Các quy định về bảo hiểm xã hội thường được quan tâm và luôn được áp dụng để giải quyết những vấn đề bảo đảm thu nhập , đời sống của người dân... Nói cách khác, các đối t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS LƯU BÌNH NHƯỠNG
Hà Nội – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thi ̣ La Giang
Trang 4MỤC LỤC Trang bìa phu ̣ lu ̣c
LỜI CAM ĐOAN 0
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1.NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 9
1.1 Khái quát về bảo hiểm xã hội 9
1.2 Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc 11
1.3 Các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội bắt buộc 13
1.4 Vai trò của pháp luâ ̣t bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c 17
1.5 Nội dung pháp luâ ̣t bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c 18
1.5.1 Chủ thể tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc 18
1.5.2 Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc 19
1.5.3 Quỹ bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c 20
1.5.4 Vi phạm bảo hiểm xã hô ̣i bắt buộc và xử lý vi phạm , giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hô ̣i 23
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 27
2.1 Khái quát đặc điểm kinh tế- xã hội thành phố Hà Nội 27
2.2 Tình hình thực hiện các quy định về bảo hiểm xã hội bắt buộc ở Hà Nội 28 2.2.1 Về việc thực hiê ̣n các quy đi ̣nh về đối tượng áp du ̣ng 28
2.2.2 Về việc thực hiê ̣n đóng quỹ bảo hiểm bắt buô ̣c và quản lý quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc 30
2.2.3 Tình hình thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc 33
2.3 Thực tiễn công tác kiểm tra , thanh tra, xử lý vi pha ̣m và giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hô ̣i ta ̣i Hà Nô ̣i 44
Trang 5CHƯƠNG 3.PHƯƠNG HƯỚNG , GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 48
3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc 48 3.2 Giải pháp 50
3.2.1 Hoàn thiện quy định của pháp luâ ̣t 50
3.2.2 Nâng cao hiệu quả bảo hiểm xã hội bắt buô ̣c nói chung và ta ̣i Bảo hiểm
xã hội thành phố Hà Nô ̣i 67
KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cƣ ́ u đề tài
Trong điều kiê ̣n nền kinh tế thi ̣ trường ở nước ta hiê ̣n nay , chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hô ̣i luôn là vấn đề quan trọng, có tính thời sự, bởi vì bảo hiểm xã hội là một vấn đề bị chi phối bởi các quy lu ật của nền kinh tế thị trường, nơi luôn diễn ra những biến đô ̣ng và có sự ca ̣nh tranh gay gắt , đồng thời chịu ảnh hưởng của cơ chế phân tầng xã hội với mô ̣t gianh giới rõ ràng giữa người chủ và người lao đô ̣ng , giữa giàu và nghèo Hơn bao giờ hết , người lao đô ̣ng rất cần có sự bảo đảm chắc chắn trong cuô ̣c sống nhằm chống lại các rủi ro xã hội như đói nghèo, mất việc làm, không có thu nhập…
Là trụ cột của hệ thống chính sách an sinh xã hội , hê ̣ thống các chế đô ̣ bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c và bảo hiểm tự nguyê ̣n là sự cu ̣ thể hóa và hiện thực hóa đường lối, chủ trương của Đảng trong cuộc sống Các quy định về bảo hiểm xã hội thường được quan tâm và luôn được áp dụng để giải quyết những vấn đề bảo đảm thu nhập , đời sống của người dân Từ khi thực hiê ̣n chính sách Bảo hiểm xã hội đến nay , Nhà nước ta đã nhiều lần thay đổi , bổ sung theo hướng ngày càng hoàn thiê ̣n hơn cho phù hợp với điều kiê ̣n kinh , tế xã
hô ̣i của từng thời kỳ, vừa đảm bảo giữ gìn truyền thống đa ̣o lý , bản sức văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa của nhân loại, vừa mang tính hiê ̣n đa ̣i, vừa thể hiê ̣n tính ưu viê ̣t của chế đô ̣ xã hô ̣i chủ nghĩa
Luâ ̣t Bảo hiểm xã hô ̣i được Quốc hô ̣i nước cô ̣ng hòa xã hô ̣i chủ nghĩa Viê ̣t Nam khóa X (kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006), trong đó quy định
rõ về bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c áp du ̣ng với người lao đô ̣ng làm viê ̣c trong các doanh nghiê ̣p, cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động làm việc theo hợp đồng
Trang 7đi ̣nh về Bảo hiểm xã hô ̣i đã phát huy tích cực trong viê ̣c bảo đảm đời sống cho người lao đô ̣ng và các thành viên của g ia đình họ, tuy nhiên vẫn còn mô ̣t số bất câ ̣p Mă ̣c dù đối tượng áp du ̣ng bảo hiểm xã hội bắt buô ̣c hiê ̣n hành bao gồm người lao đô ̣ng thuô ̣c khu vực chính thức và người lao đô ̣ng thuô ̣c khu vực phi chính thức, song thực tế người lao đô ̣ng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buô ̣c chủ yếu thuô ̣c khối hành chính sự nghiê ̣p , doanh nghiê ̣p Qua số liê ̣u thống kê hàng năm có thể thấy , người lao đô ̣ng thuô ̣c khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội chiếm tỷ tro ̣ng không đáng kể Về công tác thu bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c, tuy đa ̣t được những kết quả khả quan nhưng tình tra ̣ng nợ đọng, châ ̣m đóng bảo hiểm xã hội vẫn xảy ra khá phổ biến , tâ ̣p trung chủ yếu ở các doanh nghiê ̣p ngoài quốc doanh và các doanh nghiê ̣p có vốn đầu tư nước ngoài… Nhìn chung, đối chiếu với tinh thần của Hiến pháp mới, xu thế chung về sự phát triển và yêu cầu của xã hội, bảo hiểm xã hội còn bộc lộ nhiều hạn chế, vướng mắc cần phải tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu để hoàn
thiện Chính vì vậy học viên lựa chọn đề tài “Pháp luật về bảo hiểm xã hội
bắt buộc và thực tiễn ở Hà Nội” làm luận văn
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là qua nghiên cứu cơ sở lý luâ ̣n và thực tiễn thực hiê ̣n các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c tại thành phố Hà Nội từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiê ̣n và tổ chức thực hiê ̣n pháp luâ ̣t về bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c trong giai đoạn hiê ̣n nay
3 Tính mới và đóng góp của đề tài
Tính mới của đề tài thể hiện trên những khía ca ̣nh sau:
- Về nội dung, đề tài tập trung nghiên cứu về bảo hiểm xã hội bắt buộc với ý nghĩa là lĩnh vực bảo hiểm xã hội quan trọng nhất, vừa truyền thống, vừa phải bảo đảm tính bền vững, liên quan tới nhiều đối tượng trong xã hội
Trang 8Những vấn đề thực tiễn chủ yếu được rút ra từ việc nghiên cứu tình hình thực hiện các quy định về bảo hiểm xã hội bắt buộc tại thành phố Hà Nội
- Về phương pháp, đề tài sẽ đi từ nghiên cứu cái chung về lý luận pháp
lý, sử dụng những thực tiễn điển hình ở Hà Nội, một địa phương có phạm vi ảnh hưởng lớn đối với hệ thống bảo hiểm xã hội nói riêng, nền kinh tế - xã hội nói chung để phân tích, chứng minh làm sáng tỏ những luận điểm pháp lý
Đề tài bám sát các quan điểm về chính sách an sinh xã hội, bảo hiểm xã
hô ̣i thể hiện trong các văn kiện của Đảng, Hiến pháp mới để luận giải các vấn đề lý luận, thực tiễn, từ đó đề ra phương hướng, giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ở Việt Nam trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo hiểm xã hội; pháp luật về Bảo hiểm xã hội bắt buộc trong hệ thống các quy định về bảo hiểm xã hội nói chung và thực tiễn quy đi ̣nh và thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c ta ̣i Hà Nô ̣i
Trang 9- Pháp luật và kinh nghiệm của quốc tế và một số quốc gia trên thế giới về tổ chức, vận hành hệ thống bảo hiểm xã hội bắt buộc
- Yêu cầu, xu hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc ở Việt Nam
5 Nô ̣i dung, kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 03 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luâ ̣n pháp luâ ̣t về Bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c Chương 2: Thực tiễn thực hiê ̣n pháp luâ ̣t về bảo hiểm xã hội bắt buô ̣c tại thành phố Hà Nội
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t và nâng cao hiê ̣u quả bảo hiểm xã hội bắt buộc
Trang 10CHƯƠNG 1 NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ
BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 1.1 Khái quát về bảo hiểm xa ̃ hô ̣i
Sự hình thành, tồn ta ̣i và phát triển của xã hô ̣i loài người luôn gắn liền với quá trình lao đô ̣ng Thông qua lao đô ̣ng ,con người tác đô ̣ng vào thế giới khách quan để tạo ra của cải vật chất , tinh thần thỏa mãn nhu cầu của mình Khi của cải xã hô ̣i ngày càng nhiều thì nhu cầu ngày càng tăng , điều này cho thấy viê ̣c thỏa mãn nhu cầu của cuô ̣c sống phu ̣ thuô ̣c vào khả năng lao đô ̣ng của con người Tuy nhiên, trong suốt cuô ̣c đời không phải lúc nào con người cũng có thể lao động , tạo ra thu nhập , trái lại có nhiều trường hợp xảy ra gây cho con người bi ̣ giảm hoă ̣c mất khả năng lao đô ̣ng như : ốm đau, tai na ̣n, già yếu, thất nghiê ̣p, nghèo đói, chết… Đồng thời , vừa là một thực thể tự nhiên vừa là mô ̣t thực thể xã hô ̣i nên con người phu ̣ thuô ̣c rất nhiều vào điều kiê ̣n tự nhiên, môi trường xã hô ̣i Những điều kiê ̣n này không phải lúc nào v à ở đâu cũng thuận lợi , may mắn Những rủi ro về vật chất hoặc tinh thần là khó có thể thể lường trước được và không dễ tránh khỏi Trong trường hợp đó, từng cá thể phải tìm mọi cách để khắc phục , ổn đỉnh đời sống để phát triển Trong thực tiễn, có nhiều cơ chế phòng tránh và khắc phu ̣c rủi ro nhưng có thể nói, bảo hiểm xã hội là một trong những cách thức rất hiê ̣u quả
Theo các kết quả nghiên cứu, hệ thống bảo hiểm xã hội đầu tiên ra đời trên thế giới vào giữa thế kỉ XIX là công trình của Chính phủ Đức dưới thời Thủ tướng Bismark (1883-1889) với cơ chế ba bên (Nhà nước - Giới chủ- Giớ i thợ) cùng đóng góp nhằm bảo hiểm cho người lao động trong một số trường hợp gă ̣p rủi ro, bao gồm: chế đô ̣ ốm đau (1883); bảo hiểm tai na ̣n nghề
Trang 11dụng tích cực của bảo hiểm xã hội trong quan hệ lao động nhiều nước bắt đầu áp dụng hệ thốn g bảo hiểm xã hô ̣i Trong những năm 1930 của thế kỉ XX ,
mô ̣t số nước còn mở rô ̣ng thêm những chế đô ̣ khác ngoài bảo hiểm xã hô ̣i và xuất hiê ̣n khái niê ̣m mới an sinh xã hội/ an ninh xã hội/ an toàn xã hô ̣i (Social Security) Tổ chứ c lao đô ̣ng quốc tế (ILO) đã có Công ước số 102 năm 1952 về an sinh xã hô ̣i Hiê ̣n nay, trên thế giới nói chung người ta coi bảo hiểm xã
hô ̣i là mô ̣t bô ̣ phâ ̣n cấu thành quan trọng của an sinh xã hội
Ở nước ta , về mă ̣t li ̣ch sử b ảo hiểm xã hội xuất hiện vào những năm
1930 của thế kỷ XX , một số chế đô ̣ được áp du ̣ng khi đó là chế đô ̣ ốm đau , chế đô ̣ tai na ̣n , chế đô ̣ hưu trí và cũng chỉ áp du ̣ng cho mô ̣t số đối tượng làm viê ̣c, phục vụ trong bộ má y hành chính, quân đô ̣i của Pháp Từ khi thành lập nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và suốt thời gian dài vừa xây dựng đất nước, vừa kháng chiến giành độc lập, nước ta đã dần từng bước phát triển và hoàn thiện các chế độ bảo hiểm xã hội Ngày 29/6/2006 tại kỳ họp thứ 9, Quốc hô ̣i khóa XI nước ra đã thông qua Luâ ̣t bảo hiểm xã hô ̣i và có hiê ̣u lực từ ngày 1/1/2007, đánh dấu một bước phát triển mới của chnhs sách an sinh xã hội Việt Nam [19, Tr 111]
Khi bàn đến khái niê ̣m bảo hiểm xã hô ̣i thì tùy theo góc đô ̣ nhìn nhâ ̣n
mà khái niệm bảo hiểm xã hội được tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau Theo từ điển Tiếng Viê ̣t , bảo hiểm xã hội là sự : “Bảo đảm những quyền lợi
vâ ̣t chất cho công nhân , viên chức khi không làm viê ̣c được vì ốm đau , sinh đẻ, già yếu, bị tai nạn lao động… ” Giáo trình Lao động của Khoa Luật , Đa ̣i học quốc gia Hà Nội định nghĩa : “Dưới góc đô ̣ pháp lý , bảo hiểm xã hội là tổng hợp các quy đi ̣nh củ a Nhà nước để điều chỉnh các quan hê ̣ kinh tế - xã
hô ̣i hình thành trong lĩnh vực bảo đảm trợ cấp nhằm ổn đi ̣nh đời sống cho người lao đô ̣ng khi ho ̣ gă ̣p những rủi ro , hiểm nghèo trong quá trình lao đô ̣ng
Trang 12Trườ ng Đa ̣i học kinh tế quốc dân Hà Nội thì bảo hiểm xã hội “là quá trình tổ chức và sử du ̣ng mô ̣t quỹ tiền tê ̣ tâ ̣p trung được tồn tích dần do sự đóng góp của người sử du ̣ng lao đô ̣ng , người lao đô ̣ng dưới sự điều tiết của Nhà nước nhằm đảm bảo phần thu nhâ ̣p thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao
đô ̣ng và gia đình ho ̣ khi gă ̣p những biến cố làm giảm hoă ̣c mất thu nhâ ̣p theo lao động”
Sở dĩ khái niê ̣m bảo hiểm xã hô ̣i được tiếp câ ̣n với những nô ̣i dung đa dạng như trên bởi trước khi có Luật bảo hiểm xã hội thì không có văn bản pháp lý nào quy định một cách cụ thể và chính thức về vấn đề này , hơn nữa sự đa da ̣ng đó còn được giải thích bởi góc đô ̣ tiếp câ ̣n và nhu cầu nghiên cứu khác nhau Hiê ̣n nay, theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1, Điều 3 Luâ ̣t bảo hiểm xã hô ̣i thì bảo hiểm xã hội được định nghĩa như sau: “Bảo hiểm xã hô ̣i là sự bảo đảm thay thế hoă ̣c bù đắp mô ̣t phần thu nhâ ̣p của người lao đô ̣ng khi ho ̣ bi ̣ giảm hoă ̣c mất thu nhâ ̣p do ốm đau , thai sản, tai na ̣n lao đô ̣ng , bê ̣nh nghề nghiê ̣p , thất nghiê ̣p, hết tuổi lao đô ̣ng hoă ̣c chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã
hô ̣i”[39, Điều 3]
1.2 Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển , con người cũng chú tro ̣ng hơn đến việc bảo đảm các khoản thu nhập bị giảm hoặc bị mất do rủi ro , biến cố trong cuô ̣c sống gây nên Sự cần thiết của bảo hiểm xã hội bắt buô ̣c mô ̣t mă ̣t xuất phát từ li ̣ch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm xã hội nói chung
Trong quá trình sinh tồn và trưởng thành của mỗi con người, nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu nhất là ăn , ở, mă ̣c, sinh hoa ̣t,v.v con người phải lao đô ̣ng để làm ra những của cải , vâ ̣t chất cần thiết Nhưng trong thực tế , không phải lúc nào con người cũng may mắn , thuâ ̣n lợi, có đầy đủ thu nhập
Trang 13khăn, trắc trở, rủi ro xảy ra do điều kiện tự nhiên , môi trường sống hoă ̣c điều kiê ̣n xã hô ̣i làm con người bi ̣ giảm hoă ̣c mất thu nhâ ̣p như ốm đau , tai na ̣n, mất viê ̣c làm , mất người nuôi dưỡng , già yếu , tử vong… Khi rơi vào các trường hợp này , các nhu cầu cần thiết của cuộc sống không những không giảm đi mà còn tăng thêm , thâ ̣m chí còn phát sinh nhu cầu mới như thuốc men, chữa tri ̣…Vì vâ ̣y, để vượt qua những khó khăn , để tồn tại và phát triển con người đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau
Như vâ ̣y , bảo hiểm xã hội ra đời và phát triển là mô ̣t quá trình thích ứng và xử lý những vấn đề liên quan đến nhu cầu của con người Viê ̣c đảm bảo vật chất cho người lao động khi họ gặp biến cố , rủi ro, trong cuô ̣c đời lao
đô ̣ng sẽ khó được thực hiê ̣n thường xuyên và đầy đủ nếu chỉ dựa vào sự
tương trợ mang tính hảo tâm Ngược la ̣i , nó chỉ có thể được đảm bảo chắc chắn, ổn định và bền vững khi có sự tổ chức và bảo đảm của Nhà nước với những quy đi ̣nh về đóng góp mang tính bắt buô ̣c để hình thành nên mô ̣t loa ̣i quỹ tiền tệ t ập trung ở phạm vi lớn Chính điều này là cơ sở cho việc hình thành nên hình thức bảo hiểm xã hội ở phạm vi lớn , là cơ sở cho việc hình thành hình thức bảo hiểm xã hội bắt buô ̣c
Qua nghiên cứu các quan điểm nêu trên về bảo hiểm xã hô ̣i, có thể hiểu
“bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c là sự bảo đảm thay thế hoă ̣c bù đắp mô ̣t phần thu nhâ ̣p đối với người lao đô ̣ng (và trong một số trường hợp gồm cả thành viên gia đình) khi ho ̣ gă ̣p rủi ro hoă ̣c biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động
do mô ̣t số nguyên nhân nh ất định gây ra (như ốm đau ,thai sản , tai na ̣n lao
đô ̣ng, bê ̣nh nghề nghiê ̣p, già yếu hoặc chết) trên cơ sở nghĩa vu ̣ bắt buô ̣c tham gia của người sử du ̣ng lao đô ̣ng và người lao đô ̣ng.”
Trang 14Khoản 2, Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội 2006 quy định “Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia.”[39, Điều 3]
Như vâ ̣y bảo hiểm xã hội bắt buô ̣c là mô ̣t hình thứ c đảm bảo về thu nhâ ̣p cho người lao đô ̣ng (và một số trường hợp là thành viên gia đình ) trong những trường hợp rủi ro nhất đi ̣nh Viê ̣c đảm bảo này được thực hiê ̣n trên cơ sở nghĩa vu ̣ phải tham gia đóng góp của các đối tượng nhất đi ̣nh nhẳm ta ̣o lâ ̣p nguồn chi trả Nói cách khác, các đối tượng không có quyền lựa chọn có được tham gia hay không tham gia mà ho ̣ phải tham gia hình thức bảo hiểm xã hội này khi thuộc các trường hợp pháp luật đã qu y đi ̣nh Tính bắt buộc là một trong những điểm đặc thù của loại hình bảo hiểm xã hội này
1.3 Các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội bắt buộc
Viê ̣c thực hiê ̣n bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c cũng cần phải tuân thủ các nguyên tắc nhất đi ̣nh , bao gồm những nguyên tắc chung của bảo hiểm xã hô ̣i
và những nguyên tắc riêng của bảo hiểm xã hội bắt buộc , các nguyên tắc này được ghi nhận trong các văn bản của ILO và pháp luật quốc gia Bao gồm:
- Bảo hiểm xã hội bắt buộc có tính bắt buộc về nghĩa vụ tham gia
Vì sự ổn định chung của quan hệ lao động , bảo hiểm xã hội là dựa trên
cơ sở huy đô ̣ng khoản tiền nhỉ của mỗi người lao đô ̣ng để hỗ trợ mô ̣t phần rủi
ro, khắc phục khó khăn , thiếu thốn khi bản thân không còn đủ điều kiê ̣n để tiếp tu ̣c lao đô ̣ng Khác với bảo hiểm xã hội tự nguyện được thực hiện trên cơ sở tự nguyê ̣n của người tham g ia, có quyền tự do lựa chọn tham gia hoặc không tham gia bảo hiểm xã hô ̣i tự nguyê ̣n , đối với bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c
Trang 15mà họ phải tham gia hình thức bảo hiểm xã hội này khi thuộc các trường hợp pháp luật đã quy định Đây là điểm đă ̣c trưng riêng giữa bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c và bảo hiểm xã hô ̣i tự nguyê ̣n
- Mứ c đóng bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c được tính trên cơ sở tiền lương , tiền công của người lao đô ̣ng
Thu nhâ ̣p được bảo hiểm xã hô ̣i là phần thu nhâ ̣p của người lao đô ̣ng tham gia bảo hiểm mà nếu nó biến đô ̣ng giảm hoă ̣c mất do bi ̣ giảm hoă ̣c mất khả năng lao động , mất viê ̣c làm thì tổ chức bảo hiểm xã hô ̣i phải chi trả trợ cấp để thay thế hoă ̣c bù đắp mô ̣t phần của họ Trên thực tế có hai cách để lựa chọn mức thu nhập được bảo hiểm tùy theo đối tượng tham gia bảo hiểm xã
hô ̣i Đối với các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì dùng tiền lương làm cơ sở để quy đi ̣nh mức th u nhâ ̣p được hưởng bảo hiểm Mă ̣t khác, mức thu nhâ ̣p được bảo hiểm còn là công cu ̣ để Nhà nước giám sát , kiểm tra, điều tiết trên giác đô ̣ quản lý vĩ mô đối với bảo hiểm xã hô ̣i và quản lý lao
đô ̣ng trong nền kinh tế quốc dân
- Mứ c hưởng bảo hiểm xã hô ̣i được tính trên cơ sở mức đóng , thời gian đóng bảo hiểm xã hô ̣i và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã
hô ̣i
Bảo hiểm xã hội là một trong những hình thức phân phối tổng sản
phẩm quốc dân nên viê ̣c thực hiê ̣n bảo hiểm xã hô ̣i phải dựa trên cơ sở sự kết hợp hài hòa giữa cống hiến và hưởng thu ̣ Do tính chất của an sinh chi phối , trong điều kiê ̣n có sự bảo trợ của Nhà nước đối với quỹ bảo hiể m xã hô ̣i nên mức đóng góp quỹ và mức hưởng bảo hiểm thường bi ̣ khống chế ở mức trần nhất đi ̣nh Hơn thế, trong mô ̣t số trường hợp , mức hưởng bảo hiểm còn phải dựa trên thời gian đóng bảo hiểm xã hô ̣i Yếu tố này đă ̣c bi ệt quan trọng đối
Trang 16với các chế đô ̣ bảo hiểm dài ha ̣n , quản lý quỹ theo hình thức tài khoản tiết kiê ̣m cá nhân
Bảo hiểm xã hội còn thực hiện mục đích chia sẻ rủi ro trong cộng đồng,
có nghĩa là chia sẻ thu nhập của ngườ i khỏe ma ̣nh cho người ốm đau , tai na ̣n hoă ̣c chia sẻ giữa người có tuổi tho ̣ thấp cho người có tuổi tho ̣ cao…Do đó , khi xác đi ̣nh mức hưởng bảo hiểm cần đă ̣t trong mối tương quan với tiền lương sao cho mức hưởng bảo hiểm không thể cao hơn mà phải thấp hơn mức lương khi làm viê ̣c Tuy nhiên, để bảo hiểm xã hội có ý nghĩa với người lao
đô ̣ng thì mức hưởng bảo hiểm cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu cho ho ̣
- Một số chế độ bảo hiểm xã hô ̣i bắt buộc được thực hiê ̣n trên cơ sở lấy số đông bù số ít
Trong tổng số thời gian làm viê ̣c của mô ̣t đời người thường nhiều hơn thời gian ngừng hoă ̣c nghỉ viê ̣c không có thu nhâ ̣p Cho nên thời gian làm viê ̣c có tham gia đóng bảo hiểm xã h ội đó đã tạo nguồn vật chất cùng với sự đóng góp của người sử du ̣ng lao đô ̣ng ta ̣o nguồn cho quỹ bảo hiểm , trợ giúp cho quãng thời gian ốm đau, tai na ̣n, thai sản Do vâ ̣y càng nhiều người tham gia bảo hiểm xã hô ̣i thì sự san sẻ rủi ro càng được thực hiê ̣n dễ dàng hơn Để làm được điều này , bảo hiểm xã hội phải quán triệt nguyên tắc “lấy số đông bù số ít”
- Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần
Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hô ̣i, chứa đựng cả nô ̣i dung kinh tế, nô ̣i dung xã hô ̣i và nô ̣i dung pháp
lý Để đảm bảo thực hiê ̣n hài hòa các nô ̣i dung nói trên và đa ̣t được mu ̣c tiêu
Trang 17quản lý, sử du ̣ng quỹ bảo hiểm xã hô ̣i Theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t , quỹ bảo hiểm xã hội bao gồm các quỹ thành phần: bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp Tuy nhiên hiê ̣n nay quỹ bảo hiểm xã hội chủ yếu có nguồn thu từ bảo hiểm xã hội bắt buộc , viê ̣c sử du ̣ng quản
lý quỹ này trên cơ sở Nhà nước thống nhất quản lý và hạch toán theo quy định pháp luật
- Nhà nước thống nhất quản lý bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn có ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hô ̣i Nhà nước với tư cách là người đại diện duy nhất , thay mă ̣t cho toàn xã hô ̣i , phải có trách nhiệm thực hiện các chính sách xã hội mà bảo hiểm xã hô ̣i là mô ̣t trong những chính sách xã hô ̣i đó Nhà nước quả n lý các hoạt động bảo hiểm xã hội thông qua việc ban hành pháp luật về bảo hiểm xã
hô ̣i nhằm điều chỉnh các quan hê ̣ bảo hiểm này , quy đi ̣nh về cơ chế quản lý quỹ bảo hiểm cũng như quản lý , tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng bảo hiểm xã hô ̣i thống nhất trong cả nước Bên ca ̣nh đó, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ mà Nhà nước quy đi ̣nh chính sách quốc gia về bảo hiểm xã hội cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống
Tuy nhiên, viê ̣c Nhà nước thống nhất tổ chức và quản lý bảo hiểm xã
hô ̣i không phải là loa ̣i bỏ sự tham gia của quần chúng lao đô ̣ng Với tư cách là người đa ̣i diê ̣n cho tâ ̣p thể lao đô ̣ng, tổ chức Công đoàn có quyền tham gia với Chính phủ trong việc xây dựng , ban hành Điều lê ̣ Bảo hiểm xã hô ̣i ; thành lập
hê ̣ thống tổ chức bảo hiểm xã hô ̣i ; ban hành quy chế về tổ chức , hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội Các công đoàn địa phương và cơ sở th am gia cùng với các cấp chính quyền và người sử du ̣ng lao đô ̣ng trong viê ̣c thực hiê ̣n và giám sát thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội
Trang 181.4 Vai tro ̀ của pháp luâ ̣t bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c
Thứ nhất, Bảo hiểm xã hội bắ t buô ̣c có vai trò bảo đảm thay thế hoă ̣c bù đắp sự thiếu hụt thu nhập của người lao động và gia đình họ Đây là vai trò
cơ bản thể hiển rõ bản chất kinh tế và bản chất xã hô ̣i của bảo hiểm xã hô ̣i Khi người lao đô ̣ng thực hiê ̣n đầy đủ nghĩa vu ̣ của ho ̣ (đóng góp bảo hiểm xã
hô ̣i theo luâ ̣t đi ̣nh ) thì họ có quyền được nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội khi phát sinh những rủi ro ốm đau , tai na ̣n lao đô ̣ng , bê ̣nh nghề nghiê ̣p đã làm thu nhâ ̣p của họ bị giảm sút hoặc mất hẳn Bảo hiểm xã hội chỉ thực sự có ý nghĩa kinh tế những thiếu hụt về thu nhập của người lao động và gia đình họ được bù đắp, trợ giúp theo quy đi ̣nh của bảo hiểm
Thứ hai, bảo hiểm xã hội bắt buô ̣c có vai trò phân phối la ̣i thu nhâ ̣p Điều này được thể hiê ̣n khi người lao đô ̣ng tham gia bảo hiểm xã hô ̣i đã thực hiê ̣n san sẻ rủi ro của chính mình theo thời gian Có nghĩa là họ đóng phí bảo hiểm xã hô ̣i thường k èm với tỷ lệ nào đó của thu nhập từ nghề nghiệp và trong thời gian dài , để đến khi họ ốm đau , nghỉ hưu số tiền đó được tồn tích lại để đảm bảo được một phần thu nhập của họ Ngoài ra người sử dụng lao
đô ̣ng cũng tham gia đóng phí bảo hiểm xã hô ̣i để bảo hiểm cho người lao
đô ̣ng mà ho ̣ thuê mướn theo thời gian của hợp đồng lao đô ̣ng
Quỹ bảo hiểm xã hội là dòng chảy liên tục sự đóng góp và sự chi ra của tiền bảo hiểm Bảo hiểm xã hộ i đã thực hiê ̣n sự phân phối la ̣i theo chiều ngang giữa các nhóm người , giữa các thế hê ̣ khi tham gia bảo hiểm xã hô ̣i là thực hiê ̣n nguyên tắc lấy số đông bù số ít
Tóm lại bảo hiểm xã hội bắt buộc luôn chứa đựng vai trò đan xen cả về kinh tế và xã hô ̣i Vai trò của pháp luâ ̣t là xác lâ ̣p được hình thức pháp luâ ̣t
Trang 19hài hòa nội dung kinh tế và xã hội trong bảo hi ểm xã hội phù hợp với điều kiê ̣n kinh tế xã hô ̣i của đất nước , trên cơ sở quyền và lợi ích hợp pháp , chính đáng của các bên trong quan hê ̣ bảo hiểm xã hô ̣i
1.5 Nô ̣i dung pháp luâ ̣t bảo hiểm xã hội bắt buộc
Việc tham gia bảo hiểm xã hội có ý nghĩa rất lớn trong đảm bảo điều kiện sống và an toàn xã hội cho người lao động và thậm chí cả nhân thân của
họ trong trường hợp họ gặp rủi ro Để tạo nguồn thu ổn định, lâu dài cho quỹ bảo hiểm xã hội đồng thời phải phù hợp với điều kiện của người đóng góp, thì việc lựa chọn đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc rất quan trọng
Có người cho rằng , đối tượng của bảo hiểm xã hô ̣i là người lao động Tuy nhiên, theo bản chất vốn có , đối tượng của bảo hiểm xã hô ̣i là thu nhập của người lao động chứ không phải bản thân họ Bảo hiểm xã hội được hình thành để góp phần cân bằng thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc khả năng lao động không được sử dụng Còn đối tượng đảm bảo của bảo hiểm xã hô ̣i là người lao động và gia đình họ theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hô ̣i Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hô ̣i là người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước trong một số trường hợp
Các bên trong quan hệ bảo hiểm xã hội bắt buộc gồm có: Bên thực hiê ̣n bảo hiểm xã hội, bên được bảo hiểm xã hô ̣i
Ở một số nước bên thực hiện bảo hiểm xã hội có thể là tổ c hức bảo hiểm xã hô ̣i do Nhà nước thành lâ ̣p hoă ̣c có thể do các tổ chức kinh tế tổ chức xã hội và tư nhân lập ra theo quy định của pháp luật Hoạt động của tổ chức
Trang 20thực hiê ̣n bảo hiểm được nhà nước kiểm tra và giám sát chă ̣t chẽ Ở nước ta hiê ̣n nay hoa ̣t đô ̣ng bảo hiểm xã hô ̣i do Nhà Nước thống nhất quản lý và tổ chức thực hiê ̣n Hê ̣ thống cơ quan bảo hiểm xã hô ̣i được tổ chức thống nhất từ trung ương đến đi ̣a phương
Bên tham gia bảo hiểm xã hội là người đóng phí bảo hiểm xã hội bắt buô ̣c cho mình hoă ̣c cho người khác hưởng bảo hiểm xã hô ̣i Theo quy đi ̣nh của pháp luật , bên tham gia bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c là người sử du ̣ng lao
đô ̣ng và các cơ quan Nhà nướ c, đơn vi ̣ lực lượng vũ trang công an và quân
đô ̣i
Bên được bảo hiểm xã hô ̣i là người lao đô ̣ng hoă ̣c các thành viên trong gia đình khi ho ̣ thỏa mãn đầy đủ các điều kiê ̣n hưởng bảo hiểm xã hô ̣i theo yêu cầu của quy đi ̣nh pháp luật
Các bên tham gia mối quan hệ bảo hiểm xã hội bắt buộc có mối quan
hê ̣ mâ ̣t thiết với nhau Viê ̣c thực hiê ̣n quyền và nghĩa vu ̣ của các bên được đă ̣t
ra trong mối liên hê ̣ thống nhất
1.5.2 Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buô ̣c
Các chế độ bảo hiểm xã hô ̣i là hệ thống các quy định về mức hưởng của từng trường hợp , điều kiện hưởng , mức hưởng và thời hạn hưởng cho người lao động khi họ gặp phải những rủi ro thuộc từng phạm vi bảo hiểm Tùy theo điều kiện, hệ thống bảo hiểm xã hội của mỗi nước có thể có các chế
độ bảo hiểm xã hô ̣i khác nhau trong số 9 chế độ mà Tổ chức Lao động quốc tế quy định Hiện nay pháp luật bảo hiểm xã hô ̣i của Việt Nam quy định có 5 chế độ: chế độ trợ cấp cho những trường hợp bị ốm đau (gọi tắt là chế độ ốm đau); chế độ bảo hiểm xã hô ̣i cho lao động nữ khi sinh con (gọi tắt là chế độ thai sản); chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hô ̣i cho người lao động bị tai nạn lao
Trang 21và trợ cấp mất người nuôi dưỡng (gọi tắt là chế độ tử tuất); chế độ bảo hiểm tuổi già (gọi tắt là chế độ hưu trí) Có thể nói, các chế độ là nội dung cốt lõi nhất của hệ thống bảo hiểm xã hội , nó thể hiện được vai trò và phạm vi trách nhiệm của bảo hiểm xã hô ̣i đối với người lao động khi họ tham gia bảo hiểm xã hội
1.5.3 Quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc
Quỹ bảo hiểm xã hội là một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước được hình thành từ việc đóng góp của các bên tham gia
và các nguồn thu khác, sử dụng chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc đã nêu trên
Quỹ bảo hiểm xã hội là một trong những nội dung quan trọng của hệ thống bảo hiểm xã hội Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quỹ bảo hiểm xã hội Có thể nêu một định nghĩa như sau: Quỹ bảo hiểm xã hội là tập hợp những đóng góp bằng tiền của các bên tham gia bảo hiểm xã hội và các nguồn thu hợp pháp khác, hình thành một quỹ tiền tệ tập trung, được sử dụng để chi trả cho những người được bảo hiểm xã hô ̣i và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm hoặc bị chết
Như vậy, quỹ bảo hiểm xã hội là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng; nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống bảo hiểm xã
hô ̣i tồn tại và phát triển
Quỹ bảo hiểm xã hội hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết những sự kiện, những “rủi ro xã hội” của tất cả những người tham gia với tổng dự trữ ít nhất, giúp cho việc dàn trải “rủi ro” được thực hiện theo cả hai chiều không gian và thời gian, đồng thời giúp giảm tối thiểu thiệt hại kinh
Trang 22tế cho người sử dụng lao động, tiết kiệm chi cho cả ngân sách Nhà nước và ngân sách gia đình
Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành bởi nhiều nguồn khác nhau Trước hết, đó là phần đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động
và Nhà nước Đây là nguồn chiếm tỷ trọng lớn nhất và cơ bản của quỹ Thứ hai, là phần tăng thêm do bộ phận nhàn rỗi tương đối của quỹ được tổ chức bảo hiểm xã hội chuyên trách đưa vào hoạt động sinh lợi Thứ ba, là phần nộp phạt của những cá nhân và tổ chức kinh tế vi phạm luật lệ về bảo hiểm xã hội Ngoài ra, quỹ còn có các nguồn thu hợp pháp khác được pháp luật của mỗi nước quy định
Trong nền kinh tế hàng hóa , trách nhiệm tham gia đóng góp bảo hiểm xã hội cho người lao động được phân chia cho cả người sử dụng lao động và người lao động trên cơ sở quan hệ lao động Điều này không phải là sự phân chia rủi ro mà là lợi ích giữa hai bên Về phía người sử dụng lao động , sự đóng góp một phần bảo hiểm xã hô ̣i cho người lao động sẽ tránh được thiệt hại kinh tế do phải chỉ ra một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mà mình thuê mướn Đồng thời nó còn góp phần kiến tạo được mối quan hệ tốt đẹp giữa hai bên chủ - thợ bởi việc đóng góp đó thể hiện trách nhiệm với những người lao động mà họ đang sử dụng Về phía người lao động, sự đóng góp một phần để bảo hiểm xã hội cho mình vừa biểu hiện sự tự gánh chi ̣u trực tiếp rủi ro của chính mình , vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ
và quyền lợi một cách chặt chẽ
Theo mục đích của bảo hiểm xã hội , quỹ bảo hiểm xã hội phải đảm nhận chi những khoản chủ yếu như: trả trợ cấp theo các chế độ bảo hiểm xã
hô ̣i (khoản chi này chiếm tỷ trọng lớn nhất); chi phí cho bộ máy hoạt động
Trang 23bảo hiểm xã hội chuyên nghiệp (tiền lương, đào tạo…) chi phí bảo đảm các
cơ sở vật chất cần thiết và chi phí quản lý khác
Như vậy, trong các nguồn hình thành quỹ thì nguồn chủ yếu là từ sự đóng góp của các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc Quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc hiện có các quỹ thành phần: quỹ ốm đau và thai sản; quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, quỹ hưu trí và tử tuất Mức đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động ảnh hưởng rất lớn đến nguồn quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc Nguồn quỹ có dồi dào thì mới đảm bảo được khả năng chi trả cho các đối tượng hưởng bảo hiểm xã hội Các nguồn khác để hình thành quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc chỉ chiếm một phần nhỏ, như việc đầu tư của quỹ thì bị hạn chế nhiều bởi hạng mục đầu tư, hơn nữa phải đảm bảo nguyên tắc an toàn cho quỹ nên phần tiền lời thu được không cao Nhà nước thì chỉ hỗ trợ trong một trường hợp nhất định, còn lại quỹ phải tự cân đối thu chi
Như vậy quỹ bảo hiểm xã hội đã được pháp luật xác định cụ thể nguồn thu và các khoản chi Tuy nhiên, thực tế hiện nay, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hô ̣i bắt buộc tìm mọi cách để trốn đóng hoặc nợ bảo hiểm xã hội gây thất thu cho quỹ, những đối tượng hưởng thì tìm nhiều cách để làm dụm quỹ gây thoát quỹ Do đó, theo trách nhiệm quản lý quỹ phải được đề cao Hiện nay, quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc do bảo hiểm xã hội trực tiếp quan lý và thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc Hoạt động quản lý quỹ muốn đạt hiệu quả tốt thì phải bảo đảm được sự minh bạch và công khai, trên cơ sở đề cao trách nhiệm của các bên có liên quan đến hoạt động quản lý quỹ, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát quỹ để tránh thất thoát quỹ, đảm bảo khả năng chi trả lâu dài cho quỹ phù hợp với mục đích của bảo hiểm xã hội
Trang 241.5.4 Vi phạm bảo hiểm xã hội bắt buộc và xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội
- Vi pha ̣m và xử lý hành vi vi phạm bảo hiểm xã hội
Trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã
hô ̣i bắt buộc có thể xảy ra nhiều vi phạm từ phía các bên tham gia bảo hiểm xã hội
Các hành vi vi phạm về bảo hiểm xã hội bắt buộc thông thường xảy ra ở các lĩnh vực đóng bảo hiểm xã hội , thủ tục thực hiện việc chi trả bảo hiểm xã hội, sử dụng tiền quỹ bảo hiểm xã hội …
Điều 134 đến 137 Luật bảo hiểm xã hội đã xác định 4 nhóm hành vi vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội
Nhóm hành vi vi phạm pháp luật về đóng bảo hiểm xã hội: Không đóng; Đóng không đúng thời gian quy định; Đóng không đúng mức quy định; Đóng không đủ số người thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội
Nhóm hành vi vi phạm pháp luật về thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội:
Cố tình gây khó khăn hoặc cản trở việc hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội của người lao động; Không cấp sổ bảo hiểm xã hội hoặc không trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội
Nhóm hành vi vi phạm pháp luật về sử dụng tiền đóng và quỹ bảo hiểm xã hội: Sử dụng tiền đóng và quỹ bảo hiểm xã hội trái quy định của pháp luật; Báo cáo sai sự thật, cung cấp sai lệch thông tin, số liệu tiền đóng và quỹ bảo hiểm xã hội
Nhóm hành vi vi phạm pháp luật về lập hồ sơ để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội: Gian lận, giả mạo hồ sơ; Cấp giấy chứng nhận, giám định sai
Trang 25Để xử phạt các hành vi nêu trên, Điều 138 Luật bảo hiểm xã hội quy định Nếu là cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật Nếu cá nhân có hành vi
vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội quy định trong Luật bảo hiểm xã hội , tùy theo tính chất mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự
- Tranh chấp và giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội bắt buộc
Tranh chấp về bảo hiểm xã hội bắt buộc là tranh chấp trong việc thực hiện các quy định về đóng góp quỹ và chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc Những tranh chấp bảo hiểm xã hội nhìn chung rất đa dạng nhưng đều tập trung ở những vấn đề liên quan đến việc thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của nhà nước về việc đóng góp vào Quỹ hoặc giải quyết các quyền lợi bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động và các đối tượng thụ hưởng khác
Pháp luật hiện hành cho phép các bên tranh chấp lựa chọn cơ chế để giải quyết tranh chấp có thể dùng cơ chế thỏa thuận, cơ chế khiếu nại hoặc cơ chế tài phán Chương IX Luật bảo hiểm xã hội quy định về việc khiếu nại, tố cáo đối với các tranh chấp bảo hiểm xã hội như: người thụ hưởng chế độ bảo hiểm xã hô ̣i hoặc có quyền lợi liên quan đến việc thực hiện bảo hiểm xã hội
có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của người sử dụng lao động, tổ chức bảo hiểm xã hội khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó trái pháp luật bảo hiểm xã hội , xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình [39, Điều 130] Như vậy theo các quy định của pháp luật hiện hành tùy theo các loại tranh chấp liên quan đến bảo hiểm xã hội bắt buộc mà có các phương thức giải quyết khác nhau
Trang 26Cơ chế thỏa thuận: Cơ chế thỏa thuận được khuyến khích sử dụng bởi hiệu quả mang lại của cơ chế này
Cơ chế khiếu nại: Theo quy định tại Điều 130,131 Luật bảo hiểm xã
hô ̣i và Nghị định 152/2006/NĐ-CP những người khiếu nại về bảo hiểm xã hội bao gồm: người lao động và người sử dụng lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, người bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội người tạm dừng hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, người hưởng trợ cấp tuất 1 lần; người lo mai táng và những người khác có quyền và lợi ích liên quan đến bảo hiểm xã hội Về phía cơ quan giải quyết khiếu nại gồm có: người sử dụng lao động, thủ trưởng cơ quan bảo hiểm xã hội các cấp; cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện; Giám đốc Sở Lao động- Thương binh và xã hội[10] Việc giải quyết tranh chấp bằng cơ chế khiếu nại nhằm mục đích giúp cho bên vi phạm có thể sửa sai các quyết định và các hành vi của mình
Cơ chế tài phán: Nếu các bên tranh chấp không sử dụng cơ chế khiếu nại hoặc đã sử dụng cơ chế thỏa thuận mà không thỏa thuận được thì có thể chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng con đường tài phán Khi mang
vụ tranh chấp ra kiện tụng sẽ được các cơ quan tài phán giải quyết để phân định tính đúng đắn của các bên theo các quy định của pháp luật
Trang 27Kết luận Chương 1
Chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc được quy định ở nước ta từ lâu, bao gồm các chế độ bảo hiểm cơ bản là: ốm đau, tai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất Chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc là sự bảo đảm quan trọng về an sinh xã hội cho người lao động trong khu vực chính thức, nhất là đối tượng cán bộ, công chức, người làm việc trong lực lượng vũ trang
và nhiều đối tượng người lao động làm việc theo hợp đồng lao động trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
Ưu điểm của chế độ bảo hiểm bắt buộc là tạo nên một hình thức mang tính nghĩa vụ, xây dựng nên một hệ thống các quỹ tập trung do Nhà nước quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện Do đó, vừa bảo đảm tính tập trung, vừa bảo đảm được tính an toàn trên cơ sở tồn tích và tăng trưởng Trong nhiều năm qua, bảo hiểm xã hội đã góp phần bảo đảm an sinh xã hội cho hàng triệu người, góp phần vào việc phân phối lại sản phẩm xã hội, tạo tính ổn định trong hệ thống kinh tế, xã hội, tạo được niềm tin của người dân
Tuy nhiên, chính sách, pháp luật bảo hiểm xã hội vẫn còn một số điểm bất cập ở việc quy định tiêu chuẩn, đối tượng thụ hưởng bảo hiểm, nhất là quy định về chế độ hưu trí Điều đó dẫn đến nhiều ý kiến, quan điểm về sự an toàn của quỹ bảo hiểm xã hội và tính công bằng trong giải quyết chế độ an sinh xã hội Việc quy định cho người hưởng lương hưu có thời gian và mức đóng góp hữu hạn nhưng được thụ hưởng chế độ hưu trí không có sự hạn định về thời gian chính là vấn đề gây nhiều bất cập và quan điểm lý luận cũng như thực tiễn
Để hoàn thiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội thì việc nghiên cứu chính sách và cách thức thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới, chắc chắn sẽ là một trong những kinh nghiệm tốt cho Việt Nam
Trang 28CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT
BUỘC TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Khái quát đặc điểm kinh tế- xã hội thành phố Hà Nội
Hà Nội là một trong năm thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam, cùng với Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ Riêng Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh còn được xếp vào đô thị loại đặc biệt, thỏa mãn các tiêu chuẩn như tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng
số lao động trên 90%, quy mô dân số trên 5 triệu, mật độ dân số bình quân từ 15.000 người/km² trở lên, cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh Sau những thay đổi về địa giới và hành chính năm 2008, Hà Nội hiện có 30 đơn vị hành chính cấp huyện – gồm 12 quận, 17 huyện, 1 thị xã – và 584 đơn vị hành chính cấp xã – gồm 386 xã, 177 phường và 21 thị trấn Ngày 27/12/2013, Chính phủ ban hành nghị quyết 132/NQ-CP điều chỉnh địa giới hành chính huyện Từ Liêm để thành lập 2 quận và 23 phường
Năm 2014, GDP bình quân đầu người của Hà Nội lên tới 31,8 triệu đồng, trong khi con số của cả Việt Nam là 13,4 triệu Hà Nội là một trong những địa phương nhận được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nhiều nhất, với 1.681,2 triệu USD và 290 dự án Thành phố cũng là địa điểm của 1.600 văn phòng đại diện nước ngoài, 14 khu công nghiệp cùng 1,6 vạn cơ sở sản xuất công nghiệp Nhưng đi đôi với sự phát triển kinh tế, những khu công nghiệp này đang khiến Hà Nội phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường Bên cạnh những công ty nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân cũng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Hà Nội Năm 2014, với gần 800.000 lao động, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 77% giá trị sản xuất công
Trang 29gần 500.000 lao động Tổng cộng, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 22% tổng đầu tư xã hội, hơn 20% GDP, 22% ngân sách thành phố và 10% kim ngạch xuất khẩu của Hà Nội
Sau khi mở rộng địa giới hành chính, với hơn 6 triệu dân, Hà Nội có 3,2 triệu người đang trong độ tuổi lao động Mặc dù vậy, thành phố vẫn thiếu lao động có trình độ chuyên môn cao Nhiều sinh viên tốt nghiệp vẫn phải đào tạo lại, cơ cấu và chất lượng nguồn lao động chưa dịch chuyển theo yêu cầu
cơ cấu ngành kinh tế Hà Nội còn phải đối đầu với nhiều vấn đề khó khăn khác Năng lực cạnh tranh của nhiều sản phẩm dịch vụ cũng như sức hấp dẫn môi trường đầu tư của thành phố còn thấp Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn chậm, đặc biệt cơ cấu nội ngành công nghiệp, dịch vụ và các sản phẩm chủ lực mũi nhọn Chất lượng quy hoạch phát triển các ngành kinh tế ở Hà Nội không cao và thành phố cũng chưa huy động tốt tiềm năng kinh tế trong dân cư
2.2 Tình hình thực hiện các quy định về bảo hiểm xã hội bắt buộc ở Hà Nội
2.2.1 Về viê ̣c thực hiê ̣n các quy đi ̣nh về đối tượng áp du ̣ng
Đối tượng áp dụng bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã
hô ̣i mà người lao động và người sử dụng lao động có nghĩa vụ tham gia Đối tượng áp du ̣ng bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c ở nước ta bao gồm : người lao đô ̣ng
là cán bộ công chức , viên chức nhà nước , lực lượng vũ trang, người lao đô ̣ng làm viê ̣c theo hợp đồng lao đô ̣ng có thời ha ̣n từ 3 tháng trở lên không phân biê ̣t quy mô lao đô ̣ng Người sử du ̣ng lao đô ̣ng sử du ̣ng những đối tượng trên
có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm xã hội để tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc Phạm vi đối tượng áp dụng bảo hiểm xã hội bắt buộc đã từng bước được mở
Trang 30rô ̣ng ta ̣o điều kiê ̣n mở rô ̣ng quyền tham gia bảo hiểm xã hô ̣i của người lao
đô ̣ng
Tuy nhiên, số đối tượng tham gia bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c còn thấphơn so với số thực tế phải tham gia ; còn nhiều doanh nghiệp chưa tham gia bảo hiểm xã hội hoặc tham gia không đủ số lao động thuộc diện phải tham gia theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t Nguyên nhân chính là do nhiều chủ sử du ̣ng lao động chấp hành pháp luật chưa nghiêm , cố tính trốn đăng ký tham gia bảo hiểm xã hô ̣i cho người lao đô ̣ng, trong khi đó chế tài chưa đủ ma ̣nh, chưa quy
đi ̣nh xử lý hình sự đối với hành vi trốn tham gia bảo hiểm xã hô ̣i làm xâm ha ̣i đến quyền, nghĩa vụ của người lao động Trong khi, mô ̣t bô ̣ phâ ̣n người lao
đô ̣ng mô ̣t phần thiếu hiểu biết luâ ̣t pháp , mô ̣t phần vì nhu cầu mưu sinh trước mắt mà không dám đấu tranh đòi quyền lợi chính đáng của mình
Năm 2012 số người tham gia bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c ta ̣i thành phố
Hà Nội là 1.154.384 người, mở rô ̣ng được 4.179 đơn vi ̣ với 41.009 lao đô ̣ng tham gia bảo hiểm xã hô ̣i ,tăng 13% về số đơn vi ̣ và 3,6% về số lao đô ̣ng so với năm 2011 [3]
Năm 2013, nhằm tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hô ̣i góp phần đảm bảo ổn định, bền vững chính sách an sinh xã hô ̣i , bảo hiểm xã hội thành phố Hà
Nô ̣i luôn xác đi ̣nh viê ̣c phát triển , khai thác mở rô ̣ng đối tượng tham gia , tâ ̣p trung chủ yếu ở khu vực ngoài Nhà nước , số người tham gia bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c là 1.180.179 người, tăng 1,02 % so với năm 2012 [4]
Do tình hình kinh tế suy thoái nên viê ̣c mở rô ̣ng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hô ̣i trên đi ̣a bàn thành phố Hà Nô ̣i gă ̣p rất nhiều khó khăn , tuy nhiên để đạt những kết quả trên bảo hiểm xã hội Hà Nội đã đẩy mạnh công tác
tuyên truyền chính sách bảo hiểm xã hô ̣i đến chủ sử du ̣ng lao đô ̣ng và người
Trang 312.2.2 Về viê ̣c thƣ̣c hiê ̣n đóng quỹ bảo hiểm bắt buô ̣c và quản lý quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc
Xác định công tác thu là nhiệm vụ trọng tâm , xuyên suốt trong quá trình tổ chức , triển khai nhiê ̣m vu ̣ của ngành , nên ngay khi nhâ ̣n được kế hoạch do Bảo hiểm xã hội Việt Nam giao , Bảo hiểm xã hội Hà Nội luôn dự toán chi tiêu kế hoạch thu của từng năm bảo hiểm xã hội các quận , huyê ̣n sát với thực tế
Năm 2012 số thu bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c là 10.397,9 tỷ đồng
Năm 2013 số thu bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c là 11.932,8 tỷ đồng, tăng 24,7 % so vớ i năm 2012
Số thu năm 2013 tăng so với năm 2012 là do bảo hiểm xã hội thành phố đã tâ ̣p trung phát triển mở rô ̣ng đối tượng tham gia ; Tăng lương tối thiểu vùng (từ 01/01/2013) và tăng lương tối thiểu chung của Nhà nước từ
(1/7/2013) Bên cạnh đó có sự quan tâm , chỉ đạo kịp thời của Thành ủy , UBND Thành phố ban h ành các văn bản chỉ đạo giao nhiệm vụ cụ thể của từng Sở, Ngành liên quan trong việc phối hợp với bảo hiểm xã hội Hà Nội để thực hiê ̣n chính sách bảo hiểm xã hô ̣i trên đi ̣a bàn Hà Nô ̣i Tuy nhiên, tình trạng nợ, châ ̣m đóng bảo hiểm xã hô ̣i vẫn xảy ra và các đơn vi ̣ nợ bảo hiểm xã
hô ̣i tâ ̣p trung ta ̣i các doanh nghiê ̣p có vốn đầu tư nước ngoài , doanh nghiê ̣p ngoài quốc doanh.[4]
Trên đi ̣a bàn thành phố Hà Nô ̣i , đối tượng tham gia bảo hiểm xã hô ̣ i nhiều nhất theo loa ̣i hình bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c chính là các doanh bảo hiểm xã hô ̣i nghiê ̣p ngoài quốc doanh Đây là đối tượng cần được quan tâm chú ý vì với cơ chế thị trường mở như hiện nay , thành phần các doanh nghiê ̣p ngoài quốc doanh tham gia bảo hiểm xã hội chiếm một tỷ lệ rất lớn nhưng lại
Trang 32là đối tượng hay trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cũng như nợ bảo hiểm xã
hô ̣i bắt buô ̣c
Tính đến tháng 12/2013 tổng số nợ bảo hiểm xã hô ̣ i là 1.103 tỷ đồng chiếm 6,1% tổng số phải thu, tăng 63 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2012 Trong đó:
- Nợ bảo hiểm xã hô ̣i từ 1 tháng đến dưới 6 tháng: 211,7 tỷ đồng;
- Nợ bảo hiểm xã hô ̣i từ 6 tháng đến dưới 12 tháng: 114,4 tỷ đồng;
- Nợ bảo hiểm xã hô ̣i từ 12 tháng trở lên: 776,9 tỷ đồng;
Tỷ lệ nợ năm 2013 tăng so với năm 2012 là do ảnh hưởng sự suy thoái kinh tế nên tình hình sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp trên địa bàn tiếp tục gặp khó khăn, nhất là đối với những doanh nghiệp họat động trong các lĩnh vực xây dựng , giao thông, bất động sản, cơ khí, dệt may , tại Hà Nội nhiều doanh nghiệp đã phải ngừng hoạt động hoặc giải thể [4]
Ngoài ra, do số tiền nợ bảo hiểm xã hội tăng cao (nhất là các đơn vi ̣ nợ
từ 12 tháng trở lên) nên số tiền lãi chậm đóng cũng tăng lên so với năm 2012
Có một thực tế là hiện nay các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiê ̣p thường châ ̣m tuân thủ hoă ̣c tuân thủ rất ha ̣n chế quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về hợp đồng lao đô ̣ng , do đó cơ quan bảo hiểm xã hội cũng như các cơ quan pháp luật khi thực hiện việc kiểm tra thường gặp rất nhiều khó khăn vì không
có hợp đồng lao động Ngoài việc trốn đăng ký số người tham gia hoặc thu bảo hiểm xã hô ̣i của người lao đô ̣ng nhưng không đóng cho cơ bảo hiểm xã hội , đơn vi ̣ sử du ̣ng lao đô ̣ng còn tìm cách ký hợp đồng lao đô ̣ng bằng hoă ̣c cao hơn
mô ̣t ít so với mức tiền lương tối thiểu hoă ̣c kỳ 2 hợp đồng với người lao đô ̣ng ở các mức khác nhau và lấy hợp đồng có số tiền lương phải trả ít hơn số thực trả
Trang 33xã hội thấp hơn mức lãi suất vay ngân hàng nên nhiều doanh nghiê ̣p chấp nhâ ̣n chịu pha ̣t để chiếm du ̣ng Quỹ bảo hiểm xã hội dẫn đến nợ bảo hiểm xã hội còn diễn ra phổ biến
Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội là địa phương có số lượng chi trả lớn nhất cả nước công tác chi trả lương hưu , trợ cấp bảo hiểm xã hô ̣i luôn được quan tâm, đảm bảo đến tận tay đối tượng trước ngày mồng 10 của tháng,
an toàn, chính xác Tổng số tiền chi trả tính đến tháng 12/2013 là 22.815,8 tỷ đồng, trong đó:
- Chi lương hưu và trợ cấp hàng tháng cho 506.249 đối tượng thụ hưởng với số tiền là 17.975,2 tỷ đồng, gồm:
+ Chi hàng tháng từ ngân sách nhà nước: 6.986,3 tỷ đồng;
+ Chi hàng tháng từ quỹ bảo hiểm xã hội: 10.988,9 tỷ đồng;
(trong đó: chi qua thẻ ATM là 1.700 tỷ đồng với 31.964 thẻ)
- Chi trợ cấp bảo hiểm xã hội 1 lần là 1.635,2 tỷ đồng, trong đó:
+ Chi 1 lần từ ngân sách nhà nước: 83,3 tỷ đồng;
+ Chi 1 lần từ quỹ bảo hiểm xã hội: 1.551,9 tỷ đồng;
- Chi ngắn hạn (ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khởe): 147,9 tỷ đồng;
Quy định về điều kiện hưởng trợ cấp BHXH một lần theo Điểm b và c, Khoản 1 Điều 55 chưa đảm bảo mục đích an sinh xã hội Theo các quy định này thì người bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH; người lao động sau 1 năm nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng BHXH và có yêu cầu nhận trợ cấp một lần mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH sẽ được hưởng BHXH một lần, như vậy do không được hưởng lương
Trang 34hưu hàng tháng các đối tượng này tiếp tục là gánh nặng cho xã hội do phải giải quyết trợ cấp xã hội
Tình trạng gian lận, giả mạo hồ sơ để hưởng bảo hiểm xã hội có diễn biến phức ta ̣p, đa da ̣ng và được thực hiê ̣n bằng nhiều thủ đoa ̣n tinh vi, khó kiểm soát Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội đã tích cực chỉ đạo các địa phương tăng cường công tác kiểm tra, rà soát, đối chiếu hồ sơ, tăng cường công tác hâ ̣u kiểm để từng bước ngăn chặn các hành vi lạm dụng bảo hiểm xã hội Đơn cử có một doanh nghiệp ở địa bàn huyện Gia Lâm, chủ sử dụng lao động ký hợp đồng lao động 02 tháng, cho NLĐ nghỉ việc 01 tháng, sau đó tiếp tục tuyển dụng lại chính người đó…Và tình trạng này khá phổ biến ở nhiều doanh nghiê ̣p ngoài quốc doanh ở trên địa bàn Hà Nội
2.2.3 Tình hình thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc
* Về chế độ ốm đau
Ốm đau, tai nạn là điều mà con người không thể tránh khỏi trong suốt cuộc đời Đối với người lao động thì ốm đau là một rủi ro mà khi họ gặp phải người lao động bị mất thu nhập tạm thời Do đó để bù đắp phần thu nhập bị mất này thì một trong những cách mà con người sử dụng là bảo hiểm ốm đau Trợ cấp ốm đau nhằm ổn đi ̣nh đời sống cho người lao đô ̣ng và gia đi ̣nh ho ̣ trong lúc ho ̣ bi ̣ ốm đau ta ̣m thời không làm viê ̣c , không có tiền lương để duy trì cuộc sống sinh hoạt bình thường.Trợ cấp ốm đau là nguồn vâ ̣t chất trợ giúp cho người lao đô ̣ng an tâm điều tri ̣, phục hồi sức khỏe để trở lại làm việc, duy trì cuộc sống bình thường Thông qua chế đô ̣ trợ cấp, người lao đô ̣ng gia đình
họ thấy sự qua n tâm của Nhà nước của cô ̣ng đồng xã hô ̣i đối với người lao
đô ̣ng khi bi ̣ ốm đau , để yên tâm điều trị , nhanh chóng trở la ̣i sản xuất , công tác
Trang 35Theo pháp luâ ̣t hiê ̣n hành thì chế đô ̣ ốm đau được áp du ̣ng cho trường hợp: người la o đô ̣ng bi ̣ ốm đau , tai na ̣n rủi ro phải nghỉ viê ̣c và người lao
đô ̣ng có con dưới 7 tuổi bi ̣ ốm đau, phải nghỉ việc để chăm sóc con Quy đi ̣nh loại trừ các trường hợp chính bản thân người lao động chủ động tạo ra bất lợi cho mình như : tự hủy hoa ̣i sức khỏe , say rượu , dùng các chất ma túy… ra khỏi đối tượng được bảo hiểm là phù hợp
Pháp luật hiện hành không quy định điều kiện đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu trước khi hưởng trợ cấp , như vâ ̣y k hi người lao đô ̣ng ốm đau (kể cả trường hợp ốm đau cần chữa tri ̣ dài ngày ) thì chỉ cần tham gia và đóng bảo hiểm xã hô ̣i là được hưởng chế đô ̣ trợ cấp ốm đau Quy đi ̣nh trên mô ̣t mă ̣t thể hiê ̣n tính nhân văn trong chế đô ̣ bảo hiểm xã hô ̣i đồng thời cũng ta ̣o ra mô ̣t số hạn chế Đối với trường hợp mắc bệnh cần chữa trị dài ngày thì chỉ cần tham gia và đóng bảo hiểm xã hô ̣i tối thiểu 01 tháng có thể được hưởng chế độ ốm đau cho đến cuối đời không giới ha ̣n thời gian Quy đi ̣nh này không đảm bảo tương quan công bằng giữa các chế đô ̣, vừa không đảm bảo nguyên tắc đóng , hưởng, đồng thời dễ dẫn đến tình tra ̣ng la ̣m du ̣ng để hưởng chế đô ̣ khi người lao đô ̣ng phát hiê ̣n mắc bệnh cần chữa trị dài ngày mới tìm cách tham gia bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c sau đó nghỉ viê ̣c hưởng chế đô ̣ ốm đau với thời gian hưởng không giới ha ̣n
Thời gian hưởng trợ cấp ốm đau đối với người lao đô ̣ng trong trường hợp họ bị ốm tùy thuộc vào thời gian đóng bảo hiểm xã hội và điều kiện làm viê ̣c với thời gian hưởng trợ cấp giới ha ̣n từ 30-70 ngày; đối với trường hợp người lao đô ̣ng nghỉ để chăm sóc con ốm đau thì thời gian nghỉ theo quy đi ̣nh của pháp luật là 15 ngày hoặc 20 ngày tùy thuộc vào độ tuổi của người con Thời gian nghỉ hưởng này giới ha ̣n trong mô ̣t năm Đối với người lao động mắc bê ̣nh dài ngày thì thời gian nghỉ hưởng chế đô ̣ ốm đau là không giới ha ̣n
Trang 36Trong khoảng thời gian nghỉ hưởng chế đô ̣ ốm đau , mức hưởng đối với người lao đô ̣ng theo pháp luâ ̣t hiê ̣n hành là 75% mức tiền lương tiền công đóng bảo hiểm xã hô ̣i tháng liền kề trước khi nghỉ Người lao đô ̣ng mắc bệnh cần điều tri ̣ dài ngày thì hưởng 75% đối với 180 ngày đầu, từ ngày 181 trở đi được xác đi ̣nh căn cứ vào thời gian đóng bảo hiểm xã hô ̣i, mức thấp nhất bằng lương tối thiểu chung Quy đi ̣nh trên chưa hợp lý và chưa t hống nhất với các trường hợp khác , vì theo quy định trong 180 ngày đầu hưởng chế độ , người lao đô ̣ng hưởng bằng 75% mức tiền lương , tiền công của tháng liền kề trước khi nghỉ viê ̣c, trong trường hợp mức hưởng này thấp hơn mứ c lương tối thiểu chung thì không được điều chỉnh lên bằng mức lương tối thiểu chung Do đó
có những trường hợp người lao động mắc bệnh chữa trị dài ngày có mức trợ cấp sau 180 ngày cao hơn mức trợ cấp trong 180 ngày đầu Mă ̣t khác đối với người mới tham gia bảo hiểm xã hô ̣i và đóng trên mức tiền lương tối thiểu thì nếu nghỉ hưởng chế đô ̣ ốm đau dài ngày trong trường hợp này thì mức hưởng trợ cấp ốm đau bằng 100% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hô ̣i
Pháp luật hiện hành còn có sự phân biệt về quyền lợi giữa các đối
tượng tham gia bảo hiểm xã hô ̣i , đối với đối tượng là lực lượng vũ trang pháp luâ ̣t quy đi ̣nh không có sự giới ha ̣n về thời gian nghỉ hưởng chế đô ̣ và mức trợ cấp bằng 100% tiền lương; như vâ ̣y quyền lợi của người lao đô ̣ng thuô ̣c lực lượng vũ trang là lớn hơn quyền lợi của người lao đô ̣ng thuô ̣c khối dân sự Quy đi ̣nh trên đã ta ̣o ra sự bất hợp lý , không công bằng g iữa các nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm xã hô ̣i
Đối với những đối tượng sau khi hết thời gian nghỉ hưởng trợ cấp ốm đau, thai sản , tai na ̣n lao đô ̣ng , bê ̣nh nghề nghiê ̣p mà sức khỏe còn yếu thì được hưởng trợ cấp từ 5-10 ngày trong một năm với mức hưởng thấp hơn quy
đi ̣nh Quy đi ̣nh trên thể hiê ̣n tính nhân đa ̣o của chế đô ̣ bảo hiểm xã hô ̣i ở nước
Trang 37đô ̣ng có quyển quyết đ ịnh trên cơ sở hạch toán tài chính theo quy định nên nhiều khi kinh phí của chế này được chia đều có tính chất “cào bằng” cho cả những người không đủ điều kiê ̣n hưởng chế đô ̣ này Do vâ ̣y, cần có những quy đi ̣nh cu ̣ thể , chi tiết thì mu ̣c đích của chế đô ̣ này mới đa ̣t được và không ảnh hưởng đến hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội
* Chế độ thai sản
Chế đô ̣ thai sản theo Luâ ̣t bảo hiểm xã hô ̣i áp du ̣ng đối với lao đô ̣ng nữ nghỉ việc đi khám tha i, sinh con, người lao đô ̣ng nhâ ̣n nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi và trường hợp người lao động đặt vòng tránh thai , thực hiê ̣n các biê ̣n pháp triê ̣t sản
Điều kiê ̣n hưởng trợ cấp thai sản trong trường hợp lao đô ̣ng nữ sinh con hoă ̣c lao đô ̣ng nhâ ̣n nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi phải thỏa mãn điều kiện đóng bảo hiểm xã hô ̣i tối thiểu là 6 tháng trong vồng 12 tháng trước khi sinh con hoă ̣c nhâ ̣n nuôi con nuôi Quy đi ̣nh trên của pháp luâ ̣t nước ta là hợp lý , đã ha ̣n chế các trường hợp la ̣m du ̣ng hưởng trợ cấp từ quỹ bảo hiểm xã hô ̣i , đảm bảo được nguyên tắc đóng hưởng bảo hiểm xã hô ̣i
Tuy nhiên , các quy định chế độ thai sản vẫn còn một số điểm mâu thuẫn, không phù hợp với thực tiễn và có mô ̣t số điểm chưa quy đi ̣nh cu ̣ thể , gây khó khăn cho quá trình thực hiê ̣n Hiê ̣n nay, chưa có quy đi ̣nh hướng dẫn
cụ thể về thời gian nghỉ hưởng trợ cấp thai sản đối với trường hợp sinh từ hai con trở lên mà c ác con bị chết , đối với trường hợp người lao đô ̣ng đi làm trước thời ha ̣n thì nghĩa vu ̣ đóng bảo hiểm xã hô ̣i đối với người lao đô ̣ng trong trường hợp trên vẫn chưa được pháp luâ ̣t quy đi ̣nh cu ̣ thể
Quy đi ̣nh về điều kiê ̣n đón g bảo hiểm xã hô ̣i đối với trường hợp sinh con hoă ̣c nhâ ̣n nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi đã thực hiện đúng theo nguyên tắc đóng hưởng, góp phần bảo toàn quỹ bảo hiểm xã hội Tuy nhiên, quy đi ̣nh
Trang 38trên chưa hợp lý và chưa công bằng đối với các trường hợp lao đô ̣ng nữ có thời gian đóng bảo hiểm xã hô ̣i nhiều năm nhưng vì khó sinh con hoă ̣c vì lý
do khách quan khác nên phải nghỉ viê ̣c , không đảm bảo điều kiê ̣n đóng bảo hiểm xã hô ̣i đủ 6 tháng trong vòng 12 tháng trước khi sinh con
Hiê ̣n nay trong các văn bản luâ ̣t về bảo hiểm xã hô ̣i thì đối tượng
hưởng chế đô ̣ thai sản đã hợp lý và dần bao phủ được toàn bô ̣ đối tượng thu ̣ hưởng Tuy nhiên trong thực tế cuô ̣c sống vẫn cò n xảy ra nhiều trường hợp cần có sự bảo đảm của bảo hiểm xã hô ̣i : lao đô ̣ng nam đang tham gia bảo hiểm xã hô ̣i có vợ không tham gia bảo hiểm xã hô ̣i mà sinh con
* Chế độ tai na ̣n lao đô ̣ng, bê ̣nh nghề nghiê ̣p
Theo pháp luâ ̣t hiê ̣n hành để được hưởng trợ cấp tai na ̣n lao đô ̣ng , bê ̣nh nghề nghiê ̣p , người lao đô ̣ng phải đảm bảo điều kiê ̣n : bị tai nạn lao động ,
bê ̣nh nghề nghiê ̣p và bi ̣ suy giảm khả năng lao đô ̣ng từ 5% trở lên
Theo quy đi ̣nh hiê ̣n hành để đượ c hưởng chế đô ̣ trợ cấp tai na ̣n lao
đô ̣ng, người lao đô ̣ng phải đáp ứng điều kiê ̣n “bi ̣ tai na ̣n trên tuyến đường đi
và về từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại trong khoảng thời gian và tuyến đường mà hàng ngày, người lao đô ̣ng vẫn thường xuyên đi và về từ nơi ở đến nơi làm viê ̣c và ngược la ̣i” Tuy nhiên, viê ̣c xác đi ̣nh tuyến đường và khoảng thời gian hợp lý để xem xét tai na ̣n rất khó khăn Tuy đã có mô ̣t số văn bản hướng dẫn, song nhìn chung chưa có những quy đi ̣nh chi tiết về những trường hợp nào không được coi là tai na ̣n lao đô ̣ng như tai na ̣n trong khi tự ý làm viê ̣c không phải công viê ̣c chính được giao, đùa nghi ̣ch nhau, đánh nhau trong lúc làm việc dẫn tới tai nạn… dù rằng tai na ̣n đó ở nơi làm viê ̣c, trong giờ làm viê ̣c hoă ̣c những trường hợp tai na ̣n giao thông do vi pha ̣m pháp luâ ̣t giao thông, uống rượu bia…Từ những quy đi ̣nh chưa cu ̣ thể về điều kiê ̣n hưởng trợ
Trang 39quyết chế đô ̣ tai na ̣n lao đô ̣ng cho người lao đô ̣ng Đối với việc xác định tai nạn trên đường đi và về lại càng khó khăn hơn nhất là các trường hợp tai nạn giao thông nhe ̣, không có sự can thiê ̣p của cảnh sát giao thông , những quãng đường vắng và tai na ̣n bất ngờ như : tường đổ, cây, cành cây đổ… Việc xác
đi ̣nh về đi ̣a điểm, thời gian rất khó khăn để giải quyết hưởng trợ cấp , rất dễ bi ̣ lạm dụng Sở dĩ cần có sự loa ̣i trừ những trường hợp như trên , thực chất xuất phát từ bản chất của bảo hiểm xã hội , đó là sự đảm bảo thay thế hoă ̣c bù đắp
mô ̣t phần thu nhâ ̣p xuất phát từ nguyên nhân khách quan , nên có quy đi ̣nh chă ̣t chẽ hơn với các trường hợp người lao đô ̣ng có hành vi vi pha ̣m pháp luâ ̣t
lê ̣ giao thông , uống rượu,bia sử du ̣ng chất gây nghiê ̣n…bi ̣ tai na ̣n sẽ không được hưởng chế đô ̣ này
Đối với những trường hợp tai nạn giao thông đượ c coi là tai na ̣n lao
đô ̣ng thì hồ sơ giới thiê ̣u đi giám đi ̣nh bao gồm : “Trường hợp bi ̣ tai na ̣n giao thông được xác đi ̣nh là tai na ̣n lao đô ̣ng thì có thêm bản sao biên bản tai na ̣n giao thông” Điều kiê ̣n này thực sự gây khó khăn cho người lao đo ̣ng khi tai nạn xảy ra ở vùng sâu vùng xa hoặc xảy ra trên tuyến đường vắng vẻ nên không lâ ̣p được biên bản tai na ̣n giao thông hoă ̣c biên bản khám nghiê ̣m hiê ̣n trường, quy đi ̣nh này cũng đã gây khó khăn cho người lao đô ̣ ng trong quá trình giải quyết chế độ tai nạn lao động
Mức trợ cấp tai na ̣n lao đô ̣ng , bê ̣nh nghề nghiê ̣p mô ̣t lần , hàng tháng được xác đi ̣nh bằng mức trợ cấp theo tỷ lê ̣ suy giảm khả năng lao đô ̣ng và mô ̣t khoản trợ cấp tường ứng với số năm đóng bảo hiểm xã hội trên cơ sở mức lương tối thiểu chung và mức lương tháng đóng bảo hiểm xã hô ̣i Khoản trợ cấp theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t hiê ̣n hành đảm bảo tính hợp lý , công bằng, đảm bảo nguyên tắc mức hưởng trên cơ sở mức đóng bảo hiểm xã hô ̣i Tuy nhiên quy đi ̣nh trên chưa phù hợp với thực tế , chưa đảm bảo công bằng giữa
Trang 40thực tế tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hô ̣i của mỗi người lao đô ̣ng là khác nhau , có người lương cao , có người lương thấp nhưng mức hưởng trợ cấp của người lao đô ̣ng có tỷ lê ̣ suy giảm khả năng lao đô ̣ng la ̣i quy đi ̣nh như nhau là không đảm bả o sự công bằng Đồng thời, cách tính này cũng làm cho người lao đô ̣ng hiểu lầm là bi ̣ thiê ̣t vì cùng tỷ lê ̣ được hưởng trợ cấp như
nhau, nếu tính trên tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hô ̣i thì tiền trợ cấp của ho ̣ được nhiều hơn nếu tính trên mức lương tối thiểu chung
* Về chế độ hưu trí
Chế đô ̣ hưu trí đã có nhiều thay đổi theo hướng tích cực so với trước , được thể hiê ̣n ở các quy đi ̣nh về điều kiê ̣n hưởng lương hưu , mứ c hưởng lương hưu, viê ̣c điều chỉnh lương hưu trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng và mức tăng trưởng kinh tế , mức hưởng bảo hiểm xã hô ̣i mô ̣t lần , về điều chỉnh tiền lương, tiền công đã đóng bảo hiểm xã hô ̣i theo chỉ số giá tiêu dùng của từng thời kỳ Thực hiê ̣n chế đô ̣ hưu trí cho người lao động đã giải quyết kịp thời quyền lợi thụ hưởng cho người lao động khi về hưu và từng bước giảm dần sự chênh lệch về mức hưởng của người lao động giữa các khu vực khác nhau Tuy nhiên một số quy định trong Luật bảo hiểm xã hô ̣i cũng bộc lộ một số hạn chế, còn có sự phân biệt giữa lao động nam và lao động nữ trong việc xác định độ tuổi nghỉ hưu, mức đóng và mức hưởng Việc quy định tuổi nghỉ hưu của lao động nữ thấp hơn tuổi nghỉ hưu của lao động nam chỉ hợp lý đối với một số ngành nghề, lĩnh vực nhất định Việc quy định tuổi nghỉ hưu của lao động nữ nói chung sớm hơn nam 5 tuổi hiện nay còn nhiều quan điểm: với quan điểm cho rằng quy định trên là phù hơp với đặc điểm về sức khỏe, tâm sinh lý, quá trình lão hóa của phụ nữ…đồng thời cũng bù đắp những khó khăn cho lao động nữ Quan điểm khác lại cho rằng quy định tuổi hưu theo quy định của luật bảo hiểm xã hô ̣i không đảm bảo được công bằng cho lao động