32 PHẦN 4: NGHIÊN CỨU VỀ KINH DOANH THEO CẢM TÍNH VÀ HÀNH VI NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM .... KINH DOANH THEO CẢM TÍNH & HÀNH VI NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHO
Trang 1TRẦN NGỌC THỦY TIÊN
KINH DOANH THEO CẢM TÍNH VÀ
HÀNH VI NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2013
Trang 2TRẦN NGỌC THỦY TIÊN
KINH DOANH THEO CẢM TÍNH VÀ
HÀNH VI NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS Phan Thị Bích Nguyệt
TP Hồ Chí Minh – Năm 2013
Trang 3HÀNH VI NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
TÓM TẮT 1
PHẦN 1: GIỚI THIỆU 2
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Tổng quan nội dung 4
PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ KINH DOANH THEO CẢM TÍNH VÀ HÀNH VI NHÀ ĐẦU TƯ 7
2.1 Lý thuyết về kinh doanh theo cảm tính 7
2.1.1 Nhà đầu tư theo cảm tính 7
2.1.2 Rủi ro kinh doanh theo yếu tố cảm tính 9
2.1.3 Các nghiên cứu liên quan từ trước về giao dịch theo cảm tính: nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm 9
2.1.4 Mô hình giao dịch dựa vào thông tin có điều chỉnh yếu tố cảm tính: Bằng chứng thiếu hiệu quả của TTCK Úc 12
2.2 Ứng dụng tâm lý học, yếu tố cảm tính vào tài chính 19
2.2.1 Lý thuyết tài chính hành vi 19
2.2.2 Nguyên lý cơ bản hành vi nhà đầu tư 20
2.2.3 Nghiên cứu thị trường về hành vi của nhà đầu tư Ấn Độ 24
PHẦN 3: MÔ HÌNH, DỮ LIỆU PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Mô hình 29
3.2 Dữ liệu 31
3.3 Phương pháp nghiên cứu 32
PHẦN 4: NGHIÊN CỨU VỀ KINH DOANH THEO CẢM TÍNH VÀ HÀNH VI NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 33
4.1 Nhìn lại diễn biến thị trường chứng khoán Việt Nam qua các giai đoạn 33
4.2 Các biểu hiện giao dịch theo cảm tính ở Việt Nam 34
4.2.1 Phản ứng thái quá 36
Trang 44.2.2 Phản ứng chậm 38
4.2.3 Kết luận chung 39
4.3 Nghiên cứu thị trường về Hành vi của các nhà đầu tư Việt Nam 39
4.3.1 Phân tích mô tả 39
4.3.2 Phân tích nhân tố - Kết luận 43
4.3.3 Phân tích cụm - Kết luận 47
PHẦN 5: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 52
5.1 Ưu và nhược điểm của các nhóm đầu tư 53
5.2 Các nền tảng, giải pháp thuộc về các cơ quan có thẩm quyền 56
5.3 Nguyên nhân, nguồn gốc của hành động kinh doanh không hợp lý ở thị trường chứng khoán Việt Nam 60
5.4 Giải pháp, nhận diện đầu tư theo cảm tính 61
PHẦN 6: KẾT LUẬN 66
6.1 Kết luận 66
6.2 Hướng phát triển của đề tài 66
PHỤ LỤC 1: BẢNG CÂU HỎI ĐIỀU TRA TÂM LÝ NHÀ ĐẦU TƯ
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
Bảng 1: Bảng tóm tắt ảnh hưởng thị trường 18
Bảng 4: Các yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi nhà đầu tư Ấn Độ 26
Bảng 5: Tuổi mã hóa của mẫu nghiên cứu 39
Bảng 6: Bảng hệ số tương quan của mẫu nghiên cứu 42
Bảng 7: Bảng KMO và Bartlett's Test của mẫu nghiên cứu 43
Bảng 8: Tổng phương sai được giải thích (Total Variance Explained) 43
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1: Tỷ lệ giới tính của mẫu nghiên cứu 40 Hình 2: Tỷ lệ kinh nghiệm của mẫu nghiên cứu 40 Hình 3: Điểm trung bình 4 nhóm nghiên cứu của mẫu nghiên cứu 41
Hình 5: Kết quả phân tích cụm của mẫu nghiên cứu 48
Trang 6KINH DOANH THEO CẢM TÍNH &
HÀNH VI NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm kiếm bằng chứng về giao dịch theo cảm tính trên thị trường chứng khoán Việt Nam Đồng thời, bài viết vừa nghiên cứu hành vi nhà đầu tư, nhà đầu tư Việt Nam bị ảnh hưởng bởi những yếu tố nào Theo kết quả nghiên cứu, tác giả tìm thấy những giao dịch theo cảm tính của nhà đầu tư Việt Nam, có những biểu hiện giao dịch theo bầy đàn, quá tự tin, quá lạc quan, hay phản ứng thái quá, phản ứng chậm với nguồn thông tin
Dựa vào kết quả khảo sát hành vi nhà đầu tư, tác giả cũng tìm thấy nhà đầu tư Việt Nam ngoài việc ảnh hưởng bởi yếu tố cơ bản, họ còn bị ảnh hưởng bởi những yếu
tố tâm lý: tác động của người thân quen (Chồng/vợ, bố mẹ, bạn bè), ảnh hưởng bởi cộng đồng (Tâm lý phổ biến trên thị trường, cổ phiếu nổi bật trên báo chí, bình luận chuyên môn) và yếu tố cá nhân Những nhà đầu tư nữ thường bị ảnh hưởng bởi yếu tố cá nhân hơn những nhà đầu tư nam Và những nhà đầu tư nam thường
bị ảnh hưởng bởi quy tắc cơ bản hơn
Trang 7PHẦN 1: GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thị trường chứng khoán phát triển mạnh, bền vững luôn là sự mong mỏi của cả nước, nhờ đó có thể tăng trưởng nền kinh tế; phát huy, huy động được nguồn vốn đầu tư của trong và ngoài nước; các doanh nghiệp phát triển mạnh; các nhà đầu tư
có lợi nhuận cao, nền kinh tế ngày càng phát triển Để chỉ báo thị trường phản ánh đúng động thái của nền kinh tế
Do vậy, các cấp quản lý nhà nước, các doanh nghiệp, các nhà đầu tư,…đều mong muốn thị trường chứng khoán phát triển mạnh, bền vững, hoạt động thị trường ngày càng sôi động, quy mô thị trường ngày càng tăng tạo niềm tin và sự hứng khởi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Thị trường chứng khoán đã sôi động trong một thời gian, khoảng thời năm 2007, đánh dấu bước phát triển mạnh Tuy nhiên, từ năm 2008 đến nay, sự phát triển dường như chững lại, thị trường chứng khoán không có bước bứt phá, hồi sinh Điều này có nhiều nguyên nhân
Nhiều nhà đầu tư thấy rằng thị trường dịch chuyển không theo quy tắc nào, không
có cơ sở nào, và cho rằng đầu tư chứng khoán như một canh bạc lớn, như trò chơi mạo hiểm, họ e dè với thị trường, mất dần niềm tin vào thị trường, và rút khỏi thị trường
Nhiều nhà đầu tư còn thấy rằng thật không công bằng và minh bạch cho bản thân
họ Chính sách phát triển, công tác quản lý của nhà nước còn lơi lỏng Môi trường thông tin chưa nghiêm
Trong khi đó, kiến thức của nhà đầu tư còn non kém Do đó, họ không tự chủ được bản thân, đầu tư chứng khoán dựa theo cảm tính, bầy đàn, bị chi phối và những tin đồn thổi bất chấp những kiến thức và những dự báo cần thiết của các nhà chuyên môn và nhà quản lý Khi thị trường chứng khoán đang lên, có rất nhiều nhà tham gia mua chứng khoán, và khi thị trường sụt giảm thì các nhà đầu tư cứ tranh nhau
Trang 8bán tháo cổ phiếu Vì thế, trong một số thời điểm, giá của chứng khoán gấp hàng chục lần so với giá trị thực, hoặc thấp hơn rất nhiều so với giá trị thực
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thị trường không phản ánh đúng nền kinh tế Nhà đầu tư nói rằng do thông tin không minh bạch, quản lý nhà nước không rõ ràng Ngược lại, các cấp quản lý lại cho rằng nhà đầu tư không chịu nghiên cứu, đầu tư theo lối cảm tính
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Giả thuyết thị trường hiệu quả tin rằng các nhà đầu tư đưa ra quyết định hợp lý, hoàn toàn dựa trên yếu tố cơ bản, yếu tố kinh tế của cổ phiếu Những yếu tố cơ bản bao gồm như: chỉ số EPS, giá trị sổ sách Book value, chỉ số PE, dòng tiền tương lai,
dự án của công ty và mục tiêu chung, sự phát triển của ngành Với lý thuyết này, không có sự khác biệt giữa cổ phần của hai công ty có các yếu tố cơ bản giống nhau Tuy nhiên, lý thuyết cổ điển này không giải thích đủ hoặc không giải trình được sự kinh doanh thực tế và sự thay đổi của chỉ số chứng khoán Do đó, đối với khái niệm Tài chính hành vi, họ tin rằng những nhà đầu tư kinh doanh không hợp
lý, họ bị ảnh hưởng bởi yếu tố cảm xúc và tâm lý Họ cho rằng trong khi mua và bán cổ phiếu, nhà đầu tư đưa ra quyết định dựa trên quan điểm và niềm tin của họ hơn yếu tố cơ bản Do đó, họ đã phạm một sai lầm bởi vì nhận thức giới hạn, tự tin thái quá, ảnh hưởng bởi những áp lực từ những người xung quanh
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm kiếm bằng chứng về giao dịch theo cảm tính trên thị trường chứng khoán Việt Nam Đồng thời, bài viết vừa nghiên cứu hành vi nhà đầu tư, nhà đầu tư Việt Nam bị ảnh hưởng bởi những yếu tố nào Quan
hệ giữa kinh doanh theo cảm tính và hành vi nhà đầu tư
Từ đó thấy được điều gì tác động giao dịch theo cảm tính của những nhà đầu tư Thị trường chứng khoán có ảnh hưởng hay không, mức độ ảnh hưởng như thế nào bởi những rủi ro do các giao dịch theo cảm tính Chính những nhà đầu tư theo cảm tính
và những nhà đầu tư lý trí, nhà đầu tư dựa trên thông tin bị ảnh hưởng như thế nào
Trang 9Mô hình cũng làm rõ thêm những bất thường của thị trường chứng khoán Việt Nam, đầu cơ bong bóng, giá cả cao thái quá, hay thấp bất thường Thực trạng những nhà giao dịch theo cảm tính và lý trí, dựa trên thông tin hiện tại và hành vi của họ
Thông qua bài nghiên cứu, tác giả cũng mong muốn phần nào nhà đầu tư hiểu rõ hơn, làm chủ hơn trên thị trường chứng khoán và nhận diện được phần nào liệu kinh doanh theo cách thức nào có hiệu quả hơn do sự ảnh hưởng của giao dịch theo cảm tính
Tác giả cũng mong muốn những nhà đầu tư, những nhà quản lý có thể khắc phục được phần nào những nguyên nhân gây nên thị trường không phản ánh đúng giá trị
Để giá chứng khoán dịch chuyển dựa vào nguyên tắc đúng đắn, thị trường chứng khoán phát triển bền vững, lâu dài, để thị trường luôn sôi động và là một kênh đầu
tư hấp dẫn, công bằng cho các nhà đầu tư
1.3 Tổng quan nội dung
Dưới đây, trong Phần 2: tác giả đã thu thập và nêu lên các trường phái nghiên cứu,
các thuyết nghiên cứu, sự tranh cãi lẫn nhau giữa các trường phái, các thuyết Để từ
đó chúng ta có thể thấy được ưu và nhược điểm giữa các thuyết
Tác giả cũng chọn lọc được công trình nghiên cứu: Công trình nghiên cứu lý thuyết tại Úc, và công trình nghiên cứu thực nghiệm ở thị trường Ấn Độ
Phần 2.1.4 Mô hình lý thuyết: Mô hình giao dịch dựa vào thông tin có điều chỉnh yếu tố cảm tính: Bằng chứng thiếu hiệu quả của TTCK Úc
Phần 2.2.3 Công trình nghiên cứu thị trường về hành vi của nhà đầu tư Ấn Độ Cho tới nay, sự tranh cãi giữa các thuyết này vẫn chưa chấm dứt, mỗi cá nhân có một quan điểm riêng, tác giả cũng đồng quan điểm với trường phái tài chính hành vi
để từ đó chúng ta có thể nghiên cứu sâu hơn về khía cạnh đầu tư theo cảm tính, và nghiên cứu thực nghiệm đầu tư theo cảm tính ở thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 10Phần 3: Tác giả trình bày lý do chọn lựa mô hình của Vikash Ramiah and Sinclair Davidson và Akash Jauhari, nguồn dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Trong Phần 4: Tác giả nêu khái quát về quá trình phát triển, về tình hình thị trường
chứng khoán Việt Nam, những trường phái đầu tư tại Việt Nam và những biểu hiện của sự đầu tư theo cảm tính của nhà đầu tư
Tác giả thu thập dữ liệu tại TP.HCM, trong quá trình khảo sát, tác giả vừa định tính được phần nào yếu tố cảm tính của nhà đầu tư rất tự tin vào bản thân Và kết quả khảo sát, tác giả đã lượng hóa được những ý kiến của các đối tượng nghiên cứu để rút ra các cách đầu tư, các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư
Bảng câu hỏi khảo sát có 4 phần, mỗi phần có 5 câu hỏi nhỏ Tác giả đã sử dụng phần mềm SPSS để phân tích kết quả có được, cụ thể sử dụng Phân tích mô tả, phân tích nhân tố và phân tích cụm
Phân tích mô tả về những dữ liệu có được như phân tích các biến định danh: giới tính, độ tuổi, kinh nghiệm Phân tích độ tương quan giữa các phần
Tác giả đã sử dụng phân tích nhân tố để rút gọn lại các yếu tố (20 câu hỏi biểu thị cho 20 yếu tố) để có được số lượng các nhân tố nhỏ hơn, đặc trưng, biểu thị cho số còn lại
Trong số mẫu có những nhóm người đầu tư có đặc điểm giống nhau hợp thành một nhóm Nên tác giả đã chọn phân tích cụm để phân mẫu thành các cụm Từ đó, tác giả so sánh, đánh giá các cụm, phân tích đặc điểm của các cụm
Phần 5: Dựa trên lý thuyết, biểu hiện của giao dịch theo cảm tính, tâm lý của nhà
đầu tư, kết quả phân tích được, tác giả rút ra các giải pháp giúp các nhà đầu tư phần nào hiểu rõ được diễn biến chung của thị trường Hiểu được các nhà đầu tư khác, và chính bản thân nhà đầu tư; thấy được ưu và nhược điểm của từng phương thức đầu
tư, những nhân tố bị ảnh hưởng quá nhiều Từ đó, rút ra kinh nghiệm cho bản thân, kiểm soát cảm xúc của chính mình
Trang 11Ngoài ra, tác giả cũng mong muốn các nhà quản lý có thể quản lý chặt hơn, khung pháp lý siết chặt hơn để các nguồn thông tin có chất lượng, giúp các nhà đầu tư không bị nhiễu loạn thông tin, minh bạch, kịp thời Để nhà đầu tư tin tưởng vào kênh đầu tư chứng khoán Thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển hơn, hiệu quả hơn, vững bền hơn
Và phần 6: Kết luận và hạn chế của nghiên cứu
Trang 12PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ KINH DOANH THEO
CẢM TÍNH VÀ HÀNH VI NHÀ ĐẦU TƯ
2.1 Lý thuyết về kinh doanh theo cảm tính
2.1.1 Nhà đầu tư theo cảm tính
Sự phát triển của thị trường chứng khoán kéo theo phát triển những lý thuyết nêu ra rằng giá chứng khoán được thiết lập dựa trên sự tương tác năng động giữa những nhà giao dịch theo cảm tính và nhà đầu tư hợp lý Nhiều nghiên cứu lý thuyết đã mô hình hóa vai trò của yếu tố cảm tính của nhà đầu tư trong giá cả chứng khoán (Black, 1986; De Long et al., 1990; Barberis et al., 1998) Trong những mô hình trên, có hai loại nhà đầu tư tác động: nhà đầu tư hợp lý và nhà đầu tư theo cảm tính (ví dụ: những cá nhân) Nhà đầu tư hợp lý có những mong đợi hợp lý về lợi nhuận tài sản Ngược lại, điều mong đợi của nhà đầu tư theo cảm tính về lợi nhuận tài sản
là chủ quan và bị ảnh hưởng bởi yếu tố tâm lý, cảm tính; họ ước tính lợi nhuận tài sản thấp hơn, hoặc cao hơn so với giá trị cơ bản
Giao dịch theo cảm tính (Noise trading) là thuật ngữ dùng cho những giao dịch trên thị trường, chủ yếu là thị trường chứng khoán, khi người giao dịch không quan tâm đến các thông tin cơ bản và nền tảng (fundamentals), mà chủ yếu dựa trên cảm tính hoặc xu hướng chung của thị trường Cũng theo Investopedia: Hiện nay, vấn đề tranh luận sôi nổi về tài chính hành vi diễn ra, nhiều nhà đầu tư cảm thấy rằng họ không phải là nhà giao dịch theo cảm tính và họ chỉ đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn Trong thực tế, hầu hết mọi người được coi như nhà giao dịch theo cảm tính, cũng như rất ít người thực sự đưa ra quyết định đầu tư chỉ dựa trên sử dụng phân tích cơ bản Hơn nữa, phân tích kỹ thuật được coi là một phần của giao dịch theo cảm tính vì dữ liệu không liên quan đến các nguyên tắc cơ bản của một công ty nào
cả
Theo John T Scruggs 2006: “Những giao dịch không tương quan với những thay đổi trong giá trị cơ bản hay nội tại được gọi là giao dịch theo cảm tính Giao dịch
Trang 13Có bằng chứng đáng kể cho thấy nhiều nhà đầu tư không làm theo lời khuyên của các nhà kinh tế để mua và nắm giữ danh mục đầu tư thị trường Các nhà đầu tư cá nhân thường không đa dạng hóa, thay vào đó họ nắm giữ một cổ phiếu duy nhất hoặc một số cổ phiếu nhỏ (theo Lewellen, Lease, và Schlarbaum 1974) Họ chọn cổ phiếu thông qua nghiên cứu riêng của họ, hoặc dựa trên những lời khuyên của tạp chí Joe Granville hoặc Wall Street Week Khi nhà đầu tư đa dạng hóa, họ giao phó tiền của mình vào các quỹ tương hỗ định giá chứng khoán mà các quỹ này thì tính
lệ phí cao trong khi đó lại thất bại khi tấn công thị trường (Jensen 1968) Black (1986) tin rằng các nhà đầu tư như vậy, do không có khả năng nắm bắt thông tin nội
bộ, nên họ hành động một cách vô lý theo phong trào như thể đây là thông tin mà có thể cung cấp cho họ một cơ sở Black (1986), sau đó là Kyle (1985), gọi các nhà đầu tư này là "nhà giao dịch theo cảm tính "
Người ta có thể giao dịch dựa vào tín hiệu nhiễu vì họ nghĩ rằng họ có thông tin hữu ích hoặc đơn giản vì họ thích giao dịch, hay bị ảnh hưởng bởi những tin đồn của cộng đồng, thông tin sai lệch của người thân,…Nếu hành vi của những người giao dịch đó là ngẫu nhiên, sẽ không có nguyên nhân để lo ngại tính hiệu quả của thị trường, vì các giao dịch đối ứng sẽ trung hòa lẫn nhau, hoặc chúng quá nhỏ để ảnh hưởng tới giá Tuy nhiên khi một số người đầu tư cùng định giá sai lầm một số hoặc tất cả các chứng khoán theo một cách Chúng ta nói rằng chính cảm tính (sentiment) đang chi phối giá trên thị trường Do đó, có thể nói rằng cảm tính chính là tín hiệu nhiễu – là mối tương quan giữa nhiều nhà đầu tư Một thuật ngữ thường được sử dụng để mô tả các cá nhân này là những nhà giao dịch nhiễu (noise trader) (Theo Tài chính hành vi của Lucy F Ackert và Rechard Deaves, do nhóm Thạc sỹ Lê Đạt Chí biên dịch)
Trang 142.1.2 Rủi ro kinh doanh theo yếu tố cảm tính
Mỗi giai đoạn, nhà đầu tư hợp lý và nhà đầu tư theo cảm tính kinh doanh tài sản dựa vào sự mong đợi cá nhân họ Lý thuyết cho rằng yếu tố cảm tính của những nhà giao dịch theo cảm tính là ngẫu nhiên và không thể tiên đoán được bởi những nhà đầu tư hợp lý Bởi vì tài sản là rủi ro và tất cả nhà đầu tư đều không ưa thích rủi ro, giá ở trạng thái cân bằng phản ánh các yếu tố của cả nhà đầu tư hợp lý và nhà đầu tư theo cảm tính Điều này có nghĩa tâm lý nhà đầu tư theo cảm tính có ảnh hưởng đến giá cả chứng khoán Các nghiên cứu lý thuyết cũng chỉ rằng giá cả chứng khoán có
sự phân kỳ rất lớn với giá trị cơ bản Hơn nữa, kinh doanh chênh lệch giá có sự giới hạn, những nhà đầu tư hợp lý thất bại do ảnh hưởng bới tâm lý của các nhà đầu tư theo cảm tính Do đó, “rủi ro do nhà đầu tư theo cảm tính” cũng được biết đến như
là “rủi ro tâm lý”, trở thành một yếu tố ảnh hưởng đến giá thị trường chứng khoán
2.1.3 Các nghiên cứu liên quan từ trước về giao dịch theo cảm tính: nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm
Mặc dù sự tồn tại của các nhà giao dịch theo cảm tính trong lý thuyết cũng như thực
tế là điều không thể phủ nhận, nhưng nhiều nhà kinh tế, nhiều công trình nghiên cứu lại thấy không quan trọng và đã bỏ qua điều này trong các cuộc thảo luận về sự hình thành giá tài sản Giả thuyết thị trường hiệu quả lập luận rằng các nhà giao dịch theo cảm tính là nhà đầu tư không quan trọng và họ sẽ biến mất như một kết quả của hoạt động kinh doanh chênh lệch giá Theo Friedman (1953) và Fama (1965) cho rằng, đối nghịch với các nhà giao dịch theo cảm tính là nhà giao dịch có lý trí, nhà đầu tư có lý trí sẽ khai thác, tận dụng những điều vô lý từ nhà giao dịch theo cảm tính và do vậy hai bên có sự đầu tư trái ngược nhau, và điều này làm cho giá trở về lại giá trị cơ bản Friedman cũng lập luận các nhà giao dịch theo cảm tính sẽ bị mất tiền do đầu cơ không hợp lý, sẽ bị thua lỗ, bán với giá thấp hoặc mức trung bình, và điều này làm họ không tồn tại lâu dài Do vậy, họ sẽ không làm ảnh hưởng đến giá quá nhiều
Trang 15Black (1986) đặt vấn đề với mô hình này và nhận ra tầm quan trọng của nhà giao dịch theo cảm tính vì nó góp phần vào tính thanh khoản của thị trường Ông cũng kết luận rằng "Thông tin theo cảm tính làm cho thị trường tài chính tồn tại, nhưng cũng làm cho nó không hoàn hảo."
Hiện nay, giao dịch theo cảm tính chiếm một vị trí quan trọng trong lý thuyết tài chính Nó đã trở thành nền tảng của lý thuyết cấu trúc vi mô thị trường kể từ khi Kyle (1985) Nó đã được đề xuất như một lời giải thích cho các tài sản có giá "bất thường" cũng như "những biến động quá mức khó giải thích" đầu tiên được ghi bởi Shiller (1981) và LeRoy và Porter (1981) Và giao dịch theo cảm tính đóng một vai trò trung tâm trong các tài liệu đang phát triển về tài chính hành vi Ví dụ, De Long, Shleifer, Summers, và Waldman (1990) cho thấy rủi ro giao dịch theo cảm tính là một giới hạn chênh lệch giá đáng kể mà nó có thể gây trở ngại cho thị trường về mặt thông tin hiệu quả Sự quan tâm nghiên cứu về việc này tiếp tục tăng khi các vấn đề về nhận dạng của giao dịch theo cảm tính đã được đơn giản hóa bởi Shefrin
và Statman (1994), người đã phân loại rằng bất kỳ giao dịch nào giao dịch không dựa trên thông tin là giao dịch theo cảm tính Điều này dẫn đến sự phát triển của một số mô hình như SIA, Starks và Tinic (2001), Osler (1998) và Ramiah và Davidson (2007), họ nỗ lực để tính toán được giao dịch theo cảm tính Trong khi các nghiên cứu trước đây tập trung vào sự phát triển của các mô hình để nắm bắt các giao dịch theo cảm tính, thì nhiều nghiên cứu hiện nay được thực hiện để kiểm tra tính phù hợp của các mô hình hiện có
Về nghiên cứu thực nghiệm, các nghiên cứu trước đây trong lĩnh vực này cũng
cho các kết quả khác nhau French và Roll (1986) kết luận rằng giao dịch theo cảm tính gây ra chỉ một phần nhỏ vào sự biến động lợi nhuận hàng ngày Sử dụng tỷ lệ phương sai và tương quan lợi nhuận hằng ngày, French và Roll (1986) ước tính rằng chỉ có 4% đến 12% của biến động lợi nhuận hàng ngày là do giao dịch theo cảm tính Theo Fama (1991, p 1580), 4% là "con số khó để kết luận rằng giao dịch theo cảm tính dẫn đến thị trường kém hiệu quả một cách đáng kể."
Trang 16Bên ngược lại cho thấy rằng tin tức từ nguyên tắc cơ bản giải thích tương đối nhỏ trên biến động trong tổng lợi nhuận Ví dụ, Roll (1988) báo cáo rằng chỉ có 20% của biến động lợi nhuận hàng ngày các cổ phiếu trung bình lớn là do nguyên tắc cơ bản Nghiên cứu tiếp theo như De Long, Shleifer, Summers, và Waldman (1990) (DSSW (1990)) đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm trực tiếp chống lại vấn đề này của giả thuyết thị trường hiệu quả bằng cách đưa ra những loại kinh doanh có ảnh hưởng đến thị trường thông qua các rủi ro do các giao dịch theo cảm tính
Trong vài năm trở lại đây, ở Việt Nam một số nhà nghiên cứu cũng đã bắt đầu dành mối quan tâm đối với tài chính hành vi, nhiều luận văn, đề tài về tài chính hành vi, hành vi nhà đầu tư nở rộ Nhưng dường như các nghiên cứu này tập trung vào lý giải hành vi thị trường, hành vi nhà đầu tư, chưa thật sự đi sâu vào các giao dịch theo cảm tính; cơ sở lý thuyết của giao dịch theo cảm tính; thực trạng ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của giao dịch theo cảm tính này đến giá cả thị trường chứng khoán Việt Nam thế nào Nghiên cứu này sẽ làm rõ hơn về vấn đề này
Cơ sở lý thuyết về giao dịch theo cảm tính trên thế giới rất phong phú: điển hình cho các trường phái như: Friedman (1953) và Fama (1965); Shiller (1981); De Long, Shleifer, Summers, và Waldman (1990); Shefrin và Statman (1994) Nhưng những nghiên cứu này nặng về phần lý thuyết, chỉ dừng lại ở mức khẳng định có giao dịch theo cảm tính và mức độ ảnh hưởng của giao dịch theo cảm tính, những trường phái càng sau này càng cho rằng mức độ ảnh hưởng của giao dịch theo cảm tính, rủi ro của các giao dịch theo cảm tính cao hơn so với các nghiên cứu trước, mô hình phức tạp và chưa thấy có chiều hướng ứng dụng vào thực tế Tuy nhiên, tác giả dựa vào những nghiên cứu này để kết luận rằng có giao dịch theo cảm tính, rủi ro giao dịch theo cảm tính và mức độ ảnh hưởng của nó cần phải được đi sâu xem xét,
để tác giả có thể nghiên cứu tiếp liệu thị trường chứng khoán Việt Nam có bị ảnh hưởng bởi yếu tố cảm tính hay không, ảnh hưởng với mức độ nào và nhà đầu tư Việt Nam bị ảnh hưởng bởi những yếu tố nào khi đưa ra quyết định đầu tư Để từ đó chúng ta có thể thấy được liệu thị trường chứng khoán Việt Nam có phải là thị
Trang 17trường hiệu quả hoàn toàn, hay không hiệu quả hoàn toàn, hay khá hiệu quả nhưng
có ảnh hưởng bởi yếu tố cảm tính
2.1.4 Mô hình giao dịch dựa vào thông tin có điều chỉnh yếu tố cảm tính: Bằng chứng thiếu hiệu quả của TTCK Úc
Tóm tắt và giới thiệu mô hình
Vikash Ramiah and Sinclair Davidson (VS) đã mô tả sự tương tác giữa các
giao dịch dựa vào cảm tính, giao dịch dựa vào thông tin VS không cho rằng giao dịch thông tin là không có lỗi Thay vào đó các nhà giao dịch dựa vào thông tin có thể sai sót dẫn đến phản ứng chậm và phản ứng thái quá Nhà giao dịch thông tin thậm chí có thể thêm vào các lỗi giá trên thị trường Những tương tác này được thể hiện trong mô hình giao dịch thông tin có điều chỉnh yếu tố cảm tính của VS VS thử nghiệm mô hình bằng cách sử dụng dữ liệu từ thị trường chứng khoán Úc Thị trường này có chế độ công bố thông tin liên tục cho phép chúng ta xác định khi thông tin được đưa ra thị trường VS trình bày bằng chứng phù hợp với quan điểm cho rằng thị trường thường là nguồn thông tin không hiệu quả
Nghiên cứu này của VS mô tả sự tương tác giữa các giao dịch thông tin và giao dịch theo cảm tính Không giống như phần lớn các nghiên cứu tài chính hành vi,
VS không cho rằng nhà đầu tư thông tin nhất thiết phải lảm cho thị trường trở lại giá trị cơ bản Nhà giao dịch thông tin kinh doanh trên cơ sở thông tin nhưng cũng có thể gặp lỗi trong quá trình giải thích thông tin đó Nhà giao dịch cảm tính kinh doanh trong trường hợp không có thông tin Nhà kinh doanh thông tin cũng có thể sửa chữa được lỗi định giá được gây ra bởi các nhà giao dịch cảm tính-điều này chỉ là một trong những kết quả mà VS mô tả Mặt khác, nhà kinh doanh thông tin có thể chỉnh sửa thái quá hoặc chỉnh sửa chưa tới mức lỗi cảm tính Điều này đưa đến một trong hai phản ứng: phản ứng chậm hoặc phản ứng thái quá Hơn nữa, nhà giao dịch dựa trên thông tin có thể làm cho các lỗi tương tự cho các nhà kinh doanh theo cảm tính
và thêm vào hoặc giảm bớt các lỗi giá cả trên thị trường Sự tương tác giữa các nhà đầu tư thông tin và nhà giao dịch cảm tính không giống nhau để trở thành một nhà
Trang 18cảm tính (IANM) đã thể hiện, nắm bắt được vấn đề này
Sở Giao dịch chứng khoán Úc (ASX) là một nơi thử nghiệm lý tưởng cho mô hình của VS ASX có một chế độ tiết lộ liên tục nơi các công ty được yêu cầu phải ngay lập tức tiết lộ bất cứ thông tin về giá phù hợp với thị trường Mô hình của VS yêu cầu phải "dự đoán" lúc các nhà giao dịch theo thông tin hoạt động trên thị trường VS cũng đưa ra giả định rằng các nhà giao dịch theo cảm tính hoạt động liên tục trên thị trường, nhưng các nhà giao dịch theo thông tin chỉ giao dịch khi có thông tin đến thị trường Bằng cách quan sát các công ty công bố thông tin, VS có thể xác định lúc các nhà giao dịch theo thông tin có thể sẽ giao dịch VS trình bày bằng chứng cho thấy ASX thường không hiệu quả về khía cạnh thông tin Trong giai đoạn mẫu của VS, Ông cũng phát hiện giả thuyết thị trường hiệu quả (EMH) bị vi phạm trên 62.98% trên tổng số ngày Các hành vi vi phạm phổ biến nhất xảy ra khi nhà giao dịch theo thông tin làm tăng thêm lỗi giá Các hành vi vi phạm phổ biến thứ hai
về thông tin hiệu quả là phản ứng dưới mức
Trong phần thứ hai, VS mô tả mô hình của ông, phần thứ ba gồm các ước tính thực nghiệm và phần thứ tư đưa ra những kết luận
Mô hình thông tin có điều chỉnh yếu tố cảm tính
Phần này đưa ra sự hiểu biết về mô hình thông tin có điều chỉnh yếu tố cảm tính và tính thực nghiệm của mô hình Nó cũng sẽ cung cấp một sự khác biệt ngắn gọn giữa lý thuyết thị trường hiệu quả của lý thuyết tài chính hiện đại và lý thuyết thị trường hiệu quả của lý thuyết tài chính hành vi
VS cũng định nghĩa các nhà giao dịch dựa trên thông tin là những người hình thành những mong đợi dựa trên thông tin và kinh doanh dựa vào các mong đợi đó
VS không giả định rằng các nhà kinh doanh dựa trên thông tin là hoàn toàn sáng suốt hoặc họ luôn luôn hình thành các mong đợi đúng Mà định nghĩa của VS về người giao dịch dựa trên thông tin là rộng hơn so với định nghĩa của Shefrin và Statman [1994] Họ định nghĩa rằng người giao dịch dựa trên thông tin là người có ý kiến
Trang 19chủ quan đồng nhất với những điều khách quan có thể xảy ra Theo ý kiến của VS, đây là định nghĩa quá vội vàng và giống như nó xuất hiện một cách tình cờ Mà định nghĩa của VS, những nhà giao dịch theo thông tin dựa trên những mong đợi của họ về thông tin nhưng không phải lúc nào thông tin này cũng thể hiện đúng Nói theo cách khác, nhà giao dịch dựa vào thông tin có thể gặp sai lầm Và nhà giao dịch theo cảm tính không thể sử dụng thông tin để hình thành mong đợi của họ và
họ có thể kinh doanh dựa vào bất cứ lý do gì Nhà giao dịch theo thông tin chỉ kinh doanh các cổ phiếu cụ thể khi nguồn thông tin có giá trị tương ứng được thông báo
ra thị trường Tuy nhiên, các nhà giao dịch cảm tính có thể và sẽ kinh doanh bất cứ
cổ phiếu nào vào bất cứ ngày nào Hình dung rằng trong ngày được cho, t, thông tin
có thể được tiết lộ ra thị trường hoặc không Trong những ngày này, khi không có thông tin mới nào xảy ra trong thị trường, những nhà giao dịch cảm tính sẽ kinh doanh với nhau Còn trong ngày thông tin được tiết lộ ra thị trường gọi là ngày thông tin (IE) xảy ra, thì cả nhà giao dịch cảm tính và nhà giao dịch theo thông tin đều giao dịch Trong những ngày thông tin không tiết lộ ra thị trường, chỉ có nhà giao dịch cảm tính mới giao dịch-nhà giao dịch theo thông tin không gia nhập vào thị trường
Lý thuyết tài chính hiện đại EMH nêu ra rằng không có sai lầm nào thuộc về hành
vi trên thị trường Nói cách khác, giá trị mong đợi của bất cứ rủi ro hành vi nào được tạo ra bởi thông tin, đều bằng 0, E(BEt |Ω t ) = 0 Các thay đổi mong đợi trong rủi ro hành vi, được cho là sự thay đổi bởi thông tin đưa ra, là các lỗi dự đoán ngẫu nhiên E(∆BEt|∆Ωt) = ε Trong thuật ngữ tài chính hành vi, thị trường hành vi hiệu quả khi E(BEt |Ω t ) ≠ 0, nhưng ∑ BEit = 0 Mô hình IANM thể hiện lỗi dự đoán
ngẫu nhiên này như sau:
Trang 20IE = là sự kiện thông tin, ví dụ: thông tin được đưa ra VS xem xét sự biến số này bằng 1 trong ngày thông tin được tung ra thị trường, và bằng 0 khi không có thông tin nào tung ra thị trường cả VS không phân biệt giữa thông tin “tốt” hay “xấu”
α = biến động trung bình về lỗi hành vi đối với giao dịch cảm tính
β = là tỷ lệ của biến động trung bình được cho là của lỗi hành vi trên các giao dịch của nhà giao dịch theo thông tin VS giả định β ≠ 0
Mô hình IANM có thuận lợi hơn các mô hình giao dịch theo cảm tính khác bằng việc có thể tách ly các tác động của giao dịch theo cảm tính và giao dịch dựa vào thông tin Cụ thể, biến μ = α + β phản ánh những thay đổi trung bình các lỗi hành
vi do nhà giao dịch theo cảm tính và nhà giao dịch theo thông tin Nếu Lý thuyết tài chính hiện đại EMH là đúng, thì α + β = μ = 0 và ∆BEit = ε Nếu chúng ta nới lỏng giả định Lý thuyết Tài chính hiện đại là đúng, thì α + β = μ ≠ 0 Chúng ta khai thác mối quan hệ này để phân biệt các loại thị trường tiềm năng không hiệu quả Trong một thị trường hiệu quả, các nhà giao dịch dựa vào thông tin sẽ nhanh chóng sửa các lỗi sai giá của các nhà giao dịch theo cảm tính Chiến lược đầu tư trái ngược này hàm ý rằng α = - β
Rủi ro giao dịch theo cảm tính trong ngày không có thông tin
Trong ngày không có thông tin phát hành, IEit = 0, mô hình IANM sẽ có công thức sau:
∆BEit = α + εit (1.2)
Nếu alpha bằng không, thì thị trường hiệu quả không thay đổi Nếu alpha khác không, thị trường trở thành hành vi không hiệu quả VS định nghĩa alpha + là các giao dịch theo cảm tính một cách thuần túy Trong trường hợp này, các nhà giao dịch theo cảm tính đã làm thị trường tăng tính không hiệu quả và bóp méo giá cả Lập luận này là phù hợp với các lý thuyết lớn đang hỗ trợ những quan điểm cho rằng các nhà giao dịch này đẩy giá xa rời giá trị cơ bản Alpha - có thể được hiểu như một "hiệu ứng Friedman Các nhà đầu tư theo cảm tính trong tình huống này
Trang 21đang kinh doanh "như thể" họ là những người giao dịch dựa vào thông tin Bằng cách giảm BE, nhà giao dịch theo cảm tính đang kinh doanh "đúng" hướng và "chuyển" thị trường về giá trị cơ bản
Rủi ro giao dịch theo cảm tính trong ngày có thông tin
Trong những ngày thông tin được phát hành, IEit = 1, mô hình sẽ mang hình thức của phương trình (1) Beta có ý nghĩa quan trọng chỉ ra rằng các nhà giao dịch theo cảm tính
và nhà giao dịch theo thông tin đều có ảnh hưởng khác nhau trên thị trường Beta cho thấy tác động của những nhà giao dịch theo thông tin lên sự thay đổi lỗi hành vi, và nó sẽ cho biết liệu những nhà giao dịch dựa vào thông tin tăng hoặc giảm các lỗi hành vi Sự tương tác của các nhà giao dịch theo cảm tính và nhà giao dịch theo thông tin sẽ quyết định sự thay đổi BE vào ngày đặc biệt này Lý thuyết tài chính chỉ ra rằng nhà giao dịch dựa vào thông tin nên thực hiện theo chiến lược trái ngược với những nhà giao dịch theo cảm tính Trong phạm vi điều này xảy ra trên thực tế α + β = 0
Thị trường không hiệu quả: Phản ứng chậm, phản ứng thái quá và lỗi giá do thông tin
Phản ứng chậm
Edwards [1968] sử dụng khái niệm bảo thủ để giải thích các phản ứng chậm Bảo thủ có nghĩa là người ta điều chỉnh một cách chậm chạp sự tin tưởng của họ đối với thông tin mới Cutler et al [1989], Andreassen [1987], Jegadeesh và Titman [1993], Rouwenhorst [1998], Chan [1996] và nhiều tác giả khác chứng minh rằng phản ứng chậm đã xảy ra
Mô hình của VS giải thích phản ứng chậm như sau: thị trường không xóa sạch với tất cả các lỗi Thông tin được đưa ra thị trường và nhà giao dịch theo thông tin nhận ra rằng thị trường đang giao dịch ở một mức độ cảm tính nào đó Các nhà giao dịch dựa vào thông tin đi đúng hướng, nhưng đã thất bại khi loại bỏ các lỗi Phản ứng chậm này có thể được tách thành hai thành phần: phản ứng chậm dương U (+) và phản ứng chậm âm U (-)
Trang 22Loại đầu tiên của phản ứng chậm là các phản ứng tích cực, tức là U (+), và nó sẽ xảy ra khi alpha dương và μ dương là đúng Có một alpha lỗi nguyên nhân do những nhà giao dịch theo cảm tính, và những nhà giao dịch theo dựa theo thông tin kinh doanh để giảm những sai lệch này Họ thất bại, tuy nhiên, để loại bỏ các lỗi, và
α + β = μ> 0
Khi alpha âm (ví dụ α <0, kết quả của Friedman), các nhà giao dịch theo thông tin
sẽ giảm những lỗi này bằng một lượng beta dương Trong phạm vi những nhà giao dịch theo thông tin thất bại khi loại bỏ các rủi ro, μ âm sẽ vẫn còn
Các điều kiện cần thiết cho U (+) chiếm ưu thế trên thị trường có thể được viết là μ, α> 0 và β <0
Các điều kiện cho U (-) có thể được viết là μ, α <0 và β> 0
Phản ứng thái quá
Frank [1935], Griffin và Tversky [1992], De Long, Shleifer, Summers và Waldmann (DSSW) [1990] và O Dean (1998) đã viết về những kết quả của việc quá
tự tin và cho thấy nhà đầu tư quá tự tin đã phản ứng thái quá Trong mô hình của
VS, phản ứng thái quá sẽ xảy ra khi các nhà giao dịch dựa trên thông tin chấp nhận một chiến lược đầu tư trái ngược (CIS) và trong khi giao dịch đi “đúng” hướng, thì lại đánh giá quá cao tầm quan trọng của các lỗi Các nhà giao dịch theo thông tin sẽ đưa giá rời xa giá trị cơ bản Phản ứng mạnh mẽ này có thể được phân thành hai yếu
tố, phản ứng thái quá dương O (+) và phản ứng thái quá âm O (-)
Phản ứng thái quá âm xảy ra khi các nhà giao dịch theo cảm tính tăng mức độ cảm tính (α> 0) và trong khi đó các nhà giao dịch theo thông tin thì lại đánh giá quá cao mức độ lỗi của chiến lược đầu tư trái ngược CIS Lỗi lúc đầu là ở mức alpha và được giảm bởi beta (số này lớn hơn cảm tính lúc đầu) dẫn đến μ âm (α + β = μ< 0) Phản ứng thái quá dương có tình huống ngược lại, lúc đó alpha âm và nhà đầu tư dựa vào thông tin sẽ sữa chữa sai lầm dẫn tới μ dương (α + β = μ> 0)
Trang 23Các điều kiện để phản ứng thái quá âm có thể được viết thành α> 0, μ <0 và β <0 Mặt khác, phản ứng thái quá dương sẽ xảy ra nếu α <0, μ> 0 và β> 0
Lỗi giá do thông tin (Information Pricing Error) (IPE)
Một loại lỗi thị trường nghiêm trọng xảy ra khi nhà kinh doanh dựa vào thông tin không thông qua CIS và do đó làm tăng mức độ cảm tính trên thị trường Dưới những điều kiện này, cả alpha và beta sẽ có dấu hiệu tương tự VS đề cập đến loại lỗi này là lỗi giá do thông tin (IPE) Tương tự như phản ứng thái quá và phản ứng chậm có thể có hai loại lỗi giá do thông tin, chúng sẽ phụ thuộc vào các dấu hiệu của alpha IPE sẽ xảy ra khi nhà đầu tư dựa vào thông tin sao chép kỹ thuật kinh doanh của nhà giao dịch theo cảm tính Họ hành động như nhà giao dịch theo cảm tính và thêm vào những lỗi hiện có
IPE dương, IPE (+), xảy ra khi cả hai alpha và beta dương Khi alpha và beta cùng một dấu hiệu, nhà kinh doanh dựa vào thông tin đã thất bại trong việc thông qua CIS Do đó, mức độ cảm tính trên thị trường tăng thêm (α + β> 0) Lỗi giá do thông tin âm, IPE (-), xảy ra khi alpha âm và nhà giao dịch dựa vào thông tin không thông qua CIS (α + β <0)
Để IPE (+) xảy ra, α và β> 0 và để IPE (-) xảy ra, α và β <0
Trang 24sẽ làm phát sinh một trong những tác động sau đây: phản ứng chậm [U (+) hoặc U (-)] hoặc phản ứng thái quá [O (+) hoặc O (-)] hoặc Lỗi giá thông tin [IPE (+) hoặc IPE (-)] Bảng 1 tóm tắt tất cả các điều kiện khác nhau này, nó là cần thiết cho bất
kỳ ảnh hưởng nào xảy ra
2.2 Ứng dụng tâm lý học, yếu tố cảm tính vào tài chính
Trang 25Lý thuyết tài chính hành vi với nền tảng cơ bản là “thị trường không luôn luôn đúng”, đã đặt ra một đối trọng lớn đối với lý thuyết “thị trường hiệu quả”, cơ sở của các lý thuyết tài chính cơ bản trong suốt bốn, năm thập kỷ gần đây Lý thuyết thị trường hiệu quả dựa trên niềm tin rằng luôn tồn tại một cơ chế điều chỉnh thị trường
về trạng thái hiệu quả, đó là cơ chế kinh doanh chênh lệch giá Một khi tồn tại hiện tượng định giá sai trên thị trường, nghĩa là giá của các công cụ (cổ phiếu, trái phiếu, sản phẩm phái sinh, v.v…) trên thị trường tài chính không phản ánh một cách chính xác giá trị hợp lý (dựa trên những nhân tố cơ bản), thì sẽ tồn tại cơ hội kinh doanh chênh lệch giá, và “những nhà đầu tư hợp lý” khi tận dụng những cơ hội này (mua tài sản bị định giá thấp, bán tài sản bị định giá quá cao chẳng hạn), sẽ góp phần điều chỉnh thị trường về trạng thái hợp lý hay cân bằng
Lý thuyết tài chính hành vi chỉ ra rằng, cơ chế điều chỉnh đó không phải lúc nào cũng có thể xảy ra, nghĩa là sẽ có những trường hợp những nhà đầu tư “hợp lý’ không thể chiến thắng những nhà đầu tư “bất hợp lý” và khi đó, thị trường sẽ không hiệu quả, hay “sai” (tức là định giá quá cao hoặc quá thấp giá cổ phiếu hay các loại sản phẩm tài chính khác)
Ứng dụng của tài chính hành vi không chỉ dừng lại trong việc giải thích các hành vi không hợp lý của nhà đầu tư, mà đi xa hơn, nó có thể điều chỉnh các mô hình định giá (bao gồm định giá chứng khoán, sản phẩm phái sinh…) Cho đến ứng dụng trong
lý thuyết quản trị Công ty hay cấu trúc vốn trong tài chính doanh nghiệp, lẫn giải thích tính tương tác giữa các thị trường khác nhau
2.2.2 Nguyên lý cơ bản hành vi nhà đầu tư
Các mô hình được đề xuất bởi lý thuyết tài chính hành vi sẽ có thể đúng nếu trên thị trường tồn tại một trong ba điều kiện cơ bản sau
2.2.2.1 Tồn tại hành vi không hợp lý
Các nhà đầu tư sẽ có hành vi không hợp lý khi họ không phân tích và xử lý “đúng” những thông tin mà họ có (và thị trường cung cấp), từ đó dẫn đến những kỳ vọng lệch lạc về tương lai của cổ phiếu mà họ đầu tư vào Ngoài ra, trong một số trường
Trang 26hợp, dựa trên kinh nghiệm hay nhận thức sẵn có, họ cũng mắc phải những “lệch lạc trong nhận thức” (cognitive biases) Những nghiên cứu về các hành vi không hợp lý tiêu biểu trong thị trường tài chính là kết hợp giữa tâm lý học, mà chủ yếu là trường phái tâm lý nhận thức (cognitive psychology) với trường phái tâm lý hành vi (behavioral psychology) Có một số dạng lệch lạc trong nhận thức tiêu biểu trong thị trường chứng khoán như sau:
*Phụ thuộc vào kinh nghiệm hay thuật toán (Heuristics) Các kinh nghiệm, hay quy
tắc học được thường giúp chúng ta ra quyết định nhanh chóng và dễ dàng hơn nhiều Nhưng trong một số trường hợp, dựa dẫm quá nhiều vào các quy tắc đôi khi
sẽ dẫn đến sai lầm, đặc biệt là khi các điều kiện bên ngoài thay đổi
*Lệch lạc do tình huống điển hình (Representativeness), thường được diễn tả một
cách đơn giản là xu hướng không quan tâm nhiều đến những nhân tố dài hạn, mà thường đặt nhiều quan tâm đến những tình huống điển hình ngắn hạn
*Bảo thủ (conservatism) Khi điều kiện thay đổi (thông tin mới về triển vọng nền
kinh tế chẳng hạn), người ta có xu hướng chậm phản ứng với những thay đổi đó, và gắn nhận định (anchoring) của mình với tình hình chung trong một giai đoạn dài hơi trước đó Tức là khi có tin nền kinh tế suy giảm, họ cho rằng kinh tế kém đi chỉ là tạm thời, dài hạn vẫn là đi lên, mà không nhận thấy có thể tin đó phát đi tín hiệu một chu kỳ suy thoái nhiều năm đã bắt đầu
*Quá tự tin (overconfidence) Có nhiều nghiên cứu tâm lý học trên thị trường tài
chính cho thấy các nhà đầu tư tỏ ra quá tự tin (một số bằng chứng thí nghiệm đã được trình bày trong các tác phẩm “Irrational Exuberance” (2000) của Shiller, một
số khác trình bày trong “A survey of behavioral finance” (2003) của Barberis và Thaler) Bằng chứng gần đây nhất là việc nhiều nhà đầu tư ít đa dạng hoá danh mục của mình và đầu tư nhiều vào những Công ty mà mình quen thuộc Như vậy, một cách giải thích khả dĩ là các nhà đầu tư ít đa dạng hoá danh mục này và tự tin quá mức vào tầm hiểu biết của mình đối với Công ty, Barber và Odean (2001) còn công
bố một kết quả thú vị là những nhà kinh doanh chứng khoán là nam thì quá tự tin
Trang 27nhiều hơn nữ, và nam càng thực hiện nhiều giao dịch thì… kết quả càng tệ hại hơn
nữ
*Định nghĩa hẹp (narow framing) cô lập một khái niệm hay phân tích một vấn đề
trong một khuôn khổ hạn hẹp, tách biệt, và cố gắng đưa ra quyết định tối ưu cho khuôn khổ hạn hẹp ấy, thay vì cho toàn cục Phương pháp này có thể hữu ích trong một số trường hợp giới hạn về nguồn lực, hay không đủ thời gian phân tích nhiều Tuy nhiên, nó cũng có thể đưa đến sai lầm
*Tính toán bất hợp lý (mental accounting) Đây là một dạng của định nghĩa hẹp
Chúng ta có xu hướng tách riêng các quyết định mà đúng ra phải được kết hợp lại với nhau vào các tài khoản ảo trong trí tưởng tượng của chúng ta và tối đa hoá lợi ích từng tài khoản Và vì thế, đôi khi chúng ta đưa ra các quyết định nhìn tưởng là hợp lý, mà thật ra là sai lầm
2.2.2.2 Hành vi bất hợp lý mang tính hệ thống
Nếu chỉ một nhà đầu tư đơn lẻ có hành vi không hợp lý, thì ảnh hưởng giao dịch của nhà đầu tư này lên giá cổ phiếu trên thị trường là không đáng kể (cho dù là một tổ chức đầu tư lớn thì ảnh hưởng cũng rất hạn chế nếu chỉ đơn độc một mình)
Chỉ khi hành vi không hợp lý là mang tính hệ thống (nghĩa là một nhóm nhiều nhà đầu tư cùng có một hành vi không hợp lý như nhau) thì khi ấy việc định giá sai sẽ xuất hiện và có thể bắt đầu kéo dài
Lý thuyết tài chính hành vi cho rằng tính lệch lạc (bất hợp lý) trong hành vi là khá phổ biến đối với nhiều nhà đầu tư, và do đó, nó tạo thành một dạng thường gọi là
“hiệu ứng bầy đàn”, khiến cho giá một số cổ phiếu không phản ánh giá trị “thực” (hay “hợp lý”) của chúng
Như vậy, “hiệu ứng bầy đàn” là không tốt cho thị trường trong trường hợp chúng ta xem hiệu ứng bầy đàn là tất cả đều hành động theo một mẫu hình hành vi lệch lạc, không hợp lý
Trang 282.2.2.3 Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính
Lý thuyết thị trường hiệu quả tin rằng nếu tồn tại định giá sai thì sẽ tồn tại cơ hội để kinh doanh chênh lệch giá thu lợi nhuận, và chính hành vi kinh doanh chênh lệch giá sẽ điều chỉnh giá trên thị trường về cân bằng Nhưng nếu tồn tại định giá sai, mà lại không thể thực hiện kinh doanh chênh lệch giá để tận dụng các khoản lợi nhuận này thì như thế nào? Và tại sao lại không thể thực hiện kinh doanh chênh lệch giá khi có định giá sai ?
Một giải thích được chấp nhận rộng rãi trong trường phái tài chính hành vi là có 2 dạng định giá sai: một dạng là thường xuyên xảy ra và có thể kinh doanh chênh lệch giá được, một dạng là không thường xảy ra, kéo dài và không thể kinh doanh chênh lệch giá được (nói một cách khác, khó mà xác định được khi nào mức định giá sai
đã đạt tới giới hạn trên hay dưới và điều chỉnh lại) Nếu tham gia “chỉnh sửa” kiểu định giá sai dạng 2 thì rất dễ rơi vào trạng thái “tiền mất, tật mang”, mà điển hình là bài học nổi tiếng của LTCM (quỹ đầu tư LTCM - Long Term Capital Management) kinh doanh chênh lệch giá của Royal Duch và Shell và bị thua lỗ, nhưng ngay sau khi họ thua lỗ không bao lâu thì giá 2 cổ phiếu này điều chỉnh lại đúng như dự đoán của họ ! Đây là ví dụ cho thấy thực tế định giá sai có thể kéo dài rất lâu, và kiểu nhà đầu tư hợp lý như LTCM (được quản lý bởi những người đoạt giải Nobel và rất thành công trong 4 năm trước thương vụ này) tham gia sửa chữa sai lầm này thì sẽ thất bại
Barberis và Thales (2003) chỉ ra rằng kinh doanh chênh lệch giá không thể xảy ra vì
có những tài sản về lý thuyết là có tính thay thế lẫn nhau hoàn hảo và có thể kinh doanh chênh lệch giá 2 tài sản đó, nhưng thực tế thì không như vậy, do đó tạo ra rủi
ro tăng thêm cho hoạt động kinh doanh chênh lệch giá (vốn được xem là rủi ro thấp đến mức phi rủi ro) Ngoài ra, chi phí thực hiện các chiến lược hưởng chênh lệch giá và sự tồn tại của các giao dịch của những nhà đầu tư không hợp lý (gọi là noise trading) cũng ngăn cản điều này Chính vì vậy, chúng ta đã từng thấy trong lịch sử nhiều vụ bong bóng giá ở Nhật (thập niên 1980), Đài Loan (1990), cổ phiếu công
Trang 29nghệ truyền thông của Mỹ (1999-2000), rồi gần đây là chứng khoán Trung Quốc và Việt Nam cũng bị xem là “quá nóng” Tuy nhiên, rõ ràng không hề có những điều chỉnh tức thời như người ta kỳ vọng, mà những vụ bong bóng này kéo dài nhiều năm Đây là dấu hiệu của giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá
2.2.3 Nghiên cứu thị trường về hành vi của nhà đầu tư Ấn Độ
Thông qua bản khảo sát, tác giả Akash Jauhari muốn nghiên cứu hành vi mua và bán của các nhà đầu tư Ấn Độ với những quan điểm, khía cạnh như dưới đây:
Thuộc về cá nhân:
1a Thích/không thích sản phẩm nào đó (Ví dụ: Rượu/ thuốc lá)
1b Đạo đức của Công ty
1c Trách nhiệm xã hội của Công ty
1d Uy tín của ban lãnh đạo
1e Thành kiến địa phương/ quốc gia
Thuộc về cộng đồng:
2a Chứng khoán nổi bật trên mẫu tin/ báo chí giấy
2b Bình luận chuyên môn của các nhà phân tích trên phương tiện truyền thông 2c Tính thường xuyên quảng cáo sản phẩm/dịch vụ trên TV/internet
2d Đầu tư vào các ngành được chính phủ ưu tiên
2e Ảnh hưởng bởi tâm lý phổ biến trên thị trường/cộng đồng người đầu tư
Thuộc về quan hệ, quen biết:
3a Nhà môi giới
3b Bố mẹ
3c Chồng/vợ
3d Đồng chí/ đồng nghiệp
Trang 303e Bạn bè
Thuộc về quy tắc cơ bản:
4a Doanh thu/lợi nhuận của Công ty
4b Giá trị sổ sách của Công ty
4c Lợi nhuận trên 1 cổ phần (EPS) của Công ty
4d Hệ số giá trên thu nhập (PE) của Công ty
4e Dự án nắm giữ trong tương lai/ Nắm giữ các đơn đặt hàng
Phân tích - Kết luận
Kết luận từ phân tích nhân tố
Phân tích nhân tố là phương pháp dùng để thu nhỏ và tóm tắt dữ liệu Bài nghiên cứu đã thu thập được một số lượng biến và hầu hết các biến này có liên hệ với nhau
và số lượng của chúng phải được giảm bớt xuống đến một số lượng có thể sử dụng được
Từ 60 quan sát với 20 biến, Akash Jauhari đã sử dụng phân tích nhân tố và có được kết quả Bảng chỉ số KMO và Bartlett’s như sau:
BẢNG 2: BẢNG KMO và Bartlett's Test
Đo lường độ chính xác mẫu Kaiser-Meyer-Olkin
(Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling
Từ đó, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích phần trăm biến thiên giải thích được và phương pháp chỉ số eigen Kết quả đều rút ra được có 7 yếu tố chính có ảnh hưởng đến hành vi nhà đầu tư
Trang 31% phương sai
% tích
% phương sai
% tích
% phương sai
% tích lũy
1.4
BẢNG 3: TỔNG PHƯƠNG SAI ĐƯỢC GIẢI THÍCH (Total Variance Explained)
Nhân tố
(Component)
Bảy yếu tố chính dưới đây giải thích được 70,7% biến thiên của dữ liệu
Bảng 4: Các yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi nhà đầu tư Ấn Độ
1 Doanh thu Giá trị sổ sách (BV) Hệ số giá trên thu nhập (PE)
Lợi nhuận trên một cổ phần (EPS)
Các đơn đặt hàng
2 Đạo đức của Công ty Trách nhiệm xã hội của Công ty Ảnh hưởng của vợ/chồng
Cảm tính thị trường
Nhà môi giới
5 Uy tín của người
lãnh đạo
Thường xuyên quảng cáo Ngành ưu tiên
6 Thích sản phẩm của Công ty Tin tức nổi bật Nhận xét của các chuyên gia
Trang 327 Nhận xét của các chuyên gia
Yếu tố 1 - Ảnh hưởng bởi quy tắc cơ bản
Như mong đợi, không có gì quan trọng hơn quy tắc cơ bản ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Yếu tố này bao gồm các tiêu chuẩn quan trọng của Công ty như Doanh thu, Lợi nhuận, Giá trị sổ sách, và các đơn đặt hàng Do đó, một nhà đầu tư, nếu chắc chắn về yếu tố cơ bản của Công ty sẽ có thể đưa tiền đầu tư, và sẽ không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác
Yếu tố 2- Ảnh hưởng bởi lợi thế thương mại và sự khuyến khích của xã hội
Yếu tố ảnh hưởng thứ hai là Trách nhiệm xã hội và Đạo đức của Công ty Đây là yếu tố làm cho các Công ty như Tata Sons và GE có tất cả vốn hóa của thị trường
mà họ đưa ra Rất tốt khi biết rằng nhiều nhà đầu tư sẽ chọn Công ty “tốt” thậm chí điều đó làm giảm giá trị một phần lợi nhuận của họ
Yếu tố 3- Ảnh hưởng bởi những người thân, quen
Yếu tố ảnh hưởng thứ ba là có liên quan tới những người xung quanh nhà đầu tư Trong cuộc sống đời thường, chúng ta có xu hướng mua những thứ tùy thuộc vào những điều mà bố mẹ, bạn bè hay người tương đương muốn chúng ta mua nó Đầu
tư vào cổ phiếu cũng tương tự như vậy Tuy nhiên, điều này đúng cho những nhà đầu tư mới hoặc thiếu kinh nghiệm
Yếu tố 4- Ảnh hưởng bởi cộng đồng
Yếu tố ảnh hưởng thứ tư tới quyết định nhà đầu tư là những thông tin công khai, bao gồm cả những nghiên cứu Tầm nhìn và lời nói của những nhà sáng lập hoặc Giám đốc, nhận xét của các chuyên gia trên báo chí về Công ty và tâm lý phổ biến của thị trường ảnh hưởng tới quyết định của nhà đầu tư làm cho càng phổ biến hơn Những nhà đầu tư không định giá được Công ty và có liên quan nhiều đến phân tích
kỹ thuật bị ảnh hưởng bởi yếu tố này
Các yếu tố 5, 6, 7 có quá nhiều kẽ hở để giải thích các yếu tố quan trọng và ý nghĩa
Trang 33Kết luận từ phân tích nhóm
Nhóm 2 có điểm cao nhất về “biến số yếu tố cơ bản” giống như Doanh thu, Lợi
nhuận, giá trị sổ sách,…Rõ ràng từ phân tích mô tả là nhóm này chiếm ưu thế bởi những người không kinh doanh
Do đó những người không có kinh nghiệm xem xét những yếu tố cơ bản của Công
ty là quan trọng nhất khi đầu tư tiền vào Cơ sở hợp lý cho điều này chính là những người có kinh nghiệm đầu tư, người này phát hiện ra rằng thị trường được vận hành dựa vào yếu tố cảm tính nhiều hơn yếu tố cơ bản
Nhóm 3 có số điểm trung bình cao nhất cho yếu tố “thuộc về cá nhân” như đạo đức
của Công ty, trách nhiệm xã hội của Công ty, thích sản phẩm của Công ty Từ quan sát bản phân tích mô tả là nhóm 3 có một số lượng người trả lời là nữ lớn nhất
Do đó, những người trả lời nữ chịu ảnh hưởng bởi yếu tố lợi thế thương mại của Công ty, sản phẩm của Công ty, sự khích lệ của xã hội cho Công ty đó nhiều hơn những người trả lời là nam
Trang 34PHẦN 3: MÔ HÌNH, DỮ LIỆU PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 3.1 Mô hình
Công trình nghiên cứu về giao dịch theo cảm tính trên thế giới rất đa dạng và phong phú, mỗi công trình xem xét những góc độ của vấn đề giao dịch theo cảm tính như: Rủi ro của nhà giao dịch theo cảm tính trên thị trường tài chính (Noise trader risk in finacial markets của J Bradford de long, ); Kinh doanh theo giao dịch cảm tính ảnh hưởng tới thị trường như thế nào (How noise trading affects Market: An experimental Analys của Robert Bloomfield, ); Rủi ro nhà giao dịch theo cảm tính được định giá thế nào? (Is noise trader risk priced? Của Richard W Sias, );…
Để trả lời cho câu hỏi thứ nhất: Những bằng chứng về giao dịch theo cảm tính trên thị trường chứng khoán Việt Nam Tác già đã dựa vào cơ sở lý thuyết của
“Mô hình giao dịch dựa vào thông tin có điều chỉnh yếu tố cảm tính: Bằng chứng
thiếu hiệu quả của TTCK Úc” của Vikash Ramiah và Sinclair Davidson
Vì:
Tình hình nhà đầu tư giao dịch theo thông tin tại thị trường Việt Nam khá phổ biến hiện nay Dựa vào nguồn thông tin chính thức hoặc tin đồn thất thiệt, giá chứng khoán có ảnh hưởng đáng kể
Người đầu tư Việt Nam còn hạn chế về trình độ chuyên môn Nhiều nhà đầu tư còn xuất phát từ các ngành nghề không thuộc về tài chính nên họ chưa thấu hiểu được các yếu tố cơ bản để phân tích sâu Trong khi đó, trường phái đầu tư theo phân tích
kỹ thuật mới phát triển và nở rộ gần đây, và một số ít nhà đầu tư chịu tìm tòi nghiên cứu sâu lĩnh vực này Do vậy, tại Việt Nam nhà đầu tư thường bị ảnh hưởng bởi nguồn thông tin
Có nhiều loại thông tin trên thị trường như thông tin về môi trường vĩ mô, về tình hình kinh doanh của ngành, hay về chính tình hình của công ty Thông tin có thể do các cơ quan công quyền công bố, hay do các nhà phân tích, công ty chứng khoán,
Trang 35môi giới đưa ra, hoặc là do chính công ty công bố chính thức, và cũng có thể là thông tin thầm lặng và bí mật kiểu như thông tin tay trong,…rất đa dạng Đồng thời nguồn thông tin dễ tiếp cận, ngôn ngữ thông tin, báo giới dễ hiễu hơn các ngôn ngữ chuyên môn phân tích theo yếu tố cơ bản hay phân tích kỹ thuật Có nhiều nguồn thông tin nên chắc chắn có những nguồn thông tin chính xác hay nguồn thông tin nhiễu cần phải điều chỉnh
Trong các mô hình nghiên cứu gần đây, nghiên cứu của Ramiah và Davidson (2007) có phần lý thuyết phân tích khá chi tiết về nội tâm phản ứng con người; tâm
lý nhà đầu tư phản ứng chậm, phản ứng thái quá, lỗi giá do thông tin Do vậy tác giả chọn mô hình lý thuyết này để làm cơ sở lý thuyết nghiên cứu giao dịch theo cảm tính tại thị trường chứng khoán Việt Nam Để từ đó nhận diện được biểu hiện và tìm kiếm những bằng chứng giao dịch theo cảm tính của thị trường chứng khoán Việt Nam
Để trả lời câu hỏi tiếp theo: Nghiên cứu hành vi nhà đầu tư, nhà đầu tư Việt Nam bị ảnh hưởng bởi những yếu tố nào Nhà đầu tư Việt Nam bị ảnh hưởng bởi yếu tố cảm tính hay không
Có rất bài nghiên cứu trên thế giới như: “Yếu tố quyết định tới hành vi nhà đầu tư” (Determinants of Individual Investor Behaviour: An Orthogonal Linear Transformation Approach) của Abhijeet Chandra and Ravinder Kumar, “Yếu tố ảnh hưởng đến hành vi nhà đầu tư cá nhân” (Factor influencing individual investor Behavior: An empirical study of the UAE financial market của Hussein A Hassan Al-Tamimi),…nhưng tác giả đã chọn “Nghiên cứu thị trường về Hành vi của nhà đầu tư Ấn Độ” của Học Viện Quản lý Kỹ thuật IMT do tác giả Akask Jauhari biên soạn Do bảng câu hỏi của bài nghiên cứu rất chặt chẽ, logic, dễ dàng ứng dụng để
áp dụng nghiên cứu tại thị trường Chứng khoán Việt Nam
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của bài nghiên cứu rõ ràng, dễ hiểu, tương đồng với nét văn hóa của người Việt Nam
Trang 36Bài nghiên cứu ở thị trường chứng khoán Ấn Độ gồm 2 Sàn Giao dịch NSE (Sàn Giao dịch Quốc Gia), BSE (Sàn Giao dịch Bombay) BSE ra đời từ những năm 70 của thế kỷ trước, Sàn Giao dịch chứng khoán Bombay của Ấn Độ hiện là sàn giao dịch chứng khoán lâu đời nhất châu Á Còn NSE ngày càng phát triển, phát đạt Hai Sàn Chứng khoán nổi tiếng Châu Á này có biểu đồ giá khá tương đồng với Thị trường chứng khoán Việt Nam trong những năm 2007, 2008
Thông qua bản khảo sát dựa trên nghiên cứu của Akash Jauhari, tác giả muốn nghiên cứu hành vi mua và bán của các nhà đầu tư Việt Nam với những quan điểm, khía cạnh như: Yếu tố cá nhân, yếu tố cộng đồng, yếu tố những người thân quen và yếu tố cơ bản
3.2 Dữ liệu
Dựa trên một số điểm tương đồng của biểu đồ giá thị trường chứng khoán Ấn Độ và thị trường chứng khoán Việt Nam vào những năm 2007, 2008; tác giả đã chọn bản khảo sát của Ông Akash Jauhari của IMT (Institute of Management Technology) làm cơ sở để khảo sát tại thị trường chứng khoán Việt Nam (cụ thể ở TP.HCM) Để nghiên cứu, liệu thị trường chứng khoán Việt Nam có bị ảnh hưởng bởi cách đầu tư theo cảm tính, và có bị dẫn dắt bởi yếu tố cảm tính hơn yếu tố cơ bản hay không Nghiên cứu đưa ra những câu hỏi để khảo sát như:
1 Các yếu tố liên quan tới Công ty (sản phẩm/ dịch vụ/ đạo đức/ lãnh đạo) có ảnh hưởng đến hành vi nhà đầu tư Việt Nam hay không?
2 Các yếu tố bên ngoài như các báo cáo truyền thông/ sự xem xét của các chuyên gia có ảnh hưởng đến hành vi nhà đầu tư Việt Nam hay không?
3 Hành vi của các nhà đầu tư Việt Nam có bị ảnh hưởng bởi những người tương đương, bố mẹ hay đồng nghiệp hay không?
4 Yếu tố cơ bản của thị trường có ảnh hưởng như thế nào đến hành vi nhà đầu tư Việt nam?
Bản khảo sát phát triển các câu hỏi để hiểu rõ hơn về hành vi nhà đầu tư Việt Nam, tập trung vào 4 loại: tên là:
Trang 37• Thuộc về cá nhân
• Thuộc về cộng đồng
Mỗi loại có 5 câu hỏi trong đó Lời giải đáp của các câu hỏi là chỉ ra mức độ đồng
ý, gồm có 5 mức độ đồng ý ( 1 – Ít giống nhất và 5 – Giống nhiều nhất)
Các câu hỏi được phát cho 100 người tại TP Hồ Chí Minh Tác giả đã thu lại được: 82 mẫu, trong quá trình sàng lọc tác giả đã loại ra 5 mẫu Còn 77 mẫu được đưa vào phân tích
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp phân tích định tính bao gồm tổng hợp, so sánh, phân tích nhằm khái quát hóa các quan điểm của các nhà nghiên cứu trước đây Đồng thời sử dụng nguồn thông tin quá khứ từ một số trang thông tin chứng khoán để phân tích những phản ứng thái quá, phản ứng chậm với nguồn thông tin
Từ kết quả khảo sát, tác giả đã sử dụng phần mềm SPSS để phân tích nguồn dữ liệu Làm sạch nguồn dữ liệu, và sử dụng phân tích mô tả Tác giả cũng phân tích mối quan hệ tương quan giữa các nhóm Phân tích nhân tố để rút 20 yếu tố thành những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng tới hành vi nhà đầu tư Từ nhiều biến quan sát, có những người có suy nghĩ tương tự nhau Từ đó tác giả phân tích cụm để có thể phân chia thành các cụm có đặc điểm chung Từ đó rút ra có bao nhiêu cụm,
và đặc điểm của mỗi cụm Sau đó tác giả phân tích mối liên hệ giữa các cụm với các biến định danh: Giới tính, kinh nghiệm, độ tuổi
Trang 38PHẦN 4: NGHIÊN CỨU VỀ KINH DOANH THEO CẢM TÍNH VÀ HÀNH VI NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
4.1 Nhìn lại diễn biến thị trường chứng khoán Việt Nam qua các giai đoạn
Đúng là thật khó tiên liệu diễn biến trên TTCK Việt Nam Mọi lý thuyết, mọi mô hình của thị trường hiệu quả dường như vô nghĩa Mặc dù nhà đầu tư được cảnh báo chứng khoán đã vượt quá giá trị thật hơn 30% (2007) nhưng họ vẫn mua bán, thị trường vẫn không ngừng sôi động Thậm chí cung không đủ cầu Hay khi nhìn nhận thị trường ảm đạm (2008-2009) thì họ lại kéo nhau tháo lui mà không cần xem xét nguyên nhân
Trong giai đoạn thăng hoa của chứng khoán (năm 2007), phòng thương mại Mỹ tại Việt Nam (AMCHAM) cũng đã đăng tải trên website của họ bài viết về thị trường chứng khoán Việt Nam "thăng hoa thiếu cơ sở" Mục đích của AMCHAM cốt để khuyến cáo giới đầu tư rằng các tổ chức tài chính quốc tế tại Việt Nam thấy cổ phiếu Việt Nam đang sốt ở mức không bình thường
Kinh tế gia chuyên về lĩnh vực tài chính của Ngân hàng Thế giới tại Hà Nội, ông Noritaka Akematsu, được trích lời, nói rằng "hiện đang có sự phấn khích quá mức vượt quá khuôn khổ của thị trường, vượt quá sự kiểm soát của cơ quan điều tiết vào thời điểm này Nhà chức trách Việt Nam không thể đảm bảo báo cáo kinh doanh của các công ty niêm yết là hoàn toàn chính xác, các giao dịch buôn bán chứng khoán được thực hiện theo đúng chuẩn mực" Ông khuyến cáo giới đầu tư nên cẩn trọng
Ông David Knapp, Chủ tịch Phòng Thương mại Mỹ cho rằng, sự thiếu vắng tính minh bạch và chuẩn mực quốc tế trong báo cáo tài chính của các công ty có nghĩa là người ta khó thực hiện việc phân tích năng lực thực sự của các công ty niêm yết
Trang 39Giới phân tích tài chính và chứng khoán tại Hà Nội cho rằng khác với giới đầu tư vào cổ phiếu ở thị trường chứng khoán ở nước ngoài, đa số người mua chứng khoán tại Việt Nam không sử dụng các công ty nghiên cứu thực trạng của công ty niêm yết
mà mua chứng khoán theo kiểu "mua bán theo cảm tính"
Dễ thấy thị trường chứng khoán Việt Nam không vận hành theo bất cứ một quy luật nào Lý thuyết thị trường hiệu quả hoàn toàn thất bại Có lẽ đã đến lúc dùng đến các
lý thuyết cơ bản dựa trên tâm lý con người để giải thích những bất thường trên thị trường chứng khoán
4.2 Các biểu hiện giao dịch theo cảm tính ở Việt Nam
Yếu tố tâm lý, cảm tính của nhà đầu tư tồn tại một cách tự nhiên mà con người thường không nhận thấy, nhưng chúng có tác động mạnh đến các quyết định
Tín hiệu nhiễu, giao dịch theo cảm tính tồn tại khi người ta giao dịch dựa trên thông tin sai, có nghĩa là thông tin không có liên quan đến định giá chứng khoán Tín hiệu nhiễu và những giao dịch mà nó gây ra không hoàn toàn là xấu, mà nó góp phần làm thị trường trở nên sôi động, tạo tính thanh khoản cao Còn nếu không có tín hiệu nhiễu, giao dịch trở nên trầm lắng và người đầu tư rất khó bán hoặc mua vì họ khó tìm được người giao dịch ngược lại với họ, trừ khi họ có nhu cầu tiền mặt và bán cổ phiếu
Yếu tố tâm lý, cảm tính của con người - đó là lãnh vực sâu và rộng nhất trong đời sống con người Nó điều khiển, chi phối toàn bộ mọi hoạt động và ứng xử của người ta trong cuộc sống Nếu có điều gì đó cực kỳ rắc rối, phiền hà, phức tạp, khó hiểu nhất trên đời Đó là yếu tố tâm lý, cảm tính của con người
Người ta có thể giao dịch dựa trên tín hiệu nhiễu vì họ nghĩ rằng có thông tin hữu ích hoặc vì một lý do rất đơn giản khác như họ thích giao dịch, họ thấy rằng tham gia “chơi” chứng khoán là một một kiểu “mốt” thời thượng Và đã xảy ra ở Việt Nam Một bộ phận lớn nhà đầu tư tham gia thị trường với năng lực và hiểu biết hạn chế về thị trường, bỏ qua các yếu tố cơ bản của CP để chạy theo triển vọng lợi nhuận trước mắt khi đầu tư vào TTCK Thành phần nhà đầu tư trên TTCK rất đa