DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BCTC : Báo cáo tài chính BTC : Bộ tài chính BCLCTT : Báo cáo lưu chuyển tiền tệ BCKQHĐKD : Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh CTCP : Công ty cổ phần CKTPHCM :
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHAN THỊ THÙY DƯƠNG
SỬ DỤNG MÔ HÌNH JONES ĐỂ NHẬN DIỆN
ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN: TRƯỜNG HỢP
CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Ở HOSE PHÁT HÀNH THÊM CỔ PHIẾU NĂM 2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHAN THỊ THÙY DƯƠNG
SỬ DỤNG MÔ HÌNH JONES ĐỂ NHẬN DIỆN
ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN: TRƯỜNG HỢP
CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Ở HOSE PHÁT HÀNH THÊM CỔ PHIẾU NĂM 2013
Chuyên ngành: KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN CÔNG PHƯƠNG
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng
d ẫn trực tiếp của PGS.TS Nguyễn Công Phương
Các s ố liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
PHAN THỊ THÙY DƯƠNG
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Cấu trúc của luận văn 3
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN KẾ TOÁN CỦA NHÀ QUẢN TRỊ 8
1.1 CƠ SỞ ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN 8
1.2 ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN CỦA NHÀ QUẢN TRỊ 11
1.2.1 Định nghĩa, động cơ điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị 11
1.2.2 Vận dụng chính sách kế toán để điều chỉnh lợi nhuận kế toán 15
1.3 CÁC MÔ HÌNH NHẬN DIỆN ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN CỦA NHÀ QUẢN TRỊ 27
1.3.1 Nhận diện điều chỉnh lợi nhuận 27
1.3.2 Các mô hình nhận diện điều chỉnh lợi nhuận 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36
CHƯƠNG 2 GIẢ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37 2.1 BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU 37
2.2 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 42
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45
2.3.1 Mô hình Modified Jones để nhận diện điều chỉnh lợi nhuận 45
Trang 52.3.2 Chọn mẫu và thu thập dữ liệu 49
2.3.3 Xử lý số liệu 51
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 54
CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH, TRÌNH BÀY KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KẾT LUẬN 55
3.1 PHÂN TÍCH VÀ TRÌNH BÀY KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 55
3.1.1 Sử dụng mô hình Modified Jones để kiểm định giả thuyết 55
3.1.2 Nhận xét kết quả nghiên cứu 69
3.2 KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý 72
3.2.1 Đối với nhà đầu tư 72
3.2.2 Đối với Ủy ban chứng khoán Nhà nước 73
3.2.3 Đối với kiểm toán viên và tổ chức kiểm toán độc lập 74
3.2.4 Đối với tổ chức niêm yết 74
3.2.5 Đối với Bộ Tài Chính 75
3.2.6 Đối với quản lý nhà nước 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 79
KẾT LUẬN 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCTC : Báo cáo tài chính
BTC : Bộ tài chính
BCLCTT : Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
BCKQHĐKD : Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
CTCP : Công ty cổ phần
CKTPHCM : Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
DN : Doanh nghiệp
DAt : Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh quý nghiên cứu
KTV : Kiểm toán viên
LCTTTHĐKDt: Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh quý nghiên cứu LNSTt : Lợi nhuận sau thuế của quý nghiên cứu
TAt : Tổng biến kế toán dồn tích quý nghiên cứu
UBCKNN : Uỷ ban chứng khoán nhà nước
VAS : Chuẩn mực kế toán Việt Nam
Trang 7đồ uống - thuốc lá
57
3.2 Trình bày các biến trong mô hình Modified Jones 60 3.3 Kết quả kiểm định bằng mô hình Modified Jones 63
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát hành thêm cổ phiếu là một trong những hình thức tài trợ vốn cho các công ty niêm yết Đây là hình thức vừa khả thi vừa an toàn về tài chính vì vậy được rất nhiều doanh nghiệp lựa chọn Trước khi đầu tư vào một doanh nghiệp, nhà đầu tư thường quan tâm đến khả năng sinh lời và hiệu quả hoạt động của công ty đó Chỉ tiêu lợi nhuận là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty Đó cũng chính là lý do khiến các nhà quản trị công ty luôn tìm mọi cách có thể để chuyển dịch lợi nhuận của các kỳ sau hoặc lợi nhuận của kỳ trước về kỳ chuẩn bị phát hành thêm cổ phiếu nhờ vào tính linh hoạt của chuẩn mực và chế độ kế toán nhằm thu hút các nhà đầu tư Do đó, khi phát hành thêm cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, khả năng các công ty cổ phần điều chỉnh tăng lợi nhuận là rất cao Điều đó khiến các nhà đầu tư luôn đặt ra câu hỏi liệu chỉ tiêu lợi nhuận trong
kỳ phát hành thêm cổ phiếu có được báo cáo trung thực hay không? Việc điều chỉnh lợi nhuận sẽ làm sai lệch tình hình tài chính của doanh nghiệp và dẫn đến hậu quả vô cùng lớn đối với nhà đầu tư vì nhà đầu tư bị đánh lừa và có thể chịu thiệt hại nặng nề vì quyết định đầu tư của mình liên quan đến thông tin sai lệch được cung cấp bởi doanh nghiệp Về lâu dài, điều chỉnh lợi nhuận
sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của thị trường chứng khoán Việt Nam
Vì vậy, việc nhận diện được hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các nhà quản trị thông qua các mô hình nhận diện điều chỉnh lợi nhuận nhằm giúp các đối tượng sử dụng thông tin, đặc biệt là các nhà đầu tư có được nguồn thông tin chính xác để đưa ra các quyết định đúng đắn là vấn đề có ý nghĩa rất lớn
Và mô hình nhận diện điều chỉnh lợi nhuận được cho là ưu việt hiện nay là
Trang 9mô hình Modified Jones1 Tuy nhiên, hiện nay chưa có nghiên cứu thực nghiệm nào vận dụng mô hình này để nhận diện điều chỉnh lợi nhuận
Nhận thấy được ý nghĩa thiết thực đó, tôi đã chọn đề tài: “Sử dụng mô hình Jones để nhận diện điều chỉnh lợi nhuận: trường hợp các công ty niêm yết ở Hose phát hành thêm cổ phiếu năm 2013”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu này là nhận diện hành động quản trị lợi nhuận của nhà quản trị khi phát hành thêm cổ phiếu thông qua mô hình Jones Cụ thể nghiên cứu tìm kiếm câu trả lời có hay không hành vi điều chỉnh lợi nhuận
ở các công ty niêm yết ở Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh khi phát hành thêm cổ phiếu năm 2013
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hành động điều chỉnh lợi nhuận trong bối cảnh phát hành thêm cổ phiếu
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng cách tiếp cận thực chứng, sử dụng mô hình toán thống kê để chứng minh giả thuyết Quy trình nghiên cứu từ lập luận và đặt ra giả thuyết nghiên cứu, sau đó thu thập số liệu từ báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sở GDCK TP Hồ Chí Minh trong quý chuẩn bị phát hành thêm cổ phiếu và quý liền trước; sử dụng mô hình nhận diện quản trị lợi
1 Được trích dẫn trong nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Công Phương (năm 2005)
Trang 10nhuận Modified Jones (1995) để kiểm định giả thuyết; phân tích kết quả được thực hiện thông qua việc vận dụng các công cụ thống kê toán (kiểm định dấu Sign test)
Thông tin, số liệu thu thập là nguồn thông tin có liên quan đến hoạt động phát hành thêm cổ phiếu, số liệu về kết quả hoạt động kinh doanh, số liệu về dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và các số liệu báo cáo tài chính có liên quan khác Thông tin phát hành thêm cổ phiếu được thu thập từ nguồn Stoxplus
Số liệu sau khi thu thập được xử lý bởi mô hình nhận diện quản trị lợi nhuận Modified Jones (1995) để kiểm định giả thuyết dưới sự hỗ trợ của Excel và SPSS 16.0
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu này sẽ cung cấp bằng chứng về hành động quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết ở Hose trong bối cảnh phát hành thêm cổ phiếu, từ đó giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin có cái nhìn chính xác hơn chỉ tiêu lợi nhuận của các công ty niêm yết
6 Cấu trúc của luận văn
Lu ận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị
Chương 2: Giả thuyết và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Phân tích, trình bày kết quả nghiên cứu và kết luận
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Điều chỉnh lợi nhuận là “một sự can thiệp có cân nhắc trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân” (Schipper 1989)2 Điều chỉnh lợi nhuận phản ảnh hành động của nhà quản trị trong việc lựa chọn các phương pháp kế toán để mang lại lợi ích cho họ hoặc
2 Được trích dẫn trong nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Công Phương (năm 2005)
Trang 11làm gia tăng giá trị thị trường của công ty (Scott 1997)3
Ở nước ta, lý do thúc đẩy hành động quản trị lợi nhuận là tối thiểu hóa chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp, tạo hình ảnh tốt về công ty để thu hút đầu
tư từ bên ngoài, Do đó, khi có cơ hội các nhà quản trị sẽ thực hiện hành động điều chỉnh lợi nhuận, để điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn chủ quan của
họ Chính vì vậy, việc nhận diện hành động điều chỉnh lợi nhuận sẽ phần nào giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin đánh giá khách quan hơn kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và từ đó đưa ra quyết định đúng đắn Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc điều chỉnh lợi nhuận
và các giả thuyết đã được chứng minh bằng nhiều mô hình nghiên cứu kinh nghiệm như: The Healy Model (1985), The DeAngelo Model (1986), The Jones Model (1991), Modified Jones Model, Industry Model của Dechow and Sloan (1991), The Friedlan (1994), …
Đã có một số nghiên cứu lý thuyết về điều chỉnh lợi nhuận như: “Kế toán theo cơ sở dồn tích và hành vi quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp”(2009),
“Các mô hình quản trị lợi nhuận ở các nước phát triển có phù hợp với bối cảnh Việt Nam: phân tích lý thuyết” (2005), “Về tính trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận” (2007) của PGS.TS Nguyễn Công Phương Các nghiên cứu này đã cung cấp cơ sở lý thuyết hữu ích cho các nghiên cứu về việc vận dụng các chính sách kế toán nhằm điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn chủ quan của nhà quản trị Đồng thời tác giả cũng hợp tuyển các nghiên cứu có liên quan về các
mô hình nghiên cứu quản trị lợi nhuận trên thế giới và qua đó đưa ra những nhận xét về ưu, nhược điểm của từng mô hình nhằm cải tiến phương pháp nhận diện điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị
Bài viết “Hành vi quản trị lợi nhuận đối với thông tin lợi nhuận công bố trên BCTC” của TS Đường Nguyễn Hưng (2013) đã đưa ra nội dung rõ ràng
3 Được trích dẫn trong nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Công Phương (năm 2005)
Trang 12về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị thông qua việc việc dụng chính sách kế toán cũng như mục đích của việc điều chỉnh lợi nhuận Tuy nhiên bài viết này chỉ giới hạn ở nghiên cứu lý thuyết chứ chưa phải là nghiên cứu thực nghiệm do đó chưa đưa ra bằng chứng về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị
Bên cạnh đó cũng đã có một số nghiên cứu kiểm định việc điều chỉnh lợi nhuận bằng việc vận dụng các mô hình như:
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Minh Trang (2010) về đề tài “ Lựa chọn chính sách kế toán trong bối cảnh thay đổi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp” Bối cảnh lựa chọn là năm 2008 có sự thay đổi thuế suất thuế TNDN,
có hiệu lực vào năm 2009 Thuế suất thuế TNDN thay đổi từ 28% năm 2008 giảm xuống còn 25% năm 2009 Với nghiên cứu này tác giả đã thu thập số liệu của 02 năm 2007 và 2008, sử dụng mô hình DeAnglo và Friedlan để đưa
ra kết luận: Công ty cổ phần động cơ điều chỉnh tăng lợi nhuận để thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài chiếm ưu thế hơn, các loại hình doanh nghiệp còn lại thường sẽ ưu tiên lựa chọn điều chỉnh giảm lợi nhuận nhằm tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp Tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu này là nguồn
dữ liệu chưa phong phú và chỉ nghiên cứu trên mẫu được chọn là 20 công ty Bên cạnh đó tác giả chỉ chọn mẫu là những doanh nghiệp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp trực tiếp, mà việc lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp trực tiếp hay gián tiếp thì cũng có kết quả giống nhau Việc loại bỏ ra khỏi mẫu những doanh nghiệp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp gián tiếp đã làm cho mẫu mang tính đại diện không cao
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo (2011) về đề tài “Ảnh hưởng của sự thay đổi tỷ suất thuế thu nhập doanh nghiệp đến việc điều chỉnh lợi nhuận: trường hợp các công ty cổ phần niêm yết tại sở giao dịch chứng
Trang 13khoán TP Hồ Chí Minh” Bối cảnh lựa chọn nghiên cứu cũng giống đề tài “ Lựa chọn chính sách kế toán trong bối cảnh thay đổi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp” của tác giả Nguyễn Thị Minh Trang là năm 2008 có sự thay đổi thuế suất thuế TNDN, có hiệu lực vào năm 2009 Thuế suất thuế TNDN thay đổi từ 28% năm 2008 giảm xuống còn 25% năm 2009 Với nghiên cứu này tác giả đã sử dụng mô hình Friedlan và đã đưa ra kết luận có 60% công
ty điều chỉnh giảm lợi nhuận trong năm 2008 để tiết kiệm thuế thu nhập doanh nghiệp, có 40 % công ty điều chỉnh tăng lợi nhuận Tuy nhiên, nghiên cứu này vẫn còn tồn tại đó là mô hình chỉ sử dụng doanh thu đại diện mức độ hoạt động của công ty để kiểm soát sự thay đổi của biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) qua hai năm Trong khi đó, doanh thu không thể đại diện hết mức độ hoạt động của công ty hay nói cách khác, doanh thu không thể kiểm soát hết sự thay đổi của NDA Do đó, nếu mức độ hoạt động qua hai năm thay đổi thì việc đo lường NDA không còn chính xác nữa và đây cũng chính là tồn tại của mô hình mà tác giả lựa chọn để nghiên cứu Hơn nữa, kỳ nghiên cứu mà tác giả lựa chọn là năm, hạn chế này sẽ được đề cập trong phần sau
Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thị Vân (2012) về đề tài “Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các công ty cổ phần trong năm đầu tiên niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” Với thời gian nghiên cứu là năm
2008 đến năm 2010 Tác giả sử dụng mô hình DeAnglo và Friedlan đã đưa ra kết luận phần lớn các công ty niêm yết có điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán Tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu này cũng giống như một hạn chế của tác giả Nguyễn Thị Minh Trang là tác giả chỉ chọn mẫu những công ty lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp trực tiếp đã làm cho việc chọn mẫu không thật sự ngẫu nhiên vì mẫu đã bỏ qua những công ty lập BCLCTT theo phương pháp gián tiếp
Trang 14Hơn nữa, những nghiên cứu ở trên vận dụng mô hình DeAngelo và Friedlan có hạn chế là các mô hình này giả định quy mô doanh nghiệp không thay đổi qua 2 năm và năm liền trước không có điều chỉnh lợi nhuận Nếu vi phạm giả thuyết thì kết quả nghiên cứu không còn chính xác nữa
Mặc khác, những nghiên cứu ở trên chọn kỳ nghiên cứu là năm tài chính thì sẽ quá dài cho việc xác định hành động điều chỉnh lợi nhuận Vì có thể quý này có điều chỉnh lợi nhuận tăng lên để phục vụ cho mục đích chủ quan của nhà quản trị và đương nhiên lợi nhuận của những quý sau sẽ giảm xuống
và ngược lại, nhưng xét cho toàn bộ cả năm thì không thấy được hành động điều chỉnh lợi nhuận
Kế thừa những nghiên cứu trên, trong nghiên cứu này vận dụng mô hình Modified Jones được coi là mô hình ưu việt hiện nay để nhận diện hành động điều chỉnh lợi nhuận trong trường hợp phát hành thêm cổ phiếu của các công
ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh năm
2013
Ngoài ra, nghiên cứu này cũng lựa chọn kỳ nghiên cứu là quý đã khắc phục các hạn chế của các nghiên cứu được đề cập ở trên
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN
KẾ TOÁN CỦA NHÀ QUẢN TRỊ 1.1 CƠ SỞ ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN
Lợi nhuận kế toán là sự chênh lệch giữa doanh thu và các chi phí phát sinh
Lợi nhuận kế toán được đo lường dựa trên các cơ sở, nguyên tắc sau:
- Lợi nhuận kế toán được xác định theo cơ sở dồn tích Theo Chuẩn mực
kế toán số 01 – Chuẩn mực chung, nguyên tắc cơ sở dồn tích được định nghĩa như sau: “Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai”
Ví dụ: Doanh nghiệp bán hàng cho khách hàng với tổng giá thanh toán là 300.000.000 đồng, khách hàng chuyển khoản trả cho doanh nghiệp 100.000.000 đồng, số còn lại nợ Theo nguyên tắc cơ sở tiền thì nghiệp vụ chỉ ghi nhận khi nhận được 100.000.000 đồng và doanh thu thực hiện là 100.000.000 đồng, tuy nhiên theo nguyên tắc cơ sở dồn tích doanh thu ghi nhận ngay tại thời điểm phát sinh là khi khách hàng chấp nhận mua, ngoài ra giá trị phản ánh trên tài khoản doanh thu là 300.000.000 đồng (thu tiền 100.000.000 đồng và khoản khách hàng nợ 200.000.000 đồng)
Với ví dụ trên, tính ưu việt của nguyên tắc cơ sở dồn tích đã thể hiện rõ,
nó giúp cho kế toán ghi nhận và phản ánh tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp nhưng hiện tại không nằm ở doanh nghiệp là các khoản phải thu khách hàng, hay các khoản vốn chiếm dụng của các tổ chức, cá nhân bên ngoài đơn
Trang 16vị là nợ phải trả Chính vì thế phạm vi của nguyên tắc này rộng và bao quát hơn và có thể khẳng định “…Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai” Việc ghi nhận doanh thu và chi phí có ảnh hưởng quyết định đến báo cáo lợi nhuận của doanh nghiệp trong một kỳ, cơ sở kế toán dồn tích được xem là một nguyên tắc chính yếu đối với việc xác định lợi nhuận của doanh nghiệp Lợi nhuận theo cơ sở dồn tích là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí;
từ đó, BCTC nói chung và BCKQKD nói riêng được lập trên cơ sở dồn tích phản ánh đầy đủ (hay tuân thủ yêu cầu trung thực) các giao dịch kinh tế trong
kỳ và từ đó cho phép tình trạng tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp được phản ánh một cách đầy đủ, hợp lý Hơn nữa, do không có sự trùng hợp giữa lượng tiền thu vào và doanh thu trong kỳ và tồn tại chênh lệch giữa chi phí ghi nhận và lượng tiền chi ra trong một kỳ, kế toán theo cơ sở dồn tích cho phép theo dõi các giao dịch kéo dài qua các kỳ khác nhau, như nợ phải thu, nợ phải trả, khấu hao, dự phòng, ….4
- Lợi nhuận kế toán được xác định căn cứ vào thời kỳ quy định liên quan đến hoạt động trong một khoảng thời gian xác định Hay nói cách khác, lợi nhuận được xác định dựa trên cở sở hoạt động liên tục Theo đó, hoạt động của doanh nghiệp được chia thành các kỳ bằng nhau xuất phát từ thông tin thời kỳ Mặc dù tồn tại mối liên hệ giữa các niên độ (kỳ kế toán) nhưng kế toán phải thực hiện đo lường các hoạt động theo những niên độ độc lập
- Lợi nhuận kế toán căn cứ vào nguyên tắc phù hợp giữa chi phí với doanh thu Đo lường lợi nhuận phản ánh nguyên tắc phù hợp và có liên quan chặt chẽ với cách thức đo lường doanh thu và chi phí Trong VAS 01- Chuẩn mực chung, nguyên tắc phù hợp thể hiện như sau: “Việc ghi nhận doanh thu
và chi phí phải phù hợp với nhau Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải
4 Được trích dẫn trong nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Công Phương (năm 2009)
Trang 17ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu
đó Chi phí tương ứng với doanh thu bao gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu
và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó” Phù hợp thể hiện rõ nhất ở giá trị sản phẩm, lao vụ, dịch vụ cung cấp để tạo ra doanh thu Ví dụ: Doanh nghiệp gửi bán một lô hàng hóa
số lượng 100 sản phẩm cho khách hàng với giá bán 150.000 đồng/sản phẩm, thuế suất thuế giá trị gia tăng 10%; giá vốn 125.000 đồng/ sản phẩm Khi nhận được hàng, khách hàng chấp nhận mua 80 sản phẩm Theo nguyên tắc
cơ sở dồn tích, doanh thu được ghi nhận tại thời điểm khách hàng chấp nhận mua hàng (đã trả một khoản tiền hay ghi nhận một khoản nợ), mặt khác, theo nguyên tắc phù hợp của kế toán, kế toán sẽ sẽ xác định số lượng được tiêu thụ
là 80 sản phẩm, do vậy doanh thu và chi phí được xác định phải tương ứng với số lượng tiêu thụ là 80 sản phẩm, còn lại 20 sản phẩm không được tiêu thụ vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và là tài sản của doanh nghiệp Như vậy 100 sản phẩm gửi bán của doanh nghiệp sẽ được xử lý như sau: Gửi bán 100 sản phẩm, giá vốn: 100 x125.000 = 12.500.000 đồng
Tiêu thụ 80 sản phẩm: Doanh thu: 80 x150.000 = 12.000.000 đồng
Giá vốn (chi phí): 80 x 125.000 = 10.000.000 đồng
20 sản phẩm còn lại đang còn là hàng gửi bán chưa về đến đơn vị
- Lợi nhuận được đo lường dựa trên cơ sở thận trọng Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:
+ Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn;
+ Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập; + Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí; + Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn
về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có
Trang 18bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí
1.2 ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN CỦA NHÀ QUẢN TRỊ
1.2.1 Định nghĩa, động cơ điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị
a Định nghĩa
Các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số khái niệm về việc điều chỉnh lợi nhuận theo Scott (1997)5 Điều chỉnh lợi nhuận phản ánh hành động của nhà quản trị trong việc lựa chọn các chính sách kế toán nhằm đạt được mục tiêu cá nhân hoặc tăng lên giá trị thị trường của công ty
Theo Schipper (1989)6 Điều chỉnh lợi nhuận là một sự can thiệp có cân nhắc trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân
Theo PGS.TS Nguyễn Công Phương (2009)7 Điều chỉnh lợi nhuận là hành động điều chỉnh lợi nhuận kế toán của nhà quản trị doanh nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua công cụ kế toán
Với TS Đường Nguyễn Hưng (2013)8 Điều chỉnh trị lợi nhuận là việc người quản lý sử dụng các đánh giá chủ quan của mình trong quá trình lập và công bố BCTC và quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh tế để thay đổi BCTC nhằm đánh lừa các bên có liên quan nhất định, hoặc nhằm thay đổi các kết quả của các hợp đồng mà có điều khoản ràng buộc dựa trên số liệu kế toán
Tóm lại, dù có nhiều khái niệm khác nhau nhưng việc điều chỉnh lợi nhuận chính là hành động làm thay đổi lợi nhuận kế toán của nhà quản trị doanh nghiệp bằng cách vận dụng các chính sách kế toán để tác động tới doanh thu và chi phí Điều chỉnh lợi nhuận được thực hiện trong khuôn khổ
5 Được trích dẫn trong nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Công Phương (năm 2005)
6 Được trích dẫn trong nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Công Phương (năm 2005)
7 Được trích dẫn trong nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Công Phương (năm 2009)
8 Được trích dẫn trong nghiên cứu của TS Đường Nguyễn Hưng (năm 2013)
Trang 19các nguyên tắc kế toán hay nói cách khác điều chỉnh lợi nhuận là hợp pháp và
từ đó còn được gọi là quản trị lợi nhuận, thể hiện sự vận dụng linh hoạt các nguyên tắc kế toán để làm thay đổi doanh thu, chi phí ghi nhận trong kỳ
b Động cơ điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị
Trong năm 2013, theo thống kê của Vietstock, tính đến ngày 08/04/2014
đã có khoảng 500 doanh nghiệp công bố BCTC hợp nhất kiểm toán năm 2013
và gần 300 doanh nghiệp công bố BCTC kiểm toán công ty mẹ Chỉ xét riêng
về các khoản mục trên bảng kết quả hoạt động kinh doanh, mà quan trọng nhất là khoản mục lợi nhuận sau thuế cho thấy có đến 80% kết quả có chênh lệch trước và sau kiểm toán Như vậy, tình trạng số liệu tài chính theo BCTC kiểm toán chênh lệch so với báo cáo doanh nghiệp lập là khá phổ biến
Không những chênh lệch mà thậm chí có trường hợp làm thay đổi hoàn toàn kết quả kinh doanh của doanh nghiệp như từ lãi sang lỗ hay từ lỗ sang lãi Gây sốc nặng cho nhà đầu tư khi CTCP Xuyên Thái Bình (PAN) bất ngờ
lỗ 2 tỷ đồng sau kiểm toán trong khi trước đó báo lãi vượt kết hoạch với 48,8
tỷ đồng Không kém cạnh, CTCP Xây Lắp Đường Ống Bể Chứa Dầu Khí (PXT) cũng gây thất vọng lớn cho cổ đông khi kết quả kiểm toán cho thấy lỗ ròng 35,6 tỷ đồng chứ không phải có lãi hơn 1 tỷ đồng như trước đó Khoản mục gây ra sự thay đổi lớn này là giá vốn hàng bán sau kiểm toán bất ngờ tăng mạnh hơn 35 tỷ đồng Kể từ năm 2008 đến nay, năm vừa qua là năm duy nhất công ty bị lỗ, điều này đặt ra dấu hỏi cho chất lượng thông tin trên BCTC của năm nay cũng như những năm trước đó của doanh nghiệp này Không những lỗ nặng, PXT còn bị kiểm toán lưu ý về khả năng hoạt động liên tục do
có một số khoản vay, công nợ phải trả đã đến hạn thanh toán và lỗ lũy kế hơn
35 tỷ đồng
Bên cạnh đó, không ít doanh nghiệp khiến nhà đầu tư choáng váng với việc sau kiểm toán bất ngờ lãi khủng hay từ lỗ chuyển sang lãi Đơn cử như
Trang 20CTCP Đầu Tư Tổng Hợp Hà Nội (SHN) lãi sau kiểm toán đạt 9,8 tỷ đồng, cao gấp 6 lần so với mức 1,7 tỷ trước kiểm toán Hay như Quốc Cường Gia Lai (QCG) sau kiểm toán doanh thu thuần, doanh thu tài chính, chi phí tài chính đều có thay đổi đáng kể khiến cho lãi ròng tăng những 123% lên 14,7 tỷ đồng Đặt biệt, công ty mẹ PVX gây sốc khi sau kiểm toán giảm lỗ đến gần
500 tỷ đồng
Thực tế này có thể dự đoán rằng, phía sau con số là sự nâng lên hay đặt xuống có chủ ý của nhà quản trị doanh nghiệp Nói cách khác, nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện báo cáo lợi nhuận “linh hoạt” nhằm đạt mục tiêu chủ quan Có doanh nghiệp điều chỉnh tăng lợi nhuận, có doanh nghiệp điều chỉnh giảm lợi nhuận, do đó có thể nói tồn tại nhiều động cơ dẫn đến nhà quản trị điều chỉnh lợi nhuận Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Công Phương
(2005), ở Việt Nam có thể phổ biến gồm 3 động cơ sau:
- Thu hút nguồn tài trợ bên ngoài: Giá cổ phiếu chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó lợi nhuận là một trong các yếu tố được định lượng
rõ nét nhất trong các nghiên cứu về định giá cổ phiếu Chỉ tiêu lợi nhuận được cung cấp trong báo cáo tài chính và tác động tới giá của cổ phiếu niêm yết Công ty lần đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc trong các đợt phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu cần tạo được sự chú ý của các nhà đầu tư về hiệu quả kinh doanh để đợt chào bán thành công Các công ty thường có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận để thu hút nhà đầu tư và tăng giá cổ phiếu, trái phiếu
Mặt khác, theo quy chế niêm yết của các sở giao dịch chứng khoán cũng như luật chứng khoán, nếu kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp niêm yết bị âm trong năm báo cáo gần nhất thì chứng khoán của doanh nghiệp rơi vào diện bị cảnh báo, hoặc kiểm soát; nếu kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp niêm yết thua lỗ trong 03 năm liên tục hoặc tổng số
Trang 21lỗ lũy kế vượt quá số vốn điều lệ thực góp trong báo cáo tài chính kiểm toán thì chứng khoán của doanh nghiệp bị hủy niêm yết Đây cũng chính là lý do khiến nhà quản trị doanh nghiệp có thể điều chỉnh tăng lợi nhuận kế toán để tránh rơi vào diện bị hủy niêm yết hoặc bị cảnh báo, kiểm soát nếu lợi nhuận
kế toán năm bị lỗ rơi vào diện trên Vì nếu chứng khoán của doanh nghiệp rơi vào diện bị cảnh báo, bị kiểm soát hay tồi tệ hơn là bị hủy niêm yết thì đồng nghĩa với việc thu hút đầu tư của doanh nghiệp gặp khó khăn, kênh huy động vốn hiệu quả và phù hợp nhất của doanh nghiệp bị cắt đứt
- Chế độ lương, thưởng dành cho nhà quản trị: Chế độ trả lương, thưởng dựa trên lợi nhuận đã tạo ra một động cơ thúc đẩy các nhà quản trị điều chỉnh lợi nhuận theo hướng có lợi cho họ nhất Khi lợi nhuận thực tế lớn hơn giới hạn trên của mức lợi nhuận được nhận tiền thưởng, các nhà quản trị sử dụng các chính sách kế toán nhằm điều chỉnh giảm lợi nhuận nhưng vẫn nằm trong giới hạn được nhận thưởng, phần lợi nhuận không làm tăng tiền thưởng được dịch chuyển sang năm sau và tiếp tục được nhận thưởng trong năm sau Ngược lại, khi lợi nhuận thực tế nhỏ hơn nhiều so với giới hạn dưới của mức lợi nhuận được nhận thưởng, nhà quản trị sẽ điều chỉnh giảm lợi nhuận và dịch chuyển về năm sau vì đằng nào họ cũng không được thưởng trong năm này
- Tối thiểu hóa chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp: Khi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thay đổi dẫn đến sự thay đổi về số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp Tùy vào sự thay đổi như thế nào mà các công ty lựa chọn điều chỉnh tăng hay giảm lợi nhuận Nếu thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ giảm trong năm sau, các công ty thường thực hiện điều chỉnh giảm lợi nhuận vào năm hiện tại để tiết kiệm chi phí về thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong năm hiện tại Một phần lợi nhuận của năm hiện tại được dịch chuyển sang các năm sau để được áp dụng mức thuế suất
Trang 22thấp hơn Nếu thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tăng trong năm sau, công
ty sẽ điều chỉnh lợi nhuận theo hướng ngược lại Ví dụ, công ty có thể điều chỉnh giảm lợi nhuận kế toán trong năm 2013 (thuế suất thuế TNDN 25%) và chuyển dịch lợi nhuận này sang năm 2014 (thuế suất thuế TNDN 22%) để tiết kiệm được chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp là 3% trên tổng lợi nhuận bị điều chỉnh sang năm sau
Nếu công ty được hưởng các ưu đãi miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, trong giai đoạn được hưởng ưu đãi các công ty thường có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận để được hưởng lợi tối đa từ việc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp Phần lợi nhuận đáng ra sẽ được ghi nhận trong các năm sau sẽ được dịch chuyển sang giai đoạn được hưởng ưu đãi để không phải nộp thuế thu nhập nếu như được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, hoặc nộp ít hơn nếu như được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp
1.2.2 Vận dụng chính sách kế toán để điều chỉnh lợi nhuận kế toán
Theo chuẩn mực kế toán số 29 ban hành và công bố theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15 tháng 02 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì thuật ngữ “Chính sách kế toán” được định nghĩa là các nguyên tắc, cơ sở
và phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam, việc lựa chọn và áp dụng chính sách
kế toán được thực hiện dựa trên cơ sở các chuẩn mực, các văn bản hướng dẫn các chuẩn mực và các chính sách, chế độ kế toán do Bộ Tài chính ban hành
Chính sách kế toán có những đặc trưng sau:
Chính sách kế toán là những nguyên tắc: Kế toán phải tuân thủ các
nguyên tắc kế toán khi lập báo cáo Đây là những nguyên tắc chung mà tất cả mọi doanh nghiệp phải áp dụng, như nguyên tắc kỳ kế toán, nguyên tắc phù hợp, nguyên tắc giá gốc, cơ sở dồn tích Việc áp dụng các nguyên tắc kế toán
Trang 23cũng có một vài nguyên tắc có thể thay đổi thông tin cung cấp ra bên ngoài, ví dụ: tùy thuộc thời điểm ghi nhận chi phí vào niên độ phát sinh hay phân bổ cho một số kỳ theo nguyên tắc phù hợp mà chi phí phát sinh trong kỳ sẽ khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ
Chính sách kế toán là những lựa chọn: Chuẩn mực kế toán cho phép
doanh nghiệp có thể lựa chọn các phương pháp kế toán khác nhau cho phù hợp với đặc điểm và mục tiêu của doanh nghiệp Việc lựa chọn và áp dụng các phương pháp khác nhau trong một chính sách kế toán sẽ làm thay đổi thông tin trình bày trên các báo cáo tài chính hay thông tin cung cấp ra bên ngoài Các lựa chọn kế toán bao gồm lựa chọn phương pháp tính giá xuất kho, lựa chọn phương pháp khấu hao tài sản cố định, lựa chọn phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang, lựa chọn phương pháp tính giá thành…
Chính sách kế toán là ước tính kế toán: Ước tính kế toán là các nguyên
tắc đo lường đối tượng kế toán mà công ty tự xây dựng do chuẩn mực không thể bao quát hóa mọi vấn đề phát sinh ở các đơn vị cơ sở Các khoản ước tính
kế toán gồm có ước tính liên quan đến khấu hao tài sản cố định, cách xác định
dự phòng giảm giá, ước tính giá trị sản phẩm dở dang, các ước tính kế toán khác liên quan đến phân bổ hay trích trước chi phí, các ước tính liên quan đến các khoản dự phòng phải trả ở công ty Để đưa ra các ước tính này, người lập BCTC phải sử dụng các “xét đoán nghề nghiệp” Vì là các xét đoán nên mang tính chủ quan, khó có một tiêu chuẩn nào để đánh giá tính hợp lý Chính vì vậy tính tin cậy của các ước tính kế toán là một vấn đề được người sử dụng BCTC đặc biệt quan tâm
Từ đó có thể thấy, đặc trưng của chính sách kế toán không chỉ là những nguyên tắc kế toán chung đã được thừa nhận và mang tính bắt buộc mà còn là những lựa chọn, những ước tính mang tính xét đoán, chủ quan của người làm
kế toán Do đó, nhà quản trị có thể vận dụng chính sách kế toán một cách có
Trang 24cân nhắc nằm trong khuôn khổ của chuẩn mực kế toán và các nguyên tắc, cơ
sở phương pháp kế toán mà doanh nghiệp có thể áp dụng trong các trường hợp khác nhau nhằm thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận của mình Việc vận dụng một chính sách kế toán nào đó áp dụng cho một dạng giao dịch cụ thể sẽ ảnh hưởng đến doanh thu, chi phí và hệ quả là lợi nhuận sẽ được điều chỉnh
Để điều chỉnh lợi nhuận, nhà quản trị doanh nghiệp thường vận dụng tổng hợp các chính sách kế toán có thể
Như theo PGS.TS Nguyễn Công Phương (2009), dưới đây là tổng hợp các phương án có thể được vận dụng để quản trị lợi nhuận của nhà quản trị
a L ựa chọn các phương pháp kế toán
Trong chế độ kế toán doanh nghiệp, tồn tại một số phương pháp kế toán
để nhà quản trị có thể lựa chọn cho phù hợp với đặc điểm và mục tiêu của doanh nghiệp Việc lựa chọn và áp dụng các phương pháp khác nhau trong một chính sách kế toán sẽ làm thay đổi thông tin trình bày trên các báo cáo tài chính hay thông tin cung cấp ra bên ngoài Sau đây là các phương pháp kế toán nhà quản trị có thể vận dụng trong quản trị lợi nhuận:
a1 Ghi nh ận doanh thu
Trong trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ xây lắp thực hiện trong nhiều kỳ kế toán thì việc xác định doanh thu của giao dịch trong từng kỳ được thực hiện theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành Theo VAS-15, phần công việc hoàn thành được xác định theo một trong ba phương pháp tuỳ thuộc vào bản chất của hợp đồng xây dựng:
- Đánh giá phần công việc hoành thành
- So sánh tỷ lệ % giữa khối lượng công việc đã hoàn thành với tổng khối lượng công việc phải hoàn thành
- Tỷ lệ % chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để hoàn thành toàn bộ giao dịch cung cấp dịch vụ
Trang 25Nhà quản trị có thể lựa chọn một trong 3 phương pháp trong việc xác định phần công việc hoàn thành trên mà mỗi phương pháp sẽ cho ra một mức doanh thu không giống nhau Việc xác định mức doanh thu ghi nhận trong kỳ
sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận kế toán trong kỳ, từ đó có thể làm cho lợi nhuận tăng lên hoặc giảm đi
a2 Ph ương pháp xác định giá thành sản phẩm và đánh giá sản phẩm dở
dang
Ở các công ty sản xuất hoặc xây dựng việc tính giá thành sản phẩm
có thể được thực hiện theo nhiều phương pháp khác nhau như: Phương pháp trực tiếp (phương pháp giản đơn), phương pháp hệ số, phương pháp
tỷ lệ, phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng, phương pháp loại trừ sản phẩm phụ, phương pháp phân bước, tùy vào đặc điểm tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất, đặc điểm sản phẩm, yêu cầu quản lý sản xuất và giá thành của nhà quản trị cũng như mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành của công ty Từ
đó, mỗi phương pháp tính giá thành sẽ cho ra kết quả giá thành khác nhau ảnh hưởng đến chi phí trong kỳ
Trong mỗi phương pháp được chọn ở trên, công ty có thể lựa chọn các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang khác nhau như: theo chi phí nguyên vật liệu chính, theo sản lượng ước tính tương đương, theo 50% chi phí chế biến, mà sự lựa chọn đó có thể làm thay đổi giá thành của sản phẩm, từ đó ảnh hưởng đến giá vốn hàng bán và lợi nhuận trong kỳ
a3 Ph ương pháp xác định giá trị hàng xuất kho
Theo VAS 02, có 4 phương pháp tính giá xuất kho như sau: nhập trước-xuất trước, nhập sau-xuất trước, thực tế đích danh, bình quân gia quyền Giá trị hàng tồn kho phụ thuộc các phương pháp tính giá hàng xuất kho mà công ty lựa chọn Phương pháp tính giá xuất kho ảnh hưởng đến
Trang 26giá trị hàng tồn kho, giá vốn hàng bán cũng như giá thành của sản phẩm Trong điều kiện giá cả thay đổi, với mỗi phương pháp tính giá hàng xuất kho sẽ cho ra giá trị hàng xuất kho khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến giá vốn hàng xuất bán trong kỳ cũng như giá thành sản phẩm Như vậy, tùy theo đặc điểm hàng tồn kho, tình hình biến động giá cả và chủ ý của nhà quản trị có thể lựa chọn các phương pháp tính giá hàng xuất kho khác nhau, nhằm tác động đến chi phí và từ đó tác động đến lợi nhuận trong kỳ Chẳng hạn, nếu tình hình giá cả thị trường biến động theo xu hướng giảm dần, nhà quản trị muốn điều chỉnh tăng lợi nhuận thì lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho là phương pháp nhập sau-xuất trước; bởi vì đặc điểm của phương pháp này là giá trị hàng xuất kho được tính theo đơn giá của
lô hàng nhập sau cùng và theo thứ tự thời gian ngược về trước nên khi giá cả biến động giảm công ty lựa chọn xuất kho theo phương pháp này sẽ làm cho giá vốn hàng xuất kho trong kỳ thấp nhất trong các phương pháp, điều này làm cho chi phí trong kỳ giảm và lợi nhuận trong kỳ sẽ tăng Tuy nhiên, cần lưu ý rằng chế độ kế toán quy định doanh nghiệp chọn chính sách kế toán phải nhất quán, nên khả năng lựa chọn điều chỉnh các phương pháp kế toán này rất hẹp
a4 Ph ương pháp khấu hao TSCĐ
Theo quyết định 206/2003/QĐ-BTC và thông tư 45/2013/TT-BTC, tùy vào từng loại TSCĐ và khả năng đáp ứng các điều kiện áp dụng quy định mà doanh nghiệp được lựa chọn một trong ba phương pháp trích khấu hao TSCĐ: khấu hao theo đường thẳng, khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh và khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm Nhà quản trị có thể lựa chọn các phương pháp khấu hao khác nhau để từ đó tác động đến lợi nhuận Tuy nhiên, cũng theo thông tư này thì phạm vi của lựa chọn là khá hạn chế
Trang 27b V ận dụng các phương pháp kế toán
Chế độ kế toán cũng cho phép doanh nghiệp được phép vận dụng các phương pháp kế toán thông qua việc lựa chọn thời điểm ghi nhận chi phí trên
cơ sở nguyên tắc dồn tích và nguyên tắc phù hợp Nhà quản trị sẽ dịch chuyển
về sau (hoặc ghi nhận sớm hơn) một loại chi phí sẽ làm tăng hoặc giảm lợi nhuận của kỳ hiện hành Nhà quản trị có thể vận dụng các phương pháp kế toán sau để quản trị lợi nhuận:
b1 Chính sách v ề phân bổ chi phí trả trước
Chi phí trả trước là những khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng
có liên quan tới kết quả hoạt động chế biến, kinh doanh của nhiều kỳ hạch toán, nhiều niên độ kế toán nên chưa thể tính hết vào chi phí chế biến, kinh doanh của kỳ này mà phải phân bổ vào hai hay nhiều kỳ tiếp theo Mức phân bổ chi phí cho từng kỳ phụ thuộc vào số kỳ dự kiến phân bổ, cho nên công ty có thể chủ động tăng giảm chi phí của từng kỳ bằng việc xác định thời gian dự kiến phân bổ dài hay ngắn Mặc dù một số khoản chi phí có giới hạn thời gian phân bổ nhưng trong khoản thời gian cho phép đó, công ty có thể chủ động chọn số kỳ cần phân bổ Có rất nhiều loại chi phí trả trước liên quan đến nhiều kỳ kinh doanh như: chi phí trả trước về thuê hoạt động TSCĐ: nhà xưởng, kho tàng, văn phòng làm việc, cửa hàng ; chi phí công cụ dụng cụ; tiền thuê cơ sở hạ tầng trả trước; chi phí thành lập công ty, chi phí quảng cáo phát sinh trong giai đoạn trước hoạt động; chi phí nghiên cứu có giá trị lớn Cho nên có thể nói đây là khu vực thuận lợi nhất cho nhà quản trị “chế biến” chi phí theo mục tiêu lợi nhuận của mình9
Trang 28chi phí chưa phát sinh vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ khi có cơ
sở và được tính toán một cách chặt chẽ nhằm đảm bảo khi các khoản chi trả phát sinh thực tế không gây đột biến cho chi phí sản xuất kinh doanh Các chi phí trích trước bao gồm: trích trước chi phí tiền lương phải trả cho công nhân sản xuất trong thời gian nghỉ phép; chi phí sửa chữa lớn của những tài sản cố định đặc thù do việc sửa chữa có tính chu kỳ; chi phí trong thời gian doanh nghiệp ngừng sản xuất theo mùa vụ; trích trước chi phí lãi tiền vay phải trả trong trường hợp vay trả lãi sau, lãi trái phiếu trả sau; Quy định trên cho phép công ty có nhiều lựa chọn về mức trích lập, hoàn nhập thông qua việc xác định số kỳ trích trước nhằm tác động đến chi phí và từ đó tác động đến lợi nhuận trong kỳ
c V ận dụng các ước tính kế toán
Ước tính kế toán là các nguyên tắc đo lường đối tượng kế toán mà công
ty tự xây dựng do chuẩn mực không thể bao quát hóa mọi vấn đề phát sinh ở các đơn vị cơ sở Sau đây chính là các ước tính kế toán - khoảng không tự do
mà các nhà quản trị có thể vận dụng nhằm điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn chủ quan của mình
c1 Ước tính trong lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Vào thời điểm lập báo cáo tài chính năm, khi giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho thấp hơn giá gốc của nó thì phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho Mức trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho hoàn toàn phụ thuộc vào việc xác định các khoản giá bán ước tính và chi phí ước tính Như vậy, nhà quản trị có thể quản trị lợi nhuận dựa vào các ước tính kế toán này để tác động vào chi phí và lợi nhuận trong kỳ thông qua việc ước tính giá bán và ước tính chi phí để hoàn thành sản phẩm thực hiện hàng tồn kho của hàng tồn kho và chi phí ước tính cần thiết cho tiêu thụ hàng tồn kho này
Trang 29c2 Ước tính trong lập dự phòng phải thu khó đòi
Khoản dự phòng phải thu khó đòi được trích trước vào chi phí hoạt động kinh doanh năm báo cáo của công ty Tuy nhiên, mức trích lập dự phòng dựa vào dự kiến mức tổn thất có thể xảy ra hoặc tuổi nợ quá hạn của các khoản nợ, nên nhà quản trị hoàn toàn có thể điều chỉnh chi phí và lợi nhuận theo mong muốn thông qua việc ước tính mức độ tổn thất đối với những khoản nợ chưa đến hạn thanh toán, nhưng con nợ khó có khả năng trả nợ
c3 Ước tính trong lập dự phòng giảm giá đầu tư tài chính
Dự phòng giảm giá đầu tư tài chính bao gồm dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư trong hoạt động đầu tư tài chính là dự phòng phần giá trị bị tổn thất do giảm giá các loại chứng khoán doanh nghiệp đang nắm giữ có thể xảy ra; và dự phòng tổn thất do giảm giá các khoản đầu tư dài hạn hoặc do doanh nghiệp nhận vốn góp đầu tư bị lỗ phải gọi thêm vốn
Công ty có thể chỉ trích lập dự phòng ít hơn mức cần thiết để giảm bớt mức thua lỗ ghi nhận trong Báo cáo kết quả kinh doanh hoặc tăng mức lợi nhuận để thu hút đầu tư Trường hợp công ty muốn báo cáo giảm kết quả kinh doanh để tiết kiệm chi phí thuế TNDN, có thể tăng mức trích lập dự phòng hơn mức cần thiết
c4 Ước tính thời gian khấu hao TSCĐ
Giá trị phải khấu hao của TSCĐ được phân bổ một cách có hệ thống trong thời gian sử dụng hữu ích của chúng Trong đó thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ hữu hình do công ty xác định chủ yếu dựa trên mức độ sử dụng ước tính của tài sản Đôi khi do chính sách quản lý tài sản của công ty mà thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản có thể ngắn hơn thời gian sử dụng hữu ích thực tế của nó Vì vậy, việc ước tính thời gian sử dụng hữu ích của một TSCĐ hữu hình hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà quản
Trang 30trị, họ có thể tăng, giảm chi phí khấu hao bằng cách thay đổi ước tính thời gian sử dụng của tài sản để tác động đến chi phí từ đó tác động đến lợi nhuận
kế toán của công ty
c5 Ước tính trong ghi nhận chi phí phải trả, dự phòng phải trả, quỹ dự
phòng tr ợ cấp mất việc làm
Chế độ kế toán quy định công ty được tính trước và hạch toán những chi phí chưa phát sinh vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ khi có cơ
sở và được tính toán một cách chặt chẽ Quy định trên cho phép công ty
có nhiều lựa chọn về mức trích lập, hoàn nhập thông qua các giá trị ước tính từ đó có thể tác động đến chi phí và lợi nhuận của công ty
c6 Ước tính phần trăm hoàn thành công việc trong ghi nhận doanh
thu
Để điều chỉnh lợi nhuận theo hướng mong muốn, một trong những thủ thuật phổ biến nhất có lẽ là ước lượng phần trăm hoàn thành công việc trong ghi nhận doanh thu Ước lượng phần trăm hoàn thành công việc phụ thuộc nhiều vào nhận định, kinh nghiệm và thực tế tiến độ hoàn thành công việc Dù việc ước lượng phải dựa trên cơ sở hợp lý, nhưng doanh nghiệp vẫn có đủ lý lẽ để chứng minh việc ghi nhận doanh thu của mình
là đáng tin cậy để giải trình với kiểm toán Tóm lại, một sự thay đổi nào trong phần trăm tiến độ hoàn thành công việc đều ảnh hưởng đến doanh thu trong kỳ hiện hành của doanh nghiệp
Ví dụ: Trong một doanh nghiệp xây dựng, một công trình mất nhiều năm mới hoàn thành Vào các kỳ lập BCTC, doanh nghiệp thực hiện ước tính phần trăm hoàn thành công việc để ghi nhận doanh thu và lợi nhuận Dù việc ước tính này luôn dựa trên cơ sở hợp lý như biên bản nghiệm thu công trình, nhưng vẫn mang tính chủ quan, có thể điều chỉnh được Giả sử công trình đó
có giá trị 300 tỷ đồng, bằng việc chủ ý tăng hay làm giảm con số phần trăm
Trang 31ước tính hoàn thành công trình, doanh thu của doanh nghiệp có thể thay đổi đáng kể so với thực tế từ đó làm tăng hoặc giảm lợi nhuận trong kỳ và đương nhiên doanh thu và lợi nhuận của những kỳ sau sẽ giảm hoặc tăng tương ứng
B ảng 1.1: Ước tính phần trăm hoàn thành để ghi nhận doanh thu
% Hoàn thành Doanh thu ghi nhận
bị chuyển dịch sang kỳ sau do việc “ước tính” phần trăm hoàn thành công việc của doanh nghiệp và chỉ cần một sự điều chỉnh nhỏ trong phần trăm hoàn thành công việc thì lợi nhuận sẽ bị ảnh hưởng một mức rất lớn đặc biệt là đối với những công trình mà doanh nghiệp thực hiện có giá trị lớn
d L ựa chọn thời điểm thực hiện các giao dịch kinh tế
Lựa chọn thời điểm mua hay thanh lý, nhượng bán TSCĐ cũng có ảnh hưởng đến lợi nhuận kế toán Nhà quản trị cũng có thể quyết định thời điểm thanh lý, nhượng bán TSCĐ để đẩy nhanh hoặc làm chậm lại việc ghi nhận lợi nhuận hay thua lỗ hoạt động khác Từ đó, nhà quản trị
có thể tác động đến lợi nhuận theo ý muốn chủ quan của mình Thực tế cho thấy lợi nhuận gắn với các đợt thanh lý tài sản khả nghi Các đợt thanh lý tài sản lớn có thể là biện pháp cứu vãn kết quả kinh doanh yếu kém của doanh nghiệp Đặc biệt, nếu việc thanh lý diễn ra sát thời điểm kết thúc chu kỳ kế toán, thì gần như chắc chắn là doanh nghiệp có ý đồ Đơn cử, năm 2010, CTCP Nước giải khát Sài Gòn (Tribeco) chuyển nhượng cổ phần tại Tribeco
Trang 32Bình Dương cho một cổ đông lớn là Uni- President vào đúng ngày 30/6 Động thái này giúp Tribeco lãi 44 tỷ đồng trong quý II/2010 và khiến cổ phiếu tăng giá mạnh Tuy nhiên, đây là quý lãi duy nhất của Tribeco trong 13 quý liên tiếp
Bên cạnh đó, nhà quản trị công ty có thể quyết định khi nào và mức bao nhiêu các chi phí quảng cáo, chi phí sửa chữa, nâng cấp cải tạo TSCĐ được chi ra để từ đó tác động đến lợi nhuận theo ý muốn chủ quan của mình
Hơn nữa, nhà quản trị có thể đẩy lùi thời điểm lập hóa đơn bán hàng sang kỳ sau hoặc ngược lại để có thể tác động đến doanh thu, giá vốn hàng bán (chi phí) trong kỳ để từ đó tác động đến lợi nhuận theo ý muốn chủ quan của mình
Cuối cùng, nhà quản trị có thể bán các khoản đầu tư đang sinh lời hoặc có thể thực hiện mua bán cổ phần để biến các công ty khác thành công ty con, công ty liên doanh, liên kết từ đó thay đổi lợi nhuận
Tóm lại các phương án trên có thể được vận dụng tổng hợp để điều chỉnh lợi nhuận mục tiêu của một kỳ hoặc vài kỳ kế toán tuỳ theo tình hình kinh doanh, đặc điểm của từng doanh nghiệp, mức độ linh hoạt của các phương pháp kế toán, trình độ của kế toán viên và mục tiêu lợi nhuận của nhà quản trị doanh nghiệp Tuy nhiên việc sử dụng các phương pháp kế toán phải nhất quán từ kỳ này sang kỳ khác và khi thay đổi phương pháp kế toán phải lý giải được phương pháp kế toán đó làm cho BCTC được trình bày trung thực hợp
lý hơn Và hướng điều chỉnh (tăng, giảm) lợi nhuận không thể không có giới hạn vì việc điều chỉnh tăng doanh thu và giảm chi phí trong một (hoặc một số kỳ) kỳ này sẽ làm giảm doanh thu và tăng chi phí trong một vài kỳ tiếp sau
đó
Ví dụ sau sẽ làm rõ việc điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị thông qua
Trang 33việc vận dụng các phương pháp kế toán: Giả sử công ty A hoạt động trong lĩnh vực xây lắp có doanh thu thuần trong năm N là 210 tỷ đồng (doanh thu được ghi nhận theo phương pháp phần trăm hoàn thành) Chi phí được tập hợp như sau:
• Giá vốn hàng bán ( theo phương pháp nhập trước xuất trước):120 tỷ đồng
• Chi phí bán hàng: 15 tỷ đồng, trong đó chi phí bảo hành sản phẩm 10,5 tỷ đồng ( bằng 5% doanh thu)
• Chi phí quản lý doanh nghiệp: 50 tỷ đồng
Như vậy lợi nhuận trước thuế là: 210- (120+15+50) = 25 tỷ đồng
Vì chuẩn bị phát hành thêm cổ phiếu, để thu hút đầu tư, ban giám đốc công ty muốn “tăng” lợi nhuận để thu hút vốn và quyết định khai thác tối đa các công cụ tài chính, kế toán để có lợi nhuận báo cáo trong năm là cao nhất Giả sử sau khi tính toán lợi nhuận theo các phương án khác nhau trong điều kiện cho phép và đảm bảo tính pháp lý của phương án được lựa chọn Giả sử phương án được chọn cho lợi nhuận cao nhất như sau:
• Ước tính phần trăm doanh thu theo tỷ lệ phần trăm hoàn thành làm tăng doanh thu thêm 5 tỷ đồng
• Giá vốn hàng bán giảm so với phương án cũ 2 tỷ đồng khi chuyển từ phương pháp nhập nhập trước xuất trước sang phương pháp bình quân
• Tỷ lệ bảo hành sản phẩm ước tính lại theo mức 3,5% trên doanh thu ( 215*3,5% =7,525 tỷ đồng)
• Chi phí quản lý giảm 1 tỷ đồng do ước tính lại thời gian phân bổ chi phí trả trước dùng cho bộ phận quản lý
Trang 34B ảng 1.2: So sánh lợi nhuận của hai phương án
Khoản mục Phương án cũ Phương án mới
2 Giá vốn hàng bán 120 118
3 Chi phí bán hàng 15 15-10,5+7,525
4 Chi phí quản lý doanh nghiệp 50 49
5 Lợi nhuận trước thuế 25 35,975
Như vậy, sau khi vận dụng các phương pháp kế toán có thể, lợi nhuận được điều chỉnh tăng lên 10,975 tỷ đồng Có thể thấy rằng 10,975 tỷ đồng này
là lợi nhuận kế toán, không phải là lợi nhuận kinh tế Hay nói cách khác, lợi nhuận bị “thổi phồng” thêm 10,975 tỷ đồng và có thể gây nhầm lẫn cho các nhà đầu tư nếu họ không am hiểu đủ bản chất của thông tin kế toán và nếu doanh nghiệp không giải thích đầy đủ cách thức tính lợi nhuận trong thuyết minh BCTC
1.3 CÁC MÔ HÌNH NHẬN DIỆN ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN CỦA NHÀ QUẢN TRỊ
1.3.1 Nhận diện điều chỉnh lợi nhuận
Để nhận diện hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị có thể có nhiều phương pháp khác nhau, cụ thể là trực tiếp kiểm tra đối chiếu giữa báo cáo tài chính với các chứng từ sổ sách liên quan của những doanh nghiệp nghi ngờ có khả năng điều chỉnh lợi nhuận Tuy nhiên, phương pháp này khó có thể thực hiện vì người sử dụng thông tin khó tiếp cận sổ sách kế toán của doanh nghiệp Thông thường thì phương pháp này chỉ có thể được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền như thanh tra, kiểm toán, Hơn nữa, khi có sự kiểm tra của thanh tra, kiểm toán cũng khó phát hiện vì như đã nói ở trên, điều chỉnh lợi nhuận được thực hiện trong khuôn khổ các nguyên tắc kế toán
Trang 35Từ những vấn đề ở trên, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các mô hình để nhận diện việc điều chỉnh lợi nhuận Cụ thể, dựa vào cơ sở kế toán được vận dụng để lập báo cáo tài chính cụ thể là báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
và báo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo kết quả kinh doanh được lập dựa trên
cơ sở dồn tích Theo cơ sở này, mọi giao dịch liên quan đến tài sản, nguồn vốn, nợ phải trả, doanh thu, chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không quan tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền Lợi nhuận được xác định trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí phát sinh trong kỳ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập dựa trên cơ sở tiền Theo cơ sở này, các nhà quản trị chỉ được ghi nhận khi có số tiền thực thu và thực chi Vì thế không thể điều chỉnh thời điểm ghi nhận các giao dịch Từ đó, chênh lệch giữa lợi nhuận trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và dòng tiền trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ tạo ra những biến kế toán mà các nhà nghiên cứu thường gọi là accruals Hay nói cách khác accruals là phần lợi nhuận kế toán không bằng tiền được trình bày trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Do dòng tiền từ hoạt động kinh doanh không thể điều chỉnh, để điều chỉnh lợi nhuận các nhà quản trị phải nhận diện được các biến kế toán dồn tích và điều chỉnh các biến này Theo các nhà nghiên cứu, tổng biến kế toán dồn tích (TA – total accruals) bao gồm 2 phần: một phần gọi là accruals không thể điều chỉnh (NDA-nondiscretionary accruals), phần còn lại gọi là accruals được điều chỉnh từ hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị (DA- discretionary accruals)
Để minh họa các biến kế toán dồn tích có thể được vận dụng bởi các nhà quản trị, ta xem xét ví dụ ở Bảng 1.3 (giả sử các nhà quản trị điều chỉnh tăng lợi nhuận và không có thuế thu nhập doanh nghiệp)10:
10 Được trích dẫn trong nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Công Phương (năm 2009)
Trang 36Bảng 1.3: Biến kế toán dồn tích
Các biến kế toán dồn tích (Accruals)
Biến động hàng tồn kho +400
Biến động các khoản phải thu -800
Biến động các khoản phải trả +500
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh 9.100
Accruals = Lợi nhuận sau thuế - Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh = 7.300 – 9.100 = -1.800
Từ ví dụ trên ta thấy chênh lệch giữa lợi nhuận trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và dòng tiền trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ là 1.800 Các biến kế toán này được giải thích như sau:
- Chi phí khấu hao: Theo quy định của VAS 03- TSCĐ hữu hình và VAS 04- TSCĐ vô hình: Giá trị phải khấu hao của TSCĐ được phân bổ một cách
có hệ thống trong thời gian sử dụng hữu ích của chúng Phương pháp khấu hao TSCĐ được sử dụng phản ánh cách thức thu hồi lợi ích kinh tế từ tài sản
đó của công ty Số khấu hao của từng kỳ được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi chúng được tính vào giá trị của các tài sản khác, như: khấu hao TSCĐ hữu hình dùng cho các hoạt động trong giai đoạn triển khai là một bộ phận chi phí cấu thành nguyên giá TSCĐ vô hình, hoặc chi phí khấu hao TSCĐ hữu hình dùng cho quá trình tự xây dựng hoặc tự chế các tài sản khác Trong đó thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ hữu hình do công ty xác định chủ yếu dựa trên mức độ sử dụng ước tính của tài sản Hơn nữa, nhà quản trị có thể lựa chọn một trong các phương pháp khấu hao để tác động đến
Trang 37chi phí, từ đó tác động đến lợi nhuận Tuy nhiên, cũng theo chế độ kế toán và Thông tư liên quan thì giới hạn của lựa chọn là khá hạn chế Do đó, có thể nói chi phí khấu hao là biến kế toán không thể điều chỉnh
- Các chi phí phân bổ: Mức phân bổ chi phí cho từng kỳ phụ thuộc vào số kỳ dự kiến phân bổ, cho nên nhà quản trị có thể chủ động tăng giảm chi phí của từng kỳ bằng việc xác định thời gian dự kiến phân bổ dài hay ngắn Cho nên có thể nói, chi phí phân bổ là biến kế toán có thể điều chỉnh
- Biến động hàng tồn kho: Giá trị hàng tồn kho phụ thuộc vào phương pháp tính giá hàng xuất kho Công ty có thể lựa chọn các phương pháp tính giá hàng xuất kho khác nhau, việc lựa chọn này sẽ ảnh hưởng đến giá trị hàng tồn kho Tuy nhiên, chế độ kế toán quy định việc lựa chọn các chính sách kế toán phải nhất quán, nên giới hạn điều chỉnh ở biến kế toán này rất hẹp Do
đó, có thể nói đây là biến kế toán không thể điều chỉnh
- Biến động các khoản phải thu: Việc thay đổi chính sách tín dụng có thể giúp doanh nghiệp tăng doanh thu nhanh chóng trong một thời gian ngắn Chẳng hạn vào cuối năm tài chính để doanh thu, lợi nhuận đạt mục tiêu, doanh nghiệp có thể thay đổi chính sách bán hàng trả chậm 15 ngày lên 30 ngày Được trả chậm bạn hàng sẵn lòng đón nhận ưu đãi này, nhập hàng số lượng lớn Kết quả, doanh thu của doanh nghiệp tăng vọt Tuy nhiên, hệ quả
là số dư nợ phải thu tăng lên và doanh nghiệp có thể gặp rủi ro với nợ phải thu khó đòi cũng tăng lên
Nguyên nhân thứ hai làm tăng khoản phải thu có thể là do nhà quản trị giảm dự phòng phải thu khó đòi trong mức cho phép của chế độ trích lập dự phòng phải thu khó đòi Cho nên có thể nói biến kế toán này có thể được điều chỉnh bởi ý muốn chủ quan của nhà quản trị Bên cạnh đó nợ phải thu có thể tăng lên do tăng trưởng về quy mô hoạt động của doanh nghiệp Đây là biến
Trang 38kế toán không thể điều chỉnh bởi nhà quản trị
- Biến động khoản phải trả: Giả sử biến động khoản phải trả do nhà quản trị giảm bớt kỳ hạn trả tiền hay giảm bớt điều khoản bảo hành hoặc có thể do nhà quản trị giảm các khoản chi phí trích trước như: trích trước chi phí bảo hành sản phẩm, trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, Đây là biến kế toán
có thể điều chỉnh Trong khi đó, biến động khoản phải trả do quy mô doanh nghiệp giảm sút hay do ngẫu nhiên mà các khoản phải trả đến hạn được thanh toán trong kỳ trong khi các khoản phải trả mới chưa phát sinh tương ứng là những biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh
Tóm lại, chúng ta có thể thấy rằng tồn tại biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh và biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh Nếu người sử dụng thông tin chỉ có thông tin về báo cáo tài chính và họ không được tiếp cận sổ sách kế toán thì không thể biết được đâu là biến kế toán không thể điều chỉnh
và đâu là biến kế toán có thể điều chỉnh cũng như nguyên nhân làm tăng biến
kế toán dồn tích Hay nói cách khác, nhà quản trị có thể vận dụng biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh để điều chỉnh lợi nhuận trong khuôn khổ chuẩn mực kế toán
Như vậy, DA chính là lợi nhuận có được bằng việc vận dụng các chính sách kế toán Vì DA không thể quan sát trực tiếp được, để đo lường phần này các nhà nghiên cứu xác định phần NDA Phần NDA liên quan đến mức độ hoạt động bình thường của doanh nghiệp Từ đó mô hình nghiên cứu quản trị lợi nhuận thực chất là các mô hình xác định phần NDA
Để xác định phần NDA, PGS.TS Nguyễn Công Phương (2005) đã tổng hợp bốn mô hình chủ yếu dưới đây trong các nghiên cứu có liên quan
1.3.2 Các mô hình nhận diện điều chỉnh lợi nhuận
Theo cách tiếp cận của Healy, phần không thể điều chỉnh chính là trung
Trang 39bình tổng biến dồn tích của các năm trước
n A TA
it it
∑
−
DAit= TAit/Ait-1 – NDAitChú thích:
n: số năm trong kỳ ước tính
t: năm sự kiện (năm nghiên cứu hành động điều chỉnh lợi nhuận)
i: công ty i cần nghiên cứu hành động điều chỉnh lợi nhuận
Theo mô hình của Healy, khi không có hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị, DA bằng 0 và TA chính là NDA NDA chính là giá trị trung bình của TA Hay nói cách khác, NDA không thay đổi từ năm này sang năm khác
Hạn chế: Ưu điểm của mô hình này là đơn giản, dễ tính toán Tuy nhiên
mô hình này có một hạn chế khi cho rằng, NDA không thay đổi theo thời gian Thực tế thì NDA liên quan đến mức hoạt động của doanh nghiệp, khi mức hoạt động thay đổi như tăng trưởng về hoạt động, thay đổi tình trạng kinh tế sẽ dẫn đến NDA thay đổi Việc không kiểm soát được các biến này làm cho phần NDA không chính xác và từ đó, đo lường phần DA bị sai lệch
Mô hình DeAngelo so sánh tổng biến kế toán dồn tích (TA) giữa thời
kỳ t với TA thời kỳ t-1 và chênh lệch giữa hai thời kỳ này chính là các biến kế toán được điều chỉnh (DA) Mô hình của DeAngelo giả định rằng các thành phần biến kế toán không thể điều chỉnh (NDA) sinh ra là ngẫu nhiên và bằng với tổng số biến kế toán dồn tích (TA) của thời kỳ t-1 hay nói cách khác NDA không đổi qua hai năm, do đó sự thay đổi trong tổng
số biến kế toán dồn tích (TA) giữa thời kỳ t và thời kỳ t-1 được giả định
là do việc thực hiện các điều chỉnh kế toán
Trang 40Cụ thể: Phần không thể điều chỉnh của công ty i năm sự kiện:
A
TA NDA
Phần có thể điều chỉnh của công ty i năm sự kiện:
1
it
it it it
có thể dẫn đến kết luận không đúng về việc thực hiện các điều chỉnh kế toán để lập báo cáo tài chính của nhà quản trị
Theo Jones, phần NDA phụ thuộc vào doanh thu, quy mô của tài sản cố định (nguyên giá) Vì vậy Jones sử dụng mức biến động về doanh thu thuần
và nguyên giá tài sản cố định để dự đoán phần NDA Mô hình trình bày như sau:
2 1
1 1
1
it it it
it it
it
it
A
PPE A
REV A
A
NDA
α α
α
Trong đó: ∆REV: Doanh thu thuần kỳ t – Doanh thu thuần kỳ t-1
PPEt: Nguyên giá TSCĐ hữu hình, nguyên giá TSCĐ thuê tài chính, nguyên giá BĐS đầu tư, chi phí xây dựng cơ bản dở dang cuối kỳ t
Ait-1: Tổng tài sản cuối kỳ t-1
α1, α2, α3: là các tham số của từng công ty
t: kỳ t cần nghiên cứu hành động điều chỉnh lợi nhuận
i: công ty i cần nghiên cứu hành động điều chỉnh lợi nhuận
Các tham số α1, α2, α3 ở mô hình trên được tính bằng ước lượng OLS của