1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản huyện kim sơn tỉnh ninh bình

76 515 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, qua các nghiên cứu tổng hợp ở trên, chúng ta có thể nhận thấy, các nghiên cứu vấn đề BĐKH trong nuôi trồng thủy sản chủ yếu tập trung ở hai khía cạnh chính: Một là, tìm ra các m

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT ……….3

DANH MỤC BẢNG BIỂU.……… 4

DANH MỤC HÌNH ẢNH……… 5

MỞ ĐẦU 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 9

1.1 Tổng quan về tính dễ bị tổn thương 9

1.1.1 Khái niệm về tính dễ bị tổn thương 9

1.1.2 Các nghiên cứu trên Thế Giới 9

1.1.3 Các nghiên cứu ở Việt Nam 11

1.2 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Ninh Bình 15

1.2.1 Hiện trạng phát triển nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Ninh Bình 15

1.2.2 Điều kiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ phát triển nuôi trồng thủy sản 18

1.2.3 Tình hình môi trường và dịch bệnh 20

1.2.4 Lao động trong nuôi trồng thủy sản 20

1.2.5 Hiện trạng áp dụng khoa học công nghệ trong NTTS 21

1.3 Đánh giá chung về hiện trạng nuôi trồng thủy sản 22

1.3.1 Kết quả đạt được 22

1.3.2 Những khó khăn hạn chế 23

1.4 Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản ở Ninh Bình 24

1.4.1 Quan điểm về phát triển nuôi trồng thủy sản 24

1.4.2 Nội dung quy hoạch phát triển 25

1.4.3 Các chương trình, dự án hỗ trợ NTTS 36

1.5 Tình hình biến đổi khí hậu tại tỉnh Ninh Bình 37

1.5.1 Biểu hiện của BĐKH trong những năm gần đây 37

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN SỐ LIỆU 41

2.1 Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương 41

2.1.1 Phương pháp luận 41

2.1.2 Xây dựng chỉ số độ phơi nhiễm (E) 43

2.1.3 Xác định biến thành phần độ nhạy (S) 46

Trang 2

2.1.4 Xác định biến thành phần khả năng thích ứng (AC) 47

2.2 Nguồn số liệu và phương pháp xử lý 49

2.2.1 Nguồn số liệu 49

2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 49

2.2.3 Xây dựng chỉ số dễ bị tổn thương 50

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 52

3.1 Đặc điểm vùng nghiên cứu 52

3.2 Đánh giá tác động của BĐKH đến hoạt động nuôi trồng thủy sản trong những năm gần đây 54

3.3 Đánh giá mức độ tổn thương do tác động của BĐKH đến lĩnh vực nuôi trồng thủy sản tại huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình 57

3.3.1 Kết quả tính toán độ phơi nhiễm (E) 57

3.3.2 Kết quả tính toán độ nhạy cảm (S) 60

3.3.3 Kết quả tính toán khả năng thích ứng (AC) 63

3.3.4 Kết quả tính toán tính dễ bị tổn thương (V) 68

KẾT LUẬN 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 3

IPCC Ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu

NN VÀ PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn NTTS Nuôi trồng thủy sản

QCCT Quảng canh cải tiến

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Diện tích, sản lượng nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2004-2009 16

Bảng 1.2 Diện tích và sản lượng NTTS mặn, lợ tỉnh Ninh Bình năm 2004-2009 18

Bảng 1.3 Quy hoạch đối tượng nuôi chính vùng nước ngọt đến 2020 28

Bảng 1.4 Quy hoạch các phương thức nuôi vùng nước ngọt ở các huyện (thị xã, thành phố) tỉnh Ninh Bình đến năm 2020 31

Bảng 1.5 Quy hoạch các đối tượng nuôi chình vùng mặn, lợ đến năm 2020 34

Bảng 1.6 Nhu cầu giống thủy sản tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2015- 2020 35

Bảng 2.1 Sơ bộ về tác động của BĐKH đến lĩnh vực thủy sản – Nguồn IMHEN 2011 43

Bảng 2.2 Biến chính và các biến thành phần (E) 44

Bảng 2.3 Biến chính và các biến thành phần (S) 46

Bảng 2.4 Biến chính và các biến thành phần (AC) 48

Bảng 3.1 Số liệu độ phơi nhiễm (E) 57

Bảng 3.2 Kết quả tính toán chỉ số độ phơi nhiễm (E) 58

Bảng 3.3 Số liệu độ nhạy cảm (S) 61

Bảng 3.4 Kết quả tính toán chỉ số độ nhạy cảm (S) 61

Bảng 3.5 Số liệu khả năng thích ứng (AC) 64

Bảng 3.6 Kết quả tính toán chỉ số thích ứng (AC) 66

Trang 5

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Xu thế chuẩn sai nhiệt độ trung bình tháng I và tháng VII của hai trạm

Nho Quan (a,c) và Ninh Bình (b,d) giai đoạn 1960 – 2010) 37

Hình 1.2 Xu thế biến động lượng mưa mùa mưa và mùa khô tại trạm Nho Quan và Ninh Bình giai đoạn 1960 – 2010 38

Hình 1.3 Bản đồ tần suất XTNĐ hoạt động (a), hình thành (b) ở Biển Đông và ảnh hưởng đến đất liền Việt Nam (c) 39

Hình 1.4 Diễn biến mực nước nhiều năm tại Trạm Hòn Dấu 40

Hình 2.1 Phương pháp đánh giá tính dễ tổn thương 42

Hình 2.2 Xác định các thành phần chỉ số 45

Hình 3.1 Bản đồ huyện Kim Sơn – Nguồn tỉnh Ninh Bình 52

Hình 3.2 Bản đồ phơi nhiễm của 3 xã Kim Hải, Kim Trung, Kim Đông 59

Hình 3.3 Độ nhạy cảm của 3 xã Kim Hải, Kim Trung, Kim Đông 62

Hình 3.4 Khả năng thích ứng của xã Kim Hải, Kim Trung, Kim Đông 66

Hình 3.5 Đầm tôm tại xã Kim Đông 68

Hình 3.6 Đầm tôm tại xã Kim Trung 68

Hình 3.7 Bản đồ tính dễ bị tổn thương củaxã Kim Hải, Kim Trung, Kim Đông 69

Trang 6

MỞ ĐẦU Ninh Bình là một tỉnh nằm ở phía Nam đồng bằng Châu thổ sông Hồng với diện tích 1420,76km2 Ninh Bình có địa hình khá phức tạp (miền núi, bán sơn địa, chiêm trũng và đồng bằng ven biển), chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu Bắc Bộ và khu Bốn Mạng lưới sông ngòi chằng chịt, đan xen với chế độ thuỷ triều phức tạp bao gồm tổ hợp các dạng lũ lớn: lũ sông Hoàng Long từ Hoà Bình đổ về, lũ nội địa sông Đáy, lũ sông Hồng qua sông Đào Nam Định chuyển sang, thuỷ triều biển Diện tích tự nhiên 1392 km2, tỉnh Ninh Bình có 1 thành phố (Ninh Bình), 1 thị xã (Tam Điệp) và 6 huyện (Hoa Lư, Nho Quan, Gia Viễn, Yên Khánh, Yên Mô, Kim Sơn) [30]

Huyện Kim Sơn được thành lập năm 1892 và là huyện ven biển duy nhất của tỉnh Ninh Bình Có chiều dài 15 km bờ biển, nằm kẹp giữa sông Đáy ở phía Đông và sông Càn ở phía Tây, nên phần lớn đất đai của huyện được hình thành bởi quá trình bồi tụ của hai con sông này tạo nên Lịch sử phát triển huyện Kim Sơn gắn liền với 9 lần quai đê lấn biển Cho đến nay, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 20.747 ha, trong đó vùng bãi bồi Kim Sơn có diện tích khoảng 6.660 ha.Toàn bộ khu vực bãi ngang gồm thị trấn Bình Minh, các xã: xã Kim Đông, xã Kim Hải, xã Kim Trung, đảo Cồn Nổi và vùng biển Ninh Bình đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới Tại đây thiên nhiên, sự sống còn đa dạng và hoang sơ, thuận lợi phát triển loại hình du lịch sinh thái đồng quê Thắng cảnh khu vực ven biển Kim Sơn nằm trong quy hoạch

du lịch của tỉnh Ninh Bình bao gồm bãi biển, rừng phòng hộ, các đảo Cồn Nổi, Cồn Mờ, cửa sông Đáy, cảnh quan đê biển, khu vực nuôi trồng và khai thác thủy hải sản Trên cơ sở xác định vị trí, điều kiện tự nhiên có những thuận lợi nên huyện Kim Sơn đã phát triển nuôi trồng thủy sản

Kim Sơn là vùng đất mở ra đời từ công cuộc khẩn hoang vùng bãi biển đầy lau sậy và sú vẹt dưới sự tổ chức và điều hành của Doanh Điền sứ Nguyễn Công Trứ năm Kỷ Tỵ, 1809 Vùng đất này, hàng năm tốc độ bồi tụ tiến ra biển

từ 80 – 100 m Chính vì thế mà Kim Sơn gắn với lịch sử của những cuộc chinh phục đất hoang bồi - quai đê lấn biển Cây cói đã gắn bó với người dân Kim Sơn

Trang 7

cách đây gần 3 thế kỷ Qua những lần quai đê lấn biển, Kim Sơn đã thực hiện tốt phương châm "lúa lấn cói, cói lấn biển", với diện tích lúc nhiều nhất lên đến hơn 1.000 ha, sản lượng đạt hơn 10.000 tấn cói chè Các mặt hàng chiếu cói, sản phẩm mỹ nghệ từ cói đã xuất khẩu đến nhiều thị trường trên Thế giới Nhưng, môi trường ven biển khắc nghiệt như thiếu nước ngọt không cấy lúa được, nhiều nơi cây cói mọc được nhưng vì đất bị phèn, chua và mặn dẫn đến năng suất thấp

và tình trạng lỗ vốn, nhiều diện tích bị bỏ hoang Do ảnh hưởng của gió bão, rét đậm rét hại đã làm 242 ha rừng trồng ngập mặn ở ven biển Kim Sơn bị chết với

số lượng năm sau cao hơn năm trước (Sở NN-PTNT Ninh Bình) Năm 2001, từ chủ trương cho phép chuyển đổi ruộng trồng lúa, cói sang nuôi trồng thủy sản, ở đây hình thành nghề nuôi tôm sú và tập trung phần lớn là ở ba xã bãi ngang gồm

xã Kim Trung, xã Kim Ðông, xã Kim Hải giáp mặt với biển [30]

Theo báo cáo của Tổng cục Thuỷ sản, trong 10 năm qua (2001-2011), sản lượng nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) đã tăng 4 lần - từ hơn 700 nghìn tấn lên khoảng 3 triệu tấn, với tốc độ tăng bình quân 15,7%/năm Trong đó, sản lượng NTTS ven biển (mặn, lợ) chiếm gần 30% Tuy nhiên, hoạt động này thường xuyên chịu tác động của thời tiết và thiên tai do biến đổi khí hậu (BĐKH) gây

ra, các biểu hiện như nước biển dâng, nhiệt độ tăng, bão lũ, sóng lớn, triều cường và các hiện tượng thời tiết cực đoan khác Những yếu tố này có thể ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên NTTS (ở dạng đơn lẻ hay kết hợp) gây nhiều thiệt hại về kinh tế, xã hội cho cộng đồng người nuôi Trước những tác động của BĐKH, nhiệt độ tăng dẫn đến sự gia tăng các cơn bão ảnh hưởng đến vùng ven biển, mực nước biển dâng, rét đậm rét hại là những nguy cơ hiện hữu sẽ tác động mạnh mẽ đến ngành kinh tế nuôi trồng thủy sản vùng ven biển nói chung

và huyện Kim Sơn nói riêng [10]

Vì vậy, việc “Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình” là hết sức cần thiết và quan trọng Kết quả của việc đánh giá được tính dễ bị tổn thương của khu vực này sẽ giúp cho tỉnh Ninh Bình có cơ sở quy hoạch, định hướng phát triển có hiệu quả ngành nuôi trồng thủy sản tại vùng đất này Đây cũng chính là lí do mà học viên chọn đề tài luận

Trang 8

văn tốt nghiệp của mình là: “Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng

thủy sản huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình”

Do quy mô mới chỉ dừng lại ở một luận văn thạc sỹ nên nội dung nghiên cứu được khu trú với quy mô không gian gồm 3 xã: xã Kim Trung, xã Kim Ðông, xã Kim Hải và quy mô thời gian là 5 năm từ 2008– 2012

Quy mô luận văn gồm 03 chương:

Chương 1 Tổng quan tài liệu và khu vực nghiên cứu, chương này nói về một số nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề BĐKH và nuôi trồng thủy sản và tổng quan về khu vực nghiên cứu

Chương 2 Phương pháp nghiên cứu, chương này mô tả phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương do của IPCC 2007

Chương 3 Kết quả nghiên cứu, nêu lên kết quả đạt được của luận văn

Trang 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về tính dễ bị tổn thương

1.1.1 Khái niệm về tính dễ bị tổn thương

Tính dễ bị tổn thương(TDBTT) là mức độ tổn thất, suy thoái của hệ thống, mức độ chống chịu, phục hồi, ứng phó của nó trước các tác động từ bên ngoài Có một số định nghĩa phổ biến về Tính dễ bị tổn thương được đưa ra như sau:

Tính dễ bị tổn thương là một hàm của 2 biến của mức độ tổn thất (do tai biến, khả năng chống chịu và phục hồi(Clark, 1998) [21]

Tính dễ bị tổn thương là tính nhạy cảm của tài nguyên (tài nguyên tự nhiên, tài nguyên xã hội) trước những tác động tiêu cực của tai biến (NOAA, 1999) [26]

Tính dễ bị tổn thương là khả năng bị tổn thương của hệ thống tự nhiên –

xã hội, là những đặc tính của hệ thống cho phép nó cảm nhận, ứng phó, chống

đỡ và phục hồi từ những thay đổi bên ngoài tác động vào hệ thống (Kasperson, 2001) [30]

Tính dễ bị tổn thương do Biến đổi khí hậu là mức độ mà hệ thống dễ bị tác động và không có khả năng chống chịu trước những tác động bất lợi (IPCC, 2007) [23]

Tính dễ bị tổn thương là mức độ cảm nhận, ứng phó, chống đỡ, tổn thất và phục hồi của tài nguyên – môi trường biển trước các tác động từ bên ngoài (Mai Trọng Nhuận, 2004) [5]

Các định nghĩa đều nói lên sự tác động của các yếu tố bên ngoài đến đối tượng tổn thương và sự phục hồi hay ứng phó lại của chính nó

1.1.2 Các nghiên cứu trên Thế Giới

Hiện nay, việc đánh giá tác động của BĐKH và nghiên cứu đánh giá tính

dễ bị tổn thương trong các ngành, các lĩnh vực cụ thể là một trong những vấn đề cấp bách nhất liên quan đến việc xây dựng chiến lược ứng phó với BĐKH của

Trang 10

các ngành đó Đối với lĩnh vực thủy sản cũng vậy, hiện nay có rất nhiều các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến các vấn đề này Cụ thể:

Theo nghiên cứu của Hargreaves and Tucker (2003), nghiên cứu về đặc tính sinh học của con tôm, nghiên cứu chỉ ra rằng nhiệt độ tăng trung bình theo kịch bản BĐKH có thể nằm trong phạm vi chịu đựng của con tôm nuôi, nhưng

nó lại tác động lên quá trình trao đổi chất của đối tượng nuôi, ảnh hưởng đến hệ

số chuyển hóa thức ăn, ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng, làm suy giảm hệ thống miễn dịch và tăng nguy cơ dịch bệnh đối với tôm nuôi [25]

Nghiên cứu của tổ chức Worldfish Center (2006) đã chỉ ra các yếu tố BĐKH tác động đến nghề nuôi trồng thủy sản như: Nhiệt độ tăng, nước biển dâng, lượng mưa thay đổi, bão tố và hạn hán bất thường Tương tự với nghiên cứu này tác giả De Silva và đồng tác giả (2009) cũng chỉ ra các yếu tố chính của BĐKH tác động đến đến nghề nuôi trồng thủy sản gồm: Nước biển dâng, nhiệt

độ tăng, mưa bất thường và các yếu tố cực đoan như bão tố …[28]

Một nghiên cứu điển hình về đánh giá tác động của BĐKH đến nuôi trồng thủy sản đó là nghiên cứu của Heather Cornell (2012) về việc xây dựng mô hình đánh giá tác động của BĐKH đó là mô hình DPSIR ( Động lực - Driver; Áp lực – Pressure; Hiện trạng – Status; Tác động – Impact; Ứng phó – Response) mô hình đã đưa ra cái nhìn tổng quát về BĐKH và các hoạt động ứng phó với BĐKH của nghề nuôi trồng thủy sản tại biển Salish Canada

Nghiên cứu tổng quan của De silva và Soto (2009), De silva, Cochrane và đồng tác giả (2009), Badject và đồng tác giả (2009) về tác động tiềm tàng của BĐKH lên ngành thủy sản cho thấy các nghiên cứu tác động của BĐKH lên ngành thủy sản đều chứa đựng các yếu tố không chắc chắn, dựa trên các tính chất đặc thù của giống loài và mối tương quan với môi trường tự nhiên để phán đoán [19]

Trong nghiên cứu khả năng bị tổn thương của các quốc gia đối với tác động của BĐKH lên ngành thủy sản của Allison và các cộng sự ((2009) Trong nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng phương pháp đánh giá dựa vào chỉ số xuất phát từ khái niệm của IPCC (2001), V = f(E,S,AC) và đề xuất hàm tác động

Trang 11

tiềm tàng là PI = (E,S), Allison và cộng sự đã tính toán khả năng tổn thương bằng hàm V = [PI (E,S) – AC] kết quả cho thấy, ngành thủy sản của các quốc gia miền Trung và Tây Phi (Maliwi, Guinea, Senegal và Uganda), Peru và Colombia và 4 quốc gia vùng nhiệt đới Châu Á là Bangladesh, Campuchia, Pakistan và Yemen được nhận diện là dễ bị tổn thương nhất trước BĐKH [22]

Nghiên cứu của Kam S.P và các tác giả (2010) đánh giá tính dễ bị tổn thương trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản tại đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam qua việc áp dụng phương pháp đánh giá của IPCC và áp dụng mô hình tính toán của Allison kết quả cho thấy tỉnh Sóc Trăng, Cà Mau, Kiên Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Tiền Giang có mức độ tổn thương cao nhất trong các tỉnh [27]

Như vậy, qua các nghiên cứu tổng hợp ở trên, chúng ta có thể nhận thấy, các nghiên cứu vấn đề BĐKH trong nuôi trồng thủy sản chủ yếu tập trung ở hai khía cạnh chính: Một là, tìm ra các mối tác động đến quá trình sinh trưởng của con nuôi liên quan đến khí tượng, khí hậu; Hai là đánh giá định lượng được mức

độ tổn thương dựa trên các phương pháp mang tính chính thống của IPCC áp dụng trong lĩnh vực thủy sản

1.1.3 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Thủy sản là ngành ít đóng góp nhất vào sự thúc đẩy biến đổi khí hậu toàn cầu nhưng lại là một trong những ngành chịu tác động nhiều nhất do biến đổi khí hậu (Williams L., 2010) [29] Cùng với những khó khăn ngày càng lớn của ngành thủy sản như suy giảm nguồn lợi, ô nhiễm môi trường sinh thái, thiếu nguồn nước ngọt cho nuôi trồng thủy sản nội địa và ven biển, nhu cầu ngày càng tăng của cộng đồng ngư dân trong sử dụng nguồn lợi thủy sản và áp lực sử dụng tổng hợp tài nguyên mặt nước…, biến đổi khí hậu đang đặt thêm một gánh nặng phải giải quyết nhằm thực hiện mục tiêu phát triển thủy sản bền vững (Nguyễn

V N et al, 2010)[8]

Thật vậy, BĐKH không chỉ tác động tới môi trường thủy sinh trên biển, tới nền kinh tế thủy sản nói chung mà còn tác động trực tiếp đến môi trường nuôi trồng thủy sản (Nguyễn V.T., 2010)[8] Có thể kể ra các yếu tố biến đổi khí

Trang 12

hậu có thể ảnh hưởng tới NTTS Việt Nam như sau: (i) sự gia tăng nhiệt độ; (ii) nước biển dâng và xâm nhập mặn; (iii) lũ lụt, tiêu thoát nước và sạt lở đất; (iv) bão và áp thấp nhiệt đới (Trương Q H., 2011)[12]

Theo báo cáo “Đánh giá tác động, tổn hại của Biến đổi khí hậu đến lĩnh vực thủy sản và nghiên cứu, đề xuất các biện pháp thích ứng với Biến đổi khí hậu trong ngành thủy sản Việt nam” (2009) của ThS Nguyễn Quang Hùng và

KS Hoàng Đình Chiểu, các tác giả đã phân tích rõ các tác động của BĐKH đối với nghề nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam như sau:

Nhiệt độ tăng: thay đổi về nhiệt độ môi trường sống sẽ ảnh hưởng đáng kể tới sự trao đổi chất, tốc độ phát triển, sự sinh sản và tái sản xuất theo mùa vụ của các sinh vật sống trong môi trường nước đó, đồng thời chúng sẽ dễ bị nhiễm bệnh và các loại độc tố Khi nhiệt độ tăng lên làm cho hàm lượng Ôxi trong nước trong giảm mạnh vào ban đêm, do sự tiêu thụ quá Ôxi làm ảnh hưởng đến

sự sinh trưởng và phát triển của loài nuôi, tôm cá có thể bị chết hoặc chậm lớn Điều này dễ nhận thấy qua hiện tượng phù dưỡng của các ao nuôi; cá nổi đầu vào buổi sáng trong các ao nuôi; thủy triều đỏ và tảo chết hàng hoạt ở các vùng ven biển

Lũ lụt: Đối với nghề nuôi thủy sản nước mặn nước lợ, độ mặn lại là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của loài nuôi Khi xảy ra mưa lớn, độ mặn trong các ao nuôi giảm xuống đột ngột vượt ra khỏi ngưỡng chịu đựng làm cho tôm cá bị sốc, chết hoặc chậm lớn Lũ xảy ra còn làm cho độ mặn các vực nước gần bờ như các cửa sông giảm xuống, nghề nuôi nhuyễn thể, tôm

cá, rong đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng

Giông bão: Bão và áp thấp nhiệt đới gây ra mưa to, gió lớn, sóng dữ dội

có thể tàn phá hoàn toàn hệ thống đê bao của các ao nuôi, lồng bè trên biển, vì vậy tổn thất là điều khó tránh khỏi Sự tàn phá của bão và áp thấp nhiệt đới còn ảnh hưởng đến hệ sinh thái của vùng nuôi – cần thời gian dài mới có thể phục hồi.So với sự thay đổi nhiệt độ, bão và áp thấp nhiệt đới thường khó có thể dự đoán, ngược lại mức độ ảnh hưởng của nó ảnh hưởng nghiêm trọng hơn rất nhiều

Trang 13

Mực nước biển dâng: có những ảnh hưởng khá lớn đến nuôi trồng thủy sản nhưng chủ yếu là nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng cửa sông Khi mực nước biển dâng sẽ làm biến đổi cấu trúc hệ sinh thái, các vùng nuôi tôm cua ven rừng ngập mặn; khu vực nuôi ngao trên bãi triều sẽ bị thu hẹp; khu vực nuôi lồng bè, nuôi hầu ở khu vực cửa sông bị thu hẹp hoặc ảnh hưởng đến sinh trưởng của loài nuôi

Các yếu tố nói trên của biến dổi khí hậu sẽ làm thay đổi điều kiện thủy lý

và thủy hóa, ảnh hưởng đến chất lượng sống và tốc độ phát triển của thủy sinh Nhiệt độ tăng cao sẽ làm hàm lượng ô xy trong nước giảm nhanh, tốc độ sinh trưởng của thủy sản sẽ chậm đi, tạo điều kiện bất lợi cho các thủy sinh đã thích nghi với môi trường thủy sản từ trước đến nay, giảm lượng thức ăn của thủy sinh

Trong báo cáo “Kinh tế học thích ứng với Biến đổi khí hậu – Việt Nam” của Ngân hang Thế giới năm 2010, các tác giả đã nêu rằng tác động trực tiếp của hiện tượng mực nước biển dâng có thể đặc biệt trở nên quan trọng do lũ lụt ra tăng và hiện tượng nhiễm mặt sẽ tác ảnh hưởng tới nuôi trồng thủy sản vùng duyên hải đặc biệt là ở các ao, hồ ngay sát bãi biển Bất kỳ sự tăng lên nào về cường độ và tần suất của các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão đều có thể ảnh hưởng tới ngành nuôi trồng thủy sản do phá hủy các tài sản sử dụng trong sản xuất và cơ sở hạ tầng giao cần thiết để giao thương trên thị trường (World Bank, 2010)[27]

Theo đánh giá mới nhất của Tổ chức DARA quốc tế phối hợp với Diễn đàn các nước dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu (CVF) thực hiện trong khuôn khổ Chương trình Sáng kiến về Tính dễ Tổn thương năm 2012, Việt Nam đứng đầu trong danh sách các nước có mức thiệt hại ngành thủy sản do biến đổi khí hậu ở mức nguy cấp, tức là mức báo động đỏ, khoảng 1,5 tỷ USD năm 2010 và mức thiệt hại này sẽ tăng tới 25 tỷ USD vào năm 2030 (DARA International & Climate Vulnerable Forum, 2012)[20]

Trang 14

Nhằm tăng cường khả năng nghiên cứu phân tích và dự báo về BĐKH cho các cơ quan chuyên môn trong ngành thủy sản, phục vụ cho công tác hoạch định chính sách và xây dựng kế hoạch ứng phó trong ngành Các nhà nghiên cứu trong nước cũng đã tích cực trong việc xây dựng và áp dụng các phương pháp nghiên cứu đánh giá cho Việt Nam trong đó có:

Trong nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH có nghiên cứu “Tác động của BĐKH đến nghề cá Việt Nam” của nhóm nghiên cứu gồm: TS Nguyễn Viết Thành, PGS.TS Nguyễn Ngọc Thanh, TS Ngô Thọ Hùng và TS Dư Văn Toán Nghiên cứu này đánh giá tác động của BĐKH đến nghề cá Việt Nam.Hàm sản xuất được sử dụng trong nghiên cứu để mô hình hóa tác động của BĐKH đối với sản lượng khai thác.Kết quả cho thấy, lượng mưa trung bình hàng năm khu vực ven biển có tác động tiêu cực đến sản lượng khai thác thủy sản của Việt Nam, tuy nhiên việc tăng lượng mưa đối với khai thác là tương đối nhỏ [6]

Nghiên cứu “Ảnh hưởng của BĐKH đến nghề nuôi cá Tra ở Đồng bằng sông Cửu Long” của nhóm tác giả TS.Trương Hoàng Minh, KS Đào Minh Hải

và GS.TS Nguyễn Thanh Phương Nghiên cứu này đã xác định được các tác động đặc thù của BĐKH như gia tăng các kiểu thời tiết cực đoan, mực nước tăng lên ở các kênh rạch, gia tăng số ngày nóng và mùa nóng kéo dài, xâm nhập mặn, tăng tần suất lũ và mùa mưa đến sớm hơn, tăng cường độ mưa lớn… đến hoạt động nuôi cá Tra của các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh và Sóc Trăng [11]

Trong nghiên cứu “Nhận thức về tác động của BĐKH và biện pháp thích ứng đối với nghề nuôi tôm vùng Đồng bằng sông Cửu Long” của nhóm tác giả Ths Vũ Vi An, TS Nguyễn Văn Hảo, Ths Phạm Bá Vũ Tùng, Ths Đoàn Văn Bảy, Ths Phan Thanh Lâm, TS Patrick White, TS Nagothu Udaya SeKhar, TS Sirisuda Jumnongsong, TS Vurunthat Dulyapurk, TS.Methee Kaewnern Kết quả nghiên cứu xác định được 5 yếu tố liên quan đến BĐKH có tác động đến nghề nuôi tôm ở ĐBSCL, bao gồm: Nhiệt độ tăng, nước biển dâng, mưa to và mưa trái mùa, bão tố Đối với người nuôi tôm nhiệt độ tăng được xem là yếu tố

Trang 15

tác động mạnh đến nghề nuôi tôm (32.2%), trong khi đó nghiên cứu chỉ ra là mưa to và mưa trái mùa mới là yếu tố tác động mạnh nhất (48.4%) [17]

Nghiên cứu “Xây dựng khung đánh giá và công cụ tính toán chỉ số tình trạng dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu: Nghiên cứu thí điểm cho sản xuất nông nghiệp tại một số tỉnh đồng bằng sông Hồng, Việt Nam” của ThS NCS Hà Hải Dương, GS Trần Thục, GS Lars Ribbe Kết quả của nghiên cứu xây dựng một phương pháp thống nhất được sử dụng để đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương nói chung và và đối với sản xuất nông nghiệp nói riêng ở Việt Nam Điểm nổi bật là toàn bộ các công thức tính toán đã được tích hợp thành phần mềm và chiết suất ra được bản đồ tổn thương trong quá trình tính toán Phần mềm đã được sử dụng thử nghiệm cho các tỉnh đồng bằng sông Hồng, kết quả cho thấy các tỉnh ven biển như Nam Định, Hải Phòng sẽ chịu tác động nặng nề hơn các tỉnh nội địa như Hà Nam, Hải Dương [4]

Như vậy, những nghiên cứu trên cho thấy, các nhà nghiên cứu đã cố gắng xây dựng, áp dụng các phương pháp nghiên cứu trên Thế Giới vào nghiên cứu cho Việt Nam, trong đó tập trung nghiên cứu vấn đề tác động của BĐKH đến nuôi trồng thủy sản, vấn đề đánh giá tính dễ bị tổn thương còn đang nhỏ lẻ, chưa

có nhiều kết quả nghiên cứu để so sánh

1.2 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Ninh Bình

1.2.1 Hiện trạng phát triển nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Ninh Bình

Giai đoạn 2004-2009, nghề nuôi trồng thủy sản huyện đã đạt được những thành tích quan trọng và có những bước phát triển mạnh cả về diện tích và sản lượng Diện tích nuôi tăng từ 7.284 ha năm 2004 lên 9.693 ha năm 2009 (tăng bình quân 4,9%/năm) Sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng từ 10.817 tấn năm

2004 tăng lên 19.550 tấn năm 2009 (tăng bình quân 9,81%/năm) [10]

Trang 16

Bảng 1.1.Diện tích, sản lượng nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2004-2009

cá Chim trắng, cá Rô phi đơn tính, cá Rô phi hồng

Diện tích và sản lượng: Giai đoạn 2004-2009 phong trào NTTS nước ngọt

đã có sự phát triển nhảy vọt Diện tích nuôi thủy sản nước ngọt năm 2004 là 5.354 ha, đến năm 2009 tổng diện tích nuôi nước ngọt tăng lên 7.529 ha, đạt tốc

độ tăng trưởng bình quân là 5,85%/năm Sản lượng NTTS nước ngọt năm 2004

là 8.495 tấn, tăng lên 16.158 tấn năm 2009 (đạt tốc độ tăng trưởng bình quân về sản lượng là 11,31%/năm)

Hình thức thức nuôi: Đã có sự chuyển biến mạnh từ hình thức nuôi quảng

canh (QC), quảng canh cải tiến (QCCT) sang hình thức nuôi bán thâm canh (BTC), thâm canh (TC), các yếu tố kỹ thuật như cải tạo ao nuôi, kỹ thuật chăm sóc, quản lý trong quá trình nuôi đã được người dân quan tâm, áp dụng vào trong quá trình nuôi và việc đầu tư sử dụng các loại thức ăn tinh, thức ăn công nghiệp đã góp phân nâng cao năng suất nuôi trồng thủy sản

Trang 17

Hiện trạng sản xuất nuôi trồng thủy sản ao hồ nhỏ năm 2009: Tổng diện tích ao

hồ nhỏ đến năm 2009 là 2.007 ha, trong đó diện tích nuôi thủy sản trong ao hồ nhỏ của Kim Sơn là 515 ha

Hiện trạng sản xuất nuôi trồng thủy sản ruộng trũng năm 2009: Tổng diện

tích nuôi thủy sản ruộng trũng năm 2009 diện tích tăng đạt 5.432 ha Trong đó

diện tích nuôi thủy sản ruộng trũng của Kim Sơn là 465ha.[10]

b Nuôi trồng thủy sản nước lợ, nước mặn

Diện tích, sản lượng nuôi thủy sản mặn, lợ: Từ năm 2004 đến nay, nuôi

trồng thủy sản mặn lợ phát triển chậm Diện tích nuôi thủy sản mặn lợ năm 2004

là 1.930 ha, đến năm 2009 diện tích tăng lên là 2.164ha (đạt tốc độ tăng bình quân 1,93%/năm) Sản lượng thủy sản nuôi mặn lợ tăng từ 2.555 tấn (năm 2004) tăng lên 3.392 tấn (năm 2009) đạt tốc độ tăng trưởng bình quân về sản lượng là 4,17%/năm

Các đối tượng nuôi chủ yếu: Các đối tượng được nuôi phổ biến ở vùng

nước mặn lợ là: tôm sú, cua xanh, tôm rảo và ngao Năm 2009, diện tích nuôi tôm sú vụ là 2.064 ha, diện tích nuôi cua vụ 2 là 1.850 ha, diện tích nuôi ngao là 47ha Đây là những đối tượng đã được nuôi trong thời gian qua, góp phần tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động vùng nông thôn ven biển và tạo ra sản phẩm hàng hoá cung cấp cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu

Phương thức nuôi:Qua kết quả điều tra, khảo sát thực tế các hộ NTTS,

báo cáo tổng kết và số liệu thống kê diện tích NTTS các năm của các địa phương cho thấy hình thức nuôi chủ yếu là QC và QCCT chiếm 95%, các hình thức nuôi bán thâm canh và thâm canh còn ít, chỉ chiếm khoảng 5 % tổng diện tích nuôi mặn lợ

Năng suất nuôi: Năng suất nuôi tôm bình quân hiện nay của mô hình

nuôi thâm canh và bán thâm canh đạt: 2,0-1,5 tấn/ha, nuôi theo mô hình quảng canh và quảng canh cải tiến đạt năng suất bình quân: 0,45-1,0 tấn/ha

Trang 18

Bảng 1.2.Diện tích và sản lượng NTTS mặn, lợ tỉnh Ninh Bình năm 2004-2009

TT Hạng mục ĐVT 2004 2005 2006 2007 2008 2009

I DT Nuôi mặn, lợ ha 1.930 2.035 2.160 2.074 2.115 2.164

- Huyện Kim Sơn ha 1.930 2.035 2.160 2.074 2.115 2.164

II SL Nuôi mặn, lợ tấn 2.555 2.900 2.210 2.900 2.930 3.394

- Huyện Kim Sơn tấn 2.555 2.900 2.210 2.900 2.930 3.394

Nguồn: Số liệu thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2009

1.2.2 Điều kiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ phát triển nuôi trồng thủy sản

Sản xuất và cung cấp giống

Hiện nay sản xuất giống thủy sản ở huyện còn rất yếu kém, các cơ sở sản xuất giống còn ít, năng lực sản xuất của các cơ sở sản xuất giống còn yếu, sản xuất trong điều kiện không thuận lợi, đã đẩy chi phí sản xuất tăng cao không cạnh trạnh được với nguồn giống nhập từ tỉnh ngoài

Trại sản xuất giống nước lợ: hiện nay có 5 cơ sở sản xuất giống nước lợ đang hoạt động, đối tượng sản xuất tôm sú và cua xanh nhuyễn thể

Sản lượng giống tôm sú sản xuất hàng năm giai đoạn 2005-2007 đạt 5-10 triệu con tôm P15/năm Hiện nay các trại không sản xuất tôm sú tại chỗ mà hoàn toàn nhập giống từ tỉnh ngoài về Các trại sản xuất tôm chuyển sang sản xuất các đối tượng hải sản khác và làm dịch vụ cung cấp giống

Sản lượng cua giống hàng năm sản xuất được 0,2-0,5 triệu cua bột/năm Một số đối tượng mới hiện nay đã đưa và sản xuất thanh công như: Ngao sản xuất được 15 triệu con, hầu giống 60 triệu con, cá Vược giống 20 triệu con,

cá Bống bớ 90 vạn con;

Trại sản xuất giống nước ngọt: Có một cơ sở sản xuất giống tôm càng xanh, công suất thiết kế đạt 50 triệu con giống P15/năm và 2 cơ sở sản xuất cá nước ngọt Các loài cá được sản xuất chủ yếu là cá truyền thống ngoài ra các trại còn cho sinh sản một số đối tượng có giá trị kinh tế như: chép Lai, chim Trắng, cá Rô phi hồng Trại sản xuất giống nước ngọt đã sản xuất được 30-40 triệu cá bột các loại và 2 triệu con tôm Càng xanh

Trang 19

Nhìn chung hiện nay con giống sản xuất trong tỉnh mới chỉ đáp ứng được 10-15% nhu cầu con giống nuôi thả của nhân dân trong tỉnh, số lượng giống còn lại phải nhập từ các tỉnh ngoài [15]

Thức ăn, thuốc thú y thủy sản

Ninh Bình chưa có cơ sở sản xuất thức ăn, thuốc thú y thuỷ sản, hiện có

12 cơ sở kinh doanh thức ăn, thuốc thú y thuỷ sản Do đặc điểm sản xuất nuôi tôm, cua của người dân chủ yếu là QCCT, năng suất thấp, tập quán người dân còn nuôi thả tận dụng, sử dụng chủ yếu thức ăn tự chế biến Nhu cầu sử dụng thức ăn công nghiệp rất ít, mỗi năm tiêu thụ khoảng 100-120 tấn/năm (các loại thức ăn phổ biến là KP90, Long Sinh, Hải Long, CP, ) Nhu cầu sử dụng thuốc thú y thuỷ sản rất ít, thuốc và hoá chất lưu hành phổ biến là vôi bột, Dolomid, KMnO4, Chlorin, Formalin, BKC,

Điều kiện cơ sở hạ tầng

Hạ tầng cơ sở chưa hoàn chỉnh đồng bộ, đặc biệt là hệ thống thủy lợi phục vụ cho nuôi trồng thủy sản nội đồng Vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất, các công trình thuộc dự án thủy lợi phục vụ NTTS đang thi công chưa hoàn thiện Hiện nay chưa chủ động được việc cung cấp nước cho các vùng nuôi thủy sản, nguồn nước còn phụ thuộc vào

tự nhiên, chất lượng nước chưa đảm bảo

Dự án quy hoạch chi tiết tiểu vùng 3 (từ đê BM2 đến BM 3) đã được UBND huyện phê duyệt nhưng đến nay thi công chưa xong nên ảnh hưởng đến sản xuất phát triển nuôi trồng thủy sản

Do thời gian ký hợp đồng NTTS ngắn từ 1-5 năm, nên các hộ dân chưa mạnh dạn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, bờ ao bị dò rỉ làm mất nước, làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất Nhiều ao có mức nước quá thấp, chỉ đạt từ 50-70

cm làm cho những ngày thời tiết có biến động lớn như nắng nóng, mưa lớn đột ngột làm ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả nuôi trồng thủy sản

Hệ thống giao thông, hệ thống điện phục vụ cho phát triển nuôi trồng thủy sản hiện nay còn gặp nhiều khó khăn [15]

Trang 20

1.2.3 Tình hình môi trường và dịch bệnh

Môi trường và dịch bệnh tại các vùng nuôi trồng thủy sản diễn biến phức tạp Trong quá trình nuôi, một số bệnh gây nguy hiểm thường gặp ở các đối tượng là: bệnh truyền nhiễm do virus, vi khuẩn, nấm, bệnh ký sinh trùng, bệnh

do dinh dưỡng, bệnh do môi trường, bệnh do chất lượng giống, các sinh vật hại Tất cả các giai đoạn phát triển từ con giống và nuôi thương phẩm đều bị nhiễm bệnh Bệnh bắt gặp ở tất cả các phương thức nuôi (quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh)

Các bệnh hay xảy ra ở cá nuôi là bệnh do ký sinh sán lá đơn chủ, trùng

mỏ neo (cá mè, chép, trắm cỏ ), bệnh treo râu (ở cá trê), bệnh lở loét, bệnh trùng bánh xe, bệnh nấm (ở cá trê, cá chép, rô phi) và đặc biệt nguy hiểm là bệnh đốm

đỏ, xuất huyết (ở cá trắm cỏ, cá rô phi đơn tính), xuất hiện vào mùa Đông - Xuân

Tôm nuôi nước lợ thường mắc các bệnh Virus nguy hiểm như: bệnh đầu

vàng (Yellow Head Disease- YHD); bệnh còi do MBV (Monodon Baculovirus); bệnh virus đốm trắng (White spot syndrome virus - WSSV); bệnh ở gan tụy (Hepatopancreatic Parvovirus - HPV); bệnh nhiễm trùng virus dưới da và hoại

tử (Infectious hypodermal and haematoietic necrosis virus- IHHNV), bệnh Taura ở tôm he chân trắng (Taura syndrome virus- TVS) Các bệnh do vi khuẩn

Vibrio gây ra như: bệnh phát sáng, đỏ dọc thân, ăn mòn vỏ kitin…

Cua nuôi thương phẩm thường gặp một số bệnh như: bệnh cua sữa, bệnh đen mang, bệnh vỏ (bệnh hoa mu); bệnh run chân, bệnh mềm vỏ [10]

1.2.4 Lao động trong nuôi trồng thủy sản

Tổng số lao động tham gia NTTS trên địa bàn tỉnh hiện nay ước khoảng 20.000 lao người (bao gồm cả lao động chuyên và không chuyên), trong đó số lao động không qua đào tạo chuyên môn chiếm tới 95%, số lao động có trình độ chuyên môn chỉ chiếm 5% tổng số lao động

Một số ít lao động đã được tham gia các khoá tập huấn về kỹ thuật nuôi trồng thủy sản Những lớp tập huấn này được tổ chức bởi nhiều cơ quan, đơn vị khác nhau như: Trung tâm Khuyến ngư của tỉnh, Chi cục thuỷ sản, phòng Nông

Trang 21

nghiệp của các huyện, Công ty cung cấp thức ăn, thuốc thú y thuỷ sản Các lớp tập huấn thường diễn ra trong vòng 1 hoặc 2 ngày, tập trung vào các vấn đề mấu chốt như kỹ thuật nuôi, xử lý môi trường và phòng trừ dịch bệnh Tuy nhiên, do trình độ nhận thức của người dân còn thấp nên việc áp dụng các kiến thức đã học được của người dân vào thực tế còn nhiều hạn chế, việc áp dụng kỹ thuật nuôi của người dân chủ yếu dựa vào kinh nghiệm

Qua khảo sát cho thấy, nhu cầu sử dụng lao động cho hoạt động sản xuất nuôi trồng thủy sản biến động khác nhau theo các phương thức nuôi khác nhau

Số lao động trung bình sử dụng cho nuôi QCCT trong nuôi nước lợ là 2 người/ha/vụ nuôi, nuôi TC/BTC là 3-4 lao động/ha ao nuôi/vụ nuôi Đối với nuôi cá nước ngọt trên diện tích chuyển đổi với phương thức nuôi QCCT, các gia đình thường sử dụng trung bình 1 lao động chính kết hợp với lao động phụ trong gia đình cho việc quản lý chăm sóc 1 ao nuôi diện tích trung bình 2000m2

[14]

1.2.5 Hiện trạng áp dụng Khoa học công nghệ trong NTTS

Việc áp dụng Khoa học công nghệ trong NTTS được các Bộ, Ban, Ngành

và các cấp chính quyền địa phương quan tâm Có sự kết hợp địa phương với các Viện nghiên cứu NTTS (I, III), và các Công ty thức ăn, thuốc và hoá chất Khoa học và công nghệ nuôi trồng thủy sản đã hướng vào giải quyết yêu cầu đa dạng hoá giống loài nuôi, hình thức nuôi; nâng cao chất lượng con giống, phòng trị bệnh và bảo vệ môi trường

Hoạt động Khoa học công nghệ đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nuôi trồng thủy sản, góp phần đáng kể trong việc đưa ngành thủy sản trở thành ngành có tốc độ phát triển cao, quy mô ngày càng lớn và giá trị ngày càng tăng

Sự đóng góp nổi bật nhất của Khoa học công nghệ trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản phải nói đến trước hết là công nghệ sản xuất giống Trong sản xuất giống đã ứng dụng tiến bộ Khoa học công nghệ cho sinh sản thành công nhiều đối tượng có giá trị kinh tế như: tôm Sú, cua xanh, tôm Càng xanh, cá rô phi đơn tính, cá chép lai 3 máu

Trang 22

Các công nghệ nuôi ở nhiều hình thức nuôi thâm canh, bán thâm canh, quảng canh cải tiến, quảng canh, nuôi cá-lúa đã được nghiên cứu và áp dụng tại nhiều địa phương trong tỉnh Đặc biệt triển khai nghiên cứu ứng dụng các quy trình nuôi thực hành tốt trong thủy sản (GAP) và nuôi thủy sản có trách nhiệm (CoC) nhằm tạo sản phẩm sạch trong nuôi trồng thủy sản nâng cao giá trị xuất khẩu thủy sản cũng như trình độ và kỹ năng quản lý cộng đồng của người nuôi [10]

1.3 Đánh giá chung về hiện trạng nuôi trồng thủy sản

1.3.1 Kết quả đạt được

Phong trào nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2004 - 2008 phát triển nhanh, mạnh và khá toàn diện Trên địa bàn tỉnh đã hình thành các vùng nuôi tập trung với những phương thức nuôi tiên tiến và từng bước đã mang lại hiệu quả Năng suất, sản lượng NTTS tiếp tục tăng NTTS đã trở thành nghề sản xuất chính và đang chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá

Qua việc đầu tư cho các dự án NTTS, cơ sở vật chất - kỹ thuật của ngành Thuỷ sản đã được xây dựng ngày càng tăng Góp phần nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng diện tích đất đai, mặt nước NTTS Đã hình thành những vùng nuôi đạt 100-200 triệu đồng/ha

Phát triển NTTS đã tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, làm thay đổi bộ mặt nông thôn (đặc biệt vùng nông thôn ven biển) Nhiều ngư dân vùng ven biển và một số nông dân vùng nội đồng có thu nhập cao từ NTTS

Sản xuất thành công một số đối tượng giống nuôi mới có giá trị kinh tế như: cua Xanh, cá Bống bớp, tôm Càng xanh, cá Rô phi đơn tính Đây là một trong những cố gắng lớn của việc đa dạng hoá các đối tượng nuôi, từng bước chủ động được nguồn giống có chất lượng nhằm thúc đẩy phong trào nuôi thuỷ sản phát triển mạnh theo hướng sản xuất hàng hoá, có hiệu quả và bền vững

Kỹ thuật và trình độ nuôi của người dân được nâng lên một bước rõ rệt, thông qua việc ứng dụng, chuyển giao công nghệ nuôi và sản xuất giống, đã

Trang 23

hình thành một đội ngũ kỹ thuật có tay nghề trong cộng đồng người NTTS các vùng nuôi đã và đang có xu hướng hình thành các hiệp hội hợp tác nhằm tạo được sự đồng thuận cao trong việc chuyển đổi các hình thức nuôi, chọn đối tượng nuôi phù hợp, phòng chống dịch bệnh, ô nhiễm môi trường và tiêu thụ sản phẩm

Vai trò tham mưu, tổ chức thực hiện của cơ quan chuyên ngành thuỷ sản bước đầu được phát huy

Thị trường tiêu thụ sản phẩm từ NTTS khá ổn định, đặc biệt là sản phẩm tôm nuôi nước lợ đây là điều kiện thuận lợi để thúc đẩy nghề NTTS ở tỉnh Ninh Bình phát triển mạnh hơn [14]

Công tác kiểm dịch, kiểm tra chất lượng giống thuỷ sản còn nhiều hạn chế

do thiếu máy móc, thiết bị các thông số kỹ thuật được xác định chủ yếu bằng cảm quan và kinh nghiệm Quản lý dịch vụ, thú y thuỷ sản còn yếu

Cơ sở hạ tầng và hậu cần dịch vụ cho nuôi trồng thủy sản nhất là hệ thống thủy lợi (cung cấp và tiêu thoát nước) còn yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nghề NTTS hiện nay

Thời tiết không thuận lợi cho việc sản xuất giống một số đối tượng có giá trị kinh tế cao, sản xuất không ổn định Để có được con giống đạt chất lượng cao, sạch bệnh và cung cấp đủ số lượng, kịp thời vụ cho các vùng nuôi trên địa bàn tỉnh đang và sẽ là những khó khăn không dễ giải quyết

Nghề nuôi phát triển manh mún, tự phát, không theo quy hoạch Công tác quản lý việc dùng các loại hoá chất, kháng sinh trong quá trình nuôi, bảo quản

và chế biển thuỷ sản cũng như đảm bảo yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm cũng đang là những thách thức lớn đối với ngành thuỷ sản Ninh Bình

Trang 24

Biến đổi khí hậu toàn cầu, nước biển dâng, tần suất bão và áp thấp nhiệt đới gia tăng, lũ lụt xảy ra với cường suất lớn ảnh hưởng trực tiếp và gây nhiều thiệt hại đến nghề nuôi trồng thủy sản ở Ninh Bình [14]

1.4 Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản ở Ninh Bình [14]

1.4.1 Quan điểm về phát triển nuôi trồng thủy sản

Phát triển nuôi trồng thủy sản thành ngành sản xuất hàng hóa có giá trị kinh tế cao, ưu tiên đầu tư cho các vùng có điều kiện thuận lợi phát triển thành vùng nuôi thủy sản hàng hóa tập trung

- Phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, bên cạnh đó cần lựa chọn các đối tượng phù hợp với đặc thù điều kiện tự nhiên và tập quán sản xuất của từng vùng, nhưng phải có được những vùng sản xuất hàng hoá tập trung cao để cạnh tranh ở các thị trường lớn trong và ngoài nước

- Tăng cường áp dụng Khoa học công nghệ vào quản lý và sản xuất Áp dụng các công nghệ nuôi tiên tiến, thân thiện với môi trường, nâng cao hiệu quả sản xuất, đảm bảo phát triển nhanh và bền vững

- Phát triển thuỷ sản trong mô hình sản xuất đa canh bên cạnh những vùng chuyên canh, xây dựng mô hình kinh tế trang trại vừa và nhỏ của các hộ sản xuất thuỷ sản là hướng đi tích cực nhất, ổn định môi trường đầu tư nhất và hiệu quả nhất

Định hướng phát triển

- Phát triển nuôi trồng thủy sản cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Tập trung chuyển đổi phương thức nuôi từ quảng canh cải tiến sang nuôi theo phương thức bán thâm canh và thâm canh

- Đối với các vùng ruộng trũng có khả năng cấp thoát nước dễ dàng, không chịu sự ảnh hưởng của lũ lụt sẽ được chuyển đổi sang nuôi chuyên canh các đối tượng đặc sản có giá trị kinh tế cao

- Phát triển nuôi ở tất cả các loại hình mặt nước nhằm đa dạng hoá hình thức nuôi, đối tượng nuôi, đồng thời tập trung phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở các vùng trọng điểm (vùng bãi bồi huyện Kim Sơn, vùng ruộng trũng, hồ thuỷ lợi)

Trang 25

- Ưu tiên phát triển các đối tượng có giá trị kinh tế cao, được thị trường tiêu thụ mạnh, mang lại hiệu quả cao và có khả năng xuất khẩu, song phải đảm bảo đầy đủ điều kiện về cơ sở hạ tầng, chất lượng môi trường nước, con giống

và chất lượng nguồn nhân lực

Mục tiêu phát triển

Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản đến năm 2015 là 13.233 ha, đến năm

2020 là 16.473 ha, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân về diện tích trong giai đoạn 2010-2020 là 4,9%/năm

Tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản đến năm 2015 đạt 32.150 tấn, đến năm 2020 đạt 49.980 tấn, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân về sản lượng nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2010-2020 là 8,91%/năm

1.4.2 Nội dung quy hoạch phát triển

a Quy hoach nuôi thủy sản nước ngọt

Ninh Bình có điều kiện tự nhiên thuận lợi và có tiềm năng to lớn về phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt

Giai đoạn đầu thực hiện lấy mở rộng diện tích để tăng sản lượng và giá trị, dần từng bước phát triển theo hướng chuyển đổi hình thức canh tác và hỗ trợ công nghệ, đầu tư hợp lý theo khả năng của dân và khả năng huy động vốn đầu

tư của nhà nước, của các tổ chức

Diện tích NTTS nước ngọt tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2010-2020 đạt tốc độ tăng trưởng bình quân về diện tích là 5,05%/năm, đến năm 2015 diện tích nuôi thủy sản nước ngọt là 10.450 ha, đến năm 2020 là 12.950 ha

Giai đoạn 2010-2020, sản lượng nuôi thủy sản nước ngọt đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 7,27%/năm Sản lượng thủy sản nước ngọt nuôi đến năm 2015

là 24.310 tấn; đến năm 2020 sản lượng ước đạt 34.970 tấn

Nuôi trồng trên diện tích ao hồ

Hiện nay, tỉnh Ninh Bình có diện tích ao hồ nhỏ xen lẫn trong khu dân cư tương đối lớn khoảng 2.012 ha, có khả năng sử dụng vào NTTS Tuy nhiên do điều kiện cơ sở hạ tầng, nguồn cung cấp nước và thoát nước thải của hệ thống ao

hồ nhỏ khó khăn, cùng với xu thế đô thị hóa ngày càng tăng, nên diện tích nuôi

Trang 26

thủy sản ở các ao hồ nhỏ trong các vùng dân cư sẽ có xu hướng giảm trong giai đoạn tới

Dự kiến diện tích nuôi thủy sản trong hệ thống ao hồ nhỏ trong dân cư đến năm 2015 là 1.470 ha, đến năm 2020 là 1.380 ha, so với năm 2009 diện tích nuôi trông ao hồ nhỏ giảm, tốc độ giảm bình quân 3,3%/năm

Đối tượng nuôi chủ yếu ở các ao hồ nhỏ là các đối tượng cá truyền thống như mè, trắm, chép ngoài ra có thể phát triển các đối tượng có giá trị khác như: cá Rô đơn tính, cá Chim trắng, cá Rô đồng

Hình thức nuôi chủ yếu tại các ao, hồ nhỏ trong các khu dân cư là theo hình thức quảng canh cải tiến Có thể sử dụng diện tích ao hồ nhỏ vào để ươm nuôi cá giống kết hợp với sản xuất cá thịt

Nuôi ruộng trũng

Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt của tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới lấy trọng tâm là quy hoạch phát triển NTTS ruộng trũng, cho phép chúng ta sử dụng 12.572 ha ruộng trũng, thùng đào để chuyên canh thuỷ sản và nuôi kết hợp thuỷ sản với các cây con khác

Diện tích ruộng trũng được quy hoạch sử dụng mục đích phát triển NTTS đến năm 2015 là 8.840 ha, trong đó diện tích được chuyển đổi sang nuôi chuyên canh thủy sản là 3.500 ha và diện tích nuôi kết hợp thủy sản với các đối tượng cây con khác là 5.340 ha Đến năm 2020, diện tích ruộng trũng đưa vào phát triển thủy sản là 11.420 ha, trong đó diện tích ruộng trũng chuyển sang nuôi chuyên canh thủy sản là 4.000 ha và nuôi kết hợp thủy sản với các cây con khác

là 7.420 ha So với năm 2009, diện tích ruộng trũng chuyển đổi sang NTTS tăng thêm là 5.988 ha, trong đó diện tích tăng thêm của các huyện là: Nho Quan (1.211ha), Gia Viễn (1.675ha), Hoa Lư (83ha), Yên Khánh (890ha), Yên Mô (980ha), Kim Sơn (875ha), TP Ninh Bình (4ha), thị xã Tam Điệp (270ha)

Đối tượng nuôi chủ yếu ở ruộng trũng là các đối tượng cá truyền thống như mè, trắm, chép và phát triển các đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao phục vụ cho các khu đô thị và hướng tới xuất khẩu như: cá Rô đơn tính, cá Chép lai 3 máu, cá Diêu hồng, tôm Càng xanh

Trang 27

Hình thức nuôi chủ yếu tại khu ruộng trũng chuyển đổi sang nuôi chuyên canh là theo hình thức thâm canh, bán thâm canh; ở vùng ruộng trũng nuôi kết hợp với lúa thì nuôi theo hình thức bán thâm canh, quảng canh cải tiến

Nuôi trên mặt nước lớn, nước chảy

Ninh Bình có 1.290 ha mặt nước lớn hồ thuỷ lợi, sông suối có khả năng

sử dụng phát triển thủy sản Dự kiến diện tích mặt nước lớn hồ thủy lợi, mặt nước sông suối đưa vào khai thức sử dụng nuôi trồng thủy sản đến năm 2015 và

2020 là 150 ha

Hình thức nuôi chủ yếu là hình thức sử dụng mặt nước thoáng và nuôi lồng cá ở hồ Quy hoạch đến năm 2015 nuôi 1.500 lồng, đến năm 2020 nuôi 2.000 lồng cá mỗi năm Đối tượng nuôi cá lồng chủ yếu là cá Trắm cỏ và cá Rô đơn tính, cá Diêu hồng

Một số đối tượng nuôi vùng nước ngọt

Dựa trên những phân tích về điều kiện tự nhiên, môi trường, kinh tế xã hội, về thị trường và hiện trạng nuôi trồng thủy sản nước ngọt của tỉnh Ninh Bình, các đối tượng chủ yếu được lựa chọn phát triển trong giai đoạn 2010-2020 là: (1) Các đối tượng cá truyền thống (mè, trôi, trắm, chép) và (2) Các loài có giá trị kinh tế cao (tôm càng xanh, rô phi đơn tính, cá diêu hồng, cá chép lai, cá quả ), phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong và ngoài nước

- Các đối tượng cá truyền thống(mè, trôi, trắm, chép…):Có giá trị kinh tế

không cao, mục tiêu phát triển là cung cấp cho thị trường tiêu thụ trong nước Đối tượng này khó phát triển thành sản xuất hàng hóa, mà chỉ nuôi tại các ao hồ nhỏ, lẻ và các vùng ruộng trũng chuyển đổi ở vùng không tập trung Hình thức nuôi chủ yếu là xen canh 1 vụ lúa - 1 vụ cá; ngoài ra có thể nuôi kết hợp các đối tượng cá truyền thống với các đối tượng đặc sản khác như; cá Rô phi, tôm Càng xanh, cá Chép lai Công nghệ áp dụng chủ yếu là nuôi QCCT Dự kiến diện tích nuôi các đối tượng cá truyền thống năm 2015 là 9.850 ha, sản lượng là 22.100 tấn; năm 2020 diện tích là 12.000 ha, sản lượng 30.500 tấn

- Các loại có giá trị kinh tế cao: Tôm càng xanh hiện nay được nuôi ở

nhiều loại thuỷ vực khác nhau như ao, hồ, ruộng lúa và nuôi ghép với nhiều đối

Trang 28

tượng khác và được theo nhiều hình thức như nuôi chuyên canh, bán thâm canh, nuôi kết hợp với trồng lúa và nuôi luân canh lúa Năng suất nuôi đạt trung bình 2-2,5tấn/ha Mùa vụ nuôi chính từ tháng 4 đến tháng 10.Vùng nuôi tôm Càng xanh tập trung: Thuộc địa bàn một số xã có diện tích nuôi tập trung như Gia Thắng – Gia Viễn, Khánh Thành và Khánh Thuỷ – Yên Khánh, Yên Phong – Yên Mô, Yên Sơn – TX Tam Điệp Dự kiến đến năm 2015 diện tích nuôi tôm Càng xanh là 150 ha, sản lượng đạt 300 tấn; năm 2020 diện tích là 250 ha, sản lượng đạt 620 tấn

- Cá rô phi là đối tượng nuôi có nhiều ưu điểm như tốc độ tăng trưởng nhanh, có khả năng chống chịu tốt với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, có khả năng thả với mật độ cao, cho năng suất cao nên có khả năng phát triển thành hàng hóa Áp dụng công nghệ nuôi bán thâm canh và thâm canh Có thể nuôi ghép cá rô phi với các đối tượng cá truyền thống hoặc nuôi kết hợp với lúa Mùa vụ nuôi chính từ tháng 4- tháng 9 Quy hoạch nuôi tại một số vùng như: Ninh Khang – Hoa Lư, Yên Đồng – Yên Mô và Khánh Nhạc, Yên Thành, Yên Khánh, Quỳnh Lưu- Nho Quan; Gia Trung, Gia Hòa- Gia Viễn.Dự kiến đến năm 2015 diện tích nuôi cá rô phi là 250 ha, sản lượng đạt 1.510 tấn; năm 2020 diện tích là 350 ha, sản lượng đạt 3.030 tấn.Một số chỉ tiêu quy hoạch diện tích

và sản lượng các đối tượng nuôi chính vùng nước ngọt tỉnh Ninh Bình đến năm

2020 được thể hiện cụ thể trong bảng sau:

Bảng 1.3.Quy hoạch đối tượng nuôi chính vùng nước ngọt đến 2020

1 Diện tích nuôi thủy sản nước ngọt 10.450 12.950

- Diện tích nuôi cá truyền thống ha 9.850 12.000

- Diện tích nuôi đối tượng đặc sản khác ha 100 200

Trang 29

- Năng suất nuôi cá truyền thống tấn/ha 2,2 2,5

- Năng suất nuôi đối tượng đặc sản khác tấn/ha 2,0 2,3

Trên kết quả phân tích từ điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội, hiện trạng sản xuất nuôi trồng thủy sản nước ngọt và trình độ kỹ thuật, năng lực quản lý của người nông dân và dựa trên mục tiêu phát triển thuỷ sản nước ngọt tỉnh Ninh Bình thời kỳ 2010-2020 chỉ nên áp dụng 3 công nghệ nuôi chính: Công nghệ nuôi quảng canh cải tiến, công nghệ nuôi bán thâm canh và công nghệ nuôi thâm canh

Công nghệ nuôi quảng canh cải tiến: Công nghệ QCCT áp dụng phù hợp

với diện tích ao hồ nhỏ nằm xen kẽ trong các khu dân cư, hoặc một số diện tích ruộng chuyển đổi nằm phân tán nhỏ lẻ và đồng thời áp dụng công nghệ nuôi QCCT trong các mô hình nuôi kết hợp Cá - Lúa, Tôm - Lúa Dự kiến diện tích nuôi quảng canh cải tiến tại vùng nước ngọt của tỉnh Ninh Bình đến năm 2015 là 7.200 ha, trong đó ao hồ nhỏ là 1.475 ha, vùng ruộng trũng là 5.725 ha Đến năm 2020 là 7.620 ha, trong đó diện tích ao hồ nhỏ là 1.385 ha, vùng ruộng trũng là 6.235 ha Đối tượng áp dụng chủ yếu của mô hình nuôi quảng canh cải tiển là các đối tượng cá truyền thống và các mô hình nuôi ghép

Công nghệ nuôi bán thâm canh và thâm canh: Công nghệ nuôi bán thâm

canh và thâm canh sẽ được áp dụng chủ yếu cho các vùng chuyển đổi nuôi tập trung, nuôi chuyên canh thủy sản; công nghệ này được áp dụng nuôi ở vùng có

Trang 30

sự đầu tư tốt về điều kiện cơ sở hạ tầng, có nguồn cấp thoát nước thuận lợi Đến năm 2015, dự kiến diện tích nuôi thâm canh là 100 ha, nuôi bán thâm canh là 3.150 ha Đến năm 2020, diện tích nuôi thâm canh là 700 ha, diện tích nuôi bán thâm canh là 4.630 ha Công nghệ nuôi này, đòi hỏi mức đầu tư cao hơn so với nuôi QCCT, yêu cầu kỹ thuật nuôi và quản lý tương đối phù hợp với trình độ áp dụng kỹ thuật nuôi cá của người dân trong giai đoạn hiện tại và sắp tới Tuy nhiên để đem lại hiệu quả cao khi áp dụng công nghệ này, đòi hỏi trong thời gian tới người dân cần phải được đào tạo, tâp huấn kỹ thuật, kiến thức chuyên ngành cơ bản và nâng cao năng lực quản lý Cần có sự đầu tư về điều kiện cơ sở

hạ tầng từ phía nhà nước và hỗ trợ cho vay vốn để đầu tư sản xuất cho những vùng sản xuất hàng hóa tập trung, đây là điều kiện quan trọng góp phần để đảm bảo sự thành công Công nghệ này có thể áp dụng nuôi các hình thức nuôi đơn các đối tượng thuỷ đặc sản như: cá Rô đơn tính, tôm Càng xanh và các mô hình nuôi chuyên canh các đối tượng thủy sản

Trang 31

Bảng 1.4.Quy hoạch các phương thức nuôi vùng nước ngọt ở các huyện (thị xã, thành phố) tỉnh Ninh Bình đến năm 2020

4 Huyện Nho Quan tấn 6.950 168 3.443 3.340 9.665 1.680 4.750 3.235

Trang 32

b Quy hoạch nuôi trồng thủy sản nước mặn lợ

Quy hoạch diện tích nuôi

Kim Sơn là huyện duy nhất của tỉnh Ninh Bình có khả năng phát triển nuôi trồng thủy sản mặn lợ Huyện Kim Sơn có 15 km bờ biển, nằm giữa 2 cửa sông; sông Đáy và sông Càn Diện tích vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn (từ đê Bình Minh 2 trở ra) khoảng 6.800 ha, hàng năm còn được phù sa bồi đắp lấn ra biển 80-100m Đây là điều kiện thuận lợi phát triển nuôi thủy sản mặn lợ trong thời gian tới

Trên cơ sở xác định vị trí, điều kiện tự nhiên và những thuận lợi và khó khăn trong phát triển nuôi thủy sản trong thời gian qua, đưa ra các chỉ tiêu quy hoạch phát triển nuôi thủy sản mặn lợ ở vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình đến năm 2020 như sau:

Diện tích nuôi thủy sản nước lợ tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2010-2020 đạt tốc độ tăng trưởng bình quân về diện tích là 4,53%/năm Diện tích đến năm

2015 là 2.773 ha, đến năm 2020 là 3.523 ha

Giai đoạn 2010-2020, sản lượng nuôi thủy sản nước lợ đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 14,5%/năm Sản lượng nuôi đến năm 2015 là 7.840 tấn; đến năm 2020 sản lượng ước đạt 15.010 tấn

Quy hoạch phát triển các đối tượng nuôi chính vùng nước lợ

Quy hoạch nuôi tôm Sú: Dựa vào phân tích hiện trạng thực tiễn sản xuất,

dự báo sự phát triển công nghệ và xu hướng thị trường Sẽ chuyển dần một phần diện tích nuôi tôm Sú sang nuôi tôm Chân trắng Trong giai đoạn 2010-2020 diện tích nuôi tôm Sú duy trì 2.023 ha Diện tích trong đê BM2 là 1.021 ha, ngoài đê BM 2 là 1.002 ha.Đến năm 2015 sản lượng đạt 3.035 tấn; đến năm

2020 sản lượng tôm Sú nuôi đạt 3.641tấn.Áp dụng chủ yếu phương thức nuôi bán thâm canh và quảng canh cải tiến trong quá trình phát triển nuôi tôm sú và

áp dụng các quy trình nuôi tốt (Code of Conduct - CoC hay Good Aquaculture Practice - GAP) hay nuôi có trách nhiệm (Responsible Aquaculture Practice -

RAP) nhằm hạn chế được các rủi ro và nâng cao hiệu quả sản xuất

Trang 33

Quy hoạch nuôi tôm chân trắng: Việc phát triển nuôi tôm Chân trắng ở

vùng nước lợ tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2010-2020 góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi, đáp ứng nhu cầu của thị trường Mục tiêu phát triển tôm Chân trắng đến năm 2015 là: Diện tích nuôi đạt 200 ha, sản lượng đạt 1.100 tấn Đến

năm 2020, diện tích đạt 300 ha, sản lượng đạt 2.400 tấn

Về phương thức nuôi: Áp dụng phương thức nuôi thâm canh và bán thâm canh Nuôi ở vùng có điều kiện cơ sở hạ tầng đáp ứng được yêu cầu theo tiêu chuẩn ngành

Quy hoạch nuôi cua: Ngoài các đối tượng tôm Sú, tôm Chân trắng, thì

Cua xanh (Scylla serrata) cũng được xem là một trong những đối tượng chủ đạo

ở vùng nước lợ tỉnh Ninh Bình và được nuôi vào vụ 2 sau khi nuôi tôm Cua là đối tượng bổ sung nguồn nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu, nhằm đa dạng hoá sản phẩm cung cấp cho nhu cầu của thị trường Một số mục tiêu quy hoạch phát triển nuôi cua giai đoạn 2010-2020 như sau: Năm 2015, diện tích nuôi cua

là 1.000 ha, sản lượng đạt 1.200 tấn Đến năm 2020 diện tích nuôi là 1.300 ha,

sản lượng đạt 1.690 tấn

Quy hoạch nuôi ngao: Căn cứ vào tiềm năng của địa phương về phát triển

nuôi nhuyễn thể, định hướng trong giai đoạn 2010-2020 phát triển nuôi ngao ở Cồn Nổi.Mục tiêu đến năm 2015, diện tích phát triển nuôi ngao là 500 ha, sản lượng đạt 3.500 tấn; đến năm 2020 diện tích nuôi ngao là 800 ha, sản lượng đạt

6.400 tấn

Một số mục tiêu cụ thể phát triển các đối tượng nuôi chính vùng nước lợ tỉnh Ninh Bình đến giai đoạn 2010- 2020 được thể hiện qua bảng sau:

Trang 34

Bảng 1.5.Quy hoạch các đối tƣợng nuôi chình vùng măn, lợ đến năm 2020

- Ngao (nuôi vùng bãi triều, cồn nổi) ha 500 800

c Vùng nuôi thủy sản tập trung

Vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn

Vùng BM1, BM2 thuộc địa bàn quản lý sản xuất các xã Kim Đông, Kim

Trung, Kim Hải, thị trấn Bình Minh, 2 đơn vị quân đội: 279 và 1080

Vùng BM3 thuộc địa bàn quản lý sản xuất huyện Kim Sơn

Vùng nuôi ruộng trũng

Trang 35

Một số vùng có diện tích nuôi tập trung như: Huyện Gia Viễn (các xã Gia Thắng, Gia Trung, Gia Vân, Gia Tiến, Gia Hòa) Huyện Nho Quan (các xã Quỳnh Lưu, Thanh Lạc, Văn Phong, Lạng Phong, Sơn Hà, Phú Lộc, Văn Phú, Thượng Hòa) Huyện Yên Khánh (các xã Khánh Thành, Khánh Cư và Khánh Thuỷ), xã Yên Phong huyện Yên Mô, xã Yên Sơn – TX Tam Điệp

d Nhu cầu giống, thức ăn và lao động

Nhu cầu giống thủy sản: Theo phương án quy hoạch đã chọn (phương án

1), tổng nhu cầu giống đến năm 2015 khoảng 740 triệu con giống các loại, đến năm 2020 cần khoảng 1.090 triệu con giống

Bảng 1.6.Nhu cầu giống thủy sản tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2015- 2020

trồng thủy sản đã chọn (PA1), thì nhu cầu thức ăn cho phát triển nuôi thủy sản đến năm 2015 là 70.540 tấn; nhu cầu thức ăn đến năm 2020 là 98.150 tấn

Nhu cầu lao động thủy sản: Đến năm 2015 chúng ta dự kiến nuôi 13.050

ha, thì số lao động chúng ta cần khoảng 26.000 lao động, trong đó phải có ít nhất 15.000 lao động được đào tạo, tập huấn về chuyên ngành thủy sản, 1.000 lao động có trình độ trung cấp, cao đẳng, độ Đaị học và trên Đại học Đến năm

Trang 36

2020 chúng ta dự kiến nuôi 15.950 ha sẽ cần khoảng trên 33.500 lao động thuỷ sản, trong đó có khoảng 20.000 lao động được đào tạo, tập huấn về chuyền ngành thủy sản, có khoảng trên 1.200 lao động có trình độ trung cấp, cao đẳng, trình độ Đại học và trên đại học

1.4.3 Các chương trình, dự án hỗ trợ NTTS

a Các dự án quy hoạch

- Quy hoạch chi tiết phát triển nuôi trồng thuỷ sản vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn đến năm 2020 (Cả 3 vùng: trong đê BM2; vùng giữa đê BM1

và BM3; vùng ngoài đê BM3 đến Cồn Nổi)

- Quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản các khu ruộng trũng đến năm 2020

ở các huyện: Gia Viễn, Nho Quan, Hoa Lư, Yên Mô, Yên Khánh, Thị xã Tam Điệp

- Đầu tư nâng cấp các trại giống thuỷ sản

- Đầu tư xây dựng trại thực nghiệm sản xuất thuỷ sản vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn

- Chuyển giao quy trình công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm

về các đối tượng thủy sản nước ngọt như: cá rô đơn tính, cá diêu hồng, cá quả,

cá trầu, cá rô đồng, tôm càng xanh

Trang 37

- Dự án chuyển giao công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm các đối tượng thủy sản vùng nước lợ như: tôm sú, tôm chân trắng, tôm rảo, cua xanh, ngao và cá nước lợ

1.5 Tình hình biến đổi khí hậu tại tỉnh Ninh Bình

1.5.1 Biểu hiện của BĐKH trong những năm gần đây

a Biểu hiện nhiệt độ

Bằng việc khảo sát độ lệch chuẩn từ số liệu nhiệt độ giai đoạn 1960 –

2010 của hai trạm Nho Quan và TP Ninh Bình Kết quả cho thấy nhiệt độ có chiều hướng tăng lên, các tháng mùa đông (đại diện là tháng I) có xu hướng tăng cao hơn các tháng mùa hè (đại diện là tháng IV)

Tháng I trạm Nho Quan Tháng I trạm Ninh Bình

Tháng VII trạm Nho Quan Tháng VII trạm Ninh Bình

Hình 1.1 Xu thế chuẩn sai nhiệt độ trung bình tháng I và tháng VII của hai

trạm Nho Quan (a,c) và Ninh Bình (b,d) giai đoạn 1960 – 2010 (Nguồn tác giả)

Trang 38

b Biến động về lượng mưa

Về biến động lượng mưa tại Ninh Bình, thông qua khảo sát số liệu lượng mưa tại hai trạm Nho Quan và Ninh Bình (trạm vùng núi và trạm đồng bằng), bằng phương pháp xác định độ lệch chuẩn cho các tháng mùa mưa (tháng 5 – 10) và các tháng mùa khô (tháng 11 đến tháng 4 năm sau) Kết quả cho thấy, lượng mưa cả hai mùa mùa mưa và mùa khô đều giảm, giảm mạnh vào mùa khô, khu vực đồng bằng (trạm Ninh Bình) giảm lượng mưa mạnh hơn khu vực miền núi (trạm Nho Quan)

Mùa khô trạm Nho quan Mùa khô trạm Ninh Bình

Mùa mưa trạm Nho Quan Mùa mưa trạm Ninh Bình

Hình 1.2 Xu thế biến động lượng mưa mùa mưa và mùa khô tại trạm

Nho Quan và Ninh Bình giai đoạn 1960 – 2010 (Nguồn tác giả)

Ngày đăng: 08/07/2015, 14:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Mai Trọng Nhuận (2004), “Nghiên cứu, đánh giá mức độ bị tổn thương của đới duyên hải Nam Trung Bộ làm cơ sở để giảm nhẹ tai biến, quy hoạch sử dụng đất bền vững”, Lưu trữ Đại học Quốc gia Hà Nội. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu, đánh giá mức độ bị tổn thương của đới duyên hải Nam Trung Bộ làm cơ sở để giảm nhẹ tai biến, quy hoạch sử dụng đất bền vững”
Tác giả: Mai Trọng Nhuận
Năm: 2004
6. Nguyễn Viết Thành, Nguyễn Ngọc Thanh, Ngô Thọ Hùng và Dƣ Văn Toán “Tác động của BĐKH đến nghề cá Việt Nam”, Phương pháp và kinh nghiệm nghiên cứu đánh giá BĐKH trong ngành thủy sản, NXB ĐHQG Hà Nội 2013, tr 156 - 164 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tác động của BĐKH đến nghề cá Việt Nam”
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội 2013
7. Nguyễn Xuân Thịnh, Alexander Blair Campbell, Trần Văn Tâm "Ứng dụng phương pháp tiếp cận không gian trong bản đồ tổn thương của BĐKH trong lĩnh vực nông nghiệp", Phương pháp và kinh nghiệm nghiên cứu đánh giá BĐKH trong ngành thủy sản, NXB ĐHQG Hà Nội 2013, tr 56 – 72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng phương pháp tiếp cận không gian trong bản đồ tổn thương của BĐKH trong lĩnh vực nông nghiệp
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội 2013
9. Sở NN và PTNT tỉnh Ninh Bình (2006), Quy hoạch phát triển ngành thủy sản đến 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở NN và PTNT tỉnh Ninh Bình (2006)
Tác giả: Sở NN và PTNT tỉnh Ninh Bình
Năm: 2006
10. Tổng cục Thủy sản (2010), Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch năm 2010, phương hướng nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng cục Thủy sản (2010)
Tác giả: Tổng cục Thủy sản
Năm: 2010
11. Trương Hoàng Minh,Đào Minh Hải và Nguyễn Thanh Phương, “Ảnh hưởng của BĐKH đến nghề nuôi cá Tra ở Đồng bằng sông Cửu Long”, Phương pháp và kinh nghiệm nghiên cứu đánh giá BĐKH trong ngành thủy sản, NXB ĐHQG Hà Nội 2013, tr 86 - 100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ảnh hưởng của BĐKH đến nghề nuôi cá Tra ở Đồng bằng sông Cửu Long”
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội 2013
16. UBND tỉnh Ninh Bình, Sở Tài nguyên và Môi trường, Kế hoạch hành động thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: UBND tỉnh Ninh Bình, Sở Tài nguyên và Môi trường
18. Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (2011), Tài liệu hướng dẫn đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xác định các giải pháp ứng phó, NXB Tài nguyên môi trường và Bản đồ Việt NamTài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xác định các giải pháp ứng phó
Tác giả: Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường
Nhà XB: NXB Tài nguyên môi trường và Bản đồ Việt Nam Tài liệu tiếng Anh
Năm: 2011
19. De silva and partners (2009), "Climate change and aquaculture: Potential impacts, adaptation and mitigation", In K. Cocharane anh partners "climate change implications for fisheries and aquculture: Overview of current scientific knowledge", FAO Fisheries anf Aquaculture Technical Rome, pp 530 and 151 – 212 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate change and aquaculture: Potential impacts, adaptation and mitigation", In K. Cocharane anh partners "climate change implications for fisheries and aquculture: Overview of current scientific knowledge
Tác giả: De silva and partners
Năm: 2009
22. E.H. Allison, A.L Perry, M.C Badjeck, W.N .Adger, K. Brown, D. Conway, A.S. Halls, G.M. Pilling,J.D. Reynolds, N.L. Andrew and N.K. Dulvy (2009), "vulnerability of national economies to the impacts of climate change on fisheries", Fish and Fisheries, 10: pp 173 - 196 Sách, tạp chí
Tiêu đề: vulnerability of national economies to the impacts of climate change on fisheries
Tác giả: E.H. Allison, A.L Perry, M.C Badjeck, W.N .Adger, K. Brown, D. Conway, A.S. Halls, G.M. Pilling,J.D. Reynolds, N.L. Andrew and N.K. Dulvy
Năm: 2009
23. IPCC (2007), Climate change 2007: Impact, Adaptation and Vulnerability, Contribution of Working Group II to the Fourth Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate change 2007: Impact, Adaptation and Vulnerability
Tác giả: IPCC
Năm: 2007
24. J. W. Handmer, S. Dovers, and T.E.Downing (1999), “Societal Vulnerability to Climate Change and Variability”, Kluwer Academic Publishers in Netherland, pp. 267–281 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Societal Vulnerability to Climate Change and Variability”
Tác giả: J. W. Handmer, S. Dovers, and T.E.Downing
Năm: 1999
25. J.A. Hergreaves and C.S. Tucker (2003), “Defining loading limits of static ponds for catfish aquaculture”, Aquaculture engineering 28:pp 47 – 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Defining loading limits of static ponds for catfish aquaculture”
Tác giả: J.A. Hergreaves and C.S. Tucker
Năm: 2003
26. NOAA Costal Services Center (1999), Community Vulnerability Assessment Tool: New Hanover County, North Carolina, case study Sách, tạp chí
Tiêu đề: NOAA Costal Services Center (1999)
Tác giả: NOAA Costal Services Center
Năm: 1999
27. S.P. Kam, M.C. Badjeck and partners (2010), "Economics of adaptation to climate change in Vietnam's. Aquaculture sector: A case study", Report to the World bank Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economics of adaptation to climate change in Vietnam's. Aquaculture sector: A case study
Tác giả: S.P. Kam, M.C. Badjeck and partners
Năm: 2010
28. Worldfish Center (2006), "The thread to fisheries and aquaculture from climate change", Policy brief, total 8 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: The thread to fisheries and aquaculture from climate change
Tác giả: Worldfish Center
Năm: 2006
29. Williams L., Rota A. 2010. Impact of climate change on fisheries and aquaculture in the developing world and opportunities for adaptation. s.l. : IFAD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of climate change on fisheries and aquaculture in the developing world and opportunities for adaptation
30. X. Jeanne Kasperson and E. Roger Kasperson (2001), "International Workshopon Vulnerability and Global Environmental Change", SEI Risk and vulnerability Programme Report 2001-01 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Workshopon Vulnerability and Global Environmental Change
Tác giả: X. Jeanne Kasperson and E. Roger Kasperson
Năm: 2001
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam Khác
12. Trương Quang Học., Nguyễn Đức Ngữ 2011. Một số điều cần biết về Biến đổi khí hậu Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Xu thế biến động lƣợng mƣa mùa mƣa và mùa khô tại trạm  Nho Quan và Ninh Bình giai đoạn 1960 – 2010 (Nguồn tác giả) - Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản huyện kim sơn tỉnh ninh bình
Hình 1.2. Xu thế biến động lƣợng mƣa mùa mƣa và mùa khô tại trạm Nho Quan và Ninh Bình giai đoạn 1960 – 2010 (Nguồn tác giả) (Trang 38)
Hình 1.3. Bản đồ tần suất XTNĐ hoạt động (a), hình thành (b) ở Biển Đông - Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản huyện kim sơn tỉnh ninh bình
Hình 1.3. Bản đồ tần suất XTNĐ hoạt động (a), hình thành (b) ở Biển Đông (Trang 39)
Hình 1.4. Diễn biến mực nước nhiều năm tại Trạm Hòn Dấu(nguồn - Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản huyện kim sơn tỉnh ninh bình
Hình 1.4. Diễn biến mực nước nhiều năm tại Trạm Hòn Dấu(nguồn (Trang 40)
Hình 2.1.Phương pháp đánh giá tính dễ tổn thương(Nguồn Allison) - Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản huyện kim sơn tỉnh ninh bình
Hình 2.1. Phương pháp đánh giá tính dễ tổn thương(Nguồn Allison) (Trang 42)
Hình 2.2.Xác định các thành phần chỉ số(Nguồn Alexander Blair Campell, N.X Trinh, Tr. V - Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản huyện kim sơn tỉnh ninh bình
Hình 2.2. Xác định các thành phần chỉ số(Nguồn Alexander Blair Campell, N.X Trinh, Tr. V (Trang 45)
Bảng 2.3. Biến chính và các biến thành phần (S) - Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản huyện kim sơn tỉnh ninh bình
Bảng 2.3. Biến chính và các biến thành phần (S) (Trang 47)
Hình 3.1. Bản đồ huyện Kim Sơn (Nguồn: tỉnh Ninh Bình) - Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản huyện kim sơn tỉnh ninh bình
Hình 3.1. Bản đồ huyện Kim Sơn (Nguồn: tỉnh Ninh Bình) (Trang 52)
Bảng 3.1. Số liệu Độ phơi nhiễm (E) - Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản huyện kim sơn tỉnh ninh bình
Bảng 3.1. Số liệu Độ phơi nhiễm (E) (Trang 57)
Bảng 3.2. Kết quả tính toán chỉ số Độ phơi nhiễm (E) - Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản huyện kim sơn tỉnh ninh bình
Bảng 3.2. Kết quả tính toán chỉ số Độ phơi nhiễm (E) (Trang 58)
Hình 3.2. Bản đồ phơi nhiễm của 3 xã Kim Hải, Kim Trung, Kim Đông  (Nguồn tác giả) - Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản huyện kim sơn tỉnh ninh bình
Hình 3.2. Bản đồ phơi nhiễm của 3 xã Kim Hải, Kim Trung, Kim Đông (Nguồn tác giả) (Trang 59)
Bảng 3.3. Số liệu Độ nhạy cảm (S) - Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản huyện kim sơn tỉnh ninh bình
Bảng 3.3. Số liệu Độ nhạy cảm (S) (Trang 61)
Hình 3.3. Độ nhạy cảm của 3 xã Kim Hải, Kim Trung, Kim Đông (Nguồn tác giả) - Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản huyện kim sơn tỉnh ninh bình
Hình 3.3. Độ nhạy cảm của 3 xã Kim Hải, Kim Trung, Kim Đông (Nguồn tác giả) (Trang 62)
Bảng 3.6. Kết quả tính toán chỉ số Khả năng thích ứng (AC) - Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản huyện kim sơn tỉnh ninh bình
Bảng 3.6. Kết quả tính toán chỉ số Khả năng thích ứng (AC) (Trang 66)
Hình 3.5. Đầm tôm tại xã Kim Đông (Nguồn tác giả) - Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản huyện kim sơn tỉnh ninh bình
Hình 3.5. Đầm tôm tại xã Kim Đông (Nguồn tác giả) (Trang 68)
Hình 3.7. Bản đồ tính dễ bị tổn thương của - Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nuôi trồng thủy sản huyện kim sơn tỉnh ninh bình
Hình 3.7. Bản đồ tính dễ bị tổn thương của (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w