Cuộc đi chơi này, đã là cuộc đi chơi về lịch sử, thì cái lịch sử Loa thành này thế nào, chắc là phải có một đoạn sử bút khá dài, khá kì dị, khá ai oán, khá lâm ly, kí giả cũng không dám
Trang 1TRAVELERS’ NOTE IN THE HALF OF 20TH CENTURY AND THE LINK WITH BUSINESS MANAGEMENT
Travelers’ note is one kind of literature works related to the need of travelling This rapidly developed in the half of 20th century Through the analysis of Travelers’ notes during this period, the author withdrew experience related to the business management and organization in the tourism sector
THỂ TÀI DU KÝ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
VÀ ĐÔI ĐIỀU VỀ BÀI HỌC QUẢN LÝ, KINH DOANH
Nguyễn Hữu Sơn 1
1 Khi nói đến “thể tài du ký” cần nhấn mạnh hơn ở phía đề tài, phía nội dung
và cảm hứng nghệ thuật người viết, chứ không phải ở phía thể loại Thu hút vào địa hạt du ký có các sáng tác chủ yếu bằng bài văn xuôi theo phong cách ký, ký sự, ghi chép, hồi ức về các chuyến du ngoạn, các điểm du lịch, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và còn liên quan tới nhiều phương diện văn hóa học, xã hội học, dân tộc học khác nữa… Tuy nhiên, trên thực tế, các tác phẩm du ký thường có sự đan xen, giao thoa giữa những quan sát, thưởng ngoạn trực tiếp với những phác thảo, tổng thuật, tường thuật về các nhân vật, sự kiện lịch sử có liên quan; thường có cả những ghi chép với những đoạn trữ tình ngoại đề, có cả văn xuôi và thơ ca, cả cảm xúc, hồi ức, kỷ niệm và những liên hệ, so sánh với các điểm di tích và các vùng miền văn hóa khác(1)… Cùng với quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc nửa đầu thế kỷ XX, thể tài du ký cũng ngày càng phát triển Điều khác biệt so với nhiều thể tài và thể loại văn học khác là du
ký thường gắn với nhu cầu xê dịch ĐI và XEM, gắn với các chuyến du ngoạn, du lịch
và nghiêng hẳn về phía vị nghệ thuật, góp phần thỏa mãn nhu cầu giải trí, ham hiểu
1 TS, Viện Văn học
Trang 2biết, ham chơi, ham vui của những người thuộc tầng lớp trên, nói chung là có của ăn của để Đọc qua các tác phẩm du ký nửa đầu thế kỷ XX có thể thấy được phần nào cách thức tổ chức, quản lý, kinh doanh của ngành “công nghiệp không khói” đang dần định hình và phát triển
2 Liên quan đến vấn đề tổ chức, kinh doanh và hoạt động du lịch nói chung hồi đầu thế kỷ có thể tìm hiểu trên ba phương diện chính: Tính mục đích của chủ thể các chuyến du ngoạn – Cách thức tổ chức, quản lý, kinh doanh và những điều quan sát – Kết quả và những đánh giá của chủ thể du khách
2.1 Trên thực tế, các chuyến dã ngoại - du ngoạn - du lịch hồi đầu thế kỷ chưa
có tính tổ chức và tính mục đích cao, chủ yếu xuất phát từ một cá nhân, một nhóm người kết hợp công việc sự vụ với việc thăm thú các di tích lịch sử, nơi danh lam thắng cảnh và khám phá những vùng đất mới
Trong vòng mấy năm, khi đã bước sang tuổi bốn mươi, nhà báo Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục (1878-1954) có liền bốn bài du ký viết về các chuyến du ngoạn đến các điểm di tích lịch sử và danh thắng vùng ngoại thành Hà Nội Bài du ký thứ nhất
nhan đề Du Ngọc Tân ký viết về bến Ngọc Tân (nay thuộc xã Đông Ngạc, huyện Từ
Liêm, ngoại thành Hà Nội) Ở đoạn mở đầu, ký giả ghi lại cảm xúc trên đường đi qua vùng Hồ Tây: “Ba giờ chiều ngày 30 tháng Mạnh Xuân năm Nhâm Tuất (1922), Tùng Vân cùng với năm ba người bạn thân hữu, tự thành Thăng Long lên chơi bến Ngạc, sự
gì đâu, là ngẫu nhiên vô sự mà xui nên một cuộc du xuân vậy”(2)… Bài du ký thứ hai
có nhan đề Du Tử Trầm sơn ký, Nguyễn Đôn Phục viết về chuyến thăm chùa Trầm và
núi Tử Trầm (nay thuộc xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, ngoại thành Hà Nội):
“Năm Khải Định thứ bảy, đầu năm Nhâm Tuất (1922), tháng mộ Xuân, sau tiết Thanh minh, được buổi êm trời, chợt có người thân hữu lại rủ đi chơi núi Tử Trầm Chao ôi! Núi Tử Trầm kia có xa gì đâu, nhà ta ở đối với núi Tử Trầm chỉ cách một cánh bãi, một con sông, một phía đồng, khi sớm ngày trở dậy mở cửa, trông ra phía tây nam, đã thấy sơn sắc mông lung ở đó; mà hang Tử Trầm kia, cũng vưỡn là cái hang ta mấy năm về trước ra vào thăm chơi; song ta cũng nhân vui lòng với thân hữu, mà miễn cưỡng sắp cuốc sắp xe”(3)… Tác phẩm du ký thứ ba có tên Bài ký chơi Cổ Loa, Tùng
Trang 3chơi” vào đúng ngày trung thu và thể hiện tình nghĩa giữa những người làm báo Hà Nội – Sài Gòn, ký giả nêu rõ nguồn cơn:
“Người đi chơi cũng có lắm hạng, mà cuộc đi chơi cũng lắm đường… Như ngày rằm tháng tám năm Khải Định thứ chín, lịch Tây năm 1924 vừa rồi, tôi với ông Phạm Quỳnh, ông Nguyễn Hữu Tiến, ông Nguyễn Háo Vĩnh, ông Phạm Văn Duyệt, cùng nhau đi chơi Cổ Loa thành, há vị gì đâu, cũng là vì chút cảm tình với lịch sử mà
đi chơi vậy
Cuộc đi chơi này, đã là cuộc đi chơi về lịch sử, thì cái lịch sử Loa thành này thế nào, chắc là phải có một đoạn sử bút khá dài, khá kì dị, khá ai oán, khá lâm ly, kí giả cũng không dám ngại phiền, xin tả rõ ra đây, để những khách hữu tình trong bạn đồng bang ta, cùng xem mà cùng cảm”(4)
Bài du ký thứ tư có tên Cuộc đi chơi Sài Sơn, Tùng Vân nối tiếp Lê Đình Thắng (người đã viết Bài ký chơi chùa Thầy) lại có thêm chuyến đi mới với những điểm quan
sát mới, cách cảm nhận mới:
«Năm lịch năm Khải Định thứ mười (1925), ngày mồng sáu tháng Ba, ký giả với các ngài thân hữu tự Hà Nội qua cầu Hát Giang và huyện Thạch Thất, về phủ Quốc Uy, lên núi Sài Sơn; đó là một cuộc hào hứng đi chơi trong buổi nhàn hạ
Núi Sài nguy nga khởi lên, ngọn cao cùng ngọn thấp, liên lạc với nhau, kể có sáu bảy ngọn Đại khái chia ra có ba mặt Một mặt giáp ngay ở phía chùa, thì có đường
đi lên chợ trời và vào hang Thánh Hóa Một mặt ở về cuối làng Đa Phúc, thì lưng chừng núi có hang Cắc Cớ Một mặt ở về đầu làng Thụy Khuê, thì trên núi có chùa một mái, có hang bụt mọc, có đỗng gió lùa Núi Sài có nhiều phong cảnh lạ, người thì thích chỗ nọ, người thì thích chỗ kia Khi lên núi, anh em đều tùy ý tự do Ký giả mới bắt đầu tìm đường đi lên chợ trời
Chao ôi! Mình nguyên vẫn là một phái ít tiền mà nhiều sự muốn Bấy lâu dìu dặt ở trong cuộc đời, muốn mua danh không đủ tiền mà mua, muốn chuộc lợi cũng không đủ tiền mà chuộc Âu cũng muốn lên trời một chút, để ngó xem cái đường danh lợi ở trên đó ra làm sao Cho nên bấy lâu nghe cái tiếng «chợ trời», chẳng biết có quả
là trời, quả là chợ đấy hay không, nhưng lòng mình vẫn sẵn lòng hăm hở Khi đó lóp ngóp mà trèo lên »(5)…
Trang 4Đến Nguyễn Tiến Lãng trong du ký Lại tới thần kinh đã nói rõ mình tới Huế đây là lần thứ tư với công việc làm báo Cùng với những đoạn tả cảnh, tả việc, tả người xứ Huế thì vẫn canh cánh trong ông những nhớ thương một thủa, bảng lảng như
mất như còn, bâng khuâng thảng thốt: "Huế, cái tỉnh thật đúng với tên gọi là HUÊ, cái
đất khiến cho người phải yêu mê yêu mệt! Xưa kia được thấy Huế, đó là một điều mong ước cần nhất, quí nhất của khách này Cùng em gặp gỡ, Huế ơi, lần đầu kể tới nay đã được bốn năm trời Vì em, ta lúc ấy còn là học trò ban Triết học trường Allbert Sarraut, bỏ cả học hành luôn mấy buổi; một thầy giáo cũ ở bên trường Bảo hộ, ông Foulon, cùng ta làm bạn tìm em Cùng em gặp gỡ, Huế ơi, lần thứ hai Thần kinh điểm nét mưa xuân, ta thăm vườn Tĩnh Tâm, thăm cung điện, miếu đền, ta mến cái phong cảnh trong thành và những khắc giờ im lặng, cái thú vị sông Hương cùng các hương thơm của sông Hương Nhưng bao nhiêu cái đó ta cũng chỉ nếm biết một ly mà thôi; dạ chưa thoả, đã lại phải xa em, xa em mà trong lòng còn tiếc bao nhiêu tình cảm chưa được hưởng Ngày ngày, tháng tháng, năm năm, thấm thoát một lần thứ ba nữa lại cùng em tương kiến Bây giờ lại tới Thần kinh một lần thứ tư này, sẽ tới Thần kinh do chuyến xe tốc hành đang vùn vụt chạy trong đêm rộng trời khuya này, không biết khi tới thì có được xem cái vẻ mặt mới mẻ của kinh thành Huế ?"(6)
Trong một trường hợp khác, Đào Hùng cùng nhóm phóng viên từ Sài Gòn ra Bắc du lãm những nơi danh sơn thắng tích và phỏng vấn ý kiến các nhà trí thức ở
Trung Bắc kỳ đã viết bài Thăm cửa biển Thị Nại, lên núi Hoành Sơn, viếng mộ Tây Sơn và nhấn mạnh ý nghĩa của việc giới thiệu lại những chuyến đi: “Từ nay đường giao thông Bắc Nam tiện lợi, thì người trong ba xứ đi lại gặp gỡ nhau hằng ngày như trong buổi chợ, tình thân ái liên lạc vì đó mà thêm khăng khít keo sơn, biết coi nhau như anh em một nhà, chớ không còn hững hờ chia rẽ nhau như mấy năm xưa nữa; và nói đến chuyện từ Nam ra Bắc hay từ Bắc vào Nam thì không phải là một việc mới lạ như chuyện du lịch toàn cầu, qua Âu qua Mỹ, đáng cho người người chú ý muốn nghe Vậy thuật lại cuộc hành trình của chúng tôi, tức là kể lại câu chuyện đã cũ, ai nấy đều biết, song vì cuộc du lịch của chúng tôi đã có mục đích riêng là thăm viếng các nơi danh thắng có dấu vết cổ tích và lịch sử, để nhắc nhở lại những cuộc hưng vong thành bại của tổ tiên, cũng là phỏng vấn các bậc trí thức hiện thời về mấy vấn đề cần ích cho
Trang 5bạn thiếu niên ta, bởi vậy nên chúng tôi chẳng ngại chi câu chuyện cũ mà viết bài ký thuật sau này một cách tường tận”(7)
Điểm qua mấy ý kiến trên để thấy rõ hơn tính mục đích của những chuyến du ngoạn bao giờ cũng gắn với việc Đi và XEM, đưa lại vốn kiến thức cũng như niềm vui cho mỗi tác giả - nhà du lịch Chính tính mục đích của mỗi chuyến du ngoạn này sẽ xác định cách đi, cách lựa chọn phương tiện, thời gian, mùa vụ, số người, điểm đến, số ngày lưu trú, cơ sở vật chất và các mối quan hệ xã hội khác Cần nhấn mạnh thêm, các chủ thể càng giảm bớt tính mục đích công việc, càng gia tăng tính “vị nghệ thuật” của các chuyến du ngoạn thì họ càng có cơ trở thành một nhà du lịch đích thực
2.2 Trên cơ sở cách thức tổ chức và những điều quan sát, ghi chép qua các chuyến đi có thể giúp hình dung được phần nào hoạt động du lịch đang định hình và phát triển hồi đầu thế kỷ XX Ở đây cần chú ý rằng, trong bước đi ban đầu, trong cả nước khi đó đã hình thành nhiều khu du lịch với qui mô, tính chất khác nhau như Hạ Long, Yên Tử, Sa Pa, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Huế, Bà Nà, Đà Lạt, Phú Quốc… Đặc trong tương quan chung, các tác phẩm du ký thường thiên về ghi chép các chuyến du ngoạn kết hợp với các mục đích khác nhiều hơn là những khách du lịch thuần thành; và vì thế, thể tài du ký cũng cần được nhìn nhận trong tính chất giao thoa, hỗn dung thể loại
và mức độ hạn chế các khả năng phản ánh hoạt động du lịch
Trở lại bài du ký của Tùng Vân nhan đề Du Ngọc Tân ký, ký giả dường như
hứng thú hơn với mấy tiệc trà, cuộc hát ả đào và đi đến nhận xét về các biến thái của lối hát ả đào thanh lịch một thuở xa xưa:
“Cô đào ở bến Ngạc này, xét ra mọi vẻ thanh tao, mọi bề diễm lệ, còn kém xa những nơi đại ấp danh đô, nhưng khen thay cũng có một vẻ đặc sắc!
Cô đào bến Ngạc, rặt những cô đào ở nhà quê gia thế trong giáo phường, người thì qua tỉnh Hà Đông, kẻ thì sang đò Nhị Thủy mà lại đây; còn có vẻ thật thà, có nền mộc mạc; chưa biết cái chi chi là cái chông chênh, cái ngoa ngoắt, cái suồng sã, cái éo le; mà nghề ca nghề vũ đều biết nghề cả, tuy chưa có chị nào hay lắm khéo lắm, nhưng cũng không có chị nào đến nỗi đớn lắm mà mang tiếng giả danh; xét kỹ ra cũng có phong cách, có chế độ, có tính tình…
Trang 6Hiện nay mới có sáu trò hát, cái hình thức ở bề ngoài, xem ra cũng chưa có gì; nhưng xét cái tinh thần ở bề trong, thời những cô đào ở bến Ngạc nay, chắc đã có kinh qua con đường giáo dục, con đường pháp độ của các nhà tư tưởng, các nhà chính trị trong quý hương rồi đây chăng? Thôi thôi, ta không phải nghi ngờ chi nữa”…
Bởi lẽ nếu chuyến du ngoạn mà không có trò vui thì người ta thà ngồi nhà, bất tất phải đi đâu!?
Trên phương diện nhìn nhận, đánh giá việc tổ chức lễ hội chùa Hương, học giả
Thượng Chi (Phạm Quỳnh) trong bài Trẩy chùa Hương đã tường thuật lại chi tiết
quang cảnh ngày lễ hội, tỏ ý phê phán mạnh mẽ cái lối giành giật xô bồ ngay từ nơi xuống đò đến nơi lễ bái: “Thật trông cái cảnh tượng nơi bến đò đó mà thảm thay… Thật là hỗn độn cẩu thả, không có lề luật phép tắc gì cả […] Các đám đông nước mình thật là không có kỷ luật, không có trật tự gì cả, rất tạp đạp, rất hỗn độn, dầu ở nơi lễ bái kính trọng cũng kẻ đi người lại, kẻ đứng người ngồi, nói nói cười cười, kêu kêu gọi gọi, ồn ào lộn xộn, khó mà nghiệm cho được cái tâm lý những người ngẫu hợp lại đó”; rồi sau khi đề xuất các phương án tổ chức, ông nhấn mạnh: “Nói rút lại cốt nhất là phải sắp đặt thế nào cho vừa tiện cho hành khách mà lợi cho dân làng Hành khách được lợi thời dầu mất hơn tiền ra cũng không mấy người quản, mà khéo chiều khach, khéo sắp đặt thời làng càng được lợi nhiều! Nhưng người mình đã không có tài gì, mà cái thuật kinh tế kiếm tiền cũng ít có, còn mong chi?”(8)… Đã qua ngót trăm năm kể từ ngày ông Thượng Chi cảnh báo sự nhốn nháo của lễ hội chùa Hương, đến nay con cháu đã tiến bộ được bao xa?
Tác giả Mẫu Sơn Mục N.X.H có bài du ký trường thiên Lược ký đi đường bộ từ
Hà Nội vào Sài Gòn kể chuyện tác giả đi chơi bằng ô tô từ Hà Nội qua Huế, Nha Trang, vào Sài Gòn, lên Đà Lạt rồi ngược trở ra Hà Nội… Đoạn viết về xứ Bình Định mới chỉ là những quan sát bước đầu, phác thảo toàn cảnh ngắn gọn:
“Khi chửa đến tỉnh Bình Định, tôi nghĩ tỉnh này nghèo, cho nên Tây Sơn khởi
sự dễ, thành ra không phải, tỉnh này lại là tỉnh trù phú hơn cả trong Trung Kỳ Tỉnh này nghề võ và nghề hát tuồng có tiếng, chắc cũng là cái di phong thượng võ hào hiệp của nhà Tây Sơn còn lại chăng? Tôi tiếc không được đến thăm miếu Tây Sơn
Trang 7Đường thì đi qua ngoài thành phố Bình Định, không trông thấy nhà cửa, thành này tức là tích “Tượng kỳ khí xa” Qua Bình Định một lát thì đến Quy Nhơn Quy Nhơn là một cái thành phố ở bờ bể Sau lưng và ở giữa bể đằng trước mặt đều có núi, phong cảnh cũng đẹp; phố xá buôn bán cũng vui, có nhiều hiệu khách to, họ thu yến sào và vây cá Nhiều chú lấy vợ người Bình Định, cũng ngồi bán hàng Ở Bình Định
và Quy Nhơn đã bắt đầu có những tháp của người Hời còn di tích lại Người Hời là dân cũ Chiêm Thành bị nước ta lấn dần, nay còn một số ít người, rút vào miền Phan Rang và Phan Rí (thuộc tỉnh Bình Thuận) Chúng tôi ngủ ở Quy Nhơn một tối”(9)…
Từ đây tác giả đã mô tả, nhận xét và nhấn mạnh tính hiện đại và sự mới mẻ của hoạt động du lịch từ sự xuất hiện những điểm nghỉ mát, khách sạn cho đến yêu cầu cần đổi mới tư duy phục vụ du khách ở Nha Trang:
“Nha Trang là một cái bãi bể, nơi nghỉ mát, và là đầu đường xe hỏa vào Nam
Kỳ Thành phố mới lập, đẹp đẽ, vui vẻ Có sở thí nghiệm việc đánh cá, có một chiếc tầu và một người Tây làm nghề ấy
Chúng tôi trọ ở bun-ga-lô (Bungalow) Bun-ga-lô là cái nhà khách sạn của Nhà
nước làm ra cho người Tây mở hàng cơm, để tiện hành khách đi lại trú ngụ Từ Đồng Hới trở vào, tỉnh to đều có Cái bun-ga-lô ở Nha Trang này to và đẹp lắm
Những khách sạn Trung – Nam Kỳ phần nhiều dùng người Khách làm bồi, coi
bộ chững chạc đứng đắn lắm Người mình ở lẫn với người Tây nửa thế kỷ rồi, mà làm bồi cũng kém người Tàu là thứ người không trông thấy người Tây mấy khi, thì cũng chán thực!
Lại nói đến khách sạn cũng đã có nhiều người mình mở, có cái nhà cửa cũng to,
đồ đạc cũng tốt, nhưng mà sự bày biện, sự trông nom của chủ, sự hầu hạ của bồi, và sự
sạch sẽ còn kém người Tây quá Hay là những nghề này cũng phải bọn du học về mới làm nổi” (NHS nhấn mạnh)…
Những điều trăn trở của tác giả còn nối dài mãi đến ngày nay
Trong tác phẩm Banà du ký, nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa (1896-1982) kể lại những điều mắt thấy tai nghe qua suốt nửa tháng du lịch – du chơi – điều dưỡng trên
núi Bà Nà (theo cách đọc, cách viết ngày nay) Với phụ đề Mấy ngày đăng sơn lên thăm núi “Chúa”, nữ sĩ nêu lý do cuộc du ngoạn cũng như các cách gọi tên và việc núi
Trang 8Bà Nà được vinh danh là núi Chúa: “Đương khi lửa hạ nấu nung, ở giữa chỗ bụi lầm
xe ngựa, cái thú nước biếc non xanh dễ ai không mơ ước Chiều chiều đứng trên bờ biển Đà Hải, nhìn làn sóng lao xao, ngọn trào xô đẩy, ngoảnh trông về phía tây núi non trùng điệp, đối ngọn Hoành Sơn, thấy một trái núi cao ngất mấy tầng, chót núi như đụng mây xanh, chung quanh thì núi nhỏ xúm xít như đàn con chầu mẹ; núi này đại danh là núi “Chúa”, vì núi “Chúa” có nhiều thắng cảnh và thời tiết khí hậu lại có phần đặc biệt lắm Mùa đông mây ủ như tuyết sa băng đóng, mùa hè mát mẻ êm đềm như xuân phong hòa khí, cảnh sắc tuyệt trần, không nơi nào sánh kịp”(10)
Gián cách với đời sống phố phường đô hội, nữ sĩ tả lại cảm giác thú vị khi ngủ trên giường tầng trong gian nhà nhỏ tựa như ca – bin tàu thủy, trong đêm gió thổi ào
ào, tưởng như mình đang bồng bềnh trên mặt biển Rồi nữ sĩ tái hiện lại quang cảnh và
sự phát triển khá sôi động, qui mô của khu nghỉ mát dưới thời thực dân cách ngày nay vừa tròn tám mươi năm:
“Mấy hôm đầu vì lạ phong thổ, cho nên tinh thần không được thanh thản, sau quen rồi mạnh mẽ, ăn ngon ngủ kỹ Nhà tôi vì hết phép nghỉ, nên phải về trước, còn tôi
ở lại, ngồi rỗi dắt lũ trẻ đi chơi trong núi, đi chỗ nào cũng có đường sạch sẽ, sườn núi xắn làm đường, bạt đỉnh núi làm nhà, thật có công phu của Nhà nước mới làm được vậy, tô điểm cho vẻ thiên nhiên thêm xinh đẹp, cây cối mọc dưới đường đi, như đi trên ngọn cây tòng bá trúc mai vậy Kể người Pháp lên ở đây khởi đầu từ Sở Kiểm lâm lên làm trụ sở mới năm 1915, rồi sau các công sở mới làm nhà mát tiếp lên đông đúc như bây giờ, song những người ở đây duy có người Pháp, còn người Nam chỉ phục dịch mà thôi Đỉnh núi chia ra từng cụm, cụm nào cũng nhà cửa nguy nga lộng lẫy, đó là biệt thự của các quan chức Đại Pháp, các tòa sở như Khâm sứ, Đốc lý, Thương chánh, Bưu điện, Y tế; lại còn đồn lính Lê dương, có nhà giam tù quốc phạm, v.v… Việc cai trị An Nam thì có viên Bang tá, coi việc tuần phòng dân phu Mỗi năm đến mùa hè thì các quan chức người Pháp lần lượt lên nghỉ mát cho đến tháng Octobre (tháng 10 – NHS chú) mới thôi, sở nào cũng có nhà riêng; còn như tư gia thì ít lắm, duy có đôi nhà tư bản và thương mại Pháp – Trung Hoa thì có một sở của người Compradore Ngân hàng
mà thôi, còn người Việt Nam ta thì từ nhà quyền quí cho đến nhà tư bản cũng tuyệt
Trang 9là đáng lấy làm thương tiếc cho họ lắm Còn về sự thương mại ở đây có hãng Morin
frères là đắc thể hơn hết, nhà hôtel hai tầng làm trên đỉnh núi cao chót vót, đứng trên
trông được khắp mọi nơi Trong hàng có cơm ăn, có phòng trọ, có chớp bóng, có thể thao, đủ các cuộc tiêu khiển, lại bao cả việc vận tải thơ từ hàng hóa và kiêm việc mướn
kiệu thuê xe nữa Vì thế cho nên hễ ai muốn lên ngoạn cảnh cũng phải nhờ hãng Morin
thuê mướn xe kiệu cho, còn giá tiền cho thuê phòng ở, cơm ăn rất đắt, mỗi ngày một người phải mất từ tám chín đồng trở lên mới đủ Vậy nên chỉ tiện cho người Pháp dùng, còn người Nam thì rất khó Thiết tưởng Chánh phủ mà muốn ra ơn cho được tiện lợi cả hai đằng, thì trong các sở chỗ nào còn dư đất, Chánh phủ cho làm thêm một
sở nhà riêng tùng tiệm cho các viên chức tòng sự liêu thuộc người An Nam, ai đau ốm mệt nhọc được lên đấy có chỗ nghỉ ngơi điều dưỡng, thì ơn của Chánh phủ ai mà chẳng cảm bội”
Trong bài viết Nam du đến Ngũ Hành Sơn in liền hai kỳ trên tạp chí Nam Phong , nhà văn Nguyễn Trọng Thuật (1883-1940) kể về chuyến đi xe lửa đến đất Đà
Nẵng: “Hết phận núi Hải Vân là vào địa hạt Quảng Nam Vùng này sản mít, vườn trong làng trồng nhiều (…) Đồng điền thì gần núi với bãi cát cũng không được tốt, nhưng cấy lúc nào cũng được ăn Bấy giờ mới tháng hai ta mà có ruộng thì đang rỗ, ruộng thì mới cấy Bãi cát vùng này thấp liền với bờ bể, cũng bát ngát nhiều lắm, cũng trồng nhiều cây dương Qua mấy ga Lăng Cô, Linh Điểu, Dũng Thùng, Nam Ổ… thì đến Cửa Hàn
Cửa Hàn là cái cửa bể ở Quảng Nam vốn tên là Chu Hàn Tấn, nên lại gọi là
Cửa Hàn Dịch âm ra tiếng pháp là Tourane Xe gần ga Tourane đã có bồi của công ty
Hào Hưng khách sạn lên tận xe mời và đón khách Đến ga chúng tôi cho bồi mang hành lý vào nhà Hào Hưng”(11)…
Đến đây, Nguyễn Trọng Thuật mô tả chi tiết cung cách đón rước khách, việc làm và thái độ phục vụ của công ty du lịch Hào Hưng với rất nhiều thiện cảm:
“Vào nhà Hào Hưng, gặp ông phán Chánh người Bắc là chủ coi công ty đó, nên
sự hỏi han đường lối càng dễ Ông ở nhà riêng phố khác, ân cần mời chúng tôi lại nghỉ
ở nhà riêng của ông, chúng tôi có lại thăm ông và nói chuyện rồi cảm ơn mà về nghỉ ở khách sạn
Trang 10Công ty này vừa có nhà cho khách trọ vừa có hãng ô tô đưa khách và hàng hóa
đi lại trên con đường từ Cửa Hàn đến Qui Nhơn, Nha Trang, chiếu liệu cho bà con lao động ngoài Bắc vô làm ăn trong Nam những lúc đi về được nhiều việc Bởi vì đường
xe lửa từ Hà Nội vô mới đi liền tới Cửa Hàn Từ Cửa Hàn phải đi ô tô một quãng dài đến Qui Nhơn – Nha Trang Từ Nha Trang mới lại có xe hỏa vào Sài Gòn Hành khách trong khi lên xuống ga hai đầu ấy có nhiều sự khó khăn về khuân vác và ngủ trọ, nhất
là những bà con lao động Công ty Hào Hưng bèn ra ứng biện chỗ đó, sở xe hỏa cũng vui lòng cùng liên lạc với công ty Cửa Hàn với Nha Trang lập lại hai nhà khách sạn
và ga ô tô Xe lửa đến gần ga hai nơi đó, có bồi của nhà Hào Hưng đeo dấu hiệu lên mời và nhận khuân vác hành lý Lúc khách ra xe lửa, bồi đi lấy vé giúp từ trước và khuân vác hành lý lên đến xe Lên xuống ô tô cũng thế Trong nhà, phòng nằm, hạng nhất hạng nhì hạng ba thì đều có từng phòng riêng một, giá tiền khác nhau Hạng tư thì không có phòng riêng, giường kê gần nhau trong một khuôn nhà, mỗi cái giường đều
có màn, chăn, giá tiền hạ nhất Còn một hạng nữa thì không mất tiền, nằm những cái bậc dài nhưng cũng có chăn gối tử tế Cơm ăn thì có bốn hạng: 0$50, 0$30, 0$20, 0$10 Khách chỉ trọ mà không ăn cơm cũng được Người trong nhà cùng bồi bếp tiếp khách một cách ân cần lễ phép châu toàn Cái chỗ giúp cho bà con lao động là có những nơi ăn nằm hạng rất tít tiền hoặc không mất tiền đó Một chỗ ăn trọ của người nghèo ở nơi lữ thứ chốn thị thành mà có được như thế là yên ổn lắm Chúng tôi cũng khen một cách doanh nghiệp có cảm tình ấy, nên vì nghĩa công mà thuật ra đây Cứ chuyến ô tô Nam ra hay là xe lửa Bắc vô, khách trọ đông lắm Chúng tôi trọ cái phòng hạng nhất, ăn ba bữa cơm mỗi ngày 1$50 Dùng cơm trưa xong, bảo nhà hàng cho thuê một cái ô tô đưa chúng tôi đi Ngũ Hành Sơn”
Mong sao những người làm du lịch hôm nay có được nhiều những ông chủ phán Chánh, nhiều doanh nghiệp, công ty, hãng ô tô, khách sạn, nhà hàng và người làm công cùng vươn đến tầm văn hóa “tiếp khách một cách ân cần lễ phép châu toàn” như công ty Hào Hưng tám mươi năm về trước…
2.3 Chính thông qua các chuyến đi, các cuộc giao lưu mà mỗi người vừa tăng thêm nhận thức và niềm tự hào dân tộc, vừa chiêm nghiệm và chứng nghiệm được đầy đủ tình nghĩa đồng bào Thượng Chi (Phạm Quỳnh) ghi lại trong bài Cùng các