quy định của pháp luật Việt Nam về diện và hàng thừa kế Khi nghiên cứu đề tài, tác giả sẽ tham khảo toàn bộ các quy định pháp luật của nước ta về diện và hàng thừa kế gắn với từng giai đoạn trong lịch sử theo sự phát triển của đất nước, trong các sách chuyên khảo, đặc biệt là các quy định trong Bộ luật dân

sự 2005, so sánh với các quy định của một số nước trên thế giới về diện và hàng thừa kế qua đó có cái nhìn về diện và hàng thừa kế theo pháp luật hiện hành một cách tổng quát hơn, cụ thể hơn

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các biện pháp nghiên cứu sau:

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận về nhận thức của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử

Bên cạnh đó còn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin có sự phối hợp với một số phương pháp như: phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh và phương pháp tổng hợp để đánh giá tổng thể các vấn đề cần nghiên cứu

5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm sáng tỏ nội dung và bản chất của diện và hàng thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam Trên cơ sở đó, xác định đúng, chính xác về diện và hàng thừa kế cũng như thứ tự hưởng ưu

Trang 11

tiên theo quy định của pháp luật thừa kế từng giai đoạn lịch sử nhất định và đặc biệt là BLDS năm 2005

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả rút ra những vướng mắc còn tồn tại khi áp dụng quy định của pháp luật về diện và hàng thừa kế Từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị mang tính giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, tồn tại, góp phần hoàn thiện hơn các quy định về thừa kế

6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn

Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực thừa kế Có những công trình khoa học nghiên cứu vấn đề nội dung này một cách toàn diện, bao quát, nhưng cũng có những công trình chỉ nghiên cứu một khía cạnh nhỏ của chế định thừa kế

Đề tài luận văn này không phải là đề tài nghiên cứu mới Đã có những tác giả chọn để làm công trình nghiên cứu riêng của mình ở nhiều cấp độ khác nhau Tuy nhiên khi chọn đề tài nghiên cứu này tác giả nghiên cứu một cách chi tiết về từng diện và từng hàng thừa gắn với từng quy định của mỗi giai đoạn lịch sử phát triển của đất nước Trên cơ sở đó, tác giả so sánh với các quy định của một số nước quy định về diện và hàng thừa kế qua đó làm sáng

tỏ những quy định của pháp luật hiện hành và tìm ra những vướng mắc còn tồn tại trên thực tế và đề xuất kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về diện và hàng thừa kế

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về thừa kế

Chương 2: Diện và hàng thừa kế trong các quy định của pháp luật

Việt Nam

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật và phương hướng hoàn thiện

những quy định của pháp luật Việt Nam về diện và hàng thừa kế

Trang 12

Chương 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỪA KẾ

1.1 Khái niệm chung

1.1.1 Thừa kế và quyền thừa kế

Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được

pháp luật bảo vệ Điều 32, Hiến pháp 2013 quy định “Quyền sở hữu tư nhân

và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ” [27]

Từ điển tiếng Việt thừa kế là hưởng của người khác để lại cho Theo các tác giả của Giáo trình Luật dân sự - Trường Đại học Luật Hà Nội, thừa kế được hiểu là: Việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho những người còn sống Khái niệm này đã phản ánh chính xác bản chất cũng như nội dung thừa kế

Người có quyền thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam là công dân, tổ chức Quyền thừa kế thuộc về cá nhân được thể hiện theo hai chủ thể nhất định, đó là chủ thể để lại tài sản (quyền của người để lại di sản) và chủ thể hưởng thừa kế di sản (quyền của người nhận di sản) Quyền thừa kế thuộc về tổ chức được thể hiện theo một chủ thể nhất định, đó là chủ thể hưởng thừa kế di sản (và chỉ trong trường hợp thừa kế theo di chúc)

Những người được thừa kế theo quy định của pháp luật không phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi Người có hay không có năng lực hành vi hoặc người có năng lực hành vi không đầy đủ đều có quyền thừa kế Trong trường hợp này, người giám hộ sẽ thực hiện giúp những người này các quyền

và nghĩa vụ trong phạm vi tài sản của họ

Thừa kế luôn gắn với quan hệ sở hữu xuất hiện đồng thời với quan

hệ sở hữu và sự phát triển của xã hội loài người Khi nhà nước và pháp luật chưa ra đời thì quan hệ sở hữu và quan hệ thừa kế đã tồn tại như một tất

Trang 13

yếu khách quan Thừa kế xuất hiện phụ thuộc vào quan hệ sở hữu Nếu sở hữu là yếu tố quyết định thừa kế, thì thừa kế là phương tiện duy trì và củng

cố quan hệ sở hữu

Thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầm mống và xuất hiện ngay trong thời kỳ sơ khai của xã hội loài người - Chế độ Cộng sản Nguyên thủy Trong thời kỳ này, quan hệ thừa kế chỉ đơn thuần là một quan

hệ xã hội, việc thừa kế chỉ nhằm di chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống được tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống và do những phong tục tập quán riêng của từng bộ lạc, thị tộc quyết định

Khi nhà nước ra đời việc chiếm giữ của cải vật chất giữa người với người được điều chỉnh bằng pháp luật theo hướng có lợi cho giai cấp thống trị Nhà nước đã sử dụng pháp luật là công cụ để bảo vệ tài sản và quyền tài sản của người chết cho những người còn sống Lúc này các quan hệ thừa kế

và quan hệ sở hữu không chỉ tồn tại một cách khách quan với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế nữa, mà những quan hệ này đã bị ràng buộc bởi những quy phạm pháp luật và làm xuất hiện khái niệm quyền thừa kế

Xét thừa kế dưới góc độ là phạm trù kinh tế tồn tại khách quan thì quyền thừa kế là một phạm trù pháp lý chỉ phát sinh khi có nhà nước và pháp luật Nếu thừa kế là một quan hệ xã hội phát sinh ngay cả khi xã hội chưa phân chia giai cấp, chưa có nhà nước và pháp luật, thì quyền thừa kế lại là một quan hệ pháp luật chỉ ra đời và tồn tại trong xã hội đã phân chia giai cấp

và dẫn tới sự ra đời của nhà nước

Xét thừa kế dưới góc độ pháp luật dân sự, quyền thừa kế bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước đặt ra nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển tài sản từ người chết sang cho người khác còn sống theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định do pháp luật quy định Đồng thời, quy định quyền và nghĩa vụ cũng

Trang 14

như các phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ đó của những chủ thể trong quan hệ thừa kế

Xét thừa kế dưới góc độ là quyền năng dân sự, quyền thừa kế là những quyền năng cụ thể của chủ thể trong việc để lại di sản thừa kế và nhận

di sản thừa kế Đó là những cách thức mà các chủ thể được phép xử sự theo quy định của pháp luật: Được để lại di sản thừa kế như thế nào, phân định phần di sản cho từng người thừa kế ra sao, việc lập di chúc phải tuân thủ những yêu cầu gì, sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc trong điều kiện nào, ai là người được nhận di sản thừa kế, khi nào thì bị tước quyền hưởng di sản thừa kế, giao nghĩa vụ cho người thừa kế như thế nào, Trong các quan

hệ về thừa kế, các chủ thể chủ động hiện thực hóa những quyền năng đó để biến nó thành những quyền dân sự cụ thể qua đó đáp ứng được nhu cầu và

thực hiện được lợi ích cho bản thân mình

Tóm lại, quyền thừa kế là tổng thể các quy phạm pháp luật do các cơ

quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho cá nhân, tổ chức theo di chúc hoặc theo pháp luật, cũng như quy định phạm vi quyền, nghĩa vụ, phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế và được thực hiện theo những trình tự thủ tục nhất định

Pháp luật thừa kế ở nước ta trước hết nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động, tôn trọng thành quả lao động do họ làm ra cũng như chuyển kết quả đó cho những người thừa kế sau khi họ chết Mặt khác, quyền thừa kế

ở nước ta là một trong những phương tiện để củng cố và phát triển các quan

hệ hôn nhân gia đình, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể trong quan

hệ thừa kế, đặc biệt bảo vệ lợi ích của người chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động Qua đó góp phần bảo đảm quyền sở hữu cho mọi cá nhân trong xã hội

Trang 15

Như vậy thừa kế là sự dịch chuyển tài sản của một người đã chết sang cho người còn sống theo những trình tự luật định Quyền thừa kế của một cá nhân gắn bó chặt chẽ với quyền sở hữu của cá nhân đó Quyền sở hữu là tiền

đề, là cơ sở của quyền thừa kế và ngược lại, quyền thừa kế là căn cứ thiết lập quyền sở hữu mới Vì vậy, hệ thống pháp luật dân sự của tất cả các nước trên thế giới bao giờ cũng quy định về vấn đề thừa kế như là một phương thức bảo đảm quyền sở hữu của chủ sở hữu

1.1.2 Người để lại di sản thừa kế

Quyền để lại thừa kế là một quyền cơ bản của cá nhân được pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo hộ Pháp luật bảo hộ quyền sở hữu của mọi công dân đối với những thu nhập hợp pháp của mình Theo đó bất kỳ ai cũng có quyền quyết định đối với các loại tài sản thuộc quyền sở hữu riêng của mình

Vì thế cá nhân có quyền lập di chúc cho người khác hưởng tài sản thuộc quyền

sở hữu riêng của mình sau khi mình chết, nếu không có di chúc thì tài sản này được chia theo pháp luật

Quan điểm chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình xây dựng và tổ chức

thực hiện pháp luật thừa kế nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt của người

có tài sản là nguyên tắc hết sức quan trọng, một mặt đã ghi nhận sự bảo hộ của pháp luật đối với quyền về thừa kế, mặt khác nó còn thể hiện một cách đầy đủ nhất các quyền dân sự chủ quan của mỗi cá nhân trong việc định đoạt

toàn bộ tài sản của mình

Nội dung của nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt được ghi nhận khá đầy đủ trong BLDS 2005.Trước hết đối với cá nhân người để lại tài sản với tư cách là chủ sở hữu hợp pháp đối với những tài sản của mình, cá nhân

có quyền lập di chúc để thực hiện quyền định đoạt tài sản của mình sau khi chết Pháp luật không cho phép bất kỳ ai có hành vi cản trở, cưỡng ép, đe doạ người lập di chúc Người để lại thừa kế có thể thực hiện quyền định

Trang 16

đoạt thông qua hình thức di chúc viết hoặc di chúc miệng, có thể nhờ người làm chứng cho việc lập di chúc, có thể yêu cầu công chứng viên đến chỗ ở của mình để lập di chúc

Khi thực hiện quyền định đoạt trong di chúc, người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; phân định phần di sản cho từng người thừa kế, dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng, giao nghĩa vụ cho người thừa kế, chỉ định người giữ di chúc; người quản lý di sản, người phân chia di sản

Trong trường hợp di chúc đã được xác lập, nếu cần có sự thay đổi "ý nguyện" cũng như nội dung, người lập di chúc còn có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc huỷ bỏ di chúc vào bất kỳ lúc nào

Quyền định đoạt của cá nhân để lại di sản được thể hiện không những trong việc lập di chúc để định đoạt tài sản của họ, mà còn thể hiện ngay trong việc họ không lập di chúc để định đoạt tài sản để lại sau khi họ chết Đây cũng là một cách thể hiện ý chí của cá nhân bằng việc không lập di chúc để định đoạt tài sản của họ, mà ý chí đó thể hiện ở việc chỉ để lại di sản của họ cho những người có quyền thừa kế theo pháp luật

Như vậy pháp luật ghi nhận quyền định đoạt tài sản của người chết thông qua việc lập di chúc để chỉ định thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế Vì thế họ có quyền chỉ định bất cứ ai có thể là cá nhân trong hay ngoài diện thừa kế, thậm chí cũng có thể là nhà nước hoặc tổ chức nào đó

Cần lưu ý rằng, người để lại di sản chỉ có thể là cá nhân, không thể là các pháp nhân hay tổ chức Các pháp nhân hay tổ chức được thành lập với những mục đích và nhiệm vụ khác nhau và tài sản của các pháp nhân, tổ chức

đó nhằm để phục vụ cho các hoạt động của chính mình Khi các pháp nhân, tổ chức đó đình chỉ hoạt động của mình (phá sản, giải thể ) tài sản của các pháp nhân, tổ chức được giải quyết theo các quy định của pháp luật Các pháp

Trang 17

nhân, tổ chức chỉ tham gia quan hệ thừa kế với tư cách là người được hưởng

di sản theo di chúc

1.1.3 Người thừa kế

Người thừa kế là người hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân, tổ chức nhưng người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và phải có quan hệ hôn nhân, gia đình hoặc nuôi dưỡng đối với người để lại di sản Giữa người

để lại di sản và người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ pháp lý với nhau Người thừa kế có quyền sở hữu đối với phần di sản thừa kế, đồng thời họ phải gánh vác những nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản

Điều 635 BLDS năm 2005 quy định chỉ những người còn sống vào thời điểm mở thừa kế mới có năng lực hưởng thừa kế Tuy nhiên, đối với những người sắp sinh ra pháp luật cũng quy định họ cũng có thể là người thừa

kế nếu vào thời điểm mở thừa kế (lúc người để lại di sản chết) họ đã thành thai Nếu một người chưa thành thai vào thời điểm mở thừa kế hoặc thành thai trước thời điểm mở thừa kế nhưng sinh ra không sống thì không được hưởng

di sản thừa kế

Pháp luật quy định: Người thừa kế đang là thai nhi nếu sinh ra sau khi

mở thừa kế và phải còn sống Thực tế khó xác định được như thế nào là sinh

ra và còn sống Tại Điều 23, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định:

Trẻ em sinh ra sống được từ 24 giờ trở lên rồi mới chết cũng phải đăng ký khai sinh và đăng ký khai tử Nếu cha, mẹ không

đi khai sinh và khai tử, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch tự xác định nội dung để ghi vào Sổ đăng ký khai sinh và Sổ đăng ký khai tử Trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh và Sổ đăng ký khai tử phải ghi

rõ Trẻ chết sơ sinh [11]

Trang 18

Do vậy, có thể coi trường hợp này nhà nước chưa quản lý về hộ tịch của đứa trẻ dưới một ngày Như vậy có thể hiểu rằng, đứa trẻ sinh ra sau một ngày thì coi như là còn sống

Có quan điểm cho rằng, một đứa trẻ sinh ra phải có những căn cứ pháp lý, đó là giấy khai sinh mới được coi là một cá nhân trong xã hội Thực

tế, ở nhiều gia đình do không có điều kiện nên chưa làm giấy khai sinh được thì đứa trẻ sinh ra được coi là một cá nhân trong xã hội hay chưa? Có được thừa kế hay không? Thông thường một đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời đã là một con người trong xã hội Vì vậy, không có lý do gì mà không thừa nhận sự tồn tại của chúng trong xã hội Vấn đề này cũng cần được quy định cụ thể để tránh hiểu lầm và có căn cứ áp dụng pháp luật thống nhất

Hiện nay pháp luật đã thừa nhận sinh con bằng phương pháp khoa học kéo theo vấn đề phải xác định người thừa kế Theo quy định tại khoản 1, Điều 21, Nghị định 10/2015/NĐ-CP ngày 28 tháng 01 năm 2015 quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, việc gửi tinh trùng, gửi noãn, gửi phôi được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

- Người chồng hoặc người vợ trong những cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh;

- Người có nguyện vọng muốn lưu giữ cá nhân;

- Người tình nguyện hiến tinh trùng, hiến noãn, hiến phôi;

- Cặp vợ chồng vô sinh hoặc phụ nữ độc thân lưu giữ phôi còn dư sau khi thụ tinh trong ống nghiệm thành công

Khoản 2, Điều 21, Nghị định 10/2015/NĐ-CP ngày 28 tháng 01 năm

2015 quy định trường hợp người gửi tinh trùng, gửi noãn, gửi phôi bị chết mà

cơ sở lưu giữ tinh trùng, noãn, phôi nhận được thông báo kèm theo bản sao

Trang 19

giấy khai tử hợp pháp từ phía gia đình người gửi thì phải hủy số tinh trùng, noãn, phôi của người đó, trừ trường hợp vợ hoặc chồng của người đó có đơn

đề nghị lưu giữ và vẫn duy trì đóng phí lưu giữ, bảo quản

Như vậy, kéo theo vấn đề xác định cha cho con trong trường hợp này Theo khoản 4, Điều 21, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28 tháng 01 năm 2015 quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Người vợ hoặc người chồng sử dụng tinh trùng, noãn, phôi của người vợ hoặc người chồng bị chết làm phát sinh các quan hệ ngoài quan hệ hôn nhân gia đình thì thực hiện theo quy định của pháp luật hôn nhân gia đình và pháp luật dân sự Điều đó có nghĩa là đứa trẻ được sinh ra từ tinh trùng của người chồng để lại sau khi qua đời thì theo các quy định của pháp luật hiện hành,

kể từ thời điểm người chồng chết, quan hệ hôn nhân giữa hai người sẽ chấm dứt (Điều 65, Luật Hôn nhân gia đình năm 2014) Vì thế, việc nhận cha cho con được thực hiện theo quy định tại khoản 1, Điều 88 của luật Luật Hôn nhân gia đình năm 2014:

Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ

có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân… [28]

Đứa trẻ được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chồng chết thì về nguyên tắc, người chồng được xác định là cha của đứa trẻ Trường hợp đứa trẻ sinh ra sau 300 ngày kể từ thời điểm người chồng chết sẽ không được coi là con chung trong thời kỳ hôn nhân Vì vậy, nếu muốn xác định cha cho con thì phải làm thủ tục xác nhận cha cho con (khoản 3, Điều 102, Luật Hôn nhân gia đình năm 2014) Sau khi làm thủ tục xác nhận cha, người chồng mới được pháp luật thừa nhận là cha của đứa trẻ sinh ra

Trang 20

Người hưởng thừa kế theo di chúc còn có thể là các cơ quan, tổ chức phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì mới được hưởng di sản

Nếu như pháp luật quy định người thừa kế có quyền hưởng di sản thì cũng thừa nhận việc người thừa kế có quyền từ chối hưởng di sản Quyền từ chối này không được nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ tài sản của mình với người khác Khi người thừa kế từ chối nhận di sản thì họ phải thể hiện ý chí

từ chối đó bằng hình thức văn bản trong thời gian luật định và phải báo cho những người thừa kế khác cũng như cơ quan có thẩm quyền mà pháp luật quy định về việc họ từ chối nhận di sản Người thừa kế có quyền từ chối toàn bộ quyền hưởng di sản thừa kế cũng có thể từ chối quyền thừa kế theo di chúc là không từ chối quyền hưởng thừa kế theo pháp luật và ngược lại Như vậy tất

cả những người được hưởng di sản thừa kế hay chỉ một số ngời đủ điều kiện mới có quyền từ chối nhận di sản? Trường hợp người thừa kế chưa đủ 18 tuổi thì sẽ xử lý như thế nào? Đây là trường hợp cần quan tâm và quy định cụ thể hơn theo hướng muốn từ chối nhận di sản thì phải được sự đồng ý của cha,

mẹ, hoặc người giám hộ

Trang 21

Nam Để hiểu về diện thừa kế chúng ta phải tìm hiểu xung quanh các quy định của pháp luật để rút ra khái niệm

Theo các tác giả của giáo trình Luật dân sự - Đại học Luật Hà Nội

khái niệm diện thừa kế được hiểu là "phạm vi những người có quyền hưởng di

sản của người chết theo quy định của pháp luật" [41, tr.266]

Theo Tiến sĩ Phạm Văn Tuyết trong “Thừa kế - quy định của pháp

luật và thực tiễn áp dụng” của tác giả được hiểu diện thừa kế là phạm vi

những người được pháp luật xác định nằm trong diện có thể được hưởng di sản thừa kế theo quy định của pháp luật

Nhìn chung, các khái niệm đã phản ánh đầy đủ nội dung cũng như bản chất của diện thừa kế Diện thừa kế chỉ được đặt ra trong trình tự thừa kế theo pháp luật Mà pháp luật phụ thuộc rất nhiều vào quan hệ sản xuất của từng giai đoạn phát triển xã hội Vì thế ở mỗi một chế độ xã hội nhất định mà phạm vi những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật lại được quy định ở diện rộng hẹp khác nhau

Ở xã hội nào những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật đều có đặc điểm chung là những người thân thích gần gũi với người để lại di sản thừa

kế và do quan hệ hôn nhân và gia đình chi phối Pháp luật mỗi thời kỳ quy định khác nhau về phạm vi những người được hưởng di sản do đó kéo theo diện thừa kế theo pháp luật cũng được xác định rộng, hẹp khác nhau tùy vào từng giai đoạn lịch sử, điều kiện kinh tế, xã hội Ở Việt Nam, trước năm 1945 dưới thời Phong kiến tư tưởng trọng nam khinh nữ nặng nề đã ảnh hưởng sâu sắc đến việc xác định diện thừa kế Địa vị của người vợ trong quan hệ gia đình luôn bị đẩy xuống bậc thứ yếu so với các con và người chồng trong những quan hệ xã hội thông thường và ngay cả trong quan hệ thừa kế

Ngược lại với bản chất pháp luật thời kỳ phong kiến, pháp luật thừa

kế dưới chế độ mới ở nước ta đã được thể hiện rõ bản chất Ngay trong bản

Trang 22

Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Điều 9, Hiến pháp

1946 quy định: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện" [20],

trong đó người vợ có quyền thừa kế như những người con khác khi chồng chết trước Đặc biệt, khi sắc lệnh số 97-SL ngày 22 tháng 5 năm 1950 được ban hành, diện thừa kế theo pháp luật theo tinh thần của Điều 10 và Điều 11 bao gồm: con cháu, vợ hay chồng của người để lại di sản

Như vậy, diện thừa kế theo pháp luật dưới chế độ mới ở nước ta

kể từ năm 1945 đến nay luôn được xác định trên ba mối quan hệ với người để lại di sản

- Những người có quan hệ huyết thống với người để lại di sản;

- Những người có quan hệ hôn nhân với người để lại di sản;

- Những người có quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản

Một người có thể trở thành người thừa kế theo pháp luật đối với di sản của người chết thì giữa họ phải có mối quan hệ nhất định khi người để lại

di sản còn sống Mối quan hệ này là sợi dây ràng buộc họ bởi quyền của người này và nghĩa vụ của người kia hoặc là bổn phận và trách nhiệm giữa họ khi người để lại di sản còn sống Những mối quan hệ được bắt nguồn từ sâu

xa của giá trị đạo đức truyền thống cùng sự phù hợp với pháp luật của một chế độ xã hội nhất định

Theo BLDS hiện hành thì những người thuộc diện thừa kế gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, mẹ nuôi, cha nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh, chị, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; cụ nội, cụ ngoại của người chết, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại

Như vậy, diện thừa kế bao gồm các cá nhân còn sống có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản được

Trang 23

tính đến thời điểm mở thừa kế của người đó và những cá nhân sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Phạm vi những cá nhân thuộc diện thừa kế được xác định theo số người được pháp luật chỉ định trong các hàng thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản

* Hàng thừa kế

Khác với thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật phải xác định được người thuộc diện thừa kế là ai? Nhưng không phải tất cả những người thuộc diện thừa kế đều được hưởng di sản thừa kế như nhau, mà theo mức độ quan hệ với người để lại di sản thừa kế, pháp luật phân những người thuộc diện thừa kế thành các hàng thừa kế

Hàng thừa kế là những nhóm, người thừa kế được pháp luật xếp trong cùng một hàng Việc chia hàng thừa kế có ý nghĩa thiết thực, đảm bảo để những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước đó đã chết, hoặc do không có quyền hưởng di sản; hoặc bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản

Khái niệm hàng thừa kế là gì cũng không được quy định cụ thể trong

hệ thống pháp luật của Việt Nam và cũng chưa có tác giả nào đưa ra khái niệm chính xác, đầy đủ thể hiện rõ nội dung của hàng thừa kế

Điều 676 BLDS năm 2005 quy định những người thừa kế theo pháp luật được sắp xếp theo ba hàng thừa kế được sắp xếp dựa trên cơ sở mức độ thân thích với người để lại di sản Những người thừa kế ở hàng thứ nhất và hàng thứ hai đều có mối quan hệ huyết thống, hôn nhân, nuôi dưỡng với người để lại di sản, giữa họ đều có nghĩa vụ nuôi dưỡng, giám hộ và đại diện đương nhiên của nhau khi thỏa mãn các điều kiện phải giám hộ cho nhau nhất định Những người thừa kế ở hàng thứ ba được cơ cấu gồm nhiều thế hệ và

Trang 24

nhiều bậc trên dưới khác nhau theo quan hệ huyết thống nhưng giữa họ không

có sự ràng buộc về nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau

Tóm lại nguyên tắc phân chia di sản tuân theo trình tự hàng, người thừa kế ở hàng thứ nhất có quyền hưởng di sản trước tiên so với các hàng thừa kế sau Thừa kế theo hàng là thừa kế theo trật tự hàng gần hơn loại hàng

xa hơn, Thừa kế theo trật tự hàng mang tính tuyệt đối Pháp luật thừa kế của Việt Nam luôn đứng trên tinh thần bảo vệ quyền lợi cho những người có quan

hệ huyết thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng Tuy vậy tính ưu tiên trong quan

hệ thừa kế đó là những người thừa kế nằm trong mối quan hệ trực hệ với người để lại di sản Trong mối quan hệ trực hệ thì người nào gần nhất sẽ được

ưu tiên hưởng di sản hơn cả

1.2.2 Diện và hàng thừa kế theo quy định của một số nước trên thế giới

Trên thế giới mỗi quốc gia có hệ thống pháp luật riêng của mình, thậm chí trong cùng một quốc gia cũng tồn tại vài hệ thống pháp luật khác nhau Nhưng trong tất cả các hệ thống pháp luật đó có hai hệ thống pháp luật

có tính chất kinh điển và ảnh hưởng lớn nhất đó là truyền thống pháp luật lục địa (Civil law) và truyền thống pháp luật án lệ (Com mon law) Trong truyền thống pháp luật lục địa, cơ sở pháp luật dân sự là luật La Mã (Roman law), luật dân sự bắt nguồn trước tiên từ các nước châu Âu lục địa như Pháp, Đức, Italia các nước đã từng là thuộc địa của các nước này (như Việt Nam) sau

đó được thừa nhận ở hệ thống pháp luật phương Tây như Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc, bên cạnh đó, ở một số nước truyền thống luật án lệ cũng tồn tại BLDS, đó là Bang Québec (Canađa) và Bang Lowssiana (Hoa kỳ) Chính vì vậy, khi nghiên cứu PLVTK của một số nước trên thế giới, luận văn chỉ tập trung vào một số quốc gia nhất định, cụ thể: BLDS Pháp với ý nghĩa là BLDS điển hình trên thế giới BLDS Thái Lan, Nhật Bản là những quốc gia châu á gần gũi với Việt Nam

Trang 25

1.2.2.1 Diện và hàng thừa kế theo pháp luật Pháp

BLDS Pháp được ban hành 1804, phần thừa kế được quy định trong quyển 3, từ Điều 718 đến Điều 892 và chia thành 6 chương Bộ luật quy định người thừa kế chủ yếu dựa trên quan hệ huyết thống giữa người thừa

kế và người để lại di sản thuộc trực hệ hay bàng hệ và theo đó người thừa

kế được xác định theo trật tự ưu tiên trong việc hưởng di sản Trước hết di sản được truyền cho những người bề dưới không phân biệt độ tuổi, giới tính và không phụ thuộc vào hình thức hôn nhân của cha mẹ đều được hưởng di sản [14, Điều 745] Nếu không có những người thừa kế trực hệ dưới mình thì những người thừa kế trực hệ phía trên sẽ thừa kế di sản theo nguyên tắc người ở bậc gần nhất sẽ loại trừ người ở bậc xa hơn và mỗi người được hưởng một phần bằng nhau

Điều 737 BLDS Cộng hòa Pháp quy định trong dòng trực hệ có bao

nhiêu đời giữa mọi người là có bấy nhiêu bậc “Con cháu trực hệ là những người

thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất, những con thuộc bậc thứ nhất, cháu thuộc bậc thứ hai và cứ như thế cho đến vô tận” [14, Điều 737, 747]

Điều 738 BLDS Cộng hòa Pháp quy định trong dòng bàng hệ các bậc cũng được tính theo đời Ví dụ từ một người trong các thân thuộc đến ông tổ chung và không tính ông tổ chung rồi từ ông tổ chung tới người kia: anh em là bậc hai, chú cháu là bậc ba

Ngoài ra, pháp luật về thừa kế của cộng hòa Pháp còn quy định trường hợp bố, mẹ, các con của người chết không còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc người chết không có con, thì người là anh chị em hoặc các con của người đó được hưởng thừa kế

Ở Pháp quy định di sản được chia thành hai phần cho bên nội và ngoại của người chết rồi mới chia cho những người thừa kế tùy theo của bên nội Tức là bên nếu bên nội còn một người thừa kế, bên ngoại còn ba người

Trang 26

thừa kế thì người thừa kế bên nội sẽ nhận được phần di sản bằng ba người của bên ngoại Con cái được hưởng phần thừa kế của cả hai bên nội ngoại Đối với con cái cùng mẹ khác cha hoặc cùng cha khác mẹ thì được hưởng phần tùy theo họ của mình [14, Điều 733] Quy định này khá khác biệt so với Việt Nam Ở Việt Nam những người thừa kế cùng hàng được chia phần thừa kế như nhau

Đối với quyền thừa kế của vợ (chồng), vợ hoặc chồng chỉ được thừa

kế di sản của nhau trong trường hợp không có thân thuộc của bên vợ hoặc bên chồng chết trước Điều 765 BLDS cộng hòa Pháp quy định:

Khi người chết không còn thân thuộc đế bậc có thể thừa

kế hoặc chỉ để lại thân thuộc bàng hệ, không phải là anh, chị, em hoặc không thuộc của anh, chị, em tài sản thừa kế đương nhiên hoàn toàn thuộc về vợ (chồng) không ly hôn còn sống và không

có bản án xử ly thân đã có hiệu lực pháp luật Người vợ góa hoặc người chồng góa của người để lại di sản không thuộc bất kỳ một hàng thừa kế theo pháp luật nào của người đó [14, Điều 765] Một vấn đề rất quan trọng cũng được đề cập rất cụ thể trong BLDS của Pháp 1804, theo đó quy định thừa kế thế vị là một giả định của luật, những người thừa kế thế vụ được hưởng các quyền của người được thế vị Thừa kế thế vị có thể được áp dụng đối với tất cả các bậc của dòng trực hệ bề dưới

Trong dòng trực hệ bề dưới, thế vị đến vô hạn Thế vị được chấp nhận trong mọi trường hợp hoặc các con của người chết cùng hưởng di sản với các con cháu của người chết trước, hoặc tất cả các con của người chết đều chết trước người đó thì các con cháu của người con ấy sẽ ở những bậc ngang nhau hoặc không ngang nhau [14, Điều 740]

Trang 27

Bên cạnh đó thì BLDS nước cộng hòa Pháp còn quy định thêm trường hợp thừa kế thế vị ngay trong trường hợp bố, mẹ, cháu, chắt không còn sống bị tước quyền thừa kế

Như vậy ở Pháp quan hệ huyết thống thân thuộc giữa người thừa kế và người để lại di sản là quan điểm chủ đạo để xây dựng diện và hàng thừa kế, quan hệ hôn nhân không được xem xét trong việc xác định chủ thể có quyền thừa kế một cách độc lập mà luôn chị chi phối bởi quan hệ huyết thống, việc thừa kế giữa những người có quan hệ bàng hệ cũng bị giới hạn bởi thứ bậc

Quy định về thừa kế trong BLDS nước cộng hòa Pháp tác động và ảnh hưởng rất lớn tới các quy định về thừa kế trong pháp luật thừa kế của Việt Nam Các quy định rất rõ ràng, được sắp xếp khoa học Có thể nói BLDS Pháp là một bước tiến vượt bậc có ảnh hưởng sâu sắc tới thời điểm hiện nay

1.2.2.2 Diện và hàng thừa kế theo pháp luật Nhật Bản

Bộ luật dân sự Nhật Bản (được soạn thảo từ những năm đầu tiên của triều đại Meyji (1868 – 1912) có hiệu lực năm 1889), phần thừa kế là một trong những nội dung quan trọng của bộ luật

Quy định về hàng thừa kế: Bộ luật quy định về hàng và bậc ưu tiên hưởng di sản theo quan hệ huyết thống trực hệ bề dưới, trực hệ bề trên rồi mới tới bàng hệ Tại Điều 887 BLDS Nhật Bản đã nêu rõ con của người để lại di sản là người thừa kế, nếu con của người để lại di sản chết trước, bị truất quyền thừa kế trước thời điểm mở thừa kế do bị rơi vào các trường hợp không được hưởng thừa kế ở Điều 891 của BLDS này hoặc do quyết định của Tòa án thì con cái của người đó được hưởng thừa kế thay Có thể thấy quy định này có điểm khác biệt với quy định của nước ta đó là đối với những người không được quyền hưởng thừa kế thì con cháu của họ vẫn được hưởng, tuy vậy khá giống nhau tại điểm thừa kế thế vị đó là con được hưởng thừa kế thế vị khi cha mẹ của con chết trước hoặc chết cùng thời điểm với ông bà

Trang 28

Như vậy hàng thừa kế theo BLDS Nhật Bản thông qua Điều 887, và Điều 888 được xác định gồm ba hàng như sau:

Hàng thừa kế thứ nhất gồm con (cháu) trực hệ Hàng thừa kế này mang tính chất theo bậc và được thể hiện trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước người để lại di sản hoặc người con đó bị mất quyền hưởng di sản trong thời điểm mở thừa kế thì con cháu của người đó sẽ được thừa kế trong hàng

Hàng thừa kế thứ hai bao gôm những người có quan hệ huyết thống trực hệ bề trên với điều kiện giữa những người đứng ở mức độ khác nhau trong mối quan hệ huyết thống thì người nào gần hơn sẽ được ưu tiên hưởng di sản

Hàng thừa kế thứ ba gồm anh, chị, em ruột của người để lại di sản Quy định về chia thừa kế giữa những người cùng hàng Tại Điều 900 BLDS Nhật Bản thì việc chưa thừa kế cùng hàng nếu có từ hai người thừa kế cùng hàng trở lên thì khi vợ chồng, con cái là những người thừa kế cùng hàng thì vợ chồng được 1/3, con cái được 2/3 Khi vợ chồng và người thân trực hệ phía dưới là người thừa kế thì mỗi người được chia một nửa Khi vợ chồng và anh chị em ruột là người thừa kế thì vợ chồng được hưởng 2/3 còn anh chị em ruột được 1/3 Nếu có nhiều con cái hoặc người than trực hệ bề trên hoặc nhiều anh chị em ruột thì các phần chia thừa kế sẽ bằng nhau Ngoài ra, pháp luật của Nhật Bản còn quy định phân biệt con không hợp pháp chỉ bằng 1/2 phần được hưởng của anh chị em cùng cha mẹ đối với người để lại di sản Anh chị em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha sẽ được bằng 1/2 anh chị

em cùng cha cùng mẹ với người thừa kế Đây cũng là điểm đáng chú ý bởi theo luật Việt Nam thì chỉ có anh chị em ruột được hưởng thừa kế của nhau, anh chị em ngoài giá thú dù không hợp pháp theo quy định của pháp luật thì vẫn được hưởng thừa kế bằng nhau của cha mẹ

Trang 29

Trong BLDS Nhật Bản thì vợ chồng không được liệt vào hàng thừa

kế nào Tại Điều 890 BLDS Nhật Bản quy định “Vợ chồng của người để lại

thừa kế trở thành người thừa kế trong mọi trường hợp” [15] Trong trường

hợp có bất cứ người nào trở thành người thừa kế phù hợp với quy định của pháp luật Nhật Bản nêu trên thì trật tự thừa kế của vợ (chồng) sẽ sang hàng với người đó Như vậy nếu người thừa kế là các con của người chết thì người

vợ (chồng) sẽ được tính là người thừa kế cùng hàng với các con Nếu người chết không có con thì vợ (chồng) sẽ được tính cùng hàng với người thân trực

hệ hoặc cùng hàng với anh chị em ruột

1.2.2.2 Diện và hàng thừa kế theo pháp luật Thái Lan

BLDS và thương mại Thái Lan chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong pháp luật của nước này BLDS và thương mại Thái Lan có hiệu lực từ ngày 01/01/B.E 2468 theo lịch của vương quốc Thái Lan, tương đương với năm 1925 Bộ luật điều chỉnh toàn bộ các quan hệ phát sinh từ hoạt động thương mại và dân sự

Quyền thừa kế được quy định tại phần cuối cùng trong BLDS và thương mại Thái Lan từ Điều 1599 đến Điều 1755 được chia thành 6 phần

Về hàng thừa kế, theo quy định tại điều 1629 BLDS và thương mại Thái Lan:

Người thừa kế theo pháp luật được chia thành 6 loại, tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể, mỗi loại có quyền thừa kế theo thứ tự sau đây: 1 Con cái; 2 Bố, mẹ; 3 Anh, chị, em đồng huyết thống; 4 Anh, chị, em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha; 5 Ông, bà; 6 Chú, bác, cô, dì Người vợ (hay chồng) còn sống cũng

là người thừa kế theo pháp luật và chịu sự điều chỉnh của những quy định của Điều 1635 [40]

Theo tinh thần điều luật trên, thì con (các cháu) của người để lại di sản được thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất Quyền thừa kế của các cháu (các chắt)

Trang 30

được thực hiện trong trường hợp người cha, người mẹ của cháu chết trước hoặc chết cùng vào một thời điểm với người để lại di sản là ông bà nội, ngoại Vợ hoặc chồng của người để lại di sản không được quy định cụ thể trong một hàng thừa kế nhất định nào mà phụ thuộc vào các hàng và bậc thừa kế theo quan hệ huyết thống nội tộc của người để lại di sản Theo đó mà phần di sản người vợ hoặc người chồng được hưởng của nhau khi một bên chết trước, tuỳ thuộc vào người chồng hoặc người vợ đó được xếp cùng hàng thừa kế với những người

có quan hệ huyết thống ở bậc khác nhau của người để lại di sản

Luật thừa kế của Thái Lan quy định hàng thừa kế xen kẽ với bậc thừa

kế, thừa kế theo bậc được thực hiện khi người thuộc hàng thừa kế được hưởng

di sản đã chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản, thì các con (các cháu) của người đó được hưởng di sản, họ được gọi là người thừa kế đại diện

Như vậy, xuất phát từ điểm tương đồng về hoàn cảnh kinh tế, xã hội của Việt Nam và Thái Lan nên có rất nhiều quy định về thừa kế trong BLDS

và thương mại Thái Lan tương đồng với quy định của pháp luật nước ta

Tóm lại, trên cơ sở xem xét pháp luật thừa kế của một số quốc gia

trên thế giới, có thể khẳng định rằng thừa kế là một chế định đóng vai trò quan trọng trong pháp luật dân sự của mỗi nước Chính vì vậy, các quy định về thừa kế từ Bộ luật Napolion kinh điển cho đến BLDS của mỗi quốc gia đều tập trung vào các vấn đề: Ai là người thừa kế? Các phương thức để lại thừa kế? Phân định tài sản thừa kế như thế nào? Và tất cả đều có đặc điểm chung như sau:

Thứ nhất, Pháp luật thừa kế các nước nói trên luôn chú trọng bảo vệ

quyền thừa kế của những người có quan hệ huyết thống với người để lại di sản Quan hệ hôn nhân không được xem xét trong việc xác định chủ thể có quyền thừa kế một cách độc lập, mà luôn bị chi phối bởi quan hệ huyết thống,

Trang 31

sự chi phối đó được thể hiện ở vị trí hưởng di sản của người vợ goá, chồng goá được hưởng phần di sản nhiều hay ít đều phụ thuộc vào vị trí của người

vợ goá, người chồng goá đó được thừa kế ở hàng nào cùng những người có quan hệ huyết thống của người chết

Thứ hai, pháp luật thừa kế của các nước đều quy định các hàng thừa

kế theo pháp luật và đều có đặc điểm chung là hàng thừa kế xen kẽ với bậc thừa kế Thừa kế theo bậc được thực hiện khi người thuộc hàng thừa kế được hưởng di sản đã chết trước hoặc chết trong cùng một thời điểm với người để lại di sản, thì các con (các cháu) của người đó được hưởng di sản, họ được gọi

là người thừa kế đại diện

So với pháp luật các nước, ở Việt Nam bên cạnh những đặc điểm chung đó thì vẫn giữ được những sắc thái riêng như: diện và hàng thừa kế, thừa kế thế vị, thừa kế con sinh ra bằng phương pháp khoa học, con nuôi, con trong giá thú, con ngoài giá thú, thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế Sự khác nhau đó xuất phát từ phong tục, truyền thống văn hoá, cơ sở vật chất và

hoàn cảnh xã hội của mỗi nước

1.2.3 Tập quán của Việt Nam về thừa kế

Tập quán pháp là các quy phạm xã hội được thể hiện dưới dạng các phong tục hay tập quán, đã được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội trước đó, còn tiếp tục có tác dụng điều chỉnh trong xã hội, là cơ sở để hình thành nên các quy tắc xử sự chung và được nhà nước bảo đảm thực hiện

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam năm 2005, tập quán pháp được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự dựa trên cơ sở các tập quán được Nhà nước thừa nhận để điều chỉnh các quan hệ xã hội…

Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Đại học Luật Hà Nội năm 2011 thì tập quán pháp là hình thức của pháp luật tồn tại dưới dạng những phong tục, tập quán đã được lưu truyền trong đời sống

Trang 32

Từ khái niệm nêu trên có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của tập quán pháp như sau:

- Là những quy tắc xử sự chung tồn tại trong đời sống xã hội được Nhà nước thừa nhận để điều chỉnh các quan hệ xã hội

- Tập quán pháp được Nhà nước thừa nhận Để được coi là tập quán pháp thì bản thân quy phạm tập quán đó bắt buộc phải được Nhà nước thừa nhận bằng một trong hai cách: hoặc thông qua một quy định mang tính nguyên tắc cho mọi trường hợp, hoặc thông qua một quy định chi tiết cho từng trường hợp cụ thể

- Tập quán pháp điều chỉnh các quan hệ xã hội Với mục đích là điều chỉnh các hành vi sai lệch, trái với chuẩn mực xã hội nhằm tạo lập xã hội phát triển ổn định và lành mạnh

- Tập quán pháp có phạm vi điều chỉnh rộng, chứa đựng cả luật nội dung và luật hình thức Do tập quán được hình thành từ cộng đồng dân cư, từ đời sống xã hội, nên bản thân tập quán pháp có phạm vi điều chỉnh rộng trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội

Ngay từ xã hội phong kiến đây là khoảng thời gian mà văn hóa làng xã tồn tại và phát triển một cách mạnh mẽ Mỗi làng, xã đều có hương ước, phong tục, tập quán riêng tồn tại song song với các quy định của Nhà nước phong kiến Sự phát triển lớn mạnh của hệ thống phong tục, tập quán ở mỗi địa phương đã làm cho nó có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội và trong việc duy trì trật tự ứng xử, lối sống, cũng như các quy tắc trong xã hội Trong giai đoạn này, hệ thống các phong tục, tập quán ở mỗi địa phương thường được thừa nhận và áp dụng triệt để hơn là các quy định của Nhà nước phong kiến Dường như trong tâm trí mỗi người Việt Nam ở thời kì này đều tồn tại

tư tưởng “phép vua thua lệ làng” Hai Bộ luật đồ sộ nhất trong hệ thống các văn bản pháp luật của Nhà nước phong kiến Việt Nam là Bộ luật Hồng Đức

Trang 33

được ban hành dưới triều Lê và Bộ luật Gia Long được ban hành dưới triều Nguyễn Cả hai Bộ luật này đều thừa nhận những quy tắc xử sự tồn tại dưới dạng tập quán Ví dụ, Điều 314 (Điều 31, chương Hộ Hôn) Bộ luật Hồng Đức quy định như sau:

Người kết hôn mà không đủ sính lễ đến nhà cha mẹ (người con gái) (nếu cha mẹ chết cả, thì đem đến nhà người trưởng họ, hay nhà người trưởng làng để xin, mà thành hôn với nhau một cách cẩu thả thì phải biếm một tư và theo lệ sang hèn, bắt phải nộp tiền tạ cho cha mẹ (nếu cha mẹ chết cả thì nộp cho trưởng họ hay người trưởng làng), người con gái phải phạt năm mươi roi [42] Bên cạnh đó một tập quán rất tiến bộ trong Bộ luật Hồng Đức là tục lệ tôn trọng tục thờ cúng tổ tiên, luật thừa kế cho phép con gái trưởng được hưởng phần thừa kế hương hoả nếu gia đình không có con trai (Điều 308) Có thể nói thừa kế chính là điểm nổi bật nhất của luật pháp triều Lê

Hiện nay, theo Điều 3, Bộ luật Dân sự năm 2005, chỉ được áp dụng tập quán khi: (i) pháp luật không quy định và các bên không có thoả thuận; và (ii) tập quán không được trái với những nguyên tắc quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 Theo quy định này có thể hiểu rằng các bên trong giao dịch dân sự không được thỏa thuận về việc áp dụng tập quán Nghĩa là, khi phát sinh tranh chấp dân sự mà các bên lại thỏa thuận được về việc áp dụng tập quán để giải quyết và áp dụng tập quán này không trái với quy định pháp luật cũng không được chấp nhận

Vấn đề áp dụng tập quán được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật nhưng điển hình nhất là trong Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm

2005 Trong Bộ luật Dân sự năm 1995, tập quán pháp được thừa nhận là quy tắc xử sự trong nhiều lĩnh vực trong đó áp dụng tập quán để điều chỉnh các quan hệ về thừa kế (khoản 1, Điều 686)

Trang 34

Tương tự như trong Bộ luật dân sự năm 1995, trong Bộ luật năm 2005, tập quán được quy định một cách khá chi tiết, từ nguyên tắc áp dụng tập quán cho đến các quy tắc xử sự trong các chế định cụ thể Cụ thể: các quy định áp dụng tập quán để điều chỉnh các quan hệ về thừa kế Tại khoản 1, Điều 683 quy định thứ tự ưu tiên thanh toán di sản được xác định đầu tiên là chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng

Ngày 27 tháng 3 năm 2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 32/2002/NĐ-CP về việc áp dụng Luật hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số Trong Nghị định này, tập quán được đề cập khá toàn diện với hai nội dung: (i) khuyến khích phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc, duy trì các phong tục tập quán tiến bộ; (ii) bài trừ các phong tục tập quán lạc hậu, các hủ tục đã tồn tại từ lâu trong đời sống của các đồng bào dân tộc Ưu điểm của Nghị định này là đưa ra danh mục các phong tục, tập quán tốt đẹp về hôn nhân và gia đình được khuyến khích phát huy và danh mục các phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân gia đình bị nghiêm cấm

áp dụng hoặc cần vận động xóa bỏ

Các quy định bài trừ các phong tục, tập quán lạc hậu về quyền thừa

kế giữa vợ và chồng, về quyền bình đẳng giữa vợ và chồng, khoản 2 Điều

10 có quy định:

Các dân tộc có quan hệ gia đình theo chế độ phụ hệ hoặc mẫu hệ có các phong tục, tập quán không bảo đảm quyền bình đẳng giữa vợ và chồng, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và các tổ chức thành viên, các Già làng, Trưởng bản, các vị chức sắc tôn giáo vận động, thuyết phục người dân từng bước xoá bỏ sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ gia đình, bảo đảm vợ, chồng có các quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 [10]

Trang 35

Bên cạnh đó các quy định khác về thừa kế cũng được đề cập xóa bỏ,

khoản 1 Điều 12 có quy định: “Các phong tục, tập quán không bảo đảm quyền

thừa kế tài sản của nhau giữa vợ và chồng khi một bên chết, thì vận động xoá

bỏ phong tục, tập quán này nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của bên còn sống” [10]; về quan hệ giữa cha mẹ và các con, Điều 13 quy định: “Vận động xoá bỏ các phong tục, tập quán thể hiện sự phân biệt đối xử giữa con trai và con gái trong gia đình của các dân tộc theo chế độ phụ hệ hoặc mẫu hệ” [10] Tiêu

biểu chế độ mẫu hệ của người Ê Đê Người Ê Đê quan niệm quyền thừa hưởng

và quản lý gia sản là thuộc về người con gái cả Luật tục ghi rõ tài sản của tổ

tiên, cha mẹ (ngăn kdrăp) thuộc về người con gái cả quản lý Trong gia đình,

người chồng chỉ có quyền sử dụng tài sản chứ không có quyền sở hữu Điều này phù hợp với kiểu gia đình lớn trong xã hội truyền thống

Theo quan niệm của người Ê Đê, tài sản mà cha mẹ để lại là: nhà cửa, chiêng ché, trâu bò, gùi, chén, bát, chứ đất đai không phải là tài sản Vậy, quyền sở hữu của con trai đối với đất đai được thừa hưởng từ cha mẹ là điều hoàn toàn mới, không có trong luật tục Nhìn chung, người Ê Đê cho rằng con trai được quyền quản lý và sử dụng phần đất đai do bố mẹ cho và quyền này được giao cho con của anh ta khi anh ta chết Người vợ góa không

có quyền gì đối với đất đai của chồng Trong trường hợp không có con thì đất đai sẽ thuộc về dòng họ mẹ của anh ta

Tuy vậy hiện nay sự điều chỉnh của thiết chế mẫu hệ Ê Đê trong quá trình thích nghi với sự biến đối ngày một phù hợp hơn Nếu như người đàn ông

Ê Đê truyền thống không được đụng tới tài sản với tư cách là gia sản thì ngày nay, khi tách ra ở riêng, tài sản của gia đình nhỏ là do hai vợ chồng làm ra, thuộc về họ hoàn toàn Và như vậy, vấn đề sở hữu và thừa kế khó được giải quyết theo luật tục vì ngôi nhà mới là kết quả lao động của người đàn ông

Hầu hết các quy định hiện hành chỉ thừa nhận áp dụng tập quán mà

Trang 36

chưa quy định về nội dung của tập quán Các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 chỉ thừa nhận áp dụng tập quán nhất định mà không quy định rõ nội dung của những tập quán đó Thiếu quy định về nội dung của những tập quán này gây khó khăn và thiếu thống nhất cho các Tòa án trong quá trình áp dụng Như vậy, còn không ít vướng mắc trong thực tiễn công nhận và áp dụng tập quán ở nước ta Điều này cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa quy định pháp luật và thực tiễn Nguyên nhân cơ bản của những vướng mắc trong thực tiễn công nhận và áp dụng tập quán là các quy định pháp luật hiện hành về tập quán pháp còn nhiều hạn chế, khiếm khuyết Trong khi đó, Tòa án nhân dân tối cao cũng chưa ban hành hướng dẫn về công nhận và áp dụng tập quán trong công tác xét xử Thêm vào đó, chúng ta chưa có danh mục tập quán của

cả nước Hơn nữa, giữa các Tòa án cũng chưa có sự phối hợp chặt chẽ và chia

sẻ thông tin, kinh nghiệm về công nhận và áp dụng tập quán nhằm đạt được

sự thống nhất về vấn đề này Để nâng cao hiệu quả áp dụng tập quán pháp ở Việt Nam, những tồn tại này cần được giải quyết

1.2.4 Cơ sở của việc xác định diện và hàng thừa kế theo pháp luật

* Quan hệ huyết thống

Lễ giáo và truyền thống đạo đức của người Việt Nam vốn rất coi trọng dòng dõi cũng như tổ tiên đã sinh ra mình Những người có quan hệ huyết thống luôn có trách nhiệm thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau

Tục ngữ có câu “Một giọt máu đào hơn ao nước lã” không những phù hợp

với truyền thống đạo đức sống của người Việt Nam mà còn được pháp luật quy định Vì vậy quan hệ huyết thống là cơ sở quan trọng, cơ bản quy định diện thừa kế theo luật

Pháp luật về hôn nhân và gia đình bảo vệ lợi ích chính đáng của những người con xét về quan hệ huyết thống với cha mẹ và nghĩa vụ của người làm cha mẹ của con Quyền thừa kế của con không phụ thuộc vào hình

Trang 37

thức hôn nhân của cha mẹ Việc xác định quan hệ huyết thống giữa cha mẹ và các con là việc rất quan trọng nhằm bảo vệ những quyền lợi về tài sản và nhân thân cho cá nhân và là đạo lý của đời sống xã hội, với quan điểm mỗi người sinh ra đều có cội nguồn của mối quan hệ ruột thịt Quan hệ huyết thống là căn cứ để xác định nghĩa vụ và quyền lợi của các chủ thể trong quan hệ gia đình và xã hội, bên cạnh đó nó còn là căn cứ để xác định trách nhiệm hay nghĩa vụ giám hộ, đại diện cho nhau trong các quan hệ dân sự và xã hội khác Thông qua quan hệ huyết thống với cha mẹ ta mới có thể xác định được mối quan hệ huyết thống khác như ông bà, anh chị em ruột…

Pháp luật Việt Nam ghi nhận, cụ thể hóa các quyền, nghĩa vụ trong mối quan hệ huyết thống cụ thể tại Điều 36, Điều 47, Điều 48, Luật HN&GĐ năm 2000 tiếp nối là Luật HN&GĐ năm 2014 quyền và nghĩa vụ ngày càng cụ

thể hơn từ Điều 68 đến Điều 87, mục 1, chương V, Luật HN&GĐ năm 2014

Theo mức độ quan hệ với người để lại di sản, BLDS năm 2005 phân những người thuộc diện thừa kế theo huyết thống vào các hàng thừa

kế khác nhau

* Quan hệ hôn nhân

Hôn nhân là sự gắn bó giữa nam và nữ để trở thành một gia đình, một

tế bào của xã hội Trong đó họ phải cùng nhau tạo dựng những nền tảng vững chắc về mặt kinh tế để đảm bảo cho cuộc sống gia đình ổn định và việc nuôi dạy con cái tốt Đồng thời, họ cũng phải có những trách nhiệm và bổn phận đối với nhau do pháp luật quy định và trên cơ sở đạo đức truyền thống của người Việt Nam

Quan hệ hôn nhân là quan hệ vợ chồng cho đến thời điểm mở thừa kế phải được xác định là hôn nhân hợp pháp Quan hệ hôn nhân hợp pháp là quan hệ vợ chồng tuân thủ những quy định của pháp luật hôn nhân về độ tuổi,

ý chí tự nguyện, phạm vi quan hệ huyết thống khi kết hôn…

Trang 38

Sự thừa nhận của pháp luật đối với hôn nhân là cơ sở để bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của vợ chồng trong mối quan hệ tài sản chung, trong nghĩa vụ đối với con cái, nghĩa vụ vợ chồng đối với nhau và với người thứ ba

Ở nước ta trải qua giai đoạn lịch sử dài, nhiều tồn tại và các quy định

về hôn nhân gia đình tại các thời kì có nhiều điểm khác nhau ảnh hưởng tới các quy định pháp luật về hôn nhân và thừa kế cũng có nhiều điểm khác nhau Tuy vậy pháp luật hiện nay chỉ thừa nhận chế độ một vợ, một chồng Đây là

cơ sở và căn cứ giải quyết các chế độ khác kéo theo trong mối quan hệ này ngày một tiến bộ và đi vào đời sống phù hợp hơn

Khi kết hôn, quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng phát sinh và được pháp luật bảo vệ Việc kết hôn không chỉ gắn bó giữa hai người với nhau về tình cảm mà còn làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa hai người về tài sản,

vợ chồng là hàng thừa kế thứ nhất của nhau theo quy định tại khoản 1, Điều

676 BLDS năm 2005

* Quan hệ nuôi dưỡng

Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ được xác lập dựa trên cơ sở nuôi con nuôi được pháp luật thừa nhận Mối quan hệ này nhằm đảm bảo cho trẻ em quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng; tránh những điều bất hạnh thiệt thòi cho những đứa trẻ vốn đã không được hưởng điều kiện và sự quan tâm từ chính cha mẹ mình Xuất phát từ bổn phận của người nuôi dưỡng đối với con nuôi quan hệ nuôi dưỡng trở thành một cơ sở cần thiết cho việc xác định diện thừa

kế theo pháp luật

Việc nuôi con nuôi nhằm gắn bó tình cảm giữa người nuôi và con nuôi trong quan hệ cha, mẹ và con cái, bảo đảm người con nuôi chưa thành niên được nuôi dưỡng chăm sóc tốt

Trong quan hệ nuôi dưỡng điều kiện để cha, mẹ nuôi và con nuôi được thừa kế tài sản của nhau là việc con nuôi được pháp luật thừa nhận Pháp luật chỉ thừa nhận và xác định quan hệ nuôi dưỡng giữa cha, mẹ nuôi và

Trang 39

con nuôi trong trường hợp nhận con nuôi không trái với luân thường đạo lý, mục đích xã hội như bóc lột sức lao động dùng con nuôi vào mục đích xấu xa phạm pháp Điều kiện quan trọng để việc nhận con nuôi là hợp pháp là phải tuân theo các nguyên tắc của Luật Nuôi con nuôi 2010 và phải được UBND công nhận và ghi vào sổ hộ tịch

Ngoài ra, giữa con riêng với cha dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì cũng được thừa kế di sản của nhau

Mối quan hệ giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi và mối quan hệ giữa con riêng với cha dượng, mẹ kế nếu được pháp luật thừa nhận thì họ sẽ là hàng thừa kế thứ nhất của nhau

Các quan hệ huyết thống, hôn nhân, nuôi dưỡng là những quan hệ tình cảm có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Pháp luật nước ta dựa vào

ba quan hệ này để xác định diện và hàng thừa kế theo pháp luật Ba mối quan

hệ này có tính độc lập tương đối vì quan hệ này là tiền đề của quan hệ kia Tuy nhiên, từng quan hệ được xác định theo quy định của pháp luật giữa người để lại di sản và người thừa kế Có sự xác định những người thừa kế theo pháp luật giúp ngăn chặn được sự mất đoàn kết trong dòng tộc và có tác dụng giáo dục ý thức sống, ý thức pháp luật cho những người thừa kế

Trang 40

Tiểu kết chương 1

Pháp luật về thừa kế ra đời ngay từ thời kỳ sơ khai của xã hội loài người Qua các thời kỳ lịch sử, khi số lượng của cải xã hội ngày càng gia tăng dẫn đến các tranh chấp về thừa kế cũng đa dạng và phong phú hơn Để hạn chế các tranh chấp trong quan hệ thừa kế, các quy phạm pháp luật về thừa kế

đã ra đời Sự phát triển không ngừng của đời sống kinh tế - xã hội, các quan

hệ xã hội nảy sinh Các quy định của pháp luật về thừa kế nói chung và thừa

kế theo pháp luật nói riêng đã có nhiều bất cập trong tiến trình phát triển của pháp luật qua các thời kỳ

BLDS 2005 ra đời, hơn 9 năm thực hiện thực tiễn đã cho thấy các quy phạm pháp luật thừa kế trước đây đã được sửa đổi một số điều ngày một phù hợp với xã hội thực tiễn

Ngày đăng: 08/07/2015, 23:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Mạnh Bách (1993), Chế độ hôn sản và thừa kế trong luật Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ hôn sản và thừa kế trong luật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Mạnh Bách
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1993
2. Trần Hữu Biền và Đinh Văn Thanh (1995), Hỏi đáp về pháp luật thừa kế, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về pháp luật thừa kế
Tác giả: Trần Hữu Biền và Đinh Văn Thanh
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 1995
3. Bộ Tư pháp (1956), Thông tư số 1742-BNC ngày 18/9/1956 quy định một số vấn đề về thừa kế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 1742-BNC ngày 18/9/1956 quy định một số vấn đề về thừa kế
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 1956
4. Bộ tư pháp (2013), Báo cáo số 151/BC-BTP tổng kết thi hành Bộ luật dân sự năm 2005 ngày 15 tháng 7 năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 151/BC-BTP tổng kết thi hành Bộ luật dân sự năm 2005 ngày 15 tháng 7 năm 2013
Tác giả: Bộ tư pháp
Năm: 2013
5. Bộ tư pháp (2013), Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế triển khai hoạt động khảo sát về “Thực tiễn thi hành một số chế định của Bộ luật Dân sự năm 2005 phục vụ công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật dân sự”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn thi hành một số chế định của Bộ luật Dân sự năm 2005 phục vụ công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật dân sự
Tác giả: Bộ tư pháp
Nhà XB: Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế
Năm: 2013
6. Chính phủ (1950) Sắc lệnh số 97/ SL của Chủ tịch nước ngày 22/5/1950 sửa đổi một số quy lệ và chế định trong Dân luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 97/ SL của Chủ tịch nước ngày 22/5/1950 sửa đổi một số quy lệ và chế định trong Dân luật
7. Chính phủ (1960), Sắc lệch số 02/SL của Chủ tịch nước ngày 13/01/1960 về việc công bố Luật Hôn nhân và Gia đình ngày 29/12/1959, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệch số 02/SL của Chủ tịch nước ngày 13/01/1960 về việc công bố Luật Hôn nhân và Gia đình ngày 29/12/1959
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1960
8. Chính phủ (2000), Nghị định số 70/NĐ-CP ngày 03/10/2000 quy định chi tiết về thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 70/NĐ-CP ngày 03/10/2000 quy định chi tiết về thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2000
9. Chính phủ (2001), Nghị định số 77/NĐ-CP ngày 22/10/2001 quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 77/NĐ-CP ngày 22/10/2001 quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2001
10. Chính phủ (2002), Nghị định số 32/2002/NĐ-CP về việc áp dụng Luật hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 32/2002/NĐ-CP về việc áp dụng Luật hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
11. Chính phủ (2005), Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
12. Nguyễn Ngọc Điện (1999), Một số suy nghĩ về thừa kế trong Bộ luật dân sự Việt Nam, NXB Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số suy nghĩ về thừa kế trong Bộ luật dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Điện
Nhà XB: NXB Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1999
13. Nguyễn Ngọc Điện (2001), Bình luận khoa học về thừa kế trong Bộ luật Dân sự, NXB Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học về thừa kế trong Bộ luật Dân sự
Tác giả: Nguyễn Ngọc Điện
Nhà XB: NXB Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2001
14. Nguyễn Thế Giai, Lê Duy Lương, Lê Kim Quế, Vũ Thiện Kim (1998), Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Pháp
Tác giả: Nguyễn Thế Giai, Lê Duy Lương, Lê Kim Quế, Vũ Thiện Kim
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1998
15. Lê Hồng Hạnh (1993), Bộ luật Dân sự Nhật Bản, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự Nhật Bản
Tác giả: Lê Hồng Hạnh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1993
16. Lê Hương Lan (1996), "Tìm hiểu các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam trong thời kỳ phong kiến", Tòa án nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam trong thời kỳ phong kiến
Tác giả: Lê Hương Lan
Năm: 1996
17. Ph. Ăngghen (1972), Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của Nhà nước, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của Nhà nước
Tác giả: Ph. Ăngghen
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1972
18. Nguyễn Ngọc Hồng Phượng (2005), Một số bất cập trong quy định về quyền thừa kế của Bộ luật dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bất cập trong quy định về quyền thừa kế của Bộ luật dân sự
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hồng Phượng
Năm: 2005
19. Quốc hội (2000), Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2000
20. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1946), Hiến pháp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 1946

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1:   Thống  kê  số  lượng  vụ  án  giải  quyết  tranh  chấp - Diện và hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam
Bảng 3.1 Thống kê số lượng vụ án giải quyết tranh chấp (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w