Vào năm 1999, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD – Organization for Economic Cooperation and Development đã xuất bản một tài liệu mang tên “Các nguyên tắc Quản trị công ty” OECD
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGÔ HUY CƯƠNG
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Người cam đoan
Vũ Thành Công
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN 4 1.1 Khái niệm về pháp luật quản trị công ty cổ phần 4
1.1.1 Khái niệm quản trị công ty 4
1.1.2 Sự cần thiết, ý nghĩa và vai trò của quản trị công ty cổ phần 7
1.2 Các mô hình quản trị công ty cổ phần 10
1.2.1 Mô hình Anglo – Saxon 10
1.2.2 Mô hình Châu Âu lục địa - The Continental 11
1.2.3 Mô hình Nhật Bản 12
1.3 Các nguyên tắc quản trị công ty cổ phần 15
Chương 2: QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ Ả RẬP XÊ ÚT 17
2.1 Cổ đông và Đại hội đồng cổ đông 17
2.1.1 Cổ đông 17
2.1.2 Đại hội đồng cổ đông 31
2.2 Hội đồng quản trị 38
2.2.1 Thành lập Hội đồng quản trị 38
2.2.2 Chức năng của Hội đồng quản trị 41
2.2.3 Trách nhiệm và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị 44
2.2.4 Các cuộc họp của Hội đồng quản trị 49
2.2.5 Các cơ quan của Hội đồng quản trị 51
2.3 Ban giám đốc 54
Trang 42.4 Tiền lương của Giám đốc, thù lao của các thành viên Hội đồng quản trị và
các lợi ích khác của họ 56
2.5 Nghĩa vụ của các thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hay Tổng giám đốc 58
2.6 Ban kiểm soát 64
2.7 Công khai hóa và kiểm soát các giao dịch với các bên có liên quan 67
2.8 Công khai hóa thông tin 70
Chương 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ NGHIÊN CỨU SO SÁNH PHÁP LUẬT QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN CỦA VIỆT NAM VÀ Ả RẬP XÊ ÚT 74
4.1 Thực trạng pháp luật quản trị công ty cổ phần tại Việt Nam và Ả Rập Xê Út 74
4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra từ việc nghiên cứu so sánh pháp luật quản trị công ty cổ phần của Việt Nam và Ả Rập Xê Út 79
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Từ khi Việt Nam ra nhập WTO việc giao lưu kinh tế với các nước trên thế giới ngày càng được mở rộng, đặc biệt trong những năm qua, quan hệ kinh tế, thương mại và lao động giữa Việt Nam và khu vực Trung Đông, đặc biệt là Ả Rập
Xê Út không ngừng phát triển Rất nhiều lao động Việt Nam đã sang làm việc tại Ả Rập Xê Út và ngày càng nhiều các công ty Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Ả Rập Xê Út cũng như các công ty Ả Rập Xê Út đầu tư vào thị trường Việt Nam
Vương quốc Ả rập Xê út nằm trên bán đảo Ả rập thuộc khu vực Trung Đông,
Út được chia thành mười ba tỉnh (mintaqah), và mỗi tỉnh được lãnh đạo bởi một
thành viên gia đình hoàng gia [15] Riyadh là thủ đô của đất nước và tiếng Ả Rập là ngôn ngữ chính thức Hệ thống chính trị là một chế độ quân chủ chuyên chế và Nhà Vua giữ cả hai vai trò là người đứng đầu nhà nước và thủ tướng [29, Điều 1, 5]
Ả Rập Xê Út giữ một vị trí quan trọng đặc biệt về tôn giáo trong các nước
Hồi giáo khác, bởi vì người Hồi giáo (Muslims) hiểu rằng đây là nơi ra đời của đạo
Hồi vào thế kỷ thứ bảy Ả Rập Xê Út cũng là nơi của hai thánh địa: thánh địa Makka là hướng cầu nguyện cho hơn hai tỷ người Hồi giáo, và thánh địa Medina, thiên đường của nhà thờ và mộ của nhà tiên tri Mohammad
Hồi giáo có ảnh hưởng lớn trên mọi lĩnh vực của đời sống hàng ngày ở Ả Rập Xê Út Theo quy định tại Điều 23 của Luật quản trị cơ bản Ả Rập Xê Út (Saudi Basic Law of Governance 1992) thì: Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ tín ngưỡng Hồi giáo, áp dụng luật Shari'a, khuyến khích điều tốt và ngăn chặn điều ác, và thực
hiện các nghĩa vụ của mình đối với việc truyền đạo (da'wa)
Nền kinh tế Ả rập Xê út dựa trên cơ sở chính là dầu mỏ, được Chính phủ kiểm soát chặt chẽ Ả rập Xê út có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới (chiếm 26% tổng trữ lượng của thế giới), là nước xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất và giữ vai trò chủ chốt trong các nước thuộc tổ chức xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) Dầu mỏ giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế, ngoài ra các ngành xây dựng, sản xuất chế tạo và dịch vụ cũng rất phát triển
Trang 72
thu hút nhiều lao động Sản phẩm công nghiệp chủ yếu là các sản phẩm dầu mỏ, ngoài
ra còn có xi măng, thép cán, vật liệu xây dựng, phân bón, nhựa tổng hợp
Khi quan hệ giao thương giữa Việt Nam và các nước trong khu vực Trung Đông, đặc biệt là Ả Rập Xê Út, đang trên đà phát triển mạnh mẽ và khi các nghiên cứu về hệ thống pháp luật Hồi giáo, cũng như ảnh hưởng của nó trong các quy định của pháp luật về QTCT cổ phần trong khu vực Trung Đông còn hạn chế, việc nghiên cứu và so sánh pháp luật QTCT cổ phần của Việt Nam và Ả Rập Xê Út nhằm tìm những ưu nhược điểm trong các mô hình QTCT và những quy định của pháp luật về QTCT cổ phần của hai nước Từ đó, cung cấp thông tin cho các công
ty Việt Nam muốn xuất khẩu lao động và hàng hóa sang thị trường Ả Rập Xê Út hay cộng tác với các nhà đầu tư Ả Rập Xê Út tại Việt Nam cũng như đưa ra các đề xuất và đóng góp cho việc cải thiện và nâng cao hiệu quả QTCT, góp phần xây dựng và hoàn thiện hê ̣ thống pháp luật QTCT cổ phần ở Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Các vấn đề về quản trị công ty cổ phần và những quy định của pháp luật về quản trị công ty cổ phần của Việt Nam và một số nước trên thế giới đã được đề cập
và trình bày trong nhiều đề tài nghiên cứu, các bài viết và báo cáo khoa học Tuy nhiên, việc nghiên cứu những quy định của pháp luật về quản trị công ty cổ phần của các nước ở khu vực Trung Đông như Ả Rập Xê Út, một quốc gia Hồi giáo, cái nôi của đạo Hồi chưa được đầu tư nghiên cứu, đặc biệt khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và lao động giữa Việt Nam và Ả Rập Xê Út đang phát triển mạnh mẽ Trong bối cảnh này, đề tài đã tập trung nghiên cứu và so sánh pháp luật quản trị công ty cổ phần của Việt Nam và Ả Rập Xê Út
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu với mục đích phân tích làm sáng tỏ các quy định của pháp luật về quản trị công ty cổ phần tại Việt Nam và Ả Rập Xê Út Trên cơ sở đó cung cấp một số thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư trong nước vào thị trường Ả Rập Xê Út cũng như các nhà đầu tư Ả Rập Xê Út vào Việt Nam, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
Trang 83
quản trị công ty cổ phần tại Việt Nam
4 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu pháp luật về quản trị công ty cổ phần tại Việt Nam và pháp luật quản trị công ty cổ phần tại Ả Rập Xê Út, từ đó so sánh pháp luật quản trị Công ty cổ phần của hai nước
5 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu Luật doanh nghiệp Việt Nam 2005, Luật Công ty Ả Rập Xê Út 1965 và một số văn bản pháp luật khác của hai nước về quản trị công ty cổ phần, các chuẩn mực và báo cáo về quản trị công ty cổ phần
6 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài được tiến hành trên cơ sở phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, thống kê và đặc biệt là phương pháp so sánh
7 Kết quả nghiên cứu và tính mới của luận văn
Luận văn đã phân tích và làm rõ một số vấn đề cơ bản về quản trị công ty cổ phần, các mô hình quản trị công ty trên thế giới và các nguyên tắc quản trị công ty của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD)
Luận văn đã hệ thống, phân tích và so sánh các quy định của pháp luật về quản trị công ty cổ phần tại Việt Nam và Ả Rập Xê Út
Luận văn cũng đã chỉ ra một số điểm bất cập trong quy định của pháp luật quản trị công ty cổ phần tại Việt Nam và mặt khác tìm ra những ưu điểm của pháp luật quản trị công ty cổ phần tại Ả Rập Xê Út nhằm áp dụng để hoàn hiện hệ thống pháp luật về quản trị công ty cổ phần tại Việt Nam
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát về pháp luật quản trị công ty cổ phần
Chương 2: Quản trị công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam
và Ả Rập Xê Út
Chương 3: Bài học kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu so sánh pháp luật quản
trị công ty cổ phần của Việt Nam và Ả Rập Xê Út
Trang 94
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1 Khái niệm về pháp luật quản trị công ty cổ phần
1.1.1 Khái niệm quản trị công ty
Quản trị công ty là hệ thống các quy định của pháp luật, các quy tắc và thiết chế nhằm đảm bảo cho một công ty được quản lý và vận hành một cách có hiệu quả
vì lợi ích của công ty, các thành viên của công ty, các bên liên quan, của cộng đồng
và toàn xã hội
Các định nghĩa về QTCT rất đa dạng Định nghĩa QTCT có thể khác nhau tùy thuộc vào mô hình QTCT được một quốc gia áp dụng Ngoài ra, các định nghĩa còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng công ty, các quốc gia và hệ thống pháp luật của quốc gia nơi công ty đặt trụ sở và hoạt động Ví dụ, định nghĩa sẽ tập trung vào “mô hình QTCT cổ đông” ở các nước Anglo-Saxon hay tập trung vào “mô hình QTCT của các bên liên quan” ở các nước theo mô hình châu Âu lục địa và Nhật Bản
Một trong những định nghĩa được sử dụng nhiều nhất và sớm nhất về QTCT được trình bày bởi Sir Adrian Cadbury, người đứng đầu Ủy ban về các vấn đề tài chính của QTCT ở Anh Trong báo cáo của mình, ông định nghĩa QTCT là hệ thống
mà công ty được chỉ đạo và kiểm soát và thông qua đó HĐQT chịu trách nhiệm quản lý các công ty của họ Ông cũng giải thích vai trò của cổ đông trong quản trị như bổ nhiệm các giám đốc, kiểm toán viên và để thỏa mãn bản thân họ về một cơ cấu quản trị phù hợp [10, tr.19] Báo cáo này sau đó được gọi là “Cadbury Report”,
và trở nên nổi tiếng trong việc đặt ra các yêu cầu QTCT đối với các công ty niêm yết ở Anh Rõ ràng, định nghĩa này đã được chấp nhận vào thời điểm đó, nhưng kể
từ đó đã có nhiều thay đổi và cũng có nhiều quan điểm khác về bản chất của QTCT Định nghĩa Sir Adrian Cadbury đã được mở rộng và ông chỉ ra rằng:
QTCT liên quan đến việc giữ được thế cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế và
xã hội và giữa các mục tiêu cá nhân và cộng đồng Khuôn khổ QTCT ở đó để
Trang 105
khuyến khích việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đồng thời để quy định trách nhiệm về quản lý các nguồn lực nhằm mục đích hướng tới, gần nhất có thể, các lợi ích của cá nhân, công ty và xã hội [26]
Nhà khoa học kinh tế Monks và Minow, những người tiên phong trong QTCT định nghĩa QTCT trong cuốn sách của họ như là mối quan hệ giữa các bên tham gia như TGĐ điều hành, ban quản lý, các cổ đông và người lao động, những người được cho là rất quan trọng trong việc quyết định định hướng và hiệu quả hoạt động của công ty [35] Định nghĩa này cũng tập trung vào mối quan hệ giữa những người tham gia QTCT nhưng bỏ qua các yếu tố khác quyết định đến hiệu quả hoạt động của công ty như tài chính và xã hội
Shleifer và Vishny đưa ra một định nghĩa tiến bộ hơn bằng cách cụ thể hơn đến việc cung cấp tài chính, xem xét việc bảo vệ các nhà đầu tư bên ngoài khỏi việc chiếm đoạt các nguồn lực tài chính của họ bởi công ty Định nghĩa chỉ ra rằng:
QTCT đề cập đến những cách thức mà các nhà cung cấp tài chính cho các công ty đảm bảo mình nhận được một khoản lợi nhuận từ việc đầu tư Làm thế nào để họ đảm bảo rằng các nhà quản lý không lấy đi khoản vốn mà họ cung cấp hoặc đầu tư vào các dự án không tốt và bằng cách nào để các nhà cung cấp tài chính kiểm soát các nhà quản lý [41] Theo IFC, QTCT là “những cơ cấu và những quá trình để định hướng và kiểm soát công ty” Vào năm 1999, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD – Organization for Economic Cooperation and Development) đã xuất bản một tài liệu mang tên “Các nguyên tắc Quản trị công ty” (OECD Principles of Corporate Governance), trong đó đưa ra một định nghĩa chi tiết hơn về QTCT như sau:
QTCT là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công
ty, liên quan tới các mối quan hệ giữa ban giám đốc, HĐQT và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan QTCT cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty, và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty QTCT chỉ được cho là có hiệu quả khi khích
Trang 116
lệ được Ban giám đốc và HĐQT theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn [5, tr.6]
Theo pháp luật Việt Nam, bộ máy CTCP được cơ cấu theo luật pháp và điều
lệ công ty với nguyên tắc cơ cấu nhằm đảm bảo tính chuẩn mực, minh bạch và hoạt động có hiệu quả
Điều 95 LDN 2005 quy định: CTCP có ĐHĐCĐ, HĐQT và GĐ hoặc TGĐ Đối với CTCP có trên 11 cổ đông là cá nhân hoặc tổ chức sở hữu trên 50% tổng số
cổ phần của Công ty phải có BKS
Quyết định số 12 ngày 13/03/2007 của Bộ tài Chính ban hành về quy chế QTCT định nghĩa:
QTCT là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty Các nguyên tắc QTCT bao gồm: (1) Đảm bảo một cơ cấu quản trị hiệu quả; (2) Đảm bảo quyền lợi của cổ đông, đối xử công bằng giữa các cổ đông; (3) Đảm bảo vai trò của những người có quyền lợi liên quan đến công ty; (4) Minh bạch trong hoạt động của công ty; (5) HĐQT và BKS lãnh đạo và kiểm soát công ty có hiệu quả [1]
Cách hiểu khái niệm QTCT như trên tương đối phù hợp với thông lệ quốc tế
tốt nhất (best practices) về QTCT Ở đây, cần lưu ý rằng QTCT không chỉ liên quan
đến cổ đông mà còn chi phối và ảnh hưởng đến các bên liên quan đến công ty Vì vậy, các công ty (dù là niêm yết hay chưa niêm yết), khi xây dựng quy chế QTCT
(đôi khi, gọi là các nguyên tắc QTCT - corporate governance principles), cần hết
sức lưu ý đến những người liên quan đến công ty, bao gồm cổ đông, khách hàng, đối tác, chủ nợ, nhân viên, các cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng
Đối với Ả Rập Xê Út, mặc dù Ủy ban Cơ quan Ban thị trường vốn đã ban hành Quy chế QTCT, Quy chế này vẫn không có một định nghĩa về QTCT Vì vậy,
Trang 127
các định nghĩa nổi tiếng về QTCT như báo cáo Cadbury và các nguyên tắc QTCT của OECD được đề xuất sử dụng Cụ thể, các định nghĩa này là những hình thức phổ biến nhất của QTCT trên thế giới Đặc biệt, báo cáo Cadbury là một ví dụ điển hình vì nó là báo cáo QTCT đầu tiên được đánh giá cao ta ̣i Anh và trên thế giới
những vấn đề QTCT mang những tiêu chí rõ ràng và nổi bâ ̣t Báo cáo Cadbury thực sự là Ủy ban QTCT tối cao của Anh Quốc trong viê ̣c đưa ra các đề xuất và khuyến nghị có giá trị để điều chỉnh nhiều vấn đề thiết yếu của QTCT bao gồm quyền của các cổ đông, nghĩa vụ và trách nhiệm của HĐQT và các tiểu ban của nó
Mặt khác, nhiê ̣m vu ̣ của Ngân hàng Thế giới về QTCT tập trung vào các nguyên tắc QTCT của OECD liên quan đến việc duy trì quyền của các cổ đông, hoạt động của các bên liên quan, yêu cầu về minh bạch và công bố thông tin và trách nhiệm của HĐQT Ngoài ra, các hoa ̣t đô ̣ng của Ngân hàng Thế giới trong viê ̣c khuyến khích các thực tiễn về QTCT có thể thấy ở các nỗ lực của Ngân hàng trong việc thu thập thông tin về thực tiễn QTCT của mỗi quốc gia cũng như cung cấp khuôn khổ QTCT cho mỗi quốc gia Sau đó thông tin được khai thác để xây dựng quy chế và thông lê ̣ QTCT ở mỗi quốc gia thông qua các kế hoa ̣ch cải thiện công viê ̣c, hội nghị khoa học và mức độ hỗ trợ theo yêu cầu thực tế của mỗi quốc gia Cụ thể, triển vọng QTCT Ả Rập Xê Út được xây dựng trên, và hiê ̣n tập trung vào các nguyên tắc QTCT của OECD liên quan đến viê ̣c ban hành và thực hiện các quy định của QTCT Theo đó, Ủy ban Cơ quan thị trường vốn được đề nghị dựa vào sự định nghĩa này khi xây dựng một định nghĩa riêng cho mình
1.1.2 Sự cần thiết, ý nghĩa và vai trò của quản trị công ty cổ phần
QTCT là việc phân bổ, thực thi quyền lực và giám sát việc thực thi quyền lực trong công ty hướng tới sử dụng một cách có hiệu quả nhất nguồn lực của công ty đảm bảo lợi ích tối đa và công bằng cho các cổ đông và các bên liên quan
Tình trạng hoạt động của doanh nghiệp phản ánh vai trò của quản trị, nếu một doanh nghiệp phát triển thì doanh nghiệp đó có bộ máy quản trị tốt và ngược lại Khi nói đến nguyên nhân sự phá sản của các doanh nghiệp thì có thể có nhiều
Trang 138
nguyên nhân, nhưng nguyên nhân hàng đầu thường vẫn là quản trị kém hiệu quả, hay nhà quản trị thiếu khả năng Trong cùng hoàn cảnh như nhau, nhưng người nào biết tổ chức các hoạt động quản trị tốt hơn, khoa học hơn, thì triển vọng đạt kết quả
sẽ chắc chắn hơn Đặc biệt quan trọng không phải chỉ là việc đạt kết quả mà sẽ còn
là vấn đề ít tốn kém thì giờ, tiền bạc, nguyên vật liệu và nhiều loại phí tổn khác hơn, hay nói cách khác là có hiệu quả hơn
Không có các hoạt động QTCT, doanh nghiệp sẽ không biết phải làm gì, làm lúc nào, công việc sẽ diễn ra một cách lộn xộn QTCT là nhằm tạo lập và duy trì một môi trường nội bộ thuận lợi nhất, trong đó các cá nhân làm việc theo nhóm có
thể đạt được một hiệu suất cao nhất nhằm hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức
Với vai trò to lớn như vậy, QTCT là vô cùng cần thiết và có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của công ty QTCT được xem là trụ cột của doanh nghiệp, nếu không có QTCT thì công ty không thể đi vào hoạt động QTCT chính là nguồn vốn nhân lực trong doanh nghiệp, do đó QTCT phải luôn được xây dựng, đổi mới, cải tiến và hoàn thiện liên tục để phù hợp với sự phát triển kinh tế của doanh nghiệp nói riêng và của toàn xã hội nói chung
Một quy chế QTCT, ngoài việc phải đáp ứng các yêu cầu bắt buộc trong pháp luật doanh nghiệp như LDN 2005, Luật Chứng khoán 2006 và các văn bản dưới luật; quan trọng hơn, còn phải thể hiện được cách thức QTCT chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả Nếu như các yêu cầu bắt buộc trong luật là điều kiện cần thì chính các yêu cầu từ thực tiễn hoạt động quản trị doanh nghiệp, trong đó rất quan trọng là kỳ vọng của cổ đông và các bên liên quan, mới là điều kiện đủ
Với Ả Rập Xê Út, CTCP (Ở Ả Rập Xê Út, một CTCP được gọi là Sharikat
al-Musahamah) đóng vai trò hết sức quan trọng trọng nền kinh tế CTCP thường có
lợi thế hơn các hình thức tổ chức công ty khác vì các cổ đông chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn và khả năng thu hút nguồn vốn lớn từ các nhà đầu tư bên ngoài Tuy nhiên, các khoản đầu tư bên từ bên ngoài vào công ty có thể gặp phải những rủi ro trong việc sử dụng nguồn vốn này của các cổ đông có quyền kiểm soát hay các cổ đông quản lý bên trong công ty Chính vì vậy, những quy định và bảo hộ pháp lý
Trang 149
thích hợp thể hiện trong các quy tắc QTCT thực sự cần thiết để bảo vệ các nhà đầu
tư bên ngoài Hơn nữa, có nhiều bằng chứng thừa nhận việc QTCT hợp lý sẽ giúp CTCP huy động vốn với chí phí thấp nhất [39]
Trong làn sóng của cuộc khủng hoảng tài chính năm 1998 tại Nga, châu Á và Brazil, các hoạt động của khối doanh nghiệp đã tác động và ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế và những yếu kém trong QTCT đã đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính toàn cầu Chỉ ba năm sau niềm tin vào khối doanh nghiệp bị sụp đổ bởi những
vụ bê bối trong QTCT tại Hoa Kỳ và Châu Âu [17]
Những vấn đề liên quan đến QTCT cũng được đề cập đến trong những cuộc khủng hoảng tài chính gần đây [38]
Tại chương về QTCT trong khung chính sách đầu tư ấn bản bởi OECD năm
2006 có nêu rõ những lợi ích quan trọng của QTCT như thu hút đầu tư dài hạn; nâng cao độ tin cậy của các nhà đầu tư; giảm chi phí vốn; tăng khả năng hoạt động của các thị trường tài chính; ổn định các nguồn tài chính [37] Hơn nữa, nghiên cứu được tiến hành ở các quốc gia đang phát triển đã chỉ rõ tầm quan trọng của QTCT trong việc đạt mục tiêu tăng trưởng ở các nước này [39]
Nguyên nhân chính của các vấn đề được giải quyết bởi các quy tắc QTCT là
sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quản lý mà gần đây được biết đến như một vấn đề mâu thuẫn về quyền lợi khi mà các cổ đông không trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh mà bầu ra một ban giám đốc như là một trung gian hay người quản lý để thực hiện hoạt động này Jensen và Meckling – hai tác giả nổi tiếng về vấn đề trên,
ví mối quan hệ trung gian này như là “một hợp đồng mà theo đó một hoặc nhiều người (người uỷ nhiệm) thuê một người khác (người quản lý) thay mặt họ thực hiện một số công việc bao gồm việc cho phép những người quản lý được quyền ra quyết định [27]
Như vậy, những vấn đề giữa người uỷ nhiệm và người quản lý (người thực hiện) sẽ ít mang tính quản lý đối với chủ sở hữu mà phần nhiều mang tính thiểu số đối với những cổ đông kiểm soát Ở những nước này, việc bảo vệ các quyền của cổ đông thiểu số thường là vấn đề then chốt
Trang 1510
1.2 Các mô hình quản trị công ty cổ phần
hợp với các nguyên tắc và thực tiễn tốt nhất trong lĩnh vực này Trong nô ̣i bô ̣ công
giám đốc và ban quản lý
Trong mô hình QTCT truyền thống, công ty được điều hành bởi gia đình chủ
sở hữu, kinh tế, quản lý và công nghệ đã xác định sự cần thiết của một lãnh đạo đươ ̣c thực hiê ̣n bởi các nhà quản lý chuyên nghiệp Bằng cách này, những mối quan
hệ mới và các quy trình kinh tế giữa chủ doanh nghiệp và giám đốc điều hành đã xảy ra Mô hình và cách áp du ̣ng của họ ta ̣o ra chủ đề về QTCT nhưng mục tiêu cơ bản của nó vẫn không thay đổi Có ba mô hình lãnh đạo chính mà các học thuyết
1.2.1 Mô hình Anglo – Saxon
Mô hình Anglo-Saxon đặc trưng bởi sự thống trị trong công ty của những cá nhân độc lập và các cổ đông riêng lẻ Giám đốc chịu trách nhiệm trước HĐQT và các cổ đông và đặc biệt quan tâm đến các hoạt động có lợi nhuận và cổ tức nhận được Mô hình này đảm bảo sự di ̣ch chuyển đầu tư từ khu vực không hiệu quả sang
các khu vực phát triển nhưng thiếu mô ̣t chiến lược phát triển
Tại Mỹ, pháp luật dường như luôn luôn chống la ̣i sự tập trung , đặc biệt là trong ngành ngân hàng, nhưng trong những năm gần đây những quy đi ̣nh mới đã đươ ̣c quan tâm phát triển do sức ép ngày càng tăng của các xu hướng kinh tế mới, ảnh hưởng của HĐQT, nhà đầu tư đang đòi hỏi ngày càng khắt khe , thận trọng và các nhà quản lý đươ ̣c đánh giá ngày càng quan tro ̣ng đối với các vấn đề kinh doanh cốt lõi của công ty Các công ty được yêu cầu phải tiết lộ nhiều thông tin hơn so với
các công ty Nhật Bản hay Đức
trị - điều hành, ban giám đốc xuất phát từ các quản trị viên Pháp luật hạn chế cổ đông can thiệp vào các hoạt động hiện tại của công ty, ví dụ như họ chỉ có thể quyết định bầu ra các thành viên của HĐQT Tuy nhiên, họ có thể ảnh hưởng đến viê ̣c
Trang 1611
thay đổi quan điểm , thái độ và cách thức lãnh đa ̣o của các nhà quản lý; họ có thể quyết định thanh lý cổ phần hoặc từ chối để tăng phần vốn góp của công ty Hỗ trợ
tài chính của các cổ đông là vũ khí quan trọng nhất mà họ có trước các nhà quản lý
Các t ổ chức đầu tư luôn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống
công ty Vì vậy, mối quan hệ đầu tư, mô ̣t đă ̣c trưng của hệ thống quản trị Vương quốc Anh, ngày càng giành được chỗ đứng tại Mỹ trong các quan hệ giữa ban quản
lý công ty và tổ chức đầu tư
Các nước Anglo-Saxon đặc trưng bởi những ha ̣n chế đố i với thị trường tài chính và ngân hàng lớn Vương quốc Anh có thể được coi là sự hiện diện đặc biệt ở châu Âu, thừa nhâ ̣n tầm quan trọng của thị trường tài chính ở London, nơi có nhiều công ty niêm yết quốc gia Hệ thống ngân hàng không có vai trò trung tâm trong cấu trúc quản trị, các ngân hàng đơn thuần chỉ được coi là các nhà cung cấp tín dụng Trong các tổ chức kinh tế, cơ cấu vốn được phân tán và quyền của cổ đông là
ổn định so với các nhà quản lý Do vậy, tại các nước Anglo-Saxon, mức độ phân tán vốn và cơ cấu cổ đông cao nơi bất kể ai cũng có thể can thiệp trực tiếp vào sự phát triển kinh tế thông qua sở hữu cổ phần hay đầu tư vào thị trường vốn Đây là một
mô hình quan tâm đến quyền sở hữu của các cổ đông và HĐQT gồm giám đốc điều
hành và giám đốc không điều hành
1.2.2 Mô hình Châu Âu lục địa - The Continental
Mô hình châu Âu lục địa đặc trưng bởi sự tập trung cao về vốn Cổ đông có quyền, lợi ích chung với công ty, tham gia quản lý và kiểm soát công ty Bên cạnh các cổ đông, các nhà quản lý phải chịu trách nhiệm trước một nhóm lớn hơn bao gồm các bên liên quan, như các hiệp hội, các đối tác kinh doanh
Trong hệ thống quản trị của Đức, doanh nghiệp được xem là sự kết hợp của các nhóm lợi ích khác nhau nhằm phối hợp các mục tiêu lợi ích quốc gia Các ngân hàng Đức từng đóng vai trò quan trọng trong các quyết định của công ty, hầu hết các công ty tìm kiếm sự hỗ trợ tài chính từ các ngân hàng vì chỉ có một trong bốn công ty ở Đức có quyền giao dịch công chúng Tại Đức, chúng ta có thể tìm thấ y
Trang 1712
trong các công ty một ban điều hành và hội đồng giám sát Nhiê ̣m vu ̣ của ban điều hành là quản lý công ty, nhưng dưới sự chỉ đạo của hô ̣i đồng giám sát mà hầu hết các quyết định phải được p hê duyê ̣t bởi hô ̣i đồng này Từ những đặc điểm trên đây,
ta có thể nhận thấy mô hình QTCT Châu Âu Lục địa định hướng đến thị trường ngân hàng, quan tâm đến quyền sở hữu của các cổ đông theo cơ cấu tập trung và các mối quan hệ giữa công ty với nhân viên Mô hình này theo cơ chế quản trị quản lý theo dõi và kiểm soát gồm HĐQT và ban giám sát
1.2.3 Mô hình Nhật Bản
Mô hình Nhật Bản mang đến một khái niệm tổ chức mới đi ̣nh rõ các nhóm công
ty sản xuất bao gồm các công ty với lợi ích chung và chiến lược tương tự Trách nhiệm của các nhà quản lý thể hiện trong quan hệ với các cổ đông và keiretsu [8] (một mạng lưới các nhà cung cấp và khách hàng trung thành) Keiretsu đại diện cho một mô hình phức tạp của các mối quan hệ hợp tác và cạnh tranh, đặc trưng bởi việc áp dụng các chiến thuật phòng thủ trong việc tiếp quản đối thủ, làm giảm khả năng thực hiê ̣n chủ nghĩa cơ hội của các bên liên quan và giữ mối quan hệ kinh doanh lâu dài Hầu hết các công ty Nhật Bản liên kết với nhóm các đối tác kinh doanh này
Mô hình này không tập trung vào ảnh hưởng của các thị trường vốn lớn mạnh mà là sự hiê ̣n diê ̣n của những cổ đông chiến lược như ngân hàng Hệ thống quản trị này tạo điều kiện cho việc giám sát và cấp vốn linh hoạt của các doanh nghiệp, thông tin liên lạc hiệu quả giữa họ và các ngân hàng vì nguồn vốn chính là các khoản vay ngân hàng Hầu hết cổ phần được nắm giữ bởi các cổ đông ổn định,
có thể là chủ nợ lớn, các nhà cung cấp hay khách hàng để duy trì các mối quan hệ tin tưởng lâu dài
Tại Nhật Bản, các chính sách của công ty bị ảnh hưởng bởi sự can thiệp tích cực của Chính phủ do các quan chức là các bên liên quan trong nhiều công ty Cơ cấu chính phủ đã tạo ra một hệ thống đàm phán không chính thức để thực hiện một
số chính sách và chiến lược của công ty (Gyosei Shido) Trong những năm 1980,
quản lý là những công chức ngoài hệ thống (amakudari [28]), họ nghỉ hưu ở tuổi 55
Trang 18bị chi phối bởi các công ty đươ ̣c thành lập và điều hành bởi các gia đình Các ngân hàng và tổ chức đầu tư khác thường ít có vai trò trong kỷ luật QTCT Trách nhiệm chính của họ là cung cấp vốn vay, các giám đốc ngân hàng và các nhà đầu tư cổ phiếu có vị trí quản lý cao nhất trong công ty
Như vậy, mô hình Nhật Bản mang định hướng đến thị trường ngân hàng, quan tâm đến lợi ích của các bên liên quan (keiretsu) và được quản lý bởi HĐQT và
Ủy ban kiểm tra, kiểm soát
Vấn đề QTCT cổ phần tại Việt Nam hiện nay quyền hạn tập trung ở một số ít người, họ vừa là cổ đông lớn, vừa là thành viên của HĐQT và đồng thời giữ các chức vụ chủ chốt trong ban giám đốc Theo quy định của điểm b, khoản 1, điều
110 LDN 2005 của Việt Nam, thành viên HĐQT là cổ đông cá nhân phải sở hữu
ít nhất 5% tổng số cổ phần phổ thông hoặc người khác có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản lý kinh doanh hoặc trong ngành nghề kinh doanh chủ yếu của công ty hoặc tiêu chuẩn, điều kiện khác quy định tại Điều lệ công ty Tính độc lập của thành viên HĐQT, nhất là Chủ tịch HĐQT không cao, nhiều chủ tịch HĐQT vẫn hưởng lương công ty, đôi khi lại thay giám đốc nắm quyền điều hành; còn một
số khác lại quá bù nhìn, không có tiếng nói trong công ty, mọi quyền hạn đều do giám đốc nắm giữ và thao túng
Mô hình cơ cấu tổ chức của CTCP theo LDN Việt Nam 2005 bao gồm ĐHĐCĐ, HĐQT và BKS, Ban Giám đốc được phân định quyền và nghĩa vụ nhằm đảm bảo việc thực hiện một cơ cấu quản trị hiệu quả Nó không giống như hội đồng một cấp như trong mô hình Anglo-Saxon vì có sự tồn tại của thiết chế BKS, một cơ quan độc lập với nhiệm vụ giám sát những người quản lý - điều hành công
ty Cũng có nhiều quan điểm cho rằng mô hình quản trị CTCP của Việt Nam là
Trang 1914
hội đồng hai tầng Tuy mô hình này gần giống với mô hình hội đồng hai cấp trong các CTCP ở Đức, song nó khác biệt ở chỗ BKS trong CTCP ở Việt Nam do ĐHĐCĐ bầu ra và có chức năng cơ bản nhất là giám sát công tác quản lý, điều hành của HĐQT và BGĐ Theo Điều 123 của LDN 2005, BKS không có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các thành viên của HĐQT, tổng giám đốc
và người quản lý công ty và tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của công
ty như Hội đồng giám sát ở Đức
Những nguyên tắc QTCT ở Ả Rập Xê Út xuất phát chủ yếu từ hai nguồn là Đạo luật Công ty năm 1965 và nguồn thứ hai bao gồm Luật Thị Trường Vốn năm
2003 và những quy định của Uỷ ban thẩm quyền thị trường vốn thành lập theo Luật Thị trường vốn Uỷ ban thẩm quyền thị trường vốn này đã sử dụng các quyền hạn được trao để ban hành Quy chế QTCT nhằm quản lý các vấn đề liên quan đến quản trị doanh nghiệp [13]
Hê ̣ thống luâ ̣t pháp luâ ̣t Ả Râ ̣p Xê Út có sự khác biê ̣ t với Viê ̣t Nam do chi ̣u sự điều chỉnh của luâ ̣t Shar iah cùng các đa ̣o luâ ̣t khác không trái với luâ ̣t này Luâ ̣t
Luâ ̣t Công ty và việc áp dụng nó là yếu t ố quan trọng để đánh giá hiệu lực của các
Theo quy định khoản a, điều 12 Quy chế QTCT Ả Rập Xê Út, Điều lệ công
ty phải quy định cụ thể số lượng các thành viên HĐQT, với điều kiện số thành viên không ít hơn ba và không quá mười một người Không được kết hợp vị trí của Chủ tịch HĐQT với bất kỳ vị trí điều hành khác trong công ty, chẳng hạn như Giám đốc điều hành (CEO), giám đốc quản lý hoặc TGĐ Một thành viên HĐQT không đươ ̣c đồng thời là thành viên HĐQT của hơn năm CTCP Một quy đi ̣nh bắt buộc là phần lớn thành viên HĐQT phải không là người điều hành công ty và ít nhất một phần ba
là các giám đốc độc lập Mục đích rõ ràng của quy định này là để giảm ảnh hưởng của ban giám đốc đối với HĐQT
Qua những phân tích về đặc điểm của các mô hình QTCT trên đây, ta có thể thấy mô hình quản trị Anglo-Saxon mang lại hiệu quả tài chính, trong khi mô hình
Trang 2015
Châu Âu Lục địa mang lại lợi nhuận từ vốn x ã hội hay lợi nhuận từ vốn con người đối với mô hình QTCT Nhật Bản Mô hình QTCT Anglo-Saxon tập trung vào các quyền của các cổ đông , mặc dù quyền lợi của các bên liên quan cũng được xem xét
quy định QTCT tốt nhất Trong khi, mô hình QTCT châu Âu lục địa tập trung vào quyền lợi của các bên liên quan, bao gồm cổ đông , người lao động, chủ nợ, con nợ, nhà cung cấp, khách hàng và toàn xã hội , trong đó cổ đông là bô ̣ phâ ̣n quan tro ̣ng thiết yếu của các bên liên quan Hiện nay, một số thị trường vốn đã chọn kết hợp các quy định của QTCT theo mô hình quản trị Anglo-Saxon và Châu Âu lục địa, trong đó có Ả Rập Xê Út
Mỗi mô hình được phát triển dựa hoàn toàn vào những đặc điểm văn hóa, lịch sử, công nghê ̣ và điều này chỉ ra phương thức các mô hình xuất hiê ̣n dưới sự ảnh hưởng của các điều kiê ̣n kinh tế , xã hội cụ thể của quốc gia Không mô hình QTCT nào là hoàn hảo hay thâ ̣m chí ưu viê ̣t hơn Sự tồn ta ̣i của các mô hình này theo thời gian cho thấy mỗi mô hình đều hiê ̣u quả theo cách riêng của nó và cơ cấu quản tri ̣ công ty cu ̣ thể của mô ̣t nước rất khó có thể mang sang áp du ̣ng ta ̣i mô ̣t nước khác
1.3 Các nguyên tắc quản trị công ty cổ phần
Nguyên tắc QTCT là hệ thống các quy tắc để bảo đảm cho công ty được điều hành, kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông, công ty, các bên liên quan và toàn xã hội Theo Các nguyên tắc QTCT của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD thì các nguyên tắc QTCT bao gồm: Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ QTCT hiệu quả; Quyền của cổ đông và các chức năng cơ bản; Đối xử bình đẳng với cổ đông; Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong QTCT; Công bố thông tin và tính minh bạch; Trách nhiệm của Hội đồng quản trị [36]
Các nguyên tắc QTCT khẳng định HĐQT phải chịu trách nhiệm trước cổ đông và công ty Với các cổ đông, HĐQT phải đối xử bình đẳng với tất cả các cổ đông bao gồm các cổ đông lớn cũng như cổ đông thiểu số Đối với công ty, HĐQT phải đảm bảo công ty luôn tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành trong các lĩnh vực như lao động, an toàn lao động, thuế, môi trường
Chúng ta có thể thấy rằng các nguyên tắc QTCT của OECD tập trung vào
Trang 2116
các lĩnh vực như: các vấn đề về quản lý tài chính của công ty, sai lệch thông tin giữa các bên liên quan, xử lý các mâu thuẫn quyền lợi giữa HĐQT, ban quản lý, cổ đông bao gồm cả mâu thuẫn giữa các cổ đông lớn và cổ đông thiểu số và các bên liên quan khác, vai trò của các tổ chức kiểm soát, kiểm toán, chính sách thù lao đối với các thành viên HĐQT bao gồm thành viên điều hành và thành viên không điều hành, thực thi các điều khoản trong hợp đồng công ty và trách nhiệm của công ty với toàn xã hội
xem là một chuẩn mực cụ thể cho các vấn đề QTCT hiện nay Các chuẩn mực này thậm chí được các tổ chức quốc tế như Diễn đàn Ổn định Tài chính và Ngân hàng
QTCT giúp cho công ty có một cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ quyền và lợi ích của chính các cổ đông trong công ty, đồng thời đó là những thể chế pháp lý để doanh nghiệp tham gia vào thị trường Một doanh nghiệp khó có thể tồn tại được nếu như những nguyên tắc QTCT không phù hợp với thông lệ quốc tế nói chung và thông lệ kinh doanh của nước sở tại nói riêng Do đó, mỗi công ty cần phải xây dựng cho mình những nguyên tắc quản trị riêng, phù hợp với tình hình và sự phát triển của công ty để tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 2217
Chương 2
QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VÀ Ả RẬP XÊ ÚT
2.1 Cổ đông và Đại hội đồng cổ đông
2.1.1 Cổ đông
Cổ đông là cá nhân hay tổ chức nắm giữ quyền sở hữu hợp pháp một phần hay toàn bộ phần vốn góp (cổ phần) của một CTCP Chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu này gọi là cổ phiếu Về bản chất, cổ đông là thực thể đồng sở hữu CTCP chứ không phải là chủ nợ của công ty đó, do vậy, quyền lợi và nghĩa vụ của họ gắn liền với kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
2.1.1.1 Quyền của cổ đông
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, cổ đông được chia làm hai loại: cổ đông phổ thông (bao gồm cổ đông sáng lập) và cổ đông ưu đãi (bao gồm: cổ đông
ưu đãi biểu quyết; cổ đông ưu đãi cổ tức và cổ đông ưu đãi hoàn lại) Các cổ đông
được đối xử công bằng và bình đẳng Cổ đông có quyền và nghĩa vụ tương ứng với
số cổ phần và loại cổ phần mà họ sở hữu, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty
Cổ đông phổ thông có các quyền sau: Tham dự và phát biểu trong các Đại hội cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện được
uỷ quyền; mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết; Được nhận cổ tức với mức theo quyết định của ĐHĐCĐ; Được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty; Được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông khác và cho người không phải là cổ đông, trừ trường hợp là cổ phần của cổ đông sáng lập; Xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong Danh sách cổ đông có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác; Xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công
ty, sổ biên bản họp ĐHĐCĐ và các nghị quyết của ĐHĐCĐ; Được thông báo về tất
cả các quyết định đã được ĐHĐCĐ thông qua, ngay cả khi cổ đông đó không trực
Trang 2318
tiếp dự họp; được thông báo về tình hình tài chính hàng năm của công ty dưới hình thức báo cáo của nội dung báo cáo tài chính hàng năm của công ty; Yêu cầu Tòa án xem xét, hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ trong trường hợp trình tự, thủ tục triệu tập họp ĐHĐCĐ không thực hiện đúng theo quy định của LDN 2005 và Điều lệ công
ty hoặc trình tự, thủ tục ra quyết định nội dung của quyết định vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ Công ty; Khi công ty giải thể hoặc phá sản, được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ phần góp vốn vào công ty [6, Điều 79]
Các cổ đông công ty có quyền tham gia thảo luận và quyết định tất cả các nội dung quan trọng trong tổ chức hoạt động và phát triển của công ty như chiến lược
và định hướng phát triển công ty, số lượng cổ phần và cơ cấu vốn cổ phần của công
ty, bổ nhiệm và miễn nhiệm nhân sự của cơ quan quản lý công ty và cơ quan kiểm soát nội bộ của công ty theo phương thức bầu dồn phiếu, tiền lương, thù lao và các lợi ích khác đối với họ; tổ chức lại và giải thể công ty
LDN 2005 cũng quy định rất rõ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục triệu tập ĐHĐCĐ của cổ đông, điều đó bảo đảm công bằng và bình đẳng cho các cổ đông công ty
Cổ đông có thể thực hiện trực tiếp hoặc thông qua đại điện được ủy quyền để thực hiện quyền biểu quyết Đại diện ủy quyền nhân danh cổ đông thay mặt cho cổ đông đưa ra các quyết định tại cuộc họp ĐHĐCĐ [6, Điều 79] Công ty niêm yết không được ngăn cản cổ đông tham dự ĐHĐCĐ, đồng thời phải tạo điều kiện cho
cổ đông thực hiện việc ủy quyền đại diện tham gia họp ĐHĐCĐ khi cổ đông có yêu cầu [5, tr.242] Kèm theo thông báo mời họp ĐHĐCĐ phải có mẫu chỉ định đại diện theo ủy quyền dự họp gửi cho cổ đông trước ngày khai mạc cuộc họp Trừ trường hợp pháp luật có quy định hạn chế, mọi cá nhân đều có thể là người đại diện miễn là được ủy quyền hợp lệ bằng văn bản Việc ủy quyền cho người đại diện dự họp ĐHĐCĐ phải được lập thành văn bản theo mẫu của công ty và không cần phải công chứng [6, Điều 101]
Trong trường hợp nghị quyết của ĐHĐCĐ vi phạm pháp luật hoặc vi phạm những quyền lợi cơ bản của cổ đông theo quy định của pháp luật, cổ đông có quyền đề nghị không thực hiện các quyết định đó theo trình tự, thủ tục
Trang 2419
pháp luật quy định [5, tr.248]
LDN 2005 quy định, cổ đông có quyền yêu cầu công ty mua lại toàn bộ hoặc một phần cổ phần của mình nếu họ biểu quyết phản đối hoặc từ chối biểu quyết về việc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ Công ty hay yêu cầu tổ chức lại công ty HĐQT phải xác định giá mua lại có thể theo giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc do điều lệ công ty quy định hoặc giá do tổ chức định giá chuyên nghiệp xác định [6, Điều 90]
Cổ đông sở hữu cổ phần của công ty liên tục trong thời hạn ít nhất một năm
có quyền yêu cầu HĐQT đình chỉ thực hiện quyết định của mình, nếu quyết định đó
đã được thông qua trái với quy định của pháp luật, hoặc điều lệ công ty gây thiệt hại cho lợi ích của công ty và cổ đông
Ngoài những quyền trên, thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 10% tổng số cổ phần phổ thông hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại điều lệ công ty có thêm một số quyền như đề cử người vào HĐQT và BKS; xem xét, trích lục sổ biên bản và các nghị quyết, quyết định của HĐQT, báo cáo tài chính giữa năm, hàng năm và các báo cáo của BKS; Kiến nghị vấn đề đưa vào chương trình họp ĐHĐCĐ; yêu cầu HĐQT hoặc BKS triệu tập họp ĐHĐCĐ trong các trường hợp: HĐQT vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền và nhiệm kỳ của HĐQT đã vượt quá 6 tháng mà HĐQT mới chưa được bầu thay thế; Triệu tập họp ĐHĐCĐ trong trường hợp HĐQT và BKS không thực hiện triệu tập họp theo yêu cầu trình tự; yêu cầu BKS kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, khi xét thấy cần thiết; yêu cầu cơ quan đăng ký kinh doanh giám sát trình tự, thủ tục, cách thức tiến hành họp và thông qua quyết định của ĐHĐCĐ, nếu xét thấy cần thiết [6, Điều 79]
Việc chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập cho các cổ đông khác không phải là cổ đông sáng lập trong thời hạn ba năm kể từ ngày thành lập công ty
bị hạn chế trừ khi được sự phê duyệt của ĐHĐCĐ Hạn chế này chỉ áp dụng đối với các cổ phần do cổ đông sáng lập đăng ký góp vốn tại thời điểm thành lập công ty
Trang 2520
Các quyền của cổ đông như tham dự họp ĐHĐCĐ; bầu và bãi miễn thành viên HĐQT, BKS, chuyển nhượng cổ phần; quyền ưu tiên mua trước, quyền nhận
cổ tức đã được thực hiện tương đối đầy đủ; quyền của cổ đông, nhóm cổ đông thiểu
số trong việc yêu cầu triệu tập họp ĐHĐCĐ hoặc trực tiếp triệu tập họp theo thẩm quyền đã phát huy được hiệu lực thực tế Trong hầu hết các CTCP, cổ đông đã nhận được tóm tắt Báo cáo tài chính, quyết định của ĐHĐCĐ, thông báo về quyết định của HĐQT và thậm chí cả của giám đốc Như vậy, cổ đông đã được cung cấp đầy
đủ, thậm chí nhiều thông tin hơn theo quy định
Tuy nhiên, ở một số không nhỏ các CTCP, trình tự và thủ tục triệu tập ĐHĐCĐ vẫn chưa được tuân thủ Nguyên nhân là do HĐQT chưa triệu tập họp ĐHĐCĐ theo đúng quy định của pháp luật dẫn đến các tranh chấp trong nội bộ cổ đông CTCP
Các cổ đông lớn đã lạm dụng quyền để trực tiếp bổ nhiệm đại diện của mình làm thành viên HĐQT, trực tiếp quyết định tăng vốn điều lệ hoặc điều chuyển, sử dụng tài sản của công ty phục vụ lợi ích riêng của mình hoặc cho công ty con khác
Thực tế, vốn điều lệ khai báo và đăng ký là giá trị danh nghĩa của cả số cổ phần đã bán và số cổ phần được quyền chào bán nhưng chưa bán hay chưa phát hành ở phần lớn các CTCP hiện nay Số cổ phần đã phát hành chỉ kiếm một số rất nhỏ trong tổng số cổ phần đăng ký thành vốn điều lệ của công ty dẫn đến hệ quả không tốt đối với công ty, cổ đông của công ty và các bên có liên quan, tạo ra sự nhầm lẫn về sở hữu và cơ cấu sở hữu công ty Trong nhiều trường hợp, cổ đông hiện hữu chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác có thể chỉ là chuyển nhượng quyền mua cổ phần mà thôi
Do vậy, các cơ quan thực thi pháp luật như cơ quan đăng ký kinh doanh cần giám sát để cổ đông sáng lập phải đóng đủ số cổ phần họ đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày đăng ký kinh doanh Các nhà đầu tư, cổ đông và công ty phải nhận thức được cổ phần là tài sản của công ty và là công cụ để huy động vốn, chỉ khi cổ phần được phát hành và thanh toán đủ, thì nó mới là tài sản của cổ đông
Các quyền ưu tiên mua cổ phần của công ty cũng bị vi phạm như việc cổ
Trang 2621
đông đa số chi phối, tại ĐHĐCĐ, bỏ phiếu ra nghị quyết phát hành thêm cổ phần mới theo phương thức phát hành nội bộ và dành cho mình quyền mua nhiều hơn so với các cổ đông khác hay lạm dụng cái gọi là cổ đông chiến lược với vị thế lớn đã hợp pháp hóa nghị quyết của ĐHĐCĐ dành quyền ưu tiên mua cổ phần mới phát hành của công ty với tỷ lệ cao hơn và với mức giá thấp hơn so với các cổ đông khác Điều này đã vi phạm nguyên tắc đối xử bình đẳng giữa các cổ đông
Nhiều cổ đông trong các công ty thực hiện việc chia cổ tức bằng nhiều cổ phiếu tính theo mệnh giá chứ không phải là trị giá của cổ phiếu khi giá cổ phiếu của công ty đang tăng lên Như vậy, các cổ đông đã lấy đi một phần thặng dư vốn của công ty, nguồn vốn để đầu tư phát triển Điều này còn có thể làm giảm giá trị cổ phần của công ty theo cách pha loãng cổ phiếu công ty, làm tăng cung về cổ phiếu
về công ty và làm suy giảm tiềm năng phát triển của công ty do các cổ đông đã chia
cổ phần đó cho nhau để chuyển nhượng cho người khác thay vì phát hành cổ phần
để huy động vốn cho công ty
Trong các cuộc họp ĐHĐCĐ, cổ đông không được tiếp cận đầy đủ các tài liệu họp, các tài liệu trên trang web của công ty thì nhiều khi cũng không dễ dàng tải về được và hầu hết không có phiên bản tiếng Anh, gây khó khăn cho các cổ đông
là nhà đầu tư nước ngoài Các cổ đông nhỏ ở xa thường không có điều kiện tham gia,
bỏ phiếu tại các ĐHĐCĐ, phải ủy quyền cho người khác trong công ty bỏ phiếu mà không kiểm soát được việc bỏ phiếu đó Cổ đông được biểu quyết tại ĐHĐCĐ thường niên để lựa chọn kiểm toán, song các công ty thường đưa ra một danh sách các ứng viên kiểm toán để cổ đông chấp thuận, sau đó công ty được ủy quyền chọn trong danh sách này Thực tế cho thấy, HĐQT mới là người chọn đơn vị thực hiện kiểm toán độc lập chứ không phải cổ đông Với cổ đông nhỏ, các công ty chưa có biện pháp khuyến khích, nâng cao năng lực của nhóm cổ đông này, nhất là trong việc tham gia đóng góp nội dung cho chương trình nghị sự của ĐHĐCĐ thường niên Phần đa các công ty tại Việt Nam chưa thực sự tạo điều kiện để cổ đông thực hiện biểu quyết ở nước ngoài, gây ảnh hưởng tới việc thực hiện quyền lợi của nhóm cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài
Trang 2722
Theo Báo cáo Thẻ điểm QTCT của IFC 2012, 67% các công ty chưa có cơ chế, chính sách, quy trình quan hệ nhà đầu tư đầy đủ, và chỉ có 27% các công ty được khảo sát thực hiện được yêu cầu này; đa phần các trang tin điện tử của các công ty không có mục này [4, tr.63] Vì vậy, mối quan hệ giữa công ty và các nhà đầu tư, cổ đông không thực sự hiệu quả để có thể tạo sự liên kết chặt chẽ nhằm cùng nhau thúc đẩy chất lượng QTCT và hiệu quả hoạt động của DN
Trên thực tế, các quyền của cổ đông về cơ bản đã được thực hiện Tuy nhiên, việc thực hiện các quyền đó ở các mức độ khác nhau và/hoặc bị vi phạm và hạn chế dưới nhiều hình thức, đặc biệt đối với cổ đông thiểu số Quan hệ cổ đông đa số và
cổ đông thiểu số là một vấn đề chính của khung QTCT Quyền của cổ đông chưa được đối xử công bằng Một bộ phận cổ đông không phát huy được vai trò của mình trong quản trị, bộ phận khác lại có quá nhiều quyền nhưng thiếu giám sát Phần lớn các CTCP và cổ đông trong công ty chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt mà thiếu đi chiến lược phát triển lâu dài, bền vững, tạo vị thế thiếu cạnh tranh của các CTCP Việt Nam trên thị trường trong nước cũng như trên thế giới
Theo quy định của Luật Công ty Ả Rập Xê Út, một công ty trở thành pháp nhân kể từ ngày có quyết định của Bộ trưởng Bộ Thương mại công bố công ty đươ ̣c thành lập cho đến khi giải thể [33, Điều 64, 216] Tuy nhiên, công ty chỉ có tư cách
ty trên Công báo Công ty (Um Alqura là công báo chính thức của Ả Rập Xê Út mà luật pháp và các ấn phẩm chính thức khác như điều lệ thành lập công ty được công bố) [33, Điều 13] Đây là quy định có phần thực tế và có điểm khác so với quy định của pháp luật Việt Nam khi một công ty trở thành pháp nhân ngay sau khi nhận được Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do Sở Kế hoạch Đầu tư cấp
Công ty là một pháp nhân tách biệt với các cổ đông và mo ̣i thua lỗ sẽ được giới hạn bởi tổng giá tri ̣ đầu tư của mỗi cổ đông Cổ đông thông thường sẽ không phải chịu trách nhiệm pháp lý với nghĩa vụ của công ty [33, Điều 48]
Một công ty, bao gồm CTCP, đươ ̣c xem như một hợp đồng giữa các bên và
do đó phải đáp ứng các yếu tố chung của hợp đồng Ngoài những yếu tố chung này,
Trang 2823
có những yếu tố áp dụng cho tất cả các công ty, bao gồm các CTCP và các yếu tố hợp đồng cụ thể chỉ áp du ̣ng cho các CTCP Những yếu tố hợp đồng này bao gồm : Những yếu tố hợp đồng chung; Những yếu tố hợp đồng cụ thể cho các công ty bao gồm các CTCP; Những yếu tố hợp đồng cụ thể chỉ áp dụng cho các CTCP; Hậu quả của viê ̣c không đáp ứng các yếu tố hợp đồng
Luâ ̣t Công ty và Luâ ̣t Giao di ̣ch chứng khoán Ả Rập Xê Út không đề cập đến năng lực của cổ đông trong CTCP, nhưng có thể nói rằng theo các quy tắc chung của Luật Hồi giáo được áp dụng, người dưới mười tám tuổi (vị thành niên) có thể là một cổ đông của công ty , trừ khi điều lê ̣ công ty quy đi ̣nh cổ đông phải là người trưởng thành, hoặc vị thành niên phải có người giám hộ là đại diện theo pháp luâ ̣t của vị thành niên đó trong công ty Trong khi đó theo Pháp luật Việt Nam, cổ đông phải đáp ứng các điều kiện cụ thể như: không là cán bô ̣ công chức , không là người mất năng lực hành vi, hay chưa đủ tuổi
CTCP phải có ít nhất năm cổ đông chủ sở hữu Yêu cầu này trong luật Việt Nam là ba [33, Điều 48] Nếu một cổ đông sở hữu 100% vốn của công ty, công ty
sẽ giải thể và cổ đông này sẽ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số tài sản của công ty Nếu số lượng cổ đông giảm xuống dưới năm thành viên và sau một năm công ty không đáp ứng được số lươ ̣ng cổ đông tối thiểu thì bất kỳ người nào quan tâm có thể yêu cầu giải thể công ty [33, Điều 147]
Ngoài ra, có những quy định phải thỏa mãn yêu cầu về vốn Mỗi cổ đông chia sẻ lợi nhuận và thua lỗ của công ty Nếu có bất cứ điều khoản nào thỏa thuâ ̣n cho phép bất kỳ cổ đông của một công ty miễ n trách nhiê ̣m với những khoản lỗ hay tước quyền hưởng lợi nhuâ ̣n của ho ̣ , đều bị vô hiệu và không có giá tri ̣ Nếu hợp đồng (điều lệ thành lập) của công ty không nêu phần lợi nhuận hoặc lỗ mà chủ sở hữu được hưởng và phải chia sẻ thì sẽ dựa trên tỷ lệ đóng góp của ho ̣ vào tổng vốn của công ty [33, Điều 7]
Theo quy định của pháp luật Ả Rập Xê Út, cổ đông có các quyền chung sau:
Một là: Một cổ đông được hưởng tất cả các quyền gắn liền với cổ phần, cụ
thể là quyền được hưởng một phần lợi nhuận phân phối, quyền được hưởng một phần tài sản của công ty khi thanh lý phá sản; quyền tham dự Đại hội cổ đông, tham
Trang 2924
gia thảo luận và biểu quyết đối với các quyết định có liên quan; quyền định đoạt đối với cổ phần; quyền giám sát các hoạt động của HĐQT, và nộp đơn khiếu nại về trách nhiệm của các thành viên HĐQT; quyền tìm hiểu và tiếp cận thông tin mà không làm phương hại đến lợi ích của công ty, không trái với quy định của Luật Thị trường vốn và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này [33, Điều 108]
Việc hạn chế rõ quyền tìm hiểu và tiếp cận thông tin rằng quyền này không được sử dụng một cách có hại hoặc làm phương hại đến lợi ích của công ty Một hạn chế rõ ràng khác là việc thực hiện quyền này không được mâu thuẫn với Luật thị trường vốn và Văn bản hướng dẫn thi hành Điều này thể hiện một thực tế là quyền tiếp cận thông tin còn tùy thuộc vào các quy định ở trên trong đó bao gồm các quy định như thời điểm cho phép truy cập thông tin
Hai là: Quy chế QTCT cũng quy định rõ về việc tạo điều kiê ̣n thuận lợi cho
các cổ đông thực hiê ̣n các quyền và tiếp cận thông tin: Điều lê ̣ và Quy chế của công
ty phải cụ thể hóa các thủ tục và biện pháp phòng ngừa cần thiết giúp các cổ đông thực hiê ̣n c ác quyền hợp pháp của họ Các thủ tục và biện pháp này phải được quy định cu ̣ thể trong Quy chế của công ty Trước khi thông qua Quy chế QTCT, các vấn đề cụ thể liên quan đến viê ̣c tham dự và biểu quyết tại cuộc họp cổ đông phải được quy đi ̣nh trong Quy chế của công ty theo Điều 83 và 93 của Luật công ty; Tất
cả các thông tin giúp các cổ đông thực hiện đúng các quyền của họ phải được cung
thường xuyên và vào thời gian quy định; Công ty phải sử dụng các phương tiện hiệu quả nhất để giao tiếp với các cổ đông Các cổ đông đều có quyền bình đẳng đối với viê ̣c cung cấp thông tin [13, Điều 4]
Theo Luật công ty, các thông báo của ĐHĐCĐ phải được công bố trên Công báo và nhâ ̣t báo nơi đă ̣t trụ sở chính của công ty [33, Điều 88]
Quy chế QTCT quy định về viê ̣c cấm bất kỳ sự không nhất quán nào trong cung cấp thông tin cho các cổ đông [13, Điều 4] Một điểm cần lưu ý rằng Quy tắc niêm yết yêu cầu cao hơn: Tổ chức phát hành có cổ phiếu niêm yết phải đảm bảo đối xử bình đẳng đối với tất cả những người nắm giữ cổ phiếu cùng loại về tất cả
Trang 3025
các quyền gắn với cổ phiếu này; Tổ chức phát hành với các công cụ nợ được niêm yết phải bảo đảm đối xử bình đẳng đối với tất cả các chủ sở hữu chứng khoán cùng loại đó về tất cả các quyền gắn với các chứng khoán này [12, Điều 39]
Ba là: Quy chế QTCT quy định về Quyền cổ đông liên quan đến cuộc họp
ĐHĐCĐ: ĐHĐCĐ sẽ triệu tập ít nhất mỗi năm mô ̣t lần trong vòng sáu tháng sau khi kết thúc năm tài chính của công ty (theo quy định của pháp luật Việt Nam là trong thời hạn 4 tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính và không quá 6 tháng nếu cơ quan đăng
ký kinh doanh cho gia hạn theo đề nghị của HĐQT); Đại hội sẽ triệu tập theo đề nghị của HĐQT HĐQT phải chính thức yêu cầu Đại hội triệu tập theo đề nghị của kiểm toán viên hoặc một số cổ đông có cổ phần đại diện cho ít nhất 5% vốn cổ phần chủ sở hữu; Ngày, địa điểm, chương trình nghị sự của ĐHĐCĐ phải được quy định cụ thể và thông báo trước ít nhất hai mươi ngày trước ngày diễn ra cuô ̣c ho ̣p; Giấy mời tham gia cuô ̣c ho ̣p phải được công bố trên trang web của Sở Giao dịch, trang web của công ty và trên hai tờ báo có lưu hành lượng lớn trong nước Các phương tiện hiện đại, công nghê ̣ cao đươ ̣c sử dụng để giao tiếp với các cổ đông Đây là những quy tắc phù hợp cần thiết cho các công ty đại chúng, bổ sung cho quy định về thủ tục thông báo đối với tất cả các CTCP tại Điều 88 của Luật công ty - giấy mời của ĐHĐCĐ phải được công bố trên Công báo và trên một tờ nhật báo phát hành trên địa bàn trụ sở chính của công ty ít nhất là hai mươi lăm ngày trước ngày ấn định cuộc họp; Cổ đông được phép có cơ hội tham gia biểu quyết thực sự tại ĐHĐCĐ, họ phải được thông báo về các quy tắc tổ chức các cuộc họp và thủ tục bầu cử; Công tác chuẩn bi ̣ được thực hiện để đảm bảo sự tham gia của số lượng cổ đông lớn nhất tại ĐHĐCĐ, bao gồm cả việc xác định sự phù
hơ ̣p về thời gian và địa điểm tổ chức cuô ̣c ho ̣p Đây là một nỗ lực cao nhất đưa ra quy định nhằm tăng cường sự tham dự tại ĐHĐCĐ; Trong quá trình chuẩn bi ̣ chương trình nghị sự của ĐHĐCĐ, HĐQT phải xem xét các vấn đề mà cổ đông yêu cầu đưa vào chương trình nghị sự; cổ đông sở hữu không thấp hơn 5% cổ phần của công ty được quyền thêm một hoặc nhiều mục vào chương trình nghị sự khi chuẩn bị chương trình Đây là một quyền cổ đông mới quan trọng, đòi hỏi HĐQT đưa vào chương trình nghị
sự của cuộc họp cổ đông "một hoặc nhiều mục" mà bất kỳ cổ đông sở hữu ít nhất 5%
Trang 3126
cổ phần của công ty yêu cầu Quy định này được xem như là phần bổ sung cho Điều 87 của Luật công ty, theo đó HĐQT phải triệu tập cuộc họp thường kỳ, nếu có yêu cầu
"của một số cổ đông đại diện ít nhất 5% vốn"; Cổ đông có quyền thảo luận về các vấn
đề được liệt kê trong chương trình nghị sự của ĐHĐCĐ và đặt câu hỏi liên quan đến các thành viên HĐQT và kiểm toán viên đô ̣c lâ ̣p HĐQT hoặc kiểm toán viên đô ̣c lâ ̣p
sẽ trả lời các câu hỏi của cổ đông một cách không làm phương hại đến lợi ích của công
đông có thể ra quyết định Khoản này yêu cầu tất cả các mục trong chương trình nghị
sự, cho dù xuất phát từ HĐQT hay từ các cổ đông, đều phải đầy đủ thông tin và tài liệu liên quan nhằm thúc đẩy và hỗ trợ các cổ đông trong việc đưa ra những quyết định sáng suốt; Các cổ đông phải đươ ̣c phép kiểm tra, xem xét nội dung biên bản cuô ̣c ho ̣p của ĐHĐCĐ; Công ty phải cung cấp cho Cơ quan Thi ̣ trường Vốn một bản sao biên bản cuô ̣c ho ̣p trong vòng 10 ngày kể từ ngày triệu tập cuộc họp; Sở Giao dịch phải được thông báo ngay lập tức về kết quả của ĐHĐCĐ [13, Điều 5]
Việc quy định phải thông báo ngay cho Sở Giao dịch kết quả cuộc họp ĐHĐCĐ cũng là một điểm mới theo đó các công ty niêm yết phải thông báo cho ban quản lý
[32, Điều 1]
Bốn là: Điều 6, quy chế QTCT quy định về Quyền bầu cử, bao gồm: Bầu cử
được coi là quyền cơ bản của cổ đông, không được phủ nhận trong bất kỳ trường hợp nào Công ty không được dùng bất cứ hành động nào gây cản trở đến quyền biểu quyết; cổ đông phải được giúp đỡ và tạo diều kiện thuận cho việc thực hiện quyền này; Việc quy định như vậy nhằm đảm bảo yêu cầu các cổ đông phải được trao tất cả các quyền đi kèm với cổ phiếu, trong đó đặc biệt là quyền tham dự các cuộc họp cổ đông và tham gia các cuộc thảo luận và biểu quyết các nghị quyết Công ty phải tránh bất cứ hành động nào gây cản trở đến quyền biểu quyết, cổ đông phải nhận được sự
hỗ trợ và điều kiện thuận lợi để thực hiện các quyền đó Điều lệ công ty quy định cách thức biểu quyết tại cuộc họp cổ đông Một cổ đông thực hiện quyền biểu quyết tại Đại hội hoặc cuộc họp đặc biệt phù hợp với các quy định của điều lệ công ty Bất
Trang 3227
kỳ cổ đông có quyền tham dự các cuộc họp cổ đông phải có ít nhất một phiếu bầu Điều lệ công ty có thể quy định tối đa số phiếu bầu cho người nắm giữ một số cổ phần; Việc biểu quyết đề cử các thành viên HĐQT tại ĐHĐCĐ được thực hiện theo phương pháp bỏ phiếu tích lũy Nguyên tắc bỏ phiếu này là một quy định mới được công nhận "Bỏ phiếu tích luỹ" là một phương pháp bỏ phiếu bầu ra các giám đốc cho phép mỗi cổ đông quyền biểu quyết tương ứng với số cổ phiếu mà cổ đông ấy nắm giữ Cổ đông có quyền sử dụng tất cả số phiếu bầu cho một ứng cử viên hoặc chia chúng cho những ứng cử viên mà mình lựa chọn mà không cần phải nhân đôi các phiếu bầu này Phương pháp này làm tăng cơ hội của các cổ đông thiểu số cử đại diện trong HĐQT thông qua quyền tích lũy bình chọn cho một ứng cử viên Theo Điều 2
của Quy chế QTCT, cổ đông thiểu số là: “Các cổ đông đại diện cho một nhóm cổ
đông không kiểm soát công ty và do đó họ không thể gây ảnh hưởng đến công ty”
Quyền mới được công nhận này là phù hợp với các đề nghị sửa đổi Luật công ty quy định quyền bỏ phiếu tích lũy là bắt buộc đối với tất cả các công ty Ả Rập Xê Út Bỏ phiếu tích luỹ là cơ sở cho việc bảo vệ cổ đông thiểu số, bởi vì nó làm tăng cơ hội cho các cổ đông thiểu số bầu ra một người mà họ lựa chọn phục vụ trong HĐQT, giúp ngăn chặn việc lạm dụng của HĐQT; Cổ đông có thể, bằng văn bản, chỉ định bất kỳ
cổ đông khác, những người không phải là thành viên HĐQT và những người không phải là nhân viên của công ty đại diện cho mình tham dự Đại hội Khoản này, chủ yếu
là trình bày lại một phần của Điều 83 Luật công ty, nhưng điều đáng chú ý là việc cấm uỷ quyền cho các thành viên HĐQT được mở rộng bao gồm cấm cả việc uỷ quyền cho nhân viên của công ty (trong khi pháp luật Việt Nam không quy định cụ thể điều này); Nhà đầu tư là pháp nhân và người đại diện cho những người khác như quỹ đầu tư phải công bố báo cáo hàng năm của họ, chính sách bầu cử của họ, bỏ phiếu thực tế, và cách giải quyết các cuộc xung đột lợi ích vật chất có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện các quyền cơ bản liên quan đến việc đầu tư của họ (Quy định này cũng không tìm thấy trong pháp luật Việt Nam) Các vấn đề liên quan đến công bố thông tin bầu cử và xung đột lợi ích trong một bộ phận của các tổ chức như các quỹ đầu tư đại diện cho những người khác để đầu tư, không được đề cập trong Luật công
Trang 3328
ty
Năm là: Quyền cổ tức của các cổ đông gồm: HĐQT phải đặt ra một chính
sách rõ ràng về cổ tức, một cách có thể thấy rõ lợi ích của cổ đông và của công ty;
cổ đông phải được thông báo về chính sách trong Đại hội và các vấn đề liên quan phải được thể hiện trong báo cáo của HĐQT; ĐHĐCĐ phải phê duyệt cổ tức và ngày phân bổ Cổ tức bằng tiền mặt hoặc bằng cổ phiếu thường phải được trao cho các cổ đông trong danh sách hồ sơ lưu giữ tại Trung tâm Lưu ký Chứng khoán thể hiện vào cuối phiên giao dịch vào ngày ĐHĐCĐ được triệu tập [13, Điều 7]
HĐQT có trách nhiệm trong vòng sáu mươi ngày trước ngày ấn định cho việc tổ chức các cuộc họp thường niên, chuẩn bị cho mỗi năm tài chính của công ty một báo cáo về phương án đề xuất cho việc phân phối lợi nhuận ròng Các văn bản này phải có chữ ký của Chủ tịch HĐQT và bản sao phải được để tại trụ sở chính của công ty ít nhất hai mươi lăm ngày trước ngày ấn định cho việc tổ chức Đại hội để các cổ đông có thể tiếp cận Chủ tịch HĐQT phải công bố trên một tờ báo lưu hành tại nơi có trụ sở chính của công ty một bản tóm tắt tổng quát báo cáo của HĐQT [33, Điều 89]
Vào cuối mỗi năm tài chính HĐQT phải chuẩn bị một báo cáo về hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính cho năm tài chính vừa qua và đưa ra phương án đề
xuất cho việc phân bổ lợi nhuận ròng [33, Điều 123] Điều lệ công ty quy định cụ
thể tỷ lệ phần trăm lợi nhuận ròng phân chia cho các cổ đông, sau khi trừ đi các khoản dự trữ bắt buộc và thoả thuận với điều kiện tỷ lệ này không nhỏ hơn 5% vốn
Cổ đông sẽ được hưởng lợi nhuận từ cổ phiếu của mình (cổ tức) ngay sau khi Đại hội thông qua Nghị quyết về phân bổ lợi nhuận [33, Điều 127]
Điều 127 Luật Công ty quy định chia cổ tức tối thiểu là 5% vốn, tuy nhiên không có quy định khác yêu cầu HĐQT thông qua một chính sách rõ ràng liên quan đến cổ tức Những quy định gần nhất trong Luật công ty tại Điều 89 và 123 chỉ ra rằng HĐQT báo cáo phương án đề xuất về việc xác định cổ tức của năm đó Mục đích quy định rõ ràng của khoản (a) Điều 7 là một công ty cần phải có một chính sách rõ ràng về khả năng phân phối lợi nhuận như thế nào khi lợi nhuận lớn hơn mức quy định tối thiểu Cũng cần lưu ý rằng các cổ đông phải được thông báo về
Trang 34Chính sách vì cổ đông là trung tâm của Luật công ty năm 1965, thể hiện sự nghiêng về mô hình QTCT Anglo – Saxon của Ả Rập Xê Út
2.1.1.2 Nghĩa vụ của cổ đông
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, cổ đông CTCP có các nghĩa vụ phải: Thanh toán đủ số cổ phần cam kết mua trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; chịu trách nhiệm về các khoản nợ
và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp Không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường
Trang 3530
hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần Trường hợp có cổ đông rút một phần hoặc toàn bộ vốn cổ phần đã góp trái với quy định tại khoản này thì thành viên HĐQT và người đại diện theo pháp luật của công ty phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần
đã bị rút; Tuân thủ Điều lệ và quy chế quản trị nội bộ công ty; Chấp hành quyết định của ĐHĐCĐ, HĐQT; Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật DN
và Điều lệ công ty [6, Điều 80]
Cổ đông phải chịu trách nhiệm cá nhân khi nhân danh công ty dưới mọi hình thức để thực hiện kinh doanh và các giao dịch khác để tư lợi hoặc phụ vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác hay thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn trước nguy cơ tài chính
có thể xảy ra đối với công ty [6, Điều 80]
Luâ ̣t Công ty Ả Rập Xê Út nêu rõ cam kết đầu tiên của cổ đông là, khi đăng
ký cổ phiếu , chấp thuâ ̣n điều lê ̣ công ty đã được phê duyệt bởi Đại hội đồng thành
lâ ̣p công ty [33, Điều 57] Viê ̣c đăng ký hay sở hữu các cổ phần thể hiê ̣n sự chấp thuận của các cổ đông đối với điều lê ̣ công ty , cũng như cam kết đối với những quyết định của các cuộc họp cổ đông [33, Điều 96]
Các cổ đông phải cam kết thanh toán giá trị cổ phần vào ngày được chỉ định
đông bằng văn bản ) có thể bán đấu giá công khai cổ phần này [33, Điều 110] Tuy nhiên, cổ đông không thực hiện cam kết, tính đến ngày bán đấu giá, phải thanh toán phần giá tri ̣ cổ phần chưa thanh toán và các chi phí phát sinh của công ty Sau khi bán cổ phần, công ty sẽ giữ la ̣i số tiền tương ứng với giá tri ̣ số cổ phần mà cổ đông không thanh toán và trả phần còn lại cho các cổ đông Nếu số tiền thu được từ viê ̣c bán cổ phần nhỏ hơn giá trị c ác cổ phiếu đến hạn , công ty sẽ yêu cầu các cổ đông phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với giá trị cổ phiếu chưa thanh toán Như vậy, cổ đông sẽ cam kết thanh toán giá trị cổ phần vào một ngày được chỉ định mà không ấn định thời hạn chín mươi ngày kể từ ngày công ty được
cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh như quy định của pháp luật Việt Nam
Theo quy định của pháp luật Ả Rập Xê Út, các cổ đông chỉ phải chịu trách
Trang 3631
nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi sở hữu cổ phần của mình và không phải chi ̣u trách nhiê ̣m đối với tình trạng kinh doanh của công ty tuy có đóng góp vào vốn của công ty [30] Đây là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của cổ phần trong các công ty, nó khuyến khích số lươ ̣ng lớn các nhà đầu tư rót tiền vào cổ phiếu của CTCP thay vì vào các loại hình công ty khác Công ty sẽ phải chịu rủi ro về mo ̣i khoản nợ và thua lỗ Công ty là một thực thể pháp lý độc lập từ các cổ đông Các thỏa thuận trái với điều này không đươ ̣c chấp nhâ ̣n ngay cả khi được đề cập trong điều lê ̣ công ty hoặc thông qua quyết định của đại hội cổ đông
Ở một số quốc gia, cổ đông, đặc biệt là các nhà đầu tư tổ chức, bắt buộc phải thực hiện biểu quyết đối với số cổ phần do họ nắm giữ Ở một số quốc gia khác, dù không có quy định pháp lý cụ thể nhưng đây được coi là một vấn đề mang tính đạo đức Trong khi chờ đợi các quy định pháp lý về việc biểu quyết được ban hành tại Việt Nam, một cơ cấu QTCT có chất lượng phụ thuộc phần lớn vào sự chủ động tham gia của các cổ đông trong QTCT [5, tr.278]
2.1.2 Đại hội đồng cổ đông
Cổ đông thường thực hiện quyền quản trị của họ thông qua ĐHĐCĐ ĐHĐCĐ gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của CTCP
Theo quy định của LDN Việt Nam 2005, ĐHĐCĐ họp thường niên hoặc bất thường, ít nhất mỗi năm họp một lần ĐHĐCĐ thường niên phải họp trong thời hạn
4 tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính Theo đề nghị của HĐQT, cơ quan đăng
ký kinh doanh có thể gia hạn, nhưng không quá 6 tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính Ngoài ra, công ty có thể tổ chức các cuộc họp ĐHĐCĐ bất thường theo yêu cầu
cụ thể của HĐQT, BKS và của các cổ đông như: bầu hoặc miễn nhiệm thành viên HĐQT, phát hành thêm cổ phần không thuộc thẩm quyền của HĐQT Công ty có thể tự quyết định việc triệu tập ĐHĐCĐ bất thường Trong một số trường hợp nhất định, công ty bắt buộc phải triệu tập ĐHĐCĐ bất thường theo quy định của pháp luật Luật pháp không giới hạn số lượng các cuộc họp ĐHĐCĐ bất thường Tất cả các cổ đông đều có cơ hội tham gia họp ĐHĐCĐ Địa điểm họp ĐHĐCĐ phải ở
Trang 3732
trên lãnh thổ Việt Nam [6, Điều 97]
Điều kiện về hiệu lực họp ĐHĐCĐ theo LDN 2005 phụ thuộc vào số lần triệu tập họp đối với cuộc họp đó Đối với triệu tập họp lần thứ nhất thì cuộc họp đó
đủ điều kiện tiến hành khi có số cổ đông tham dự đại diện cho ít nhất 65% số phiếu biểu quyết; đối với triệu tập lần thứ 2 thì cuộc họp đó có đủ điều kiện về hiệu lực khi có số cổ đông đại diện cho ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết của công ty; và đối với triệu tập họp lần thứ 3, thì cuộc họp có hiệu lực pháp lý, bất kể số cổ đông tham dự và số cổ phần hay số phiếu biểu quyết mà họ đại diện [6, Điều 102]
Quy định về điều kiện tiến hành họp ĐHĐCĐ đã bảo vệ được quyền của cổ đông thiểu số trong việc triệu tập họp ĐHĐCĐ trong trường hợp cần thiết giúp các
cổ đông thiểu số thực hiện vai trò của mình trong việc tham gia vào các quyết định của công ty và đảm bảo quyền bình đẳng với các cổ đông lớn
Tuy nhiên, trong thực tế việc triệu tập họp lần thứ nhất rất khó khăn do điều kiện triệu tập phải đảm bảo tỷ lệ tham dự ít nhất là 65% số phiếu biểu quyết Các cổ đông nhỏ thường không đến dự họp do họ ở quá xa về mặt địa lý, khó khăn đi lại, tốn kém về thời gian, chi phí hoặc họ không quan tâm nhiều đến tình hình hoạt động của công ty Mặt khác, việc tổ chức triệu tập không có kết quả dẫn đến những chi phí không cần thiết cho công ty Chính vì vậy, LDN Việt Nam 2014 đã giảm tỷ
lệ yêu cầu theo thông lệ quốc tế xuống còn 51% đối với lần triệu tập thứ nhất Khi
số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết, cuộc họp ĐHĐCĐ
sẽ được tiến hành [7, Điều 141]
Quyết định của ĐHĐCĐ được thông qua tại cuộc họp khi có đủ các điều kiện sau: Được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả
cổ đông dự họp chấp thuận hoặc tỷ lệ cụ thể do công ty quy định; đối với quyết định
về loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán, sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty; tổ chức lại, giải thể công ty; đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác thì phải được số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp
Trang 3833
thuận hoặc tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định; việc biểu quyết bầu thành viên HĐQT và BKS phải thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu, theo đó mỗi cổ đông có tổng số phiếu biểu quyết tương ứng với tổng số cổ phần sở hữu nhân với số thành viên được bầu của HĐQT hoặc BKS và cổ đông có quyền dồn hết tổng số phiếu bầu của mình cho một hoặc một số ứng cử viên Các quyết định được thông qua tại cuộc họp ĐHĐCĐ với số cổ đông trực tiếp và ủy quyền tham dự đại diện 100% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết là hợp pháp và có hiệu lực ngay cả khi trình tự và thủ tục triệu tập, nội dung chương trình họp và thể thức tiến hành họp không được thực hiện đúng như quy định Trường hợp thông qua quyết định dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản thì quyết định của ĐHĐCĐ được thông qua nếu được số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết chấp thuận hoặc tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định [6, Điều 104]
Như vậy, về cơ bản, quy định về quyền của cổ đông đã phần nào bảo vệ được quyền lợi của cổ đông thiểu số trong việc giám sát các cổ đông đa số cũng như người quản lý của mình, tạo thế cân bằng giữa cổ đông thiểu số và cổ đông đa số Mọi cổ đông đều bình đẳng trong việc thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng của công ty như: chiến lược, kế hoạch phát triển công ty; bầu, bãi, miễn thành viên HĐQT, BKS Cổ đông được quyền yêu cầu cung cấp những thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc thực hiện giám sát và ra những quyết định hợp lý Tuy nhiên, khi
có những quyết định liên quan đến thay đổi cơ cấu sở hữu của cổ đông trong công
ty thì các cổ đông hiện hữu luôn được quyền ưu tiên mua trước
Trong trường hợp quyền lợi của cổ đông có nguy cơ bị vi phạm hoặc đã bị vi phạm, hoặc cổ đông không hài lòng với kết quả hoạt động của công ty, cổ đông còn
có quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác; Yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình với mức giá công bằng và hợp lý; Yêu cầu triệu tập hoặc trực tiếp triệu tập họp ĐHĐCĐ để thảo luận và quyết định về các vấn đề mà cổ đông thiểu số quan tâm; Khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ, nếu cuộc họp để ra quyết định đó được triệu tập một cách không công bằng có nguy cơ làm sai lệch nội dung của quyết định, hoặc quyết định thông qua một cách không
Trang 3934
công bằng, trái với quy định của pháp luật; hay nếu công ty bị giải thể, thì cổ đông
sẽ nhận được phần giá trị còn lại tương ứng với số cổ phần sở hữu tại công ty
Tuy nhiên, so với các thông lệ quốc tế phổ biến và kinh nghiệm quốc tế thì quyền tiếp cận thông tin của cổ đông còn yếu vì cổ đông sở hữu ít hơn 10% tổng số
cổ phần, trừ trường hợp cổ đông CTCP đại chúng, chỉ được cung cấp bản tóm tắt báo cáo tài chính hàng năm và thông báo về các quyết định của ĐHĐCĐ Các cổ đông sở hữu hơn 10% cổ phần mới có quyền yêu cầu cung cấp thông tin về các quyết định của HĐQT, biên bản họp và thông tin khác liên quan đến quyết định HĐQT Hơn nữa, luật không quy định quyền cổ đông trực tiếp khởi kiện HĐQT, yêu cầu Tòa án xem xét miễn nhiệm thành viên HĐQT hoặc BKS trong trường hợp cần thiết hay yêu cầu
cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền hoặc Tòa án hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ hoặc HĐQT trong tường hợp khẩn cấp để bảo vệ lợi ích của công ty, của
cổ đông và các bên có liên quan
Theo quy định của pháp luật Ả Rập Xê Út, Các cuộc họp cổ đông được chia làm ba loại: đại hội cổ đông sáng lập; ĐHĐCĐ bất thường; và ĐHĐCĐ thường xuyên Đại hội cổ đông sáng lập liên quan đến các bước cần thiết cho việc thành lập công ty và Luật Việt Nam chưa có quy định này
Điều 84 của Luật Công ty quy định: ngoại trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ bất thường, Đại hội thường xuyên có thẩm quyền đối với tất cả các vấn đề liên quan đến công ty Vì vậy, các cuộc họp cổ đông, trong hoàn cảnh này, sẽ được coi như ĐHĐCĐ thường xuyên, trừ khi các cuộc họp này được yêu cầu triệu tập cụ thể đối với một vấn đề trong ĐHĐCĐ bất thường
ĐHĐCĐ thường xuyên phải triệu tập ít nhất mỗi năm một lần trong vòng sáu tháng sau khi kết thúc năm tài chính của công ty Đối với Việt Nam ĐHĐCĐ phải họp trong thời hạn 4 tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính và có thể gia hạn nhưng không quá 6 tháng Các ĐHĐCĐ thường xuyên khác cũng có thể được triệu tập nếu cần thiết Các cổ đông có thể thảo luận tất cả các vấn đề trong đại hội thường xuyên, ngoại trừ những các vấn đề mà theo quy định của Luật Công ty phải được thảo luận tại ĐHĐCĐ bất thường
Trang 4035
Theo Điều 85 của Luật công ty, việc các cổ đông sửa đổi hợp pháp điều lệ công ty phải được thực hiện tại ĐHĐCĐ bất thường Điều 92 yêu cầu các nghị quyết về việc sửa đổi điều lệ công ty phải được công bố trên Công báo cùng với một bản sao của điều lệ công ty HĐQT cũng phải đăng ký những thay đổi này vào
Sổ đăng ký thương mại phù hợp với các quy định của Luật Đăng ký Thương mại Cần lưu ý rằng mặc dù các điều lệ công ty khác với mẫu của Bộ trưởng Bộ Thương mại đòi hỏi sự chấp thuận của Bộ trưởng, mọi sửa đổi điều lệ công ty trong suốt thời gian hoạt động của công ty được các cổ đông chấp nhận không cần thiết sự phê duyệt của Bộ trưởng
Tuy nhiên, Điều 85 quy định thêm rằng ĐHĐCĐ bất thường không có quyền thông qua một số sửa đổi điều lệ nhất định mà về cơ bản sẽ làm thay đổi quyền và nghĩa vụ của các cổ đông hoặc có thể thay đổi hoàn toàn bản chất của công ty Cụ thể, Điều 85 cấm các loại sửa đổi sau: sửa đổi mà có thể tước đi các quyền cơ bản của một cổ đông, như quy định trong điều lệ công ty và các Điều 107 và 108 Luật Công ty; sửa đổi làm tăng nghĩa vụ tài chính của các cổ đông; sửa đổi làm thay đổi đối tượng của công ty; sửa đổi chuyển trụ sở chính của công ty được thành lập tại Ả Rập
Xê Út ra nước ngoài; và sửa đổi thay đổi quốc tịch của công ty [33, Điều 85]
Quyền của các cổ đông bao gồm: Quyền tham dự và biểu quyết tại các phiên họp cổ đông; Quyền được nhận một phần lợi nhuận được chia và tham gia vào phân chia tài sản khi công ty giải thể; Quyền chuyển nhượng cổ phần của mình; Quyền tiếp cận hồ sơ sổ sách của công ty; Quyền tham gia giám sát HĐQT; Quyền hành động chống lại các giám đốc vi phạm nghĩa vụ của mình; Và quyền tranh luận về tính hợp lệ của các nghị quyết của cổ đông [33, Điều 107, 108]
Ngoài ra, các cổ đông tại ĐHĐCĐ bất thường có thể thảo luận các vấn đề có thể được diễn ra tại ĐHĐCĐ, theo cách tương tự và tuân theo các điều kiện giống như khi ĐHĐCĐ bất thường [33, Điều 85]
ĐHĐCĐ được triệu tập theo lệnh triệu tập của HĐQT được quy định tại điều
lệ của công ty Ngoài việc trao quyền cho HĐQT thẩm quyền triệu tập các cuộc họp, còn yêu cầu HĐQT triệu tập ĐHĐCĐ khi có yêu cầu của kiểm toán viên hoặc của các cổ đông đại diện ít nhất 5% vốn của công ty