1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích tác động của nhân tố cơ bản tới lạm phát ở VN

44 577 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Tác Động Của Nhân Tố Cơ Bản Tới Lạm Phát Ở VN
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 2,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những thay đổi quan trọng mà VN cần phải thực hiện để theo kịp đà tiến của các nước trong khu vực là phải mở rộng thị trường cho các đối tác thương mại và cho phép tư nhân tham gia vào mọi hoạt động KT, nhanh chóng mở cửa thị trường nội địa cho các nhà đầu tư quốc tế trong các lĩnh vực dịch vụ và chế tạo, đồng thời bãi bỏ hàng rào thuế quan đánh trên các mặt hàng NK

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2

LỜI MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT 7

1.1 Các quan điểm của các nhà KT học về lạm phát 7

1.2 Đo lường lạm phát 8

1.3 Các nguyên nhân chính của lạm phát 10

1.4 Các cấp độ của lạm phát 12

1.5 Tác động của lạm phát 15

1.6 Đôi điều về lạm phát ở VN 17

1.7 Kiềm chế lạm phát 22

Chương II CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LẠM PHÁT 24

2.1 Tỷ lệ lạm phát 24

2.2 Mối quan hệ giữa tiền tệ và lạm phát 24

2.3 Mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất 30

2.4 Lạm phát, thất nghiệp và sản lượng 33

2.5 Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát 37

CHƯƠNG III PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ TỚI LẠM PHÁT42 3.1 Các biến số của mô hình 42

3.2 Một số điều về lạm phát ở Viêt Nam trong thời gian qua 42

3.3 Mô hình và các kết luận 47

3.4 Mô hình ARIMA với phương pháp Box- Jenkin; Ứng dụng dự báo lạm phát ở VN 55

3.5 Các biện pháp hạn chế lạm phát 68

Trang 2

CHƯƠNG IV

KẾT LUẬN VÀ CÁC KIẾN NGHỊ 75

4.1 Một số nhận xét về lạm phát đầu năm 2008 75

4.2 Quan hệ lạm phát – tăng trưởng 75

4.3 Kiến nghị 76

TỔNG KẾT 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CP: Chính phủ

CSTT: Chính sách tiền tệ

KT: Kinh tế

ng.s: Ngân sách

NHNN: Ngân hàng nhà nước

NHTM: Ngân hàng thương mại

NHTW: Ngân hàng trung ương

NK: Nhập khẩu

TC: Tài chính

VN: Việt Nam

XH: Xã hội

XK: Xuất khẩu

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 07/11/2006 đã đánh dấu một sự kiện quan trọng là VN chính thứctrở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), đánhdấu bước chuyển mình mới của nền KT VN với nhiều cơ hội và thách thứcmới Một trong những thay đổi quan trọng mà VN cần phải thực hiện để theokịp đà tiến của các nước trong khu vực là phải mở rộng thị trường cho các đốitác thương mại và cho phép tư nhân tham gia vào mọi hoạt động KT, nhanhchóng mở cửa thị trường nội địa cho các nhà đầu tư quốc tế trong các lĩnh vựcdịch vụ và chế tạo, đồng thời bãi bỏ hàng rào thuế quan đánh trên các mặthàng NK Tiến trình mở rộng KT nhanh hơn và nhiều hơn đã gây nguy hạicho các nhà sản xuất trong nước cũng như sách lược phát triển KT-XH của

CP Để hội phập KT thế giới VN đã phải thay đổi rất nhiều: điều chỉnh và banhành thêm những điều luật mới, thay đổi chính sách tiền lương, điều chỉnh lạigiá cả Sự thay đổi KT qua nhanh cùng với những biến động của thị trườngthế giới đã đưa đến tình trạng bong bóng đầu tư, giá cả hàng hoá tăng nhanh,lạm phát trong khi đó thì năng lực quản lý cũng như các công cụ điều tiếtnền KT của CP còn chưa theo kịp và chưa thực sự phát huy hiệu quả, dẫn đếnhậu quả là lạm phát ngày càng cao, gây khó khăn cho đời sống của nhiều tầnglớp dân cư đặc biệt là người nghèo Lạm phát có ảnh hưởng tiêu cực đến nền

KT vì nó làm giảm năng suất lao động, lạm phát bóp méo mức độ khan hiếmtương đối (phản ánh qua giá cả) của các nguồn lực sản xuất và do đó bóp méocác quyết định đầu tư và sự phân bổ của các nguồn lực khan hiếm này Lạmphát còn làm giảm mức khấu trừ thực tế cho phép trong thuế DN đối với khấuhao tài sản cố định và làm tăng giá thuê tư bản, do đó làm giảm tích luỹ vốn.Trong thời kỳ có lạm phát, hàm lượng thông tin liên quan đến biến động giá

Trang 5

cả giảm đi, dẫn đến các nhà đầu tư có thể mắc sai lầm trong việc đưa ra quyếtđịnh đầu tư của mình, hiệu quả KT giảm, chi phí sản xuất tăng cao, nhiều

DN sẽ phải ngừng sản xuất, giá cả hàng hoá tăng sẽ gây nhiều khó khăn chođời sống dân cư khi mà tiền lương và lãi suất không kịp thích ứng Tuy nhiên,trước những khó khăn và thách thức mới buộc Viêt Nam phải tự mình nỗ lựcvươn lên, CP không ngừng tìm kiếm và cải thiện các công cụ, chính sách điềutiết để khắc phục và giải quyết hậu quả, các DN phải tự đổi mới sản xuất đểcải thiện lợi nhuận Thách thức cũng là cơ hội để cho VN phát triển, hội nhậpthế giới

Mục đích nghiên cứu

Nhận thức được tầm quan trọng vấn đề lạm phát, đặc biệt là trong quátrình hội nhập của nước ta hiện nay, qua thời gian ngắn thực tập tại Viện khoa

học TC, em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “ phân tích tác động của nhân tố

cơ bản tới lạm phát ở VN” nhằm đi sâu và tìm hiểu rõ hơn về vấn đề lạm

phát, từ đó vận dụng vào thực tế, đưa ra những dự báo và giải pháp về vấn đềnày

Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành chuyên đề thực tập này, em đã sử dụng phương phápphân tích KT, phân tích thống kê và mô hình KT lượng Phần mềm được sửdụng trong phân tích là Eviews

Giới hạn nghiên cứu

Do lạm phát là một đề tài nghiên cứu mang tầm vĩ mô, do trình độ vàthời gian có hạn nên trong đề tài nghiên cứu chuyên đề thực tập của mình, emchỉ tập trung đi sâu vào nghiên cứu và phân tích các tác động của các nhân tốtới lạm phát, đưa ra một số kết luận, dự báo, đề ra một số các giải pháp khắcphục

Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận thì kết cấu chuyên đề thực tập của em

Trang 6

được chia làm bốn phần:

Chương I: Tổng quan về lạm phát

Chương II: Các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát

Chương III: Phân tích tác động của các nhân tố tới lạm phát

Chương IV: Kết luận và các kiến nghị

Trong quá trình hoàn thiện đề tài này em đã được sự giúp đỡ nhiệttình của các anh chị ở Phòng dự án-Bộ TC, chú Bùi Ngọc Tuyến-Viện khoahọc TC, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình, chu đáo của thầy Nguyễn Khắc Minh,

cô Nguyễn Thị Minh Em xin chân trọng cảm ơn những sự giúp đỡ quí báutrên đã giúp em hoàn thành chuyên đề thực tập của mình

Đây là một đề tài cấp thiết, lĩnh vực nghiên cứu ở phạm vi vĩ mô, vớinhiều lý thuyết và cách thức phân tích Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do vốnkiến thức và trình độ còn hạn chế nên chuyên đề thực tập của em không tránhkhỏi những thiếu sót, em mong nhận được những sự đóng góp ý kiến của cácthầy cô và các bạn

Trang 7

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT1.1 Các quan điểm của các nhà KT học về lạm phát

Trong KT học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chungcủa nền KT Trong một nền KT, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảmsức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền KT khác thì lạm phát là sựphá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác Thông thườngtheo nghĩa đầu tiên thì ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền

KT của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì ta hiểu là lạm phát của mộtloại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu

Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển và cận đại thì lạm phátdưới chủ nghĩa tư bản là sự tràn ngập trên các kênh lưu thông một khối lượngdấu hiệu giá trị (tiền giấy) quá thừa dẫn đến làm mất giá từng phần dấu hiệugiá trị so với mệnh giá danh nghĩa của nó Khi đó các nhà kinh tế cho rằngkhối lượng tiền bơm ra lưu thông lớn hơn khối lượng tiền cần thiết hay sứchấp thụ của thị trường hàng hóa; Biểu hiện của hiện tượng này là tiền giấymất giá so với hàng, với vàng, với ngoại tệ Người dân không muốn giữ tiền

và không muốn đem tiền đến gửi tại các ngõn hàng mà chuyển vào đầu tưtrực tiếp hoặc ồ ạt rút tiền về để mua sắm bất động sản, tích trữ vàng Kết quả

là hệ thống ngõn hàng thì thiếu tiền mặt nghiêm trọng, nạn khất nợ trở thànhphổ biến trong khi tiền ngoài lưu thông tràn ngập, các nhu cầu vay qua ngõnhàng bị từ chối vì không có nguồn để đáp ứng, người có hàng thì mặc sứctăng giá với tốc độ lớn hơn tốc độ lạm phát, người có thu nhập bằng tiền thì bịtước đoạt dần Cũng theo các nhà kinh tế học cổ điển thì dường như nạn lạmphát dưới chủ nghĩa tư bản là hoàn toàn do ý chí chủ quan của giai cấp bóc lột

Trang 8

thông qua quyền thao túng hệ thống các Ngân hàng (trước hết là ngõn hàngphát hành) gây ra Từ đó họ đã nhìn lạm phát như một tai hoạ từ phía thể chế

mà muốn khắc phục nó hầu như chỉ có thể thông qua một cuộc cách mạng tưsản

Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại thì lạm phát là một cănbệnh kinh niên của mọi nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ Nó không có bản chấtgiai cấp mà chỉ có bản chất kinh tế Nó có tính thường trực, nếu không thườngxuyên kiểm soát, không có những giải pháp chống lạm phát thường trực, đồng

bộ và hữu hiệu thì lạm phát có thể xẩy ra ở bất cứ nền kinh tế hàng hoá nàovới bất kỳ chế độ xã hội nào Các nhà kinh tế này cho rằng biểu hiện của lạm

phát là: khi mức chung của giá cả hàng hoá và chi phí sản xuất đồng thời tăng lên một cách phổ biến trong một khoảng thời gian đủ dài để nhận rõ xu hướng

này Do đó nếu giá cả chỉ tăng ở một vài nhóm hàng mang tính đột biến hay

tính thời vụ thì phải loại bỏ các yếu tố đó theo cách tính chỉ số lạm phát cơbản Lạm phát phản ánh thuần tuý quan hệ hàng - tiền trên một qui mô phổbiến và có một thời gian đủ dài để khẳng định xu hướng của nó Nguyên nhâncủa lạm phát bao gồm một tổ hợp rất nhiều nhân tố trong đó có thể chia rathành một số nhóm chủ yếu là: Lạm phát do cầu kéo; Lạm phát do chi phíđẩy; Lạm phát do mất cân đối cơ cấu kinh tế và Lạm phát do tình trạng không

ổn định về kinh tế - chính trị - xã hội tạo thành tâm lý đẩy giá lên và đồng tiền

bị mất uy tín trong nền kinh tế Trong các nhân tố nói trên thỡ ba nhóm nhân

tố đầu tiên có tác động mang tính thường xuyên và cơ bản nhất đến các cấp

độ phát sinh của lạm phát

1.2 Đo lường lạm phát

Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cả củamột lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền KT (thông thường dựatrên dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước, mặc dù các liên đoàn lao

Trang 9

động và các tạp chí kinh doanh cũng làm việc này) Giá cả của các loại hànghóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một mức giá cả trung bình, gọi

là mức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm Chỉ số giá cả là tỷ lệ mức giá trung bình ở thời điểm hiện tại đối với mức giá trung bình của nhóm hàng tương ứng ở thời điểm gốc Tỷ lệ lạm phát thể hiện qua chỉ số giá cả là tỷ

lệ phần trăm mức tăng của mức giá trung bình hiện tại so với mức giá trung bình ở thời điểm gốc Để dễ hình dung có thể coi mức giá cả như là phép đo

kích thước của một quả cầu, lạm phát sẽ là độ tăng kích thước của nó

Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trịcủa chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóatrong chỉ số, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực KT mà nó được thựchiện Các phép đo phổ biến của chỉ số lạm phát bao gồm:

Chỉ số giá sinh hoạt (viết tắt tiếng Anh: CLI): là sự tăng trên lý thuyết

giá cả sinh hoạt của một cá nhân so với thu nhập, trong đó các chỉ số giá tiêudùng (CPI) được giả định một cách xấp xỉ Các nhà KT học tranh luận vớinhau là có hay không việc một CPI có thể cao hơn hay thấp hơn so với CLI

dự tính Điều này được xem như là "sự thiên lệch" trong phạm vi CPI CLI cóthể được điều chỉnh bởi "sự ngang giá sức mua" để phản ánh những khác biệttrong giá cả của đất đai hay các hàng hóa khác trong khu vực (chúng daođộng một cách rất lớn từ giá cả thế giới nói chung)

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): đo giá cả các hàng hóa hay được mua bởi

"người tiêu dùng thông thường" một cách có lựa chọn Trong nhiều quốc giacông nghiệp, những sự thay đổi theo phần trăm hàng năm trong các chỉ số này

là con số lạm phát thông thường hay được nhắc tới Các phép đo này thườngđược sử dụng trong việc chuyển trả lương, do những người lao động mongmuốn có khoản chi trả (danh định) tăng ít nhất là bằng hoặc cao hơn tỷ lệ tăngcủa CPI Đôi khi, các hợp đồng lao động có tính đến các điều chỉnh giá cảsinh hoạt, nó ngụ ý là khoản chi trả danh định sẽ tự động tăng lên theo sự tăng

Trang 10

của CPI, thụng thường với một tỷ lệ chậm hơn so với lạm phỏt thực tế (vàcũng chỉ sau khi lạm phỏt đó xảy ra)

Chỉ số giỏ sản xuất (PPI): đo mức giỏ mà cỏc nhà sản xuất nhận được

khụng tớnh đến giỏ bổ sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu Nú khỏc với CPI

là sự trợ cấp giỏ, lợi nhuận và thuế cú thể sinh ra một điều là giỏ trị nhận đượcbởi cỏc nhà sản xuất là khụng bằng với những gỡ người tiờu dựng đó thanhtoỏn Ở đõy cũng cú một sự chậm trễ điển hỡnh giữa sự tăng trong PPI và bất

kỳ sự tăng phỏt sinh nào bởi nú trong CPI Rất nhiều người tin rằng điều nàycho phộp một dự đoỏn gần đỳng và cú khuynh hướng của lạm phỏt CPI "ngàymai" dựa trờn lạm phỏt PPI ngày "hụm nay", mặc dự thành phần của cỏc chỉ

số là khỏc nhau, một trong những sự khỏc biệt quan trọng phải tớnh đến là cỏcdịch vụ

Ở VN, lạm phỏt thường được hiểu là sự tăng lờn trong tỷ số giỏ tiờudựng

1.3 Cỏc nguyờn nhõn chớnh của lạm phỏt

1.3.1 Lạm phỏt do cầu kộo

Lạm phát do cầu kéo thực chất là do sự mất cân đối về cung - cầu hànghoá dịch vụ mà trong đó cầu có khả năng thanh toán lớn hơn so với cung hànghoá hoặc tốc độ gia tăng tổng phơng tiện thanh toán lớn hơn tốc độ gia tăng củasản xuất, kết quả là trên thị trờng, hàng hoá khan hiếm tơng đối so với tiền do

đồng thời cả hai nhóm nguyên nhân hàng và tiền Nền sản xuất lạc hậu, kémphát triển, năng suất lao động thấp, năng lực sản xuất đã hầu nh đạt tới giá trịsản lợng tiềm năng trong điều kiện trình độ hiện tại nhng tiền vẫn đợc bơm raquá sức hấp thụ thông qua các van: Chi ngân sách quá lớn so với nguồn thu,

mở quá rộng biên độ của hạn mức tín dụng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc quá nhỏ, lãisuất tái cấp vốn quá thấp, hệ thống thị trờng vốn vừa thiếu, vừa không hoàn hảotrong khi ngoại tệ tràn vào nhiều càng tạo thành những "hợp lực" kích cầu lên

Trang 11

1.3.2 Lạm phỏt chi phớ đẩy

Lạm phát chi phí đẩy là hiện tựơng mặt bằng giá cả thị trờng bị đẩy lên dochi phí sản xuất gia tăng quá mức trung bình mà nền kinh tế có thể chịu đựng đ-ợc: Tăng giá nguyên, nhiên vật liệu; Tốc độ tăng tiền lơng lớn hơn tốc độ tăngnăng suất lao động quân bình; Chi phí khấu hao lớn trong khi thiết bị lại lạchậu, tiêu tốn nhiều nguyên liệu và sức lao động nhng năng suất thấp; Chi phígián tiếp chiếm tỷ trọng quá cao trong tổng chi phí cho phép làm cho (C+V)chiếm tỷ trọng quá lớn trong tổng giá cả (C+V+M) Đặc điểm của loại lạm phátchi phí đẩy là thờng diễn ra trong điều kiện nền sản xuất cha đạt tới mức giá trịsản lợng tiềm năng so với năng lực hiện tại Lạm phát này xuất hiện thờng đồngthời kéo tốc độ suy thoái kinh tế rất nhanh và khó khắc phục hơn nhiều so vớichống lạm phát cầu kéo ;

1.3.3 Lạm phỏt do mất cõn đối cơ cấu KT

Lạm phát do mất cân đối cơ cấu kinh tế xuất hiện khi có quan hệ khôngbình thờng trong các cân đối cơ bản của nền kinh tế nh Công nghiệp - Nôngnghiệp, Công nghiệp nặng - Công nghiệp nhẹ; Sản xuất - dịch vụ; Xuất - nhậpkhẩu và Tích luỹ - tiêu dùng Các quan hệ nói trên không đợc đặt trong mộthoàn cảnh kinh tế cụ thể để có định hớng cân đối một cách hợp lý sẽ lập tức gây

ra hiện tợng đông cứng một bộ phận nguồn lực kinh tế, giữa chúng khôngchuyển hoá đợc cho nhau tạo ra một trạng thái vừa thừa, vừa thiếu các năng lựcsản xuất một cách giả tạo Vì vậy, còn có thể gọi nhóm nguyên nhân gây ra loạilạm phát này là sự ách tắc các nguồn vốn Các lợi thế so sánh giữa các vùngtrong nội bộ nền kinh tế và lợi thế so sánh giữa các quốc gia không đợc khaithác làm cho sức phát triển bị "đóng băng" hoá

1.3.4 Lạm phỏt do cầu thay đổi

Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về mộtmặt hàng khỏc lại tăng lờn Nếu thị trường cú người cung cấp độc quyền vàgiỏ cả cú tớnh chất cứng nhắc phớa dưới (chỉ cú thể tăng mà khụng thể giảm),

Trang 12

thỡ mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn khụng giảm giỏ Trong khi đú mặt hàng

cú lượng cầu tăng thỡ lại tăng giỏ Kết quả là mức giỏ chung tăng lờn, nghĩa làlạm phỏt

1.3.5 Lạm phỏt do XK

XK tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩm đượchuy động cho XK khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảmkhiến tổng cung thấp hơn tổng cầu Lạm phỏt nảy sinh do tổng cung và tổngcầu mất cõn bằng

1.3.6 Lạm phỏt do NK

Sản phẩm khụng tự sản xuất trong nước được mà phải NK Khi giỏ NKtăng (do nhà cung cấp nước ngoài tăng giỏ như trong trường OPEC quyếtđịnh tăng giỏ dầu, hay do đồng tiền trong nước xuống giỏ) thỡ giỏ bỏn sảnphẩm đú trong nước cũng tăng Lạm phỏt hỡnh thành khi mức giỏ chung bị giỏ

NK đội lờn

1.3.7 Lạm phỏt tiền tệ

Cung tiền tăng (chẳng hạn do NHTW mua ngoại tệ vào để giữ cho đồngtiền ngoại tệ khỏi mất giỏ so với trong nước; hay chẳng hạn do NHTW muacụng trỏi theo yờu cầu của nhà nước) khiến cho lượng tiền trong lưu thụngtăng lờn là nguyờn nhõn gõy ra lạm phỏt

1.3.8 Lạm phỏt đẻ ra lạm phỏt

Khi nhận thấy cú lạm phỏt, cỏ nhõn với dự tớnh duy lý sẽ cho rằng tớiđõy giỏ cả hàng húa sẽ cũn tăng, nờn đẩy mạnh tiờu dựng hiện tại Tổng cầutrở nờn cao hơn tổng cung, gõy ra lạm phỏt

1.4 Cỏc cấp độ của lạm phỏt

Trong lịch sử tiền tệ trên thế giới, ngời ta chia lạm phát ra thành 4 cấp độkhác nhau để có những giải pháp chống lạm phát thích ứng: Các cấp độ của lạmphát gồm:

Trang 13

1.4.1 Lạm phát ỳ:

Là mức độ lạm phát thấp nhất từ 0% đến không quá vài % Cấp độ lạmphát này chủ yếu phản ánh tính khách quan tuyệt đối của hiện tượng lưuthông hàng hoá- tiền tệ trong điều kiện chế độ tiền giấy Lạm phát này có thểlặp đi lặp lại trong một chuỗi thời gian dài và nếu chỉ có nó, người ta có thểchủ động tính vào thành các chỉ tiêu cân bằng trung hoà của nền kinh tế.Người ta chấp nhận và sẵn sàng chung sống hoà bình với loại lạm phát được

ví như căn bệnh kinh niên này của lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ;

1.4.2 Lạm phát vừa:

Mức độ cao hơn từ trên vài % đến mức lớn hơn không nhiều so với tốc

độ tăng trưởng kinh tế hàng năm được gọi là lạm phát vừa phải hay lạm phátkiểm soát được Đối với loại này thì tuỳ theo chiến lược và chiến thuật pháttriển kinh tế mỗi thời kỳ mà các Chính phủ có thể chủ động định hướng mứckhống chế trên cơ sở duy trì một tỷ lệ lạm phát là bao nhiêu để gắn với một sốmục tiêu kinh tế khác: Kích thích tăng trưởng kinh tế, tăng cường xuất khẩu

và giảm tỷ lệ thất nghiệp trong các năm tài khoá nhất định Tuy nhiên chỉ cóthể chấp nhận có lạm phát vừa phải trong điều kiện nền kinh tế còn chưa đạttới giá trị sản lượng tiềm năng so với điều kiện hiện tại, khi mà nhiều nhân tốcủa sản xuất vẫn còn nằm trong tình trạng ngủ yên hoặc chưa có phương ánkhả thi để phát huy các tiềm năng đó Khối tiền tệ chung Châu âu EC và một

số nước bắc Âu như Thuỵ Điển, Na Uy, Đan mạch đã điều hành CSTT bằng

cơ chế NHTW đảm bảo lạm phát mục tiêu Nghĩa là NHTW sử dụng công cụCSTT để duy trì và đảm bảo một mức lạm phát mục tiêu giao động xungquanh một chỉ số CPI được xác định là 2% hoặc 3%/năm và nhỏ hơn tốc độtăng trưởng GDP trong năm Cơ chế này đã và đang phát huy nhiều tác dụngtích cực ít nhất trong vòng 5 năm qua;

1.4.3 Lạm phát phi mã:

Trang 14

Là cấp độ cao thứ 3 có tỷ lệ lạm phát bình quân /năm từ mức trung bìnhcủa 2 con số đến đỉnh cao của 3 con số Đây là tỷ lệ lạm phát vượt ra ngoàikhả năng kiểm soát của NHTW Giải pháp để chống lại hiện tượng lạm phátnày đòi hỏi phải là sự tổng lực của toàn nền kinh tế quốc dân trong các nỗ lựcthắt chặt tiền tệ, đẩy mạnh sản xuất, tăng cường đầu tư, thu hút mạnh cácnguồn vốn, kích thích đầu tư trong nước, cải cách lại cơ cấu kinh tế, nâng caotrình độ công nghệ, tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho lưu thông hànghoá và đẩy mạnh sản xuất hàng thay thế nhập khẩu để tăng cung cho nội bộnền kinh tế đang tràn ngập quá mức tổng phương tiện thanh toán ? nước ta

từ năm 1985 đến 1988 đã phải chứng kiến và chống đỡ với cấp độ lạm phátnày;

1.4.4 Cấp độ siêu lạm phát:

Là hiện tượng khủng hoảng kinh tế đã đến mức rất nghiêm trọng Tỷ lệlạm phát đã lên đến trên 3 con số, thậm chí người ta không thể đo lạm phátbằng số % mà là bằng số lần tăng giá trong năm Thế giới đã từng kinh hoàng

về nạn siêu lạm phát ở Đức trong các năm từ 1921 đến 1923 sau đại chiến thếgiới thứ nhất Đây là mức siêu lạm phát lớn nhất trong lịch sử tiền tệ trên thếgiới tính cho đến nay: Chỉ số giá trong vòng 22 tháng từ 1/1921 đến 11/1923tăng tới 10 triệu lần; Kho tiền của Đức trong 2 năm đó tăng 7 tỷ lần tổng giátrị danh nghĩa Tính tước đoạt của cuộc siêu lạm phát này được lượng hoábằng con số kinh khủng: Nếu ai đó có một tấm ngân phiếu 300 triệu DM thìchỉ sau 2 năm nói trên, giá trị thực của tấm ngân phiếu này hầu như chỉ còn lại

là số 0; Cuộc siêu lạm phát lớn thứ 3 xẩy ra ở Mỹ thời kỳ nội chiến 1860:Riêng trong năm 1860 giá cả hàng hoá tăng lên 20 lần = 2000%, người ta đãmiêu tả bằng hình ảnh về cuộc lạm phát này rằng tiền mang đi chợ phải đựngbằng sọt, còn hàng hoá mua đựơc thì bỏ vào túi áo, mọi hàng hoá trên thịtrường trở nên cực kỳ khan hiếm trừ tiền Cuộc siêu lạm phát gần đây và là

Trang 15

cuộc lạm phát lớn thứ 2 trong lịch sử kinh tế hàng hoá - tiền tệ thế giới (chỉsau cuộc siêu lạm phát ở Đức) xẩy ra ở Nam Tư bắt đầu từ 5/1992 đến hếtnăm 1994: Chỉ tính riêng tỷ giá 6 tháng cuối năm 1993, giá cả hàng hoá tănghơn 25 lần: Tiền lương năm 1991 của công chức bình quân 5.300 Đina /thángtương đương với 400 USD thì năm 1993 tiền lương bình quân tăng lên 2 tỷĐina /tháng nhưng chỉ tương đương với 6 USD /tháng Tuy nhiên, siêu lạmphát là một hiện tượng kinh tế cực kỳ hiếm, nó thường xuất hiện gắn liền vớicác cuộc chiến tranh thế giới hoặc nội chiến khốc liệt

Vậy một điều cần rút ra là: Dù theo quan điểm nào chăng nữa thì nóichung lạm phát vẫn là một hiện tượng KT khách quan và là đối tượng cầnđặc biệt quan tâm của mọi CP Trong nền KT hàng hoá - tiền tệ nói chung,nền KT thị trường nói riêng, người ta không thể chối bỏ lạm phát nhưng nếu

có nhận thức đúng bản chất KT của nó thì vẫn có thể chế ngự và kiểm soátđược lạm phát Mặt khác nguyên nhân của lạm phát là không hoàn toàn dochiếc máy bơm tiền của NHTW tạo ra mặc dù suy cho cùng thì bản chất củalạm phát vẫn là hiện tượng kinh tế được nẩy sinh trong mối quan hệ khôngtương thích một cách phổ biến giữa cung và cầu hàng hoá trong cơ chế thịtrường mà ở đây, "cung" là hàng và "cầu" là tiền Cần phải bình tĩnh nhậnđịnh và chủ động chế ngự các khả năng bùng nổ những nhân tố tiềm ẩn củalạm phát

1.5 Tác động của lạm phát

1.5.1 Lạm phát dự kiến: trong trường hợp lạm phát có thể được dự kiến

trước thì các thực thể tham gia vào nền KT có thể chủ động ứng phó với nó,tuy vậy nó vẫn gây ra những tổn thất cho XH:

1.5.1.1 Chi phí mòn giày: lạm phát giống như một thứ thuế đánh vàongười giữ tiền và lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạmphát nên lạm phát làm cho người ta giữ ít tiền hơn hay làm giảm cầu về tiền

Trang 16

Khi đó họ cần phải thường xuyên đến ngân hàng để rút tiền hơn Các nhà KT

đã dùng thuật ngữ "chi phí mòn giày" để chỉ những tổn thất phát sinh do sựbất tiện cũng như thời gian tiêu tốn mà người ta phải hứng chịu nhiều hơn sovới không có lạm phát

1.5.1.2 Chi phí thực đơn: lạm phát thường sẽ dẫn đến giá cả tăng lên,các DN sẽ mất thêm chi phí để in ấn, phát hành bảng giá sản phẩm

1.5.1.3 Làm thay đổi giá tương đối một cách không mong muốn: trongtrường hợp do lạm phát DN này tăng giá (và đương nhiên phát sinh chi phíthực đơn) còn DN khác lại không tăng giá do không muốn phát sinh chi phíthực đơn thì giá cả của DN giữ nguyên giá sẽ trở nên rẻ tương đối so với DNtăng giá Do nền KT thị trường phân bổ nguồn lực dựa trên giá tương đối nênlạm phát đã dẫn đến tình trạng kém hiệu quả xét trên góc độ vi mô

1.5.1.4 Lạm phát có thể làm thay đổi nghĩa vụ nộp thuế của các cá nhântrái với ý muốn của người làm luật do một số luật thuế không tính đến ảnhhưởng của lạm phát Ví dụ: trong trường hợp thu nhập thực tế của cá nhânkhông thay đổi nhưng thu nhập danh nghĩa tăng do lạm phát thì cá nhân phảinộp thuế thu nhập trên cả phần chênh lệch giữa thu nhập danh nghĩa và thunhập thực tế

1.5.1.5 Lạm phát gây ra sự nhầm lẫn, bất tiện: đồng tiền được sử dụng

để làm thước đo trong tính toán các giao dịch KT, khi có lạm phát cái thướcnày co giãn và vì vậy các cá nhân khó khăn hơn trong việc ra các quyết địnhcủa mình

1.5.2 Lạm phát không dự kiến:

Đây là loại lạm phát gây ra nhiều tổn thất nhất vì nó phân phối lại của cảigiữa các cá nhân một cách độc đoán Các hợp đồng, cam kết tín dụng thườngđược lập trên lãi suất danh nghĩa khi lạm phát cao hơn dự kiến người đi vayđược hưởng lợi còn người cho vay bị thiệt hại, khi lạm phát thấp hơn dự kiến

Trang 17

người cho vay sẽ được lợi còn người đi vay chịu thiệt hại Lạm phát không dựkiến thường ở mức cao hoặc siêu lạm phát nên tác động của nó rất lớn.

Các nhà KT có quan điểm rất khác nhau về quy mô của các tác động tiêucực của lạm phát, thậm chí nhiều nhà KT cho rằng tổn thất do lạm phát gây ra

là không đáng kể và điều này được coi là đúng khi tỷ lệ lạm phát ổn định và ởmức vừa phải Khi lạm phát biến động mạnh, tác động XH của nó thông quaviệc phân phối lại của cải giữa các cá nhân một cách độc đoán rõ ràng là rấtlớn và do vậy CP của tất cả các nước đều tìm cách chống lại loại lạm phátnày

1.6 Đôi điều về lạm phát ở VN

Mức lạm phát hàng năm ở VN đột nhiên nhẩy vọt lên 8.3% trong 6 thángđầu của năm 2004 ngoài tầm ước đoán 3.5% - 4.5% của nhà nước và các cơquan TC quốc tế như Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), Ngân Hàng Phát Triển ÁChâu (ADB), và Ngân Hàng Thế Giới Chỉ số giá tiêu thụ (CPI) tiếp tục tăngtrong bảy tháng của năm 2004 CPI tăng tới 9.1% vào cuối tháng 7 năm 2004

so với một năm về trước Nếu giá cả tiếp tục theo chiều hướng này, mức lạmphát có thể lên tới 12% cho trọn năm 2004 Nhưng trước hết chúng ta duyệtlại tình trạng giá cả ở VN trong hơn hai thập niên vừa qua

1.6.1 Lạm phát và giảm phát trong giai đoạn 1980-2003

Trong thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, VN trải qua một nạn lạmphát phi mã Mức lạm phát gia tăng từ 125% vào năm 1980 lên đến 487% vàonăm 1986 Sau khi chính sách “đổi mới” và thả lỏng giá cả được thi hành,mức lạm phát giảm xuống 4.2% vào năm 1999 Nạn lạm phát phi mã tronggần hai thập niên gây ra bởi một lý do chính là nhà nước tài trợ ng.s thiếu hụtbằng cách in thêm tiền Ngoài ra nhu cầu của dân chúng, nhất là về thực phẩmthì nhiều mà hàng hoá sản xuất ra thì quá ít Ng.s thiếu hụt vì phải nuôi

Trang 18

khoảng 200,000 quân đóng ở Kampuchia trong khi không nhận được mộtđồng viện trợ nào của Tây phương Còn viện trợ của cựu Liên Bang Xô Viết

và các nước XH chủ nghĩa Đông Âu bị giảm nhanh chóng rồi chấm dứt vàocuối thập niên 1980

Trong khoảng thời gian từ 1992 trở về sau lạm phát ở mức thấp dưới10% Ba yếu tố chính ảnh hưởng đến hiện tượng lạm phát trong giai đoạn này

là mức sản xuất thực phẩm nội địa, giá thực phẩm trên thị trường quốc tế đặcbiệt là giá gạo, và giá xăng dầu và ảnh hưởng của nó trên chi phí chuyên trở.Mức lạm phát ở mức 4.0% và 3.6% lần lượt vào 2002 và 2003

Đặc biệt vào đầu thập niên thứ nhất của thế kỷ 21 Việt Nam trải quagiảm phát nhẹ ở mức -1.6% vào năm 2000 và -0.4% vào năm 2001 Giảmphát là trường hợp ngược lại với lạm phát, có nghĩa là giá cả hạ thấp, và kếtquả là làm tăng giá trị của đồng tiền so với hàng hoá và dịch vụ Một hậu quảcủa sự giảm phát là mức thất nghiệp gia tăng Mức tiêu thụ suy giảm vì ngườimua có khuynh hướng đình hoãn chi tiêu để chờ đợi cho giá cả xuống thấphơn nữa

1.6.2 Những nguyên nhân trực tiếp của lạm phát

1.6.2.1 Giá thực phẩm gia tăng, một phần do dịch cúm gà vào đầu năm.Chúng ta nên nhớ rằng thực phẩm chiếm 48% trong công thức tính chỉ số giátiêu thụ dùng làm căn bản để đo lường mức lạm phát Từ tháng Sáu 2003 đếntháng Sáu 2004 giá thực phẩm đã tăng 14.5% Ngoài giá thực phẩm, côngthức tính giá tiêu thụ còn dùng giá của một số sản phẩm tiêu thụ và dịch vụ

1.6.2.2 Mức cầu nội địa gia tăng Mức cầu này gồm có hai phần chính:tiêu thụ tư nhân và đầu tư Kể từ năm 2002, mức cầu nội địa vừa là sức mạnhđáng kể nhất, hơn cả xuất cảng, đã đẩy KT đi lên Tuy nhiên mức cầu nội địacũng làm tăng áp lực lạm phát

1.6.2.3 Hoạt động KT gia tăng Độ phát triển của VN đã dần dần phục

Trang 19

hồi, từ 5.5% trong năm 2000 lên 6% trong năm 2003, và ước đoán khoảng 7%trong năm 2004 tuy rằng vẫn thua con số 9.5% của năm 1995 trước khi cócuộc khủng hoảng TC Á châu Theo IMF, tín dụng đã gia tăng thái quá trongcác năm 2002 và 2003 ở mức 45% và 28% Đây là điều đáng ngại cho sự hoạtđộng an toàn của hệ thống ngân hàng VN Năm NHTM của nhà nước hiệnnay kiểm soát 80% thị trường tài chánh của VN Những ngân hàng này lạiđược lệnh của nhà nước ưu tiên cho các xí nghiệp quốc doanh vay.

1.6.2.4 Nhà nước tăng lương cho nhân viên trong năm 2003 Chi phí vềlương bổng nhân viên tương đương với 3.5% của tổng sản phẩm nội địa(GDP) trong năm 2002, tăng lên đến 4.1% của GDP trong năm 2003 và 3.9%trong năm 2004 Ngoài ra kế hoạch cải tổ lương bổng và an sinh XH cho nhânviên trong khu vực dịch vụ công cộng và hành chính mới bắt đầu vào tháng

Tư năm 2004 cũng làm tăng áp lực lạm phát

1.6.2.5 Chi phí sản xuất tăng vì giá nguyên liệu và thuế tăng Kể từ đầunăm 2004, việc thu chính thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế trị giá gia tăng đã tănggiá xe hơi và bia hộp lần lược là 20% và 10% Cũng bắt đầu từ đầu năm 2004,

CP VN bãi bỏ bao cấp đối với dầu hỏa và các biến chế phẩm và đồng thời chophép các công ty dầu tự ấn định giá bán, nhưng không được cao hơn giá cănbản của nhà nước 10% và đối với dầu Kerosene là 5% Vào giữa tháng Sáu,

CP VN quyết định tăng giá dầu hỏa và các sản phẩm chế biến 17.2% Trongkhi đó giá thép tăng 15.4% Giá vàng, dầu hỏa, phân bón, vật liệu xây dựng,gạo và nói chung là nông phẩm trên thị trường quốc tế đều gia tăng trongnhiều tháng vừa qua

1.6.2.6 Đồng tiền VN mất giá ít so với đồng USD nhưng mất giá đáng

kể so với các ngoại tệ khác (Euro, Yen, ) Mức sụt giá của đồng VN so vớiUSD là khoảng 3% trong năm 2004 và 4% trong năm 2005 Trong tháng Bavừa qua lần đầu tiên giá của đồng USD vuợt lên trên 16,000 đồng VN Sự mấtgiá của đồng tiền VN sẽ khiến cho giá hàng VN nhập cảng tăng Tuy nhiên,

Trang 20

ảnh hưởng tích cực của nó là làm cho giá hàng xuất cảng của VN rẻ hơn và dễcạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế và đây là ưu tiên số một của VN

1.6.2.7 Một nghiên cứu của IMF cho thấy rằng thay đổi của hối suất ảnhhưởng lớn trên hàng nhập cảng tuy nhiên không ảnh hưởng đến giá hàng tiêuthụ vì công thức tính CPI gồm nhiều sản phẩm và dịch vụ không hoán đổi (cónghĩa là chỉ tiêu thụ được tại chỗ)

1.6.3 Những nguyên nhân gián tiếp của lạm phát

1.6.3.1 Khu vực quốc doanh là một gánh nặng về ng.s quốc gia và cảntrở cho sự phát triển KT: Vào cuối năm 2003, tổng số vốn của 4,800 xí nghiệpquốc doanh là 12.1 tỉ USD so với số nợ là 13.6 tỉ USD

1.6.3.2 Nhà nước có bốn NHTM chính và hai NHTM nhỏ Vào cuốinăm 2000, tổng số nợ xấu của các ngân hàng này là 23 ngàn tỉ đồng, tươngđương với 5% của tổng sản lượng nội địa (GDP) Tỉ lệ vốn trên tài sản củacác NHTM nhà nước là 3% so với chỉ tiêu quốc tế là 8%-12% NHTW củanhà nước đã phải bơm vào các NHTM nhà nước 9.25 ngàn tỉ đồng Tỉ lệ tíndụng trên GDP tăng từ 19% trong năm 1995 lên đến 45% trong năm 2002 do

sự cho vay bừa bãi

1.6.3.3 Cán cân thương mại thiếu hụt gia tăng Con số cho năm 2003 là5.1 tỉ USD kể cả chi phí chuyên chở, tương đương với 13% cuả GDP Lý do

là VN nhập cảng nhiều máy móc và nguyên liệu dùng trong kỹ nghệ chế biến.Khuynh hướng này sẽ tiếp tục trong các năm tới

1.6.3.4 Ng.s thâm hụt gia tăng Một mặt lợi tức thuế sẽ giảm vì nhiềuthuế suất về xuất nhập cảng giảm theo hiệp định thương mại AFTA và ba nămsắp tới (2005-2007) theo BTA, và việc hội nhập vào nền KT thế giới Lợi tức

về dầu thô và thu nhập của các xí nghiệp quốc doanh sẽ giảm Mặt khác nhànước lại phải tiêu nhiều hơn vì chi phí cho việc cải tổ các DN và NHTM nhànước, tăng lương cho nhân viên CP và xây dựng hạ tầng cơ sở

Trang 21

1.6.4.1 Để giảm bớt sự gia tăng của mức lạm phát nhà nước đã cho thihành một số biện pháp tài chánh và tiền tệ sau đây: 1 Cắt giảm ng.s chi tiêu10% trong 5 tháng còn lại của năm 2004; 2 Cấm tăng giá của một số hàng vàdịch vụ do các xí nghiệp quốc doanh sản xuất hay kiểm soát như viễn thông,chuyên chở, vàng, gạo, xi măng, thuốc, dầu xăng, điện và thép; 3 Tiếp tụcbiện pháp giảm thuế nhập cảng dầu lọc Ngoài ra NHNN VN ra lệnh theo dõisát việc cung cấp tín dụng mà trong thời gian vừa qua đã vượt quá xa tiêuchuẩn quốc tế, một trong những nguyên nhân làm tăng mức lạm phát

1.6.4.2 Trước áp lực về giá cả gia tăng đột ngột, NHNNVN đã cho rằnggiá cả gia tăng hiện nay không đồng nghĩa với mức lạm phát cao và khôngđồng ý gia tăng lãi suất trong lúc này, có lẽ vì sợ làm cản trở đầu tư và pháttriển KT Lý do này xem ra hợp lý vào cuối tháng Sáu vừa qua vì lạm phát ở8.3% chưa phải là cao so với thập niên 1980 và ngay cả thập niên 1990 Thậtvậy, mức lạm phát trung bình hàng năm của VN từ 1993 đến 2003 là 6% Tuynhiên trong tháng Bảy, tình hình đã rõ hơn Đã đến lúc NHNNVN cần ápdụng biện pháp tăng lãi suất và giảm mức cho vay Các biện pháp này sẽ làm

KT phát triển chậm lại, nhưng VN sẽ không có chọn lựa nào khác hơn là ưutiên ngăn chặn nạn lạm phát

1.6.4.3 Theo hai KT gia Loungani và Swagel, có bốn nguồn gốc ảnhhưởng đến hiện tượng lạm phát tại các nước đang phát triển như VN Thứnhất ng.s thiếu hụt Sự kiện này đưa đến việc in thêm tiền để tài trợ ng.s hoặckhủng hoảng cán cân vãng lai và đồng tiền mất giá Nguồn gốc thứ hai là mứccung không đủ thỏa mãn mức cầu Nguồn gốc thứ ba là chi phí sản xuất độtngột gia tăng Nguồn gốc thứ tư làm trì hoãn lạm phát là khế ước lương bổng.Đối với VN, nguồn gốc của tình trạng lạm phát hiện nay là ng.s thiếu hụt vàchi phí sản xuất đột ngột gia tăng

Trang 22

1.7 Kiềm chế lạm phát

Kiềm chế lạm phát còn gọi là giảm lạm phát Có một loạt các phươngthức để kiềm chế lạm phát Các NHTW như Cục dự trữ liên bang Mỹ có thểtác động đến lạm phát ở một mức độ đáng kể thông qua việc thiết lập các lãisuất và thông qua các hoạt động khác (ví dụ: sử dụng các CSTT) Các lãi suấtcao (và sự tăng chậm của cung ứng tiền tệ) là cách thức truyền thống để cácNHTW kiềm chế lạm phát, sử dụng thất nghiệp và suy giảm sản xuất để hạnchế tăng giá

Tuy nhiên, các NHTW xem xét các phương thức kiểm soát lạm phát rấtkhác nhau Ví dụ, một số ngân hàng theo dõi chỉ tiêu lạm phát một cách cânxứng trong khi các ngân hàng khác chỉ kiểm soát lạm phát khi nó ở mức cao.Những người theo chủ nghĩa tiền tệ nhấn mạnh việc tăng lãi suất bằngcách giảm cung tiền thông qua các CSTT để kiềm chế lạm phát Những ngườitheo học thuyết Keynes nhấn mạnh việc giảm cầu nói chung, thông thường làthông qua các chính sách TC để giảm nhu cầu Họ cũng lưu ý đến vai trò củaCSTT, cụ thể là đối với lạm phát của các hàng hóa cơ bản từ các công trìnhnghiên cứu của Robert Solow Các nhà KT học trọng cung chủ trương kiềmchế lạm phát bằng cách ấn định tỷ giá hối đoái giữa tiền tệ và một số đơn vịtiền tệ tham chiếu ổn định như vàng, hay bằng cách giảm thuế suất giới hạntrong chế độ tỷ giá thả nổi để khuyến khích tích lũy vốn Tất cả các chínhsách này đã được thực hiện trong thực tế thông qua các tiến trình nghiệp vụthị trường mở

Một phương pháp khác đã thử là chỉ đơn giản thiết lập lương và kiểmsoát giá cả Ví dụ, nó đã được thử tại Mỹ trong những năm đầu thập niên

1970 (dưới thời tổng thống Nixon) Một trong những vấn đề chính với việckiểm soát này là nó được sử dụng vào thời gian mà các biện pháp kích "cầu"được áp dụng, vì thế các giới hạn phía cung (sự kiểm soát, sản xuất tiềmnăng) đã mâu thuẫn với sự tăng trưởng của "cầu" Nói chung, phần lớn cácnhà KT coi việc kiểm soát giá là phản tác dụng khi nó có xu hướng làm lệch

Ngày đăng: 11/04/2013, 13:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tỷ lệ lạm phát và mức lãi xuất suất của  một số quốc gia - phân tích tác động của nhân tố cơ bản tới lạm phát ở VN
Bảng 2.1 Tỷ lệ lạm phát và mức lãi xuất suất của một số quốc gia (Trang 30)
Bảng 2.2: Thời kỳ siêu lạm phát 1922-1923 của nước Đức - phân tích tác động của nhân tố cơ bản tới lạm phát ở VN
Bảng 2.2 Thời kỳ siêu lạm phát 1922-1923 của nước Đức (Trang 32)
Hình 2.1. Đờng Phillips - phân tích tác động của nhân tố cơ bản tới lạm phát ở VN
Hình 2.1. Đờng Phillips (Trang 33)
Hình 2.2: Đường Phillips dài hạn - phân tích tác động của nhân tố cơ bản tới lạm phát ở VN
Hình 2.2 Đường Phillips dài hạn (Trang 35)
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu căn bản của nền KT VN ( đơn vị: %) 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 - phân tích tác động của nhân tố cơ bản tới lạm phát ở VN
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu căn bản của nền KT VN ( đơn vị: %) 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 (Trang 43)
Bảng 3.2: Chỉ số giá XK và NK (Năm trước = 100) - phân tích tác động của nhân tố cơ bản tới lạm phát ở VN
Bảng 3.2 Chỉ số giá XK và NK (Năm trước = 100) (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w