CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 KHÁI QUÁT VỀ VỐN LUÂN CHUYỂN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1.1 Khái niệm vốn luân chuyển Vốn luân chuyển theo nghĩa rộng
Trang 1Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của doanh nghiệp là năng lực quản trị tài chính hạn chế, thể hiện qua tình trạng thiếu vốn, mất khả năng thanh toán Nếu doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ thì sẽ dẫn đến thâm hụt vốn và phá sản Nhưng một doanh nghiệp hoạt động có lãi chưa chắc đã hiệu quả khi sức khỏe tài chính không tốt Có lợi nhuận nhưng không có tiền
để tái đầu tư, để tài trợ hoạt động liên tục, để thanh toán công nợ đúng hạn thì cũng chưa được đánh giá là hiệu quả Quản trị năng động cấu trúc vốn sẽ góp phần cải thiện tỷ suất sinh lợi, gia tăng giá trị doanh nghiệp Do đó, quản trị vốn, đặc biệt là quản trị vốn luân chuyển tốt sẽ mang lại sự phát triển bền vững đối với các doanh nghiệp, nhất là đối với các công ty cổ phần
Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bưu điện là một doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hóa kể từ năm 2004, hoạt động trong lĩnh vực xây lắp và thương mại các sản phẩm công nghệ thông tin Trong quá trình phát triển của mình, Công ty không ngừng cải thiện và xây dựng các giải pháp về quản trị kinh doanh để ngày càng hoàn thiện hơn Tuy nhiên, xuất thân từ một doanh nghiệp Nhà nước lại kinh doanh trong lĩnh vực đặc thù vì vậy công tác quản
Trang 2trị nói chung và quản trị tài chính nói riêng còn mạng nặng bao cấp, chưa linh hoạt và quan tâm đúng mức Để tìm hiểu sâu hơn vấn đề này, em đã chọn đề
tài: Quản trị vốn luân chuyển tại Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bưu điện, từ đó đưa ra những giải pháp thích hợp nhằm hoàn thiện hơn công tác
quản trị vốn luân chuyển, góp phần cho sự phát triển chung của Công ty
2 Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hoá cơ sở lý luận về vốn luân chuyển và quản trị vốn luân chuyển trong doanh nghiệp
Phân tích, đánh giá thực trạng quản trị vốn luân chuyển tại Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bưu điện giai đoạn 2009-2011
Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị vốn luân chuyển tại Công ty
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình quản trị vốn luân chuyển của Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bưu điện trên cơ
sở lý luận về vốn luân chuyển và quản trị vốn luân chuyển trong doanh nghiệp
Phạm vi nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng số liệu của Công ty giai đoạn 2009-2011 và số liệu kế hoạch năm 2012
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, lý thuyết về vốn luân chuyển, quản trị vốn luân chuyển và phân tích, tổng hợp các mô hình, lý thuyết đã được thừa nhận, hiện đang sử dụng
Trong phương pháp nghiên cứu cụ thể luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích đánh giá
Trang 35 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu về vốn luân chuyển và quản trị vốn luân chuyển trong doanh nghiệp
- Đánh giá được thực trạng công tác quản trị vốn luân chuyển của Công ty
cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bưu điện
- Đóng góp giải pháp trong vấn đề hoàn thiện công tác quản trị vốn luân chuyển tại Công ty
6 Cấu trúc của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị vốn luân chuyển trong doanh
nghiệp
Chương 2: Thực trạng công tác quản trị vốn luân chuyển tại Công ty cổ
phần Đầu tư & Xây dựng Bưu điện
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị vốn luân chuyển tại
Công ty cổ phần Đầu tư & Xây dựng Bưu điện
Trang 4CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ VỐN LUÂN
CHUYỂN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 KHÁI QUÁT VỀ VỐN LUÂN CHUYỂN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm vốn luân chuyển
Vốn luân chuyển theo nghĩa rộng là giá trị của toàn bộ tài sản ngắn hạn,
đó là các tài sản có khả năng chuyển hóa thành tiền mặt trong một chu kỳ kinh doanh, thường qui ước nhỏ hơn hoặc bằng một năm
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn luân chuyển có vai trò duy trì hoạt động của doanh nghiệp Khi doanh nghiệp đáp ứng đủ nhu cầu về vốn luân chuyển, quá trình kinh doanh sẽ không bị gián đoạn Xây dựng được cơ cấu vốn luân chuyển hợp lý sẽ tiết kiệm được nguồn vốn và nâng cao khả năng sinh lợi cho doanh nghiệp
Khi phân tích về vốn luân chuyển, người ta có thể sử dụng thêm chỉ tiêu vốn luân chuyển ròng (VLCR), đây là phần giá trị tài sản ngắn hạn được tài trợ bằng các nguồn vốn dài hạn
Vốn luân chuyển ròng = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn
Nếu vốn luân chuyển ròng bị âm (VLCR<0), nghĩa là nợ ngắn hạn lớn hơn tài sản ngắn hạn, doanh nghiệp đã sử dụng một phần nợ ngắn hạn đầu tư vào tài sản cố định Vốn luân chuyển ròng âm rất nguy hiểm bởi vì nợ ngắn hạn có thời gian đáo hạn ngắn, trong khi tài sản cố định có thời gian hoàn vốn chậm dẫn đến doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán
1.1.2 Phân loại vốn luân chuyển
Nhằm đảm bảo sử dụng vốn luân chuyển hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả, đòi hỏi các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp cần tiến hành phân loại vốn luân chuyển theo nhiều tiêu thức khác nhau tùy theo yêu cầu quản lý, nhưng
Trang 5nhìn chung đều giúp các nhà quản trị có thể đánh giá nhu cầu cũng như tình hình sử dụng vốn ở nhiều góc độ khác nhau, từ đó tìm ra phương án quản lý tốt nguồn vốn của doanh nghiệp.
1.1.2.1 Phân loại vốn luân chuyển dựa theo vai trò của vốn luân chuyển đối với quá trình sản xuất kinh doanh
Theo cách phân loại này vốn luân chuyển được chia thành 3 loại: Vốn luân chuyển trong khâu dự trữ sản xuất, vốn luân chuyển trong khâu trực tiếp sản xuất, vốn luân chuyển trong khâu lưu thông
- Vốn luân chuyển trong khâu dự trữ sản xuất: là bộ phận vốn luân
chuyển cần thiết nhằm thiết lập bộ phận dự trữ về vật tư, hàng hóa cho quá trình sản xuất nhằm đảm bảo cung cấp đủ vật tư đối với doanh nghiệp sản xuất, đủ hàng hóa đối với doanh nghiệp thương mại cho quá trình sản xuất kinh doanh
Vốn luân chuyển trong khâu dự trữ sản xuất bao gồm: vốn nguyên vật liệu chính, vốn nguyên vật liệu phụ, vốn nhiên liệu, vốn phụ tùng thay thế, vốn công cụ dụng cụ nhỏ, …
- Vốn luân chuyển trong khâu trực tiếp sản xuất: là bộ phận vốn luân
chuyển từ khi doanh nghiệp đưa vật tư vào trong sản xuất đến khi tạo sản phẩm
Vốn luân chuyển trong khâu trực tiếp sản xuất bao gồm: vốn vật liệu đang chế tạo, vốn bán thành phẩm tự chế, vốn về phí tổn đợi phân bổ, …
- Vốn luân chuyển trong khâu lưu thông: là bộ phận vốn luân chuyển từ
khi sản phẩm, thành phẩm nhập kho cho đến khi bán thành phẩm thu tiền về.Vốn luân chuyển trong khâu lưu thông bao gồm: vốn thành phẩm, vốn hàng hóa, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán, …
Ý nghĩa của cách phân loại này: Cho biết cơ cấu vốn luân chuyển theo từng
quá trình, giúp cho việc đánh giá tình hình phân bổ vốn luân chuyển trong các
Trang 6khâu của quá trình luân chuyển vốn, để điều chỉnh phù hợp với mục tiêu quả trị của doanh nghiệp nhằm tạo ra một cơ cấu vốn luân chuyển hợp lý Đồng thời, đây cũng là cơ sở để quản lý mức dự trữ hàng tồn kho.
1.1.2.2 Phân loại vốn luân chuyển dựa theo hình thái biểu hiện
Theo cách phân loại này vốn luân chuyển được chia thành 2 loại: Vốn bằng tiền và vốn hàng tồn kho
- Vốn bằng tiền: bao gồm các khoản tiền mặt tại quĩ, tiền gửi ngân hàng,
tiền đang chuyển và các khoản công nợ phải thu
- Vốn hàng tồn kho: bao gồm vốn về vật tư dự trữ, sản phẩm dở dang,
thành phẩm
Ý nghĩa của cách phân loại này: Giúp doanh nghiệp tính toán, kiểm tra được
khả năng thanh toán, mức tồn kho dự trữ của doanh nghiệp Là cơ sở để doanh nghiệp đánh giá kết cấu vốn luân chuyển, từ đó tìm ra các biện pháp phát huy chức năng của các thành phần vốn
1.1.2.3 Phân loại vốn luân chuyển dựa theo nguồn hình thành
Theo cách phân loại này vốn luân chuyển được chia thành 2 loại: Nguồn vốn chủ sở hữu và nợ
- Nguồn vốn chủ sở hữu: là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp,
doanh nghiệp có đầy đủ quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt
- Nợ: là các khoản nợ được hình thành từ nhiều nguồn như: tín dụng ngân
hàng, tín dụng thương mại, và vay thông qua phát hành trái phiếu, … để bổ sung thêm cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng các khoản nợ này trong một thời hạn nhất định
Ý nghĩa của cách phân loại này: Giúp doanh nghiệp thấy được kết cấu vốn
luân chuyển của doanh nghiệp được hình thành từ nguồn vốn nào, tự có hay
từ nợ vay Từ đó doanh nghiệp có thể lựa chọn được đối tượng huy động tối
ưu để có được số vốn ổn định đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh
Trang 71.1.3 Kết cấu vốn luân chuyển và các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn luân chuyển
1.1.3.1 Kết cấu vốn luân chuyển của doanh nghiệp
Kết cấu vốn luân chuyển của doanh nghiệp là tỷ trọng từng khoản vốn hay từng bộ phận vốn chiếm trong tổng số vốn luân chuyển của doanh nghiệp.Mỗi doanh nghiệp sẽ có kết cấu vốn luân chuyển khác nhau, việc phân tích kết cấu vốn luân chuyển sẽ giúp doanh nghiệp đánh giá được tình hình phân bổ vốn luân chuyển, tỷ trọng của mỗi khoản vốn, xác định đúng trọng điểm quản lý vốn Mặt khác, khi xem xét sự thay đổi của vốn luân chuyển qua các thời kỳ sẽ thấy được sự thay đổi trong phương hướng sản xuất kinh doanh, qua đó ta thấy được sự thay đổi trong công tác quản lý vốn luân chuyển của doanh nghiệp qua các thời kỳ, từ đó tìm ra được biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn luân chuyển trong từng điều kiện cụ thể
Kết cấu vốn luân chuyển bao gồm những bộ phận cơ bản sau:
- Vốn bằng tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn:
Vốn bằng tiền: Là tài sản tồn tại trực tiếp dưới dạng tiền tệ bao gồm: tiền mặt tại quĩ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, … Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn bằng tiền là yếu tố trực tiếp quyết định khả năng thanh toán cac khoản nợ, mua sắm vật tư hàng hóa Tuy nhiên, nếu dự trữ tiền quá nhiều, không hợp lý sẽ dấn đến ứ đọng vốn làm cho hiệu quả sử dụng vốn bị giảm
đi, ngược lại, nếu dự trữ tiền quá ít, sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong thanh toán
Các khoản đầu tư ngắn hạn: Khác với tiền là loại tài sản không sinh lãi hoặc sinh lãi rất thấp thì các doanh nghiệp muốn đầu tư vào các khoản tài chính ngắn hạn hơn là chỉ giữ tiền Các khoản đầu tư ngắn hạn có thể là trái phiếu hoặc cổ phiếu … Việc đầu tư tài chính ngắn hạn mạng lại thu nhập cho
Trang 8doanh nghiệp, đó là tiền lãi của trái phiếu, cổ phiếu và sự gia tăng giá thị trường của cổ phiếu.
- Giá trị các khoản phải thu: Đây là bộ phận quan trọng cấu thành vốn
luân chuyển Khi doanh nghiệp bán sản phẩm, hàng hóa của mình cho doanh nghiệp khác, thông thường sự giao nhận tiền – hàng hóa không xảy ra đồng thời nên phát sinh công nợ phải thu khách hàng Qui mô các khoản phải thu phục thuộc vào qui mô kinh doanh của doanh nghiệp, loại hình kinh doanh của doanh nghiệp và chính sách tín dụng của doanh nghiệp
- Giá trị hàng tồn kho: Trong quá trình luân chuyển vốn phục vụ hoạt
động sản xuất kinh doanh thì vật tư, sản phẩm dở dang, hàng hóa tổn kho là điều không thể thiếu của doanh nghiệp Doanh nghiệp cần tính toán, duy trì một lượng nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hóa với cơ cấu hợp lý nhằm đảm bảo sản xuất kinh doanh liên tục và hiệu quả
1.1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn luân chuyển
- Các nhân tố về mặt sản xuất: bao gồm các nhân tố như qui mô sản xuất,
trình độ sản xuất, đặc điểm kỹ thuật, công nghệ sản xuất, độ phức tạp của sản phẩm, độ dài của chu kỳ sản xuất, … khác nhau sẽ dẫn đến tỷ trọng vốn luân chuyển ở các khâu dự trữ - sản xuất – lưu thông khác nhau
- Các nhân tố về cung ứng – tiêu thụ: khoảng cách giữa doanh nghiệp và
các nhà cung cấp, khoảng cách giữa doanh nghiệp và khách hàng, khả năng cung cấp của thị trường, kỳ hạn giao hàng, khối lượng tiêu thụ sản phẩm mỗi lần giao hàng, …
- Các nhân tố về mặt thanh toán: phương thức thanh toán, thủ tục thanh
toán, việc chấp hành kỷ luật trong thanh toán, …
1.1.4 Sự cần thiết của việc quản trị vốn luân chuyển
Tài sản ngắn hạn thường chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng tài sản của một doanh nghiệp Chúng có đặc điểm chuyển hóa thành tiền nhanh, vì thế tài
Trang 9sản ngắn hạn có tầm quan trọng đặc biệt trong việc đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp Tuy nhiên, so với các tài sản khác, chúng lại có khả năng sinh lợi thấp
Đối với nhà quản trị tài chính của một doanh nghiệp, các chỉ tiêu liên quan đến vốn luân chuyển là rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến lượng tiền một doanh nghiệp cần duy trì hoạt động thường xuyên Nếu vốn luân chuyển quá cao cho thấy việc sử dụng tài sản ngắn hạn chưa tốt, chưa tối ưu hóa được nguồn vốn ngắn hạn; ngược lại, nếu vốn luân chuyển thấp sẽ dẫn đến nguy cơ doanh nghiệp không có khả năng chi trả các nghĩa vụ ngắn hạn của mình, nếu không có nguồn huy động thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn, tình hình này kéo dài sẽ kéo theo một loạt các hậu quả xấu trong kinh doanh Khả năng quản lý vốn luân chuyển của doanh nghiệp càng tốt thì nhu cầu vay nợ càng giảm, ngay cả khi doanh nghiệp có tiền nhàn rỗi thì việc quản lý vốn lưu động cũng rất cần thiết vì nó đảm bảo rằng lượng vốn nhàn rỗi này sẽ được đầu tư một cách hiệu quả nhất cho nhà đầu tư
Quản trị vốn luân chuyển hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp sử dụng vốn luân chuyển tiết kiệm từ đó dẫn đến tiết kiệm chi phí, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm
và đảm bảo khả năng thanh toán công nợ kịp thời
Một doanh nghiệp quản lý tốt vốn luân chuyển sẽ giúp doanh nghiệp:
- Xác định được số vốn luân chuyển cần thiết trong kỳ kinh doanh, đảm bảo đủ vốn luân chuyển để quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục
- Khai thác tốt nguồn vốn bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
- Có giải pháp bảo toàn và phát triển vốn cho doanh nghiệp, đảm bảo khả năng mua sắm và khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Như vậy, vốn luân chuyển chính là thước đo cho hiệu suất và sức mạnh tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp Các quyết định trong quản trị vốn luân
Trang 10chuyên là điều hết sức quan trọng đối với một doanh nghiệp, ảnh hưởng mạnh
mẽ đến khả năng sinh lợi và rủi ro của doanh nghiệp và đó cũng chính là thách thức đối với các nhà quản lý tài chính
Nội dung chủ yếu của quản trị vốn luân chuyển trong doanh nghiệp thường trải qua các bước sau: Hoạch định nhu cầu vốn luân chuyển cần thiết của doanh nghiệp, thực hiện kế hoạch, đánh giá việc thực hiện các kế hoạch
và tiến hành điều chỉnh
1.2 HOẠCH ĐỊNH NHU CẦU VỐN LUÂN CHUYỂN
Hoạch định nhu cầu vốn luân chuyển là việc xây dựng nhu cầu vốn cần phải đầu tư cho năm kế hoạch, dựa trên cơ sở tổng hợp nhu cầu của từng bộ phận vốn luân chuyển cần đầu tư
Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố: nguồn lực tài chính, thị trường tiêu thụ sản phẩm, thị trường các yếu tố đầu vào, … Sự biến động của môi trường kinh doanh bên ngoài hay những yếu tố bên trong của doanh nghiệp đều ảnh hưởng đến qui mô vốn luân chuyển Doanh nghiệp luôn cần một lượng vốn để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh liên tục với chi phí sử dụng vốn thấp nhất Nếu nhu cầu vốn luân chuyển được xác định quá thấp sẽ gây nhiều khó khăn cho công tác
tổ chức đảm bảo vốn, gây căng thẳng về vốn, làm gián đoạn quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp, doanh nghiệp không có khả năng trả nợ được người lao động, trả nợ nhà cung cấp khi đến hạn thanh toán làm giảm uy tín của doanh nghiệp và ngược lại
Vì vậy, việc xác định đúng đắn và hợp lý nhu cầu vốn luân chuyển có ý nghĩa rất quan trọng, giúp cho doanh nghiệp xác định được qui mô vốn cần thiết, từ đó có những giải pháp quản lý, cân đối giữa các loại tài sản sao cho hiệu quả
Trang 111.2.1 Phương pháp hoạch định nhu cầu vốn luân chuyển
Việc xác định nhu cầu vốn của doanh nghiệp là một vấn đề phức tạp Tùy theo đặc điểm kinh doanh và điều kiện cụ thể của doanh nghiệp trong từng thời kì mà có thể lựa chọn áp dụng các phương pháp khác nhau để xác định nhu cầu vốn Có hai phương pháp chủ yếu để xác định nhu cầu vốn của doanh nghiệp là: Phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp
1.2.1.1 Phương pháp trực tiếp
Nội dung phương pháp này là doanh nghiệp căn cứ vào các yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp đến vốn luân chuyển của doanh nghiệp để xác định nhu cầu
vốn luân chuyển của doanh nghiệp
- Xác định nhu cầu vốn tiền mặt: căn cứ vào lượng tiền mặt cần thiết cho những hoạt động thường xuyên, doanh nghiệp cần dự trù được nguồn thu, thời gian chi tiền và mức dự trữ tiền mặt mong muốn
- Xác định các khoản phải thu khách hàng: dựa vào kế hoạch tiêu thụ sản phẩm và chính sách tín dụng của doanh nghiệp, dự tính mức vốn bình quân cho khách hàng chiếm dụng
- Xác định nhu cầu vốn để dự trữ hàng tồn kho: căn cứ vào số liệu tổng hợp tình hình dự trữ hàng tồn kho các năm trước và tình hình biến động của năm kế hoạch để xác định mức tồn kho cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Xác định các khoản nợ phải trả nhà cung cấp
Tổng hợp nhu cầu vốn luân chuyển ròng của doanh nghiệp như sau:
Nhu cầu vốn
luân chuyển =
Tiền mặt &
các khoản phải thu khách hàng
+ hàng tồn kho Mức dự trữ
-Khoản phải trả người bán
Phương pháp này giúp doanh nghiệp xác định nhu cầu vốn luân chuyển tương đối chính xác Tuy nhiên, phương pháp này cần phải tính toán nhiều và khá phức tạp
Trang 121.2.1.2 Phương pháp gián tiếp
Nội dung của phương pháp này dựa vào thống kê kinh nghiệm để xác định nhu cầu vốn Có thể chia thành hai trường hợp:
- Trường hợp thứ nhất: Dựa vào kinh nghiệm thực tế của các doanh
nghiệp kinh doanh cùng ngành để xác định nhu cầu vốn cho mình Việc xác định nhu cầu vốn theo cách này là dựa vào hệ số vốn luân chuyển tính theo doanh thu được rút ra từ thực tế hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh cùng ngành Trên cơ sở đó xem xét quy mô kinh doanh dự kiến của doanh nghiệp mình để tính ra nhu cầu vốn luân chuyển cần thiết
- Trường hợp thứ hai: Dựa vào mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành
vốn luân chuyển với doanh thu thuần của kỳ vừa qua để xác định tỷ lệ phần trăm tính theo doanh thu và sử dụng tỷ lệ này để xác định nhu cầu vốn cho năm kế hoạch
Phương pháp này thực hiện theo các trình tự sau:
+ Xác định số dư các bộ phận vốn luân chuyển năm báo cáo
+ Xác định tỷ lệ các khoản trên so với doanh thu thuần trong năm báo cáo
Trên cơ sở đó xác định tỷ lệ nhu cầu vốn luân chuyển so với doanh thu thuần
+ Xác định nhu cầu vốn luân chuyển cho năm kế hoạch
Phương pháp này đơn giản hơn, dễ thực hiện, khối lượng tính toán không nhiều nhưng kém chính xác hơn
1.2.2 Giải pháp cho nguồn vốn thiếu
Trang 13Sau khi hoạch định nhu cầu vốn luân chuyển, trong trường hợp vốn luân chuyển thiếu, doanh nghiệp cần tìm cho mình nguồn tài trợ hợp lý Doanh nghiệp có thể sử dụng các nguồn tài trợ sau:
- Nguồn vốn chủ sở hữu: Đây là nguồn vốn do Nhà nước cấp (đối với
doanh nghiệp Nhà nước), vốn do cổ đông đóng góp ( đối với công ty cổ phần), vốn bổ sung từ kết quả kinh doanh Sử dụng nguồn vốn này doanh nghiệp không phải chịu áp lực thanh toán nhưng chi phí sử dụng cao
- Nguồn vốn vay: Đây có thể là các khoản vay từ các tổ chức tín dụng,
ngân hàng, các đối tượng khác Sử dụng nguồn vốn này doanh nghiệp phải chịu chi phí lãi vay và áp lực thanh toán
- Tín dụng thương mại: Đây là nguồn tài trợ từ các khoản mua hàng trả
chậm cho các nhà cung cấp Sử dụng nguồn vốn này doanh nghiệp cũng có thể bị mất chi phí và cũng chỉ mang tính tạm thời
…
Doanh nghiệp dựa vào tình hình tài chính, cân đối giữa lợi ích tăng thêm
và chi phí sử dụng để lựa chọn nguồn tài trợ phù hợp
1.3 QUẢN TRỊ CÁC BỘ PHẬN VỐN LUÂN CHUYỂN
Về cơ bản, quản trị vốn luân chuyển chính là quản trị các bộ phận vốn cấu thành nên vốn luân chuyển Các nhà quản lý tài chính sẽ đưa ra những quyết định để có thể thiết lập một cơ cấu vốn phù hợp với đặc điểm kinh doanh và điều kiện cụ thể của doanh nghiệp nhằm sử dụng hiệu quả nhất tài sản của doanh nghiệp Và mỗi bộ phận vốn đều có những đặc thù khác nhau, ta sẽ xem xét nội dung quản trị từng bộ phận vốn cụ thể như sau
1.3.1 Quản trị tiền mặt
Tiền mặt được đề cập đến với hai dạng là tiền mặt tại quĩ và tiền gửi ngân hàng Doanh nghiệp luôn phải duy trì một mức tiền mặt nhất định cho các hoạt động hàng ngày như mua sắm hàng hóa, chi lương, mua tài sản, nộp
Trang 14thuế, trả nợ, … Tuy nhiên, tiền mặt có mức sinh lời thấp và sức mua luôn có
xu hướng giảm do có lạm phát Vì thế, mục tiêu của quản trị tiền mặt là giảm thiểu lượng tiền mặt trên cơ sở cực đại tính hữu dụng của nó
Quản trị tiền mặt liên quan đến thu, chi và đầu tư tạm thời tiền mặt một cách hiệu quả Trong đó, nổi bật lên đó là các vấn đề: Hoạch định nhu cầu tiền mặt, quản lý quá trình thu chi tiền mặt và đầu tư tiền mặt nhàn rỗi nhằm mục tiêu sinh lợi
1.3.1.1 Hoạch định nhu cầu tiền mặt
Doanh nghiệp thường có ba lý do hay động cơ để giữ tiền mặt, đó là: Động cơ giao dịch, động cơ đầu cơ, động cơ dự phòng Tuy nhiên, không thể xác định chi tiết cho từng mục tiêu mà chỉ tổng hợp lại và xây dựng một tài khoản tiền mặt hợp lý, vì cùng một khoản tiền, doanh nghiệp có thể sự dụng cho nhiều mục đích khác nhau Dù vậy, nhà quản trị tài chính vẫn phải xem xét đầy đủ các yếu tố để xây dựng mức tồn quĩ mục tiêu
Hoạch định nhu cầu tiền mặt tối ưu của doanh nghiệp phải thỏa mãn được những nhu cầu chính: chi trả các khoản phải trả phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp; chi tiền nộp thuế; dự phòng cho các khoản chi ngoài kế hoạch; dự phòng cho các cơ hội phát sinh ngoài dự kiến khi thị trường có sự thay đổi đột ngột
Hoạch định nhu cầu tiền mặt tức là quyết định xem doanh nghiệp nên thiết lập và duy trì mức tồn quĩ bao nhiêu là hợp lý Liên quan đến việc đánh đổi giữa chi phí cơ hội do giữ quá nhiều tiền mặt và chi phí giao dịch do giữ quá ít tiền mặt
Chi phí cơ hội: là chi phí mất đi do giữ tiền mặt, khiến cho tiền không
được đầu tư vào hoạt động sinh lời
Chi phí giao dịch: là chi phí liên quan đến việc chuyển đổi từ tài sản khác
thành tiền mặt để đáp ứng nhu cầu chi tiêu
Trang 15Nếu doanh nghiệp giữ quá nhiều tiền mặt thì chi phí giao dịch sẽ nhỏ, nhưng ngược lại chi phí cơ hội sẽ lớn Tổng chi phí giữ tiền mặt chính là tổng chi phí cơ hội và chi phí giao dịch.
Doanh nghiệp phải làm sao cân bằng được giữa chi phí cơ hội và chi phí giao dịch để tổng chi phí tồn quĩ là thấp nhất
Chi phí
Chi phí cơ hội
Tổng chi phí giữ tiền mặt
Chi phí giao dịch
C * Qui mô tiền mặt
Hình 1.1: Tổng chi phí giữ tiền mặt
1.3.1.2 Quản lý quá trình thu - chi tiền mặt
Phạm vi của quản trị tiền mặt là bắt đầu lúc khách hàng viết séc thanh toán cho doanh nghiệp về các khoản nợ, kết thúc khi tiền mặt được ghi giảm
số dư trong tài khoản Mục tiêu của quản trị tiền mặt là tối đa hóa thời gian khả dụng của tiền mặt Quản trị tiền mặt hiệu quả bao gồm quản trị riêng lẻ dòng tiền nhập quĩ và dòng tiền xuất quĩ bao gồm các nội dung sau:
- Đồng bộ hóa dòng tiền: Thông qua việc nâng cao chất lượng dự đoán và
sắp xếp các hoạt động để các hóa đơn gắn đúng với nhu cầu tiền mặt, doanh nghiệp có thể duy trì một cân đối tiền mặt bình quân chặt chẽ Việc đồng bộ
Trang 16hóa dòng ngân quĩ đảm bảo tiền mặt khi cần thiết và vì thế giúp doanh nghiệp giảm tối thiểu tài khoản tiền mặt, giảm nợ ngân hàng, giảm chi phí vay và do
đó tăng lợi nhuận
- Kỹ thuật vốn trôi nổi: Tồn quĩ của doanh nghiệp trên sổ sách kế toán ít
khi khớp với tồn quĩ trên tài khoản ngân hàng Chênh lệch giữa tồn quĩ trên tài khoản ngân hàng với tồn quĩ trên sổ sách kế toán gọi là vốn trôi nổi Vốn trôi nổi phát sinh do thời gian chờ đợi thanh toán khi chứng từ đang trên đường đi hay đang chờ xử lý ở ngân hàng Trong trường hợp doanh nghiệp phát hành séc để thanh toán cho khách hàng sẽ phát sinh vốn trôi nổi do chi, khiến cho tồn quĩ tài khoản kế toán giảm nhưng tồn quĩ tài khoản ngân hàng chưa giảm Ngược lại, khi doanh nghiệp nhận được séc thanh toán của khách hàng, sẽ làm phát sinh vốn trôi nổi do thu, khiến cho tồn quĩ tài khoản kế toán tăng nhưng tồn quĩ ngân hàng chưa tăng Chênh lệch giữa vốn trôi nổi do thu
và do chi gọi là vốn trôi nổi ròng
Quản trị vốn trôi nổi liên quan đến thu và chi tiền mặt Mục tiêu của quản trị thu tiền là cắt giảm khoảng thời gian giữa thời điểm khách hàng chi trả hóa đơn và thời điểm tờ séc được chi trả Mục tiêu của quản trị chi tiền là giảm tốc độ thanh toán, tức là gia tăng khoảng thời gian giữa thời điểm phát hành séc và thời điểm tờ séc được xuất trình
- Hệ thống tài khoản thu gom: Doanh nghiệp có thể đẩy nhanh tốc độ thu
tiền, tăng thời gian hữu dụng của vốn bằng tiền thông qua hệ thống tài khoản thu gom Trong hệ thống tài khoản thu gom, các tờ séc của khách hàng được gửi đến hộp thư đặt ở gần khách hàng Ngân hàng địa phương sẽ đến kiểm tra hộp thư nhiều lần trong ngày và chuyển tiền vào tài khoản của doanh nghiệp ngay tại địa phương đó Sau đó, ngân hàng báo có cho doanh nghiệp những biên lai nhận được trong ngày thông qua hệ thống chuyển dữ liệu điện tử
Trang 17Thông qua hệ thống tài khoản thu gom, vốn trôi nổi do thu và chi tiền được rút xuống, nó giảm thời gian nhận séc từ khách hàng, sau đó chuyển qua
hệ thống ngân hàng để đưa quĩ vào sử dụng Qua hệ thống này, bên cạnh việc tăng thời gian sử dụng ngân quĩ so với hệ thống thông thường, nó còn làm giảm chi phí do ngân hàng chuyên môn hóa trong việc xử lý hệ thống thu gom lớn nên chi phí trên mỗi đơn vị thấp hơn
- Kiểm soát quá trình thanh toán: Mục đích của kiểm soát quá trình thanh
toán là làm chậm lại tới mức có thể các khoản chi Các biện pháp tiến hành gồm:
+ Cực đại hóa vốn trôi nổi: Là tìm cách làm tăng khoản chênh lệch giữa tổng số tiền séc thanh toán qua ngân hàng và giá trị thể hiện trên sổ sách của doanh nghiệp Điều này được thực hiện bằng cách doanh nghiêp thực hiện thanh toán cho nhà cung cấp từ các tài khoản đặt ở vị trí rất xa các nhà cung cấp, điều này làm tăng thời gian chuyển khoản qua hệ thống ngân hàng Séc được phát hành xa khách hàng nên có thể tối đa hóa vốn trôi nổi chuyển khoản
+ Sử dụng nhiều ngân hàng có khả năng dịch chuyển vốn nhanh tới các ngân hàng mà khoản chi xuất hiện, có thể ngăn ngừa được sự tích tụ quá mức tiền ở một ngân hàng nào đó
+ Tập trung hóa các khoản phải trả, thường là về trung tâm nhờ đó có thể điều tiết chính xác các khoản trả theo ý muốn
1.3.1.3 Đầu tư tiền mặt nhàn rỗi tạm thời
Doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động mang tính tạm thời, đôi khi có một số lượng tiền tạm thời nhàn rỗi Nhàn rỗi ở đây mang tính tạm thời cho đến khi tiền được huy động vào kinh doanh Trong thời gian nhàn rỗi tiền cần được đầu tư nhằm mục đích sinh lợi bằng cách mua các chứng khoán ngắn hạn
Trang 18Ở các nước phát triển, thị trường tiền tệ phát triển với rất nhiều công cụ khác nhau, các doanh nghiệp lớn ở các nước này thường đầu tư tiền tạm thời nhàn rỗi của họ vào các loại tài sản tài chính ngắn hạn thông qua các ngân hàng thương mại hoặc thông qua các nhà kinh doanh và môi giới đầu tư Các doanh nghiệp nhỏ thường sử dụng các quĩ đầu tư trên thị trường tiền tệ để đầu
tư tiền tạm thời nhàn rỗi và trả cho các quĩ này một khoản lệ phí nhất định
Ở Việt Nam hiện tại, do thị trường tiền tệ chưa phát triển nên ngoài việc gửi tiền tạm thời nhàn rỗi vào ngân hàng với lãi suất thường thấp, doanh nghiệp khó kiếm được cơ hội đầu tư nào khác Dù vậy, nhưng với xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập rồi cơ hội sẽ mở ra Chúng ta nên chuẩn bị từ bây giờ hơn là thụ động ngồi chờ cho đến khi cơ hội thực sự mở ra
1.3.2 Quản trị khoản phải thu
Nhìn chung, các doanh nghiệp luôn muốn bán hàng thu tiền ngay hơn là bán hàng tín dụng Tuy nhiên, áp lực cạnh tranh buộc họ phải đưa ra chính sách tín dụng, nhờ thế mới có thể tiêu thụ được hàng hóa, giảm tồn kho và cũng do vậy, khoản phải thu hình thành
Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng hóa hoặc dịch vụ Bán hàng tín dụng có một ưu điểm quan trọng là làm gia tăng lượng bán, việc bán hàng tín dụng làm tăng tốc độ chuyển hóa tồn kho, tăng cường mối quan hệ với khách hàng
Ngược lại, bán hàng tín dụng cũng có nhiều bất lợi, làm gia tăng chi phí cho bán hàng, quản lý khoản phải thu, chính sách thu nợ, bên cạnh đó, bán hàng tín dụng luôn tiềm ẩn rủi ro không trả nợ đúng hạn, giảm khả năng sinh lợi của tài sản và tăng nguy cơ nợ khó đòi làm ảnh hưởng đến việc bảo toàn
và phát triển vốn của doanh nghiệp
Vì vậy, việc bán hàng tín dụng cần tuân theo một khuôn khổ chính sách hợp lý Quyết định chính sách bán tín dụng gắn liền với việc đánh đổi giữa
Trang 19chi phí liên quan đến khoản phải thu và doanh thu tăng thêm do bán chịu hàng hóa, kiểm soát khoản phải thu liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi nhuận và chi phí rủi ro.
1.3.2.1 Chính sách tín dụng thương mại
Thành công hay thất bại của một doanh nghiệp trước hết phụ thuộc vào nhu cầu của thị trường đối với sản phẩm kinh doanh của doanh nghiệp Doanh
số bán hàng sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, yêu tố bên ngoài và cả những yếu
tố bên trong nằm trong phạm vi kiểm soát của doanh nghiệp Những yếu tố có thể kiểm soát được bao gồm: giá bán, chất lượng sản phẩm và chính sách tín dụng Trong đó, chính sách tín dụng được xem là yếu tố quyết định tình hình khoản phải thu của doanh nghiệp
Chính sách tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp dưới các hình thức mua bán chịu hàng hóa, dịch vụ Trong đó, người bán chuyển giao quyền sử dụng vốn tạm thời cho người mua trong một khoảng thời gian nhất định Sau khoảng thời gian thỏa thuận đó, người mua
có trách nhiệm thanh toán cả vốn lẫn lãi cho người bán Tín dụng thương mại
là nguồn tài trợ ngắn hạn phổ biến và quan trọng nhất đối với doanh nghiệp.Chính sách tín dụng thương mại thể hiện quan điểm của doanh nghiệp về tương quan giữa rủi ro và lợi nhuận do các khoản phải thu đem lại Chính sách tín dụng thương mại gồm một số yếu tố sau:
- Tiêu chuẩn tín dụng: liên quan đến sức mạnh tài chính cần thiết để
khách hàng tín dụng có thể được chấp nhận mua tín dụng
- Thời hạn tín dụng: là thời gian mà người mua được trì hoãn thanh toán,
nghĩa là từ lúc có hóa đơn đến thời hạn cuối cùng họ phải thanh toán
- Chiết khấu thanh toán: Tỷ lệ phần trăm giảm giá và thời hạn trả trước để
nhận được chiết khấu thanh toán
Trang 20- Chính sách thu hồi nợ: được đo lường bởi mức độ chặt chẽ hay lỏng lẽo
của doanh nghiệp trong nỗ lực thu hồi các hợp đồng trả chậm
Nhà quản trị tín dụng có trách nhiệm quản lý chính sách tín dụng của doanh nghiệp Chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu từng biến số của chính sách tín dụng:
* Tiêu chuẩn tín dụng
Tiêu chuẩn tín dụng là những yếu tố liên quan đến sức mạnh tài chính và mức độ tín nhiệm tín dụng mà mỗi khách hàng phải đảm bảo để có quyền hưởng mức tín dụng mà doanh nghiệp cấp cho những khách hàng như họ.Việc thiết lập tiêu chuẩn tín dụng nhằm đo lường chất lượng tín dụng, qua
đó xác định khả năng của khách hàng trong việc chấp hành các nghĩa vụ và xác suất mất mát của doanh nghiệp khi cấp tín dụng cho khách hàng Phương pháp phán đoán “ 5Cs ” là phương pháp truyền thống thường được sử dụng để đánh giá chất lượng tín dụng
- Tư cách tín dụng ( Character )
Đặc tính này ám chỉ mức độ uy tín hay không uy tín của khách hàng Đó
là thái độ tự giác trong thanh toán công nợ của khách hàng Yếu tố này rất quan trọng vì một hoạt động giao dịch tín dụng luôn luôn đi kèm với một sự hứa hẹn sẽ thanh toán
- Khả năng thanh toán ( Capacity )
Đặc tính này ám chỉ sự xét đoán về khả năng trả nợ của khách hàng Sự xét đoán có thể căn cứ vào các giao dịch trong quá khứ, tình hình thanh toán thực tế, phương pháp quản trị doanh nghiệp
- Vốn ( Capital )
Trang 21Đặc tính này được đo lường bởi tình trạng tài chính tổng quát của doanh nghiệp qua sự phân tích các tỷ số tài chính, tỷ số nợ/vốn, tỷ số thanh toán, chú trọng đặc biệt vào các tài sản vật chất của doanh nghiệp.
- Thế chấp ( Collateral )
Đặc tính này ám chỉ các tài sản mà khách hàng có thể dùng để đảm bảo cho khoản nợ của mình
- Điều kiện kinh tế ( Condition )
Liên quan đến sự phát triển kinh tế vi mô, vĩ mô có ảnh hưởng tới khả năng thanh toán nợ của khách hàng
Cũng như tiêu chuẩn tín dụng, khi mở rộng hay thu hẹp thời hạn tín dụng, các nhà quản trị tài chính phải xem xét sự đánh đổi bù trừ giữa lợi nhuận tăng thêm và chi phí tăng thêm Xem xét mức tăng lợi nhuận có đủ bù đắp mức tăng chi phí hay không? Hay tiết kiệm chi phí có đủ bù đắp lợi nhuận giảm không? Từ đó ra quyết định đúng đắn nhất
* Chiết khấu thanh toán
Mục đích của việc áp dụng chiết khấu thanh toán của doanh nghiệp có thể là: Kích thích gia tăng doanh số, tìm kiếm khách hàng mới, khuyến khích được khách hàng thanh toán sớm từ đó giảm được kỳ thu tiền bình quân cũng nhu giải phóng nhanh hàng tồn kho góp phần tái sản xuất nhanh chóng Bên
Trang 22cạnh đó, áp dụng chiết khấu thanh toán còn giúp doanh nghiệp gia tăng năng lực cạnh tranh trong ngành.
Tuy nhiên, khi áp dụng chính sách chiết khấu, nghĩa là giảm doanh thu ròng, do đó, giảm lợi nhuận Liệu giảm chi phí đầu tư khoản phải thu có đủ bù đắp thiệt hại do giảm lợi nhuận hay không, đó cũng là điều doanh nghiệp cần xem xét trước khi áp dụng chính sách chiết khấu thanh toán cho khách hàng
* Chính sách thu hồi nợ
Các khoản nợ phải thu đã quá hạn thanh toán xuất phát từ nhiều nguyên nhân, khách quan lẫn chủ quan Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu có thể do khách hàng kinh doanh thua lỗ, dẫn đến việc gặp khó khăn về dòng tiền hoặc mất khả năng thanh toán, làm cho doanh nghiệp bán phải gánh thêm phần nợ phải thu quá hạn hoặc khó đòi Ngoài ra, đa số doanh nghiệp Việt Nam hiện nay mua bán chịu chủ yếu dựa vào uy tín, ít dùng đến ràng buộc qui định trong hợp đồng kinh tế Bên cạnh đó, để thu hút khách hàng, nhiều doanh nghiệp đưa ra chính sách bán chịu khá ưu đãi Điều này càng làm doanh nghiệp tăng các khoản phát sinh khoản nợ khó đòi và rủi ro không thu hồi được nợ Vì vậy, doanh nghiệp cần có chính sách thu hồi nợ phù hợp với điều kiện doanh nghiệp mình
1.3.2.2 Phân tích và ra quyết định tín dụng thương mại
Khi cung cấp chính sách tín dụng cho khách hàng, doanh nghiệp cần tiến hành phân tích để đánh giá các rủi ro liên quan và khả năng khách hàng thanh toán các khoản nợ theo kế hoạch Mục tiêu là để đánh giá khả năng thanh toán của khách hàng Điều này liên quan đến nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp, tình hình tài chính cũng như một số yếu tố khác Quá trình phân tích và ra quyết định tín dụng thương mại cho khách hàng của doanh nghiệp được thể hiện qua hình dưới đây:
Trang 23Hình 1.2 : Quá trình phân tích và ra quyết định tín dụng thương mại
Sau khi phân tích tín dụng khách hàng dựa trên các tính toán và cân nhắc, doanh nghiệp sẽ ra quyết định có thực hiện chính sách bán tín dụng cho khách hàng đó hay không?
Có 2 mô hình ra quyết định chính sách tín dụng thương mại:
Hình 1.3: Mô hình nới lỏng chính sách tín dụng
Môi trường
kinh doanh
Hoạt động SXKD của khách hàng
Dòng ngân quĩ Lợi nhuận
Tài sản & nợ hiện tại
Sức mạnh kinh doanh
Khả năng thanh toán và sức mạnh tài
chính
Khả năng hoàn trả nợ
Độ an toàn về tài chính
Nới lỏng chính sách tín
dụng
Tăng khoản phải thu
Tăng doanh thu
Tăng lợi nhuận
Tăng chi phí vào khoản phải thu
Tăng lợi nhuận đủ bù đắp tăng chi phí không?
RA QUYẾT ĐỊNH
Trang 24- Lượng đặt hàng là bao nhiêu vào một thời điểm qui định?
- Vào thời điểm nào thì đặt hàng?
- Mức tồn kho nào là an toàn?
- Loại hàng dự trữ nào cần được chú ý?
Thắt chặt chính sách tín
dụng
Giảm khoản phải thu
Giảm doanh thu
Giảm lợi nhuận
Tiết kiệm chi phí cho khoản phải thu
Tiết kiệm chi phí có đủ bù mức giảm lợi nhuận không?
RA QUYẾT ĐỊNH
Trang 251.3.3.1 Hàng tồn kho và chi phí hàng tồn kho
Hàng tồn kho là những tài sản được giữ để bán trong kỳ sản xuất kinh doanh, hoặc đang trong quá trình sản xuất dở dang
Hai chi phí liên quan trực tiếp đến quản trị hàng tồn kho là chi phí đặt hàng và chi phí lưu kho Trong đó:
- Chi phí đặt hàng: bao gồm các chi phí giao dịch, vận chuyển và chi phí
nhận hàng Chi phí đặt hàng được tính cho mỗi lần đặt hàng khi doanh nghiệp tiến hành đặt hàng từ bên ngoài
- Chi phí lưu kho: bao gồm tất cả các chi phí lưu trữ hàng hóa trong kho
một khoảng thời gian xác định như chi phí lưu giữ hàng tồn kho, chi phí hư hỏng – thiệt hai do bị lỗi thời, chi phí bảo hiểm, chi phí thuế, chi phí đầu tư vào hàng tồn kho Chi phí lưu kho được tính trên mỗi đơn vị hàng tồn kho hoặc được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên giá trị hàng tồn kho trong một thời kỳ
Tổng chi phí hàng tồn kho có thể khái quát như sau:
Tổng chi phí hàng tồn kho = Chi phí đặt hàng + Chi phí lưu kho
Chi tiết phương trình trên như sau:
) 2 ( )
Q
D F
Trong đó:
D: tổng nhu cầu hàng cần nhập trong kỳ
Q: số lượng mỗi lần đặt hàng
F: chi phí cố định cho mỗi đơn hàng
H: chi phí tồn kho 1 đơn vị
Tổng chi phí = ( Chi phí 1 đơn hàng X ) + ( Chi phí tồn kho 1 đơn vị X )
Số đơn hàng Mức tồn kho bình quân
Trang 26Phương trình này thể hiện sự đánh đổi giữa chi phí đặt hàng và chi phí tồn kho Cụ thể lượng đặt hàng Q càng lớn thì chi phí đặt hàng càng nhỏ do số lần đặt hàng giảm Trong khi đó, lượng đặt hàng Q càng lớn thì chi phí tồn kho càng lớn do mức tồn kho tăng.
Chi phí Chi phí lưu kho
1.3.3.2 Mô hình sản lượng đặt hàng tối ưu EOQ (Economic Ordering Quantity)
Mô hình sản lượng đặt hàng tối ưu là một mô hình quản lý hàng tồn kho mang tính chất định lượng, được sử dụng để xác định mức tồn kho tối ưu cho doanh nghiệp, trên cơ sở 2 loại chi phí: Chi phí đặt mua hàng và chi phí lưu kho
Trang 27Hai loại chi phí này có mối quan hệ tương quan tỷ lệ nghịch với nhau Nếu lượng nguyên vật liệu hay hàng hóa tăng lên cho mỗi lần đặt hàng thì chi phí đặt hàng sẽ giảm xuống nhưng chi phí lưu kho sẽ tăng lên Mục tiêu của quản trị hàng tồn kho là tính toán và quyết định lượng đặt hàng sao cho tối thiểu hóa chi phí trong sự đánh đổi giữa chi phí đặt hàng và chi phí lưu kho.
Từ phương trình tổng chi phí, viết phương trình vi phân theo Q và cho đạo hàm bậc nhất bằng 0 để xác định điểm cực tiểu trên đường cong tổng chi phí như sau:
2
*
2
H D F dQ
- Dự báo tương đối chính xác tổng nhu cầu mua hàng trong kỳ
- Khối lượng mỗi lần đặt hàng là cố định
- Chi phí một lần đặt hàng và chi phí tồn kho cho 1 đơn vị là cố định
- Khi hết hàng mới nhập kho lượng hàng mới
Trong thực tế không thể để hết hàng hóa mới đặt hàng Vì vậy, cần phải xác định điểm đặt hàng lại Nếu đặt hàng lại quá sớm sẽ tăng tồn kho và lãng
Trang 28phí; ngược lại, nếu đặt hàng chậm sẽ có nguy cơ hết hàng, do đó cần xác định thời điểm đặt hàng lại phù hợp.
Để xác định điểm đặt hàng cần phải xác định số lượng dự trữ trong ngày
Trang 291.4 MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN CỦA DOANH NGHIỆP
Hoạch định tài chính giúp doanh nghiệp xây dựng mục tiêu, phát triển các chiến lược và phân bổ nguồn lực Việc đánh giá, phân tích tình hình quản lý
và sử dụng vốn luân chuyển của doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp kiểm tra các quyết định đầu tư nhằm phát hiện, ngăn chặn hoặc điều chỉnh sự phân bổ nguồn lực chưa hợp lý
Mục đích của việc phân tích tình hình quản lý vốn luân chuyển là trên cơ
sở phân tích các số liệu đã qua để thấy được xu hướng và dự đoán được tình hình quản lý và sử dụng vốn luân chuyển trong tương lai, từ đó giúp cho nhà quản trị ra quyết định đúng đắn và những giải pháp phục vụ cho việc đầu tư Thực hiện kiểm tra thông qua phân tích tình hình quản lý vốn luân chuyển của doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp trả lời những câu hỏi như: Tình hình quản trị các yếu tố vốn luân chuyển như thế nào, khả năng thanh toán của doanh nghiệp ra sao, hiệu quả của việc quản lý và sử dụng vốn như thế nào, … Từ
đó, các nhà quản trị có thể đưa ra nhưng giải pháp khắc phục những thiếu sót trong quá trình sử dụng vốn luân chuyển
Phương pháp chủ yếu được dùng trong phân tích là phương pháp so sánh
để đánh giá kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến động của các chỉ tiêu phân tích
Do đặc điểm riêng của vốn luân chuyển là vận động không ngừng trong mọi giai đoạn sản xuất kinh doanh, hình thái biểu hiện vô cùng phức tạp và khó quản lý nên việc sử dụng tốt vốn luân chuyển có ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn luân chuyển trong các doanh nghiệp có thể sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu sau:
Trang 301.4.1 Chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển vốn nói chung
Tốc độ luân chuyển vốn nói chung có thể được đo lường bởi hai chỉ tiêu
là số vòng quay vốn luân chuyển và mức tiết kiệm vốn luân chuyển
- Số vòng quay vốn luân chuyển: phản ánh số vòng quay của vốn luân
chuyển thực hiện được trong một kì, phản ánh một đồng vốn luân chuyển tham gia vào quá trình sản xuất góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
L: Số vòng quay vốn luân chuyển trong kỳ
M: Tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ
vLC : Số vốn luân chuyển bình quân trong kỳ
Số vòng quay vốn luân chuyển càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn luân chuyển càng cao, ngược lại số vòng quay vốn luân chuyển thấp chứng tỏ doanh nghiệp đã gặp phải vấn đề khó khăn trong việc quản lý và quay vòng vốn, khi đó doanh nghiệp cần xem xét lại vấn đề để tìm ra nguyên nhân và giải pháp phù hợp
- Số ngày 1 vòng quay vốn luân chuyển: phản ánh số ngày bình quân
cần thiết để vốn luân chuyển thực hiện một vòng quay hay độ dài thời gian 1 vòng quay vốn luân chuyển ở trong kỳ
Công thức: K =360L
Trong đó:
K: Số ngày 1 vòng quay vốn luân chuyển
Trang 31Số ngày 1 vòng quay vốn luân chuyển tỷ lệ nghịch với số vòng quay vốn luân chuyển, nếu doanh nghiệp rút ngắn kỳ luân chuyển thì sẽ tăng vòng quay vốn luân chuyển Vì vậy, việc tiết kiệm vốn luân chuyển hợp lý và nâng cao tổng mức luân chuyển vốn có ý nghĩa quan trọng đối với việc tăng tốc độ luân chuyển vốn luân chuyển và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn luân chuyển.
- Mức tiết kiệm vốn luân chuyển: chỉ tiêu này phản ánh số vốn luân
chuyển có thể tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển vốn ở kỳ so sánh (kỳ
kế hoạch) so với kỳ gốc (kỳ báo cáo) Hay nói cách khác hơn, với mức luân chuyển vốn không thay đổi nhưng tốc độ luân chuyển vốn tăng lên sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được nguồn vốn hơn
Công thức:
)(
1
K K
M
L
M L
M
0
1 1
M1: Tổng mức luân chuyển vốn kỳ so sánh (kỳ kế hoạch)
K1, K0 : Số ngày 1 vòng quay vốn luân chuyển kỳ so sánh, kỳ gốc
L1, L0 : Số vòng quay vốn luân chuyển kỳ so sánh, kỳ gốc
1.4.2 Chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển của từng bộ phận vốn luân chuyển
Trang 32Bên cạnh các chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tốc độ luân chuyển vốn nói chung, các nhà quản trị tài chính còn đưa ra một số chỉ tiêu khác để phân tích, đánh giá tình hình tổ chức và sử dụng từng bộ phận cơ bản cấu thành nên vốn luân chuyển của doanh nghiệp như sau:
- Số vòng quay các khoản phải thu: chỉ tiêu này phản ánh số lần trong
năm doanh nghiệp chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền
Chỉ tiêu này đo lường khả năng thu hồi vốn trong thanh toán của doanh nghiệp, đồng thời cũng phản ánh hiệu quả của việc quản lý các khoản phải thu và chính sách tín dụng của doanh nghiệp
Nếu hệ số này cao thể hiện tốc độ thu hồi nhanh các khoản phải thu, doanh nghiệp có thể giảm được một lượng vốn đầu tư vào tài sản lưu động Ngược lại, nếu doanh nghiệp có khoản phải thu lớn và kỳ thu tiền dài thì vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng nhiều và công tác quản lý khoản phải thu còn chưa hiệu quả
Số vòng quay các
khoản phải thu =
Doanh thu bán hàng (có thuế) Các khoản phải thu khách hàng bình quân
trong kỳ
Số ngày 1 vòng quay
khoản phải thu =
Số dư bình quân các khoản phải thu Doanh số bán hàng có thuế bình quân
1 ngày trong kỳ
- Số vòng quay hàng tồn kho: phản ánh sự luân chuyển của vật tư, hàng
hóa trong kỳ Số vòng quay hàng tồn kho cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm của ngành nghề kinh doanh
Nếu hệ số này cao chứng tỏ việc tổ chức và quản lí dự trữ là tốt, doanh nghiệp có thể rút ngắn chu kỳ kinh doanh và giảm được lượng vốn bỏ vào hàng tồn kho Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng chưa hẳn là một dấu hiệu tốt, có thể doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng thiếu hàng để bán Doanh
Trang 33nghiệp cần kết hợp phân tích chỉ tiêu này cùng với nhu cầu hàng tồn kho để đảm bảo mức tồn kho hợp lý.
Nếu hệ số này thấp, có thể doanh nghiệp đã dự trữ vật tư, hàng hóa quá mức dẫn đến ứ đọng vật tư, hàng hóa làm dòng tiền vào doanh nghiệp bị giảm
đi và doanh nghiệp có thể bị đặt vào tình trạng khó khăn về tài chính trong tương lai
Số vòng quay hàng tồn kho = Tổng giá vốn hàng bán
Trang 34TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Vốn luân chuyển là giá trị của toàn bộ tài sản ngắn hạn, trong quá trình kinh doanh, vốn luân chuyển tồn tại dưới nhiều hình thức như tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồn kho, … tác động trực tiếp đến khả năng sinh lợi và rủi ro của doanh nghiệp Vì vậy, quản trị vốn luân chuyển có vai trò rất quan trọng trong quá trình quản trị tài chính doanh nghiệp
Doanh nghiệp cần xác định được cơ cấu vốn hợp lý mà doanh nghiệp cần duy trì Từ đó hoạch định nhu cầu vốn luân chuyển cần thiết cho doanh nghiệp và các biện pháp tài trợ Trong chương này có đề cập đến một số mô hình để ra quyết định tối ưu cho từng bộ phận vốn luân chuyển như tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồn kho Bên cạnh đó, chương này cũng đề cập đến công tác phân tích, đánh giá tình hình quản trị vốn luân chuyển thông qua một số chỉ tiêu đánh giá tốc độ luân chuyển vốn Qua đó, cho phép nhà quản trị tài chính có sự điều chỉnh đầu tư cho tài sản ngắn hạn cũng như tìm nguồn tài trợ hợp lý nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn luân chuyển
Trang 35CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ & XÂY DỰNG
BƯU ĐIỆN
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ & XÂY DỰNG BƯU ĐIỆN (PTIC)
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của PTIC
Tên công ty : Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bưu điện
Tên giao dịch quốc tế: Post and Telecommunication Investment and Construction Joint stock company
Tên viết tắt : PTIC., JSC
Trụ sở chính: Thôn Pháp Vân, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
cũ Với những thành tựu đạt được trong 20 năm kể từ ngày thành lập, ngày 27/12/1996, Công ty Xây dựng Bưu điện được chính thức xếp hạng Doanh nghiệp hạng I ngành xây dựng
Cùng với tiến trình cổ phần hoá của các doanh nghiệp trong ngành Bưu chính viễn thông, ngày 19/01/1999, Công ty Xây dựng Bưu điện nhận được
Trang 36Quyết định của Hội đồng Quản trị Tổng Công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam (nay là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam) về việc cổ phần hoá Công ty Xây dựng Bưu điện Ngày 15/12/2004, Công ty Xây dựng Bưu điện chính thức nhận Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103006203 theo hình thức công ty cổ phần và đổi tên thành Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bưu điện.
Tháng 10/2006, Công ty thực hiện phát hành tăng vốn từ 35 tỷ lên 50 tỷ đồng, phương thức phát hành đấu giá cạnh tranh qua TTGDCK, PTIC thay đổi giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh lần 1 Ngày 25/12/2006, cổ phiếu của Công ty chính thức được niêm yết và giao dịch trên TTGDCK Hà Nội với
mã cổ phiếu PTC Tháng 10/2007, Công ty thực hiện xong việc phát hành tăng vốn từ 50 tỷ lên 100 tỷ đồng cho cổ đông hiện hữu, đối tác chiến lược và đấu giá cạnh tranh qua TTGDCK, PTIC thay đổi giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh lần 2
Trong 7 năm qua, kể từ khi PTIC tiến hành hoạt động độc lập, công ty đã khẳng định được vị thế trên thị trường Bưu chính viễn thông, nâng cao uy tín,
tự tin vươn lên đứng vững trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh và phát triển
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của PTIC
PTIC là đơn vị hạch toán độc lập trực thuộc tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực xây dựng các công trình bưu chính viễn thông & công nghệ thông tin, các công trình dân dụng công nghiệp, kinh doanh dịch vụ kỹ thuật viễn thông Ngoài ra, PTIC còn sản xuất vật liệu xây dựng và vật liệu khác như cáp thông tin kim loại, cáp sợi quang, ống nhựa bảo vệ cáp, … phục vụ cho công ty cũng như kinh doanh thương mại
Mục đích kinh doanh của PTIC là lợi nhuận, bảo toàn và phát triển vốn của cổ đông đặc biệt là PTIC vẫn còn tỷ lệ sở hữu của vốn Nhà nước là 30%
Trang 37Để đảm bảo được mục tiêu trên, PTIC cần có một kế hoạch kinh doanh khả thi song hành với việc huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả.
2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của PTIC
PTIC là đơn vị thành viên của tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam,
có tư cách pháp nhân đầy đủ theo quy định của pháp luật, thực hiện hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh và tự chủ về tài chính, PTIC hoạt động theo hình thức công ty cổ phần có tỷ lệ sở hữu Nhà nước là 30% - vốn góp của tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT)
Trang 38Hình 2.1: Cơ cấu bộ máy quản lý Công ty cổ phần Đầu tư & Xây dựng Bưu điện
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊBAN TỔNG GIÁM ĐỐC
BAN KIỂM SOÁT
P
Tổ chức nhân sự hành chính quản trị
Ban Phát triển dịch vụ viễn thông và công nghệ thông tin
BQL
hạ tầng
kỹ thuật
CN tại
TP
Hồ Chí Minh
CN tại Miền Trung
Nhà máy Vật liệu Viễn thông I
và II
Công ty sản xuất sợi quang VINA – LSC (vốn PTIC 25%)
CTCP SX cáp quang và thiết bị bưu điện TFP (vốn PTIC 18%)
CTCP TM
du lịch xây dựng bưu điện Hà tĩnh (vốn PTIC 10%)
XN 1, 2, 3, 5, 7 XN tư vấn thiết kế XN dịch vụ kỹ thuật viễn thông
P
Kế hoạch
Trang 392.1.4 Đặc điểm hoạt động sản xuất của PTIC
2.1.4.1 Đặc điểm về sản phẩm kinh doanh chính của PTIC
Sản phẩm xây lắp là sản phẩm truyền thống của công ty PTIC chuyên
thực hiện các dự án xây lắp trong ngành Bưu chính viễn thông Sản phẩm xây lắp của Công ty gồm hai bộ phận: Xây dựng các công trình kiến trúc (nhà cửa, trụ sở…) và xây dựng các công trình thông tin (cột anten, cáp ngầm, cáp treo…) mỗi sản phẩm đều có một thiết kế riêng, dự toán chi phí riêng đồng thời nó cũng có vị trí địa lí không giống nhau
Sản phẩm công nghiệp:
- Sản phẩm ống nhựa bảo vệ cáp: bao gồm 2 loại là Ống Ø110 (bao gồm
ống sóng và PVC 3 lớp); ống Ø <40 bao gồm ống HDPE các loại, ống tròn trơn Ø34 và ống 2 mảnh Ø40, được sản xuất từ hạt nhựa PE - Các loại ống này đều được sử dụng để luồn cáp quang
- Sản phẩm cáp thông tin kim loại: bao gồm 2 loại cáp cống FS-JF-LAP và
cáp treo FS - JF - LAP – SS có dung lượng từ 10 đôi đến 200 đôi
Ngoài ra, PTIC còn kinh doanh thiết bị điện tử viễn thông nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và thay đổi công nghệ hàng ngày của ngành
2.1.4.2 Đặc điểm về môi trường kinh doanh của PTIC
PTIC là một trong những doanh nghiệp lớn, có uy tín trong ngành Bưu chính viễn thông về lĩnh vực xây lắp Phạm vi hoạt động xây dựng của PTIC rất rộng từ xây dựng dân dụng đến xây dựng các công trình có hàm lượng kỹ thuật cao như thiết kế quy hoạch mạng viễn thông, mạng máy tính điện tử dân dụng… nên sản phẩm xây lắp của Công ty khá phong phú, chiếm được lợi thế cạnh tranh trong ngành Tuy nhiên, những năm gần đây, khi nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng gần như hoàn thiện tại các tỉnh thành, nên PTIC hơi khó khăn trong việc phát triển, tìm kiếm các hợp đồng xây dựng
Trang 40Dù có rất nhiều đối thủ cạnh tranh khác trong ngành như CTCP Thiết bị Bưu điện, CTCP Vật liệu xây dựng Bưu điện, CTCP Đầu tư và Sản xuất Việt Hàn, mức độ cạnh tranh càng gay gắt nhưng PITC vẫn thể hiện được vị trí của mình trong ngành khi cung cấp hầu hết các hợp đồng với các Viễn thông tỉnh thành Theo kế hoạch của VNPT cáp đồng đến năm 2012 mới bão hòa nhưng đến đầu năm 2008 VNPT đã ngừng phát triển điện thoại có dây do đó hàng loạt nhà máy sản xuất cáp đồng và ống nhựa của VNPT bị ngừng hoạt động Mặc dầu khi đầu tư sản phẩm cáp đồng công ty đã tính toán tuổi thọ sản phẩm cáp đồng từ 5-7 năm nên đã lựa chọn quy mô đầu tư và công nghệ máy móc thiết bị phù hợp (đầu tư dây chuyền đã qua sử dụng) giá chỉ bằng 30% thiết bị mới cùng công suất nhưng mới sản xuất được trên 11.000 km cáp các loại (doanh thu khoảng 380 tỷ) thì đã ngừng hoạt động Dẫn đến giá trị khấu hao dây chuyền sản xuất cáp đồng và ống nhựa hiện vẫn còn 32.044.663.195 đồng (không có khả năng phát huy hiệu quả) chưa khấu hao hết tại Nhà máy vật liệu viễn thông 1 mà không thể chuyển đổi sang mặt hàng khác được.
2.1.5 Khái quát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của PTIC giai đoạn 2009 -2011
Doanh thu bán hàng năm 2009 vẫn ở mức cao là 409,93 tỷ đồng Tuy nhiên, đang có xu hướng giảm dần trong những năm gần đây Điều này là do thị trường chính của Công ty là tập đoàn Bưu chính viễn thông và các đơn vị thành viên đang thắt chặt đầu tư, trong khi đó sự biến động (tăng) giá nguyên vật liệu cộng với sự cạnh tranh khốc liệt khiến Công ty phải giảm giá thành để
có thể bán được hàng hóa cũng như cạnh tranh hợp đồng xây lắp với các đối thủ, điều này khiến cho lợi nhuận của Công ty ngày càng giảm
Nhận xét chung về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong những năm gần đây hơi khó khăn, điều này đòi hỏi Công ty cần có