3 1 Làm thế nào có thể đánh giá được tính dễ bị tổn thương trong các hoạt động sinh kế dưới tác động biến đổi khí hậu đang diễn ra ở các xã miền núi Ba Vì?. Để trả lời được câu hỏi đó, c
Trang 1MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
5.1 Phương pháp luận 4
5.2 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng 4
6 Các loại số liệu cần thu thập 5
7 Kết cấu chính của Luận văn 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG CƯ DÂN MIỀN NÚI 7
1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu và phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương 7
1.1.1 Biến đối khí hậu 7
1.1.2 Khí hậu cực đoan 7
1.1.3 Khả năng bị tổn thương (Vulnerability) 9
1.1.4 Đánh giá tổn thương do biến đổi khí hậu 11
1.2 Biến đổi khí hậu và sinh kế bền vững 15
1.2.1 Bối cảnh nghiên cứu sinh kế bền vững 15
1.2.2 Nghiên cứu sinh kế trong bối cảnh biến đổi khí hậu 18
Trang 2CHƯƠNG 2: CÁC ĐẶC TRƯNG SINH KẾ VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 22
Ở 07 XÃ MIỀN NÚI HUYỆN BA VÌ 22
2.1 Các đặc điểm về kinh tế xã hội và đặc trưng về sinh kế 22
2.1.1 Các đặc điểm về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội 22
2.1.2 Các đặc trưng sinh kế 25
2.2 Biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan ở các xã miền núi Ba Vì 30
2.2.1 Nhiệt độ và nắng nóng 30
2.2.2 Lượng mưa và hiện tượng mưa lớn 32
2.3 Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu thông qua phỏng vấn sâu 36
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ 41
TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG 41
3.1 Phương pháp đánh giá các chỉ số tổn thương do biến đổi khí hậu 41
3.2 Kết quả và thảo luận 48
KẾT LUẬN 60
1 Kết luận về phương pháp luận 60
2 Kết luận về kết quả đạt được trong đánh giá tính dễ bị tổn thương ở các xã miền núi huyện Ba Vì 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Cơ cấu các loại hình sinh kế ở 7 xã 26 Bảng 2.2: Các loại hình trồng trọt và chăn nuôi ở 7 xã 28 Bảng 2.3: Nhận định của các hộ gia đình về các hiện tượng cực đoan ở xã Tản Lĩnh 37 Bảng 2.4: Phân bố tỷ lệ (%) các hộ gia đình được điều tra ở Tản Lĩnh theo nhận định về ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết đến canh tác nông nghiệp của hộ 38 Bảng 2.5: Phân bố tỷ lệ (%) các hộ gia đình được điều tra theo phương thức ứng phó với các hiện tượng thời tiết bất thường trong sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi 40 Bảng 3.1: Tổng hợp các chỉ số được đưa vào đánh giá tính VI 42 Bảng 3.2: Vai trò của các chỉ số trong đánh giá tính tổn thương 46 Bảng 3.3: Kết quả tính chỉ số tổn thương cho từng nhân tố chính năm 2006 48 Bảng 3.4: Kết quả tính chỉ số tổn thương cho từng nhân tố chính năm 2011 50
Trang 4DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Khung sinh kế bền vững của DFID (2001) 16
Hình 2.1: Vị trí các xã miền núi Ba Vì 23
Hình 2.2: Biến trình nhiều năm và xu thế nhiệt độ không khí trung bình năm tại trạm Ba Vì 31
Hình 2.3: Biểu đồ phân bố số ngày nắng nóng theo tháng trạm Ba Vì 31
Hình 2.4: Biểu đồ phân bố số ngày rét đậm theo tháng trạm Ba Vì 32
Hình 2.5: Phân bố mưa trung bình các tháng trong năm giai đoạn 1970 – 2011 của trạm Ba Vì 33
Hình 2.6: Biểu đồ biến đổi lượng mưa theo mùa mưa trạm Ba Vì 34
Hình 2.7: Biều đồ số ngày mưa lớn trong các tháng trạm Ba Vì 35
Hình 2.8: Biểu đồ xu hướng biến đổi số ngày mưa lớn giai đoạn 1970-2011 trạm Ba Vì 35
Hình 3.1: Khung phân tích đánh giá mức độ tổn thương ở 07 xã Miền núi 41
Hình 3.2: Biểu diễn các chỉ số tổn thương ở xã Ba Vì 51
Hình 3.3: Biểu diễn các chỉ số tổn thương ở xã Tản Lĩnh 52
Hình 3.4: Biểu diễn các chỉ số tổn thương của xã Ba Trại 53
Hình 3.5: Biểu diễn các chỉ số tổn thương của xã Minh Quang 54
Hình 3.6: Biểu diễn các chỉ số tổn thương ở xã Vân Hòa 55
Hình 3.7: Biểu diễn các chỉ số tổn thương xã Khánh Thượng 56
Hình 3.8: Biểu diễn các chỉ số tổn thương xã Yên Bài 57
Hình 3.9: Bản đồ chỉ số mức độ tổn thương các xã năm 2006 58
Hình 3.10: Bản đồ chỉ số mức độ tổn thương các xã năm 2011 59
Trang 5IPCC Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
LVI Chỉ số mức độ tổn thương sinh kế
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo ghi nhận của cơ quan hữu quan, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất của hiện tượng khí hậu khắc nghiệt trong hai mươi năm gần đây (một trong năm nước chịu ảnh hưởng lớn nhất, đứng thứ 3 vào năm 2008) Biến đổi khí hậu đã làm gia tăng các loại hình thiên tai cả về
số lượng, cường độ và mức độ ảnh hưởng Hậu quả của thiên tai vô cùng lớn: thiệt hại về người, phá hoại cơ sở hạ tầng, làm ảnh hưởng đến nhiều thành quả phát triển kinh tế xã hội và gia tăng tình trạng đói nghèo, là một nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước Việt Nam có tỷ lệ khoảng 66,4% dân số sinh sống ở vùng nông thôn (Nguồn: UN, 2010b) và nguồn sinh
kế của họ đặc biệt là hộ nghèo chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp nên cuộc sống của những người dân ở những khu vực này phụ thuộc nhiều vào khí hậu và điều kiện tự nhiên Biến đổi khí hậu đặt ra cho họ những thách thức lớn hơn trong việc xóa đói giảm nghèo và duy trì sinh kế bền vững Chính vì vậy đây là nơi dễ bị tổn thương nhất do tác động bởi biến đổi khí hậu
Ba Vì là huyện thuộc vùng bán sơn địa, là huyện miền núi nghèo ở phía Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội với diện tích tự nhiên 430 km2 gồm 30 xã và 01 thị trấn Địa hình chia làm 3 vùng: vùng núi, vùng đồi gò trung du và vùng đồng bằng ven sông Dân số toàn huyện có trên 280.000 người bao gồm 03 dân tộc: Kinh, Mường, Dao cùng sinh sống Là nơi có nhiều cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử và nhiều nét văn hóa truyền thống độc đáo vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay, đó thực sự là những tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch, tài nguyên thiên nhiên Trên thực tế các ngành nghề kinh tế của huyện Ba Vì đã có
Trang 7đi lại, giao thông thuỷ lợi còn gặp nhiều khó khăn nên cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ, đến đời sống văn hoá Trong những năm gần đây các hiện tượng thời tiết cực đoan như rét đậm, rét hại, hạn hán, mưa lớn đã ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng dân cư thông các hoạt động sản xuất như: giảm năng suất chăn nuôi, giảm năng suất cây trồng, dịch bệnh, lở đất với những tổn thất
và thiệt hại không nhỏ về kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, phát triển nông thôn ở khu vực này
Trước tình hình đó, nhằm phục vụ cho công tác hoạch định chiến lược phát triển kinh tế của khu vực các xã miền núi huyện Ba Vì, tôi quyết định
chọn đề tài: “Đánh giá tính dễ bị tổn thương của cộng đồng dân cư các xã
miền núi huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội trong bối cảnh biến đổi khí hậu”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Liên quan tới chủ đề biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan ở khu vực miền núi có rất nhiều vấn đề đang đặt ra Tuy nhiên trong khuôn khổ của nghiên cứu này, tôi chủ yếu tập trung trả lời cho hai câu hỏi lớn:
Trang 83
1) Làm thế nào có thể đánh giá được tính dễ bị tổn thương trong các hoạt động sinh kế dưới tác động biến đổi khí hậu đang diễn ra ở các xã miền núi Ba Vì?
2) Có thể đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng thích ứng cũng như phát triển sinh kế bền vững các xã miền núi?
Để trả lời được câu hỏi đó, các mục tiêu nghiên cứu cụ thể là:
+ Những biểu hiện cụ thể của khí hậu ở các xã miền núi huyện Ba Vì; + Các loại hình hoạt động sinh kế chính cũng như các đặc điểm về phát triển kinh tế xã hội ở các xã miền núi;
+ Biến đổi khí hậu đã mang lại những tác động tiêu cực như thế nào và
ai, sinh kế nào dễ bị tổn thương nhất, tổn thương như thế nào;
+ Hệ thống chính sách của Nhà nước trong việc hỗ trợ người dân nhằm nâng cao năng lực thích ứng và giảm thiểu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu trên nhiệm vụ cần thực hiện là:
- Tìm hiểu, tổng quan các đặc điểm về kinh tế xã hội và các đặc điểm sinh kế, đặc điểm về các chính sách thể chế các huyện miền núi Ba Vì trong giai đoạn 2006-2013;
- Thu thập các tài liệu số liệu về khí tượng, khí hậu, thời tiết cực đoan ở
Trang 94
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại các xã miền núi của huyện Ba Vì gồm: Minh Quang, Khánh Thượng, Ba Vì, Vân Hòa, Yên Bài, Tản Lĩnh và Ba Trại Phạm vi thời gian: Từ năm 2006 đến năm 2011 để đánh giá những thay đổi của các hoạt động sinh kế và đời sống kinh tế xã hội của cộng đồng
Từ năm 1970 đến năm 2011 để đánh giá những thay đổi của khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan
Về nội dung nghiên cứu: nghiên cứu tập trung vào các biểu hiện của biến đổi khí hậu thể hiện bằng thay đổi nhiệt độ, lượng mưa và hiện tượng thời tiết cực đoan và tác động của chúng lên các hoạt động sản xuất nông nghiệp, sinh kế của cộng đồng dân cư các xã
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
- Tiếp cận kế thừa: Tổng hợp có chọn lọc các tài liệu hiện có liên quan
đến tính dễ bị tổn thương và khả năng thích ứng đối với các xã miền núi huyện
Ba Vì; kế thừa các số liệu và kết quả của các đề tài nghiên cứu trước đó
- Tiếp cận đa ngành: Kiến thức trong các lĩnh vực khác nhau sẽ được
tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn Cụ thể là các lĩnh vực khí tượng, khí hậu, thủy văn, đất đai, kinh tế - xã hội…
- Tiếp cận hệ thống: Nghiên cứu sẽ được thực hiện một cách có hệ
thống theo cách tiếp cận từng bước phát triển mức độ tác động của biến đổi khí hậu, tính dễ bị tổn thương và khả năng thích ứng của cộng đồng dân cư các xã miền núi huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội
5.2 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
Tổng quan tài liệu:
Trang 105
Tôi tiến hành thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp nhằm đưa ra được một cái nhìn tổng quan về biến đổi khí hậu, về sinh kế bền vững và các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương tới sinh kế trên thế giới và Việt Nam
Phương pháp thu thập và phân tích số liệu:
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích thống kê để phân tích các thông số kỹ thuật về khí tượng thủy văn để đánh giá sự thay đổi của khí hậu trong vòng 41 năm và phân tích các số liệu về điều tra nông nghiệp nông thôn cấp nông hộ ở 07 xã để đánh giá sự thay đổi các loại hình sinh kế và tính toán các chỉ số đưa vào đánh giá tổn thương
Phương pháp nghiên cứu định tính:
Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính gồm các công cụ như quan sát tham dự, phỏng vấn sâu trực tiếp các cá nhân trong ban lãnh đạo xã, đại diện các hộ gia đình để thấy được cảm nhận các tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu tới người dân và cách thức ứng phó của người dân với biến đổi khí hậu
Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương:
Dựa trên việc tổng quan các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương đang được các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam áp dụng, tôi lựa chọn một phương pháp đánh giá tối ưu và phù hợp với khu vực miền núi như Ba Vì
6 Các loại số liệu cần thu thập
- Số liệu quan trắc khí tượng trạm Ba Vì từ năm 1970 đến năm 2011
Trang 11- Dữ liệu bản đồ các xã miền núi huyện Ba Vì
7 Kết cấu chính của Luận văn
Mở đầu
Chương 1 Tổng quan về biến đổi khí hậu và đánh giá tính dễ bị tổn
thương đối với cộng đồng cư dân miền núi
Chương 2 Các đặc trưng sinh kế và biến đổi khí hậu ở 07 xã miền núi
Trang 127
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG CƯ DÂN MIỀN NÚI 1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu và phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương
1.1.1 Biến đối khí hậu
Là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu so với trạng thái trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn Biến đổi khí hậu có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác
sử dụng đất
Một số biểu hiện của biến đổi khí hậu là: nhiệt độ trung bình năm tăng;
sự biến đổi và độ khác thường của thời tiết và khí hậu tăng; nước biển dâng
do băng tan từ các cực trái đất và các đỉnh núi cao; các hiện tượng cực đoan của thời tiết và thiên tai (nóng, rét hại, bão, lũ lụt, hạn hán, v.v…) xảy ra với tần suất cao hơn, cường độ và độ khác thường lớn hơn.
1.1.2 Khí hậu cực đoan
Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (The Intergoverment Panel on Climate Change – IPCC, 2007) định nghĩa “hiện tượng thời tiết cực đoan” và
“hiện tượng khí hậu cực đoan” như sau:
Hiện tượng thời tiết cực đoan: là hiện tượng hiếm ở một nơi cụ thể khi xem xét phân bố thống kê của nó Hiếm có thể hiểu là các hiện tượng thời tiết cực đoan thông thường được có tần suất xuất hiện của nó nhỏ hơn 10% Theo định nghĩa này, những đặc trưng của thời tiết cực đoan có thể thay đổi tùy
Trang 13Biến đổi khí hậu và các tác động tiềm tàng của nó đang ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm trên phạm vi toàn cầu Các nghiên cứu khoa học ngày càng đưa ra nhiều bằng chứng về các tác động của biến đổi khí hậu đối với con người Biến đổi khí hậu có những tác động tiềm tàng đến các lĩnh vực, khu vực và các cộng đồng khác nhau Biến đổi khí hậu gây ảnh hưởng đến 3 lĩnh vực: (i) kinh tế (bao gồm các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, năng lượng, giao thông vận tải, công nghiệp, xây dựng và du lịch); (ii) xã hội (sức khỏe con người); và (iii) môi trường (bao gồm tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, hệ sinh thái và đa dạng sinh học, chất lượng không khí) Các khu vực dễ bị tổn thương nhất dưới tác động của biến đổi khí hậu là các đảo nhỏ, các vùng châu thổ của các con sông lớn, dải ven biển và vùng núi Cộng đồng dễ bị tổn thương nhất bao gồm: nông dân, ngư dân, các dân tộc thiểu số ở miền núi, người già, phụ nữ, trẻ em và các tầng lớp nghèo nhất ở đô thị là những đối tượng ít có cơ hội lựa chọn
Những tác động trên cho thấy biến đổi khí hậu đang là vấn đề quan trọng ảnh hưởng tới hiện nay Biến đổi khí hậu có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế-xã hội của tất cả các quốc gia và mọi nỗ lực phát triển của con người đều đang có nguy cơ bị hủy hoại bởi biến đổi khí hậu Do phụ thuộc
Trang 149
trực tiếp vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhạy cảm với biến đổi khí hậu, nông nghiệp sẽ là ngành dễ bị tổn thương nhất dưới tác động của biến đổi khí hậu Sự gia tăng nhiệt độ và các hiện tượng thời tiết cực đoan sẽ làm cho các khu vực thích hợp với sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, độ dài của mùa sinh trưởng bị rút ngắn, từ đó năng suất nông nghiệp có thể bị giảm sút trên toàn thế giới, đặc biệt tại các vùng nhiệt đới, ngay cả khi có những thay đổi trong tập quán canh tác Sự suy giảm năng suất nông nghiệp sẽ đe dọa vấn
đề an ninh lương thực toàn cầu Ước tính rằng, mỗi năm có thể có hơn 3 triệu người bị chết vì suy dinh dưỡng, khoảng 100 đến 400 triệu người có nguy cơ bị đói và khoảng 1 đến 2 tỷ người sẽ không có đủ nước dùng cho
nhu cầu sinh hoạt
1.1.3 Khả năng bị tổn thương (Vulnerability)
Thường được đề cập đến trong mối liên hệ với những thảm họa tự nhiên và năng lực của cá nhân hoặc các nhóm xã hội trong việc đương đầu với những thảm họa này Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, khả năng bị tổn thương là “mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, kinh tế, xã hội) có thể bị tổn thương do biến đổi khí hậu, hoặc không có khả năng thích ứng trước những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu”
Khả năng bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu của các nhóm đối tượng và các khu vực khác nhau trên thế giới là không giống nhau Ngay cả trong phạm vi một quốc gia, sự khác biệt giữa các vùng và sự bất bình đẳng giữa các nhóm kinh tế - xã hội khác nhau cũng sẽ làm cho các đối tượng này bị tổn thương không giống nhau trước tác động của biến đổi khí hậu
Khái niệm về tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đã được đưa ra từ nhiều nghiên cứu, nhưng được xem xét một cách đầy đủ nhất, bao trùm nhất
là định nghĩa của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC, 2001):
Trang 1510
tính tổn thương là “mức độ một hệ thống tự nhiên hay xã hội có thể bị tổn thương hoặc không thể ứng phó với các tác động bất lợi do biến đổi khí hậu (bao gồm các hình thái thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu” Để định lượng tính tổn thương do biến đổi khí hậu, IPCC đã chỉ rõ tính tổn thương (V) là một hàm số của 3 yếu tố sau: (i) mức độ phơi nhiễm của hệ thống trước các tác động bất lợi của biến đổi khí hậu (Exposure - E); (ii) mức độ nhạy cảm của hệ thống trước những thay đổi của khí hậu (Sensitivity - S); (iii) năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu (Adaptive Capacity - AC)
IPCC nhấn mạnh chỉ số tính tổn thương là một chỉ số tổng hợp của nhiều yếu
tố thành phần Tính tổn thương phụ thuộc vào hai yếu tố là: (1) yếu tố tự nhiên do các tác động liên quan đến thay đổi khí hậu và thời tiết; (2) yếu tố con người gồm các tác động do con người tạo ra Chỉ số tổn thương tổng hợp phải phản ánh được tính tổn thương về kinh tế (economic vulnerability), tổn thương về môi trường (environmental vulerability) và tổn thương về xã hội (social vulnerability) Trong
đó các yếu tố liên quan đến tính tổn thương về xã hội như giảm nghèo, đa dạng hóa sinh kế, bảo vệ tài sản cộng đồng và tăng cường các hoạt động đa dạng hóa sinh kế, bảo vệ tài sản cộng đồng và tăng cường các hoạt động của tập thể ngày càng quan trọng vì chúng liên quan trực tiếp đến năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu IPCC cũng nêu rõ tính tổn thương do biến đổi khí hậu phụ thuộc vào nhiều địa điểm khảo sát và quy mô đánh giá
Đến năm 2010, tác giả Armitage và Plummer cũng đưa đánh giá khả năng bị tổn thương của con người trước tác động của biến đổi khí hậu phụ thuộc vào 4 yếu tố sau
(i) Bản chất và độ lớn của biến đổi khí hậu;
Trang 1611
(ii) Mức độ phụ thuộc của con người vào các nguồn lực nhạy cảm với biến đổi khí hậu (bao gồm nguồn lực tự nhiên, nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, nguồn lực con người, nguồn lực xã hội);
(iii) Mức độ nhạy cảm của các nguồn lực này trước tác động của biến đổi khí hậu;
(iv) Năng lực thích ứng của con người trước những thay đổi của các nguồn lực nhạy cảm với biến đổi khí hậu
Như vậy áp dụng quan điểm lý thuyết của IPCC và được nhiều nhà khoa học áp dụng trong đánh giá, mối quan hệ của chỉ số tính tổn thương với các chỉ số thành phần có thể viết ngắn gọn lại theo mối quan hệ toán học là:
VI = f(E,S,AC)
Mức độ nhạy cảm (S) được xác định là mức độ mà hệ thống phản ứng lại
một sự thay đổi của khí hậu (bao gồm cả sự thay đổi bất lợi hoặc có lợi của
khí hậu)
Năng lực thích ứng (AC) được xác định là mức độ mà các điều chỉnh của
hệ thống có thể làm giảm nhẹ khả năng gây tổn thương do biến đổi khí hậu hoặc bù đắp các thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra hoặc tận dụng các cơ hội
do tác động tích cực của biến đổi khí hậu đem lại
1.1.4 Đánh giá tổn thương do biến đổi khí hậu
Là đánh giá mức độ dễ bị ảnh hưởng của một (các) đối tượng (các cộng đồng, khu vực, nhóm người hoặc hoạt động kinh tế - xã hội/ngành) dưới tác động của biến đổi khí hậu Mức độ dễ bị tổn thương của một đối tượng không chỉ phụ thuộc vào bản chất của biến đổi khí hậu mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của đối tượng đó Kết quả đánh giá tổn thương có thể được thể hiện trên ma trận hoặc các bản đồ tổn thương chỉ ra các vùng/khu vực và nhóm dân cư có khả năng dễ bị tổn thương cao do biến đổi khí hậu
Trang 1712
Hiện nay có nhiều cách tiếp cận trong đánh giá tác động của biến đổi khí hậu Theo Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu IPCC thì có 3 cách: tiếp cận tác động (impact approach), tiếp cận tương tác (interaction approach) và tiếp cận tổng hợp (intergrated approach) Mỗi cách tiếp cận có những điểm mạnh và điểm yếu hạn chế riêng, việc lựa chọn cách tiếp cận nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như nhu cầu đánh giá, phạm vi, khung thời gian
và nguồn lực cho phép Theo Fussel thì có thể chia ra thành 5 nhóm cách tiếp cận được áp dụng cho đánh giá tính dễ bị tổn thương nói chung và đánh giá tình dễ bị tổn thương do biến đối khí hậu nói riêng đó là: Cách tiếp cận theo rủi ro - hiểm họa; cách tiếp cận theo kinh tế - chính trị; cách tiếp cận theo mô hình đáp ứng- phản hồi trong thiên tai; cách tiếp cận tổng hợp; cách tiếp cận theo khả năng chống chịu (resilence) và các cách tiếp cận khác Tuy nhiên hiện nay không có một phương pháp luận nào có thể áp dụng cho việc đánh giá tính dễ bị tổn thương cho tất cả các hoàn cảnh và trường hợp, mà thường phụ thuộc vào yêu cầu của từng trường hợp cụ thể và theo từng cơ quan thực hiện đánh giá
Các nhà nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp khác nhau để đánh giá tính dễ bị tổn thương bởi biến đổi khí hậu Alex de Sherbinin và cộng sự sử dụng phương pháp tiếp cận dựa vào các kịch bản kết hợp với những phương pháp tiếp cận mới đánh giá tính dễ bị tổn thương từ dưới lên để nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương tại 3 thành phố là Mumbai (Ấn Độ), Rio de Janeiro (Brasil) và Thượng Hải (Trung Quốc) Nghiên cứu này đã đánh giá một số cản trở về mặt chính trị để chuẩn bị tốt hơn trong việc phòng ngừa thiên tai
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường đã nghiên cứu và xây dựng hướng dẫn “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xác định các giải pháp thích ứng” nhằm phục vụ cho công tác xây dựng kế hoạch hành động
Trang 18tế, xã hội, môi trường;
- Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu theo ngành, theo vùng địa lý, theo ranh giới hệ sinh thái…
Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu cũng khẳng định khả năng tổn thương cần được đánh giá đối với từng lĩnh vực, khu vực, cộng đồng cả hiện tại và tương lai Khả năng tổn thương do biến đổi khí hậu đối với một hệ thống phụ thuộc vào tính chất, độ lớn, mức độ biến động khí hậu và những áp lực do biến đổi khí hậu mà hệ thống đó phải hứng chịu, tính nhạy cảm cũng như năng lực thích ứng của hệ thống đó Năng lực thích ứng của một hệ thống phụ thuộc vào đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường của hệ thống đó Tác động tổng hợp của biến đổi khí hậu đối với hệ thống càng lớn và năng lực thích ứng của hệ thống càng nhỏ thì khả năng tổn thương càng lớn
Các nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các vùng và địa phương của CECI (2002-2005): các tác giả Nguyễn Phú Quỳnh (2009-2011),
Lê Hùng Nam (2011), Viện Quy hoạch thủy lợi (2008) đã đánh giá sơ bộ tác động của nước biển dâng tại khu vực Đồng bằng sông Hồng, khu vực duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long Trung tâm khí tượng thủy văn Biển đánh giá tính dễ bị tổn thương của dải ven bờ Việt Nam – giai đoạn 1 Thích ứng với biến đổi khí hậu: từ trước đến nay vẫn được coi là mối quan tâm thứ yếu của các chương trình quốc tế về xóa đói giảm nghèo, bởi vì giảm nhẹ biến đổi khí hậu mới được coi là yêu cầu bắt buộc và cấp bách vì nó quyết định triển vọng tránh được các hiểm họa của biến đổi khí hậu trong
Trang 1914
tương lai để hướng tới một xã hội ít các bon Tuy nhiên, đối với các cộng đồng dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu thì thích ứng lại là một nhiệm vụ cấp thiết Hơn nữa, “không được phép phó mặc cho người nghèo và những người dễ bị tổn thương trên thế giới bị chìm hay tự bơi chỉ với năng lực yếu
ớt của mình” Điều đó có nghĩa là người nghèo và những người dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu cũng cần được hỗ trợ để tăng cường năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu Thích ứng với biến đổi khí hậu là “sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động hoặc biến đổi khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do
nó mang lại Như vậy, thích ứng bao gồm những hoạt động điều chỉnh trong các hệ thống tự nhiên và con người để đối phó với những tác động có thể có của biến đổi khí hậu, làm giảm bớt sự nguy hại hoặc khai thác những cơ hội
có lợi từ biến đổi khí hậu Các hoạt động thích ứng được thực hiện nhằm giảm thiểu khả năng bị tổn thương
Tổ chức CARE International ở Việt Nam tập trung nghiên cứu ở vùng núi phía Bắc Việt Nam gồm các tỉnh Yên Bái, Lạng Sơn, Bắc Kạn và Thanh Hóa để đánh giá tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng của các nhóm dân tộc thiểu số trong đó đề cập tới tác động của biến đổi khí hậu tới an ninh lương thực và thu nhập của người dân, nước sinh hoạt, sức khỏe và di dân Nghiên cứu ở Thanh Hóa cho thấy rằng các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán, ngập lụt, thay đổi mùa đã tác động tới sản xuất nông nghiệp làm cho thiếu đói, chăn nuôi gia cầm, khai thác thủy sản bị ảnh hưởng Ngoài ra báo cáo cũng nhấn mạnh sự khác biệt giới về khả năng thích ứng Phương pháp luận phân tích năng lực và khả năng bị tổn thương – CVCA đã tạo ra một khuôn khổ phân tích khả năng bị tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu ở cấp cộng đồng Với nhận thức rằng người dân địa phương phải điều khiển tương lai của họ, phương pháp luận CVCA đặt ưu tiên cho kiến
Trang 20và làm đầu vào cho các kế hoạch địa phương
Hiện nay, có khoảng 70 tổ chức tại Việt Nam tham gia nghiên cứu và thực hiện liên quan tới “tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu” tập chung vào các vấn đề như: Biến đổi khí hậu và nông nghiệp bền vững; Biển và ven biển với biến đổi khí hậu; Sức khỏe cộng đồng và biến đổi khí hậu; Tài nguyên môi trường và biến đổi khí hậu; Nghiên cứu và vận động chính sách với biến đổi khí hậu Tuy nhiên đánh giá tính dễ bị tổn thương trong sinh kế do biến đổi khí hậu của khu vực miền núi được đề cập rất ít, cũng như các phương pháp xây dựng các chỉ số tổn thương chưa được
đề cập nhiều ở Việt Nam Chính vì vậy nghiên cứu của tôi áp dụng cho khu vực các xã miền núi Ba Vì sẽ góp phần bổ sung thêm các nghiên cứu nói trên
và thực nghiệm đánh giá tính dễ bị tổn thương thông qua các chỉ số thành phần của sinh kế nông thôn
1.2 Biến đổi khí hậu và sinh kế bền vững
1.2.1 Bối cảnh nghiên cứu sinh kế bền vững
Ý tưởng về sinh kế đã được đề cập tới trong các tác phẩm nghiên cứu của R.Chamber những năm 1991 trong đó sinh kế theo cách hiểu đơn giản là phương tiện để kiếm sống Về sau khái niệm này xuất hiện nhiều hơn trong các nghiên cứu của F.Ellis, Barrett va Reardon … Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên, có sự nhất trí rằng khái niệm sinh
kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình F.Ellis cho rằng một sinh kế bao gồm những tài sản (tự
Trang 2116
nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản và hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh
kế đều thuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi nông hội Năm 2001, Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khái niệm về Sinh kế để hướng dẫn cho các hoạt động của mình thì Sinh kế còn được mô tả tổng hợp của nguồn lực và năng lực liên quan tới các quyết định và hoạt động của một người nhằm cố gắng kiếm sống và đạt được các mục tiêu và mơ ước của
mình.Sinh kế có thể được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như cá nhân, hộ
gia đình, thôn, vùng phổ biến nhất là cấp hộ gia đình
Hình 1.1: Khung sinh kế bền vững của DFID (2001)
Sinh kế bền vững (sustainable livelihood) từ lâu đã là chủ đề được quan tâm trong các tranh luận về phát triển, giảm nghèo và quản lí môi trường cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn Cách tiếp cận sinh kế bền vững đã làm thay đổi cách tiếp cận đối với phát triển trong thời kỳ những năm 1980 và 1990
Trang 2217
theo hướng tập trung vào phúc lợi của con người và tính bền vững nhiều hơn là phát triển kinh tế Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên Một sinh kế bền vững khi
nó có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai trong khi không làm xói mòn nền tảng nguồn lực tự nhiên Về cơ bản, các khung sinh kế bền vững đều phân tích sự tác động qua lại của 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sinh
kế là: (1) nguồn lực sinh kế; (2) chiến lược sinh kế; (3) kết quả sinh kế; (4) các quy trình về thể chế và chính sách, và (5) bối cảnh bên ngoài
Cách tiếp cận sinh kế bền vững đã được áp dụng một cách rộng rãi để phân tích sinh kế trên nhiều lĩnh vực, bao gồm nông nghiệp, thủy sản và các sinh kế nông thôn nói chung Khung sinh kế bền vững được sử dụng như một công cụ để phân tích các nguồn lực sinh kế được sử dụng, các chiến lược sinh
kế được thực hiện từ việc sử dụng các nguồn lực sinh kế đó và các kết quả sinh kế đạt được từ việc thực hiện các chiến lược sinh kế, từ đó đề xuất các sinh kế bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường ở cấp hộ gia đình và cộng đồng Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các kết quả sinh kế đạt được có thể
là tiêu cực Do đó, khung sinh kế bền vững cũng có thể được sử dụng để phân tích các mối quan hệ có thể dẫn đến các chiến lược và kết quả sinh kế không bền vững và đó cũng chính là điểm khởi đầu cho việc hỗ trợ sinh kế Trên thế giới, từ đầu những năm 1990, các tổ chức tài trợ quốc tế như CARE International, DANIDA, Oxfam, DFID, UNDP… đã áp dụng khung sinh kế bền vững để thiết kế các dự án, xây dựng chương trình xóa đói giảm nghèo và quản lý tài nguyên ở các vùng nông thôn, vùng ven biển ở châu Á và châu Phi theo cách tiếp cận hướng vào người nghèo và có sự tham gia của các đối
Trang 2318
tượng khác Cũng có một số nghiên cứu áp dụng lý thuyết khung sinh kế bền vững để phân tích các cơ hội và thách thức về sinh kế của người dân ở khu vực nông thôn, ven biển và miền núi, từ đó đề xuất những hình thức hỗ trợ sinh kế phù hợp nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững
1.2.2 Nghiên cứu sinh kế trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Theo Chambers và Conway (1992) các sinh kế bền vững là các sinh kế
có thể đối phó và phục hồi từ các cú sốc, duy trì hoặc tăng cường năng lực và tài sản trong khi không làm suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Khi xem xét các tác động hiện tại và tương lai của biến đổi khí hậu, có thể nhận thấy rằng, biến đổi khí hậu là một yếu tố chủ chốt liên quan đến khả năng bị tổn thương của sinh kế Các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (ví dụ như mực nước biển dâng và các điều kiện thời tiết khắc nghiệt) lên các nguồn lực tự nhiên (như đất, nước, thủy sản) và các nguồn lực vật chất (như đường
xá, hệ thống thủy lợi, mạng lưới điện) là rất đáng kể Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng trở nên phức tạp cả ở hiện tại và tương lai, các sinh kế được đánh giá không chỉ dựa vào việc các sinh kế này có bền vững trên 3 phương diện kinh tế, xã hội và môi trường hay không mà còn dựa vào việc các sinh kế này có thể giảm nhẹ biến đổi khí hậu hoặc thích ứng với biến đổi khí hậu hay không
Biến đổi khí hậu đã trở thành thách thức lớn với mọi cộng đồng Bất kỳ thay đổi nào về khí hậu cũng dẫn đến sự mất ổn định về môi trường và xã hội Đối với những nơi khó khăn và sinh kế phụ thuộc nhiều vào nguồn tài nguyên thiên nhiên thì chính là nơi dễ bị tổn thương nhất do biến đổi khí hậu Cộng đồng là chủ nhân nhưng cũng là nạn nhân nhận lãnh hậu quả biến đổi khí hậu
Cư dân đang mưu sinh tại các địa bàn vùng trung du, miền núi, nhất là những
Trang 24đã đề cập tới “các vấn đề và thách thức của nông nghiệp Australia trong việc thích nghi với thay đổi thời tiết, đặc biệt là xem xét các ảnh hưởng của thay đổi khí hậu có thể xảy ra đối với ngành sản xuất nông nghiệp của Australia Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng những khu vực (phụ thuộc lớn vào ngành nông nghiệp) có thể phải chịu những mất mát đáng kể do ảnh hưởng của việc thay đổi khí hậu
Các công trình nghiên cứu tính dễ bị tổn thương ở Việt Nam mới chỉ bắt đầu từ những năm cuối của thế kỷ XX và được tiếp cận theo các lĩnh vực khác nhau của hệ thống tự nhiên, kinh tế - xã hội, cộng đồng dân cư và các tài nguyên ven biển trên quy mô nghiên cứu từ vùng/ khu vực đến cả đới ven biển Việt Nam Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương xã hội và khả năng phục hồi
ở Việt Nam khi môi trường thay đổi của Adger và cộng sự đã đánh giá tính dễ
bị tổn thương xã hội ở huyện ven biển miền Bắc Việt Nam (huyện Giao Thủy, Nam Định) Kết quả nghiên cứu cho thấy do sự đổi mới về kinh tế bắt đầu từ giữa thập kỉ 80 đã làm tăng tính bất công bằng trong thu nhập và phúc lợi địa phương, gây ảnh hưởng tới năng lực thích nghi của người dân địa phương khi phải đối mặt với cả sự thay đổi tổ chức và những ảnh hưởng của thay đổi khí hậu
Từ năm 2007 đến nay đã có nhiều dự án hợp tác giữa Việt Nam và quốc
tế và đã có những tiếp cận tổng hợp đến việc nghiên cứu tính dễ bị tổn thương
do tác động của biến đổi khí hậu Tổ chức Oxfam tại Việt Nam và Viện Sau
Trang 2520
đại học về nghiên cứu môi trường, Trường Đại học Kyoto, Nhật Bản đã tiến hành nghiên cứu những lựa chọn để giải quyết rủi ro do hạn hán ở Việt Nam Trong nghiên cứu này tập trung vào phân tích ảnh hưởng của tần suất hạn hán tới sinh kế của cộng đồng tại các khu vực thường xuyên bị hán hán của tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam Bên cạnh đó nghiên cứu cũng đề cập tới cộng đồng cảm nhận như thế nào với hạn hán và thay đổi khí hậu, chính quyền địa phương và các tổ chức phi chính phủ làm sao để có thể đối phó với thảm họa
từ thiên nhiên, đặc biệt đối với hạn hán Năm 2007, báo cáo về nghèo đói với biến đổi khí hậu của Oxfam Quốc tế đã có những cảnh báo về sự suy tàn sinh
kế của người nghèo, nêu rõ sự gia tăng các thảm họa khí hậu ảnh hưởng tới nhiều người đặc biệt là hộ nghèo, người nghèo không có sức mạnh để chống chịu lại các thảm họa Trong báo cáo “Thay đổi môi trường toàn cầu và an ninh con người” đề cập tới mối quan hệ giữa nghèo đói và thích ứng với biến đổi khí hậu, báo cáo cũng xem xét tới thực trạng thể chế trong việc kếp hợp giải pháp thích ứng với biến đối khí hậu của việc thực thi các chính sách hỗ trợ phát triển hiện nay
Cuối năm 2010, dự án “Tiếp cận tổng hợp đến các đối tượng dễ bị tổn thương nhằm ứng phó với các thảm họa tự nhiên tại miền Trung Việt Nam” được hợp tác giữa Đại học Nông lâm Huế - Đại học Huế và Viện GSGES – Đại học Kyoto, Nhật Bản dưới sự tài trợ của cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản JICA Khu vực nghiên cứu của dự án gồm 4 xã: Hương Phong, Hương Vân thuộc huyện Hương Trà, 1 xã thuộc huyện miền núi A Lưới và nhóm dân
cư vạn đò định cư tại thành phố Huế Đây là những nơi thương xuyên gặp thiên tai và dễ bị tổn thương bởi những ảnh hưởng của thiên tai và cần có sự
hỗ trợ để nâng cao năng lực đối phó với thiên tai Dự án được thực hiện với mục tiêu làm rõ tính dễ bị tổn thương do thiên tai và hoàn cảnh của người dân
dễ bị tổn thương trong khu vực đối tượng, nâng cao năng lực phòng chống
Trang 26Như vậy ta có thể thấy, gắn kết khung sinh kế bền vững nhất là sinh kế nông nghiệp nông thôn với yếu tố biến đổi khí hậu sẽ giúp xây dựng các sinh
kế bền vững và thích ứng trong bối cảnh biến đổi khí hậu Đây là một nhu cầu cấp bách hiện nay trong bối cảnh khí hậu ngày càng biến đổi bất thường và gây ảnh hưởng nghiêm trọng lên sinh kế của người dân
Trang 2722
CHƯƠNG 2: CÁC ĐẶC TRƯNG SINH KẾ VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Ở 07 XÃ MIỀN NÚI HUYỆN BA VÌ 2.1 Các đặc điểm về kinh tế xã hội và đặc trưng về sinh kế
2.1.1 Các đặc điểm về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội
Các xã miền núi huyện Ba Vì nằm ở phía Tây thủ đô Hà Nội, vị trí địa lí: từ 20o53’ đến 21o01’vĩ độ Bắc; từ 105o01’ đến 105o20’ kinh độ Đông, phía Đông giáp thị xã Sơn Tây, phía Nam giáp tỉnh Hoà Bình, phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ Với địa hình thấp dần từ phía Tây Nam sang phía Đông Bắc, có cao
độ +300 ÷ 1.296m; độ dốc địa hình >25o, với diện tích tự nhiên 19.943,63ha Các xã miền núi huyện Ba Vì là nơi hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi về kinh tế, văn hoá, thương mại và du lịch Có địa chất công trình thuận lợi để phát triển đô thị, công nghiệp Có hệ thống sông, hồ, núi đa dạng và nhiều thắng cảnh đẹp tạo nên một nền kinh tế có nhiều tiềm năng phát triển Tổng
số lao động nông thôn của 07 xã là: 33.028 người, với tổng giá trị sản xuất đạt 644.731 triệu đồng Trong đó: nông nghiệp chiếm 65,02%; thương mại và dịch vụ 16,97%; thu khác 18%
Khu vực miền núi huyện Ba Vì gồm có 74 thôn với 15.769 hộ (có 6.583 hộ dân tộc thiểu số là người Mường, Dao), tổng nhân khẩu là 67.987 người (có 24.973 người dân tộc thiểu số) Tổng diện tích tự nhiên 19.943,63ha: diện tích đất nông nghiệp 6.126,06 ha; diện tích đất lâm nghiệp 9.436,86ha; diện tích đất ở: 599,29ha; diện tích đất công, công sở 1.611,29ha
và diện tích đất khác 2.143,13ha (theo số liệu điều tra, thống kê năm 2013
của Chi cục thống kê huyện Ba Vì) Có thể nói khu vực nghiên cứu được thiên
nhiên ưu đãi cho có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng
Trang 2823
Hình 2.1: Vị trí các xã miền núi Ba Vì
Trang 2924
Hệ thống giao thông thuỷ bộ: rất thuận lợi nối liền các tỉnh Tây Bắc, Việt Bắc với toàn bộ đồng bằng Bắc Bộ, từ Trung tâm huyện lỵ theo quốc lộ 32 đi Sơn Tây về Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ hoặc ngược Trung Hà đi Tây Bắc, Việt Bắc Đồng thời cũng từ trung tâm huyện theo sông Hồng ngược Trung Hà theo sông Lô, sông Thao lên Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, hoặc theo sông Đà đi Hoà Bình - cửa ngõ Tây Bắc của Tổ quốc Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có một số tuyến đường Tỉnh lộ như 411A,B,C; 412, 413, 414, 415 và các đường liên huyện, đê sông Hồng, sông Đà thông thương giữa các vùng, miền, các tỉnh, các huyện Với những lợi thế về giao thông đường thủy, đường bộ, khu vực này có điều kiện khá thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hóa với bên ngoài, tiếp thu những tiến bộ khoa học - kỹ thuật để phát triển kinh tế với cơ cấu đa dạng: nông nghiệp, dịch vụ, du lịch, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
Về hệ sinh thái rừng: theo số liệu thống kê năm 2008, diện tích rừng
toàn huyện có 10.724,9 ha, trong đó rừng sản xuất 4.400,4 ha, rừng phòng hộ 78,4 ha và 6.246 ha rừng đặc dụng Diện tích rừng tự nhiên tập trung chủ yếu ở vùng núi Ba Vì từ độ cao 400m trở lên Rừng tự nhiên được phủ xanh bằng các loại thảm thực vật phong phú, đa dạng, trong đó
có nhiều loại cây đặc trưng của rừng nhiệt đới thuộc phạm vi Vườn Quốc gia Ba Vì Thực hiện việc trồng mới, chăm sóc và bảo vệ rừng, từ năm
2010 đến nay tại khu vực này đã trồng thêm được 2.100 ha rừng Thực hiện các phương án phòng cháy rừng, chống hiện tượng phá rừng xảy ra nguyên nhân do nhân dân vùng núi đã thay đổi cơ bản tập quán đun nấu,
số hộ còn đun nấu bằng bếp lửa truyền thống đa số sử dụng sản phẩm phụ của các cơ sở chế biến gỗ nên hiện tượng chặt phá cây rừng làm nhiên liệu hầu như không xảy ra trên địa bàn Ngoài ra, các hộ nhận
Trang 3025
khoán trồng rừng sản xuất đã chủ động tu bổ, chăm sóc và thu hoạch theo chu kỳ góp phần vào tăng thu nhập, phủ xanh đồi núi trọc Trên địa bàn 07 xã miền núi không có tình trạng đất rừng bị bỏ hoang hoá
Dịch vụ du lịch: nơi đây có thể nói là được thiên nhiên ưu đãi ban tặng cả bức tranh sơn thuỷ hữu tình, với hệ sinh thái phong phú, thảm thực vật đa dạng, được coi là "lá phổi xanh" phía Tây thủ đô Hà Nội, là điểm đến của khách du lịch trong và ngoài nước Đó chính là Vườn Quốc gia Ba Vì Nơi đây có rất nhiều cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp như: núi, rừng, thác, suối, sông, hồ cùng với các danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: Ao Vua, Khoang Xanh, Suối Tiên, Hồ Tiên Sa, Thiên Sơn - Suối Ngà, Khu du lịch Tản Đà, Thác Đa, Hồ Suối Hai, Hồ Cẩm Quỳ nơi có nhiều trang trại đồng quê, nhiều sản phẩm nông nghiệp phong phú Giá trị tăng thêm dịch vụ du lịch đạt 1.803 tỷ đồng Doanh thu du lịch đạt 70
tỷ đồng, thu hút 1,5 triệu lượt khách đến với Ba Vì Đây chính là một lợi thế trong việc tăng cường nguồn sinh kế cho các xã gần các khu du lịch
2.1.2 Các đặc trƣng sinh kế
Thu nhập chính của người dân của bảy xã miền núi Ba Vì chủ yếu đến từ hai nguồn: thứ nhất là sản xuất nông nghiệp để lấy lương thực, hoa màu phục vụ cho con người và phục vụ chăn nuôi, sản phẩm chăn nuôi sau đó được bán đi để lấy nguồn thu nhập; thứ hai, nguồn thu này
có được từ việc đi làm thêm những nghề phụ khác trong thời gian nông nhàn, rảnh rỗi Sản xuất nông nghiệp bao gồm trồng lúa, hoa màu và chăn nuôi trâu bò, lợn và các loại gia cầm Trong 7 xã thì xã Ba Vì và xã Yên Bài là có tỉ lệ hộ làm nông nghiệp chiếm cao nhất, xã Tản Lĩnh và
xã Khánh Thượng có tỉ lệ các hộ dân làm dịch vụ, thương nghiệp khá cao So sánh giữa hai giai đoạn từ 2006 đến 2011 thì tỉ lệ làm dịch vụ,
Trang 31(Nguốn: Số liệu điều tra NN-NT năm 2006 và 2011)
Lúa nước vẫn là cây trồng chủ đạo trong sản xuất nông nghiệp Hiện nay, nguồn thu từ loại cây này không mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân Tuy nhiên, với đặc thù là vùng nông thôn, người dân các xã vẫn duy trì sản xuất loại cây này Mục đích trồng lúa hiện nay của người dân là chỉ tạo ra nguồn lương thực tự cung tự cấp trong gia đình chứ không trông chờ vào việc cải thiện kinh tế hộ gia đình từ cây lúa Một thực tế đang diễn ra hiện nay tại các xã là người dân không mặn mà với việc trồng lúa vì giá trị kinh tế không cao Điều này dẫn đến tình trạng một số gia đình hiện nay không còn trồng lúa nữa mà chuyển sang trồng
Trang 3227
cỏ, hoặc cho những gia đình khác mượn ruộng Những trường hợp như thế này bắt đầu xuất hiện trong những năm gần đây tại địa phương khi nghề chăn nuôi bò sữa phát triển mạnh ở đây
Diện tích trồng cây chè ổn định từ năm 2010 đến nay: cụ thể năm
2010 có 1.600ha trồng chè, tăng gần 300ha so với năm 2008; tổng sản lượng 25.444,3 tấn; tổng giá trị sản xuất 25.482,18 triệu đồng Đây là cây công nghiệp và là một trong hai sản phẩm được công nhận thương hiệu Ba Vì, góp phần xoá đói, giảm nghèo cho nhân dân của một số xã trong khu vực như: năm 2012 xã Ba Trại giảm 138 hộ nghèo
Những năm gần đây, nghề nuôi bò sữa phát triển mạnh tại Ba Vì kéo theo một số diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi sang trồng cỏ Đây là loại cây dễ trồng, tiền và công sức đầu tư không lớn, phát triển nhanh và phù hợp với khí hậu của địa phương Trong những năm tiếp theo, nếu nghề nuôi bò sữa ở đây phát triển mạnh thì diện tích đồng cỏ
có thể sẽ tăng lên so với hiện nay
Nghề nuôi bò sữa xuất hiện ở Ba Vì từ lâu, cách đây khoảng 20 năm nghề này có sự phát triển mạnh Đặc biệt từ 2007, nghề này thật sự phát triển rộng rãi trong các hộ gia đình ở Tản Lĩnh Sỡ dĩ có hiện tượng này là do những năm gần đây, một số công ty, nhà máy sữa đã xây dựng và đầu tư cơ
sở tại địa phương Nhu cầu nguyên liệu của các nhà máy và giá sữa ổn định khi thu mua từ người dân tạo động lực cho người dân đầu từ vào nghề này Hơn nữa, thu nhập từ nuôi bò sữa cao gấp nhiều lần so với trồng lúa Ngoài
ra, những hỗ trợ ban đầu về vốn để người dân phát triển chăn nuôi cũng là một trong những yếu tố thuận lợi tạo động lực để phát triển nghề này Thứ nhất, hằng năm, tại địa phương đều có mở các lớp tập huấn kỹ thuật chăn nuôi
bò cho người dân do trung tâm chăn nuôi gia súc lớn kết hợp với xã thực hiện
Trang 3328
Thứ hai, chính sách cho người dân vay vốn để mua bò Người dân có hai nguồn để vay: qua các “tanh”? ở địa phương hoặc qua nhà máy sữa cho vay với lãi suất 0% và người dân sẽ trả dần qua lượng sữa
Bảng 2.2: Các loại hình trồng trọt và chăn nuôi ở 7 xã
DT Lúa (ha)
SL lúa (tạ)
DT Chè (ha)
DT Ngô (ha)
SL ngô (tạ)
Rừng trồng (ha)
Số gia súc Số gia cầm Số bò sữa Tản Lĩnh 352 18443 60 82 3877 16 11478 145445 1322
(Nguốn: Số liệu điều tra NN-NT năm 2011)
Các nhóm kinh doanh chủ yếu: kinh doanh vật liệu xây dựng, vận tải, ăn uống - giải khát, hàng tiêu dùng - nhu yếu phẩm, bách hoá Một số dịch vụ mớí xuất hiện như: dịch vụ cưới hỏi (100% các xã có từ 3 - 5 cơ sở thuê xe,
đồ lễ vật, đặt tiệc cưới ); kinh doanh ăn uống, giải khát; dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, làm đẹp; dịch vụ giới thiệu việc làm; trang trí nội thất đã làm phong phú thêm ngành nghề kinh doanh, dịch vụ và giải quyết việc làm cho lao động trên địa bàn Thu nhập bình quân của những hộ này đạt 15.500.000 đồng/người/năm đến 20.000.000 đồng/người/năm, góp phần nâng cao đời
Trang 34vị khác Duy trì hoạt động chợ phiên nông thôn tại các chợ như chợ Chẹ (Khánh Thượng), chợ Mộc (Minh Quang) và chợ Ba Trại (Ba Trại) để nhân dân buôn bán vào chợ kinh doanh, giải toả ùn tắc giao thông khu vực xã Tản Lĩnh với hình thức buôn bán hàng ở ven đường 414 Xã Tản Lĩnh là xã có tỉ
lệ hộ làm dịch vụ, thương nghiệp lớn nhất trong 7 xã nhưng cũng chỉ 70% của 1/11 thôn ở Tản Lĩnh là có người dân buôn bán ở khu du lịch Tuy nhiên, nghề này chỉ mang tính chất thời vụ, người dân thường chỉ làm vào mùa hè – mùa du lịch Vì vậy, đây không phải là nghề ổn định, nghề chính của họ Những hộ gia đình này ngoài bán hàng du lịch thì họ vẫn sản xuất nông nghiệp, và đi làm những nghề phụ khác Đây là nghề mang lại thu nhập đủ chi tiêu hàng ngày cho người dân chứ chưa phải là nghề có thể phát triển kinh tế cho mỗi gia đình
Về tiểu thủ công nghiệp: so với các vùng khác trên địa bàn, công nghiệp
- tiểu thủ công nghiệp chiếm tỷ trọng thấp hơn so với các vùng khác trong huyện Tổng giá trị sản xuất đạt 592 tỷ đồng, giá trị tăng thêm đạt 234 tỷ đồng Cơ cấu giá trị gia tăng giá trị sản xuất khoảng 19%/21% giá trị tương ứng Chủ yếu vẫn là chế biến nông sản, tập trung là chế biến Rong, Giềng, Sắn ở xã Minh Quang và một phần ở Khánh Thượng, Chè búp ở xã Ba Trại
và Yên Bài, chế biến sữa ở xã Tản Lĩnh, Yên Bài và Vân Hoà Tuy nhiên, phải kể đến sự đóng góp của các cơ sở chế biến sữa tập trung và nhỏ lẻ trên địa bàn Trong đó, riêng Công ty sữa Quốc tế chiếm trên 90% sản lượng sữa
Trang 35Nắng nóng là một trong những loại hình thời tiết đặc trưng của mùa hè ở khắp các khu vực trên lãnh thổ Việt Nam, gây ảnh hưởng nhiều mặt đối với con người, cây trồng và vật nuôi Thời tiết được gọi là nắng nóng khi nhiệt độ cao nhất trong ngày lớn hơn 350C Ở Ba Vì số ngày nắng nóng thường xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 10, nhiều nhất là ở tháng 6, tháng 7 với khoảng 6 ngày nắng nóng Thời gian nắng nóng này thường chịu ảnh hưởng của gió tây khô nóng, hình thế thời tiết áp thấp nóng phía tây khống chế nên thường gây
ra các đợt nắng nóng trên diện rộng Sự phân bố này phù hợp với sự biến đổi của nhiệt độ, hầu hết đều có xu hướng tăng nhiệt độ
Trang 3732
Hiện tượng rét đậm ở Việt Nam theo các tiêu chuẩn và thống kê khí hậu của Viện khí tượng thủy văn thì rét đậm xảy ra khi nhiệt độ trung bình ngày nhỏ hơn hoặc bằng 150C Vào mùa đông và đầu mùa xuân các đợt rét đậm xảy ra liên tiếp, kéo dài không những gây ảnh hưởng lớn đến cây trồng vật nuôi và cũng gây thiệt hại rất lớn về mặt kinh tế xã hội Từ chuỗi số liệu quan trắc của trạm khí tượng Ba Vì ta có thể thấy tháng xuất hiện số ngày rét đậm vào khoảng tháng 11, tháng 12 và từ tháng 1 đến tháng 3, trong đó xuất hiện ngày rét đậm nhiều nhất là tháng 1, tháng 2 với số ngày cực đại trung bình trong tháng là khoảng 14 ngày và xuất hiện vào tháng 1
Hình 2.4: Biểu đồ phân bố số ngày rét đậm theo tháng trạm Ba Vì 2.2.2 Lƣợng mƣa và hiện tƣợng mƣa lớn
Đối với hiện tượng mưa, để đánh giá sự thay đổi của lượng mưa có thể xác định theo lượng mưa tháng hay lượng mưa tuần cho mỗi năm và từ đó đúc kết thành mùa mưa cho cả quá trình nhiều năm thông qua các đặc trưng phản ánh độ tập trung Mùa mưa được xác định theo trung bình số học của lượng mưa tháng với