3 cân bằng giữa phương pháp liệt kê và áp dụng linh hoạt tùy thuộc vào từng vụ việc cụ thể trong các nội dung về xác định thị trường liên quan, xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG THỊ QUỲNH ANH
“ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỤ VIỆC CẠNH TRANH – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP”
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG THỊ QUỲNH ANH
“ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỤ VIỆC CẠNH TRANH – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP”
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn 6
7 Kết cấu của Luận văn 6
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TRONG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỤ VIỆC CẠNH TRANH 7
1.1 Vai trò của pháp luật cạnh tranh trong nền kinh tế 7
1.2 Khái quát chung về áp dụng pháp luật 10
1.2.1 Khái niệm áp dụng pháp luật 10
1.2.2 Các đặc điểm của áp dụng pháp luật 11
1.2.3 Quy trình áp dụng pháp luật 12
1.3 Khái luận về áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh 14
1.3.1 Áp dụng pháp luật cạnh tranh 14
1.3.2 Phạm vi và đối tượng điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh 15
1.3.3 Áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ khiếu nại hành vi cạnh tranh không lành mạnh 16
1.3.4 Áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ khiếu nại hành vi hạn chế cạnh tranh 19
1.3.5 Áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ khiếu nại, khởi kiện quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh 23
Trang 4Tiểu kết Chương 1 24
Chương 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TRONG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỤ VIỆC CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM 25
2.1 Một số nhận xét về thực trạng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam 25
2.1.1 Quy định pháp luật đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh 25
2.1.2 Quy định pháp luật đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh 29
2.1.3 Trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh bị khiếu nại 35
2.1.4 Xử lý vi phạm 40
2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh ở Việt Nam 41
2.2.1 Áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại các vụ việc về hạn chế cạnh tranh 41
2.2.2 Áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại các vụ việc về chống cạnh tranh không lành mạnh 47
2.2.3 Áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại về tố tụng cạnh tranh 53
Tiểu kết Chương 2 56
Chương 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TRONG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỤ VIỆC CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM 58
3.1 Yêu cầu nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay 58
3.2 Một số kiến nghị về hoàn thiện các quy định pháp luật cạnh tranh 59
3.2.1 Sửa đổi các quy định để làm rõ hơn các hành vi hạn chế cạnh tranh 59
3.2.2 Sửa đổi quy định về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh 61
3.2.3 Sửa đổi quy định về thời hạn điều tra, trình tự, thủ tục xử lý vụ việc cạnh tranh cho phù hợp với tình hình thực tế 62
Trang 53.2.4 Sửa đổi các quy định về hình thức xử lý vi phạm, biện pháp xử phạt bổ sung
và khắc phục hậu quả 64
3.3 Kiến nghị nâng cao hiệu quả các cơ quan nhà nước trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh 65
3.3.1 Tăng cường năng lực của cơ quan điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh 65
3.3.2 Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh 70
3.3.3 Tăng cường các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật cạnh tranh đối với doanh nghiệp 70
Tiểu kết Chương 3 73
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 61
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật cạnh tranh (hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chống hạn chế cạnh tranh, kiểm soát độc quyền) từ lâu đã trở thành bộ phận pháp luật không thể thiếu ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển Bởi lẽ, nó chính là công cụ trực tiếp
để bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh; là công cụ để duy trì động lực phát triển nền kinh tế Ngày nay, khi mà cơ chế thị trường đang được coi là cơ chế lý tưởng cho sự vận hành nền kinh tế ở mỗi quốc gia
và kinh tế thế giới, thì vấn đề bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh là vấn đề được quan tâm, đặc biệt là việc bảo đảm quyền cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh, bảo đảm cơ cấu thị trường, bảo đảm sự hợp
lý trong tương quan lợi ích của các chủ thể kinh doanh trên thị trường Pháp luật về cạnh tranh được coi là công cụ hiệu quả nhất để bảo đảm quyền được cạnh tranh lành mạnh bằng việc hạn chế các đặc quyền kinh tế trong kinh doanh, các xu thế, hành động tiêu cực có hại cho quá trình cạnh tranh Các học giả, các nhà nghiên cứu quốc tế đều thống nhất nhận định rằng, một môi trường cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh không thể có sự tôn vinh của hiện tượng độc quyền và sự tồn tại của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Pháp luật về cạnh tranh được xem như là "Tuyên ngôn về quyền tự do kinh doanh" hoặc "Hiến pháp kinh tế" Cho đến nay, có khoảng trên 60 quốc gia đã nghiên cứu, ban hành Luật về cạnh tranh với tên gọi khác nhau Điều này càng chứng tỏ thêm ý nghĩa, tầm quan trọng của pháp luật cạnh tranh trong hệ thống pháp luật kinh tế nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung
Ở Việt Nam, mặc dù Hiến pháp thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế và khẳng định quyền bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trước
Trang 72
pháp luật, nhưng trên thực tế, tình trạng phân biệt đối xử với các thành phần kinh tế, đặc biệt là giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp khu vực tư nhân khá phổ biến Bên cạnh đó, do quyền lợi cục bộ, một số cơ quan nhà nước, bằng các mệnh lệnh hành chính của mình, gián tiếp can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, tạo lợi thế cho một hay một số doanh nghiệp vẫn đang diễn ra Tình trạng đó làm xuất hiện những rào cản thương mại ngay trên chính thị trường nội địa, làm mất cơ hội cạnh tranh bình đẳng của các doanh nghiệp khác, gây thiệt hại cho người tiêu dùng và cho nền kinh
tế Vì vậy, Luật Cạnh tranh Việt Nam được ban hành năm 2004 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2005) kỳ vọng được coi là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng, đồng thời tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Sau gần 10 năm đi vào cuộc sống, việc áp dụng các quy định của Luật Cạnh tranh đang gặp phải những vướng mắc và rào cản kể cả từ phía các cơ quan thực thi pháp luật và từ phía các đối tượng chịu sự tác động của pháp luật cạnh tranh Năm 2009, Cục Quản lý cạnh tranh đã tiến hành 8 vụ điều tra tiền tố tụng liên quan đến các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh/độc quyền Tuy nhiên, đến nay chỉ chuyển được 1 vụ việc thành điều tra chính thức theo quy định của pháp luật cạnh tranh Cũng sau gần 10 năm, Cục Quản lý cạnh tranh mới xử lý được 83 vụ cạnh tranh không lành mạnh, trong đó, 28 vụ liên quan đến hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, còn lại là các
vụ liên quan đến hành vi bán hàng đa cấp bất chính, hành vi dèm pha, nói xấu doanh nghiệp khác, hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn và hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác Thực trạng này đang đặt ra đòi hỏi các quy định của pháp luật cạnh tranh cần phải điều chỉnh và hoàn thiện theo hướng duy trì sự
Trang 83
cân bằng giữa phương pháp liệt kê và áp dụng linh hoạt tùy thuộc vào từng vụ việc cụ thể trong các nội dung về xác định thị trường liên quan, xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, xác định hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh và các quy định cấm/miễn trừ; bổ sung quy định về chương trình khoan hồng, ngưỡng thông báo tập trung kinh tế; sửa đổi quy định về thời hạn điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh cho phù hợp với tình hình thực tế; sửa đổi các quy định về hình thức xử lý vi phạm, biện pháp xử phạt
bổ sung và khắc phục hậu quả mới có thể đáp ứng được yêu cầu của thực tế đời sống kinh tế Bên cạnh đó, Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng cũng
đã chỉ ra rằng: “Hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm cạnh tranh bình
đẳng, minh bạch của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế là một trong những nội dung quan trọng nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ”
Với những lập luận và phân tích trên đây, việc hoàn thiện pháp luật cạnh tranh cũng như hoàn thiện trình tự, thủ tục để đưa các quy định của pháp luật cạnh tranh đi vào cuộc sống đang trở nên cấp thiết Và đó cũng là lý do
mà tác giả lựa chọn đề tài “Áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết
khiếu nại vụ việc cạnh tranh – Thực trạng và giải pháp” để làm Luận văn
Thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo để nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường phát triển, đã có một số công trình nghiên cứu bước đầu về pháp luật cạnh tranh, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, vấn đề độc quyền và kiểm
soát độc quyền, như: “Chuyên đề về cạnh tranh, chống cạnh tranh bất hợp
pháp và kiểm soát độc quyền” của tác giả Đặng Vũ Huân đăng tải trên Thông
tin Khoa học pháp lý, tháng 11 năm 1996 của Viện Nghiên cứu khoa học
pháp lý, Bộ Tư pháp; “Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh trong điều
Trang 94
kiện chuyển sang kinh tế thị trường ở Việt Nam” của PGS.TS Nguyễn Như
Phát – ThS Bùi Nguyên Khánh, Nxb Công an nhân dân năm 2001; “Cạnh
tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay” sách tham khảo
do PGS.TS Nguyễn Như Phát và PGS.TS Trần Đình Hảo làm chủ biên, Nxb
Công an nhân dân năm 2001; “Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách
cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh” của Viện Nghiên cứu quản lý
kinh tế trung ương (CIEM) năm 2002; “Pháp luật về kiểm soát độc quyền và
chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam” sách tham khảo của TS
Đặng Vũ Huân, Nxb Chính trị Quốc gia năm 2004 Ngoài ra, còn có một số
bài báo khoa học được đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: “Cạnh tranh
và pháp luật cạnh tranh hiện nay” của GS.TS Đào Trí Úc, Tạp chí Nhà nước
và Pháp luật số 11 năm 2000; “Đối tượng điều chỉnh của pháp luật chống
cạnh tranh không lành mạnh” của PGS.TS Nguyễn Như Phát, Tạp chí Nhà
nước và Pháp luật số 9 năm 2000; “Pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam: Nhu
cầu, khả năng và một vài kiến nghị” của TS Phạm Duy Nghĩa, Tạp chí Nhà
nước và Pháp luật số 11 năm 2000
Sau khi Luật Cạnh tranh năm 2004 được ban hành, một số công trình nghiên cứu đã tiếp tục đi sâu nghiên cứu và luận giải các quy định của pháp
luật cạnh tranh như: “Tìm hiểu về Luật Cạnh tranh” của tác giả Trần Minh Sơn, Nxb Tư pháp năm 2005; “Bình luận khoa học Luật Cạnh tranh” của TS
Lê Hoàng Oanh, Nxb Chính trị Quốc gia năm 2005; “Phân tích và luận giải
các quy định của Luật Cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh” của PGS.TS Nguyễn Như
Phát và ThS Nguyễn Ngọc Sơn, Nxb Tư pháp năm 2006; “Pháp luật cạnh
tranh tại Việt Nam” của các tác giả TS Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc,
ThS Nguyễn Ngọc Sơn, Nxb Tư pháp năm 2006; “Chính sách và thực tiễn
pháp luật cạnh tranh của Cộng hoà Pháp của Nxb Chính trị Quốc gia năm
2007; “Tiêu chí đánh giá tính cạnh tranh bất hợp pháp của một số nước và
một số bình luận về Luật Cạnh tranh của Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn
Trang 105
Cương, năm 2006; “Hành vi hạn chế cạnh tranh – Một số vụ việc điển hình
của Châu Âu” - tài liệu tham khảo thuộc Dự án hỗ trợ thương mại đa biên
(MULTRAP) và Bộ Công Thương Việt Nam phối hợp thực hiện năm 2009;
“Chính sách cạnh tranh từ góc độ quốc gia đang phát triển” của tác giả Bùi
Nguyễn Anh Tuấn, năm 2010; “Điều chỉnh pháp luật đối với các thoả thuận
hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay” - Luận án Tiến sĩ Luật học của tác
giả Nguyễn Thị Nhung, năm 2011
Nhìn chung, các công trình khoa học này đều đã tiếp cận nghiên cứu pháp luật cạnh tranh ở những phạm vi, mức độ và các khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống về áp dụng pháp luật cạnh tranh để giải quyết khiếu nại
vụ việc cạnh tranh trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và
cơ sở pháp lý của việc áp dụng các quy định pháp luật cạnh tranh để giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu các vấn
đề thực tiễn có liên quan, Luận văn đưa ra các nhận xét, đánh giá và kiến nghị
để có thể hoàn thiện pháp luật, cơ chế áp dụng pháp luật cạnh tranh để giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh ở Việt Nam hiệu quả hơn
Để thực hiện mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn gồm:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận của pháp luật cạnh tranh và áp dụng
pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh
- Khái quát phân tích thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật cạnh
tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh ở Việt Nam thời gian qua
- Từ các nghiên cứu lý luận và thực tiễn, Luận văn đưa ra nhận xét ,
kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh ở Việt Nam
Trang 116
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Pháp luật cạnh tranh nói chung có phạm vi rất rộng và liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật, đặc biệt là hệ thống pháp luật kinh tế Bởi vậy, trong khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp cao học, với đề tài đã lựa chọn, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu về áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh nhằm kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật và
cơ chế áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh ở Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin; quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong quá trình nghiên cứu, Luận văn cũng sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, diễn giải, quy nạp, đánh giá, thống kê, v.v để thực hiện những nội dung nghiên cứu đã đặt ra
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Kết quả nghiên cứu và các đề xuất, kiến nghị của luận văn có ý nghĩa góp phần hoàn thiện pháp luật và cơ chế áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh ở Việt Nam Luận văn cũng có thể sử dụng làm tư liệu nghiên cứu, giảng dạy về chuyên ngành Luật Cạnh tranh
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật cạnh tranh
trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết
khiếu nại vụ việc cạnh tranh ở Việt Nam
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp
luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh ở Việt Nam
Trang 127
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TRONG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỤ VIỆC CẠNH TRANH
1.1 Vai trò của pháp luật cạnh tranh trong nền kinh tế
Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản, là nền tảng và động lực phát triển của kinh tế thị trường Có thể nói rằng, không có cạnh tranh thì cũng không thể có nền kinh tế thị trường Cùng với quy luật cung cầu và quy luật giá trị, cạnh tranh trở thành một quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường Tuy nhiên nếu chỉ với những tiền đề kinh tế như trên, cạnh tranh vẫn chưa thể có
cơ hội nảy sinh và tồn tại trong đời sống kinh tế Cạnh tranh chỉ có thể xuất hiện với tư cách là một sản phẩm của kinh tế thị trường trong những điều kiện của những tiền đề pháp lý cụ thể, nghĩa là các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế phải được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ quyền tự do, tự chủ trong kinh doanh, quyền sở hữu và tính đa dạng của các loại hình sở hữu cũng như địa vị bình đẳng trước pháp luật Do đó, xây dựng chính sách duy trì một môi trường cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát sự độc quyền trong kinh doanh là việc làm cần thiết[18]
Pháp luật cạnh tranh đảm bảo duy trì tính năng động và hiệu quả của nền kinh tế Cạnh tranh còn giúp cho các doanh nghiệp phát huy hết khả năng của mình bằng cách khuyến khích họ liên tục phấn đấu đạt tiêu chuẩn cao về chất lượng, dịch vụ và giá cả Sức ép cạnh tranh sinh ra những sản phẩm mới
vì các công ty áp dụng công nghệ mới và những biện pháp quản lý tiên tiến Pháp luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường có những vai trò và chức năng cơ bản như sau:
Thứ nhất, pháp luật cạnh tranh tạo nền tảng cơ bản cho quá trình cạnh tranh, duy trì và thúc đẩy quá trình ca ̣nh tranh tự do hay bảo vê ̣ hoă ̣c thúc đẩy cạnh tranh hiệu quả Pháp luật cạnh tranh bảo vệ và khuyến khích các doanh
Trang 138
nghiệp cạnh tranh, hợp tác bình đẳng trong một khuôn khổ pháp luật chung, điều tiết mặt trái của cạnh tranh bằng cách kiểm soát quá trình dẫn đến vị trí thống lĩnh thị trường, độc quyền của doanh nghiệp, chống các hành vi gây cản trở cạnh tranh, cũng như thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh trên thương trường
Thứ hai, pháp luật cạnh tranh điều tiết quá trình ca ̣nh tranh , hướng quá trình này phục vụ cho những mục tiêu đã được định sẵn , ví dụ như đạt hiệu quả kinh tế cao , bảo vệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ , duy trì hệ thống doanh nghiê ̣p tự do, duy trì sự công bằng, trung thực trong kinh doanh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Thị trường hình thành từ mối quan hệ qua lại giữa người mua và người bán, hay rộng hơn là người sản xuất và người tiêu dùng dưới quy luật cung cầu và quy luật giá trị Trong mối quan hệ này người tiêu dùng luôn ở vị trí trung tâm Người tiêu dùng và sức tiêu thụ của họ chính là thước
đo giá trị chất lượng sản phẩm, là nguồn lợi nhuận cho người sản xuất Họ có quyền lựa chọn hàng hoá cũng như người cung ứng hàng hoá và trả tiền cho
sự lựa chọn đó Tuy nhiên, quyền lựa chọn của họ bị giới hạn trong phạm vi khả năng cung ứng của người sản xuất Về phía người sản xuất, lợi nhuận không chỉ là mục tiêu, động lực mà còn là phương thức tồn tại của họ Lợi nhuận đến từ khách hàng, do đó việc ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng là tôn chỉ của mọi doanh nghiệp Mặt khác người sản xuất không thể vượt quá khả năng của mình để chạy theo người tiêu dùng Việc tối đa hoá lợi nhuận nhiều khi phụ thuộc vào việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực, giảm chi phí, nâng cao năng lực sản xuất hơn là số lượng khách hàng Ngoài ra, việc nâng cao năng lực sản xuất cũng sẽ mở rộng khả năng đáp ứng các như cầu luôn thay đổi và ngày một tăng của người tiêu dùng Do có sự hữu hạn của các yếu tố sản xuất, người tiêu dùng và nguồn lợi nhuận - sự hữu hạn của thị trường nói chung, các nhà sản xuất luôn có sự cạnh tranh theo hai hướng:
mở rộng đầu ra và thu hẹp đầu vào Quá trình này diễn ra liên tục, đòi hỏi mỗi
Trang 149
người phải luôn cố gắng phát triển, vượt lên các đối thủ, không ngừng tự hoàn thiện nếu không muốn bị loại bỏ Kết quả còn lại là những nhà sản xuất có năng lực nhất, có khả năng phục vụ tốt nhất người tiêu dùng Như vậy cạnh tranh tham gia vào mọi phương diện của nền kinh tế: nó sàng lọc và lành mạnh hoá thị trường, thúc đẩy sản xuất và điều tiết tiêu dùng [27]
Thứ ba, pháp luật cạnh tranh hạn chế các tác động tiêu cực nảy sinh do sự điều hành quá mức của nhà nước vào thi ̣ trường như kéo dài thời gian ra quyết đi ̣nh của doanh nghiê ̣p và chi phí giao di ̣ch cao Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường đã làm thay đổi
về căn bản vai trò của Nhà nước trong thị trường Có những điều được coi là hiển nhiên trong nền kinh tế kế hoạch hoá trở nên không còn phù hợp với kinh tế thị trường và ngược lại , có những điều không được chấp nhận trong kinh tế tập trung lại thích hợp trong kinh tế thị trường Trong kinh tế thi ̣ trường, viê ̣c Nhà nước chỉ huy mô ̣t cách tâ ̣p trung - thể hiê ̣n bằng các quy
đi ̣nh, chỉ thị , mê ̣nh lê ̣nh hành chính đối với hoa ̣t đô ̣ng kinh doanh của các thành phần kinh tế, kể cả quốc doanh, ngoài quốc doanh, đầu tư nước ngoài – cho tới nay không còn phù hợp nữa Thực tế đã cho thấy vẫn còn có không ít hiê ̣n tượng chia cắt thi ̣ trường trong nước , chỉ định đối tác giao dịch xuất phát từ các cơ quan quản lý nhà nước Đây có thể nói là mô ̣t nét đă ̣c thù của các nền kinh tế chuyển đổi
Rõ ràng là pháp luật cạnh tranh giữ một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế thị trường Dưới sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh, các doanh nghiệp sẽ có một sân chơi bình đẳng, lành mạnh để có thể cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường trong đó người tiêu dùng sẽ mua hàng hóa/dịch vụ với chất lượng tốt nhất và giá cả rẻ nhất có thể Điều này có nghĩa
là thông qua quá trình cạnh tranh, trình độ công nghệ của họ sẽ được nâng cao qua các hoạt động nghiên cứu, phát triển, cải tiến kiểu dáng và hiệu quả sẽ được nâng cao nhờ cải tiến kỹ thuật cũng như cải tiến phương pháp quản lý,
Trang 1510
hoạt động, nhờ đó cũng mang lại lợi ích cho người tiêu dùng Do có cạnh tranh, sẽ có hàng loạt sản phẩm với các mức giá thấp hơn vì vậy, lựa chọn của người tiêu dùng được nới rộng hơn và làm tăng phạm vi tiêu dùng Bên cạnh
đó, chúng ta cũng đang chuyển đổi sang mô ̣t nền kinh tế mở cửa hơn , hội nhâ ̣p hơn với mức đô ̣ lớn hơn với kinh tế thế giới Điều này có nghĩa là mở
rô ̣ng ca ̣nh tranh nhằm đảm bảo cho tự do thương ma ̣i và ổn đi ̣nh để phát triển Tự do thương ma ̣i phải được hiểu là tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luâ ̣t Vì vậy, pháp luật cạnh tranh góp phần duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế của Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng [25]
1.2 Khái quát chung về áp dụng pháp luật
1.2.1 Khái niệm áp dụng pháp luật
Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật ra các quyết định áp dụng pháp luật vào trong những trường hợp cụ thể của đời sống xã hội [15]
Áp dụng pháp luật là hoạt động có tổ chức mang tính quyền lực nhà nước của các cơ quan, người có thẩm quyền, nhằm thực hiện trong thực tế các quy phạm pháp luật trong mọi tình huống cụ thể của cuộc sống Hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành trong các trường hợp sau:
- Khi những quan hệ pháp luật với những quyền và nghĩa vụ cụ thể không mặc nhiên phát sinh nếu thiếu sự can thiệp của nhà nước
- Khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia vào quan hệ pháp luật mà các bên đó không tự giải quyết được
- Khi cần áp dụng các biện pháp chế tài được nhà nước quy định trong các quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh
Trang 1611
- Trong một số quan hệ pháp luật mà nhà nước thấy cần thiết phải tham gia để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia quan hệ đó, hoặc nhà nước xác nhận tồn tại hay không tồn tại một số vụ việc, sự kiện thực tế
Áp dụng pháp luật là hoạt động thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước Nó vừa là một hình thức thực hiện pháp luật, vừa là cách thức mà Nhà nước tổ chức cho các chủ thể thực hiện pháp luật
1.2.2 Các đặc điểm của áp dụng pháp luật
Thứ nhất, áp dụng pháp luật mang tính tổ chức, quyền lực nhà nước, cụ thể, hoạt động này chỉ do những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền tiến hành Hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành chủ yếu theo ý chí đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không bị phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng pháp luật Văn bản áp dụng pháp luật mang tính bắt buộc phải thực hiện đối với những cá nhân, tổ chức có liên quan
Thứ hai, áp dụng pháp luật là hoạt động được thực hiện theo thủ tục do pháp luật quy định chặt chẽ Trong quá trình áp dụng pháp luật các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các bên có liên quan phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định có tính thủ tục
Thứ ba, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội Đối tượng của áp dụng pháp luật là những quan hệ xã hội cần đến sự điều chỉnh cá biệt, bổ sung trên những mệnh lệnh chung trong quy phạm pháp luật Bằng hoạt động áp dụng pháp luật, những quy phạm pháp luật nhất định được cá biệt hoá, cụ thể hoá đối với những trường hợp cụ thể
Thứ tư, áp dụng pháp luật là hoạt động có tính sáng tạo Khi áp dụng pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách phải nghiên cứu kỹ lưỡng vụ việc, làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của nó để từ đó lựa chọn quy phạm, ra văn bản áp dụng pháp luật và tổ chức thi hành [14]
Trang 171.2.3 Quy trình áp dụng pháp luật
Theo phân tích tại Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội [14] và Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội [15], để áp dụng pháp luật chính xác, đạt hiệu quả cao cần phải tiến hành những bước sau:
(i) Phân tích, đánh giá đúng, chính xác những tình tiết, hoàn cảnh, điều kiện của vụ việc thực tế đã xảy ra
Để giải quyết đúng đắn sự việc cụ thể có tính chất pháp lý, nhất thiết phải hiểu đúng bản chất của sự việc và cần tìm hiểu tất cả các tình huống, chứng cứ của sự việc đúng như thực tế của nó
Khi cần điều tra xem xét cần bảo đảm tính khách quan, công bằng đối với các tổ chức và cá nhân liên quan đến vụ việc
Việc xem xét các tình tiết thực tế của vụ việc cũng đòi hỏi phải nghiên cứu xác định vụ việc đó thực sự có ý nghiã pháp lý hay không? Không thể áp dụng pháp luật đối với những vụ việc không có đặc trưng pháp lý Do đó, giai đoạn này yêu cầu:
- Nghiên cứu khách quan, toàn diện và đầy đủ những tình tiết của vụ việc
- Xác định đặc trưng pháp lý của vụ việc
- Tuân thủ tất cả các quy định mang tính thủ tục gắn với mỗi loại vụ việc Sau khi xem xét tất cả những tình tiết của vụ việc, nếu xác địng vụ việc
có đặc trưng pháp lý cần áp dụng pháp luật thì chuyển sang giai đoạn thứ hai
(ii) Lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp và phân tích làm sáng tỏ nội dung, ý nghĩa của quy phạm pháp luật đối với trường hợp cần áp dụng
Trang 1813
Trước tiên, phải xác định ngành luật nào điều chỉnh vụ việc này, sau đến lựa chọn quy phạm pháp luật cụ thể thích ứng với vụ việc Tiếp theo, phải làm sáng tỏ nội dung và ý nghĩa của quy phạm pháp luật được lựa chọn Điều này có mục đích bảo đảm áp dụng đúng đắn pháp luật
Tóm lại, giai đoạn thứ hai của quá trình áp dụng pháp luật yêu cầu: a, lựa chon đúng quy phạm pháp luật được trù tính cho trường hợp đó; b, xác định quy phạm pháp luật đang có hiệu lực và không mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác; c, nhận thức đúng đắn nội dung, tư tưởng của quy phạm pháp luật
(iii) Ra văn bản áp dụng pháp luật
Đây là giai đoạn quan trọng của quá trình áp dụng pháp luật Ở giai đoạn này, những quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các chủ thể pháp luật hoặc những biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với người vi phạm được ấn định
Khi ra văn bản áp dụng pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền không thể xuất phát từ động cơ cá nhân hoặc quan hệ riêng tư Văn bản áp dụng pháp luật phù hợp với lợi ích của nhà nước, tập thể, cá nhân được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền, tên gọi, có cơ sở thực tế và cơ sở pháp lý, theo đúng mẫu đã quy định Nội dung của văn bản phải rõ ràng, chính xác, nêu rõ trường hợp cụ thể, chủ thể cụ thể
và chỉ được thực hiện một lần
(iv) Tổ chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật
Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình áp dụng pháp luật Giai đoạn này gồm những hoạt động tổ chức nhằm đảm bảo về mặt vật chất, kỹ thuật cho việc thực hiện đúng văn bản áp dụng pháp luật hiện hành Ví dụ: Tổ chức thi hành bản án đã tuyên, dẫn người bị kết án tới trại cải tạo Đồng thời cũng cần tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát việc thi hành quyết định áp dụng pháp luật Đó là một trong những bảo đảm quan trọng để quyết định đó được thực hiện nghiêm chỉnh trong đời sống
Trang 19Áp dụng pháp luật cạnh tranh có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, áp dụng pháp luật cạnh tranh mang tính tổ chức, quyền lực nhà nước, cụ thể, hoạt động này chỉ do những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền tiến hành, bao gồm: Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công Thuơng, Hội đồng cạnh tranh và Tòa án nhân dân cấp tỉnh Hoạt động
áp dụng pháp luật được tiến hành chủ yếu theo ý chí đơn phương của các cơ quan có thẩm quyền nêu trên mà không bị phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị
áp dụng pháp luật cạnh tranh Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng cạnh tranh hoặc bản án của Tòa án mang tính bắt buộc phải thực hiện đối với những cá nhân, tổ chức có liên quan
Thứ hai, áp dụng pháp luật cạnh tranh là hoạt động được thực hiện theo thủ tục tố tụng cạnh tranh do pháp luật canh tranh quy định chặt chẽ Quy trình tố tụng cạnh tranh bao gồm: Điều tra vụ việc cạnh tranh; Xử lý vụ việc cạnh tranh; Khiếu nại, khởi kiện Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh Trong quá trình áp dụng pháp luật cạnh tranh, các cơ quan quản lý cạnh tranh và các bên có liên quan phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định có tính thủ tục này
Thứ ba, áp dụng pháp luật cạnh tranh là hoạt động điều chỉnh cá biệt,
cụ thể đối với các quan hệ xã hội Đối tượng của áp dụng pháp luật cạnh tranh
là những quan hệ xã hội của các doanh nghiệp, Hiệp hội ngành nghề hoạt động ở Việt Nam cần đến sự điều chỉnh cá biệt, bổ sung trên những mệnh lệnh chung trong quy phạm pháp luật cạnh tranh Bằng hoạt động áp dụng pháp luật cạnh tranh, những quy phạm pháp luật cạnh tranh nhất định được cá biệt hoá, cụ thể hoá đối với những trường hợp cụ thể
Trang 2015
Thứ tư, áp dụng pháp luật cạnh tranh là hoạt động có tính sáng tạo Khi
áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh, các cơ quan quản lý cạnh tranh phải nghiên cứu kỹ lưỡng vụ việc, làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của nó để từ đó lựa chọn quy phạm, ra văn bản áp dụng pháp luật cạnh tranh và tổ chức thi hành
1.3.2 Phạm vi và đối tượng điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh
Phạm vi điều chỉnh của Luật Cạnh tranh của Việt Nam năm 2004 được quy định là các hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh Luật này được áp dụng với các đối tượng là “tổ chức,
cá nhân kinh doanh (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam; hiệp hội ngành nghề hoạt động ở Việt Nam” [4]
Có thể thấy, việc quy định về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng pháp luật của Luật Cạnh tranh là hợp lý, bởi trên thực tế, hiệp hội ngành nghề
là các tổ chức xã hội nghề nghiệp do các doanh nghiệp hoặc các cá nhân thành lập nên và hoạt động phục vụ lợi ích cho các thành viên tham gia thông qua việc trao đổi thông tin, hợp tác hỗ trợ lẫn nhau Trong nhiều trường hợp,
sự hợp tác hỗ trợ giữa các thành viên của hiệp hội có thể đi quá xa, dẫn tới vi phạm các quy định của Luật Cạnh tranh Bên cạnh đó, việc quy định các tổ chức, cá nhân kinh doanh bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước là phù hợp với thực tế Mặc dù vậy, qua thực tiễn
áp dụng các quy định về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Luật Cạnh tranh đã phát sinh một số vấn đề về mặt câu chữ, từ ngữ cũng như chưa
có sự tương thích giữa quy định trong phần chung và những quy định riêng về hành vi trong phần quy định cụ thể Những vấn đề này dẫn đến một số khó khăn trong quá trình áp dụng nên cần được xem xét điều chỉnh cho phù hợp
và dễ dàng áp dụng pháp luật trên thực tế
Trang 2116
1.3.3 Áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ khiếu nại hành vi cạnh tranh không lành mạnh
(i) Việc khiếu nại và các hành vi bị khiếu nại
Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị khiếu nại bao gồm: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn; Xâm phạm bí mật kinh doanh; Ép buộc trong kinh doanh; Gièm pha doanh nghiệp khác; Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác; Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh; Phân biệt đối xử của hiệp hội; Bán hàng
đa cấp bất chính; Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác do Chính phủ quy định
Tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại do các hành vi nói trên có quyền khiếu nại đến cơ quan quản lý nhà nước
về cạnh tranh yêu cầu bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình Doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm tự nguyện khai báo về hành vi vi phạm trước khi
cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh phát hiện sẽ được các cơ quan có thẩm quyền áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định của pháp luật Trường hợp nhận được khai báo của doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm,
cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh sẽ tự tiến hành điều tra
(ii) Hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh không lành mạnh
Tổ chức, cá nhân khiếu nại vụ việc cạnh tranh không lành mạnh phải có đơn khiếu nại làm theo mẫu thống nhất do cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh hướng dẫn Cùng với đơn là chứng cứ về hành vi vi phạm Trong trường hợp khiếu nại nhiều hành vi vi phạm, thì từng hành vi phải có chứng cứ riêng Chứng cứ kèm theo phải thể hiện kể từ ngày hành vi có dấu hiệu vi hạn chế cạnh tranh được thực hiện đến ngày khiếu nại phải đang trong thời hạn 02 năm Bên cạnh đó, phải có các tài liệu chứng minh tư cách của bên khiếu nại, như: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp khiếu nại (hoặc giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận đầu tư, ), và giấy chứng nhận thay đổi
Trang 2217
đăng ký kinh doanh (nếu có); giấy ủy quyền hợp pháp của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cho người ký đơn khiếu nại trong trường hợp người ký đơn khiếu nại không phải người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp khiếu nại; giấy giới thiệu của doanh nghiệp khiếu nại cho người nộp
hồ sơ đến cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh; chứng minh thư nhân dân của người nộp hồ sơ
(iii) Thụ lý hồ sơ khiếu nại
Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ khiếu nại
vụ việc cạnh tranh, cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh tiến hành kiểm tra tính đầy đủ và hợp pháp của hồ sơ Trường hợp hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh không có đủ các tài liệu nói trên, cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh thông báo cho bên khiếu nại bổ sung trong thời hạn không quá 30 ngày; trong trường hợp đặc biệt, cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh có thể gia hạn 1 lần không quá 15 ngày theo đề nghị của bên khiếu nại
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí xử lý vụ việc cạnh tranh, bên khiếu nại phải nộp tiền tạm ứng chi phí xử lý vụ việc cạnh tranh Tiền tạm ứng chi phí giải quyết vụ việc cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh khoảng 3 - 5 triệu đồng tiền Việt Nam Cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh chỉ thụ lý hồ sơ khiếu nại
vụ việc cạnh tranh sau khi nhận đươc biên lai nộp tiền tạm ứng chi phí xử lý
vụ việc cạnh tranh, trừ trường hợp bên khiếu nại được miễn nộp tiền tạm ứng chi phí xử lý vụ việc cạnh tranh
Cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh có quyền trả lại hồ sơ khiếu nại
vụ việc cạnh tranh trong các trường hợp sau đây: (a) Hết thời hiệu khiếu nại; (b)
Vụ việc không thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh; (c) Bên khiếu nại không sửa đổi, bổ sung hồ sơ theo yêu cầu của cơ quan
quản lý nhà nước về cạnh tranh đúng theo thời hạn đã quy định
Trang 2318
(iv) Điều tra vụ việc cạnh tranh không lành mạnh
+ Điều tra sơ bộ: Việc điều tra sơ bộ vụ việc cạnh tranh được tiến hành
theo quyết định của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh Thời hạn điều tra sơ bộ là 30 ngày, kể từ ngày có quyết định điều tra sơ bộ
+ Đình chỉ điều tra: Căn cứ vào kết quả điều tra sơ bộ và kiến nghị của
điều tra viên, Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh ra quyết định đình chỉ điều tra nếu kết quả điều tra sơ bộ cho thấy không có hành vi vi phạm
+ Điều tra chính thức: Căn cứ vào kết quả điều tra sơ bộ và kiến nghị
của điều tra viên, Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh ra quyết định điều tra chính thức nếu kết quả điều tra sơ bộ cho thấy có dấu hiệu
vi phạm Thời hạn điều tra chính thức là 90 ngày, kể từ ngày có quyết định; trường hợp cần thiết, thời hạn này có thể được Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh gia hạn, nhưng không quá 60 ngày
(v) Xử lý, xử phạt hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh có thẩm quyền xử
lý, xử phạt hành vi cạnh tranh không lành mạnh Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có hiệu lực pháp luật sau 30 ngày, kể từ ngày ký nếu trong thời hạn
đó không bị khiếu nại
(vi) Thủ tục yêu cầu áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính
Bên khiếu nại có quyền kiến nghị đến Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà
nước về cạnh tranh yêu cầu áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính Đơn, văn bản kiến nghị áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính phải có các nội dung chính sau đây: Ngày, tháng, năm viết đơn; Tên, địa chỉ của người có kiến nghị áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính; Tên, địa chỉ của người bị kiến nghị áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính; Tóm tắt hành vi xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của mình; Lý do cần phải áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính; Biện pháp ngăn chặn hành chính cần được áp dụng và các kiến nghị cụ thể khác Bên khiếu nại vụ việc cạnh tranh khi nộp đơn kiến nghị Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh áp dụng một trong các biện pháp ngăn
Trang 2419
chặn hành chính phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá vào tài khoản phong toả tại Kho bạc nhà nước trong một thời hạn do Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh ấn định
1.3.4 Áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ khiếu nại hành vi hạn chế cạnh tranh
(i) Việc khiếu nại và các hành vi bị khiếu nại
Theo Luật Cạnh tranh, hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của
doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế
- Hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm 8 loại thoả thuận sau: + Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;
+ Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ;
+ Thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, dịch vụ;
+ Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; + Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;
+ Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;
+ Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thoả thuận;
+ Thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ
Trang 2520
Đối với những hành vi từ 1 đến 5, nếu các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên thì sẽ bị cấm Luật cũng cấm các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đối với các hành vi từ 6 đến 8
- Đối với việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp được coi là có vị trí này khi doanh nghiệp đó có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể
- Đối với nhóm doanh nghiệp, họ được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan;
+ Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan; + Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan
Theo Luật Cạnh tranh, doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền khi trên thị trường liên quan không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ đối với hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đó đang kinh doanh Để ngăn ngừa những doanh nghiệp lợi dụng vị trí độc quyền trong kinh doanh, Luật Cạnh tranh nêu rõ những hành vi bị cấm như bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành nhằm mục đích loại bỏ đối thủ, áp đặt những điều kiện, cách thức bất lợi buộc doanh nghiệp khác phải chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến hợp đồng, ngăn cản việc tham gia thị trường của doanh nghiệp mới… Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước hay cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích thì được Nhà nước kiểm soát thông qua các quyết định giá mua, giá bán, số lượng, phạm vi thị trường… khi các doanh nghiệp tham gia các hoạt động này
Trang 2621
- Đối với việc tập trung kinh tế, Luật Cạnh tranh xác định có bốn loại hành vi chính, đó là: sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh giữa các doanh nghiệp Theo đó, các hành vi này sẽ bị cấm khi thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% thị phần liên quan trừ khi một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong tình trạng phá sản, giải thể hoặc khi tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu, góp phần phát triển kinh tế – xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ Trường hợp các doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật thì không bị xác định là tập trung kinh tế
Trong trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh, thì trình
tự áp dụng pháp luật cạnh tranh để điều tra, xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh được tiến hành như sau:
(ii) Điều tra vụ việc hạn chế cạnh tranh
Một vụ việc hạn chế cạnh tranh bị khiếu nại được bắt đầu bằng thủ tục điều tra sơ bộ Điều tra sơ bộ là nột thủ tục được tiến hành bởi quyết định của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh và điều tra viên sẽ được phân công đảm nhiệm Thời hạn điều tra sơ bộ là ba mươi ngày, kể từ ngày có quyết định điều tra sơ bộ Trong thời hạn này, điều tra viên được phân công điều tra
vụ việc cạnh tranh phải hoàn thành điều tra sơ bộ và kiến nghị Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh ra quyết định đình chỉ điều tra hoặc điều tra chính thức Đối với vụ việc hạn chế cạnh tranh, thời hạn điều tra chính thức là 180 ngày, kể từ ngày có quyết định điều tra; trường hợp cần thiết, thời hạn này có thể được Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh gia hạn, nhưng không quá hai lần, mỗi lần không quá 60 ngày
(iii) Xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh
Sau khi kết thúc thủ tục điều tra, nếu có các căn cứ vi phạm pháp luật cạnh tranh, vụ việc hạn chế cạnh tranh sẽ được chuyển sang giai đoạn xem xét giải quyết Báo cáo điều tra và hồ sơ được Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh
Trang 2722
tranh chuyển đến Hội đồng cạnh tranh để tiếp tục giải quyết Sau khi nhận được báo cáo điều tra và toàn bộ hồ sơ vụ việc cạnh tranh, Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh quyết định thành lập Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh Trên cơ sở báo cáo điều tra của cơ quan quản lý cạnh tranh cũng như toàn bộ nội dung trong
hồ sơ vụ việc, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh xem xét, xử lý thông qua phiên điều trần Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ việc cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh ra một trong các quyết định sau đây:
a Mở phiên điều trần: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có quyết
định mở phiên điều trần, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh phải mở phiên điều trần Phiên điều trần, với sự tham gia của các thành viên Hội đồng cạnh tranh và thư ký phiên điều trần và những người tham gia tố tụng, được tiến hành công khai, trừ những trường hợp có lý do chính đáng cần tiến hành bí mật Nếu không bị khiếu nại, Quyết định xử lý của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh là một quyết định tập thể và có hiệu lực sau 30 ngày kể từ ngày Chủ tọa phiên điều trần ký quyết định
b Trả hồ sơ để điều tra bổ sung: Trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ
sung thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận lại hồ sơ, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh phải ra một trong các quyết định quy định như nêu trên Nếu qua điều tra phát hiện vụ việc cạnh tranh có dấu hiệu tội phạm, điều tra viên phải kiến nghị ngay với Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh xem xét chuyển hồ sơ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự
c Đình chỉ giải quyết vụ việc cạnh tranh: Hội đồng xử lý vụ việc cạnh
tranh quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc cạnh tranh thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng cạnh tranh trong các trường hợp sau đây:
+ Không đủ chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm quy định của Luật Cạnh tranh và Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh xét thấy đề nghị đó là xác đáng;
+ Bên bị điều tra đã tự nguyện chấm dứt hành vi vi phạm, khắc phục hậu quả gây ra và bên khiếu nại tự nguyện rút đơn khiếu nại;
Trang 2823
+ Bên bị điều tra đã tự nguyện chấm dứt hành vi vi phạm, khắc phục hậu quả gây ra và Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh đề nghị đình chỉ giải quyết vụ việc cạnh tranh trong trường hợp việc điều tra được tiến hành theo quy định tại khoản 2 Điều 65 của Luật Cạnh tranh
1.3.5 Áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ khiếu nại, khởi kiện quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
Tương tự như bản án và quyết định trong tố tụng tư pháp, các quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và của Thủ trưởng cơ quan quản
lý cạnh tranh đều có thể bị xem xét lại thông qua thủ tục khiếu nại hành chính với thời hiệu là 30 ngày kể từ khi ban hành Trong trường hợp này, thẩm quyền giải quyết khiếu nại do không đồng ý (một phần hoặc toàn bộ) với quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh là Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh, với quyết định của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh là Bộ trưởng
Bộ Công Thương Khi xem xét khiếu nại những quyết định nói trên, những phần của quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh bị khiếu nại thì chưa được đưa
ra thi hành, những nội dung của quyết định không bị khiếu nại hay khiếu kiện
là có hiệu lực thi hành
Trường hợp không nhất trí với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, các bên liên quan có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với một phần hoặc toàn bộ nội dung của quyết định giải quyết khiếu nại ra Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền
Trang 2924
Tiểu kết Chương 1
Pháp luật cạnh tranh giữ một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế thị trường Dưới sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh, các doanh nghiệp sẽ có một sân chơi bình đẳng, lành mạnh để có thể cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường Thông qua quá trình cạnh tranh, trình độ công nghệ của các doanh nghiệp được nâng cao qua các hoạt động nghiên cứu, phát triển, cải tiến kiểu dáng và hiệu quả sẽ được nâng cao nhờ cải tiến kỹ thuật cũng như cải tiến phương pháp quản lý, hoạt động, nhờ đó mang lại lợi ích cho người
tiêu dùng
Áp dụng pháp luật cạnh tranh là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước, được thực hiện thông quan những cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý cạnh tranh, nhằm cá biệt hoá những quy phạm pháp luật cạnh tranh vào các trường hợp giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh cụ thể Khi áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh, các cơ quan quản lý cạnh tranh phải nghiên cứu kỹ lưỡng vụ việc, làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của nó để từ đó lựa chọn quy phạm, ra văn bản áp dụng pháp luật cạnh tranh và tổ chức thi hành
Áp dụng pháp luật cạnh tranh trong giải quyết khiếu nại vụ việc cạnh tranh bao gồm: Áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ khiếu nại hành vi cạnh tranh không lành mạnh; áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ khiếu nại hành
vi hạn chế cạnh tranh và áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ khiếu nại, khởi kiện quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
Trang 3025
Chương 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TRONG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỤ VIỆC CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM 2.1 Một số nhận xét về thực trạng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam 2.1.1 Quy định pháp luật đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh
Theo các quy định của Luật Cạnh tranh, hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm: (i) Hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh; (ii) Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và (iii) Tập trung kinh tế
a Thoả thuận hạn chế cạnh tranh
Thoả thuận hạn chế cạnh tranh là thoả thuận giữa các doanh nghiệp, doanh nghiệp với hiệp hội ngành nghề, các hiệp hội ngành nghề, trong hiệp hội ngành nghề, bằng lời nói, văn bản và các hình thức khác, có khả năng làm giảm, ngăn cản, kìm hãm, sai lệch cạnh tranh trên thị trường
- Theo Điều 8 Luật Canh tranh năm 2004, các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm: Thỏa thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ; Thoả thuận hạn chế, kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hoá dịch vụ; Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng; Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm doanh nghiệp khác tham gia thị trường; Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên thoả thuận; Thông đồng để một hoặc các bên thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ;
Trang 3126
- Các thoả thuận cạnh tranh bị cấm tuyệt đối được quy định tại Điều 9 Luật Cạnh tranh, bao gồm: Thông đồng trong đấu thầu; Thoả thuận ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia vào thị trường; Thoả thuận loại khỏi thị trường các doanh nghiệp không nằm trong thoả thuận
- Các thoả thuận bị cấm có điều kiện, tức là, chỉ bị cấm khi tổng thị phần của các doanh nghiệp tham gia thoả thuận lớn hơn hoặc bằng 30% thị phần trên thị trường liên quan (các thoả thuận còn lại)
b Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền
- Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường:
Theo Điều 11 Luật Cạnh tranh năm 2004, doanh nghiệp được coi là có
vị trí thống lĩnh nếu có thị phần lớn hơn hoặc bằng 30% trên thị trường có liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp sau: Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan; Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan; Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường có liên quan
Các hành vi bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh bị cấm được quy định tại Điều 13 Luật Cạnh tranh, bao gồm: Bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh; Áp đặt giá mua, bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý; Ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng; Hạn chế sản xuất, phân phối, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển
kỹ thuật làm thiệt hại cho khách hàng; Áp dụng điều kiện thương mại khác nhau cho những doanh nghiệp khác nhau với những giao dịch như nhau; Áp đặt điều kiện ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ; Ngăn cản việc tham gia thị trường của đối thủ cạnh tranh
Trang 3227
- Lạm dụng vị trí độc quyền:
Doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp độc quyền kinh doanh trên thị trường liên quan Các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm bao gồm: Các hành vi quy định tại Điều 13 nói trên; Áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng; Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng giao kết mà không có lý do thoả đáng [4]
Từ những quy định trên có thể thấy việc điều chỉnh hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh được thể hiện bằng phương pháp liệt kê, mô tả các hành vi bị ngăn cấm mà không phân loại theo từng nhóm (như nhóm hành vi có tính chất tận dụng hay ngăn cản ), cũng chưa xác định được bản chất của các hành vi đó Trong khi đó, thực tiễn cho thấy có rất nhiều dạng thức của các hành vi hạn chế cạnh tranh Nếu chỉ sử dụng phương pháp liệt kê thuần túy sẽ khiến cho quy định pháp luật không thể bao quát hết được Hậu quả là không chỉ việc thực thi pháp luật của cơ quan cạnh tranh sẽ gặp nhiều vướng mắc mà còn gây khó khăn cho cộng đồng khi tìm hiểu, tuân thủ pháp luật và sử dụng luật để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình[26]
Một vấn đề khác được đặt ra là việc phân biệt 2 nhóm hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh (Điều 13) và lạm dụng vị trí độc quyền (Điều 14) là chưa hợp
lý Bởi lẽ, cả 2 nhóm đều mang bản chất là doanh nghiệp có sức mạnh thị trường, có khả năng thực hiện các hành vi từ ngăn cản đối thủ đến trục lợi, tận thu lợi nhuận Hay nói cách khác, doanh nghiệp có vị trí độc quyền là trường hợp đặc biệt của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh Tuy nhiên, hành vi áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng lại chỉ bị cấm khi nó được thực hiện bởi doanh nghiệp độc quyền (khoản 2 Điều 14 Luật Cạnh tranh) Trong khi đó thực tế cho thấy, các doanh nghiệp có ưu thế lớn trên thị trường đều có khả
Trang 33Nhìn chung, pháp luật cạnh tranh hiện nay đã quy định tương đối đầy
đủ những nội dung cần thiết về quy định pháp lý, thể chế giám sát, kiểm soát tập trung kinh tế[29] Tập trung kinh tế là việc chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp khác; hoặc chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần tài sản, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát hoặc chi phối có tính quyết định đến doanh nghiệp đó
Các hình thức tập trung kinh tế bao gồm: Sáp nhập doanh nghiệp; Hợp nhất doanh nghiệp; Mua lại doanh nghiệp; Liên doanh giữa các doanh nghiệp; hoặc các hành vi tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật
Điều 18 Luật Cạnh tranh quy định các trường hợp tập trung kinh tế bị cấm bao gồm: Nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 19 của Luật này hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật Tập trung kinh tế thuộc diện bị cấm có thể được miễn trừ trong các trường hợp: Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy
cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản; hoặc việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ
kỹ thuật, công nghệ
Như vậy, việc xây dựng các quy định về tập trung kinh tế về cơ bản dựa trên nền móng của pháp luật cạnh tranh hiện đại Mặc dù vậy, trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi còn nhiều phức tạp, cần xây dựng một môi
Trang 3429
trường pháp lý về tập trung kinh tế chặt chẽ hơn nữa Nên chăng, cần có những chế định cụ thể về kiểm soát đối với tập trung kinh tế theo chiều dọc, tập trung kinh tế hỗn hợp ; bổ sung các quy định để cơ quan quản lý cạnh tranh có thẩm quyền xây dựng nội dung thẩm tra trong thủ tục thông báo, thủ tục miễn trừ các trường hợp tập trung kinh tế và quy chế kiểm soát tập trung kinh tế
Bên cạnh đó, liên quan đến các quy định về tập trung kinh tế còn nhiều quy định pháp luật khác như pháp luật về tổ chức lại doanh nghiệp, pháp luật
về thực hiện quyền góp vốn, mua cổ phần, chuyển nhượng vốn góp, pháp luật đầu tư, pháp luật chứng khoán… Các quy định trong những lĩnh vực này mới chỉ đề cập đến tập trung kinh tế bằng quy định dẫn chiếu đến các quy định của Luật Cạnh tranh mà chưa có quy định về cơ chế phối hợp giữa các thủ tục kiểm soát tập trung kinh tế với thủ tục quản lý nhà nước trong việc đăng ký kinh doanh, thủ tục đầu tư Nhà nước cũng chưa đưa ra quy chế liên kết làm việc giữa cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc kiểm soát tập trung kinh
tế (Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công Thương) với các cơ quan quản lý nhà nước trong các lĩnh vực nói trên Điều đó khiến cho cơ chế phối hợp trong quá trình thực thi pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế trở nên khó thực hiện trên thực tế
2.1.2 Quy định pháp luật đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Những hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định tại Luật Cạnh tranh năm 2004 của Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi hành bao gồm:
a Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng
Trang 3530
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có các dấu hiệu cơ bản sau:
- Là hành vi của doanh nghiệp nhằm mục đích cạnh tranh;
- Nhằm vào đối thủ cạnh tranh cụ thể, xác định được;
- Trái với các chuẩn mực đạo đức kinh doanh hoặc trái với pháp luật (cũng là trái đạo đức);
- Gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh hoặc cho người tiêu dùng
Pháp luật quy định nội dung của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh cụ thể Mọi hành vi cạnh tranh không lành mạnh đều bị cấm tuyệt đối, không có sự miễn trừ Chống lại sự cạnh tranh không lành mạnh là một quyền pháp lý của người kinh doanh [35]
đi ̣nh nghĩa c hi tiết cho các pha ̣m trù tên thương ma ̣i , khẩu hiê ̣u kinh doanh , biểu tượng kinh doanh , kiểu dáng bao bì của hàng hóa , chỉ dẫn địa lý Để có thể hiểu và áp dụng quy định này cần sử dụng phối hợp với các quy phạm
đi ̣nh nghĩa hiê ̣n có trong các văn bản pháp luâ ̣t khác liên quan , mà cụ thể trong trường hợp này là Luâ ̣t S ở hữu trí tuệ năm 2005 và các văn bản liên
Trang 3631
quan Theo quy định tại khoản 2 Điều 130 Luâ ̣t Sở hữu trí tuệ năm 2005: “Chỉ dẫn thương mại là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hoá, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hoá, nhãn hàng hoá”[6] Có thể thấy, phạm trù “chỉ dẫn thương mại” trên có nội hàm tương tự với quy định tại Điều 40 Luật Canh tranh
Liên quan đến vấn đề này có thể thấy Luật Canh tranh năm 2004 chưa
đề cập đến việc bảo hộ các chỉ dẫn thương mại Theo đó, hành vi sử dụng chỉ dẫn làm sai lê ̣ch nhâ ̣n thức củ a khách hàng về hàng hóa , dịch vụ nhằm mục đích ca ̣nh tranh là mô ̣t da ̣ng của hành vi ca ̣nh tranh không lành ma ̣nh , không phụ thuộc vào việc dấu hiệu chỉ dẫn đó đã được đăng ký bảo hộ hay chưa Từ
đó có thể hiểu là các chỉ dẫ n thương ma ̣i chưa đăng ký bảo hô ̣ vẫn được bảo
vê ̣ bởi Luật Cạnh tranh năm 2004, miễn là chỉ dẫn đó đã trở nên quen thuô ̣c với người tiêu dùng và đang bi ̣ gây nhầm lẫn - một yếu tố vô cùng quan trọng nhưng rất khó để chứng minh trên thực tế đối với các cơ quan chức năng
- Xâm phạm bí mật kinh doanh
Theo Luật Cạnh tranh (khoản 10 Điều 3) bí mật kinh doanh là thông tin
có đầy đủ các điều kiện:
(i) Không phải là hiểu biết thông thường;
(ii) Có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin đó có lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó;
(iii) Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin
đó không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được
Doanh nghiệp bị cấm thực hiện các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh sau đây:
+ Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật kinh doanh đó;
Trang 3732
+ Tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh;
+ Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người
có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó;
+ Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác khi người này làm thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến kinh doanh, làm thủ tục lưu hành sản phẩm hoặc bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan nhà nước hoặc sử dụng những thông tin đó nhằm mục đích kinh doanh, xin cấp giấy phép liên quan đến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm
- Ép buộc trong kinh doanh
Các hành vi ép buộc, đe doạ khách hàng và đối tác kinh doanh của đối thủ cạnh tranh để bắt họ không được giao dịch hoặc ngừng giao dịch với đối thủ cạnh tranh được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh và bị pháp luật nghiêm cấm Luật Cạnh tranh (Điều 42) quy định: "Cấm doanh nghiệp ép buộc khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác bằng hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó"[4]
- Gièm pha doanh nghiệp khác
Theo Luật Cạnh tranh (Điều 43), các doanh nghiệp bị cấm gièm pha doanh nghiệp khác bằng hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra thông tin không trung thực, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó
- Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác
Theo Luật Cạnh tranh (Điều 44), các doanh nghiệp bị cấm gây rối hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp khác bằng hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó
Trang 3833
- Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Với bản chất là một hoạt động xúc tiến thương mại (là quá trình thông tin nhằm định hướng hành vi mua, bán hàng hóa và sử dụng dịch vụ của khách hàng), quảng cáo là phương pháp quan trọng giúp doanh nghiệp cạnh tranh, giành thị phần cho mình trên thị trường hàng hoá, dịch vụ Nhằm đạt được mục tiêu xúc tiến thương mại ở mức độ tối ưu, doanh nghiệp dễ có thể thực hiện quảng cáo không trung thực về giá trị và chất lượng thật của hàng hóa, sản phẩm với tính chất cạnh tranh không lành mạnh Theo Luật Cạnh tranh (Điều 45), các doanh nghiệp bị cấm thực hiện các hoạt động quảng cáo sau đây: So sánh trực tiếp hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác; Bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác
để gây nhầm lẫn cho khách hàng; Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng (về một trong các nội dung sau đây: 1 Giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hoá, người sản xuất, nơi sản xuất, người gia công, nơi gia công; cách thức sử dụng, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành; 2 Cách thức sử dụng, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành; 3 Các thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn khác.); Các hoạt động quảng cáo khác mà pháp luật có quy định cấm
- Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Theo Luật Cạnh tranh (Điều 46), các doanh nghiệp bị cấm thực hiện
các hoạt động khuyến mại sau đây: Tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng; Khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hoá, dịch
vụ để lừa dối khách hàng; Phân biệt đối xử đối với các khách hàng như nhau tại các địa bàn tổ chức khuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại; Tặng hàng hoá cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu
Trang 3934
khách hàng đổi hàng hoá cùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đó đang sử dụng để dùng hàng hóa của mình; Các hoạt động khuyến mại khác mà pháp luật có quy định cấm
- Phân biệt đối xử của hiệp hội
Hiệp hội ngành nghề bao gồm hiệp hội ngành hàng và hiệp hội nghề nghiệp, gọi chung là hiệp hội, được thành lập trên cơ sở sự tự nguyện của các doanh nghiệp thành viên có chung lợi ích, là nơi cung cấp các thông tin đã được xử lý về các lĩnh vực trên thị trường trong nước và quốc tế, nơi học hỏi, trao đổi kinh nghiệm giữa các doanh nghiệp Với vai trò của mình, thông qua những hành động nhất định, hiệp hội có thể tạo ra tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp Theo Luật Cạnh tranh (Điều 47), hiệp hội ngành nghề bị cấm thực hiện các hành vi sau đây: Từ chối doanh nghiệp có
đủ điều kiện gia nhập hoặc rút khỏi hiệp hội nếu việc từ chối đó mang tính phân biệt đối xử và làm cho doanh nghiệp đó bị bất lợi trong cạnh tranh; Hạn chế bất hợp lý hoạt động kinh doanh hoặc các hoạt động khác có liên quan tới mục đích kinh doanh của các doanh nghiệp thành viên
- Bán hàng đa cấp bất chính
Bán hàng đa cấp là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều kiện sau đây: Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau; Hàng hóa được người tham gia bán hàng đa cấp tiếp thị trực tiếp cho người tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa điểm khác không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc của người tham gia; Người tham gia bán hàng đa cấp được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị, bán hàng của mình và của người tham gia bán hàng đa cấp cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đó được doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấp thuận
Trang 4035
Bán hàng đa cấp chỉ bị cấm trong trường hợp được thực hiện một cách không lành mạnh Theo Luật Cạnh tranh (Điều 48), doanh nghiệp bị cấm thực hiện các hành vi sau đây nhằm thu lợi bất chính từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp: Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hoá ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp; Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại; Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp; Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ người khác tham gia
Nền kinh tế thị trường luôn luôn biến động và nảy sinh nhiều vấn đề cần được giải quyết bởi các quy định của pháp luật Trong khi đó, các nhà làm luật không thể dự đoán hết được các diễn biến trên thị trường, vì vậy, việc liên tục rà soát, bổ sung các hành vi cạnh không lành mạnh trên thị trường là một đòi hỏi tất yếu Xuất phát từ lý do này, ngoài 09 hành vi cạnh tranh không lành mạnh cụ thể, khoản 10 Điều 39 Luật Cạnh tranh năm 2004 còn trao quyền cho Chính phủ quy định bổ sung các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu chí tại khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh Điều này là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn đa dạng và phong phú của hoạt động cạnh tranh trên thị trường
2.1.3 Trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh bị khiếu nại
a Một số vấn đề chung
Về thẩm quyền giải quyết các vụ việc cạnh tranh ở Việt Nam được quy định tại Điều 49 Luật Cạnh tranh năm 2004, đó là Cục Quản lý cạnh tranh Bộ Công thương và Hội đồng cạnh tranh do Chính phủ quyết định thành lập trên
cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công thương Hội đồng cạnh trạnh có nhiệm