Làng đóng vai trò nền tảng trong việc hình thành bản sắc văn hóa Việt Nam vì làng tạo ra những lễ thói và thiết chế trung tâm, từ thờ cúng tổ tiên, nhà thờ họ, tổ chức dòng họ, hương ư
Trang 1TOAN CAU 1 HOA VA BAN SAC LANG VIET
Ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên
thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới, đánh dấu mốc lịch sử
sự tham gia của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu Kết quả chính
sách hội nhập là nền kinh tế Việt Nam gia tăng mức độ toàn cầu
hoá, với công ty Việt Nam hoạt động trên thị trường thế giới, công
ty đa quốc gia sản xuất hàng hoá ở Việt Nam, và giao dịch tài
chính ngày càng mang tính quốc tế Đông thời, đông đảo người
Việt đến làm việc tại các nước khác nhau trên thế giới Điều đó
chứng tỏ Việt Nam đang ở trên con đường phát triển cùng với
nhiều quốc gia, trong bối cảnh các quốc gia phụ thuộc lẫn nhau về
lực lượng lao động, quá trình sản xuất và thị trường
Bên cạnh toàn cầu hoá về mặt kinh tế, chúng ta cũng chứng kiến sự gia tăng kết nối trên phạm vi toàn thế giới ở nhiều lĩnh vực
Trang 2Nguyễn Tuần Anh, Annuska Derks
khác nhau Trong thời đại chúng ta sống, tiến bộ khoa học và kỹ thuật đã giúp làm ra những phương tiện vận tải và thông tin liên lạc với nhiều tính năng ưu việt Đây là cơ sở để người Việt vượt qua giới hạn không gian và thời gian nhằm trao đổi văn hoá với cư dân các nước khác Việc gia tăng di cư cũng đóng góp vào sự trao đổi về mặt
tỉnh thân lẫn vật chất giữa Việt Nam và nhiều quốc gia Có thể nói rang, Việt Nam đã trở thành bộ phận của một hệ thống, mà trong hệ
thống đó cả ranh giới địa lý lẫn những ảnh hưởng về mặt văn hóa đang bị vỡ vụn ra bởi những phương tiện giao thông vận tải và
thông tin liên lạc tiên tiến (Brumann 1998: 496)
Trong bối cảnh này, câu hỏi quan trọng nổi lên là: Toàn cầu hóa tác động như thể nào đến cuộc sống và quan niệm/cảm nhận của cá nhân: minh thugc vé/gin véi va duoc chấp nhận bởi tmột cộng dong dia phương cụ thể Mặc đù toàn cầu hóa mang lại những cơ hội
mới, nhiều người Việt đã và đang quan ngại việc mở rộng ảnh hưởng của văn hóa phương Tây lên bản sắc văn hóa dân tộc Sự gia tăng liên kết toàn cầu (McGrew 1992) kéo theo sự gia tăng các dòng hàng hoá, thông tin, và nhân lực, cũng như tập tục xuyên biên giới quốc gia (Tomlinson 1999) Điều này đưa đến câu hỏi thực
sự quan trọng về ảnh hưởng của toàn cầu hoá lên bản sắc văn hoá
Toàn cầu hoá diễn ra lâu dài, đi liền với việc mở rộng văn hoá
phương Tây trên toàn thế giới, và với việc đồng nhất hoá, làm mất
đi sự đa dạng văn hoá Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây
nhân mạnh rõ ràng rằng: trong bối cảnh toàn cầu hoá, sự khác biệt
về mặt văn hoá ngày càng gia tăng (Meyer and Geschiere 1999: 1-2) Làng Việt là nơi lý tưởng để nghiên cứu sự căng thẳng của
mối quan hệ giữa địa phương và toàn cầu Như các nghiên cứu đã
chỉ ra, làng là địa bàn quan trọng để hiểu quá trình tiếp nối lẫn
quá trình thay đổi của xã hội Việt Nam (chẳng hạn xem Luong
200
Trang 3
TOAN CAU HOA VA BAN SAC LANG VIET Ở MIỄN BẮC
2010; Tessier 2003) Làng đóng vai trò nền tảng trong việc hình thành bản sắc văn hóa Việt Nam vì làng tạo ra những lễ thói và
thiết chế trung tâm, từ thờ cúng tổ tiên, nhà thờ họ, tổ chức dòng
họ, hương ước, lệ làng, hội làng, thành hoàng làng, đình làng, cho
đến các loại tổ chức xã hội đa dạng như phường, hội, phe, giáp
Đồng thời, làng đã trải qua những thay đổi sâu sắc do chuyển đổi
trong nông nghiệp, cải thiện cơ sở hạ tầng, di cư, cũng như nhiều
sự phát triển kinh tế, chính trị và xã hội khác
Vì vậy, chúng tôi đã triển khai một nghiên cứu về toàn cầu hóa và bản sắc làng Việt ở miễn Bắc! Chúng tôi sẽ xem xét những chuyển đổi bên trong các làng cùng với sức mạnh toàn cầu hóa đã -_ và đang ảnh hưởng như thế nào đến quan niệm của cá nhân, rằng: mình thuộc về một địa phương cụ thể Chúng tôi đặt ra câu hỏi: Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, bằng cách nào những
cư dân của làng, sống trong làng và ngoài làng, đã, và đang duy trì, thay đối quan niệm của họ: "mình thuộc về một địa phương cụ thể" Việc thờ cúng tổ tiên, từ đường, tổ chức dòng họ, thành hoàng làng, đình làng, hương ước, lệ làng, hội làng đóng vai trò
như thế nào trong những sự thay đối đó? Ai đóng vai trò quan
trọng kết nối thế giới bên ngoài làng và phong tục tập quán của làng? Và, khái quát hon: Bang cách nào các làng Việt ở miễn Bắc
được tái tạo lại, hay bằng cách nào những đặc điểm văn hóa làng đang dần mất đi tính địa phương, trong thời đại của những
Bài viết này là một nỗ lực của chúng tôi nhằm cụ thể hóa chủ
để nêu trên qua việc khảo cứu tài liệu về làng Việt, toàn cầu hóa,
và sự hình thành bản sắc
! Đề tài "Toàn cầu hóa va bản sắc làng Việt ở miễn Bắc" do Quỹ Phát triển
Khoa học và Công nghệ Quốc gia tai trg
201
Trang 4Nguyễn Tuấn Anh, Annuska Derks
"phiên bản biến chất" của làng truyền thống Nhưng, Rigg nói thêm, quan niệm làng là cộng đồng theo chủ nnshĩa quân bình, độc lập,
tự trị, nơi mọi người sẻ chia uới nhau ít khi phù hợp với những bằng chứng lịch sử Vì vậy, bản chất của làng đã và đang là chủ để của nhiều tranh cãi về mặt học thuật
Một vấn đề trung tâm của tranh luận này là làng Việt mang đặc điểm đóng hay đặc điểm mở Vào những năm 1950, Eric Wolf
đã đưa ra quan niệm về cộng đồng mở trong sự tương quan với
cộng đồng đóng và kết nối chặt Wolf (1955: 456) cho rằng cộng đóng và kết nối chặt là hệ thống được giới hạn với ranh giới rõ ràng, trong các mối quan hệ đối với người bên trong và người bên ngoài làng Hệ thống này có bản sắc được cầu trúc qua thời gian Nhìn từ bên ngoài, cộng đồng này, như một tổng thể, có những
hoạt động và "sự phản kháng tập thể" Nhìn từ bên trong, cộng
đồng này quy định quyển lợi và nghĩa vụ, cũng như những
khuôn mẫu hành vi cho thành viên Trong khi đó, quan niệm về cộng đồng mở nhắn mạnh đến tương tác liên tục và sự liên kết vận mệnh của cộng đồng với thế giới bên ngoài Về mặt lịch sử,
việc xuất hiện kiểu cộng đồng này là để đáp ứng sự gia tăng nhu cầu đối với sản phẩm nông nghiệp đi liền sự phát triển chủ nghĩa
tư bản ở châu Âu (Wolf, 1955: 462)
Mặc dù phân tích của Eric Wolf dựa trên các cộng đồng ở Mesoamerica và Central Java, quan niệm về kiểu cộng đồng như
thế này có thể được dùng để mô tả bản chất cộng đồng làng ở
nhiều nơi khác nhau trên thế giới Các làng ở miền Bắc và miễn
Trung Việt Nam thường được mô tả như là các cộng đồng đóng, 202
Trang 5TOAN CẦU HÓA VÀ BẢN SẮC LÀNG VIỆT Ở MIỄN BẮC
liên kết chặt, tự trị cao (Jamieson 1993: 2) Quả thực, hình ảnh về
làng Việt ở miễn Bắc "là nơi mà người ta ẩn mình sau những rặng
tre, và là nơi mà truyền thống được lưu giữ từ ngàn xưa" (Kleinen
1999: 1) Theo các nghiên cứu trước đây thì làng Việt ở miễn Bắc
mang những đặc điểm tiêu biểu như: cố kết về mặt xã hội, đóng
kín để bảo vệ khỏi sự xâm phạm từ bên ngoài, tục lệ nội hôn
(người làng kết hôn với nhau), tự cấp, tự túc về kinh tế, và tự trị
trong mối quan hệ với Nhà nước
Tuy nhiên, những nghiên cứu mới hơn đã không đồng ý với
hình ảnh làng Việt được mô tả như thế, không chỉ bởi những
chuyển đổi sâu sắc của bối cảnh nông thôn trong những thập kỷ | vừa qua, mà còn là vì hình ảnh này không hoàn toàn phản ánh
chính xác thực tiễn lịch sử và sự đa dạng của làng Việt Liên quan
đến điều này, Kleinen viết: "Sự thay đổi về quang cảnh, đặc điểm
tự nhiên, kinh tế xã hội, và bối cảnh lịch sử nên không thể có một
sự miêu tả toàn diện về làng Việt một cách xác định" (Kleinen,
1999: 2).! Vì vậy, cần phải tìm hiểu tính đa dạng và sự chuyển đổi
này trong bối cảnh nông thôn để có thể hiểu những đặc điểm
đóng - mở tương đối của làng, và việc những đặc điểm đó liên
quan như thế nào đến bản sắc làng
Làng Việt trong thể kỷ XXI: sự chuyển đổi và tính đa dạng
Trước khi tìm hiểu những đặc điểm đóng và mở của làng,
chúng ta cần xem xét chính xác chúng ta muốn nói gì khi để cập
đến khái niệm làng Việc khó khăn trong định nghĩa làng Việt
được thể hiện trước hết qua các khái niệm dùng để phân biệt làng,
† Bởi sự đa dạng của làng Việt nên trong bài viết này chúng tôi giới hạn
phạm vi thảo luận của mình về làng Việt ở trung du và đồng bằng miễn
Bắc Vì vậy, khi nói đến làng, hay làng Việt là chúng tôi muốn nói đến
làng ở trung du và đồng bằng miễn Bắc Việt Nam _
203
Trang 6Nguyễn Tuấn Anh, Annuska Derks
thôn, xã Nguyễn Tùng khám phá ra rằng có rất nhiều từ được
dùng để chỉ làng Việt, tuỳ vào thời điểm và vùng miễn Các từ này
bao gồm Làng, Xã, Thôn, Phường, Trại, Châu, Vạn, Giáp, Phố,
Tích, Sách, Động, Lũng, Xưởng, Mỏ, Bến, Chòm, Nậu, Đội, Tộc,
Ấp, Lý (Nguyễn Tùng, 2003: 17-20) Ở miễn Bắc Việt Nam, liên
quan đến làng có ba từ thường được đề cập đến: làng, xã, và thôn
Làng (có nguồn gốc từ chữ Nôm) được dùng để gọi đơn vị định
cư nhỏ nhất và chính thức của người Kinh Xã (có nguồn gốc từ chữ Hán) là từ chỉ đơn vị hành chính cơ sở của xã hội nông thôn
- Việt Nam (Tran Từ, 1984: 135)
Ở vùng trung du và đồng bằng miễn Bắc Việt Nam, một xã có
thể gồm một làng hoặc một số làng tùy thuộc vào quy mô của xã Khi mà các làng hợp thành một xã thì lúc này làng trở thành đơn _ vị hành chính và được goi là thôn (có nguồn gốc từ chữ Hán) Vì vậy, làng và thôn ở đây gần như đồng nghĩa với nhau Tuy nhiên,
việc sử dụng từ làng và từ fhôn có sự khác nhau về sắc thái biểu
cảm Từ làng thể hiện sự gắn bó, mang cảm xúc cá nhân, và
thường được dùng trong cuộc sống hàng ngày Từ fhôn với tính
chất quản lý hành chính, được dùng trong văn bản chính thức (Trần Từ 1984: 135; Yu Insun 2000: 21) Nhiều trường hợp, một xã chỉ do một làng tạo nên Điều này dẫn tới sự kết hợp từ làng và từ
xã thành một từ ghép với nghĩa không rõ ràng: làng xã (Trần Từ,
1984: 135) Từ thế kỷ XX, xu hướng sử dụng từ xã để chỉ đơn vị
hành chính cơ sở đã phổ biến Đơn vị này có một hoặc hơn một
thôn Trong khi đó, làn vẫn là từ dùng để chỉ đơn vị định cư, nơi
mà người nông dân sẻ chia những tình cảm của họ (Nguyễn Tùng, 2003: 98-99) Làng thực sự là một đơn vị văn hóa-xã hội của
nông thôn Về mặt truyền thống, làng có lãnh thổ, cấu trúc và phong tục riêng; Tuy nhiên, làng cũng được định vị trong bối
cảnh kinh tế và chính trị rộng lớn bên ngoài
204
Trang 7
TOAN CAU HOA VA BAN SAC LANG VIET Ở MIỄN BẮC
Điều này đặt ra câu hỏi về đặc điểm đóng và mở tương đối của
làng Sau đây chúng tôi sẽ thảo luận về hai hướng tiếp cận liên quan,
đến đặc điểm của làng truyền thống ở trung du và đồrig bằng miễn
Bắc Việt Nam Cách tiếp cận thứ nhất cho rằng làng Việt truyền
thống được đặc trưng bởi tính cộng đồng, tự trị về chính trị, tự túc về
kinh tế, tự tái sản xuất về dân cư; đó là một cộng đồng tính tại và
khép kín Cách tiếp cận thứ hai nhấn mạnh đến đặc tính mở của
làng qua nhiều chiều cạnh khác nhau
_ Làng truyền thống: Những đặc điểm khép/đóng kín
Tiếp cận thứ nhất coi làng truyền thống là một thế giới riêng,
đóng kín: Làng không chỉ là đơn vị hành chính mà còn là cộng
đồng đa chức năng.! Mặc dù nhỏ nhưng làng được cấu trúc chặt
chẽ, đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống hàng ngày, và có thể
đối phó với các tình huống khó khăn như thiên tai, trộm cướp hay
chiến tranh Mọi người dân trong làng dựa vào thiết chế làng, tỉnh
thân cộng đồng làng, tình cảm làng để sống mà không phải vươn
ra ngoài ranh giới làng (Trần Đình Hượu, 1996: 297) Đặc điểm
khép kín của làng truyền thống dựa trên lãnh thổ, cấu trúc và tổ
chức, tôn giáo và tín ngưỡng, văn hóa và sự tự tái sản xuất dân cư
Theo Nguyễn Hồng Phong thì mối làng có lãnh thổ riêng, bao
gồm đất ở, đồi, hỗ, gò, đống Hương ước truyền thống định rõ
, Trong bài viết này, khi nói đến làng truyền thông là chúng tôi muốn nói
đến làng Việt ở trung du và đồng bằng miễn Bắc Việt Nam trong thời
Nguyễn ở thế kỷ XIX, và trong giai đoạn thuộc Pháp trước Cách mạng
tháng Tám 1945 Có hai lý do xác đáng dẫn tới sự giới hạn này mà Trần
Từ (1984: 13-14) đã chỉ ra Thứ nhất, hạn chế về tư liệu lịch sử nên không
thể ngược dòng lịch sử quá xa (tuy nhiên cũng có một vài chỉ tiết ngoại lệ
sẽ được nói đến cụ thể, chẳng hạn vào năm 1242, dưới triều Trần đã có sự
phân biệt xã lớn và xã nhỏ) Thứ hai, nhìn một cách tương đối, làng Việt
trong giai đoạn này vẫn mang những đặc điểm “cổ truyền”, được ngưng
đọng lại từ xa xưa, một cách tương đối
205
Trang 8Nguyễn Tuan Anh, Annuska Derks
ranh giới của làng, và dân làng phải có nghĩa vụ bảo vệ lãnh thổ chống lại sự xâm lấn của các làng khác (Nguyễn Hồng Phong,
1978: 464) Thêm nữa, lãnh thổ của làng không phải là nơi mà ai
muốn đến ở cũng được Thật ra, mỗi làng có một danh sách những người đóng thuế, danh sách này phân biệt người dân chính thức của làng, gọi là dân chính cư/nội tịch, và cư dân không chính thức của làng gọi là dân ngụ cư/ngoại tịch Phải thông qua
một quá trình thừa nhận thì dân ngụ cư/ngoại tịch mới trở thành dân chính cư/nội tịch (Kleinen, 1999: 7; Trần Đình Hượu, 1996:
241) Liên quan đến vấn để này, Popkin (1979) nhắn mạnh sự
phân biệt rạch ròi người trong làng, người ngoài làng qua khái
niệm "tư cách công dân làng" Popkin viết: "Rõ ràng là, khái niệm
tư cách công dân làng đã rất quan trọng trong việc phân biệt người bên trong-người bên ngoài Việc nhân mạnh vào tư cách
công dân làng, vì thế, đã khuyến khích quyển sở hữu mang tính
chất địa phương "-
Mặt dù bên trong nội bộ làng, cư dân có sự khác biệt về của cải và vị thế xã hội, nhưng họ kết nối với nhau thông qua các ràng buộc có phạm vi rộng (Luong 2010: 55) Trần Từ (1984) minh họa điều này bằng việc mô tả tổ chức và hoạt động của Hội đồng Kỳ mục, Lý dịch, dòng họ, ngõ, xóm, giáp, phe, phường, hội Hội đồng Kỳ mục bao gồm những người được bầu bởi dân hàng xã
(những người 18 tuổi trở lên, nộp thuế cho nhà nước, có quyển
bầu cử và bàn việc làng) Tuy nhiên, về mặt thực chất, Hội đồng
Kỳ mục gồm những người có phẩm hàm và tài sản Chức năng của Hội đồng Kỳ mục là dé ra chính sách của làng và biện pháp để
thực hiện chính sách đó Lý dịch, những nhân viên nhà nước ở làng, có trách nhiệm thực thi các chính sách của Hội đồng Kỳ mục
và tổ chức thực hiện nghĩa vụ của làng đối với nhà nước (Trần Từ,
1984: 65-66)
206
Trang 9TOÀN CẦU HÓA VÀ BẢN SẮC LÀNG VIỆT Ở MIỄN BẮC
Về đời sống chính trị, bên cạnh bộ máy quyền lực gồm Hội
đồng Kỳ mục và Lý dịch, làng có luật được gọi là hương ước Dựa
vào bộ máy quyền lực và hương ước, làng có thể thành lập tòa án
của làng Ngoài ra, trong những tình huống khẩn cấp như trộm
cướp hay chiến tranh, làng huy động nhân lực là những tráng đỉnh
để bảo vệ làng (Trần Đình Hượu, 1996: 241) Thêm nữa, đời sống
chính trị của làng còn chịu ảnh hưởng bởi nhiều thiết chế xã hội
như đòng họ, ngõ - xóm, giáp, và các tố chức tự nguyện (Trần Từ,
1984) Bất chấp sự can thiệp của nhà nước, làng tương đối biệt lập
và tự trị Sau khi hoàn thành trách nhiệm với nhà nước, chẳng hạn
như nộp thuế, thực hiện nghĩa vụ quân sự và nghĩa vụ lao dịch,
làng tự lo công việc của mình Nhà nước không can thiệp đến từng
cá nhân, mà đến từng làng (Gourou, 20031926]: 247; Nguyễn Văn
Huyén, 2003: 824) Điều này có nghĩa là: thông qua làng người ta có
thể chu toàn trách nhiệm với tư cách là một thành viên của xã hội
(Jamieson 1993: 30) Trong sự tương quan với quốc gia, làng Việt
truyền thống giống như một quốc gia trong một quốc gia (Nguyễn
Văn Huyén, 2003: 829; Nguyễn Thế Anh, 2003: 102) |
_ Trong lĩnh vực kinh tế, trên danh nghĩa, đất thuộc sở hữu nhà
vua, nhưng thực tế làng là người sở hữu tập thể đối với đất công
Đất công của làng được phân chia lại sau mỗi khoảng thời gian là
ba năm (Jamieson 1993: 29) Hệ thống này, Jamieson nói, là một
trong những trụ cột tạo nên sự đoàn kết của làng Tuy nhiên, đất
công đã trải qua một quá trình tư nhân hóa lâu dài Ngay trước
Cách mạng tháng Tám năm 1945, phần lớn đất công hữu đã
chuyển thành đất tư hữu Vì thế, làng Việt cố truyền, có cả đất tư
hữu, nấm giữ bởi các hộ gia đình với quy mô nhỏ, và đất công
hữu (Trần Từ, 1984: 19-29) Làng là một đơn vị tự cấp, tự túc về
kinh tế qua chức năng tổ chức và phân phối đất nông nghiệp cho
các hộ gia đình Bên cạnh sản xuất nông nghiệp nhiều làng có
nghề tiểu thủ công nghiệp, hay chuyên tiểu thủ công nghiệp Các
207
Trang 10Nguyễn Tuần Anh, Annuska Derks
làng này thường giữ bí mật nghề nghiệp để đảm bảo rằng người ngoài không thể biết những bí mật này (Popkin, 1979: 89-90; Trần
Góp thêm ý kiến về đặc điểm khép kín, Scott phát biểu rằng
làng Việt nên được định nghĩa là như một đoàn thể bởi vai trò của_
nó trong việc đảm bảo an ninh sinh kế và phúc lợi tập thể cho cư dân của làng khi họ đối mặt với "bóng ma thiếu ăn, đói kém" thỉnh
thoảng đến "cổng mỗi làng" (Scott, 1976: 1) Sinh kế của nông dân
phụ thuộc vào "quan hệ có đi có lại, sự rộng lượng ép buộc, đất công, và sự chia sẻ công việc" (Scott 1976: 3) Điều này giải thích tại
sao có những người nông dân không thích thị trường, ưu tiên tài sản công hơn là tài sản tư, và chống lại sự biến đổi làng xã theo hướng cởi mở dưới tác động của sự phát triển tư bản và định hướng của nhà nước thực dân hiện đại Nói cách khác, làng khép: kín đảm bảo sinh kế cho người nông dân thông qua những dàn xếp về mặt đạo lý nhằm tối thiểu hóa các rủi ro (Salemink, 2003)
Mặc dù có cách nhìn khác so với Scott, ở một phạm vi nhất định,
Popkin cũng thừa nhận rằng làng Việt truyền thống có đặc điểm
khép kín Ông nhấn mạnh "hàng rào" của làng "bảo vệ làng và
biểu thị cho thế giới bên ngoài thấy làng là nơi bắt khả xâm phạm"
Trong lĩnh vực tôn giáo và văn hóa của làng Việt trước năm
1945, làng có thành hoàng, đình, đền, chùa Làng còn tổ chức lễ hội và có trách nhiệm đối với hoạt động giáo dục (Trần Đình
Hượu, 1996: 241-243) Trần Từ (1984) khám phá vai trò của hương
ước trong đời sống làng xã Nguyễn Thế Anh (2003) chỉ ra rằng hương ước bao gồm các quy định về mặt hành chính, phong tục, tín ngưỡng Những quy định đó liên hệ với nhau, nhằm mục đích điều hoà tương tác, quan hệ nội bộ làng và giữa các làng với nhau Trần Đình Hượu (1996) bàn về đời sống tinh thần của làng xã qua
208
Trang 11.TOÀN CẦU HÓA VA BAN SAC LANG VIET Ở MIỄN BẮC
thành hoàng, đình, đền và chùa cũng như hội làng Theo Trần Từ
(1984: 91), trong xã hội truyền thống các hoạt động tôn giáo và văn
hoá của cư dân làng Việt diễn ra chủ yếu ở chùa, đình, đền và văn
miều Trước thế kỷ XV, khi Phật giáo đang là quốc giáo, theo nghĩa'
là hệ tư tưởng chính thống, chùa làng đóng vai trò trung tâm trong
hoạt động tôn giáo và xã hội của các làng Sau đó, Nho giáo thay
thế vị trí Phật giáo như là hệ tư tưởng chính thống thì đình làng
thay thế vị trí của chùa làng Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các
hoạt động liên quan đến chùa làng, chẳng hạn các hội đi chùa,
chủ yếu do các cụ bà thực hiện
efe 8A
tự quản về tôn giáo, chính trị, xã hội và tự cấp, tự túc về kinh tế,
mà còn dựa trên sự tái sản xuất dân cư Nội hôn trong làng là kiểu
hôn nhân phổ biến Quy định về việc nộp cheo với giá trị cao đối
với những người lấy chồng/vợ ngoài làng khẳng định điều này
(Đỗ Thái Đồng, 1995: 89-90) Liên quan đến đặc điểm khép kín,
câu ngạn ngữ: "Trống làng nào láng ấy đánh, thánh làng nào làng
ấy thờ", được Nguyễn Thế Anh giải thích rằng: mỗi làng là "một
cộng đồng độc nhất, riêng biệt, kết cầu chặt, và biệt lập" (Nguyen
The Anh, 2003: 102)
Truyền thống và sự chuyển đổi của làng: Những đặc điểm mở
Ngược lại với quan niệm làng đóng kín, quan niệm thứ hai chỉ
ra những đặc điểm mở của làng truyền thống Theo Breman
(1995), quan niệm làng là "một cộng đồng độc nhất, riêng biệt, kết
cấu chặt, và biệt lập" cần phải được xem lại bởi những lý do sau
đây Thứ nhất, khó mà nói rằng làng biệt lập và tự trị khi mà làng
phải nộp một phần sản phẩm của mình cho nhà nước Thứ hai,
tính tự cấp, tự túc về mặt kinh tế cũng đáng ngờ bởi nền kinh tế
làng phụ thuộc vào sự đa dạng của sản xuất sản phẩm, sự đa dạng
209
Trang 12Nguyễn Tuấn Anh, Annuska Derks_
trong việc chiếm hữu ruộng đất, và vai trò tiền tệ Thứ ba, tính tự
trị về mặt chính trị cần phải đặt câu hỏi, bởi vì đời sống chính trị của làng được kết nối với thế giới chính trị rộng lớn bên ngoài
cổng làng
Sự thực thì đặc tính mở của làng ở đồng bằng và trung du
miễn Bắc Việt Nam được thể hiện qua hai chiều cạnh: quan hệ
giữa làng và nhà nước thông qua các hoạt động chính trị-xã hội,
và quan hệ giữa các làng với nhau thông qua hoạt động kinh tế, văn hóa tín ngưỡng Gourou (2003) [1936], Nguyễn Văn Huyên, (2003)[1939], và Nguyễn Thế Anh (2003) đã thảo luận về quan hệ
giữa nhà nước và làng Trong khi Nguyễn Văn Huyên và Gourou
chỉ ra rằng sau khi hoàn thành trách nhiệm của mình đối với Nhà nước, làng xã có thể tự tổ chức thực hiện các công việc của làng, Nguyễn Thế Anh cho rằng trong các triều đại trước đây, sự tự trị
của làng xã tuỳ thuộc vào từng hoàn cảnh Can thiệp của nhà
nước lên các làng được thực hiện bằng cách tổ chức những người
lãnh đạo làng và duy trì hoạt động của họ, kiểm soát đất công và đất tư, thu thuế, đăng ky dân số, lẫy nhân lực của làng phục vụ quân đội và lao dịch, vv Năm 1242, dưới triều đại nhà Trân, có
sự phân biệt giữa làng (xã) lớn và làng (xã) nhỏ, và các chức dịch
làng được chỉ định tương ứng với quy mô của làng (xã) Vai trò
giám sát của nhà nước trung ương đối với làng lúc lên, lúc xuống tùy thuộc vào bối cảnh và thay đổi theo các triều đại Tương ứng với điều đó là sự tự trị lúc lên, lúc xuống của làng Dưới thời thuộc Pháp, chính quyển thực dân đã cỗ can thiệp vào công việc của làng bằng những chính sách và biện pháp cải cách (Nguyễn Thế Anh, 2003)
Thứ hai, bên cạnh quan hệ với nhà nước, mỗi làng còn kết nối với các làng khác thông qua hoạt động thương mại dựa trên hệ
thống chợ Hệ thống chợ bao gồm chợ làng, chợ tổng, chợ huyện
210