1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ quan điểm và kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn tại việt nam nama

88 223 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 2,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái quát về NAMA NAMANationally Apropriate Mitigation Action là một tập hợp các chính sách và hành động mà các nước đang phát triển có thể thực hiện và được xem như là một phần của ca

Trang 1

Chương 2.ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG THỰC HIỆN NAMA Ở VIỆT NAM 35

2.1 Kiểm kê khí nhà kính năm 2010 theo các lĩnh vực 352.3 Đánh giá tiềm năngthực hiện và lựa chọn phương án ưu tiên giảm nhẹ KNK trong lĩnh vực năng lượng và nông nghiệp 462.4 Đánh giá năng lực ngành Tài nguyên và Môi trường và các bên liên quan trong việc quản lý và thực hiện NAMA ở Việt Nam 572.5 Tác động của công cụ thị trường đến việc giảm phát thải KNK 63

Chương 3: ĐỀ XUẤT CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ CƠ CHẾ THỰC HIỆN NAMA 67

3.1 Cơ quan điều phối trung ương (Central Coordinating Unit – CCU) 673.2 Các Bộ, ngành liên quan: 693.3 Kiểm chứng 71

Trang 2

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT

13 CCU Central Coordinating Unit

Cơ quan điều phối trung ương

14 CDM CleanDevelopmentMechanism

CơchếPháttriểnsạch

15 CERs CertifiedEmissionsReduction

Lượnggiảmphátthảiđượcchứngnhận

16 CMP The Conference of the Parties serving as the Meeting of the Parties

Cuộc họp các Bên tham gia Công ước khí hậu

Trang 3

17 COP The Conference of the Parties

Hội nghị các Bên tham gia Công ước khí hậu

18 DNA Cơ quan thẩm quyền quốc gia

Designated National Authority

24 LEAP Long Range Energy Alternative Planning system

Mô hình Hệ thống kế hoạch thay thế năng lượng dài hạn

25 JICA JapanInternationalCooperationAgency

CơquanHợptácQuốctếNhậtBản

26 LULUCF LandUse,LandUseChangeandForestry

Sửdụngđất,thayđổisửdụngđất và rừng

27 MRV Measurement, Reporting and Verification

Đo đạc, báo cáo và thẩm định

28 NAMA

Nationally Apropriate Mitigation Action Các hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia

29 NC National Communication

Thông báo Quốc gia

30 TBQG Thông báo Quốc gia

31 UNFCCC United Nations Framework Convention on Climate Change

Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Tổng phát thải khí nhà kính năm 2010 theo phân ngành trong

lĩnh vực năng lượng 36

Bảng 2.2 Phát thải khí nhà kính năm 2010 theo phân ngành trong lĩnh vực các quá trình công nghiệp 37

Bảng 2.3 Phát thải khí nhà kính năm 2010 từ LULUCF 38

Bảng 2.4 Phát thải theo các phân ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp 39

Bảng 2.5 Kết quả kiểm kê phát thải KNK trong lĩnh vực chất thải 41

Bảng 2.6 Tổng hợp hấp thụ/phát thải KNK cho năm 2010 42

Bảng 2.7 Phát thải khí nhà kính và tỷ lệ % năm 2010 và ước tính phát thảicho các năm 2020 và 2030 43

Bảng 2.8 TiềmnăngvàchiphígiảmnhẹKNK tronglĩnhvực năng lượng 44

Bảng 2.9 TiềmnăngvàchiphígiảmnhẹKNK tronglĩnhvực nông nghiệp 45

Bảng 2.10.Tỷ lệ % tiềm năng giảm phát thải trong 30 năm của 2 lĩnh vực năng lượng 46

Bảng 2.11 Tiềm năng và chi phí giảm nhẹ KNK trong lĩnh vực năng lượng 48

Bảng 2.12: Bảng đánh giá phân lớp tiềm năng giảm nhẹ KNK cho lĩnh vực năng lượng 49

Bảng 2.13: Bảng đánh giá phân lớp tiềm năng về chi phí giảm nhẹ KNK theo hiệu quả kinh tế cho lĩnh vực năng lượng 49

Bảng 2.14 Rào cản trong việc thực hiện các phương án giảm nhẹ KNK được đề xuất 51

Bảng 2.15 Tiềm năng và chi phí giảm nhẹ KNK trong lĩnh vực nông nghiệp 53

Bảng 2.16: Bảng đánh giá phân lớp tiềm năng giảm nhẹ KNK cho lĩnh vực nông nghiệp: 53

Bảng 2.17: Bảng đánh giá phân lớp tiềm năng về chi phí giảm nhẹ KNK theo hiệu quả kinh tế cho lĩnh vực Nông nghiệp 54

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Số lượng các NAMA tính đến cuối năm 2013 10

Hình 1.2 Tình hình phát triển NAMA theo khu vực 11

Hình 1.3 Tỉ lệ về số lượng các NAMA theo ngành 12

Hình 1.4 Tỉ lệ các NAMA theo loại hình hoạt động 12

Hình 1.5 Tỷ lệ các loại hình dự án CDM của Việt Nam được EB đăng ký 26

Hình 1.6 Một số dự án CDM tại Việt Nam 27

Hình 3.1: Cơ cấu quản lý, vận hành nội dung kiểm chứng 72

Hình 3.2: Mô hình quản lý cấp nhà nước các hoạt động NAMA 73

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn:

Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại trong thế kỉ 21 Sự gia tăng nhanh chóng của phát thải khí nhà kính từ các hoạt động kinh

tế - xã hội đã được công nhận rộng rãi là nguyên nhân chính dẫn đến biến đổi khí hậu toàn cầu Do đó, vấn đề giảm phát thải khí nhà kính luôn là chủ đề chính của các cuộc đàm phán tại Hội nghị các bên (COP) tham gia Công ước khung Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) Nghị định thư Kyoto năm 1997 đã đạt được một thỏa thuận về mục tiêu cắt giảm phát thải khí nhà kính đối với các nước phát triển Ðối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, mặc dù không có nghĩa vụ giảm phát thải định luợng, nhưng cũng được khuyến khích đóng góp vào mục tiêu giảm phát thải chung toàn cầu để có thể giữ nhiệt độ trái đất vào cuối thế

kỷ tăng không quá 2ºC so với thời kỳ tiền công nghiệp Ở Việt Nam, kể từ những năm của thập kỷ 80 thế kỷ trước, kinh tế và chính trị của Việt nam bắt đầu có sự thay đổi, đánh dấu sự bắt đầu của quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kể từ đó, Việt Nam đã đạt được thay đổi hoàn toàn về kinh tế một cách ấn tượng Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng về mặt kinh tế, khai thác triệt để tài nguyên thiên nhiên là việc gia tăng phát thải khí nhà kính ngày càng nghiêm trọng Do đó, Chính phủ Việt Nam đã tích cực tham gia nhiều hoạt động liên quan đến giảmnhẹ phát thải khí nhà kính nhưCơ chế phát triển sạch (CDM), tiết kiệm năng lượng vàgiảm phát

thải từ suy thoái rừng (REDD+) (Trích Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu)

Theo đánh giá tổng hợp của Viện Khoa học khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, các dự án CDM hiện nay không còn là công cụ hiệu quả trong nỗ lực khuyến khích thực hiện các hoạt động giảmnhẹ phát thải khí nhà kính Năm 2007, tại Bali, Indonesia, khái niệm về "Các hành động giảmnhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia" (NAMA) được xác định trong Kế hoạch hành động Bali và sau

đó được chính thức hóa trong Thỏa thuận Copenhaghen năm 2009

NAMA hiện tại còn là một khái niệm tương đối mới và được hiểu như là một công cụ để các nước đang phát triển có thể thực hiện các biện pháp giảmnhẹ phát thải

Trang 7

khí nhà kính và đảm bảo phát triển bền vững với sự hỗ trợ của các nước phát triển về công nghệ, tài chính và tăng cường năng lực

Nhiều quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam hiện đang phải nỗ lực cân bằng giữa phát triển kinh tế - xã hội,thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu và xây dựng nềnkinh tế các-bon thấp và tăng trưởng xanh Để hài hòa được các mục tiêu phát triển này, giải pháp được nhiều nước đang phát triển lựa chọn

là xây dựng và triển khai các hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia (NAMA) Việc quản lý, áp dụng và thực hiện NAMA ở Việt Nam đòi hỏi nhiều yếu tố về mặt pháp lý lẫn kinh nghiệm thực thi sao cho việc áp dụng cơ chế này vừa đóng góp chung vào tình hình giảm phát thải khí nhà kính vừa tận dụng cơ hội phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, đảm bảo môi trường và phát triển bền vững

Hiện tại, tác giả đang công tác tại Cục Khí tượng Thủy văn và biến đổi khí hậu, Bộ Tài nguyên và môi trường Công việc hiện nay trực tiếp liên quan đến các hoạt động giảm nhẹ biến đổi khí hậu, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính,tác giả mong muốn được tìm hiểu và tham gia thực hiện NAMA và đồng thời thông qua kết quả của luận văn này, tác giả mong muốn làm rõ mặt tích cực của NAMA, lợi ích của việc áp dụng NAMA vào thực tiễn tại Việt Nam

Tác giả hy vọng có thể đóng góp phần nhỏ bé vào việc giảm phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện tại Việt Nam.Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài

“NAMA: Từ quan điểm và kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn tại Việt Nam”

2 Câu hỏi nghiên cứu:

a Kinh nghiệm thực hiện NAMA ở các nước trên thế giới như thế nào?

b Bối cảnh thực tiễn và tiềm năng thực hiện NAMA tại Việt Nam như thế nào?

c Bằng cách nào thực hiện NAMA có hiệu quả và góp phần vào phát triển bền vững kinh tế - xã hội tại Việt Nam?

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá được tiềm năng thực hiện NAMA tại Việt Nam theo lĩnh vực trọng điểm;

- Xây dựng và đề xuất được khung tổ chức và cơ chế thực hiện NAMA ở Việt Nam

Trang 8

- Đề xuất được cơ cấu tổ chức và cơ chế thực hiện NAMA ở Việt Nam

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Luận văn phân tíchđược quan hệ giữa giảm phát thải khí nhà kính với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội bền vững theo định hướng kinh tế các bon thấp phù hợp với điều kiện tại Việt Nam

- Luận văn phân tích, đánh giá được tiềm năng giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực năng lượng và nông nghiệp, qua đó đề xuất được cơ cấu tổ chức và cơ chế thực hiện NAMA tại Việt Nam

6.Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:

Trong luận văn, cách tiếp cận tổng hợp và phân tích tài liệu sẽ được sử dụng để phân tích các bài học và kinh nghiệm quốc tế Từ đó, phân tích và đánh giá tình hình triển khai thực hiện các hành động giảm nhẹ biến đổikhí hậu và NAMA tại Việt Nam

để làm cơ sở đề xuất cơ cấu tổ chức và thực hiện NAMA

Phương pháp nghiên cứu:

 Phương pháp tổng hợp tài liệu;

 Phương pháp điều tra, khảo sát

 Phương pháp tham vấn chuyên gia

 Phương pháp phân tích định tính

 Phương pháp phân tích định lượng

 Phương pháp đánh giá phân lớp

Ngoài ra, các công trình nghiên cứu củacác tác giả trong và ngoài nước sẽ được chọn lọc và tham khảo

Trang 9

(i) Khái quátbối cảnh đàm phán vềBiến đổi khí hậu;

(ii)Giới thiệu về sự hình thành NAMA;

(iii)Tình hình thực hiện NAMA ở một số nước trên thế giới và tình hình xây dựng và thực hiện NAMA ở Việt nam;

(iv) Khái quát về các chính sách, chiến lược, văn bản pháp luật liên quan đến BĐKH ở Việt Nam

Chương 2:"Đánh giá tiềm năng thực hiện NAMA ở Việt Nam":

(i) Đánh giá tiềm năng giảm phát thải của của các lĩnh vực trọng điểm bao gồm năng lượng và nông nghiệp;

(ii) Đánh giá năng lực thực hiện NAMA của các bên liên quan theo định tính và định lượng

Chương 3: "Đề xuất cơ cấu tổ chức và cơ chế thực hiện NAMA tại Việt Nam" :

Đề xuất cơ cấu tổ chức, cơ chế thực hiện NAMA cho Việt Nam thông quanhững phân tích về kinh nghiệm quốc tế, những khó khăn, tồn tại khi thực hiện NAMA ở các chương trước và tình hình thực tiễn tại Việt Nam

Trang 10

Chương1: TỔNG QUAN

1.1.Bối cảnh quốc tế về đàm phán biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu và tác động củanó đã khiến cho cộng đồng quốc tế nói chung

và Việt Nam nói riêng ngày càng nhận thức được tầm quan trọng và nhu cầu cần chung sức xây dựng và thực hiện cam kết quốc tế có tính ràng buộc pháp lý để chống lại cuộc chiến với biến đổi khí hậu thông qua các cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu Tháng 6 năm 1992, Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (sau đây viết tắt là UNFCCC) được Hội nghị Thượng đỉnh về Trái đất và Môi trường họp tại Rio de Janero, Bra-xin thông qua và có hiệu lực vào năm 1994 Mục tiêu của Công ước là “đạt được sự ổn định các nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu Mức đócần phải đạt được trong một khung thời gian đủ để cho phép các hệ sinh thái thích nghi một cách tự nhiên với biến đổi khí hậu, bảo đảm rằng việc sản xuất lương thực không bị đe doạ và tạo khả năng cho sự phát triển kinh tế một cách bền vững”

Ngày 11 tháng 12 năm 1997, nhằm cụ thể hoá các mục tiêu giảm phát thải cũng như quy định rõ hơn các ràng buộc mang tính pháp lý đặc biệt là đối với các nước công nghiệp phát triển trong việc cắt giảm phát thải, Nghị định thư Kyoto (sau đây viết tắt là KP) được thông qua tại Kyoto, Nhật Bản và có hiệu lực vào ngày 16 tháng

02 năm 2005 với 184 nước phê chuẩn

Giai đoạn cam kết lần thứ nhất của KP đã kết thúc vào năm 2012 và giai đoạn cam kết thứ hai bắt đầu có hiệu lực từ năm 2013 và kết thúc vào năm 2020

Hiện nay, cộng đồng quốc tế đang đàm phán để xây dựng một khuôn khổ pháp

lý mới mang tính ràng buộc với tất cả các quốc gia Dự kiến thỏa thuận quốc tế mới này sẽ được thông qua tại Hội nghị lần thứ 21 các Bên tham gia UNFCCC tại Paris, Pháp, vào năm 2015 và có hiệu lực từ năm 2020

Hô ̣i nghi ̣ các Bên tham g ia Công ước khí hâ ̣u (sau đây viết tắt là COP ) và Hội nghị các Bên tham gia Nghị định thư Kyoto (sau đây viết tắt là CMP ) là Hội nghị thường niên của các Bên tham gia Công ước khí hâ ̣u và Nghi ̣ đi ̣nh thư Kyoto nhằm kiểm điểm, tổng kết tình hình thực hiện Công ước khí hậu và Nghị định thư Kyoto ; đồng thời thảo luâ ̣n , đưa ra các giải pháp hoa ̣t đô ̣ng nhằm thúc đẩy tiến trình thực

Trang 11

hiê ̣n các cam kết trong khuôn khổ Công ước khí hâ ̣u và Nghi ̣ đi ̣nh thư Kyoto trênphạm vi toàn cầu

Cùng với COP và CMP , Ban Bổ trơ ̣ về Tư vấn Khoa ho ̣c và Công nghê ̣ (SBSTA) và Ban Bổ trợ về Thực hiện (SBI) là hai cơ quan thường trực hoạt động trong khuôn khổ của Công ước khí hâ ̣u, chịu trách nhiệm đưa ra các ý kiến tư vấn cho các cuộc họp của COP và CMP Mỗi Ban có nhiê ̣m vu ̣ cu ̣ thể và theo thông lê ̣ được tổ chức ho ̣p ít nh ất 02 lần một năm Trong khuôn khổ COP và CMP cũng diễn ra các Khóa họp của Nhóm Công tác đặc biệt về các cam kết tiếp theo đối với các Bên thuô ̣c Phụ lục I của Nghị định thư Kyoto (AWG-KP) và Nhóm Công tác đặc biệt về hoạt

đô ̣ng hợp tác dài ha ̣n trong khuôn khổ Công ước khí hâ ̣u (AWG-LCA)

Mục tiêu của UNFCCC là nhằm ổn định nồng độ khí nhà kính (KNK) trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được trước những tác động của con người Công ước đã được cụ thể hoá bằng nghị định thư Kyoto với những quy định về tỉ lệ giảm phát thải đối với các quốc gia phát triển và các hình thức xử phạt nếu không tuân thủNghị định thư bắt buộc những quốc gia thành viên bằng mọi giá cần phải cắt giảm 5% lượng phát thải khí nhà kính so với mức phát thải tại thời điểm năm 1990 Đây thực sự là trách nhiệm nặng

nề đối với những quốc gia công nghiệp hóa Vì vậy, 3 cơ chế mềm dẻo đã được đưa ra nhằm giúp những nước này có thể đạt được mục tiêu, đồng thời mang lại sự phát triển bền vững cho những quốc gia đang phát triển Đó là cơ chế đồng thực hiện (Joint Implementation viết tắt là JI), cơ chế buôn bán quyền phát thải quốc tế (International Emission Trade viết tắt là IET) và cơ chế phát triển sạch (Clean Development Mechanism viết tắt là CDM) Trong đó cơ chế JI và IET chỉ là sự giao dịch giữa các quốc gia phát triển với nhau, còn cơ chế CDM thực sự là một cơ hội cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam tiến tới mục tiêu phát triển bền vững

CDM là một trong các cơ chế thương mại phát thải dựa trên thị trường chính thức của Công ước khí hậu và Nghị định Thư Kyoto nhằm khuyến khích các hoạt động giảm phát thải KNK tự nguyện thông qua việc thực hiện các dự án giảm phát thải KNK Tại Hội nghị COP16, các bên của Công ước khí hậu và Nghị định Thư đã thông qua Quyết định của COP, trong đó có nội dung thúc đẩy và tăng cường các hoạt động CDM trên toàn thế giới và coi đây là một trong những hoạt động hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu giảm phát thải KNK

Trang 12

COP17 tại Durban, Nam Phi, hơn 40 quốc gia đang phát triển đã trình bày đề xuất tới UNFCCC nhằm hạn chế lượng khí thải các-bon vào năm 2020 (cho tới tháng

10 năm 2012 là 45 quốc gia) Nhiều quốc gia khác vẫn đang trong quá trình xây dựng các mục tiêu để đệ trình cho UNFCCC Những đề nghị này được gọi là các hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia (nationally appropriate mitigation actions - NAMA) và có thể giúp các nước đang phát triển phát

triển theo hướng kinh tế các-bon thấp, tăng trưởng bền vững.(Trích báo cáo các Đoàn

công tác tham dự COP 19 của Bộ Tài nguyên và môi trường)

1.2 Khái quát về NAMA

NAMA(Nationally Apropriate Mitigation Action ) là một tập hợp các chính sách và hành động mà các nước đang phát triển có thể thực hiện và được xem như là một phần của cam kết giảm nhẹ phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính Nguyên tắc của UNFCCC công nhận rằng các nước có thể có các hành động khác nhau phù hợp với điềukiện quốc gia trên cơ sở công bằng và phù hợp với trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và khả năng tương ứng của từng quốc gia Các nguyên tắc cơ bản của NAMA cũng nhấn mạnh việc hỗ trợ tài chính từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển nhằm thực hiện các hành động giảm nhẹ phát thải thải khí nhà kính Thuật ngữ NAMA lần đầu tiên được sử dụng trong Kế hoạch hành động Bali (năm 2007) và được coi là một phần của Lộ trình Bali tại Hô ̣i nghi ̣ các Bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hâ ̣u (COP lần thứ 13) và Hội nghị các Bên tham gia Nghị định thư Kyoto (CMP lần thứ 3) ở Bali, Indonesia vào tháng

12 năm 2007 NAMA sau đó cũng được đề cập tại Hiệp ước Copenhagen tại COP 15/CMP5 trong tháng 12 năm 2009 tại Copenhagen, Đan Mạch

Kế hoạch hành động Bali bao gồm bốn hạng mục chính: (i) giảm nhẹ, (ii) thích ứng, (iii) công nghệ, và (iv) tài chính NAMA là một phần quan trọng của hạng mục giảm nhẹ Kế hoạch hành động Bali kêu gọi các cuộc thảo luận nhằm tăng cường giảm nhẹ phát thải khí nhà kính tại các nước đang phát triển, bao gồm các vấn đề sau:

Đo lường, báo cáo và thẩm định (MRV)cấp quốc gia và quốc tế nhằm gia tăng các biện pháp thích hợp trong giảm nhẹ phát thải khí nhà kính tại các nước đang phát triển và các cam kết hành động của các nước phát triển;

Trang 13

Hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia của các nước đang phát triển thông qua sự hỗ trợ tài chính, công nghệ và tăng cường năng lực trên cơ sở có thể đo lường, báo cáo và thẩm định (MRV) được

Hô ̣i nghi ̣ các Bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí

hâ ̣u (COP lần thứ 15) và Hội nghị các Bên tham gia Nghị định thư Kyoto (CMP lần thứ 5) tổ chức vào tháng 12 năm 2009 tại Copenhagen, Đan Mạch đã không đưa ra được các thỏa thuận toàn cầu được đề ra trong Lộ trình Bali Hiệp ước Copenhagen, tuy nhiên, đã giữ lại các khái niệm về NAMA, nhưng trong một định nghĩa hẹp hơn khi chỉ áp dụng cho các quốc gia không thuộc Phụ lục 1 Do đó, NAMA, lẽ ra được

áp dụng cho tất cả các quốc gia đã trở thành hành động chỉ riêng cho các nước đang phát triển Hiệp ước Copenhangen cũng không đưa ra được các hình thức mà các nước đang phát triển cần thực hiện

NAMA tại các nước đang phát triển được coi là các hành động ở cấp quốc gia phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia dựa trên cơ sở công bằng và phù hợp với trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và tùy theo khả năng tương ứng của từng quốc gia Các nước đang phát triển sẽ thực hiện NAMA phụ thuộc vào việc thực hiện

có hiệu quả các cam kết của các nước phát triển trong việc cung cấp các nguồn tài chính và chuyển giao công nghệ Tuy nhiên, tranh cãi quanh vấn đề này còn nhiều tồn tại do ưu tiên của các nước đang phát triển là phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo

COP16 tại Cancun, Mexico, các bên một lần nữa nhấn mạnh "sự cần thiết phải cắt giảm mạnh lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu và cam kết sớm, khẩn cấp nhằm đẩy nhanh và tăng cường thực hiện Công ước của tất cả các bên, trên cơ

sở công bằng và phù hợp với trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và tùy theo khả năng của mỗi nước", và"đồng ý rằng các bên là các nước đang phát triển sẽ đưa ra các hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính quốc gia phù hợp trong bối cảnh phát triển bền vững, hỗ trợ tài chính, công nghệ và xây dựng năng lực, nhằm đạt được một lượng giảm phát thải so sánh với lượng phát thải ở kịch bản thông thường (BAU) vào năm 2020” (UFCCC/CP/2010/7/Điều1/khổ 48)

* Các loại hình NAMA:

CóthểphânloạiNAMAdựatrêncáccáchtiếpcậnkhác

nhau.QuanghiêncứucáctàiliệucủaUNFCCC,NAMAcóthể đượcchialàmbốnloại:

 Liênquanđếnmụctiêugiảmphátthải;

Trang 14

phầnlàmgiảmnhẹKNKtrongthựctế (Nguồn: Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và

Biến đổi khí hậu)

1.3 Kinh nghiệm thực hiện NAMA trên thế giới

Hiện nay, NAMA đang chuyển dần từ giai đoạn hình thành khái niệm sang giai đoạn hành động cụ thể Theo UNFCCC, tính đến cuối năm 2013, trên thế giới có 40 NAMA đã được đăng ký Nếu xét đến cả các NAMA đang được xây dựng thì hiện nay có 88 NAMA và 33 nghiên cứu khả thi của 34 quốc gia trên thế giới Điều này cho thấy một sự gia tăng đáng kể về số lượng các NAMA so với số lượng được trình bày trong các Báo cáo về tình trạng NAMA giữa năm 2013 (trong đó xác định 66 NAMA) Hình 1.1cho thấy sự phân bố của NAMAtheo các giai đoạn phát triểnvà cung cấp thông tin, có bao nhiêu NAMA đã được nộp để đăng ký

Hiện nay, hầu hết các NAMA trên thế giới đang ở giai đoạn thiết kế Khoảng một nửa trong số đó đã được đăng ký Đối với những NAMA đã xây dựng đề xuất và đang lên kế hoạch, chỉ có 1 trong 9 NAMA đã được đăng ký (Chương trình năng lượng tái tạo của Chi-lê) Việc đăng ký có vẻ phổ biến hơn đối với các NAMA đang ở giai đoạn xây dựng Điều này cũng phần nào phản ánh nhu cầu về hỗ trợ chuẩn bị và thực hiện các NAMA của các nước đang phát triển

Trang 15

Hình 1.1 Số lượng các NAMA tính đến cuối năm 2013

(Nguồn: Swati Agarwal et al 2013, Annual Status Report on Nationally Appropriate Mitigation Actions.)

Như những năm trước, Mỹ Latinh vẫn là khu vực với hầu hết các nghiên cứu khả thi và NAMA được phát triển vớihơn 50% NAMA hiện đang được xây dựng và thực hiện Một phần tư các sáng kiến NAMA đang được xây dựng ở Trung Đông và châu Phi, tiếp theo là châu Âu và châu Á (Hình 1 2)

Từ Hình 1.2, có thể thấy rằng sự tham gia của các nước châu Phi cũng như một

số nước kém phát triển (LDC)trong việc xây dựng và thực hiện NAMA là một điều đặc biệt đáng chú ý Điều này cho thấy NAMA là một cơ hội hấp dẫn đối với nhiều quốc gia Sự linh hoạt trong thiết kế và xây dựng NAMA có thể mang lại sự phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia Con số tương đối cao về số lượng NAMA ở châu Âu là do các NAMA được đăng ký bởi Serbia, với khoảng 12 NAMA được đăng ký vào năm 2013

Trang 16

Hình 1.2 Tình hình phát triển NAMA theo khu vực

(Nguồn: Swati Agarwal et al 2013, Annual Status Report on Nationally Appropriate Mitigation Actions)

Tính đến cuối năm 2013, NAMA được xây dựng và phát triển cho tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội Điều này cho thấy không có thiên lệch về xu hướng xây dựng và thực hiện NAMA như những năm trước đây (Hình 1.3) Ngành năng lượng chiếm tỉ lệ về số lượng các NAMA cao nhất hiện nay với 36%, chủ yếu là liên quan đến năng lượng tái tạo Ngành giao thông đứng thứ hai với 19%, tiếp theo là lĩnh vực xây dựng với 14% Tỉ lệ tương đối cao về số lượng NAMA trong lĩnh vực giao thông

và tòa nhà xây dựng là do trước đây những lĩnh vực này chưa được xem xét thực hiện các dự án CDM Điều này, một lần nữa đã thể hiện được sự linh hoạt trong việc xây dựng và thực hiện NAMA vốn được coi là một ưu thế và cải tiến hơn so với CDM Tuy nhiên, các NAMA trong nông nghiệp và lâm nghiệp vẫn còn ít, chỉ mới có một vài hoạt động tính đến hiện nay

Trang 17

Hình 1.3 Tỉ lệ về số lượng các NAMA theo ngành

(Nguồn: Swati Agarwal et al 2013, Annual Status Report on Nationally Appropriate Mitigation Actions)

Hình 1.4 Tỉ lệ các NAMA theo loại hình hoạt động

(Nguồn: Swati Agarwal et al 2013, Annual Status Report on Nationally Appropriate Mitigation Actions)

Các NAMA đang được xây dựng và thực hiện rất đa dạng về loại hình hoạt động.Cơ sở dữ liệu NAMA phân loại các NAMA "chiến lược/ kế hoạch", "chính

Trang 18

sách/chương trình" và các dự án Các NAMA về chính sách và chiến lược có một phạm vi rộng hơn so với các dự án NAMA, cả về mặt địa lý và thời gian, và có thể bao gồm các mục tiêu dài hạn dẫn đến tác động chuyển đổi Trong tất cả NAMA đang được xây dựng và thực hiện trên thế giới (Hình 1.4), một phần ba là những NAMA về chính sách và chương trình Các NAMA về chiến lược và kế hoạch chiếm khoảng 26%, và 15% số lượng các dự án NAMA; 26% còn lại là NAMA theo các loại hình khác

Kết quả thống kê này phần nào cho thấy cho thấy xu hướng trong việc xây dựng

và thực hiện NAMA.Đa số các NAMA đều nhắm đến mục đích cung cấp các giải pháp toàn diện có thể mang lại những tác động chuyển đổi và giảm phát thải khí nhà kính trong dài hạn Bên cạnh đó, một tỉ lệ lớn các NAMAhiện vẫn chưa xác định được loại hình hoạt động cho thấy rằng phạm vi của nhiều NAMA vẫn chưa rõ ràng

và mức độ chi tiết được cung cấp khá hạn chế

Dưới đây là một số ví dụ cụ thể về các NAMA trên thế giới

(Nguồn: Viện Khoa học khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu)

Lĩnh vực chất thải rắn

Bangladesh

Thủ đô Dhaka của Bangladesh là một thành phố đông dân, dự kiến đến năm

2015 thành phố sẽ thải ra hơn 5000 tấn rác thải mỗi ngày, tức là tăng 47% so với mức phát thải tại năm cơ sở 2004 là 3400 tấn mỗi ngày Tốc độ tăng dân số nhanh cùng với thu nhập tăng đã làm gia tăng lượng rác thải, vượt quá khả năng quản lý của chính quyền thành phố Lượng rác thải gia tăng đã gây ra một số tác động tiêu cực đến thành phố như bệnh tật, ô nhiễm nước ngầm , ô nhiễm không khí, và đặc biệt là phát thải ra một lượng lớn khí thải nhà kính Đến năm 2020 lượng phát thải khí nhà kính từ lĩnh vực rác thải ước tính tăng khoảng 22%, lên đến con số 20 triệu tấn Với

hỗ trợ về tài chính từ Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), năm 2005 Dhaka đã xây dựng Quy hoạch tổng thế quản lý chất thải rắn với mục tiêu cải cách hệ thống quản lý chất thải rắn của thành phố đến năm 2015 Quy hoạch đã tìm cách xây dựng một chương trình quản lý chất thải có sự tham gia của các bên, tăng cường năng lực cho cơ quan quản lý trong việc thu gom và vận chuyển rác thải, hiện đại hóa và mở

Trang 19

rộng các khu vực xử lý rác thải, đồng thời tăng cường công tác quản lý hành chính, tài chính

Colombia

Đề xuất NAMA của Colombia đối với lĩnh vực chất thải rắn nhằm tạo ra một môi trường được cải thiện cho đầu tư vào các dự án quản lý chất thải, chuyển chất thải từ xử lý chôn lấp sang hướng sử dụng hiệu quả hơn Hạn chế phát thải khí metan

từ các bãi rác cùng lúc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và cải thiện điều kiện sống của người dân

Đề xuất NAMA kết hợp thay đổi chính sách của Chính phủ, thay đổi cơ chế tài chính, nâng cao khả năng đầu tư trong quản lý chất thải rắn Chính phủ Colombia đề xuất cải cách những quy định về thuế chất thải, các hoạt động như tái chế, ủ phân hoặc biến chất thải thành các nguồn năng lượng khác có thể cạnh tranh về kinh tế với

xử lý bãi rác

Cơ chế tài chính được đề xuất ưu tiên sử dụng thế mạnh sẵn có trong nước với các công nghệ quản lý chất thải tích hợp hiện có Chính phủ đề xuất việc tạo ra một quỹ đầu tư vào các NAMA quay vòng để hỗ trợ các nhà đầu tư chưa có thông tin đầy

đủ về công nghệ và quy trình xử lý chất thải Quỹ đầu tư sẽ góp phần vốn với chủ doanh nghiệp trên cơ sở ưu đãi để giúp xây dựng các thiết bị xử lý chất thải ở cấp thành phố Số tiền thu được ngoài các chi phí bắt buộc sẽ vẫn ở trong quỹ để sẵn sàng

hỗ trợ cho các dự án trong tương lai Theo thời gian, sự đóng góp từ quỹ đầu tư NAMA sẽ giảm khi các nhà đầu tư trở nên am hiểu về công nghệ xử lý chất thải, những hoạt động có liên quan và những rủi ro tài chính, với mục tiêu cuối cùng của việc không cần hỗ trợ ưu đãi cho các dự án quản lý chất thải tích hợp

Lĩnh vực năng lượng

Mexico

Mexico đã ban hành các bộ tiêu chuẩn xây dựng các tòa nhà thương mại, tuy nhiên mức độ bắt buộc của bộ tiêu chuẩn này chưa cao, khả năng giảm phát thải KNK tức thời của các biện pháp cần thiết trong dài hạn cũng không cao Đề xuất NAMA của Mexico nhằm khuyến khích khu vực tư nhân tự nguyện và nâng cao nhận thức về cơ hội thị trường đối với các biện pháp sử dụng năng lượng hiệu quả trong

Trang 20

lĩnh vực xây dựng hơn là dựa trên các quy định luật pháp Sau đây là một số ví dụ về các NAMA cho lĩnh vực xây dựng:

1 Chuẩn bị nghiên cứu xác định các biện pháp chi phí thấp – hiệu quả cao trong giảm phát thải khí nhà kính cho các tòa nhà xây mới;

2 Xây dựng và thực hiện hệ thống tài chính ngân hàng nhà nước nhằm hỗ trợ tài chính cho các chủ đầu tư dự án xây dựng trên cơ sở giảm phát thải khí nhà kính và khuyến khích nhân rộng, phổ biến công nghệ;

3 Nâng cao nhận thức với các bên liên quan nhấn mạnh việc thực hiện các biện pháp thực hiện sử dụng năng lượng hiệu quả và lợi ích mang lại cho các nhà cung cấp công nghệ, kiến trúc sư, công ty xây dựng và cộng đồng dân cư…

Chi-lê

Là quốc gia với nguồn tài nguyên nhiên liệu hóa thạch khiêm tốn, Chi-lê đã nhận danh hiệu là một trong những quốc gia sử dụng năng lượng hiệu quả nhất Châu

Mỹ Latinh Trong năm 2005, nhằm ứng phó với việc thiếu khí đốt tự nhiên nhập khẩu

và hạn hán, Chi-lê đã xác định lại chiến lược năng lượng của mình, tập trung vào sử dụng năng lượng hiệu quả và coi đây là ưu tiên quốc gia Xây dựng Chương trình quốc gia sử dụng năng lượng hiệu quả, kể từ đó, tầm quan trọng của hiệu quả năng lượng ở Chi-lê ngày càng lớn, thể hiện trong ngân sách liên bang Từ 2006 đến 2009, ngân sách hàng năm Chương trình hiệu quả năng lượng quốc gia tăng từ 1 triệu USD đến hơn 34 triệu USD Chi-lê cải cách khuôn khổ thể chế cho việc sử dụng năng lượng hiệu quả trong thập kỷ qua

Tháng 11 năm 2010, Chi-lê đã thành lập Cơ quan Năng lượng hiệu quả nhằm thực hiện các chính sách và phổ biến áp dụng các sáng kiến sử dụng năng lượng hiệu quả Cơ quan Năng lượng hiệu quả của Chi-lê cấu trúc như một tổ chức độc lập phi lợi nhuận, dựa trên các nguồn lực từ công chúng cũng như các khu vực tư nhân để hỗ trợ các khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững của Chi-lê Cơ quan này đóng vai trò như một tổ chức công-tư phối hợp Cơ quan này cũng phối hợp

và thông báo cho các hành động của các Bên liên quan tại địa phương, trên phạm

vi quốc gia và toàn cầu

Trong năm 2012, Chi-lê đã coi việc sử dụng năng lượng là nội dung đầu tiên trong Chiến lược năng lượng quốc gia giai đoạn 2012 đến 2020, trong đó, đã đặt mục

Trang 21

tiêu là giảm 12% nhu cầu năng lượng năm 2020 thông qua sử dụng năng lượng hiệu quả hơn Một loạt các biện pháp sử dụng năng lượng hiệu quả được Chi-lê áp dụng bao gồm: Tiêu chuẩn và chương trình dán nhãn sử dụng năng lượng hiệu quả; Phổ biến việc sử dụng bóng đèn compact; Hỗ trợ xe điện; Đầu tư vào sử dụng năng lượng hiệu quả; Hỗ trợ tín dụng cho việc sử dụng năng lượng hiệu quả

Các quyết định cho vay chủ yếu dựa vào giá trị của tài sản đảm bảo (bảng cân đối kế toán tài chính) hơn là dựa trên dòng tiền của dự án (tài chính dự án), điều này

đã cản trở khả năng tiếp cận tín dụng của các công ty cung cấp năng lượng Năm

2004, Trung Quốc đã nhờ Tổng công ty Tài chính quốc tế giúp thiết kế một sáng kiến tài chính dựa vào khu vực tư nhân nhằm khuyến khích sự đầu tư của khu vực tư nhân vào các hoạt động sử dụng năng lượng hiệu quả Kết quả là Chương trình Tài chính cho Sử dụng năng lượng hiệu quả của Trung Quốc (CHUEE) đã được xây dựng Đây là một cơ chế chia sẻ rủi ro, có nghĩa là để tăng đầu tư tư nhân vào các

dự án sử dụng năng lượng hiệu quả, CHUEE đặt ra mục tiêu ban đầu là giảm lượng phát thải 8,6 triệu tấn CO2 mỗi năm trước năm 2012 theo kịch bản đường

Trang 22

cơ sở, và sau này tăng lên đến 13,6 triệu tấn CO2 mỗi năm cuối của giai đoạn thứ hai trong năm 2015

Mông Cổ

Việc xây dựng NAMA cho lĩnh vực sản xuất điện năng ở Mông Cổ đã chỉ ra một số bài học kinh nghiệm sau đây:

 Việc tính toán lượng phát thải cho kịch bản BAU sử dụng dữ liệu hoạt động

từ các cơ sở cung cấp năng lượng chính và dựa trên chỉ tiêu thống kê năng lượng 2006-2011 và Kế hoạch phát triển ngành năng lượngcập nhật của Mông Cổ Tuy nhiên, việc tính toán lượng phát thải theo kịch bản BAU thường bao gồm một mức độ không chắc chắn nhất định, ví dụ việc xây dựng các nhà máy nhiệt điện có thể bị chậm so với kế hoạch, hay là lượng điện nhập khẩu từ Trung Quốc và Nga trong việc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong tương lai cũng sẽ ảnh hưởng đến kết quả tính toán Phát thải theo kịch bản BAU là phi tuyến tính, do đó cách sử dụng phương pháp tiếp cận từ dưới lên để tính toán lượng phát thải theo kịch bản BAU cho ngành năng lượng sẽ trở nên khó khăn Sự không chắc chắn trong kịch bản BAU là khá cao, do

đó có thể kết hợp các dự án giảm nhẹ khí nhà kính như là các giải pháp trong một NAMA Tác động của hiệu ứng NAMA có thể được nhận biết rõ hơn bằng cách đánh giá các mức giảm phát thải tiềm năng hơn là đánh giá lượng khí thải thực tế

 Một bài học quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện NAMA là tích hợp các chương trình này vào trong Chiến lược phát triển phát thải thấp (LEDS) hoặc các chiến lược quốc gia có nội dung tương tự Việc tìm kiếm các dự án đã được lên kế hoạch với tiềm năng kinh doanh và tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính lớn là một thành phần không thể thiếu trong việc xây dựng NAMA Ngoài ra, các lợi ích về kinh

tế và tăng trưởng là đặc biệt quan trọng trong việc lựa chọn các dự án NAMA khả thi

 Việc sắp xếp tổ chức thực hiện là rất quan trọng trong quá trình xây dựng các kịch bản BAU và NAMA Công việc này đòi hỏi dữ liệu và chiến lược cần phải được xem xét bởi các Bộ, ngành liên quan trong một lĩnh vực cụ thể

Các đồng lợi ích khác về môi trường như việc giảm ô nhiễm thông qua một

dự án NAMA cũng là một yếu tố rất quan trọng Ví dụ, các nước đang phát triển

ưu tiên lợi ích về giảm ô nhiễm môi trường hơn với lợi ích về giảm phát thải khí

Trang 23

nhà kính Trong trường hợp đó, đồng lợiích này có thể được xem là một tiêu chí quan trọng để lựa chọn NAMA

Lĩnh vực giao thông

Mexico

Việc áp dụng các biện pháp tránh, thay đổi và cải thiện nhu cầu năng lượng và hiệu quả năng lượng đối với hoạt động vận tải hàng hóa và vận tải hành khách có tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính đáng kể Các tính toán sơ bộ nhằm đánh giá đề xuất NAMA vận chuyển hàng hóa của Mexico cho thấy tiềm năng giảm tích lũy lên tới 290 triệu tấn CO2vào năm 2035 Phân tích tài chính thực hiện trong quá trình phát triển NAMA cũng chỉ ra rằng việc thực hiện các hoạt động giảm phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực vận tải hàng hóa có thể tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vận tải và được đánh giá là có thể mang lại lợi nhuận cao

Uỷ ban Liên bộ hỗ trợ sự phát triển của NAMA giao thông ở Mexico, mặc dù

cả ba NAMA được phát triển theo cách tiếp cận "từ dưới lên" vớiý tưởng ban đầu

là xây dựng NAMA vận chuyển hàng hóa và NAMA tối ưu hóa tuyến giao thông củaBộ Kinh tế (SE).Trong đó, hỗ trợ tài chính từ các nguồn quốc tế được cung cấp cho các nhà phát triển để xây dựng các khái niệm dự án

Một trong những rủi ro của việc lựa chọn các giải pháp NAMA là đôi khi các lợi ích ngắn hạn lại được đánh giá cao hơn các lợi ích dài hạn Ví dụ như trong trường hợp NAMA vận tải của Mexico, giải pháp công nghệ được đánh giá mang lại lợi ích trong dài hạn nhưng có chi phí đắt nhất và mang lại lợi ích hạn chế về ngắn hạn đã không được lựa chọn

Chi phí cho các hoạt động giảm nhẹ không chỉ có tác động đến các hợp phần của một NAMA, mà còn trên các phân ngành mà nó nhằm mục đích giảm lượng phát thải Tại Mexico, xe cam-nhông (khai thác vận chuyển hàng hóa quy mô nhỏ) đóng góp một lượng lớn phát thải khí nhà kính.Tuy nhiên, do mức độ phức tạp nên những cải thiện hoạt động của loại xe này đồng nghĩa với chi phí tài chính cao hơn đáng kể NAMA vận chuyển hàng hóa ở Mê-xi-cô chủ yếu tập trung vào giảm phát thải khí nhà kính từ các hoạt động vận chuyển hàng hóa quy mô trung bình và lớn

Khó khăn và thách thức trong việc thực hiệncác hoạt động MRV: Các đánh giá

về tác động thay đổi hành vi có thể đặc biệt khó khăn Ví dụ, hành vi lái xe tiết

Trang 24

kiệm nhiên liệu được đề ra thực hiện trong NAMA vận chuyển hàng hóa sẽ phụ thuộc rất nhiều vào hành vi của lái xe, mức độ quan tâm và khả năng tiếp thu của từng tài xế sau quá trình nâng cao năng lực Do đó,để thực hiện quá trình kiểm tra

và giám sát yếu tố này, các nhà điều hành vận tải hàng hóa có thể sử dụng công nghệ GPS(hệ thống định vị toàn cầu) GPS có thể theo dõi hiệu suất xe bao gồm cả tiêu thụ nhiên liệu, tốc độ trung bình và thời gian chạy không tải.Chương trình NAMA vận tải của Mexico sẽ cung cấp cho các nhà khai thác vận chuyển hàng hóa khoản trợ cấp để trang trải một nửa chi phí của công nghệ này Cài đặt thiết bị này, lịch trình vận hành thông thường của một chiếc xe trong vòng 3 tháng sẽ được ghi lại để sử dụng làm kịch bản cơ sở BAU

Hỗ trợ quốc tế: Các nhà tài trợ quốc tế nhiều khi cung cấp hỗ trợ tài chính dựa trên những cân nhắc chính trị hơn là trên thành quả của các hoạt động đang tìm kiếm

hỗ trợ Những kinh nghiệm có liên quan chứng minh rằng hỗ trợ quốc tế có thể được phân phối hiệu quả thông qua sự hiện diện của một trung gian độc lập trong quá trình lựa chọn dự án

Lào

Lào chủ yếu là thực hiện các dự án giảm nhẹ khí nhà kính thông qua các dự án CDM trong lĩnh vực năng lượng và qua đó góp phần giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu và thúc đẩy các sáng kiếngiảm nhẹ phát thải khí nhà kính, cũng như để chuẩn bị đệ trình các NAMA cho Ban Thư ký UNFCCC.Dự án hợp tác nâng cao năng lực xây dựng và phát triển NAMAtheo hướng có thể giám sát, báo cáo và thẩm định được giữa Lào và Nhật Bảnđược thực hiện từ tháng 9 năm 2012 cho đến tháng 3 năm 2013 Các kinh nghiệm trong việc xây dựng NAMA của Làođược đánh giá thông qua dự án đó

Kinh nghiệm phát triển NAMA cung cấp kết quả hữu ích có thể được sử dụng trong các bước tiếp theo, cụ thể như sau:

 Xây dựng giá trị đặc trưng quốc gia về hiệu nhiên liệu cho các loại phương tiện giao thông sẽ giúp ích cho việc lượng hóa mức giảm phát thải từ các giải pháp của NAMA trong lĩnh vực giaothông Ngoài ra, cần thực hiện thêm các công tác tăng cường năng lực về thu thập số liệu

Trang 25

 Phát triển các giải pháp khác cho NAMA như: Sử dụng nhiên liệu thay thế (nhiên liệu sinh học), quy định về chất lượng nhiên liệu, phát triển xe buýt công cộng và giải pháp cho các bãi đỗ xe Đây được coi là những giải pháp

ưu tiên của Nhóm công tác kỹ thuật

 Xem xét các phương án tài chính có thể được sử dụng trong việc thực hiện NAMA

Lĩnh vực nông nghiệp

Mặc dù là một quốc gia chậm phát triển nhưng Campuchia với vai trò thành viên củaUNFCCCcũngđã tích cực tham giacác nỗ lực toàn cầu nhằm giảm phát thải khí nhà kính, dựa trên các nguyên tắc của UNFCCC Campuchia đã hoạt động tích cực trong việc thực hiện dự án giảm nhẹ khí nhà kính thông qua các chương trình khác nhau bao gồm CDM và thị trường tự nguyện Tuy nhiên, tính đến thời điểm này, Campuchia vẫn chưa đệ trình danh sách các NAMA lên Ban Thư ký UNFCCC Campuchia cũng nỗ lực triển khai sáng kiến "Dự án hợp tác tăng cường năng lực cho việc xây dựng và phát triển NAMAtheo hướng có thể giám sát, báo cáo và thẩm định được giữa Campuchia và Nhật Bản" do Bộ Môi trường Nhật Bản (MOEJ) hỗ trợ thực hiện Tuy nhiên, sau khi thực hiện thí điểm xây dựng đề xuất NAMA về sử dụng khí sinh học (biogas) trong lĩnh vực nông nghiệp với sự hỗ trợ của các chuyên gia Nhật Bản, các nhóm chuyên gia Campuchia vẫn chưa nắm hết được quá trình phát triển NAMA, bao gồm cả phương pháp và đánh giá công nghệ được sử dụng Do đó, Nhóm công tác NAMA Campuchia đang xem xét các hoạt động sau đây là các bước tiếp theo để thực hiện:

 Thành lập một nhóm công tác quốc gia chính thức về NAMA Điều này sẽ liên quan đến việc tập trung vào xem xét vai trò hiện tại của các cơ quan hiện có, chẳng hạn như Ủy ban Quốc gia biến đổi khí hậu và nhóm tư vấn kỹ thuật của Ủy ban này, Cục Biến đổi khí hậu và các tổ chức khác được thiết lập như Uỷ ban Hỗn hợp về

Trang 26

 Phát triển các công cụ và hướng dẫn thực hiện NAMA và MRV

 Chia sẻ thông tin với các nước khác trong khu vực về kinh nghiệm phát triển NAMA của mình

Kinh nghiệm sử dụng công cụ thị trường nhằm thúc đẩy mục tiêu giảm phát thải KNK

Từ cách đây nhiều năm, nhiều nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh

tế (Organisation for Economic Co-operation and Development) (OECD), chủ yếu là các nước có thu nhập cao, có nền kinh tế thị trường phát triển nhất thế giới, các nước này đã đánh thuế thẳng vào nhiên liệu chạy động cơ, ví dụ như tại Anh, đã đánh thuế lên các xe chạy nhiên liệu hydrocacbon như xăng và dầu diesel Việc đánh thuế trực tiếp coi như thông điệp rất rõ ràng tới người tiêu dùng, qua đó nâng cao ý thức của người dân về việc sử dụng và tiêu thụ các sản phẩm sạch, thân thiện môi trường và ít phát thải KNK Đây cũng có thể coi là NAMA khả thi đáng

cơ hội để thúc đẩy hợp tác toàn cầu, đa phương, song phương, thông qua đó các nuớc đang phát triển như Việt Nam có thể tiếp cận các cơ chế mới đang hình thành để tiếp nhận hỗ trợ tài chính và chuyển giao công nghệ từ các nuớc phát triển

Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước ở trên cho thấy đa phần các nước đều lựa chọn thực hiện NAMA nhằm hướng đến mục đích sử dụng năng lượng một cách hiệu quả và hợp lý trong việc xây dựng các tòa nhà như ở Mexico hay trong lĩnh vực giao thông vận tải như ở Mexico và Lào, lĩnh vực chất thải như ở Băng-la-đét và Comlombia, qua đó giảm việc tiêu hao và tiết kiệm được năng lượng góp phần giảm thiểu phát thải KNK Chính phủ Việt Nam cũng như các nước như Chi Lê và Trung Quốc đều nhấn mạnh hiệu quả sử dụng năng lượng như một ưu tiên hàng đầu cho đất nước Hiện nay Việt Nam cũng đã có những chiến lược, chương trình, kế hoạch hành động cụ thể như các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc

Trang 27

gia về BĐKH, phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, phê duyệt Đề án quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, quản lý hoạt động kinh doanh tín chỉ các-bon ra thị trường thế giới; phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến 2050 và Chương trình mục tiêu quốc gia

về sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng Tuy nhiên để có thể triển khai và sẵn sàng thực hiện NAMA trên thực tế thì kinh nghiệm từ các nước đi trước như Chi Lê

và Trung Quốc cho thấy việc cải cách tổ chức thể chế cho việc sử dụng năng lượng hiệu quả nói riêng và NAMA nói chung là vô cùng cần thiết Việc thiết lập một cơ quan chuyên trách, hay một nhóm công tác quốc gia có chuyên môn và hiểu biết về NAMA, có nhiệm vụ điều phối và hướng dẫn các hoạt động của các bên liên quan tại địa phương, trên phạm vi quốc gia và toàn cầu cũng hết sức quan trọng, quyết định đến tính khả thi và thành công của việc thực hiện NAMA Cơ quan này còn có chức năng huy động được nguồn lực từ công chúng hay vận hành như một cơ quan tham vấn, hướng dẫn cho các bên liên quan và tham mưu cho những nhà hoạch định chính sách của Chính phủ Kinh nghiệm từ Mông Cổ cho thấy việc lồng ghép, tích hợp NAMA vào các kế hoạch, chiến lược, chương trình hiện có của quốc gia cũng là một việc làm cấp thiết, vì chúng ta cần phải phát huy dựa trên những năng lực sẵn có, đảm bảo vừa đáp ứng được những yêu cầu quốc tế nhưng vẫn phù hợp với bối cảnh cụ thể cũng như nguồn lực sẵn có của Việt Nam

Một vấn đề rất đang quan tâm bên cạnh vấn đề sắp xếp thể chế và chính sách,

đó là nguồn lực tài chính Kinh nghiệm của Colombia chỉ ra tầm quan trọng của việc cần phải thay đổi hay củng cố cơ chế tài chính, nâng cao khả năng đầu tư trong quản

lý chất thải rắn như điều chỉnh các quy định về thuế, hay tăng khả năng cạnh tranh của các hoạt động xử lý chất thải khác nhau Chính phủ Colombia đã đề xuất việc tạo

ra một quỹ đầu tư NAMA quay vòng, việc làm này có thể khắc phục được khó khăn hiện tại của hầu hết các nước khi các lợi ích ngắn hạn lại được đánh giá cao hơn các lợi ích dài hạn do chi phí đầu tư ban đầu vào các giải pháp công nghệ là quá lớn Vì thế, muốn đẩy mạnh giảm nhẹ phát thải khí nhà kính cần chú trọng đầu tư vào khoa học công nghệ và tạo ra những cơ chế chính sách khuyến khích các thành phần kinh

tế trong và ngoài nước cùng tham gia Là một nước đang phát triển, Việt Nam cần nhanh chóng đi theo cách tiếp cận này, đồng thời tranh thủ thu hút các nguồn lực tài

Trang 28

chính và công nghệ thông qua các hoạt động NAMAđang dần hình thành trong các khuôn khổ chính sách quốc tế về biến đổi khí hậu

1.4 Tình hình thực hiện các hành động giảm nhẹ biến đổi khí hậu tại Việt Nam

1.4.1 Thể chế chính sách, Chương trình của Chính phủ về biến đổi khí hậu

Trước những hậu quả nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, Việt Nam đã và đang tích cực tham gia vào cuộc chiến cùng cộng đồng quốc tế chống lại các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu toàn cầu ở cả hai khía cạnh thích ứng và giảm nhẹ

Trong lĩnh vực giảm nhẹ, mặc dù hiện tại là một nước có mức phát thải khí nhà kính bình quân trên đầu người thấp, phát thải trong nước dự kiến sẽ tăng lên rất nhanh trong những năm tới theo một kịch bản là mọi việc vẫn diễn ra bình thường như hiện nay Chính vì vậy, Việt Nam đã có những chủ trương, đề án liên quan tới giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong nhiều ngành, lĩnh vực

Chính phủ Việt Nam đã sớm ban hành một số chính sách cụ thể nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu và giảmnhẹ phát thải khí nhà kính Tháng 12 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (NTP-RCC) tại Quyết định số158/2008/QĐ-TTg.NTP-RCC đưa

ra lộ trình bước đầu để thích ứng và giảm nhẹ, trong đó có quy định Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan đầu mối đồng thời nêu rõ trách nhiệm của các bên liên quan chính

Trong khuôn khổ NTP-RCC, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm đối với các vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, bao gồm cả lâm nghiệp Các hành động chính trong lâm nghiệp đã được đề cập trong Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu trong nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn tới năm 2050

Tháng 12 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu Chiến lược này nhằm mục đích nâng cao năng lực triển khai các biện pháp song song để thích ứng với các tác động của biến đổi khí hậu và giảmnhẹ phát thải khí nhà kính, đảm bảo an toàn và bảo vệ tài sản của nhân dân Để

Trang 29

thực hiện chiến lược này, có 10 chương trình, đề án ưu tiên giai đoạn 2011-2015, bao gồm cả NTP-RCC

Năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt hai văn bản mang tính pháp lý quan trọng, đó là Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh (Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012) và Đề án quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính và quản lý các hoạt động kinh doanh tín chỉ các bon ra thị trường thế giới (Quyết định số 1775/QĐ-TTg ngày 21/11/2012)

Tháng 12 năm 2011, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quyết định 3119/QĐ-BNN-KHCN về “Phê duyệt Đề án giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020” Quyết định này dựa trên NTP-RCC và Kế hoạch hành động của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thônnhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, với mục tiêu đến năm 2020 giảm 20% lượng khí nhà kính trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn (tương đương với 18,87 triệu tấn khí thải CO2); đồng thời đảm bảo mục tiêu tăng trưởng của nông nghiệp và phát triển nông thôn, giảm tỷ lệ nghèo đói

Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ươngĐảng Cộng sản Việt Nam về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường;

Quyết định số 1775/QĐ-TTg ngày 21 tháng 11 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, quản lý các hoạt động kinh doanh tín chỉ các-bon ra thị trường thế giới, trong đó Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan tổ chức thực hiện Đề án; thiết lập hệ thống kiểm kê quốc gia khí nhà kính cấp quốc gia và hệ thống

đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV); thực hiện kiểm kê quốc gia khí nhà kính định kỳ

và xây dựng khung chương trình các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia (NAMA) của Việt Nam;

Tại Quyết định số 1775/QĐ-TTg nêu trên, Thủ tướng chính phủ đã tỏ rõ quan điểm về tầm quan trọng của việc thực hiện NAMA tại Việt Nam, hành động này sẽ

hỗ trợ Việt Nam thực hiện giảm phát thải, chống biến đổi khí hậu Bên cạnh đó, việc triển khai thực hiện NAMA sẽ là một cơ hội cho chuyển đổi công nghệ, tăng tính cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa, phương thức sản xuất hướng tới nền

Trang 30

kinh tế các-bon thấp, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững thông qua các hỗ trợ quốc tế Vì vậy Việt Nam hoàn toàn có thể áp dụng NAMA được kêu gọi tại

Kế hoạch hành động Bali năm 2007 đối với các nước đang phát triển Đây là cách thức để các nước phát triển hỗ trợ công nghệ và tài chính cho các nước đang phát triển nhằm đạt được tiến bộ trong việc giảm phát thải khí nhà kính từ một hoặc nhiều lĩnh vực có phát thải

Trong bối cảnh đó, tại Việt Nam hiện nay NAMA có tiềm năng và điều kiện trở thành một cơ hội lớn không chỉ trong các nỗ lực giảm nhẹ phát thải khí nhà kính mà còn tạo ra động lực thay đổi công nghệ, tăng cường hiệu quả kinh tế trong các lĩnh vực chủ chốt có tính cạnh tranh quốc tế như các quy trình công nghiệp (ví dụ như sản xuất thép, xi măng, điện) và nhằm triển khai các công nghệ các-bon thấp tiên tiến nhằm hướng tới một nền kinh tế các-bon thấp và tăng trưởng xanh như đã được xác

định trong Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu

1.4.2 Các hoạt động giảm nhẹ biến đổi khí hậu tại Việt Nam

- Tình hình thực hiện CDM ở Việt Nam: Tính đến tháng 6 năm 2014, Việt Nam

có 253 dự án Cơ chế Phát triển sạch (CDM) và 11 Chương trình hoạt động theo CDM (PoA) được đăng ký và 10.068.987 Chứng chỉ giảm phát thải được chứng nhận (CER) được Ban chấp hành quốc (EB) cấp thông qua các hoạt động CDM Việt Nam được xếp thứ tư trên thếgiới về số lượng dự án CDM được đăng ký và xếp thứ 11 về lượng CER được cấp Tổng lượng KNK giảm nhẹ của 253 dự án CDM trên khoảng

137 triệu tấn CO2 tương đương trong thời kỳ tín dụng Trong số các dự án CDM nói trên, dự án thuộc lĩnh vực năng lượng chiếm 88,19%, xử lý chất thải 9,96%, trồng rừng và tái trồng rừng 0,37% và các loại dự án khác 1,48% Tỷ lệ các loại hình dự án CDM được thể hiện tại Hình 2.6

Trang 31

Hình 1.5 Tỷ lệ các loại hình dự án CDM của Việt Nam được EB đăng ký

(Nguồn: Thông báo quốc gia II cho Công ước khung của LHQ về BĐKH)

So với số lượng dự án CDM của Việt Nam được EB đăng ký nêu trong Thông báo quốc gia lần thứ hai của Việt Nam gửi Ban Thư ký UNFCCC tháng 12 năm 2010, đến nay số lượng dự án CDM được đăng ký đã tăng khoảng 8 lần

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước và thu hút vốn đầu tư cho các hoạt động CDM, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững đất nước, Việt Nam đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật sau đây:

- Quyết định số 130/2007/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số cơ chế, chính sách tài chính đối với dự án đầu tư theo CDM;

- Thông tư liên tịch số 58/2008/TTLT-BTC-BTNMT ngày 04 tháng 7 năm 2008 của Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Quyết định số 130/2007/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số cơ chế, chính sách tài chính đối với dự án đầu tư theo CDM;

- Thông tư số 12/2010/TT-BTNMT ngày 26 ngày 7 tháng 2010 của Bộ trưởng

Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc xây dựng, cấp Thư xác nhận, cấp Thư phê duyệt dự án theo CDM trong khuôn khổ Nghị định thư Kyoto;

- Thông tư liên tịch số 204/2010/TTLT-BTC-BTN&MT ngày 15 tháng 12 năm 2010 của Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư liên tịch số 58/2008/TTLT-BTC-BTN&MT ngày 04 tháng 7 năm 2008;

Trang 32

- Thông tư số 15/2011/TT-BTNMT ngày 28 tháng 4 năm 2011 của Bộ trưởng

Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc sửa đổi, bổ sung một số điều quy định tại Thông tư số 12/2010/TT-BTNMT ngày 26 ngày 7 tháng 2010;

Thu hồi khí đồng hành mỏ Rạng Đông Thu hồi khí bãi rác tại TP Hồ Chí Minh

Xử lý nước thải tại Nhà máy sản xuất tinh

bột sắn Intimex, Nghệ An

Thủy điện nhỏ sông Mực, Thanh Hóa

Hình 1.6 Một số dự án CDM tại Việt Nam

(Nguồn: Thông báo Quốc gia II )

Thông tư số 15/2014/TT-BTNMT ngày 24 tháng 3 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc xây dựng, cấp Thư xác nhận, cấp Thư phê duyệt dự án theo Cơ chế phát triển sạch trong khuôn khổ Nghị định thư Kyoto Thông

tư này thay thế Thông tư số 15/2011/TT-BTNMT ngày 28 tháng 4 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc xây dựng, cấp Thư xác nhận, cấp Thư phê duyệt dự án theo CDM trong khuôn khổ Nghị định thư Kyoto

Trang 33

- Chương trình REDD: Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt danh mục chương trình hợp tác của Liên hiệp quốc về “Giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn và tăng cường trữ lượng carbon rừng tại Việt Nam (UN-REDD) - giai đoạn 2” Theo đó, chương trình này sẽhỗ trợ ngành lâm nghiệp góp phần đạt mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính tới năm 2020 trong nông nghiệp và phát triển nông thôn, thực hiện thành công các chiến lược, chính sách quốc gia về BĐKH, lâm nghiệp, tăng trưởng xanh và hướng tới phát triển bền vững Để thực hiện chương trình, Bộ NN-PTNT và Liên hiệp quốc cũng đã thực hiện ký chính thức văn kiện đánh dấu sự khởi đầu giai đoạn 2 của Chương trình UN-REDD, triển khai rộng rãi các hoạt động nhằm giảm chặt phá rừng, nâng cao chất lượng rừng và tăng diện tích bao phủ rừng ở Việt Nam UN-REDD là chương trình hợp tác Liên hiệp quốc về giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng (REDD+) ở các nước đang phát triển Một lần nữa đi đầu trong các nỗ lực toàn cầu chống BĐKH, Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên trong 47 nước đối tác UN-REDD chuyển sang giai đoạn 2 với khoản tài trợ không hoàn lại khoảng 30 triệu USD (tương đương 600 tỷ đồng) cho công tác quản lý rừng và sử dụng đất đai nhằm giảm phát thải khí nhà kính

- Sản xuất sạch hơn: Năm 1999, Việt Nam đãthông qua Chiến lược quốc gia về sản xuấtsạch hơn trong lĩnh vực công nghiệp tới2020 Chiến lược đặt mục tiêu tới năm 2015,25% cơ sở sản xuất công nghiệp sẽ áp dụngquy trình sản xuất sạch hơn và tiết kiệm từ5-8% mức tiêu thụ năng lượng.Tới năm2020, 50% cơ sở sản xuất công nghiệp sẽ ápdụng quy trình sản xuất sạch hơn và tiếtkiệm từ 8-13% mức tiêu thụ năng lượng

- Sử dụng năng lượng hiệu quả: Việt Nam đã bắt đầu triển khai Chương trình quốcgia về sử dụng năng lượng hiệu quả trong hai giai đoạn, 2006-2010 và 2011-2015.Mục tiêu của Chương trình là nhằm tiết kiệm năng lượng bằng cách giảm mức tiêuthụ năng lượng từ 5-8% đến năm 2015.Năm 2010, Việt Nam thông qua Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.Trong kế hoạch phát triển năng lượng của Bộ Công Thương, năng lượng tái tạo vànăng lượng carbon thấp được đưa vào danh sách

ưu tiên Bộ Công Thương, cùngvới các địa phương liên quan, thường xuyên rà soát

kế hoạch tổng thể về thủyđiện để đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu về năng lượng, đủ

Trang 34

nước tưới tiêu và sinhhoạt, đồng thời đảm bảo các biện pháp phòng chống lũ luôn sẵn sàng Bộ CôngThương cũng đề xuất các sáng kiến phát triển năng lượng điện từ các nguồn táitạo (năng lượng gió và năng lượng mặt trời) để tăng dần tỷ lệ năng lượng tái tạo

- Cơ chế tín chỉ chung (JCM) làcơ chế bù trừ phát thải carbon song phương được Nhật Bản xây dựng, đề xuất triển khai nhằm khắc phục những hạn chế của Cơ chế phát triển sạch CDM Theo đó, JCM tập trung chủ yếu vào giải quyết một số vấn đềnhư: Mở rộng đối tượng có khả năng tham gia thực hiện cơ chế bù trừ phát thải carbon; đơn giản hóa phương pháp tính cơ chế bù trừ phát thải carbon phù hợp với từng lĩnh vực và đối tượng tham gia Mặc dù JCM là cơ chế mới còn đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thủ tục , nhưng đây là cơ sở và chính là cơ hội cho các đơn vị, doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và năng lượng, để đổi mới, lựa chọn công nghệ tiên tiến, công nghệ cao từ Nhật Bản cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo

thuận lợi đối với Việt Nam tiếp nhận được hỗ trợ trong việc giảm nhẹ phát thải carbon để thích ứng với biến đổi khí hậu toàn cầu.

1.4.3 Tình hình xây dựng các đề xuất NAMA ở Việt Nam

Thể chế để thực hiện NAMA hiện nay ở Việt Nam đang trong giai đoạn hoàn thiện Một số hoạt động như tăng cường năng lực, hỗ trợ kỹ thuật để xây dựng các kịch bản cơ sở, kịch bản giảm phát thải, hình thành hệ thống MRV đang được tiến hành Bên cạnh đó, năng lực của các Bộ, ngành liên quan trong việc xây dựng NAMA cũng như năng lực giám sát, đánh giá các hoạt động giảm nhẹ phát thải KNK còn hạn chế

Một số đề xuất NAMA trong các lĩnh vực năng lượng, công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp, lâm nghiệp và quản lý chất thải ở Việt Nam đã được xây dựng nhưng chưa tiếp cận được các nguồn hỗ trợ quốc tế

Trong thời gian qua, Dự án “Tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện và sẵn sàng cho các hoạt động giảm nhẹ phát thải” (FIRM) do Cơ quan Phát triển quốc tế Đan Mạch (DANIDA) tài trợ thông qua Đối tác Chương trình Môi trường Liên hợp quốc - Đại học Kỹ thuật Đan Mạch đã được Bộ Tài nguyên và môi trường phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện Mục tiêu của Dự án là hỗ trợ các nỗ lực giảm nhẹ phát thải KNK, góp phần phát triển nền kinh tế theo hướng các-bon thấp, tăng

Trang 35

trưởng xanh tại Việt Nam Dự án góp phần loại bỏ các rào cản phi tài chính trong nước nhằm xây dựng và thực hiện thí điểm các NAMA ưu tiên Trong Dự án này, hai NAMA được xây dựng để đăng ký là (i) Chương trình hỗ trợ phát triển điện gió và (ii) Chương trình sản xuất điện từ khí sinh học

Cũng trong thời gian qua, Tổng cục Năng lượng, Bộ Công Thương đã xây dựng

Hồ sơ đề xuất NAMA năng lượng tái tạo để xem xét hỗ trợ thực hiện Dự án này sẽ

hỗ trợ thúc đẩy đầu tư công và tư vào ngành năng lượng tái tạo nhằm đạt được mục tiêu về phát triển năng lượng tái tạo trong Quy hoạch điện 7, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK trong Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh

Ngoài ra một số hoạt động chuẩn bị cho NAMA đã và đang được thực hiện, bao gồm:

1 Dự án “Hỗ trợ các hành động giảm nhẹ biến đổi khí hậu phù hợp với điều kiện quốc gia (NAMA) tại Việt Nam” Dự án này nằm trong khuôn khổ Sáng kiến Khí hậu Quốc tế (IKI) do Bộ Môi trường, Bảo tồn thiên nhiên, Xây dựng và An toàn hạt nhân của Cộng hòa Liên bang Đức (BMUB) hỗ trợ và được chính phủ Đức thông qua.Mục tiêu của Dự án là tăng cường quản lý nhà nước về ứng phó với biến đổi khí hậu trong việc phối hợp và tư vấn để xây dựng và thực hiện các NAMA có thể đo đạc, báo cáo và thẩm định ở Việt Nam và thu hút các nguồn tài trợ trong nước và quốc tế cũng như từ các nguồn tư nhân

Để đạt được mục tiêu đề ra, Dự án sẽ tập trung vào bốn hợp phần, gồm: (i) Tăng cường năng lực, thể chế tại Bộ Tài nguyên và Môi trường về phối hợp hiệu quả và tư vấn để xác định, xây dựng và thực hiện NAMA; (ii) Xác định, xây dựng và phối hợp thực hiện một số dự án NAMA cụ thể; (iii) Thiết lập hệ thống công cụ Đo đạc, Báo cáo và Thẩm định (MRV) cấp quốc gia cho NAMA; và (iv) Tăng cường năng lực đàm phán quốc tế về biến đổi khí hậu

2 Dự án “Hỗ trợ lên kế hoạch và thực hiện các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia” (SPI-NAMA) do Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản tài trợ và Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì thực hiện với mục tiêu: (i) Tăng cường năng lực của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong việc thúc đẩy, điều phối và quản

lý công tác lập kế hoạch và thực hiện NAMA và (ii) Tăng cường năng lực của các Bộ, ngành và các bên liên quan trong việc lập kế hoạch và thực hiện NAMA

Trang 36

3 Hợp phần “Xây dựng hướng dẫn kỹ thuật về NAMA và MRV ở Việt Nam”

do UNDP tài trợ và Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn và Biến đổi khí hậu, Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện trong năm 2013 Dự án đã cung cấp các thông tin và hướng dẫn kỹ thuật để xây dựng và thực hiện NAMA, bao gồm phương pháp và công

cụ xây dựng và thực hiện; danh sách các hoạt động giảm nhẹ phát thải tiềm năng cho phát triển NAMA theo hướng MRV và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

4 Dự án “Khí hậu thông minh cho nông nghiệp” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện với sự hỗ trợ tài chính từTổ chức Lương thực, Nông nghiệp của Liên hiệp quốc(FAO), tập trung vào việc phát triển NAMA trong lĩnh vực nông nghiệp ở khu vực miền núi phía Bắc và xem xét những lợi ích kèm theo các hoạt động giảm nhẹ KNK Việc xây dựng các NAMA sẽ dựa trên các phương án giảm nhẹ được xác định trong Thông báo quốc gia của Việt Nam cho UNFCCC và do các viện nghiên cứu quốc gia và quốc tế thực hiện Qua dự án này, khí sinh học có thể thay thế khí đốt tự nhiên và phân bón ở các vùng đất thấp có tiềm năng lớn trong việc giảm nhẹ phát thải KNK Bên cạnh đó, một số đề xuất NAMA cũng đang được các cơ quan liên quan trong nước nghiên cứu xây dựng như: (i) Dự án Xây dựng các hành động giảm nhẹ KNK trong các toà nhà do UNEP tài trợ với mục tiêu xác định tiềm năng giảm nhẹ phát thải KNK trong các toà nhà; (ii) Dự án Chuyển hóa rác thải thành nhiên liệu cho các thành phố ở Việt Nam với mục tiêu giảm thiểu phát thải KNK từ lĩnh vực rác thải

ở các thành phố tại Việt Nam thông qua việc áp dụng phương thức quản lý tổng hợp chất thải rắn

Để đáp ứng yêu cầu về NAMA, một hệ thống MRV cần được xây dựng ở cấp quốc gia và cấp ngành Tại Việt Nam, “Đề án quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, quản lý các hoạt động kinh doanh tín chỉ các-bon ra thị trường thế giới” đã nêu nhiệm vụ cụ thể cho giai đoạn 2012 - 2015 là “Thiết lập hệ thống MRV cấp quốc gia

và cấp ngành nhằm phục vụ các yêu cầu liên quan tới kiểm kê quốc gia khí nhà kính, quản lý phát thải khí nhà kính, bao gồm cả việc xây dựng các hệ số phát thải riêng cho quốc gia” Trong giai đoạn tiếp theo, hệ thống này sẽ được mở rộng để phục vụ việc giám sát các nguồn phát thải KNK và đáp ứng các yêu cầu cung cấp số liệu cho kiểm kê KNK cũng như xây dựng các báo cáo định kỳ

Trang 37

Thực hiện Cơ chế tín chỉ chung (JCM)

Nhằm tăng cường các hoạt động hợp tác song phương về biến đổi khí hậu góp phần thực hiện mục tiêu giữ nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng không quá 2ºC vào cuối thế kỷ này, Việt Nam và Nhật Bản đã ký Bản ghi nhớ hợp tác về tăng trưởng các-bon thấp vào tháng 7 năm 2013 Về phía Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường được Chính phủ giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan đàm phán với phía Nhật Bản để thành lập Ủy ban hỗn hợp và ban hành Hướng dẫn thực hiện Cơ chế tín chỉ chung (JCM) tại Việt Nam

Theo nội dung Bản ghi nhớ, Nhật Bản và Việt nam sẽ tiến hành tham vấn hợp tác chính sách chặt chẽ ở các cấp nhằm hướng tới tăng trưởng các-bon thấp trong khuôn khổ Liên hợp quốc, khu vực và song phương Hai Bên cũng thúc đẩy đầu tư và phát triển các công nghệ, sản phẩm, hệ thống, dịch vụ và cơ sở hạ tầng phát thải các-bon thấp tại Việt Nam

Tại cuộc họp Ủy ban hỗn hợp lần thứ nhất ngày 18 tháng 9 năm 2013, hai bên

đã thông qua Quy chế hoạt động của Ủy ban, chỉ định Ban thư ký giúp việc cho Ủy ban và thảo luận các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật Tại cuộc họp lần thứ hai của Ủy ban ngày 17 tháng 02 năm 2014, hai bên đã cơ bản thông qua các hướng dẫn kỹ thuật phục vụ triển khai thí điểm một số dự án JCM tại Việt Nam

(Nguồn: Trích Bản ghi nhớ hợp tác về Tăng trưởng cac-bon thấp giữa Việt Nam

và Nhật Bản ngày 02 tháng 7 năm 2013)

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 10728/VPCP-QHQT ngày 19 tháng 12 năm 2013 của Văn phòng Chính phủ, Bộ TNMT đã phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện thí điểm JCM Hiện nay, Thông tư hướng dẫn về thực hiện JCM đang được xây dựng và dự kiến ban hành vào cuối năm 2014

Tổng tiềm năng giảm phát thải của 28 dự án JCM đang trong giai đoạn nghiên cứu khả thi (do Bộ Môi trường và Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản

đề xuất) ước khoảng 10 triệu tấn CO2tương đương/năm Trong đó có 18 dự án thuộc lĩnh vực năng lượng, 04 dự án giao thông vận tải, 03 dự án quản lý chất thải và 03 dự

án lâm nghiệp Tại Cuộc họp lần thứ hai của Ủy ban hỗn hợp, 04 dự án sau được lựa chọn để thực hiện trong giai đoạn thí điểm:

Trang 38

1 Nâng cao hiệu quả tổng hợp trong sử dụng năng lượng tại các nhà máy bia;

2 Sử dụng công nghệ bơm nhiệt để nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng tại nhà máy chế biến thủy sản;

3 Áp dụng hệ thống quản lý năng lượng để giảm phát thải tại khách sạn;

4 Xây dựng Bệnh viện xanh thông qua sử dụng năng lượng hiệu quả

Trong thời gian tới, Việt Nam và Nhật Bản tiếp tục nghiên cứu khả thi để nhân rộng hoạt động JCM trên phạm vi cả nước trên cơ sở kết quả thực hiện JCM trong

giai đoạn thí điểm.(Nguồn: Trích Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường về thực

hiện Cơ chế tín chỉ chung (JCM) báo cáo Thủ tướng Chính phủ)

1.5 Tại sao Việt Nam phải tiến hành NAMA

Là một trong những nước được đánh giá là chịu ảnh hưởng xấu nhất đối với biến đổi khí hậu, Việt Nam đã sớm có các chính sách hướng tới tăng trưởng xanh, phát triển bền vững, thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu Theo Chiến lược quốc gia về Biến đổi khí hậu được Thủ tướng phê duyệt tháng 12/2011 thì giảm phát thải KNK được đặt ra như một nhiệm vụ chiến lược Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh được Thủ tướng phê duyệt tháng 9/2012 cũng nhận định tăng trưởng xanh là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững với mục tiêu giảm cường độ phát thải khí nhà kính 8-10% giai đoạn 2011-2020 so với mức năm 2010; giảm lượng phát thải khí nhà kính trong các hoạt động năng lượng từ 10% đến 20% so với phương án phát triển bình thường Bộ Công Thương đã triển khai kế hoạch giảm nhẹ khí nhà kính từ năm 2011 thông qua Chương trình Tiết kiệm năng lượng, trong đó chú trọng việc thực hiện dán nhãn tiết kiệm năng lượng và đẩy mạnh hoạt động của các công ty dịch vụ năng lượng – ESCO

Thiết lập và Phát triển thị trường carbon tại Việt Nam vì vậy là một con đường phù hợp với định hướng phát triển chung của đất nước và chúng ta cũng đã đạt được những thành tựu nhất định thông qua việc thực hiện Cơ chế Phát triển sạch (CDM) trong khuôn khổ Nghị định thư Kyoto Qua đó nhận thấy việc triển khai thực hiện NAMA sẽ là một cơ hội cho chuyển đổi công nghệ, tăng tính cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa, phương thức sản xuất hướng tới nền kinh tế carbon thấp, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững thông qua các hỗ trợ quốc tế Đối với các nước đang

Trang 39

phát triển như Việt nam, mặc dù không có nghĩa vụ phải cắt giảm phát thải định lượng nhưng cũng cần đóng góp vào mục tiêu giảm phát thải chung toàn cầu để ổn định nhiệt độ trái đất vào cuối thế kỷ tăng không quá 2oC so với thời kỳ tiền công nghiệp Vì thế, Việt Nam hoàn toàn có thể áp dụng NAMA, đây là cách thức để các nước phát triển hỗ trợ công nghệ và tài chính cho các nước đang phát triển nhằm đạt được tiến bộ trong việc giảm phát thải khí nhà kính từ một hoặc nhiều lĩnh vực có phát thải

Trang 40

Chương 2.ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG THỰC HIỆN NAMA Ở VIỆT NAM

Hiện nay đối với các nước đang phát triển, việc giảm phát thải khí nhà kính nhằm giảm thiểu biến đổi khí hậu là không bắt buộc, tuy nhiên việc chung tay với các nước phát triển giảm phát thải khí nhà kính là cần thiết, qua đó thể hiện việc có trách nhiệm với thế giới trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu Tuy nhiên, để giảm phát thải khí nhà kính mà vẫn đảm bảo cho sự phát triển kinh tế thì NAMA là một lựa chọn phù hợp đối với các nước đang phát triển vì vậy việc đánh giá tiềm năng về NAMA để xem xét ký kết tham gia là một hướng tiếp cận đúng đắn Trong luận văn này, việc đánh giá tiềm năng thực hiện NAMA ở Việt Nam trên cơ sở kết quả kiểm

kê khí nhà kính đã và đang được thực hiện trong thời gian qua

2.1 Kiểm kê khí nhà kính năm 2010 theo các lĩnh vực

Theo kết quả kiểm kê khí nhà kính trong một số lĩnh vực cụ thể trích dẫn từ Báo cáo kiểm kê quốc gia khí nhà kính năm 2010 của Việt Nam được thực hiện trong khuôn khổ dự án “Tăng cường năng lực kiểm kê quốc gia khí nhà kính tại Việt Nam”

do Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tài trợ từ năm 2011 đến năm 2014

Số liệu hoạt động Hệ số phát thải Các thông số khác Năng

lượng Bậc 1

Số liệu thống kê quốc gia (Bảng cân bằng năng lượng)

Các hệ số mặc định của IPCC

Nhiệt trị đặc trưng quốc gia đối với nhiên liệu rắn

Hầu hết là các hệ số mặc định của IPCC

và số liệu đặc trưng quốc gia

Giá trị mặc định của IPCC

Các hệ số mặc định của IPCC, số liệu từ các kết quả nghiên cứu

Số liệu từ các kết quả nghiên cứu cũng được sử dụng

Hầu hết là các hệ số mặc định của IPCC,

số liệu từ các kết quả nghiên cứu

Số liệu từ các kết quả nghiên cứu cũng được sử dụng

Tóm tắt các phương pháp và nguồn số liệu sử dụng(Nguồn Báo cáo cập nhật 02

năm một lần của Việt Nam lần đầu tiên cho UNFCCC )

Ngày đăng: 08/07/2015, 15:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Trọng Hiệu, Trần Thục (2011), Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam, Nhà xuất bản KHCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Trọng Hiệu, Trần Thục
Nhà XB: Nhà xuất bản KHCN
Năm: 2011
4. Trần Thục, Nguyễn Văn Thắng, Hoàng Đức Cường (2009), “Xây dựng các kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam”, Tạp chí KTTV Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xây dựng các kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam
Tác giả: Trần Thục, Nguyễn Văn Thắng, Hoàng Đức Cường
Năm: 2009
6. Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (2013), “Hướng dẫn kỹ thuật xây dựng các hành động giảm nhẹ khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia (NAMA)” Nhà xuất bản Tài nguyên Môi trường và bản đồ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn kỹ thuật xây dựng các hành động giảm nhẹ khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia (NAMA)”
Tác giả: Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài nguyên Môi trường và bản đồ
Năm: 2013
7. Nguyễn Văn Thắng và nnk (2010), Nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH đến các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và đề xuất các giải pháp chiến lược phòng tránh, giảm nhẹ và thích nghi, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Thắng và nnk (2010), "Nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH đến các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và đề xuất các giải pháp chiến lược phòng tránh, giảm nhẹ và thích nghi, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Thắng và nnk
Năm: 2010
8. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2008
9. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2009
10. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2010), Thông báo Quốc gia lần thứ hai của Việt Nam cho Công ước khung Liên Hiệp Quốc về Biến đổi khí hậu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo Quốc gia lần thứ hai của Việt Nam cho Công ước khung Liên Hiệp Quốc về Biến đổi khí hậu
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2010
11. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2010), Thông báo Quốc gia lần thứ hai của Việt Nam cho Ban Thư ký Công ước khung về Biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc, Hà Nội, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo Quốc gia lần thứ hai của Việt Nam cho Ban Thư ký Công ước khung về Biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2010
12. Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu (2012), Đề án Quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính; Quản lý các hoạt động kinh doanh tín chỉ các-bon ra thị trường thế giới, Hà Nội, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án Quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính; Quản lý các hoạt động kinh doanh tín chỉ các-bon ra thị trường thế giới
Tác giả: Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu
Năm: 2012
13. Chính phủ Việt Nam (2008), Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Hà Nội, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu
Tác giả: Chính phủ Việt Nam
Năm: 2008
14. Chính phủ Việt Nam (2012), Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, Hà Nội, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh
Tác giả: Chính phủ Việt Nam
Năm: 2012
15. Chính phủ Việt Nam (2012), Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 21/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính; quản lý các hoạt động kinh doanh tín chỉ các-bon ra thị trường thế giới, Hà Nội, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 21/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính; quản lý các hoạt động kinh doanh tín chỉ các-bon ra thị trường thế giới
Tác giả: Chính phủ Việt Nam
Năm: 2012
4. UNDP (2013),Consolidated Report on Viet Nam’s Post-2015 Consultation Process, UNDP Vietnam, Hanoi, Vietnam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Consolidated Report on Viet Nam’s Post-2015 Consultation Process
Tác giả: UNDP
Năm: 2013
7. UNFCCC (United Nations Framework Convention on Climate Change) (2010),Report of the Conference of the Parties on its fifteenth session, held in Copenhagen from 7 to 19 December 2009. FCCC/CP/2009/11/Add.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Report of the Conference of the Parties on its fifteenth session
Tác giả: UNFCCC (United Nations Framework Convention on Climate Change)
Năm: 2010
8. World Bank and Development Research Center (2012) China 2030: Building a Modern, Harmonious and Creative High-Income Society. February 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Building a Modern, Harmonious and Creative High-Income Society
2. Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu, Khí hậu và tài nguyên khí hậu Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Khác
5. Trần Thục (2011), NAMA – một cơ hội cho chuyển đổi công nghệ ở Việt Nam, Tạp chí Khí tượng Thủy văn, số 610 Khác
16. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Báo cáo cập nhật hai năm một lần đầu tiên của Việt Nam cho Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (BUR) Tài liệu tiếng Anh Khác
3. GIZ (2012), NAMA tool: Steps for moving a NAMA from idea towards implementation Khác
5. UNEP Riso Centre (2011), Measuring, Reporting, Verifying, A primer on MRV for Nationally Appropriate Mitigation Actions Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Số lượng các NAMA tính đến cuối năm 2013 - Từ quan điểm và kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn tại việt nam nama
Hình 1.1. Số lượng các NAMA tính đến cuối năm 2013 (Trang 15)
Hình 1.2. Tình hình phát triển NAMA theo khu vực - Từ quan điểm và kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn tại việt nam nama
Hình 1.2. Tình hình phát triển NAMA theo khu vực (Trang 16)
Hình 1.3. Tỉ lệ về số lượng các NAMA theo ngành - Từ quan điểm và kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn tại việt nam nama
Hình 1.3. Tỉ lệ về số lượng các NAMA theo ngành (Trang 17)
Hình 1.4. Tỉ lệ các NAMA theo loại hình hoạt động - Từ quan điểm và kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn tại việt nam nama
Hình 1.4. Tỉ lệ các NAMA theo loại hình hoạt động (Trang 17)
Hình 1.5. Tỷ lệ các loại hình dự án CDM của Việt Nam được EB đăng ký - Từ quan điểm và kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn tại việt nam nama
Hình 1.5. Tỷ lệ các loại hình dự án CDM của Việt Nam được EB đăng ký (Trang 31)
Hình 1.6. Một số dự án CDM tại Việt Nam - Từ quan điểm và kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn tại việt nam nama
Hình 1.6. Một số dự án CDM tại Việt Nam (Trang 32)
Bảng 2.1. Tổng phát thải khí nhà kính năm 2010 theo phân ngành trong   lĩnh vực năng lượng - Từ quan điểm và kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn tại việt nam nama
Bảng 2.1. Tổng phát thải khí nhà kính năm 2010 theo phân ngành trong lĩnh vực năng lượng (Trang 41)
Bảng 2.3. Phát thải khí nhà kính năm 2010 từ LULUCF - Từ quan điểm và kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn tại việt nam nama
Bảng 2.3. Phát thải khí nhà kính năm 2010 từ LULUCF (Trang 43)
Bảng 2.4. Phát thải  theo các phân ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp - Từ quan điểm và kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn tại việt nam nama
Bảng 2.4. Phát thải theo các phân ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp (Trang 44)
Bảng 2.5. Kết quả kiểm kê phát thải KNK trong lĩnh vực chất thải - Từ quan điểm và kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn tại việt nam nama
Bảng 2.5. Kết quả kiểm kê phát thải KNK trong lĩnh vực chất thải (Trang 46)
Bảng 2.6. Tổng hợp hấp thụ/phát thải KNK cho năm 2010 - Từ quan điểm và kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn tại việt nam nama
Bảng 2.6. Tổng hợp hấp thụ/phát thải KNK cho năm 2010 (Trang 47)
Bảng 2.7. Tỷ lệ % Phát thải khí nhà kính năm 2010 và ước tính phát thải  cho các năm 2020 và 2030 - Từ quan điểm và kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn tại việt nam nama
Bảng 2.7. Tỷ lệ % Phát thải khí nhà kính năm 2010 và ước tính phát thải cho các năm 2020 và 2030 (Trang 48)
Bảng 2.11. Tiềmnăngvàchiphígiảm nhẹ KNK trong lĩnh vực năng lượng - Từ quan điểm và kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn tại việt nam nama
Bảng 2.11. Tiềmnăngvàchiphígiảm nhẹ KNK trong lĩnh vực năng lượng (Trang 53)
Bảng 2.12: Bảng đánh giá phân lớp tiềm năng giảm nhẹ KNK cho lĩnh vực năng lượng  Mức tiềm - Từ quan điểm và kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn tại việt nam nama
Bảng 2.12 Bảng đánh giá phân lớp tiềm năng giảm nhẹ KNK cho lĩnh vực năng lượng Mức tiềm (Trang 54)
Bảng 2.13: Bảng đánh giá phân lớp về chi phí giảm nhẹ KNK   cho lĩnh vực năng lượng - Từ quan điểm và kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn tại việt nam nama
Bảng 2.13 Bảng đánh giá phân lớp về chi phí giảm nhẹ KNK cho lĩnh vực năng lượng (Trang 54)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w