1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố Cần Thơ

156 271 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1. ý do chọn đề tài GI I THIỆU Tam nông (nông nghiệp, nông dân và nông thôn) có vị trí chiến lƣợc trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời là lực lƣợng quan trọng giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh - quốc phòng, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trƣờng sinh thái (Nghị quyết 26 - NQ/TW). Do đó, chính sách Tam nông luôn là tiêu điểm quan trọng trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nƣớc ta. Đồng b ng sông Cửu Long là một trong bảy vùng kinh tế trọng điểm của cả nƣớc, hàng năm cung ứng trên 20 triệu tấn lúa (chiếm hơn 50% sản lƣợng lúa và 90% sản lƣợng gạo xuất khẩu của cả nƣớc). Trong đó, với vị trí trung tâm (cả về kinh tế, công nghiệp, thƣơng mại, dịch vụ lẫn sản xuất nông nghiệp), TP. Cần Thơ đã có đóng góp quan trọng vào thành tựu này. Thật vậy, TP. Cần Thơ - với diện tích lúa gần 89.000 ha và hệ số sử dụng đất là 2,5 lần - sản xuất bình quân trên 1 triệu tấn lúa mỗi năm. Đặc biệt, năm 2013, sản lƣợng lúa của thành phố đạt đến 1.370.354 tấn (tăng 3,8% so với năm 2012). Song, thu nhập bình quân của lao động nông thôn (kể cả lao động trồng lúa) của thành phố năm 2013 chỉ khoảng 25,80 triệu đồng/ngƣời/năm, xấp xỉ 41% thu nhập bình quân đầu ngƣời của toàn thành phố (62,72 triệu đồng). 2 Đó là hệ quả của việc sản xuất nông nghiệp bị lệ thuộc vào tự nhiên, giá đầu vào và đầu ra biến động thất thƣờng, thiếu hệ thống bảo hiểm rủi ro nông nghiệp, hệ thống giao thông kém phát triển và đặc biệt là thiếu vốn. Mặt khác, sự thiếu liên kết giữa nông hộ và DN tạo điều kiện để các tác nhân trung gian (nhƣ “cò” lúa, thƣơng lái và DN) thụ hƣởng phần lớn lợi nhuận trong chuỗi giá trị lúa gạo thay vì nông hộ - ngƣời trực tiếp làm ra hạt lúa. Do tập quán, các nông hộ trồng lúa chú trọng số lƣợng hơn là chất lƣợng nên gieo trồng đồng thời nhiều loại giống, vì vậy chất lƣợng hạt lúa không đồng đều. Việc thu mua, vận chuyển và bảo quản sau thu hoạch yếu kém, gây 1hao hụt lớn và ảnh hƣởng đến chất lƣợng hạt lúa. Hệ quả là gạo thành phẩm khó tiếp cận đƣợc các thị trƣờng nƣớc ngoài “khó tính” với thu nhập cao. Hiện tƣợng đó làm giảm hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở ĐBSCL nói chung và nông hộ ở TP. Cần Thơ nói riêng. Do đó, việc phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa là rất cần thiết nh m giúp các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý và ngƣời sản xuất thấy đƣợc mối quan hệ mật thiết giữa (giá trị) sản lƣợng với các yếu tố đầu vào và đầu ra để có chính sách phù hợp. Do vị trí trung tâm của TP. Cần Thơ ở ĐBSCL và sự tƣơng đồng trên nhiều phƣơng diện (thổ nhƣỡng, thị trƣờng, tập quán và phƣơng thức sản xuất) với các địa phƣơng khác trong Vùng nên chính sách hỗ trợ làm tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa cho nông hộ ở TP. Cần Thơ cũng có thể đƣợc triển khai vận dụng ở các địa phƣơng khác. Hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ đã nhận đƣợc sự quan tâm sâu sắc của các nhà khoa học và các nhà quản lý từ khá sớm, với các nghiên cứu tiên phong và kinh điển nhƣ Theodore (1964), Rizzo (1979) và Ellis (1993). Ở nƣớc ta, nghiên cứu hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ cũng đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu. Đặc biệt ở ĐBSCL, các nghiên cứu (nhƣ Quan Minh Nhựt, 2006; Huỳnh Trƣờng Huy & cộng sự, 2008; Phạm Lê Thông, 2011 và Nguyễn Hữu Đặng, 2012) đều có cùng nhận định r ng, hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ thấp và có xu hƣớng giảm đi theo thời gian, bởi k thuật sản xuất thiếu đồng bộ (thể hiện qua phần phi hiệu quả k thuật) và k năng lựa chọn đầu vào tối ƣu kém (thể hiện qua phần phi hiệu quả phân bổ). 3 Để góp phần tìm hiểu sâu hơn về nguyên nhân của những nhƣợc điểm trên và làm sáng tỏ thêm nhận định của các nghiên cứu vừa đề cập, luận án với tiêu đề “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa cho nông hộ ở Thành phố Cần Thơ” đƣợc thực hiện nh m phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ để từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế và cải thiện thu nhập cho nông hộ trồng lúa ở TP. Cần Thơ nói riêng và ở ĐBSCL nói chung.

Trang 1

NG NH: 62 62 01 15

Cần Thơ, tháng 6 năm 2015

Trang 2

NG NH: 62 62 01 15

HƯ NG D N KHOA HỌC PGS.TS KHƯƠNG NINH

Cần Thơ, tháng 6 năm 2015

Trang 3

ỜI CẢ ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn:

PGS.TS Lê Khương Ninh đã tận tình hướng dẫn, động viên và truyền đạt nhiều kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận án này Quý Thầy Cô trong Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh và Khoa Sau đại học, các Khoa, Trung tâm và Viện của Trường Đại học Cần Thơ đã giảng dạy

và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian học tập

Các bạn học viên Lớp Nghiên cứu sinh Kinh tế Nông nghiệp Khóa 1 (2011 - 2015) đã thường xuyên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận án này

Trân trọng cảm ơn

Cần Thơ, ngày 30 tháng 6 năm 2015

Người thực hiện

Nguyễn Tiến Dũng

Trang 4

TÓM TẮT

Luận án “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của

nông hộ ở Thành phố Cần Thơ” được thực hiện trên cơ sở hệ thống dữ liệu thứ

cấp và sơ cấp thu thập từ 815 nông hộ được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên từ bốn huyện trồng lúa trọng điểm của TP Cần Thơ (đó là, Cờ Đỏ, Phong Điền, Thới Lai và Vĩnh Thạnh) Luận án sử dụng phương pháp ước

lượng tham số thông qua hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên (stochastic profit

frontier function) với phần sai số hỗn hợp để ước lượng hiệu quả kinh tế trong

sản xuất lúa của các nông hộ được khảo sát Sau đó, luận án sử dụng phương pháp hồi quy Tobit để xác định ảnh hưởng của các yếu tố đến mức hiệu quả kinh tế vừa ước lượng để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ nói riêng và ở ĐBSCL nói chung

Kết quả ước lượng cho thấy hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông

hộ ở TP Cần Thơ là khá thấp Do đó, việc nâng cao hiệu quả này để làm tăng thu nhập cho nông hộ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của địa phương là hết sức cần thiết Thật vậy, chỉ có 0,12% nông hộ sản xuất lúa nào đạt mức hiệu quả kinh tế từ 90% đến 100% Số hộ có mức hiệu quả kinh tế dưới 50% chiếm

tỷ trọng khá cao (32,4%) trong tổng số hộ được khảo sát Mức hiệu quả trung bình của các nông hộ được khảo sát tương đối thấp (khoảng 55,8%)

Kết quả ước lượng cho thấy, hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông

hộ chịu ảnh hưởng của các yếu tố nội tại của bản thân nông hộ (như quy mô diện tích đất, phương thức bán lúa (trực tiếp hay gián tiếp), phương thức canh tác (luân canh hay độc canh), tỷ trọng tiền mua chịu vật tư, tiền nhàn rỗi và khoảng cách từ nơi cư trú của nông hộ đến trung tâm xã, huyện), bên cạnh các yếu tố ngoại biên (đặc biệt là hoạt động hỗ trợ kiến thức sử dụng đầu vào và tiếp cận thông tin về thị trường đầu vào và đầu ra của các bên có liên quan cho nông hộ)

Trên cơ sở kết quả ước lượng của các mô hình và thực trạng của nông hộ, luận án đề xuất các giải pháp tổng hợp liên quan đến các khía canh trên, với sự tham gia của các chủ thể quan trọng (đó là, Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và bản thân nông hộ)

Trang 5

ABSTRACT

The dissertation entitled “Solutions to enhance the economic efficiency in

rice growing for farming households in Can Tho City” has been carried out on

the basis of a primary data set of 815 rice-growing households randomly

selected from four districts (i.e., Co Do, Phong Dien, Thoi Lai and Vinh

Thanh) in Can Tho City Using the stochastic profit frontier function, this dissertation estimates the economic efficiency of those households before undertaking a regression analysis on the impact of factors affecting the economic efficiency of the households so as to establish a foundation for proposing solutions to enhance the estimated economic efficiency and income

of the households as well

The results shows that the economic efficiency of those rice-growing households is a bit low Therefore, it should be urgently improved Indeed, only 0.12% of the rice-growing households is able to approach a level of economic efficiency of between 90% and 100% Number of households having a level of economic efficiency of less than 50% accounts for as much

as 32,4% of the total number of households surveyed The average level of economic efficiency of those households is only 55,8%

According to the results, the economic efficiency of the surveyed households is strongly affected by such intrinsic factors as farm size, rice-selling method, cropping pattern, trade credit on inputs, geographical location,

etc in addition to external factors (such as the possibility to get informed of

using inputs and information on markets for inputs and outputs) Based of the results obtained, the dissertation proposes solutions to enhance the economic efficiency and income of rice-growing households in Can Tho in particular and in the Mekong River Delta (MRD) in general

Trang 6

ỜI CA ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu

và kết quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ luận án cùng cấp nào trước đây

Cần Thơ, ngày 30 tháng 6 năm 2015

Người thực hiện

Nguyễn Tiến Dũng

Trang 7

ỤC ỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Tóm tắt tiếng Việt ii

Abstract iii

Lời cam đoan iv

Mục lục v

Danh mục bảng viii

Danh mục biểu đồ x

Danh mục từ viết tắt xi

Chương 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

2.1.3 Nội dung nghiên cứu 3

1.3 Phạm vi nghiên cứu 4

1.3.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu 4

1.3.2 Giới hạn đối tượng nghiên cứu 4

1.3.3 Giới hạn vùng nghiên cứu 4

1.3.4 Giới hạn thời gian nghiên cứu 4

1.4 Cấu trúc của luận án 5

1.5 Đóng góp của luận án 5

Chương 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7

2.1 Các nghiên cứu nước ngoài 8

2.1.1 Các nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) 8

2.1.2.Các nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) 16

2.2 Các nghiên cứu trong nước 22

2.3 Kết luận 27

Trang 8

Chương 3: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

3.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế và ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ 29

3.1.1 Hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa 29

3.1.2 Mô hình ước lượng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ 33

3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ 36

3.2.1 Cơ sở lý thuyết 36

3.2.2 Mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ 40

3.3 Phương pháp nghiên cứu 42

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 42

3.3.2 Phương pháp phân tích số liệu 43

Chương 4: THỰC TRẠNG SẢN XUẤT LÚA Ở TP CẦN THƠ ………….45

4.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 45

4.1.1 Vị trí địa lý 45

4.1.2 Điều kiện tự nhiên 42

4.2 Tình hình phát triển kinh tế 48

4.2.1 Dân số và lao động 48

4.2.2 Kết cấu hạ tầng 50

4.2.3 Kinh tế 51

4.3 Sản xuất nông nghiệp ở TP Cần Thơ 53

4.4 Thực trạng sản xuất lúa ở TP Cần Thơ 54

4.4.1 Yếu tố đầu vào 58

4.4.2 Thị trường lúa gạo ở TP Cần Thơ 65

4.4.3 Rủi ro trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ 67

Chương 5: ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẾN HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG SẢN XUẤT LÚA CỦA NÔNG HỘ TP CẦN THƠ 70

5.1 Mô tả mẫu khảo sát 70

5.1.1 Đặc điểm chung…… 70

5.1.2 Kết quả sản xuất lúa của nông hộ 74

Trang 9

5.2 Ước lượng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ TP Cần

Thơ……… 81

5.3 Ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ TP Cần Thơ 85

Chương 6: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG SẢN XUẤT LÚA CHO NÔNG HỘ Ở TP CẦN THƠ 91

6.1 Giải pháp về quy mô diện tích 91

6.2 Giải pháp về phương thức bán lúa 93

6.3 Giải pháp về phương thức canh tác 97

6.4 Giải pháp về mua vật tư 100

6.5 Giải pháp về tiền nhàn rỗi 105

6.6 Giải pháp về khoảng cách địa lý 108

6.7 Giải pháp hỗ trợ đầu ra………110

6.8 Giải pháp về hỗ trợ đầu vào………116

Chương 7: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGH 119

7.1 Kết luận 119

7.2 Kiến nghị 120

7.2.1 Đối với các nhà quản lý 120

7.2.2 Đối với các trung tâm, viện, trường 121

7.2.3 Đối với DN 122

Tài liệu tham khảo 118

Phụ lục 129

Trang 10

DANH ỤC BIỂU BẢNG

Trang

Bảng 3.1 Ý nghĩa của các biến và kỳ vọng về dấu của các i trong mô hình ước lượng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ……….35 Bảng 3.2 Kỳ vọng dấu của các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ……… 40 Bảng 3.3 Phân phối mẫu khảo sát trên địa bàn các huyện ………43 Bảng 4.1 Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ở TP Cần Thơ (2010 - 2013)

……… 49 Bảng 4.2 Giá trị tổng sản phẩm của TP Cần Thơ (2009 - 2013)………52 Bảng 4.3 Thu nhập bình quân đầu người của TP Cần Thơ (2009 - 2013)….53 Bảng 4.4 Giá trị sản xuất nông nghiệp (giá hiện hành) ở TP Cần Thơ

(2009 - 2013) 54 Bảng 4.5 Diện tích và sản lượng lúa của TP Cần Thơ (2013) 55 Bảng 4.6 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở TP Cần Thơ (2009 - 2013) 56 Bảng 4.7 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa phân theo vụ ở TP Cần Thơ (2009 - 2013) …… ……….57 Bảng 4.8 Lực lượng lao động ở TP Cần Thơ (2013) 61 Bảng 5.1 Quy mô đất nông nghiệp của nông hộ ở TP Cần Thơ (2013)…….72 Bảng 5.2 Lượng vốn vay bình quân của nông hộ sản xuất lúa ở TP Cần Thơ

……… 73 Bảng 5.3 Chi phí sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố Cần Thơ (phân theo vụ) 75 Bảng 5.4 So sánh hiệu quả sản xuất của mô hình một phải năm giảm trong vụ

Hè thu 2013 ở TP Cần Thơ 79

Bảng 5.5 Hiệu quả tài chính trong sản xuất lúa nông hộ TP Cần Thơ (phân theo vụ) ……… …… 80 Bảng 5.6 Kết quả ước lượng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ 76 Bảng 5.7 Mức hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ 77

Trang 11

Bảng 5.8 Hiệu quả kinh tế và đặc điểm của nông hộ trồng lúa ở TP Cần Thơ……… 78 Bảng 5.9 Thống kê mô tả các biến trong mô hình ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ………79 Bảng 5.10 Kết quả ước lượng …… ….……….81

Trang 12

DANH ỤC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 3.1 Hiệu quả k thuật, phân bổ và hiệu quả kinh tế trong sản xuất 30 Biểu đồ 4.1 Hệ thống phân phối lúa gạo tại TP Cần Thơ 65 Biểu đồ 4.2 Các kênh phân phối lúa gạo tại TP Cần Thơ 66

Trang 13

TCTD : Tổ chức tín dụng

TP : Thành phố

XH : Xã hội

Trang 14

Chương 1

GI I THIỆU

1.1 ý do chọn đề tài

Tam nông (nông nghiệp, nông dân và nông thôn) có vị trí chiến lược

trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời là lực lượng quan trọng giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh

tế, đảm bảo an ninh - quốc phòng, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái (Nghị quyết 26 - NQ/TW) Do đó, chính sách Tam nông luôn là tiêu điểm quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta Đồng b ng sông Cửu Long là một trong bảy vùng kinh

tế trọng điểm của cả nước, hàng năm cung ứng trên 20 triệu tấn lúa (chiếm hơn 50% sản lượng lúa và 90% sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước).1 Trong

đó, với vị trí trung tâm (cả về kinh tế, công nghiệp, thương mại, dịch vụ lẫn sản xuất nông nghiệp), TP Cần Thơ đã có đóng góp quan trọng vào thành tựu này

Thật vậy, TP Cần Thơ - với diện tích lúa gần 89.000 ha và hệ số sử dụng đất là 2,5 lần - sản xuất bình quân trên 1 triệu tấn lúa mỗi năm Đặc biệt, năm

2013, sản lượng lúa của thành phố đạt đến 1.370.354 tấn (tăng 3,8% so với năm 2012) Song, thu nhập bình quân của lao động nông thôn (kể cả lao động trồng lúa) của thành phố năm 2013 chỉ khoảng 25,80 triệu đồng/người/năm, xấp xỉ 41% thu nhập bình quân đầu người của toàn thành phố (62,72 triệu đồng).2 Đó là hệ quả của việc sản xuất nông nghiệp bị lệ thuộc vào tự nhiên, giá đầu vào và đầu ra biến động thất thường, thiếu hệ thống bảo hiểm rủi ro nông nghiệp, hệ thống giao thông kém phát triển và đặc biệt là thiếu vốn Mặt khác, sự thiếu liên kết giữa nông hộ và DN tạo điều kiện để các tác nhân trung gian (như “cò” lúa, thương lái và DN) thụ hưởng phần lớn lợi nhuận trong chuỗi giá trị lúa gạo thay vì nông hộ - người trực tiếp làm ra hạt lúa

Do tập quán, các nông hộ trồng lúa chú trọng số lượng hơn là chất lượng nên gieo trồng đồng thời nhiều loại giống, vì vậy chất lượng hạt lúa không đồng đều Việc thu mua, vận chuyển và bảo quản sau thu hoạch yếu kém, gây

Trang 15

hao hụt lớn và ảnh hưởng đến chất lượng hạt lúa Hệ quả là gạo thành phẩm khó tiếp cận được các thị trường nước ngoài “khó tính” với thu nhập cao Hiện tượng đó làm giảm hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở ĐBSCL nói chung và nông hộ ở TP Cần Thơ nói riêng Do đó, việc phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa là rất cần thiết nh m giúp các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý và người sản xuất thấy được mối quan hệ mật thiết giữa (giá trị) sản lượng với các yếu tố đầu vào và đầu ra để có chính sách phù hợp Do

vị trí trung tâm của TP Cần Thơ ở ĐBSCL và sự tương đồng trên nhiều phương diện (thổ nhưỡng, thị trường, tập quán và phương thức sản xuất) với các địa phương khác trong Vùng nên chính sách hỗ trợ làm tăng hiệu quả kinh

tế trong sản xuất lúa cho nông hộ ở TP Cần Thơ cũng có thể được triển khai vận dụng ở các địa phương khác

Hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ đã nhận được sự quan tâm sâu sắc của các nhà khoa học và các nhà quản lý từ khá sớm, với các nghiên cứu tiên phong và kinh điển như Theodore (1964), Rizzo (1979) và Ellis (1993) Ở nước ta, nghiên cứu hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ cũng đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu Đặc biệt ở ĐBSCL, các nghiên cứu (như Quan Minh Nhựt, 2006; Huỳnh Trường Huy & cộng sự, 2008; Phạm

Lê Thông, 2011 và Nguyễn Hữu Đặng, 2012) đều có cùng nhận định r ng, hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ thấp và có xu hướng giảm đi theo thời gian, bởi k thuật sản xuất thiếu đồng bộ (thể hiện qua phần phi hiệu quả k thuật) và k năng lựa chọn đầu vào tối ưu kém (thể hiện qua phần phi hiệu quả phân bổ).3

Để góp phần tìm hiểu sâu hơn về nguyên nhân của những nhược điểm

trên và làm sáng tỏ thêm nhận định của các nghiên cứu vừa đề cập, luận án với tiêu đề “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa cho nông

hộ ở Thành phố Cần Thơ” được thực hiện nh m phân tích các yếu tố ảnh

hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ để từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế và cải thiện thu nhập cho nông hộ trồng lúa ở TP Cần Thơ nói riêng và ở ĐBSCL nói chung

3

Hiệu quả k thuật và hiệu quả phân bổ là hai yếu tố quyết định hiệu quả kinh tế, bởi hiệu quả kinh tế là tích số của hai yếu tố này (Farrell, 1957)

Trang 16

1.2 ục tiêu nghiên cứu

1.2.1 ục tiêu chung

Mục tiêu chung của luận án là đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh

tế trong sản xuất lúa cho nông hộ ở TP Cần Thơ, trên cơ sở kết quả ước lượng hiệu quả kinh tế và ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ nói riêng và ở ĐBSCL nói chung

2.1.3 Nội dung nghiên cứu

Căn cứ vào mục tiêu vừa đề cập, luận án có các nội dung như sau:

(i) Mô tả tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về chủ đề này để hình thành cơ sở lý thuyết và thực tế cho các phân tích và giải pháp được đề xuất trong luận án

(ii) Trên cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế và kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, luận án xây dựng mô hình ước lượng hiệu quả kinh tế và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ

(iii) Dựa trên cơ sở hệ thống dữ liệu thứ cấp thu thập được và kết quả của các nghiên cứu có liên quan, luận án đi sâu phân tích thực trạng sản xuất và tiêu thụ lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ

(iv) Thông qua hệ thống dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp từ 815 nông hộ trồng lúa được chọn ngẫu nhiên ở TP Cần Thơ, luận án ước lượng hiệu quả

Trang 17

kinh tế và ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ

(v) Với kết quả nghiên cứu vừa đạt được, luận án đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa cho nông hộ ở TP Cần Thơ nói riêng và ở ĐBSCL nói chung

1.3 Phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu

Luận án có các nội dung chính như sau:

- Hệ thống hóa các lý thuyết về ước lượng hiệu quả kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ

- Phân tích thực trạng sản xuất và tiêu thụ lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ Cụ thể là các vấn đề về k thuật canh tác, thị trường yếu tố đầu vào, thị trường lúa gạo và các khía cạnh có liên quan khác

- Ước lượng hiệu quả kinh tế và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ để từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa cho nông hộ ở TP Cần Thơ nói riêng và ở ĐBSCL nói chung

1.3.2 Giới hạn đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ Đặc biệt, luận án chú trọng phân tích thực trạng sản xuất và tiêu thụ lúa nh m nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ để đề xuất giải pháp cải thiện

1.3.3 Giới hạn vùng nghiên cứu

TP Cần Thơ có 5 quận nội thành và 4 huyện ngoại thành Theo Sở NN&PTNT TP Cần Thơ, hoạt động sản xuất lúa của thành phố tập trung chủ yếu ở 4 huyện ngoại thành (đó là, Cờ Đỏ, Phong Điền, Thới Lai và Vĩnh Thạnh).4 Bốn huyện này chiếm đến 84,64% diện tích đất trồng lúa và 84,99% sản lượng lúa năm 2013 của toàn thành phố.5 Vì vậy, để đảm bảo tính đại diện cho cơ sở dữ liệu sơ cấp và tính khoa học của các giải pháp được đề xuất, luận

án sẽ thu thập số liệu của nông hộ ở toàn bộ 4 huyện nói trên

1.3.4 Giới hạn thời gian nghiên cứu

Trang 18

Số liệu thứ cấp sử dụng trong luận án trải trong giai đoạn 5 năm (2009 - 2013) Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng số liệu dự báo và định hướng phát triển của các cơ quan hữu quan (như Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch - Đầu

tư, Báo cáo tổng kết và các tư liệu được công bố của các ngân hàng, cơ quan, ban ngành của TP Cần Thơ)

1.4 Cấu trúc của luận án

Ngoài danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án bao gồm 7 chương, với nội dung cụ thể như sau:

Ch ơng 1: Gi i thiệu Chương này giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu,

nội dung, phạm vi nghiên cứu, cấu trúc của luận án, ý nghĩa và đóng góp của

luận án

Ch ơng 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương này hệ thống hóa

kết quả của các nghiên cứu có liên quan (kể cả lý thuyết lẫn thực nghiệm) trong và ngoài nước để đúc kết các luận điểm chính nh m phục vụ cho việc phân tích, lý giải và đề xuất giải pháp của luận án

Ch ơng 3: Cơ sở lý luận và ph ơng pháp nghiên cứu Chương này xây

dựng mô hình ước lượng hiệu quả kinh tế và mô hình xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ, đồng thời trình bày chi tiết phương pháp thu thập số liệu và phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án

Ch ơng 4: Thực trạng sản xuất lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ Chương

này tập trung phân tích tình hình kinh tế - xã hội, tình hình sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng của nông hộ ở TP Cần Thơ trong

giai đoạn 2009 - 2013, với trọng tâm là hiệu quả trong sản xuất

Ch ơng 5: Ảnh h ởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ TP Cần Thơ Mục tiêu của chương này là ước lượng hiệu

quả kinh tế và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ để hình thành cơ sở khoa học cho các giải pháp được đề xuất

Ch ơng 6: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa cho nông hộ TP Cần Thơ Với kết quả phân tích ở các chương trước, chương này

đề xuất các giải pháp tổng hợp và toàn diện nh m nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa cho nông hộ ở TP Cần Thơ nói riêng và ở ĐBSCL nói

chung

Trang 19

Ch ơng 7: ết luận và kiến ngh Trên cơ sở kết quả đạt được ở các

chương trước, luận án rút ra kết luận và đề xuất kiến nghị đối với các chủ thể

có liên quan

1.5 Đóng góp của luận án

Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn của địa phương, kết hợp với kết quả thực nghiệm từ 815 hộ trồng lúa ở TP Cần Thơ, luận án kỳ vọng có những đóng góp như sau:

- Hệ thống hóa được một cách đầy đủ cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế cũng như ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ

- Mô tả được thực trạng, ước lượng hiệu quả kinh tế và ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ

- Đề xuất được hệ thống các giải pháp nh m nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ nói riêng và ở ĐBSCL nói chung, qua đó giúp các nhà lập chính sách, các nhà quản lý cũng như nông hộ khắc phục các yếu kém dẫn đến sự phi hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa

Trang 20

Chương 2

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHI N CỨU

Hiện nay, hơn 50% dân số thế giới sử dụng gạo như là nguồn lương thực chính nh m cung cấp năng lượng và dưỡng chất (Oladele & Sakagami, 2004)

Do đó, việc nghiên cứu hiệu quả trong sản xuất lúa của nông hộ từ lâu đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà khoa học và các nhà quản lý, bởi hoạt động sản xuất lúa gạo có mối quan hệ mật thiết với vấn đề an ninh lương thực trên phạm vi toàn thế giới (Richard & Gerald, 2007) Việc phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ là rất cần thiết, nh m giúp các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý và người sản xuất thấy được mối quan

hệ tác động giữa (giá trị) sản lượng và các yếu tố đầu vào cũng như đầu ra để

có chính sách phù hợp

Hiệu quả sản xuất nông nghiệp nói chung và hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa nói riêng đã được nhiều học giả nghiên cứu từ khá sớm, trong đó nổi bật nhất là Theodore (1964), Rizzo (1979) và Ellis (1993) Các học giả này

cho r ng cần lưu ý đến ba loại hiệu quả, đó là hiệu quả k thuật (technical

efficiency - TE), hiệu quả phân bổ (allocative efficiency - AE) và hiệu quả kinh

tế (economic efficiency - EE) Nếu tiếp cận theo đầu vào, hiệu quả k thuật

(TE) là số lượng sản phẩm có thể đạt được b ng cách sử dụng lượng đầu vào tối thiểu với trình độ công nghệ đang được áp dụng (Theodore, 1964; Rizzo, 1979; Dhungana & cộng sự, 2004)

Hiệu quả phân bổ (AE) phản ảnh khả năng sử dụng đầu vào tối ưu để tối

đa hóa lợi nhuận Như vậy, hiệu quả phân bổ (AE) đạt được khi giá sản phẩm (P hay doanh thu bình quân AR) b ng chi phí biên (MC) của nguồn lực sử

dụng vào sản xuất (Rizzo, 1979; Ellis, 1993) Hiệu quả kinh tế (EE) là mục

tiêu cơ bản của người sản xuất và là thước đo mức độ thành công của người sản xuất trong việc lựa chọn yếu tố đầu vào và đầu ra tối ưu Hiệu quả kinh tế

là tích số giữa hiệu quả k thuật và hiệu quả phân bổ (EE = TEAE) Như vậy, để đạt được hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp nói chung hay trong trồng lúa nói riêng nông hộ cần phải đạt được cả hiệu quả k thuật lẫn hiệu quả phân bổ (Theodore, 1964; Rizzo, 1979; Ellis, 1993)

Trước đây, để đo lường hiệu quả kinh tế của nông hộ trồng lúa, các nhà nghiên cứu thường sử dụng các phương pháp phân tích truyền thống, như so

Trang 21

sánh các chỉ tiêu kinh tế hay phân tích chi phí - lợi ích (CBA) Hạn chế của các phương pháp này là độ chính xác không cao và chưa chỉ ra được nguyên nhân cốt lõi của tính phi hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong trồng lúa nói riêng Để khắc phục yếu điểm trên, gần đây các nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) hay phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) để ước lượng hiệu quả k thuật, hiệu quả phân phối và hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp nói chung

và trong sản xuất lúa của nông hộ nói riêng Mục tiêu của chương này là tổng hợp kết quả của các nghiên cứu có liên quan đến chủ đề này

2.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Mục tiêu của phần này là tổng hợp các nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến chủ đề của luận án (đó là, hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ) Để đảm bảo tính hệ thống và tránh trùng lắp, các nghiên cứu này được phân thành hai nhóm chính và được trình bày lần lượt theo trình tự thời gian Một nhóm sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) và một nhóm sử dụng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA)

2.1.1 Các nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA)

Từ rất sớm, Farrell (1957) đã đề xuất phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) dùng để xây dựng đường giới hạn khả năng sản xuất và sử dụng mô hình toán với mục tiêu là dựa vào số liệu đã có để hình thành một mặt phẳng phi tham số (mặt phẳng giới hạn khả năng sản xuất) Khi đó, hiệu quả hoạt động của các chủ thể (như nông hộ hay doanh nghiệp chẳng hạn) sẽ được tính toán dựa theo mặt phẳng này Thông qua việc vận dụng kiến thức về mô hình toán kinh tế và dựa vào số liệu về hiện trạng sản xuất, ta có thể đánh giá được hiệu quả hoạt động của các chủ thể nêu trên

Coelli & cộng sự (2005) đã thiết lập mô hình phân tích DEA để đo lường hiệu quả kinh tế (dựa vào số liệu về hiện trạng sản xuất) Với đóng góp của

Charnes (1978), thuật ngữ “data envelopment analysis” (DEA) trở nên phổ

biến và được sử dụng rộng rãi kể từ đó Hiện nay, nhiều nghiên cứu về hiệu quả kinh tế trong sản xuất sử dụng phương pháp này, như Charnes, Cooper & Rhodes (1978); Banker, Charnes & Cooper (1984); Chen, Ali (2002) Đặc biệt, Collie đã viết thành công chương trình ứng dụng trên máy tính để xử lý

số liệu theo phương pháp này Phương pháp DEA được xác định dưới hai hình

thức cơ bản là tiếp cận theo đầu vào (input-orientated measures) và tiếp cận theo đầu ra (output-orientated measures) Các nghiên cứu thực nghiệm vận

Trang 22

dụng các quan điểm đó để phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong trồng lúa nói riêng

Haag & cộng sự (1992), trong một nghiên cứu về hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp, đã sử dụng phương pháp DEA để đánh giá hiệu quả k thuật của sản xuất trên cùng một loại đất Nghiên cứu này được thực hiện ở 41 hạt của vùng thảo nguyên Blackland (tiểu bang Texas, Hoa Kỳ) Đầu ra được

đề cập là giá trị thị trường của sản phẩm Đầu vào bao gồm đất và chi phí sản xuất (vốn đầu tư trong chăn nuôi, phân bón, nhiên liệu và năng lượng, thức ăn, thiết bị, lao động, hạt giống và các chi phí khác liên quan đến nông hộ) Nghiên cứu nhấn mạnh r ng, yếu tố chất lượng đất có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp

Kalaitzandonakes & cộng sự (1992) cũng sử dụng mô hình với biến ẩn và

dữ liệu trên 50 trang trại ở vùng Trung Bắc Missouri (Hoa Kỳ) trong giai đoạn 1985-1989 để đo lường mức độ hiệu quả của trang trại Các biến đầu ra được

sử dụng là giá trị của cây trồng (bao gồm cả lúa) Đầu vào bao gồm đất đai, lao động, nông dược, phân bón, hạt giống, máy móc, năng lượng và nhà xưởng Mô hình đã tính toán được hiệu quả k thuật bình quân của các trang trại được khảo sát là 57% Các trang trại có doanh thu hàng năm lớn hơn 300.000 USD có hiệu quả k thuật cao hơn các trang trại có tổng doanh thu nhỏ hơn 100.000 USD Các trang trại có đất canh tác trên 1.000 mẫu có hiệu quả k thuật cao hơn các trang trại có đất canh tác thấp hơn 1.000 mẫu là 10% Mối tương quan giữa quy mô trang trại và hiệu quả k thuật đã được tìm thấy tương tự như kết quả của phương pháp ước lượng biên Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ chuyên môn và quy mô trang trại có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả k thuật của các trang trại

Trewin & cộng sự (1995) đã tiến hành ước lượng hiệu quả k thuật của các nông hộ sản xuất lúa ở bang Java (Indonesia), sử dụng hệ thống số liệu bảng Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định xem có thể cải thiện năng suất lúa thông qua việc nâng cao hiệu quả sản xuất của các nông hộ hay không Kết quả nghiên cứu cho thấy, điều đó có thể đạt được thông qua việc

áp dụng k thuật sản xuất phù hợp và tăng cường sử dụng hiệu quả các yếu

tố đầu vào (đặc biệt là phân bón) theo đúng quy trình k thuật được khuyến cáo bởi cơ quan khuyến nông Đây là hai yếu tố quan trọng không chỉ đối với năng suất mà còn đối với chất lượng lúa, qua đó giúp làm tăng hiệu quả sản xuất cho các nông hộ trồng lúa ở Java Từ kết quả trên, các tác giả đề xuất giải pháp kích thích nông hộ áp dụng k thuật sản xuất mới vào đồng ruộng của mình

Trang 23

Thiele & Brodersen (1999) cũng đã sử dụng phương pháp phân tích bao

dữ liệu (DEA) đối với 386 trang trại ở Tây Đức và 214 trang trại Đông Đức trong giai đoạn 1995 - 1997 để nghiên cứu hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp Hiệu quả sản xuất được chia thành hiệu quả k thuật và hiệu quả quy mô Biến đầu ra là lợi nhuận Các biến đầu vào là lao động, đất đai, vốn, yếu tố đầu vào (giống, phân bón và hóa chất), cùng với một số biến khác như năng lượng, nước và nhiên liệu Việc so sánh giữa các trang trại ở Tây Đức và Đông Đức giúp đánh giá tính hiệu quả sản xuất của các trang trại được chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, bởi hai vùng này có điều kiện tự nhiên khá giống nhau nhưng xuất phát điểm và các khía cạnh vừa nêu có sự khác biệt Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhóm nông hộ Tây Đức có hiệu quả sản xuất cao hơn rất nhiều so với nhóm nông hộ Đông Đức, nhờ tiến bộ k thuật, chất lượng yếu tố đầu vào và năng suất lao động Từ đó, nghiên cứu cho r ng, cần thay đổi quy mô sản xuất, tăng cường ứng dụng k thuật hiện đại và nâng cao trình độ canh tác, trình độ quản lý của nông hộ để làm tăng hiệu quả Các yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp của các trang trại được khảo sát là lao động, đất đai, vốn và đầu vào (giống, phân bón

và hóa chất) Mặt khác, cách thức sử dụng năng lượng, nước và nhiên liệu cũng ảnh hưởng đến hiệu ứng k thuật và hiệu quả quy mô

Abdulai & cộng sự (2000) phân tích hiệu quả k thuật của nông hộ ở 189 nông hộ trồng lúa ở miền Bắc Ghana, sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả k thuật của các nông hộ trong mẫu khảo sát là 77,26% Các tác giả cũng sử dụng phương pháp ước lượng Tobit để xác định ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả k thuật của các nông hộ được khảo sát Theo đó, kết cấu hạ tầng, địa điểm, lao động và mức độ chấp nhận rủi ro của chủ hộ có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả k thuật Hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển giúp nông hộ nhanh chóng tiếp cận

và nắm bắt xu hướng thay đổi của thị trường (nhất là về giá và chất lượng yếu

tố đầu vào) để chọn lựa loại yếu tố đầu vào phù hợp với giống lúa và điều kiện thổ nhưỡng nh m làm tăng hiệu quả cho sản xuất lúa của nông hộ Bên cạnh

đó, hệ thống giao thông phát triển còn thúc đẩy sự xuất hiện các thị trường mới và sự tham gia của nhiều tác nhân thị trường, do đó làm tăng áp lực cạnh tranh và người bán phải nâng cao chất lượng sản phẩm Kết quả là nông hộ được hưởng lợi về giá và chất lượng sản phẩm (đặc biệt là yếu tố đầu vào) Bên cạnh đó, các nông hộ cư trú gần các điểm chợ sẽ có cơ hội tiếp cận thông tin thị trường và kiến thức về k thuật sản xuất để giúp làm tăng hiệu quả sản xuất lúa Ngoài ra, lao động gia đình tham gia sản xuất lúa của nông

Trang 24

hộ càng nhiều, hộ có thể giảm chi phí sản xuất, gia tăng lợi nhuận và hiệu quả Sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố ngoại biên, trong đó quan trọng nhất là các yếu tố xuất phát từ điều kiện tự nhiên Rủi ro trong sản xuất bắt nguồn từ biến đổi khí hậu và sâu bệnh Cũng như các loại cây trồng khác, các yếu tố này ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ Giải pháp để cải thiện hiệu quả của hộ trồng lúa nơi đây được các tác giả xây dựng dựa trên cơ sở kết quả thực nghiệm, trong mối quan hệ với các chính sách và chiến lược phát triển mà quốc gia này đang thực hiện

Phương pháp ước lượng phi tham số sử dụng k thuật phân tích bao dữ liệu (DEA) được sử dụng bởi Dhungana & cộng sự (2004) đối với 75 nông hộ trồng lúa ở Nepal cho thấy, tính phi hiệu quả kinh tế, phi hiệu quả phân bổ và phi hiệu quả k thuật bình quân lần lượt là 34%, 13% và 24% Khác biệt đáng

kể trong mức độ phi hiệu quả của các nông hộ trồng lúa chịu ảnh hưởng của sự biến động trong mức độ sử dụng các loại yếu tố đầu vào như giống, lao động, phân bón và năng lượng cơ học Tương tự, kết quả nghiên cứu của Abdulai & cộng sự (2000) sử dụng phương pháp ước lượng Tobit cho thấy, sự khác biệt như trên cũng có liên quan đến đặc điểm nhân khẩu học, thái độ đối với rủi ro, giới tính, tuổi, trình độ học vấn và nguồn nhân lực sẵn có của chủ hộ Nghiên cứu này cho r ng giới tính của chủ hộ cũng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ Do đặc thù về thể chất nên nam giới thường khỏe hơn nữ giới và có thể đảm đương cùng lúc nhiều hoạt động dàn trải trên phạm vi rộng, nhất là trong môi trường tự nhiên như sản xuất lúa Mặt khác, nam giới thường có tố chất vượt trội trong tổ chức, quản lý và linh hoạt để điều tiết hoạt động sản xuất lúa nh m hạn chế ảnh hưởng của các yếu tố bất lợi, do đó có thể giúp làm tăng hiệu quả cho sản xuất lúa của nông hộ

Kế đến là tuổi của chủ hộ, bởi chủ hộ đóng vai trò quan trọng trong các quyết định của nông hộ (kể cả trên phương diện sản xuất lẫn đời sống) Tuổi càng lớn giúp chủ hộ tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm, nhất là kinh nghiệm trong hoạt động sản xuất lúa Cụ thể, việc lựa chọn k thuật canh tác, giống lúa và loại yếu tố đầu vào (phân bón và nông dược) để đảm bảo tính mùa vụ - yếu tố quan trọng của sản xuất nông nghiệp - và phù hợp với đặc tính sinh học của cây lúa của chủ hộ lớn tuổi sẽ có nhiều ưu điểm hơn so với các nông hộ có chủ hộ trẻ tuổi nên ít kinh nghiệm Ngoài ra, trình độ học vấn của chủ hộ cũng

là yếu tố cần quan tâm khi phân tích hiệu quả sản xuất nông nghiệp nói chung

và sản xuất lúa nói riêng Đó là vì học vấn cao sẽ giúp chủ hộ nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt k thuật sản xuất mới và xu hướng thay đổi của môi trường

tự nhiên để có thể sử dụng hợp lý các loại yếu tố đầu vào (nhất là phân bón và

Trang 25

nông dược) để đảm bảo năng suất và chất lượng lúa Tương tự, số lượng lao động gia đình tham gia sản xuất lúa càng nhiều, nông hộ có thể giảm chi phí sản xuất, gia tăng lợi nhuận và trở nên hiệu quả hơn

Nghiên cứu của Krasachat (2004) về hiệu quả k thuật đối với các nông

hộ trồng lúa ở Thái Lan cũng đã áp dụng phương pháp phi tham số để ước lượng hiệu quả k thuật trong trồng lúa Trong nghiên cứu này, phân tích bao

dữ liệu (DEA) trên cơ sở hệ thống dữ liệu sơ cấp năm 1999 được sử dụng Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả

k thuật trong sản xuất lúa của các nông hộ ở Thái Lan Để ước tính điểm số hiệu quả, phương pháp DEA được áp dụng cho hệ thống dữ liệu vi mô ở cấp

độ nông hộ ở ba tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Thái Lan Có ít nhất bốn yếu tố đáng quan tâm liên quan đến triển vọng của các nông hộ nơi đây Đầu tiên, tốc

độ tăng trưởng tương đối cao của hoạt động sản xuất lúa ở Thái Lan đạt được chủ yếu thông qua việc mở rộng diện tích canh tác Thứ hai, mặc dù với tốc độ tăng trưởng cao như vậy nhưng năng suất lúa ở Thái Lan vẫn khá thấp so với một số nước Châu Á khác Thứ ba, nông nghiệp Thái Lan chịu ảnh hưởng bởi các chính sách mà chính phủ Thái Lan đã thực thi trong hơn ba thập kỷ trong quá khứ Trong đó, chính sách quan trọng nhất là thuế xuất khẩu đối với nông sản (đặc biệt là gạo), hạn ngạch và thuế quan đối với máy móc và phân bón nhập khẩu Các yếu tố này là nguyên nhân của cạnh tranh không hoàn hảo trên

cả thị trường đầu vào lẫn đầu ra Do đó, các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách khá lo ngại về hiệu quả k thuật của sản xuất lúa của các nông hộ ở quốc gia này

Nghiên cứu của Hu & McAleer (2005) sử dụng phương pháp phân tích

dữ liệu bảng để ước lượng hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp của Trung Quốc Một bảng dữ liệu được thiết lập bao gồm 30 tỉnh của Trung Quốc trong bảy năm được sử dụng để đánh giá hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp Hiệu quả k thuật được định nghĩa là mức khác biệt giữa đầu ra quan sát được và sản lượng tối đa có thể đạt được Cả hai mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên lẫn hiệu ứng cố định được sử dụng để ước lượng hàm sản xuất Cobb - Douglas Kết quả kiểm định Hausman cho thấy, mô hình hiệu ứng cố định cần được lựa chọn để đánh giá hiệu quả k thuật đối với các nông hộ được khảo sát Ở cấp độ quốc gia, hiệu quả k thuật nói chung tăng liên tục trong 7 năm

Ở cấp độ khu vực, các tỉnh miền Đông đạt được hiệu quả k thuật cao hơn nhiều so với hai khu vực còn lại Bên cạnh đó, khoảng cách hiệu quả giữa miền Đông và miền Tây ngày một tăng Khu vực miền Trung có tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng của hiệu quả k thuật vào giai đoạn cuối, giúp thu

Trang 26

hẹp khoảng cách với các khu vực khác

Brazdik (2006) sử dụng phương pháp phân tích phi tham số để ước lượng hiệu quả k thuật của các nông hộ trồng lúa ở miền Tây Java (Indonesia) Sau

đó, nghiên cứu này tiến hành kiểm định mối quan hệ giữa quy mô và hiệu quả

k thuật của các nông hộ được khảo sát Miền Tây Java là chiếc nôi của các chương trình tăng cường các thể chế phát triển nông thôn ở Indonesia Hiệu quả trong trồng lúa rất được quan tâm nghiên cứu ở khu vực này, bởi nông hộ

ở đảo Java sản xuất hơn 60% sản lượng lúa của Indonesia vào thời điểm khảo sát Mục tiêu của nghiên cứu này là nh m đánh giá hiệu quả k thuật của các nông hộ trồng lúa Để làm điều đó, cách tiếp cận phân tích bao dữ liệu (DEA) được sử dụng để ước lượng tính hiệu quả của quy mô và hiệu quả k thuật đối với nông hộ Tiếp theo, các phân tích về hiệu quả k thuật dựa trên các đặc điểm của nông hộ được thực hiện Sau đó, nghiên cứu đã điểm lại lịch sử của mục tiêu chương trình tăng cường công nghệ sản xuất lúa gạo trong suốt các

giai đoạn “Cuộc cách mạng xanh” Với phương pháp ước lượng Tobit, tác giả

đã chỉ rõ vốn có ảnh hưởng đến hiệu quả k thuật của các nông hộ được khảo sát, bên cạnh một số yếu tố có liên quan khác

Yang (2007) đã sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đất canh tác trong nông nghiệp ở Trung Quốc Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra, tăng trưởng kinh tế nhanh đã tạo ra sự bùng nổ về nhu cầu đối với nông sản, nhưng chủ trương dành đất tự nhiên cho các lĩnh vực sản xuất khác đã làm giảm diện tích đất canh tác Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) và hồi quy để xác định các yếu tố có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả sử dụng đất canh tác Kết quả hồi quy cho thấy, các thảm họa tự nhiên và nhân tạo (lũ lụt, hạn hán và ô nhiễm)

là tác nhân chính dẫn đến sự kém hiệu quả trong sử dụng đất nông nghiệp Ngược lại, các sáng kiến, hoạt động đa dạng hóa sản xuất và vốn đầu tư nước ngoài là các yếu tố có tác động tích cực và đáng kể với hiệu quả sử dụng đất canh tác của các nông hộ ở Trung Quốc

Nghiên cứu của Simar & Wilson (2007) đã sử dụng phương pháp DEA

để ước tính hiệu quả k thuật của các nông hộ được khảo sát Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố có ảnh hưởng tích cực là trình độ học vấn và tín dụng, trong khi yếu tố có ảnh hưởng tiêu cực là độ tuổi Nghiên cứu này cho r ng giáo dục sẽ nâng cao trình độ học vấn của chủ hộ Học vấn cao sẽ giúp chủ hộ nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt k thuật sản xuất mới và xu hướng thay đổi của môi trường tự nhiên để có thể sử dụng hợp lý các loại yếu tố đầu vào (nhất là phân bón và thuốc nông dược) để đảm bảo năng suất cho cây lúa và chất

Trang 27

lượng sản phẩm Bên cạnh đó, chu kỳ sản xuất dài và tích lũy thấp nên nhiều nông hộ không thể tự tài trợ cho sản xuất mà phải vay, đặc biệt là tín dụng chính thức Có hai khía cạnh quan trọng của vốn vay đối với hiệu quả sản xuất lúa của nông hộ Thứ nhất là lượng vốn vay Như vừa đề cập, nông hộ sản xuất lúa cần một lượng yếu tố đầu vào nhất định được chỉ ra bởi quy trình k thuật Năng suất và hiệu quả sẽ thấp hơn nếu sử dụng không đúng số lượng Lượng vốn sẽ giúp đảm bảo được yếu tố này

Ngoài ra, do sản xuất lúa phụ thuộc vào yếu tố tự nhiên nên nhiều bất ngờ có thể xảy ra nên nông hộ cần có vốn kịp thời để khắc phục hay kiểm soát Vì thế, thời điểm vay vốn cũng rất quan trọng đối với hiệu quả sản xuất lúa của nông hộ Yếu tố có ảnh hưởng tiêu cực là độ tuổi Do độ tuổi chủ hộ trong mẫu khảo sát là tương đối nhỏ trong khi đó tuổi càng lớn cho phép chủ

hộ tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm, nhất là các kinh nghiệm trong hoạt động sản xuất lúa Cụ thể, việc lựa chọn k thuật canh tác, giống lúa và loại yếu tố đầu vào (phân bón và nông dược) để đảm bảo tính mùa vụ - yếu tố quan trọng của sản xuất nông nghiệp - và phù hợp với đặc tính sinh học của cây lúa của chủ hộ lớn tuổi sẽ có nhiều ưu điểm hơn so với các nông hộ có chủ hộ trẻ tuổi nên ít kinh nghiệm

Cùng với các nghiên cứu trên, Balcombe & cộng sự (2008) đã vận dụng phương pháp DEA để ước lượng hiệu quả k thuật trong sản xuất lúa của các nông hộ ở Bangladesh Theo đó, nghiên cứu kiểm định ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả k thuật đối với các nông hộ trồng lúa ở Bangladesh Động cơ của nghiên cứu này là cần phải thu hẹp khoảng cách giữa năng suất lúa thực tế và năng suất lúa tối ưu có thể đạt được nh m đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Kết quả kiểm định cho thấy, khoảng cách giữa năng suất lúa thực tế và năng suất lúa tối ưu có thể được thu hẹp thông qua việc áp dụng

k thuật sản xuất phù hợp và sử dụng hiệu quả hơn các yếu tố đầu vào (đặc biệt là phân bón) theo đúng quy trình k thuật được khuyến cáo bởi cơ quan khuyến nông Đây là hai yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả k thuật đối với các nông hộ trồng lúa ở Bangladesh Các yếu tố này quan trọng không chỉ đối với năng suất mà còn đối với chất lượng lúa, qua đó giúp làm tăng hiệu quả kinh

tế trong sản xuất cho các nông hộ trồng lúa Từ kết quả trên, các tác giả đề xuất giải pháp kích thích nông hộ áp dụng k thuật sản xuất mới vào đồng ruộng

Phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) cũng được Nasurudeen (2009) vận dụng để nghiên cứu hiệu quả trong sản xuất của các nông hộ lúa ở tiểu bang Pondicherry (Ấn Độ) trong giai đoạn 2005 - 2006 Kết quả nghiên cứu

Trang 28

cho thấy, khoảng 12,62% số nông hộ trồng lúa được xếp loại hiệu quả nhất (90-100%) và 23,45% thuộc nhóm kém hiệu quả nhất, với hiệu quả k thuật trung bình là 64% Phương pháp đánh giá hiệu quả phân bổ cho thấy, khoảng 15,86% số nông hộ được xếp vào nhóm hiệu quả nhất và 21% vào nhóm kém hiệu quả nhất, với hiệu quả phân bổ trung bình là 76% Như vậy, các nông hộ trung bình chỉ sản xuất ở khoảng hai phần ba mức sản lượng tiềm năng và khả năng tăng mức sản lượng có thể lên đến 36% trong ngắn hạn Chỉ số trung bình của phương pháp đánh giá hiệu quả phân bổ cho thấy, các nông hộ trồng lúa có thể giảm chi phí khoảng 24% nếu áp dụng k thuật sản xuất và phương pháp quản lý sản xuất tiên tiến Tỷ suất sinh lợi theo quy mô đã được phân bổ tương đối đồng đều Hơn một phần ba nông hộ được xếp vào nhóm quy mô hiệu quả nhất (90% - 100%) và 4,18% hoạt động nông nghiệp ở nhóm quy mô kém hiệu quả nhất Các yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của các nông hộ được khảo sát là trình độ học vấn, tín dụng và tuổi - yếu tố phản ánh kinh nghiệm của các chủ hộ trồng lúa

Khi nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của nông hộ trồng lúa tại Myanmar, Aung (2011) đã vận dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA đối với các nông hộ ở hai bang Bago và Yangoon Kết quả nghiên cứu của Aung (2011) cho thấy, mức độ phi hiệu quả k thuật trung bình là 16% với trị số tối thiểu 3% và tối đa là 73% Tính bình quân, khoảng 16% sản lượng tối đa tiềm năng

bị mất do phi hiệu quả k thuật đối với các nông hộ ở cả hai bang Trong khi 85% các nông hộ có mức phi hiệu quả lợi nhuận là 20% hay ít hơn, thì khoảng 40% số nông hộ được khảo sát có mức phi hiệu quả k thuật là 20% hoặc ít hơn

Yu & cộng sự (2011) cũng sử dụng phương pháp DEA để phân tích hiệu

quả sử dụng đất nông nghiệp trong khối Hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) Phương pháp phân tích DEA được sử dụng để phân tích hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong một hệ thống đầu vào - đầu ra cho sản xuất lương thực Kết quả cho thấy, hiệu quả sử dụng đất sản xuất lương thực là tương đối thấp trong khu vực APEC và có rất nhiều phương án cho để tăng năng suất lương thực ở mức đầu vào hiện tại Các yếu tố đầu vào có đóng góp khác nhau vào hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, trong đó diện tích đất canh tác hẹp là yếu tố dẫn đến sự dư thừa đầu vào và lao động nông nghiệp cần được giải phóng khỏi khu vực nông nghiệp Yếu tố đầu vào nhân tạo (như phân bón và máy móc) cũng đóng một vai trò quan trọng trong hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Trang 29

Tóm lại, các nghiên cứu trên đã sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) để ước lượng hiệu quả kinh tế của nông hộ sản xuất lúa Điều này cho thấy tầm quan trọng của hoạt động sản xuất lúa ở các quốc gia trên thế giới và tính hữu ích của phương pháp phân tích bao dữ liệu, nếu có được hệ thống cơ sở dữ liệu nghiên cứu đầy đủ và phù hợp

2.1.2 Các nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA)

Là người tiên phong, Timmer (1971) phát triển phương pháp mới để đánh giá hiệu quả k thuật sử dụng hàm sản xuất biên ngẫu nhiên

(probabilistic frontier production function) Nghiên cứu này được thực hiện

b ng cách sử dụng số liệu thu thập từ các nông hộ tại 48 tiểu bang của M trong giai đoạn 1960 - 1967 Kết quả phân tích cho thấy, doanh thu biên so với chi phí biên là 1,17 đối với lao động; 0,29 đối với đất; 1,62 đối với hạt giống; 3,76 đối với vốn và 4,86 đối với phân bón Kết quả trên ngụ ý r ng, trong giai đoạn này, các nông hộ sử dụng đất quá mức, trong khi lượng vốn

và phân bón thấp hơn rất nhiều so với chuẩn cần thiết

Bagi (1982) và Bagi & Huang (1983) ước lượng hiệu quả k thuật cho các nông hộ tại hạt Tây Tennessee (Hoa Kỳ) Phương pháp ước lượng bình phương bé nhất được sử dụng để ước lượng các hệ số của hàm sản xuất biên dưới dạng translog Các biến được sử dụng để ước lượng là giá trị sản lượng, diện tích đất, số lao động gia đình, lao động thuê, vốn tín dụng, dịch

vụ từ máy móc thiết bị nông nghiệp, phân bón và thuốc nông dược Kết quả ước lượng cho thấy, khoảng 53% trường hợp có sự chênh lệch giữa trị số quan sát đầu ra và trị số biên (tối đa) của cây trồng là do phi hiệu quả k thuật Nghiên cứu này cũng đề xuất tăng cường chất lượng các dịch vụ khuyến nông và vốn tín dụng mới để làm tăng hiệu quả k thuật trong sản xuất cho các nông hộ nơi đây

Ali & Flinn (1989) sử dụng hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên để nghiên cứu hiệu quả lợi nhuận của nông hộ trồng lúa ở Pakistan Kết quả cho thấy, hiệu quả trung bình của nông hộ trồng lúa ở quốc gia này là 72% và có sự chênh lệch lớn giữa các nông hộ được khảo sát Các yếu tố kinh tế - xã hội có liên quan đến sự thất thoát lợi nhuận của nông hộ là trình độ học vấn, hoạt động phi nông nghiệp (đa dạng hóa nguồn thu nhập) và hạn chế tín dụng (do ảnh hưởng của thông tin bất đối xứng, chi phí giao dịch và trách nhiệm hữu hạn) Yếu tố thể chế dẫn đến sự kém phát triển của hệ thống thủy lợi và sự thiếu khoa học trong sử dụng phân bón cũng có ảnh hưởng đến lợi nhuận của nông hộ

Trang 30

Ivaldi & cộng sự (1994) cũng sử dụng phương pháp hàm biên ngẫu nhiên để đo lường sự biến động của hiệu quả k thuật theo thời gian với dữ liệu bảng thu thập từ 81 nông hộ trồng lúa ở Pháp trong giai đoạn 1982 -

1986 Các chỉ số được sử dụng để tính toán kết quả nhận được từ các yếu tố đầu Kết quả cho thấy, mức độ phi hiệu quả k thuật khá cao Nghiên cứu cũng đã được ghi nhận xu hướng giảm hiệu quả, đi kèm với sự gia tăng trong việc sử dụng các yếu tố đầu vào vật chất Từ đó, nghiên cứu kết luận

r ng, giảm sút trong hiệu quả sản xuất một phần là do sự giảm đi trong hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào Ngoài ra, hiệu quả k thuật của các nông hộ được khảo sát có sự thay đổi theo thời gian

Hàm sản xuất biên ngẫu nhiên cũng được Battese & Coelli (1995) sử dụng để xác định các tác động phi hiệu quả k thuật trong sản xuất lúa của nông hộ Ấn Độ, trên cơ sở sử dụng dữ liệu bảng từ 14 nông hộ trồng lúa ở Ấn

Độ trong giai đoạn 10 năm Kết quả thực nghiệm trong mô hình cho thấy, mức phi hiệu quả k thuật liên quan đến tuổi, trình độ học vấn và năm quan sát Theo kết quả nghiên cứu, các đặc điểm k thuật của mô hình cho phép ước lượng sự thay đổi về k thuật và tính phi hiệu quả k thuật theo thời điểm và phi hiệu quả là ngẫu nhiên với phân phối xác suất có thể được xác định Các nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng tiếp theo là rất cần thiết để hình thành các

mô hình tốt hơn và tổng quát hơn để phân tích phi hiệu quả k thuật liên quan

sử dụng dữ liệu bảng

Trong nghiên cứu về hiệu quả kinh tế trong sản xuất giống lúa lai và giống lúa thông thường ở Trung Quốc, Xu & Jeffrey (1995) sử dụng hàm sản xuất biên ngẫu nhiên Kết quả cho thấy sự khác biệt đáng kể trong hiệu quả k thuật và hiệu quả phân bổ giữa sản xuất giống lúa thông thường và giống lúa lai Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt rõ nét trong tính hiệu quả giữa các vùng sản xuất lúa lai Wang & cộng sự (1996) cũng đã sử dụng hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên để nghiên cứu hiệu quả k thuật và hiệu quả kinh tế của các nông hộ trồng lúa ở Trung Quốc Nghiên cứu này cũng nhận thấy mức hiệu quả kinh tế trung bình là 62% và có sự khác biệt giữa các nông hộ Do

đó, nông hộ không thể tối đa hóa lợi nhuận, bởi các hạn chế trong lựa chọn đầu vào tối ưu do ảnh hưởng của giá đầu vào và đầu ra trên thị trường

Abdulai & Huffman (1998) sử dụng mô hình biên ngẫu nhiên để nghiên cứu tính kém hiệu quả lợi nhuận của nông hộ trồng lúa vùng Bắc Ghana Kết quả thực nghiệm cho thấy, nguồn vốn nhân lực thể hiện qua trình độ học vấn góp phần tích cực vào hiệu quả sản xuất Điều đó cho thấy, đầu tư vào giáo dục của nông hộ sẽ giúp cải thiện hiệu quả phân bổ Khả năng tiếp cận tín

Trang 31

dụng và chuyên môn hóa cao trong sản xuất lúa lúa được cho là có liên quan tích cực đến hiệu quả sản xuất Việc tham gia của nông hộ vào hoạt động phi nông nghiệp lại làm giảm hiệu quả sản xuất Nông hộ ở các vùng với hệ thống kết cấu hạ tầng, dịch vụ và hệ thống phân phối đầu vào của sản xuất nông nghiệp tốt hơn cũng có khuynh hướng giúp cho hiệu quả sản xuất cao hơn

Để nghiên cứu hiệu quả k thuật, Tiani (2006) đã tiến hành khảo sát các nông hộ trồng lúa ở vùng Ijesha Land (bang Osun, Nigeria) Nghiên cứu đã ước lượng hiệu quả k thuật trong trồng lúa và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả này Hiệu quả k thuật đã được ước lượng b ng cách sử dụng hàm sản xuất biên ngẫu nhiên Nghiên cứu cho thấy hiệu quả k thuật của các nông hộ dao động trong khoảng 29,40% - 98,20%, với trị số trung bình là 86,6%, nghĩa là sản lượng lúa bình quân thấp hơn so với mức tối đa 13,4%

Do đó, trong ngắn hạn các nông hộ trong vùng có cơ hội nâng cao hiệu quả k thuật về trồng lúa Singh (2007) khi phân tích về hiệu quả sản xuất lúa (đặc biệt là ảnh hưởng của khoa học - k thuật) tại Haryana (Ấn Độ) đã sử dụng phương pháp biên ngẫu nhiên Kết quả cho thấy, lúa được canh tác bởi các nông hộ trong vùng có thể tăng sản lượng thêm 27% mà không cần tăng lượng yếu tố đầu vào b ng cách áp dụng một cách hiệu quả các tiến bộ khoa học - k thuật Ước lượng hiệu quả k thuật của nghiên cứu này chỉ ra r ng, các trang trại có quy mô nhỏ có hiệu quả hơn các trang trại có quy mô vừa và lớn, khác với quan điểm cho r ng canh tác có quy mô lớn sẽ hiệu quả hơn nhờ tính kinh

tế quy mô

Jung & Ho (2007) phân tích ảnh hưởng của thu nhập đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất của các nông hộ trồng lúa ở Hàn Quốc thông qua hệ thống dữ liệu liên ngành ở cấp độ nông hộ vào năm 2006 và hàm sản xuất biên ngẫu nhiên Kết quả cho thấy, các nông hộ được thanh toán trực tiếp khi bán sản phẩm đạt hiệu quả kinh tế cao hơn các nông hộ khác Tính phi hiệu quả của các nông hộ giảm khi quy mô các khoản doanh thu được thanh toán trực tiếp cho nông hộ gia tăng Điều đó cho thấy, phương thức bán sản phẩm cũng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất của các nông hộ Đó là vì nếu nông

hộ chủ động tham gia thị trường và trực tiếp bán lúa cho DN thì sẽ hiệu quả hơn là bán qua trung gian Nghiên cứu cho r ng, cần tăng cường phát triển liên kết dọc giữa DN và nông hộ nh m rút ngắn kênh thị trường, giảm số tác nhân trung gian và chi phí trung gian

Ayinde & cộng sự (2009) sử dụng hàm phi tuyến để nghiên cứu hiệu quả của việc ứng dụng khoa học - k thuật và sử dụng giống lúa lai trong sản xuất lúa ở Nigeria Số liệu của nghiên cứu được thu thập từ 675 nông hộ được lựa

Trang 32

chọn ngẫu nhiên ở 3 trong 6 vùng địa lý đặc thù của Nigeria Các nông hộ được khảo sát được phân thành ba nhóm, căn cứ theo từng loại lúa gạo trồng

Ba giống lúa chính được trồng nơi đây là giống lúa địa phương (Ofada), giống lúa cải tiến (Mai-Nasara) và giống lúa mới của người châu Phi (NERICA) Các chỉ số về hiệu quả của việc ứng dụng khoa học - k thuật được tính toán

b ng cách sử dụng phương pháp tiếp cận phi tuyến Ứng dụng khoa học - k thuật được kỳ vọng là tạo nên sự khác biệt giữa 3 loại giống kể trên Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả của việc ứng dụng khoa học - k thuật lần lượt

là 55%, 58% và 57%, tương ứng với các loại giống lúa lai Ofada, Mai-Nasara

và NERICA Lao động thuê, phân bón, giống, tuổi, giới tính, quy mô nông hộ

và vốn là các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả ứng dụng khoa học - k thuật của các nông hộ sản xuất lúa được khảo sát

Nghiên cứu của Narala & Zala (2010) về hiệu quả k thuật của nông hộ trồng lúa được thủy lợi hóa ở miền Trung Gujarat (Ấn Độ) cũng sử dụng hàm sản xuất biên ngẫu nhiên Bên cạnh đó, phương pháp phân tích hồi quy cũng được sử dụng để xác định ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế - xã hội đến hiệu quả này Nghiên cứu cho thấy, hiệu quả k thuật nông hộ dao động từ 71,39% đến 99,82%, với trị số trung bình là 72,78% Như vậy, bình quân sản lượng đạt được còn có thể được nâng lên thêm khoảng 27%, với công nghệ và các nguồn lực không cần phải thay đổi Ngoài ra, các yếu tố như địa bàn, kinh nghiệm sản xuất, trình độ học vấn và khoảng cách từ điểm sản xuất đến hệ thống thủy lợi cũng ảnh hưởng đến hiệu quả k thuật của các nông hộ trồng lúa nơi đây Ngược lại, số thành viên gia đình tham gia sản xuất ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả k thuật B ng việc áp dụng phương pháp quản lý tốt, phân bổ hợp lý các nguồn lực hiện có, công nghệ, cùng với chương trình mở rộng lòng kênh thủy lợi, các nông hộ có thể khai thác triệt để các tiềm năng

nh m nâng cao hiệu quả k thuật để tăng sản lượng

Kachroo & cộng sự (2010) nghiên cứu hiệu quả k thuật và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả k thuật của nông hộ trồng lúa ở những vùng đất khô hạn và trong điều kiện được tưới tiêu ở Ấn Độ trong năm 2006 Hàm sản xuất biên ngẫu nhiên đã được sử dụng để ước lượng hiệu quả k thuật của các nông

hộ nơi đây Ở những điều kiện khác nhau, hiệu quả k thuật có khác biệt Hiệu quả k thuật trung bình của nông hộ trồng lúa trong điều kiện khô hạn là 0,84

và trong điều kiện tưới tiêu là 0,88 Theo nghiên cứu này, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả k thuật của các nông hộ được khảo sát là trình độ học vấn và giới tính của người tham gia sản xuất

Trang 33

Tan & cộng sự (2010) nghiên cứu tác động của sự manh mún đất đai đối với hiệu quả k thuật trong sản xuất lúa ở Đông Nam Trung Quốc Sản xuất lúa là nguồn thu nhập rất quan trọng đối với phần lớn nông hộ ở Trung Quốc

và Châu Á Nghiên cứu sử dụng cơ sở dữ liệu về nông hộ để khảo sát các mức

độ và các yếu tố quyết định hiệu quả k thuật trong sản xuất lúa ở ba làng với các đặc điểm khác nhau trong khu vực trồng lúa chính của vùng Đông Nam Trung Quốc, tập trung vào tác động của hiện tượng đất manh mún Kết quả thực nghiệm đạt được b ng cách áp dụng mô hình biên ngẫu nhiên cho thấy sự khác biệt đáng kể về trình độ công nghệ giữa các làng, với những ngôi làng xa xôi hẻo lánh có trình độ công nghệ thấp Song, hiệu quả k thuật trung bình là khá cao, dao động ở mức 0,80 - 0,91 cho ba loại gạo được trồng phổ biến Đất đai manh mún là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả k thuật đối với sản xuất lúa nơi đây Sự gia tăng quy mô diện tích sẽ làm tăng hiệu quả k thuật trồng lúa Khoảng cách càng lớn giữa nơi cư trú và điểm sản xuất sẽ làm giảm hiệu quả k thuật trong sản xuất lúa Để nâng cao hiệu quả k thuật, nghiên cứu chỉ ra r ng, công nghệ mới cần phải được giới thiệu để sử dụng vào sản xuất

Rahman (2011) đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển sang canh tác các giống lúa mới và năng suất của nó Kết quả cho thấy, các quyết định lựa chọn giống mới chịu ảnh hưởng tích cực bởi sự sẵn có của thủy lợi và lợi nhuận từ trồng lúa và chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi sự gia tăng mức lương tương đối của người lao động Tính mùa vụ và vị trí địa lý có ý nghĩa trong các quyết định lựa chọn Kết quả phân tích từ hàm sản xuất biên ngẫu nhiên cho thấy, đất đai, lao động và thủy lợi là các yếu tố quyết định năng suất của các giống lúa mới Kết quả ước lượng mô hình biên ngẫu nhiên cho thấy, mức phi hiệu quả là rất đáng kể Các chính sách được đề xuất bao gồm biện pháp để tăng cường khả năng tiếp cận hệ thống thủy lợi, cải cách chính sách

và giữ giá gạo cao để làm tăng lợi nhuận cho nông hộ và bù trừ tác động của

sự gia tăng đối với lương của người lao động

Theo Galawat & Yabe (2012), Brunei cần xem xét việc tự túc sản xuất lúa Tuy nhiên, ở đây năng suất lúa trên mỗi ha chỉ khoảng 1,7 tấn/ha, đặc biệt thấp so với các nước sản xuất lúa khác Giải pháp để cải thiện năng suất lúa là thông qua việc sử dụng hiệu quả hơn các nguồn tài nguyên khan hiếm Nghiên cứu này phân tích hiệu quả sản xuất của các nông hộ ở Brunei b ng cách sử dụng phương pháp biên lợi nhuận ngẫu nhiên, được phân tích từ ba thành tố - hiệu quả k thuật, hiệu quả phân phối và hiệu quả quy mô Kết quả thực nghiệm cho thấy, chỉ số hiệu quả lợi nhuận bình quân là 80,7% và 19,3% lợi

Trang 34

nhuận bị mất đi do phi hiệu quả k thuật, phi hiệu quả phân phối và phi hiệu quả quy mô Nguyên nhân của hiện tượng trên là thủy lợi chưa phát triển, hệ thống giáo dục - đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu và năng suất thấp

Orawan & Somporn (2012) nghiên cứu tác động của các giống lúa mới (MVS) đến sự thay đổi trong sản xuất lúa gạo của Thái Lan Điều này đã dẫn đến sự gia tăng năng suất lúa bình quân trong cả mùa mưa lẫn mùa khô và năng suất lúa bình quân gần đạt mức tối đa, với sự hỗ trợ của các tiến bộ k thuật trong sản xuất Kết quả nghiên cứu chỉ ra r ng, chi phí sản xuất lúa tăng khoảng 85,67% so với vài thập kỷ qua Máy móc, phân bón và chi phí sử dụng đất là thành tố quan trọng nhất trong chi phí Vì vậy, mặc dù giá lúa tăng mạnh trong các năm 2007 – 2008 nhưng chi phí sản xuất thậm chí còn cao hơn nên nhiều nông hộ bị thua lỗ B ng cách ước lượng hàm sản xuất, nghiên cứu cho thấy sản xuất lúa gạo nói chung giảm quy mô và năng suất chưa như mong muốn do bị ảnh hưởng của hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào Hệ số hiệu quả

k thuật là 88,32% trong niên vụ 1987 - 1988 và giảm xuống còn 72,63% trong niên vụ 2007 – 2008 Nghiên cứu này cho thấy, đa dạng hóa loại cây trồng và tín dụng là một chiến lược để nâng cao hiệu quả sản xuất của nông

hộ

Tóm lại, phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) là phương pháp được nhiều nhà nghiên cứu áp dụng để đo lường hiệu quả kinh tế trong sản xuất của các nông hộ trồng lúa Phương pháp SFA rất thích hợp để xác định hiệu quả k thuật, hiệu quả phân bổ và hiệu quả kinh tế đối với các loại nông sản nói chung và lúa nói riêng, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Đó là vì dữ liệu thu thập từ hộ sản xuất thường bị ảnh hưởng lớn do sai số ngẫu nhiên và tác động của điều kiện tự nhiên (Coelli, 1998)

Bên cạnh các nghiên cứu sử dụng hai phương pháp ước lượng DEA và SFA một cách riêng biệt, còn có các nghiên cứu sử dụng đồng thời hai phương pháp này, như Srisompun & Isvilanonda (2012) Kết quả của nghiên cứu này cho thấy, việc sử dụng các giống lúa hiện đại (MV) đã có thay đổi lớn trong lĩnh vực sản xuất lúa của Thái Lan Ứng dụng công nghệ mới, sử dụng nhiều phân bón hóa học hơn và canh tác các giống lúa mới đã làm tăng năng suất lúa

ở Thái Lan Năng suất bình quân trên diện tích đã gần như đạt đến mức tối đa theo công nghệ sản xuất hiện tại Các đặc điểm kinh tế - xã hội, điều kiện môi trường và kinh nghiệm sản xuất của nông hộ là các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả k thuật trong sản xuất lúa của nông hộ Cải thiện chất lượng các yếu tố này sẽ giúp nâng cao hiệu quả k thuật cũng như năng suất lúa của nông hộ Nghiên cứu đã sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas và mô hình hàm sản xuất

Trang 35

biên để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố khác đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của các nông hộ ở Thái Lan Kết quả cho thấy, chủng loại giống

và thời gian làm việc của máy móc có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất lúa Điều đó có thể được lý giải r ng, việc sử dụng máy móc đã tiết kiệm lao động trong sản xuất lúa, bù đắp cho tình trạng khan hiếm lao động Nói cách khác, máy móc đóng vai trò quan trọng trong việc làm tăng năng suất lúa Song, việc

áp dụng các công nghệ tiết kiệm lao động và máy móc để nâng cao hiệu quả

k thuật sản xuất lúa gạo ở Thái Lan còn chưa nhiều, chưa xứng với tiềm năng tối đa và thậm chí có xu hướng giảm

Bên cạnh máy móc và công nghệ, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, hệ thống thủy lợi, quy mô sản xuất, tính hợp tác của nông hộ, các chương trình khuyến nông nh m giảm giá đầu vào, tăng giá sản phẩm, giảm chi phí giao dịch, chi phí tiếp thị nông sản và chi phí vận chuyển nh m cải thiện thu nhập của nông hộ là các biến quan trọng có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất lúa ở Thái Lan Các yếu tố khác có ảnh hưởng tương tự là chính sách hỗ trợ, khả năng tiếp cận tín dụng và cơ chế giám sát để đảm bảo việc các khoản vay được

sử dụng để mua yếu tố đầu vào sản xuất như phân bón hóa học và giống Wadud & White (2000) cũng dùng cả phương pháp DEA lẫn SFA đối với nông hộ trồng lúa ở Bangladesh Tương tự, Nahm & Sutummakid (2003) cũng

đã dùng phương pháp này để ước lượng hiệu quả của nông hộ trồng lúa ở Thái Lan và kết quả nhận được không khác biệt nhiều so với kết quả nghiên cứu của Srisompun & Isvilanonda (2012)

2.2 Các nghiên cứu trong nước

Như đã đề cập, hiệu quả trong sản xuất của nông hộ trồng lúa đã nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước Song, các nghiên cứu tiên phong chỉ dừng lại ở việc tính toán các chỉ tiêu kinh tế hay tài chính nên chưa cho thấy vai trò quan trọng của các chính sách giúp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất của nông hộ trồng lúa Để góp phần khắc phục điều đó, các nghiên cứu gần đây đã vận dụng phương pháp tham số và phi tham số để ước lượng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở ĐBSCL nói riêng cũng như cả nước nói chung

Nghiên cứu của Hien & Suzuki (2003) về hiệu quả k thuật trong sản xuất lúa ở ĐBSCL sử dụng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên và tiến hành khảo sát thực địa đối với 120 nông hộ sản xuất lúa ở ĐBSCL Ước lượng cho thấy hiệu quả k thuật trung bình là 86,23%, 79,55% và 80,24% đạt được bởi các nông hộ trồng lúa lần lượt vào vụ Đông xuân, Xuân hè và Hè thu Đồng thời, nghiên cứu còn phát hiện r ng, lượng phân hóa học và chi phí cho

Trang 36

thuốc trừ sâu có ảnh hưởng tiêu cực tới năng suất lúa Mặt khác, lượng phân lân, kali và chi phí cho thuê máy móc có ảnh hưởng tích cực đến năng suất lúa Song, các đầu vào này được nông hộ sử dụng chưa hiệu quả Quy mô sử dụng đất, đa dạng giống lúa, ứng dụng IPM và k thuật sạ lúa, cùng với sự sẵn

có tín dụng, có ảnh hưởng tích cực lên hiệu quả k thuật Năng suất bình quan tổn thất do phi hiệu quả k thuật là tương đối cao, với 727,03 kg và 705,93 kg/héc-ta lần lượt vào vụ Đông xuân và Hè thu Đồng thời, các nông hộ với quy mô từ 1 - 3 héc-ta đạt hiệu quả cao nhất và mức độ “thất thoát” năng suất thấp nhất

Phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) được Quan Minh Nhựt (2005)

sử dụng để đo lường khả năng sinh lời và hiệu quả quy mô của nông hộ trong hai mô hình canh tác được lựa chọn ở huyện Chợ Mới (An Giang) Với nguồn

dữ liệu được thu thập trong giai đoạn 2004 - 2005, cách tiếp cận phân tích bao

dữ liệu (DEA) và phân tích chi phí - lợi ích (CBA) được sử dụng để ước tính hiệu quả quy mô của nông hộ và lợi nhuận tương ứng Kết quả nghiên cứu cho thấy, nông hộ với mô hình luân canh mang lại lợi nhuận hiệu quả hơn nông hộ với mô hình độc canh lúa Hiệu quả quy mô của nông hộ luân canh cũng cao hơn nông hộ với mô hình độc canh lúa

Huỳnh Trường Huy & cộng sự (2008) phân tích hiệu quả quy mô và hiệu quả k thuật của 261 hộ sản xuất lúa tại ĐBSCL thông qua phương pháp DEA

và SFA Kết quả phân tích DEA cho thấy, hiệu quả k thuật sản xuất lúa của nông hộ đạt trên 75% Đồng thời, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả k thuật bao gồm diện tích canh tác, vốn đầu tư, chi phí phân bón và nông dược Trong khi đó, kết quả ước lượng các tham số của mô hình SFA cho thấy có ảnh hưởng của các yếu tố phi hiệu quả k thuật ở mức ý nghĩa 5% Trong đó, các yếu tố như diện tích canh tác và vốn đầu tư có mối quan hệ dương đối với hiệu quả k thuật của hộ sản xuất Ngược lại, năng suất biên của các yếu tố đầu vào như phân bón và nông dược có tác động âm đối với hiệu quả k thuật Nghiên cứu còn cho thấy, hiệu quả k thuật và hiệu quả quy mô của hộ sản xuất lúa tại vùng nghiên cứu đạt khá cao, mặc dù phần lớn các hộ chưa đạt hiệu quả k thuật tối ưu Trong số các mô hình canh tác được khảo sát thì mô hình sản xuất luân canh đạt hiệu quả cao hơn những mô hình độc canh Hiệu quả k thuật của hộ sản xuất có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố như diện tích canh tác, vốn đầu tư Bên cạnh đó, trình độ học vấn và việc ứng dụng khoa học - k thuật của nông hộ cũng góp phần ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả k thuật Phạm Lê Thông (1998) và Phạm Lê Thông & cộng sự (2010) sử dụng hàm sản xuất và lợi nhuận biên ngẫu nhiên để ước lượng hiệu quả k thuật,

Trang 37

hiệu quả phân phối và hiệu quả kinh tế của nông hộ trồng lúa ở ĐBSCL Mức hiệu quả đạt được của từng nông hộ là tỷ số giữa năng suất và lợi nhuận đạt được so với mức cao nhất có thể, với đầu vào là giá và các yếu tố ngẫu nhiên

có thể ảnh hưởng kết quả của hoạt động sản xuất Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức hiệu quả kinh tế đạt được là chưa cao Đông xuân là vụ có mức hiệu quả bình quân cao nhất, nhưng cũng chỉ khoảng 72% Con số này của vụ Hè thu và Thu đông lần lượt là 56% và 59% Nguyên nhân là do thiếu thông tin nên nông hộ khó có thể lựa chọn được đầu vào và đầu ra tối ưu Theo kết quả nghiên cứu, trong các yếu tố ảnh hưởng đến mức hiệu quả kinh tế đạt được, có đến khoảng 90% các yếu tố mà nông hộ có thể kiểm soát

Phạm Lê Thông (2011) đã sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas để ước lượng hiệu quả k thuật của hai vụ lúa Hè thu và Thu đông ở ĐBSCL Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng suất trung bình của các nông hộ trong vụ Hè thu và Thu đông lần lượt là 4,70 và 4,30 tấn lúa/héc-ta Với cùng một lượng đầu vào, năng suất vụ Hè thu cao hơn vụ Thu đông khoảng 6% Mức hiệu quả k thuật đạt được trong hai vụ lúa lần lượt là 86% và 83% Phần phi hiệu quả do chưa đạt hiệu quả tối đa, gây thất thoát khoảng 770 kg/hécta trong vụ Hè thu và 850kg/hécta trong vụ Thu đông Có sự chênh lệch lớn trong năng suất cũng như hiệu quả giữa các nông hộ do k thuật không đồng bộ Kết quả nghiên cứu này cho thấy, đây là tiềm năng lớn để nông hộ cải thiện năng suất của mình nếu cải thiện được k thuật canh tác

Một nghiên cứu khác của Phạm Lê Thông (2011) về hiệu quả k thuật và hiệu quả kinh tế của các hộ trồng lúa thông qua hàm sản xuất và lợi nhuận biên ngẫu nhiên Cobb-Douglas, dựa trên hệ thống dữ liệu sơ cấp được thu thập

từ 477 nông hộ trồng vụ Đông xuân giai đoạn 2008 - 2009 ở 4 tỉnh thuộc ĐBSCL là Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long và Long An Đây là các địa phương có diện tích trồng lúa lớn trong Vùng Các nông hộ sản xuất lúa được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng suất bình quân của các nông hộ là 7,20 tấn lúa/hécta, có thể thu lãi khoảng 20 triệu đồng/hécta (chưa tính chi phí lao động gia đình) Mức hiệu quả k thuật và hiệu quả kinh tế đạt được lần lượt là 85% và 72% Phần kém hiệu quả đã gây thất thoát khoảng 1,20 tấn lúa/hécta và 3,20 triệu đồng/hécta Có sự chênh lệch lớn trong năng suất cũng như hiệu quả giữa các nông hộ là do k thuật không đồng bộ và khả năng lựa chọn đầu vào tối ưu khác biệt Kết quả này cho thấy,

có cơ hội lớn cho nông hộ cải thiện năng suất nếu cải thiện k thuật, khả năng nắm bắt và lựa chọn đầu vào tối ưu tương ứng với giá cả Kết quả nghiên cứu

Trang 38

cũng cho thấy, việc tham gia tập huấn k thuật của nông hộ sẽ giúp cải thiện đáng kể năng suất và lợi nhuận đạt được

Khai & Yabe (2011) đo lường hiệu quả k thuật (TE) trong sản xuất lúa

và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả k thuật trong sản xuất lúa của nông hộ ở Việt Nam, thông qua hệ thống dữ liệu về mức sống dân cư ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2006 (VLSS 2006) với phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên b ng hàm sản xuất Cobb - Douglas Hiệu quả k thuật được xác định xấp xỉ 81,6% Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố quan trọng có tác động tích cực đến mức độ hiệu quả k thuật là lao động chuyên sâu trong canh tác lúa, thủy lợi và học vấn Các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc làm thay đổi hệ số TE, trong khi các chính sách nông nghiệp đã không giúp nông hộ trồng lúa hiệu quả hơn

Linh (2012) này ước lượng hiệu quả k thuật b ng cả phương pháp phân tích bao dữ liệu và biên ngẫu nhiên thông qua số liệu khảo sát đối với nông hộ trồng lúa ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu chỉ ra r ng, hiệu quả k thuật chịu ảnh hưởng đáng kể bởi giáo dục và đặc điểm khu vực Bên cạnh đó, phân tích tính hiệu quả của quy mô cũng chỉ ra r ng, nhiều nông hộ ở Việt Nam có quy

mô nhỏ hơn mức tối ưu, đặc biệt là ở miền Trung Tính phi hiệu quả trong sản xuất lúa của nông hộ rất đáng kể, do đó nông hộ có tiềm năng đáng kể trong việc giảm chi phí để tăng hiệu quả Nhìn chung, nông hộ có thể giảm khoảng

30 - 69% chi phí, tùy thuộc vào phương pháp sử dụng đầu vào Do tầm quan trọng của sản xuất lúa đối với thu nhập, an ninh lương thực, việc làm và xuất khẩu ở Việt Nam, lợi ích từ việc gia tăng hiệu quả của nông hộ là rất quan trọng Hiệu quả trong sản xuất lúa của các nông hộ được khảo sát còn chịu ảnh hưởng bởi giáo dục, đặc biệt là giáo dục tiểu học Phân tích cũng chỉ ra r ng, việc gia tăng quy mô đất có ảnh hưởng đáng kể trong việc cải thiện tính hiệu quả trong sản xuất lúa của nông hộ Bên cạnh đó, yếu tố khu vực cũng đóng vai trò quan trọng đối với hiệu quả k thuật Đồng b ng sông Hồng, nơi có mật độ dân cư cao, diện tích đất nhỏ, có phương pháp tưới tiêu của vùng đất thấp và có phương pháp canh tác trồng lúa gạo thâm canh lao động cao là khu vực có hiệu quả k thuật tốt nhất ĐBSCL – nơi sản xuất ra hơn một nửa tổng sản lượng lúa gạo của cả nước lại – có nhiều tiềm năng hơn trong việc nâng cao hiệu quả k thuật Đây là một trong những vùng trồng lúa tốt nhất của thế giới và vẫn có khả năng để tăng diện tích trồng lúa Hầu như tất cả các vùng đất có thể canh tác đang được canh tác thâm canh ở miền Bắc trong khi chỉ có 67% diện tích đất có thể canh tác đang được canh tác ở ĐBSCL Mặt khác, các yếu tố như tỷ lệ lao phi nông nghiệp hoặc chính sách hỗ trợ không ảnh hưởng

Trang 39

đáng kể đến hiệu quả k thuật của nông hộ Các chính sách dẫn đến việc cải thiện giáo dục, chất lượng đất đai và diện tích đất sẽ có lợi cho việc cải thiện hiệu quả k thuật cho nông hộ

Hoang & Yabe (2012) nghiên cứu về tác động của các yếu tố môi trường đến lợi nhuận của người trồng lúa ở Đồng b ng sông Hồng của Việt Nam Bộ

dữ liệu được khảo sát từ 349 nông hộ trồng lúa b ng các cuộc phỏng vấn cá nhân Cả hai phương pháp tiếp cận OLS và MLE được sử dụng trong nghiên cứu này Việc ước tính các biên lợi nhuận ngẫu nhiên với cách tiếp cận hai giai đoạn đã được sử dụng để đo lường lợi nhuận Kết quả cho thấy hiệu quả lợi nhuận bình quân là khoảng 75%, tùy đặc điểm cụ thể của nông hộ Bên cạnh đó, sự thay đổi của các yếu tố cũng ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả lợi nhuận, bao gồm sâu bệnh, độ phì của đất, việc áp dụng tưới tiêu và ô nhiễm nguồn nước Kết quả chỉ ra r ng, nông hộ nên áp dụng k thuật gieo sạ theo hàng và cải thiện các yếu tố nói trên để đạt được hiệu quả lợi nhuận cao, đặc biệt là cần quan tâm đến việc cải thiện chất lượng nước tưới tiêu Kết quả ước lượng cho thấy các hiệu quả tương tự giữa phương pháp tiếp cận OLS và MLE Môi trường làm thay đổi hiệu quả lợi nhuận của sản xuất lúa gạo Nông

hộ có thể nhận được lợi nhuận khoảng 150 đô-la M /hecta nếu có thể kiểm soát được các yếu kém trong sản xuất Vì vậy, để tối đa hóa lợi nhuận, nông

hộ phải vượt qua một số trở ngại mang đặc thù như lao động và quy mô hộ gia đình Bên cạnh đó, có một số vấn đề liên quan đến chính sách mà Chính phủ cần hỗ trợ nông hộ tối đa hóa lợi nhuận như hợp thửa để giảm thiểu số thửa và gia tăng quy mô nông hộ, công nghệ và chất lượng nước Các công nghệ tiên tiến như gieo sạ theo hàng hoặc máy móc nên được áp dụng trong canh tác lúa Đây là những gợi ý Chính sách mà chính phủ nên xem xét để phát triển sản xuất lúa gạo ở Đồng b ng sông Hồng

Nguyễn Hữu Đặng (2012) phân tích sự thay đổi của hiệu quả k thuật đối với các nông hộ trồng lúa ở ĐBSCL trong giai đoạn 2008 – 2011, dựa vào hệ thống dữ liệu bảng thu thập trong 2 năm (2008 và 2011) từ 155 nông hộ trồng lúa ở 4 tỉnh ĐBSCL, bao gồm An Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh và Sóc Trăng Sử dụng hàm sản xuất biên Cobb - Douglas, kết hợp với phân tích tính phi hiệu quả k thuật, nghiên cứu đã chỉ ra r ng hiệu quả k thuật trung bình của các hộ sản xuất lúa tại địa bàn nghiên cứu là 88,96% Với các nguồn lực hiện có và các k thuật phù hợp thì sản lượng của hộ trồng lúa còn có khả năng tăng thêm 11,04% Tuy nhiên, hiệu quả k thuật đang có xu hướng giảm,

từ 89,2% vào năm 2008 giảm xuống còn 88,7% vào năm 2011 Các yếu tố đầu vào như đất đai, lao động, chủng loại giống và việc điều chỉnh giảm lượng

Trang 40

phân đạm, tăng phân lân đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng sản lượng của nông hộ trong giai đoạn trên Bên cạnh đó, tập huấn k thuật, tham gia hiệp hội nghề nghiệp và tín dụng nông nghiệp đã đóng góp tích cực vào cải thiện hiệu quả k thuật của nông hộ Ngược lại, thâm niên kinh nghiệm của chủ hộ

và tỷ lệ đất thuê là các yếu tố làm hạn chế khả năng cải thiện hiệu quả k thuật trong sản xuất lúa của nông hộ được khảo sát

2.3 Kết luận

Các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy, phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng ở cấp độ vi mô (nông hộ) là rất hữu ích nên rất được quan tâm Điều đó giúp các nhà quản lý trong việc hoạch định chính sách và nông hộ trực tiếp sản xuất nhận thức được nguyên nhân cốt lõi của tính phi hiệu quả kinh tế để tìm giải pháp khắc phục

có hiệu quả Các nghiên cứu trên cho thấy, sản xuất lúa của nông hộ sẽ đạt hiệu quả kinh tế khi nông hộ đạt được cả hiệu quả k thuật (k thuật sản xuất) lẫn hiệu quả phân bổ (k năng lựa chọn đầu vào) Nói cách khác, hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa được đo lường b ng tích số giữa hiệu quả k thuật

và hiệu quả phân bổ.6 Đồng thời, hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng hai phương pháp phổ biến nhất để phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất, đó là phương pháp ước lượng phi tham số (DEA) và phương pháp ước lượng tham

số (SFA)

Phương pháp ước lượng phi tham số dựa trên nền tảng của k thuật phân tích bao dữ liệu (DEA) để đo lường hiệu quả trong quá trình sản xuất (Farrell, 1957; Charnes, Cooper & Rhodes, 1978; Banker, Charnes & Cooper, 1984; Chen & Ali, 2002; Collie & cộng sự, 2005; Haag & cộng sự, 1992; Kalaitzandonakes & cộng sự, 1999; Trewin & cộng sự, 1995 và Quan Minh Nhựt, 2005) Song, bất lợi lớn nhất của phương pháp ước lượng phi tham số là không tách bạch được giữa phần phi hiệu quả và phần nhiễu (phần sai số không thể kiểm soát bởi mô hình ước lượng) Đó là do dữ liệu thu thập từ nông hộ thường gặp phải sai số ngẫu nhiên và tác động của điều kiện tự nhiên nên khi phân tích DEA ý nghĩa thống kê của các yếu tố ảnh hưởng không thể hiện đầy đủ

6 Hiệu quả kinh tế là sự kết hợp giữa hiệu quả phân bổ và hiệu quả k thuật Hiệu quả kinh tế

là sự kết hợp các nguồn lực đầu vào để đảm bảo sản lượng tối đa cũng như tối thiểu hóa về chi phí sản xuất Nói cách khác, hiệu quả kinh tế là khả năng đạt lợi nhuận tối đa ứng với các mức giá và lượng đầu vào cố định của nhà sản xuất Phi hiệu quả kinh tế là phần lợi nhuận mất đi do không thể hoạt động trên đường giới hạn

Ngày đăng: 08/07/2015, 16:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Ý nghĩa của các biến và kỳ vọng về dấu của các   i  trong mô hình  ƣớc lƣợng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ - Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố Cần Thơ
Bảng 3.1. Ý nghĩa của các biến và kỳ vọng về dấu của các  i trong mô hình ƣớc lƣợng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ (Trang 48)
Bảng 3.2. Kỳ vọng dấu của các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong  sản xuất lúa của nông hộ - Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố Cần Thơ
Bảng 3.2. Kỳ vọng dấu của các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ (Trang 53)
Bảng 3.3. Phân phối mẫu khảo sát trên địa bàn các huyện 15 - Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố Cần Thơ
Bảng 3.3. Phân phối mẫu khảo sát trên địa bàn các huyện 15 (Trang 56)
Bảng 4.2. Giá trị tổng sản phẩm của TP. Cần Thơ (2009 - 2013) - Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố Cần Thơ
Bảng 4.2. Giá trị tổng sản phẩm của TP. Cần Thơ (2009 - 2013) (Trang 65)
Bảng 4.4 cho thấy, tỷ trọng của các ngành chăn nuôi, dịch vụ và các hoạt  động khác ngày càng tăng lên - Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố Cần Thơ
Bảng 4.4 cho thấy, tỷ trọng của các ngành chăn nuôi, dịch vụ và các hoạt động khác ngày càng tăng lên (Trang 66)
Bảng 4.4. Giá trị sản xuất nông nghiệp (giá hiện hành) ở TP. Cần Thơ   (2009 - 2013) - Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố Cần Thơ
Bảng 4.4. Giá trị sản xuất nông nghiệp (giá hiện hành) ở TP. Cần Thơ (2009 - 2013) (Trang 67)
Bảng 4.5. Diện tích và sản lƣợng lúa của TP. Cần Thơ (2013) - Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố Cần Thơ
Bảng 4.5. Diện tích và sản lƣợng lúa của TP. Cần Thơ (2013) (Trang 68)
Bảng 4.6. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa ở TP. Cần Thơ   (2009 - 2013) - Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố Cần Thơ
Bảng 4.6. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa ở TP. Cần Thơ (2009 - 2013) (Trang 69)
Bảng 4.7. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa phân theo vụ ở TP. Cần Thơ   (2009 - 2013) - Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố Cần Thơ
Bảng 4.7. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa phân theo vụ ở TP. Cần Thơ (2009 - 2013) (Trang 70)
Bảng 5.1. Quy mô đất nông nghiệp của nông hộ ở TP. Cần Thơ (2013) - Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố Cần Thơ
Bảng 5.1. Quy mô đất nông nghiệp của nông hộ ở TP. Cần Thơ (2013) (Trang 85)
Bảng 5.2. Lƣợng vốn vay bình quân của nông hộ sản xuất lúa ở TP. Cần Thơ - Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố Cần Thơ
Bảng 5.2. Lƣợng vốn vay bình quân của nông hộ sản xuất lúa ở TP. Cần Thơ (Trang 86)
Bảng 5.3. Chi phí sản xuất lúa của nông hộ ở TP. Cần Thơ (phân theo vụ) - Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố Cần Thơ
Bảng 5.3. Chi phí sản xuất lúa của nông hộ ở TP. Cần Thơ (phân theo vụ) (Trang 88)
Bảng 5.4. So sánh hiệu quả sản xuất của mô hình một phải năm giảm trong vụ  Hè thu 2013 ở TP - Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố Cần Thơ
Bảng 5.4. So sánh hiệu quả sản xuất của mô hình một phải năm giảm trong vụ Hè thu 2013 ở TP (Trang 92)
Bảng 5.5. Hiệu quả tài chính trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP. Cần  Thơ   (phân theo vụ) - Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố Cần Thơ
Bảng 5.5. Hiệu quả tài chính trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP. Cần Thơ (phân theo vụ) (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w