1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức giờ học lịch sử cho học sinh lớp 6- Trung học cơ sở theo mô hình trường học mới (Vnen)

115 793 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề đặt ra không phải ở việc cắt giảm nội dung kiến thức mà là người dạy phải có biện pháp vừa đảm bảo được mục tiêu bài dạy học, vừa giúp học sinh giảm bớt cảm giác nặng nề, thụ động

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LÊ THỊ THÚY MAI

TỔ CHỨC GIỜ HỌC LỊCH SỬ CHO HỌC SINH LỚP 6 –

TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI (VNEN)

LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM LỊCH SỬ

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LÊ THỊ THÚY MAI

TỔ CHỨC GIỜ HỌC LỊCH SỬ CHO HỌC SINH LỚP 6 –

TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI (VNEN)

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tới Ban Giám Hiệu, cùng các thầy, cô và cán bộ các Phòng - Ban Trường Đại Học Giáo Dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Văn Ninh, người đã trực tiếp hướng

dẫn khoa học và tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Trường Hanoi Academy, Trường Đoàn Thị Điểm-Ecopack, Trường tiểu học Tả Thanh Oai- Hà Nội, Trường tiểu học Suối Hoa- Bắc Ninh, đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu

Em xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ, động viên

em hoàn thành khoá học và luận văn này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng song luận văn không tránh khỏi thiếu sót, em mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ các thầy, cô, các bạn đồng nghiệp và những người quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 3 năm 2014

Tác giả

Lê Thị Thúy Mai

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục chữ viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục bảng, biểu v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔ CHỨC GIỜ HỌC LỊCH SỬ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9

1.1 Cơ sở lí luận 9

1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 9

1.1.2 Cơ sở xuất phát điểm của vấn đề 11

1.1.3 Kiểu giờ học theo mô hình trường học mới (Vnen) 21

1.2 Cơ sở thực tiễn……… 38

1.2.1 Thực tiễn dạy học lịch sử ở trường THCS……… ………… 38

1.2.2.Thực tiễn dạy học lịch sử theo mô hình trường học mới……… … 45

Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC GIỜ HỌC LỊCH SỬ CHO HỌC SINH LỚP 6- TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI 51

2.1 Mục tiêu, nội dung cơ bản của chương trình lịch sử lớp 6-THCS…… ………… 51

2.1.1 Mục tiêu cơ bản của chương trình lịch sử lớp 6- THCS 51

2.1.2 Nội dung cơ bản của chương trình lịch sử lớp 6- THCS( chương trình chuẩn) 52

2.2 Các chủ đề lịch sử lớp 6 theo mô hình trường học mới (Vnen) 55

2.3.Một số biện pháp tổ chức giờ học lịch sử cho học sinh lớp 6 –THCS theo mô hình trường học mới (Vnen)……….………… 59

2.3.1 Tổ chức hoạt động khởi động……… …… 59

2.3.2 Tổ chức hoạt động tìm hiểu kiến thức mới ………

2.3.3.Tổ chức hoạt động thực hành ………

64 70 2.3.4.Tổ chức hoạt động ứng dụng 73

Trang 6

6

2.3.5 Tổ chức hoạt động bổ sung … 75

2.4 Thực nghiệm sư phạm……… ……… 77

2.4.1 Mục đích thực nghiệm ……… 77

2.4.2 Nội dung thực nghiệm 77

2.4.3 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 78

2.4.4 Tổ chức tiến hành thực nghiệm 79

2.4.5 Kết quả thực nghiệm 84

KẾT LUẬN 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 116

PHỤ LỤC 118

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Trang Bảng 1.1 Số lượng học sinh và giáo viên được điều tra, khảo sát…… 39 Bảng 1.2 Tình hình dạy học 39 Bảng 1.3 Cách thức triển khai giờ học 40 Bảng 1.4 Mức độ tiến hành đổi mới phương pháp dạy học

của giáo viên khi giảng dạy 41 Bảng 1.5 Bảng khảo sát về hình thức học của học sinh 43 Bảng 1.6 Kết quả điều tra về nhận thức, thái độ, hành vi của Học sinh

trong học tập môn lịch sử 43 Bảng 1.7 Kết quả quá trình tiến hành dạy học lịch sử theo mô hình trường

học mới

Bảng 1.8 Mức độ tiến hành giảng dạy lịch sử theo mô hình trường học

mới của Giáo viên……… ……… Bảng 1.9: Kết quả điều tra về nhận thức, thái độ, hành vi của học sinh khi

học theo mô hình trường học mới (vnen)……… ……

Bảng 2.1 Bảng điểm kiểm tra kết quả thực nghiệm của học sinh lớp 6 …

Bảng 2.2 Bảng điểm kiểm tra đã xử lí kết quả thực nghiệm của học sinh

lớp 6 ……… ………

Bảng 2.3 Thống kê ý kiến của học sinh về mức độ hứng thú với cách học

lịch sử theo mô hình trường học mới…… … ………

Trang 8

Nhà trường là nơi giúp cho mỗi công dân thay đổi quan niệm sống và hoạt động học tập phù hợp với yêu cầu của thời đại ngày nay, thời đại mà mỗi con người phải năng động, tích cực và sáng tạo Muốn học tập năng động, tích cực và sáng tạo thì người học phải biết phát huy cao độ tiềm năng của bản thân Vì vậy, tích cực hóa hoạt động của người học là vấn đề cốt lõi thuộc mục tiêu của giáo dục hiện đại Nó đã trở thành nguyên lí của dạy học hiện đại và được vận dụng vào tất cả các bộ môn nói chung, bộ môn lịch sử nói riêng

1.2 Đổi mới về Phương pháp dạy học ở Trường phổ thông nói chung, ở cấp THCS nói riêng đã được tiến hành trong nhiều năm nay song việc đổi mới

PP giảng dạy môn lịch sử vẫn chưa thật sự được quan tâm nhiều

Vấn đề phát huy tính tích cực họat động của học sinh đã được đặt ra trong ngành giáo dục nước ta từ những năm 1960 Cũng ở thời điểm đó, trong các trường sư phạm đã có khẩu hiệu: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Trong cải cách giáo dục lần hai, năm 1980, phát huy tính tích cực đã là một trong những phương hướng cải cách, nhằm đào tạo những con người lao động sáng tạo làm chủ đất nước

Dạy lịch sử với mục đích làm thế nào để học sinh không thờ ơ với bài giảng, hứng thú say mê tìm hiểu và phát huy được tính sáng tạo? Làm thế nào để rèn luyện năng lực tự nghiên cứu, tự hoạt động trên chính tài liệu SGK của học sinh? Vì vậy cách thức tổ chức những hình thức hoạt động của học sinh trong giờ học lịch sử ở trường trung học cơ sở giúp các em hình thành năng lực tự nghiên cứu, tự hoạt động trên văn bản là việc làm cần thiết, sát thực

Trang 9

1.3 Tình trạng quá tải học đường gần đây trở thành vấn đề rất bức xúc trong

xã hội Giờ học lịch sử là giờ học có nhiều nhân tố làm cho việc quá tải càng nặng nề hơn nên cần có một sự đổi mới

Các bài lịch sử thường có lượng kiến thức nhiều, khó và mới Đó là những bài dạy về các giai đoạn lịch sử, về các cuộc đấu tranh, về các thành tựu văn hóa, Nhưng vì yêu cầu bộ môn nên những bài học này không thể loại bỏ khỏi chương trình SGK Vấn đề đặt ra không phải ở việc cắt giảm nội dung kiến thức mà là người dạy phải có biện pháp vừa đảm bảo được mục tiêu bài dạy học, vừa giúp học sinh giảm bớt cảm giác nặng nề, thụ động trong mỗi giờ học lịch sử, để các em có thể tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập,

tự tìm tòi, khám phá kiến thức

Là giáo viên tham gia trực tiếp công tác giảng dạy môn lịch sử ở nhà trường trung học cơ sở và trung học phổ thông, tôi luôn trăn trở làm thế nào để nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học môn lịch sử Bởi vậy, việc đề ra những định hướng và biện pháp tổ chức hoạt động của học sinh trong giờ học lịch

sử là một việc làm góp phần đổi mới phương pháp dạy học nói chung, phương pháp dạy học lịch sử nói riêng Trên cơ sở đó phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập, đồng thời rèn luyện và hình thành ý chí cao đẹp của mỗi con người trên đường lập nghiệp

1.4 Toàn cầu hóa về phát triển kinh tế đòi hỏi những năng lực khác của học sinh như tính sáng tạo, tư duy logic cũng như kỹ năng giải quyết vấn đề và tự học Giáo dục theo phương pháp truyền thống ở Việt Nam chưa đủ cung cấp những kỹ năng này cho học sinh Trẻ em cần được làm quen với phương pháp học tập đổi mới ngay từ bé, để có thể sẵn sang học theo phương pháp mới và đạt được thành công trong tương lai Dự án GPE- Vnen( global partnership for education- Viet Nam esenela nuevl), mô hình trường học mới

đã chú trọng vào tính sáng tạo và kỹ năng tư duy của học sinh, làm thay đổi nhận thức của mọi người trong hệ thống giáo dục Tính đổi mới này đòi hỏi

Trang 10

đổi mới phương pháp dạy học của bản thân, đồng thời đánh giá những ưu- hạn chế của mmo hình này để giúp cho giáo viên giảng dạy lịch sử quan tâm hơn đến mô hình và áp dụng vào quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn lịch sử

2 Lịch sử vấn đề

Những công trình liên quan gián tiếp đến đề tài

Với một đề tài nghiên cứu liên quan nhiều đến vấn đề dạy và học lịch sử nhất

là giáo dục học sinh, rèn luyện học sinh phát triển toàn diện về đức, trí, thể,

mĩ thì không thể không kể đến những tác phẩm, những công trình liên quan đến phương pháp giảng dạy bộ môn, tìm hiểu về lý luận dạy học hiện đại, tâm lý học sinh bậc THPT, phương pháp dạy học lịch sử, những yêu cầu trong chương trình lịch sử THPT Đây là vấn đề được nhiều chuyên gia hàng đầu trong và ngoài nước nghiên cứu và biên soạn thành những tác phẩm, những giáo trình công phu

a/ Tài liệu nghiên cứu nước ngoài

Tiến sĩ N.G.Đairi, trong Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào, Nxb Giáo dục,

Hà Nội, 1973, đã khẳng định hoạt động nhận thức tích cực độc lập của học sinh là một điều kiện bắt buộc đối với giờ học được tổ chức một cách khoa học và có hiệu quả Đồng thời, tác giả chỉ rõ muốn tiến hành giờ học lịch sử đạt hiệu quả cao thì cần phải chuẩn bị giáo án, vận dụng linh hoạt các khâu, các phương pháp dạy học Ông cũng đưa ra một sơ đồ, có thể được coi như

Trang 11

kim chỉ nam cho người giáo viên lịch sử về cách sử dụng linh hoạt các tư liệu, nội dung trong quá trình giảng dạy

I.F.Kharlamôp, Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào Nguyễn Thị Trang và Nguyễn Ngọc Quang dịch, Nxb GD, H, 1978, đã đề cập tới những biện pháp nhằm kích thích hoạt động nhận thức cua học sinh khi trình bày bài mới, khi củng cố kiến thức, khi ôn tập tài liệu đã học và khi

tổ chức công tác tự học cho học sinh

- Robert J Marzano, Debra J Pickering, Jane E Pollock, Các phương pháp dạy học hiệu quả” (Hồng Lạc dịch, Nxb GD, TP HCM, 2005) gồm 13 chương trong đó từ chương 2 đến chương 10 trình bày các phương pháp dạy học dựa trên các công trình nghiên cứu giáo dục ở Mỹ tương ứng với 9 phương pháp dạy học có hiệu quả

B.P.Êxipôp (Liên Xô trước đậy) trong cuốn Những cơ sở của lý luận dạy học, Tập 3, Nxb Giáo dục, 1971 nhấn mạnh đến việc nâng cao tính tích cực

sự sáng tạo, tính tự lập, ham hiểu biết trong quá trình học tập của HS Nêu rõ nhiệm vụ của nhà trường là phải phát triển tính tích cực và phương pháp làm việc tự lập của HS

b/ Tài liệu nghiên cứu trong nước

Giáo trình “Giáo dục học” của Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt ( Nxb GD, H, 1987) có đề cập đến các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học TS Đặng Thành Hưng trong cuốn “Dạy học hiện đại: lí luận – biện pháp – kĩ thuật” (Nxb ĐHQG, H, 2002) đề cập đến nhiều vấn đề của lí luận dạy học hiện đại

Bộ giáo trình do Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi biên soạn, Phương pháp dạy học lịch sử tập I, II , Nxb Đại học Sư Phạm, 2010, là cuốn giáo trình về phương pháp dạy học lịch sử không chỉ của trường Đại học Sư phạm Hà Nội mà còn là của nhiều trường đại học sư phạm khác trong

cả nước Cuốn sách được biên soạn từ năm 1966, sau đó được nâng cao, bổ sung và tái bản nhiều lần để hoàn chỉnh hơn và phù hợp với mục tiêu, yêu cầu đòi hỏi của nền giáo dục nước nhà Cuốn sách khẳng định phương pháp

Trang 12

12

dạy học lịch sử là một khoa học; đề ra chức năng, nhiệm vụ của bộ môn lịch

sử ở trường THPT; đưa ra hệ thống những phương pháp dạy học lịch sử, các hình thức, phương pháp dạy học lịch sử và yêu cầu, biện pháp kiểm tra đánh giá quá trình dạy và học

Cuốn sách Hệ thống các phương pháp dạy học ở trường trung học cơ sở, do PGS.TS Trịnh Đình Tùng (Chủ biên), Nxb Đại học Sư phạm, 2005 đã cung cấp lượng kiến thức quý báu những hiểu biết về cách thức tổ chức dạy học; những cơ sở để xác định, lựa chọn hệ thống phương pháp dạy học lịch sử ở trường THCS; nêu ra hệ thống các phương pháp, phương tiện dạy học lịch sử

ở trường THCS Những kỹ năng, biện pháp sử dụng các phương pháp trong thực tiễn dạy học lịch sử

Trong cuốn sách “ Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử” của tập thể tác giả, các nhà giáo dục lịch sử do GS.TS Phan Ngọc Liên, PGS.TS Trịnh Đình Tùng, PGS.TS Nguyễn Thị Côi, TS Trần Vĩnh Tường ( đồng chủ biên), đề cập tới những quan niệm về hiệu quả bài học lịch sử và các biện pháp nâng cao hiệu quả bài học lịch sử, những kỹ năng vận dụng các biện pháp vào chuẩn bị, tiến hành các bài học cụ thể

Bài viết “Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh” của PGS TS Trịnh Đình Tùng trong cuốn “Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông (một số chuyên đề)” do GS

TS Phan Ngọc Liên chủ biên (Nxb ĐHSP, H, 2005) đã phản ánh một cách toàn diện về quan niệm tính tích cực học tập của HS trong dạy hoc lịch sử, về đặc điểm của quá trình dạy học lịch sử trong mối liên hệ với việc phát huy tính tích cực của HS, về các biện pháp chủ yếu nhằm phát huy tính tích cực của HS trong dạy học lịch sử

Ngoài ra còn phải kể đến các công trình nghiên cứu khác của các tác giả Thái Duy Tuyên, Phương pháp dạy học - Truyền thống và đổi mới, Nxb Giáo dục, 2008; Nguyễn Thị Côi (Chủ biên), Các hình thức tổ chức dạy học lịch sử ở trường phổ thông, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2005; ; Phan Ngọc Liên,

Trang 13

Trịnh Đình Tùng… Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử

ở trường trung học cơ sở, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999; Phạm Minh Hạc và các tác giả khác, Tâm lí học đại cương, NXB Giáo dục, 1987; Thái Duy Tuyên, Những vấn đề cơ bản giáo dục học hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999… Đây là những bộ sách quý, giúp cung cấp phần đáng kể kiến thức

về phương pháp dạy học bộ môn

Bên cạnh đó là tài liệu về mô hình trường học mới(Vnen), cụ thể như: Số 5735/BGDĐT- GDTH.V/v: hướng dẫn thí điểm đánh giá học sinh mô hình trường học mới Việt Nam Tài liệu kế hoạch giáo dục mô hình trường học mới(Vnen) Một số nhận xét về sách hướng dẫn học Vnen; Tài liệu hướng dẫn học tập môn lịch sử lớp 4,5,6…

Trên đây là một số tác phẩm, công trình nghiên cứu phục vụ cho việc tìm hiểu về tổ chức giờ học lịch sử, về những phương pháp dạy học hiện đại, lí luận dạy học Chắc chắn còn nhiều tác phẩm mà chúng tôi chưa có cơ hội tìm hiểu hết, hay còn có nội dung trong các tác phẩm đó mà chúng tôi chưa có điều kiện nêu ra tại đây nhưng những tác phẩm kể trên đã giúp thiết thực trong quá trình thực hiện đề tài

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình tổ chức giờ học lịch sử theo mô hình trường học mới (Vnen) cho học sinh lớp 6- THCS

4 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu tầm quan trọng, ý nghĩa về tổ chức dạy học theo mô hình trường học mới từ đó đề xuất biện pháp tổ chức một giờ học lịch sử cho học sinh lớp 6- THCS theo mô hình trường học mới

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu những tiền đề lý luận cần thiết về khả năng nhận thức của học sinh THCS trong việc chiếm lĩnh những kiến thức lịch sử

- Nghiên cứu thực trạng dạy và học lịch sử lớp 6 - THCS

Trang 14

14

- Đề xuất những biện pháp tổ chức giờ học hiệu quả cho học sinh trong giờ học lịch sử lớp 6- THCS theo mô hình trường học mới

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Khai thác các tài liệu về tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học bộ môn, nghiên cứu chương trình, nội dung SGK Lịch sử lớp 6 – THCS và các nguồn tài liệu liên quan đến dạy học theo

mô hình trường học mới ( Vnen)

- Phương pháp điều tra thực tế bao gồm: dự giờ, quan sát, điều tra xã hội học, trao đổi thảo luận với giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục

- Thực nghiệm sư phạm: Soạn giáo án và tiến hành thực nghiệm sư phạm dạy học lớp 6 tại trường THCS

- Sử dụng phương pháp toán học thống kê: Dựa vào kết quả thu được giữa các lớp thực nghiệm và đối chứng, tiến hành phân tích xử lý kết quả qua cách tính các tham số đặc trưng như trung bình cộng, …

7 Giả thuyết khoa học của luận văn

Những biện pháp tổ chức giờ học lịch sử cho học sinh lớp 6- THCS như yêu cầu đề tài đề ra sẽ góp phần nâng cao việc đổi mới phương pháp dạy học lịch

sử

8 Đóng góp của đề tài

- Khẳng định vai trò, ý nghĩa, sự cần thiết của việc đề ra các biện pháp phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh trong dạy học lịch sử lớp 6- THCS theo mô hình trường học mới

- Thực trạng của dạy học lịch sử lớp 6- THCS hiện nay

- Đề ra các biện pháp nhằm phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh trong dạy học lịch sử lớp 6- THCS theo mô hình trường học mới

9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: làm phong phú thêm lý luận phương pháp dạy học lịch

sử nói chung và những biện pháp tổ chức giờ học lịch sử hiệu quả cho học sinh lớp 6- THCS theo mô hình trường học mới nói riêng

Trang 15

- Ý nghĩa thực tiễn: Là tài liệu tham khảo cho giáo viên lịch sử ở trường THCS nói chung cũng như bản thân( tác giả) vận dụng trong quá trình giảng dạy môn lịch sử ở trường THCS

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, khuyến nghị và Tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 2 chương:

- Chương 1: Tổ chức giờ học lịch sử cho học sinh THCS theo mô hình trường học mới: lý luận và thực tiễn

- Chương 2: Một số biện pháp tổ chức giờ học lịch sử cho học sinh lớp 6- THCS theo mô hình trường học mới

Trang 16

16

CHƯƠNG 1

TỔ CHỨC GIỜ HỌC LỊCH SỬ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC

CƠ SỞ THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI:

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1.1 Khái niệm về tổ chức giờ học

* Khái niệm về tổ chức

Tổ chức là một sự sắp xếp tương hỗ và sự liên hệ qua lại của các yếu tố trong một phức hợp nào đó Tổ chức được hiểu là một trật tự xác định cả về mặt ý nghĩa chức năng cũng như về ý nghĩa cấu trúc và đối tượng sự vật

Tổ chức hoạt động là cách thức tổ chức, sắp xếp và tiến hành các buổi học với điều kiện sử dụng hợp lý thời gian, sức lực và phương tiện của giáo viên

và học sinh nhằm đảm bảo hiệu suất cao nhất của quá trình học tập

Bản chất của hoạt động tổ chức học tập là tổ chức nhận thức tích cực, sáng tạo, chủ động cho học sinh, hình thành năng lực tự tổ chức, sắp xếp quá trình học tập hợp lý, phù hợp với điều kiện của bản thân và học dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của các lực lượng giáo dục

* Khái niệm về giờ học

Nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển của khóa trình lịch sử ở nhà trường được thể hiện qua từng giờ học Mỗi giờ học là một bộ phận của hệ thống thống nhất của các giờ học được quy định theo chương trình Như vậy, giờ học là một khâu trong quá trình dạy học, nhiệm vụ của nó là thực hiện một phần chương trình, sách giáo khoa, góp phần từng bước hoàn thành mục tiêu môn học, cấp học và khóa trình Đó là hình thức cơ bản của việc tổ chức quá trình thống nhất giữa giảng dạy và học tập Việc tiến hành giờ học là điều tất yếu và bắt buộc trong việc dạy học ở phổ thông[6;11]

* Khái niệm về tổ chức giờ học

Trang 17

Là hình thức tổ chức dạy học mà thời gian học tập được quy định một cách xác định và ở một địa điểm riêng biệt, GV chỉ đạo hoạt động nhận thức có tính chất tập thể ổn định, có thành phần không đổi, đồng thời chú ý đến những đặc điểm của từng học sinh để sử dụng các PP và phương tiện dạy học nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho HS nắm vững tài liệu học tập một cách trực tiếp cũng như làm phát triển năng lực nhận thức và giáo dục HS tại lớp

Tổ chức giờ học có đặc điểm là lớp học có thành phần không đổi trong mỗi giai đoạn của quá trình dạy học GV chỉ đạo hoạt động nhận thức của cả lớp, đồng thời chú ý đến những đặc điểm của từng HS, Hs là người nắm tài liệu một cách trực tiếp tại lớp[7;11]

* Khái niệm về tổ chức giờ học lịch sử

Tổ chức giờ học lịch sử là hình thức tổ chức dạy học, trong đó nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển của khóa trình lịch sử được thể hiện qua từng bài học Là hình thức cơ bản của việc tổ chức quá trình thống nhất giữa giảng dạy và học tập: giáo viên tiến hành các công việc truyền đạt kiến thức, giáo dục, phát triển học sinh, tổ chức, hướng dẫn học sinh tích cực hoạt động nhận thức để lĩnh hội kiến thức, bồi dưỡng tư tưởng đạo đức, rèn luyện kĩ năng… Trong giờ học lịch sử, giáo viên hướng dẫn học sinh nhận thức bản chất các sự kiện, nhân vật lịch sử, có thái độ, tình cảm đúng với sự kiện và con người quá khứ Muốn giúp học sinh hiểu lịch sử giáo viên cần phát huy tính năng động, tích cực nhận thức của các em, đặc biệt là tư duy độc lập và

kĩ năng thực hành bộ môn[9;11]

1.1.1.2 Khái niệm về mô hình trường học mới

"Trường học mới" một mô hình mới của việc học diễn ra bằng cách cải thiện chất lượng và hiệu quả giáo dục Xuất phát từ Escuela Nueva(EN) là một mô hình giáo dục thiết kế tại Cô-lôm-bi-a trong những năm 1970 Nó mang lại lợi ích cho trẻ em, giáo viên, quản trị viên, gia đình và cộng đồng thông qua bốn thành phần liên quan đến nhau và có cấu trúc: chương trình học và cộng đồng, lớp học, đào tạo, quản lý và đánh giá

Trang 18

18

Với chiến lược đơn giản và có cấu trúc, Escuela Nueva thúc đẩy một môi trường lớp học mà học sinh tích cực học tập, tham gia, cộng tác Chương trìnhđược triển khai để tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng.Đó là một mô hình linh hoạt thay đổi để đáp ứng các nhu cầu của mỗi đứa trẻ riêng biệt, cho phép học sinh để hoàn thành các đơn vị và tiến tới các cấp lớp cao hơn ở tốc độ của riêng họ

Vào năm 1989, mô hình Escuela Nueva được công nhận bởi Ngân hàng Thế giới là một trong ba cải cách chính sách thành công nhất trong các nước đang phát triển trên khắp thế giới Ngoài ra, trong năm 2000 Báo cáo phát triển con người của Liên Hiệp Quốc chọn EN là một trong ba thành tựu lớn nhất trong nước

1.1.2 Cơ sở xuất phát điểm của vấn đề

1.1.2.1 Xu thế đổi mới nội dung và phương pháp dạy học

Gần đây, các cấp quản lý giáo dục từ trên xuống dưới đề cập nhiều đến đổi mới nội dung, phương pháp và cả hình thức tổ chức dạy học, coi đây như một yêu cầu bắt buộc đối với mỗi nhà trường, mỗi giáo viên Tuy vậy, trên thực tế những gì làm được hãy còn rất ít Xã hội cũng còn có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này, có tình trạng trên là do rất nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân là: Chưa có một hệ thống lý luận đầy đủ và sáng tỏ Dưới đây tác giả xin bàn về một số vấn đề: “Đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học là yêu cầu của thực tế khách quan”

Ngày xưa, dưới thời phong kiến, hình thức tổ chức dạy học phổ biến là ông thầy cầm sách giảng giải, còn các trò ngồi xung quanh lắng nghe, tập đọc, tập viết… Với hình thức dạy học đó mẫu người học trò ra trường sẽ là những người biết trọng đạo lý, tín nghĩa, người giỏi sẽ có văn hay, chữ tốt; nhưng nói chung họ là những người bạch diện thư sinh, xa rời lao động…

Ở Việt Nam sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nền giáo dục lại có những định hướng mới, đó là nền giáo dục: Dân tộc - Khoa học -

Trang 19

Đại chúng; Học đi đôi với hành, Giáo dục gắn liền với lao động sản xuất… Tuy nhiên, phải thấy rằng trong suốt nửa thế kỷ (1945-1995), đất nước ta trải qua những giai đoạn lịch sử đặc biệt Giai đoạn 1945-1954 cả dân tộc dồn sức cho cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp giành độc lập dân tộc, giai đoạn 1954-1975 mặc dù miền Bắc đã được giải phóng, nhưng thực chất

cả nước vẫn phải tập trung toàn lực cho nhiệm vụ chống Mỹ cứu nước, thống nhất Tổ quốc Từ năm 1975-1995, đất nước đối mặt với những khó khăn sau chiến tranh và lâm vào khủng khoảng kinh tế - xã hội

Hơn nữa, trong bối cảnh mới tốc độ phát triển vũ bão của khoa học kỹ thuật, lượng tri thức của nhân loại tăng lên nhanh chóng theo cấp số nhân Khái niệm “học vấn phổ thông” trong những năm đầu của thế kỷ 21 đã khác rất xa so với 20 - 30 năm về trước Con đường đưa học vấn phổ thông đến với thế hệ trẻ cũng được rộng mở với rất nhiều kênh thông tin khác nhau, mà kênh qua nhà trường chỉ là một trong số đó, cho dù có là kênh chính Những hạn chế, lạc hậu của chương trình, nội dung phương pháp giáo dục cũ cũng cần được loại bỏ để thay thế vào đó những nội dung mới, cập nhật…

Rõ ràng là việc đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục là đòi hỏi của thực tế khách quan, mang tính quy luật phổ biến mà mọi quốc gia, mọi nền giáo dục đều phải chấp thuận

1.1.2.2 Xu thế dạy học tiếp cận theo năng lực người học

Dạy học theo xu thế tiếp cận năng lực người học là chiến lược có ý nghĩa tiền đề trọng yếu cho quá trình đảm bảo chất lượng đào tạo giáo dục theo hướng liên thông với nền giáo dục đào tạo quốc tế tiên tiến, hội nhập toàn cầu

Theo nhận định của các chuyên gia giáo dục, chương trình hiện hành về cơ bản vẫn tiếp cận theo hướng nội dung, chạy theo khối lượng kiến thức, còn nặng tính hàn lâm… Có chú ý đến cả 3 phương diện kiến thức, kĩ năng và thái độ nhưng vẫn là những yêu cầu rời rạc riêng rẽ, chưa liên kết, thống nhất

và vận dụng tổng hợp thành năng lực hành động, năng lực thực hiện… Do

Trang 20

20

đó, xu hướng tới tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của chương trình giáo dục (mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục) theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học

Không chỉ là xu hướng phát triển của giáo dục, các vấn đề cụ thể như: chương trình, SGK, đào tạo giáo viên, kiểm tra, đánh giá, phương pháp dạy học cũng được nhiều chuyên gia GD trong nước quan tâm Như vậy cần phải xác định rõ ràng, cụ thể hướng tiếp cận rồi mới xây dựng bộ trắc nghiệm, đánh giá chuẩn và muốn làm tốt được điều này thì rất cần thiết làm theo xu hướng quốc tế, chúng ta xây dựng những cái chuẩn nhưng làm sao chúng ta tạo điều kiện để hỗ trợ giáo viên thực sự là có thể vẫn phải linh hoạt, sáng tạo Phát triển năng lực người học không có nghĩa là mâu thuẫn với chuyện chúng ta trang bị cho học trò kiến thức kỹ năng mà căn bản là ở chỗ muốn cho con người có được cái năng lực hành động họ lưu ý đến chuyện làm chứ không phải chỉ có tri thức, năng lực ở đây là năng lực làm, hành động chứ không chỉ có tri thức nên học được tri thức phát triển được kỹ năng để làm gì một cách hiệu qủa, chúng ta nên tham khảo để có thể học tập

Hiện nay các nhà giáo dục Việt Nam đã nghiên cứu 3 xu hướng chính của giáo dục thế giới và đang chọn lọc cách tiếp cận các xu hướng này cho nền giáo dục Việt Nam, cụ thể là cách tiếp cận theo hướng phát triển năng lực

1.1.2.3 Xu thế cải cách giáo dục trên thế giới (trong đó có Cô- Lôm- Bi- a)

Tất cả các nước đều quan tâm đến cải cách giáo dục để nâng cao chất lượng, đào tạo ra lớp người lao động mới có tri thức cao Những thay đổi căn bản trong quan niệm giáo dục, trong nội dung học tập, hình thức tổ chức và phương pháp giảng dạy đặc biệt là cải cách về phương tiện giảng dạy theo hướng sử dụng kỹ thuật đa cực ngày càng mở rộng, đã dẫn đến sự hình thành

và phát triển của một xu hướng mới nhằm phát triển giáo dục thế giới

Khi nhân loại bước vào thế kỷ 21, xu hướng toàn cầu hóa và cách mạng công nghệ với nhiều sự căng thẳng phổ biến, thì một trong những chìa khóa

để vượt qua những thách thức của thế kỷ mới là giáo dục, một trong những

Trang 21

con đường chủ yếu phục vụ sự phát triển con người sâu sắc hơn, hài hòa hơn,

và từ đó có thể đẩy lùi tình trạng nghèo khổ, bài trừ nhau, không hiểu nhau,

áp bức nhau Triết lý giáo dục này được thể hiện vào tư tưởng chủ đạo là: lấy

"học thường xuyên, suốt đời làm nền móng", xây dựng 4 trụ cột của giáo dục

"học để biết, học để làm việc, học để làm người, học để chung sống với nhau" hướng tới "một xã hội học tập" Giáo dục và học tập suốt đời sẽ cung cấp cho các cá nhân một giấy "thông hành để cơ động" mà họ rất cần có, nhằm tự điều chỉnh trước những đòi hỏi về sự mềm dẻo và sự thay đổi mà họ phải đối mặt, trong một thế giới đang chuyển động từ một xã hội công nghiệp hóa theo kiểu truyền thống sang một xã hội kiến thức đang xuất hiện

và nổi trội lên Chính vì vậy mà giáo dục sẽ có một vai trò, vị trí mới; Đối với những thách thức của tương lai, đặc biệt là của sự toàn cầu hóa, giáo dục đứng ở trung tâm của sự phát triển vừa của con người, vừa của cộng đồng, được xem như một con chủ bài cần thiết để nhân loại tiến lên, đi tìm một thế giới công bằng hơn, tốt đẹp hơn Giáo dục có sứ mạng giúp cho mọi người được phát huy tất cả tài năng và tất cả mọi tiềm lực sáng tạo Giáo dục phải cống hiến cho sự phát triển kinh tế, xã hội Hệ thống giáo dục phải mềm dẻo hơn, tạo ra sự đa dạng về ngành học, về những kênh liên thông giữa các loại hình giáo dục khác nhau hoặc giữa những kinh nghiệm nghề nghiệp và việc tiếp tục đào tạo Trong xu thế toàn cầu hoá, xây dựng một nền giáo dục “mọi người đều được học và học suốt đời” Học suốt đời là một quan điểm về giáo dục, được coi như một bước nhảy vọt về chất trong sự phát triển của giáo dục thế kỷ 21 Cốt lõi để học tập suốt đời có hiệu quả là mỗi con người phải “học cách học” Cần có tư duy mới về một nền “giáo dục suốt đời” chưa từng có trong lịch sử nhân loại với những ưu thế về tính mềm dẻo, đa dạng và khả thi trong thời gian và không gian khác nhau Học để cùng chung sống với nhau: bằng cách phát triển sự hiểu biết của người khác thông qua sự hiểu của chính mình, thông qua sự cam kết làm việc theo cộng đồng, cảm nhận sự phụ thuộc lẫn nhau Và cần xây dựng một xã hội học tập; Một xã hội trong đó rất nhiều

Trang 22

22

cơ hội học tập, ở trường cũng như trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hoá Cũng chính từ những tư duy mới nên bước sang thế kỷ XXI xu hướng của giáo dục sẽ là:

1 Xem giáo dục là một lực lượng sản xuất xã hội Chưa có thời kỳ nào trong lịch sử mà những biến động của xã hội lại sâu sắc như hiện nay Sự phát triển

vũ bão của khoa học công nghệ và sự hình thành kinh tế tri thức trên thế giới

đã bắt đầu hé mở tương lai tươi sáng cho loài người: có khả năng tiến tới một nền sản xuất tự động hoá hoàn toàn, trong đó con người phát huy cao độ khả năng sáng tạo của mình bằng lao động trí óc là chủ yếu để có thể thỏa mãn nhu cầu đời sống xã hội Nếu như cách đây gần hai thế kỷ, C.Mác đã tiên đoán “tri thức sẽ trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp” “giá trị lao động

cơ bắp trong sản phẩm làm ra sẽ giảm còn cực nhỏ”… thì ngày nay đã trở thành hiện thực

2 Xu thế toàn dân học tập suốt đời Thời đại ngày nay tri thước khoa học phát triển rất nhanh và được ứng dụng rộng rãi vào sản xuất, nó đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Đó là sự kỳ diệu nhất của khoa học trong thế kỷ

XX Nhưng mặt khác, do trình độ khoa học, tri thức cao như ngày nay, con người lại thấy rằng còn nhiều vấn đề có thể và cần phải biết mà chưa được biết; có nhiều vấn đề lẽ ra làm được nhưng chưa làm được; rất nhiều bí mật của tự nhiên cần được khám phá để phục vụ con người tốt hơn

3 Xu hướng giáo dục toàn diện trên cơ sở hướng mạnh vào tính chủ động cá nhân và thích ứng tương lai Theo UNESCO, giáo dục phải hướng vào mục tiêu đào tạo ra những người có đủ tri thức và có kỹ năng, năng lực, phẩm chất với tinh thần trách nhiệm đầy đủ của người công dân tham gia vào cuộc sống lao động Việc đòi hỏi và tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện, chú trọng đến địa vị con người, coi trọng cá tính con người đã được đặt ra; Việc kết hợp giáo dục tri thức trong hệ thống tri thức cổ điển và dẫn dắt người học khai thác tri thức tiềm ẩn, tạo lập khả năng tư duy, rèn luyện khả

Trang 23

năng sáng tạo, khả năng thích ứng, khả năng mọi người học cách chung sống với nhau đã trở thành một xu thế mới của nền giáo dục thế giới

4 Xu thế áp dụng giảng dạy đa phương tiện Kỹ thuật đa phương tiện là kỹ thuật đang được chú ý nhiều nhất Trước đây máy tính chỉ có thể xử lý được đơn cực là chữ viết và chữ số Cao hơn một chút là đồ họa nên gây cảm giác đơn điệu, khô khan, dễ nhàm chán Kỹ thuật đa cực ra đời đã thực hiện xử lý tổng hợp kiểu trao đổi trên máy vi tính cả về chữ viết, hình họa, âm thanh, hình ảnh…, chúng thiết lập mối liên kết lôgic, tập hợp thành một hệ thống Theo đà phát triển của kỹ thuật đa cực, một hình thức giảng dạy mới được hình thành - hình thức giảng dạy máy tính đa cực Nó là hệ máy tính mà thầy giáo giảng qua hệ thống máy chủ và học sinh nghe giảng qua màn máy tính Trong cách giảng dạy máy tính đa cực học sinh học tập với tư cách chủ thể

Có thể dự kiến, với sự hoàn thiện rất nhanh của kỹ thuật thông tin và kỹ thuật máy vi tính việc sử dụng giảng dạy bằng kỹ thuật đa cực là xu thế trong giáo dục đào tạo trên thế giới

Ngoài những xu thế nổi bật trên, thế giới hiện nay còn diễn ra một số xu thế khác đó là:

- Xu thế phát triển các công ty đại học

- Xu thế tư doanh hoá trường công Đã mười năm thế giới bước sang thế kỷ XXI, nhưng với nền giáo duc hiện nay của chúng ta, những tư duy mới này cần được ngẫm suy một cách thấu đáo

1.1.2.4 Xu thế chuyển quá trình dạy- học sang quá trình tự học

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của đất nước thời mở cửa, ngành giáo dục phát triển mạnh mẽ về số lượng và chất lượng Thực tế ngày càng chứng minh rằng trong quá trình học, người học đòi hỏi kiến thức, thông tin rộng hơn và nhiều hơn Vấn đề dạy học chuyển quá trình dạy-học sang quá trình tự học đã được đề cập đến khá nhiều trong các tài liệu dạy học

ở trong nước và ngoài nước

Trang 24

24

Phương pháp giúp học sinh tự học chính là phương pháp khêu gợi, kích thích, đòi hỏi con người suy nghĩ, tìm tòi và phát huy tư duy đến mức cao nhất Tự học là vấn đề quan trọng vì đó là một khâu trong quá trình thống nhất của việc dạy học, đồng thời đảm bảo sự thống nhất giáo dục gắn nhà trường với đời sống

Nếu rèn luyện cho HS có được kĩ năng, phương pháp, thói quen tự học, biết ứng dụng những điều đã học vào những tình huống mới, biết phát hiện và tự lực giải quyết những vấn đề tạo ra thì sẽ khơi dậy ở họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi người Làm được như vậy, kết quả học tập

sẽ tăng lên gấp bội, học sinh có thể tiếp tục tự học khi vào đời, dễ dàng thích ứng với cuộc sống trong xã hội

Xu thế chuyển quá trình dạy-học sang quá trình tự học, có sự thay đổi về tỉ trọng và nội dung vai trò của người dạy và người học Cần phát huy được vai trò chủ động, tích cực và sáng tạo của học sinh, đồng thời đề cao hơn vai trò của người thầy Đặt người học vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học, xem cá nhân người học – với những phẩm chất và năng lực riêng của mỗi người – vừa là chủ thể, vừa là mục đích của quá trình đó, phấn đấu tiến tới cá thể hóa quá trình học tập với sự trợ giúp của các phương tiện, thiết bị hiện đại để cho tiềm năng của mỗi học sinh được phát triển tối ưu, góp phần có hiệu quả vào xây dựng cuộc sống có chất lượng cho cá nhân, gia đình và xã hội

1.1.2.5 Tâm lý lứa tuổi học sinh lớp 6

Học sinh lớp 6 bao gồm những em trong độ tổi 11, 12 tuổi, lứa tuổi này còn gọi là tuổi thiếu niên và nó có vị trí đặc biệt trong thời kì phát triển của trẻ

em Vị trí đặc biệt này được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: tuổi quá độ, tuổi khó bảo…Những tên gọi đó nói lên tính phức tạp và tầm quan trọng của lứa tuổi này trong quá trình phát triển trẻ em

Đây là lứa tuổi chuyển tiếp, là tuổi bắc cầu từ trẻ em lên người lớn Điều đó thể hiện ở sự phát triển mạnh mẽ , thiếu cân đối về cơ thể Bên cạnh sự lớn

Trang 25

mạnh về thể chất, về nhận thức, về ý thức trách nhiệm và quyền lợi của bản thân thì sự phát triển trí tuệ của học sinh cũng dần dần được nâng cao Sự phát triển về mọi mặt( thể chất, trí tuệ, đạo đức, xã hội) đều diễn ra sự hình thành sự cấu tạo mới về chất, xuất hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành

Yếu tố đầu tiên của sự phát triển nhân cách ở lứa tuổi này là tính tích cực xã hội mạnh mẽ của bản thân, nhằm lĩnh hội những giá trị, những chuẩn mực nhất định để từ đó thiết kế nhân cách của mình Tuy nhiên ở sự phát triển tâm

lý của các em diễn ra không đồng đều về các mặt: vừa có tính trẻ con lại vừa

có tính người lớn

Quá trình phát triển tư duy của học sinh lớp 6 chính là quá trình phát triển

từ tu duy trực quan hành động đến tư duy trực quan hình tượng và sau cùng

là tư duy trừu tượng Sự thay đổi mối quan hệ giữa tư duy trực quan hình tượng với tư duy trừu tượng, trong đó tư duy trừu tượng chiếm ưu thế là đặc điểm cơ bản của hoạt động tư duy Cung với đó, vốn từ ngữ và thuật ngữ của các em tăng lên rõ rệt nên ngôn ngữ của các em khá phong phú và chính xác Các em cố gắng nói lời hay, ý đẹp

Tính độc lập, tính dũng cảm đang phát triển ở các em ở lứa tuổi này Các

em thường tranh thủ thời cơ để phát huy khả năng độc lập Mặc dù còn ít tuổi song các em cũng đã thể hiện sự quyết tâm khắc phục khó khan trong học tập, trong lao động, trong việc giúp đỡ bạn bè và rèn luyện bản thân Tuy nhiên vì kinh nghiệm sống còn ít ỏi, tri thức còn hạn chế và vì các em đánh giá mình chưa chính xác nên nhiều khia các em chưa phân biệt đúng giữa độc lập với bướng bỉnh, giữa dũng cảm và liều lĩnh, mạo hiểm, càn quấy Lứa tuổi này các em bắt đầu xuất hiện sự quan tâm tới bản thân, tới những phẩm chất nhân cách của mình Các em có nhu cầu tự đánh giá, tự xem xét mình, muốn hiểu biết mặt mạnh, mặt yếu trong nhân cách của mình, từ đó vạch ra cho mình một nhân cách tương lai Có thể nói sự tự ý thức về mình,

tự đánh giá mình chính là khẳng định mình của các em Đây là sự chuyển

Trang 26

26

biến cơ bản, là bước ngoặt quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách của các em

Nhu cầu tự ý thức được nảy sinh từ cuộc sống và hoạt động của các em Do

đó sự trưởng thành về cơ thể, các mối quan hệ được mở rộng, vốn hiểu biết được nâng cao nên các em ở tuổi này co cảm giác mình đã lớn Các em luôn mong muốn được người lớn thừa nhận và đánh giá cao Ở các em đã nảy sinh nhu cầu tự đánh giá khẳ năng của mình, tự phân tích những đặc điểm nhân cách và hành vi của mình, tìm kiếm vị trí của mình trong tập thể

Các em tích cực lính hội những giá trị khác nhau, những chuẩn mực và những phương thức hành vi, ứng xử khác nhau Những điều này tạo nên những nội dung mới của tự ý thức và là tiêu chuẩn để các em đánh giá về người khác hoặc về mình

Trong giao tiếp với mọi người, các em rất nhạy cảm với những lời nhận xét của người lớn, của bạn bè Các em để ý tới những lời đánh giá, những dư luận xung quanh mình, rồi đối chiếu những hành vi những hình thức thể hiện của bản thân mình, đối chiếu mình với những người khác Bằng cách đó, nhu cầu tự đánh giá, tự ý thức về mình đã được hình thành ở các em Sự hình thành ý thức của các em là một quá trình diễn ra dần dần Lúc đầu các em tự nhận thức những hành vi riêng lẻ, sau đó là toàn bộ hành vi của mình, cuối cùng các em ý thức được những phẩm chất đạo đức, tính cách và khả năng của mình

Học sinh lớp 6 là lứa tuổi giàu hứng thú mới mẻ, giàu ước mơ Ước mơ của các em đã có nhiều khía cạnh gần gũi cuộc sống và có nhiều trường hợp ước

mơ đã trở thành xu hướng lâu dài trong cuộc đời nhiều em Tuy nhiên nhìn chung, trí tưởng tượng đầy lãng mạn vẫn là một yếu tố thể hiện rõ rệt trong ước mơ của các em

Những phân tích trên đây cho thấy học sinh lớp 6 là lứa tuổi có khá nhiều biến đổi về mọi hoạt động, tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ năng lực, nhiều phẩm chất mới Học sinh lớp 6 có nhu cầu tự khẳng định và tự ý thức tương

Trang 27

đối cao, được đánh dấu bởi những biến chuyển về chất trong sự phát triển tự

ý thức ở các em bắt đầu xuất hiện sự quan tâm tới bản thân, tới phẩm chất nhân cách của mình, muốn biệt mặt mạnh, yếu, từ đó vạch ra cho mình một nhân cách tương lai

Từ đó nảy sinh một vấn đề là phải dựa vào những đặc điểm khả năng tâm

lý vốn có của lứa tuổi học sinh lớp 6 để có thể tạo điều kiện tốt nhất cho các

em tự đi đến nội dung bài học một cách nỗ lực, độc lập và sáng tạo Bản thân học sinh vốn là chủ thể tích cực, năng động, nhanh nhạy và tự giác nên cần

có sự huy động dạy và học văn để tạo hiệu quả tối ưu qua đó buộc học sinh không chỉ nhận thức mà còn biết đánh giá và thưởng thức văn học như một

cá thể độc lập Đó chính là con đường đi đến đích của đổi mới phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học

1.1.2.6 Triển khai thí điểm chương trình giáo dục nhà trường phổ thông

Trên cơ sở chương trình giáo dục phổ thông của Bộ, các Sở/Phòng GD&ĐT chỉ đạo các cơ sở giáo dục trung học chủ động, linh hoạt trong việc thực hiện chương trình, kế hoạch giáo dục thông qua việc đối chiếu, rà soát nội dung giữa các môn học để điều chỉnh nội dung dạy học theo hướng tích hợp, phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường và địa phương, đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng cho từng cấp

Triển khai thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông tại các trường và các địa phương tham gia thí điểm, khuyến khích các trường, khoa sư phạm Giao quyền chủ động và hướng dẫn các cơ sở giáo dục trung học xây dựng kế hoạch dạy học, phân phối chương trình chi tiết theo khung thời gian 37 tuần thực học, trong đó học kỳ I: 19 tuần, học kỳ II: 18 tuần, phù hợp với điều kiện của địa phương và từng trường trên cơ sở đảm bảo thời gian kết thúc học kì I, kết thúc năm học thống nhất cả nước, có đủ thời lượng

Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực và hiệu quả công tác quản lý đối với các

cơ sở giáo dục trung học theo hướng tăng cường phân cấp quản lý, tăng

Trang 28

28

quyền chủ động của nhà trường trong việc thực hiện kế hoạch giáo dục đi đôi với việc nâng cao năng lực quản trị nhà trường của đội ngũ cán bộ quản lý

1.1.3 Kiểu giờ học theo mô hình trường học mới (Vnen)

1.1.3.1 Thuyết kiến tạo- cơ sở lý luận của mô hình trường học mới

Lý thuyết kiến tạo là lý thuyết dạy học dựa trên việc nghiên cứu quá trình học tập của con người từ đó hình thành quan điểm dạy học phù hợp với cơ chế học tập đó Lý thuyết này coi trọng vai trò tích cực và chủ động của người học, theo từ điển tiếng việt “ Kiến tạo” là xây dựng nên Như vậy kiến tạo là một động từ chỉ hoạt động của con người tác động lên một đối tượng nhằm tạo nên một đối tượng mới theo nhu cầu bản thân

Dạy học là một hoạt động đặc biệt chỉ tồn tại trong xã hội loài người, bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức của học sinh Nhận thức của con người ở bất cứ cấp độ nào cũng đều thực hiện các thao tác trí tuệ thông qua hai hoạt động là đồng hóa và điều ứng các kiến thức và kĩ năng đã

có để phù hợp với môi trường học tập mới Lý thuyết kiến tạo là một cách tiếp cận “dạy” dựa trên nghiên cứu về việc “ học” với niềm tin : “ tri thức được kiến tạo nên bởi mỗi cá nhân người học sẽ trở nên vững chắc hơn rất nhiều so với việc nhận được từ người khác”[26;5] Lý thuyết kiến tạo về cơ bản là một lý thuyết được xây dựng dựa trên sự quan sát và nghiên cứu khoa học về cách con người học tập Lý thuyết này nói rằng con người xây dựng nên sự hiểu biết và kiến thức về thế giới cho riêng mình thông qua những kinh nghiệm và sự phản ánh những kinh nghiệm đó Khi người học gặp một điều gì mới, họ phải điều hòa nó với những ý kiến trước đây và những kinh nghiệm, có thể thay đổi những gì họ tin tưởng hoặc có thể loại bỏ đi những thông tin mới không cần thiết Trong mọi trường hợp người học luôn là người tạo nên kiến thức của riêng họ một cách tích cực và chủ động, để làm được điều này người học phải đặt câu hỏi, khám phá và đánh giá những cái

mà họ biết Như vậy lý thuyết kiên tạo nhấn mạnh đến vai trò chủ động của

HS trong quá trình học tập và cách thức HS thu nhận các tri thức đó cho bản

Trang 29

thân Do đó phải tạo một môi trường học tập để HS chủ động, tích cực xây dựng nên kiến thức cho bản thân

Thuyết kiến tạo đưa ra các nguyên tắc:

- Học sinh là trung tâm của quá trình dạy học

- Học sinh tự thiết lập tiến độ và các bước đi cho quá trình học tập, với một chương trình tự học theo từng bước và tăng cường sự ưu việt của hoạt động nhóm

- Chú trọng đến tính tích cực để đảm bảo học sinh tự tìm tòi, suy nghĩ và chủ động nắm bắt kiến thức mới, giáo viên tận dụng khả năng tổ chức các hoạt động để giúp học sinh vận dụng kiến thức kĩ năng vào cuộc sống

- Giáo viên duy trì một môi trường tích cực, cởi mở và đóng vai trò là người hướng dẫn học, chú trọng đến tính cạnh tranh đối với việc tiếp thu kiến thức của học sinh

- Sự hướng dẫn tự học từng bước được dựa trên sự hướng dẫn học bao gồm các hoạt động và bài tập diễn ra liên tiếp để hỗ trợ quá trình học tập Phương pháp hướng dẫn tự học từng bước khuyến khích học sinh có sáng kiến và sáng tạo Sự linh hoạt cho phép học sinh tiến bộ trên từng bước học tập của mình

- Nhà trường thiết lập mối liên hệ chặt chẽ giữa nhà trường với cha mẹ học sinh và cộng đồng, trong đó các thành viên của gia đình tham gia vào quá trình giáo dục và ở đây các dự án cột cộng đồng là một trụ cột chính

- Giao quyền tự quản của học sinh để đảm bảo sự tham gia tích cực của học sinh trong đời sống dân chủ trong nhà trường, với sự tăng cường các giá trị như sự hợp tác, tôn trọng và làm việc nhóm

Với các nguyên tắc trên, các hoạt động học được hướng dẫn theo một trình tự phù hợp, để có thể vận dụng tất cả các phương pháp dạy học tích cực khác Trước đây mô hình dạy học truyền thống là:

Trang 30

30

Ƣu điểm của dạy học truyền thống là cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức Loogic, chặt chẽ và nhanh chóng Tuy nhiên nó có nhƣợc điểm cơ bản là học sinh thu nhận kiến thức một cách thụ động, không phát huy đƣợc tính tích cực của học sinh trong quá trình học tập

Khi đó mô hình dạy học theo quan điểm thuyêt kiến tạo là:

Giới thiệu khái niệm

Khám phá xa hơn

Thực hành

Áp dụng

Tri thức mới kiến tạo

Vốn tri thức

Dự đoán

Kiểm nghiệm

Điều chỉnh

Trang 31

• Một số hạn chế của thuyết kiến tạo

Quan điểm cực đoan trong thuyết kiến tạo phủ nhận sự tồn tại của tri thức khách quan là không thuyết phục Một số tác giả nhấn mạnh quá đơn phương rằng chỉ có thể học tập có ý nghĩa những gì mà người ta quan tâm Tuy nhiên, trong cuộc sống đòi hỏi cả những điều mà khi còn đi học người ta không quan tâm, việc đưa các kỹ năng cơ bản vào các đề tài phức tạp mà không có luyện tập cơ bản có thể làm hạn chế kết quả học tập, lưu ý dạy học theo thuyết kiến tạo đòi hỏi nhiều thời gian, mà vấn đề này liên quan đến việc quá tải trong dạy học hiện nay

Dạy học theo quan điểm của thuyết kiến tạo nghĩa là giáo viên (GV) hướng dẫn để học sinh (HS) tự khám phá ra tri thức, thực hiện những nhiệm vụ học tập, từ đó kiến tạo tri thức cho bản thân Vì vậy, các kiểu dạy học như: dạy học khám phá, dạy học hợp tác, dạy học giải quyết vấn đề… đều được coi là các PPDH vận dụng quan điểm của lý thuyết kiến tạo Đã có nhiều tác giả nghiên cứu vận dụng TKT trong dạy học một số môn học ở trường phổ thông Nhưng ở Việt Nam vẫn còn ít tác giả nghiên cứu vận dụng TKT trong dạy học lịch sử

Trong dạy học, HS được khuyến khích sử dụng các phương pháp riêng của

họ để kiến tạo tri thức chứ không phải chấp nhận lối tư duy của người khác Như vậy, tri thức được kiến tạo một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức chứ không phải được tiếp nhận một cách thụ động từ môi trường bên ngoài Trong môi trường học tập kiến tạo, HS được học nhiều hơn khi thực sự được cuốn hút vào việc học, thay vì chỉ lắng nghe thụ động, nghĩa là TKT coi trọng vai trò chủ động và tích cực của HS trong quá trình học tập để tạo nên tri thức cho bản thân, đặc biệt tư duy của HS dần trở nên trừu tượng và phát triển hơn, HS được thúc giục để hoạt động trong tiến trình học tập Vai trò trung tâm của quá trình dạy học được chuyển từ GV sang HS, GV đóng vai trò là người cố vấn, dàn xếp, nhắc nhở và giúp HS phát triển, đánh giá những

Trang 32

32

hiểu biết và việc học của mình Cả GV và HS không chỉ xem kiến thức là một thứ để nhớ mà còn xem kiến thức là một cấu trúc động Quy trình dạy học theo TKT có cấu trúc như sau:

Theo quy trình này, việc dạy một kiến thức mới không phải bắt đầu từ việc

GV thông báo kiến thức đó mà phải bắt đầu từ việc khám phá của HS về kiến thức cần lĩnh hội HS có cơ hội bộc lộ những quan điểm của mình, lắng nghe quan điểm của bạn, được tranh luận, thống nhất ý kiến Qua lắng nghe, theo dõi những quan điểm của HS, GV sẽ phát hiện ra nhiều yếu tố bất ngờ hoặc khác thường, GV tôn trọng những ý kiến của HS, khuyến khích HS lựa chọn con đường đi đúng để tiếp cận được tri thức Kết quả của hoạt động đó, HS

có được một hệ thống kiến thức phù hợp với yêu cầu, đồng thời các em tìm

ra được con đường chiếm lĩnh tri thức

1.1.3.2.Mục tiêu của mô hình trường học mới (Vnen)

Mô hình trường học mới (VNEN) là kiểu mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại Mô hình này dựa trên kết quả và thành tựu đổi mới giáo dục của quốc tế, vận dụng cách làm của giáo dục Colombia một cách sáng tạo, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của giáo dục Việt Nam Mô hình này đã được UNICEF, UNESCO, Ngân hàng Thế giới (WB) ủng hộ và đánh giá cao

Khám phá

Khảo sát cụ thể

Phản ánh Kiến tạo tri thức

mới Câu hỏi của HS

Trang 33

Theo Bộ GD&ĐT, mô hình VNEN tăng cường sự tương tác giữa giáo viên

và học sinh, tạo không khí học tập nhẹ nhàng, thân thiện, giáo viên phải tự trau dồi, nâng cao trình độ, học sinh sẽ không học thụ động mà bắt buộc phải

có sự trao đổi, tư duy với giáo viên và các bạn cùng lớp, mô hình trường học mới sẽ tập trung vào việc chuyển đổi hình thức giảng dạy truyền thụ từ phía thầy giáo sang việc để cho học sinh tự học là chính, từ đó sẽ nâng cao hiệu quả tiếp nhận đối với học sinh

Chương trình ban đầu nhằm mục đích nông thôn đa cấp trường học một hoặc hai giáo viên cùng một lúc giảng dạy tất cả các lớp khác nhau Các trường học như thế này thường bị cô lập, và có nhu cầu lớn giúp đỡ Vnen là một sự đổi mới xã hội công nhận trên toàn cầu và đã được chứng minh làm tăng chất lượng giáo dục Nó mang lại lợi ích cho trẻ em, giáo viên, quản trị viên, gia đình và cộng đồng thông qua bốn thành phần liên quan đến nhau và

có cấu trúc: chương trình học và cộng đồng, lớp học, đào tạo, quản lý và đánh giá

1.1.3.3 Kế hoạch của dự án mô hình trường học mới

Mô hình trường học mới được Quỹ hỗ trợ phát triển giáo dục toàn cầu (GPE) viện trợ không hoàn lại 84,6 triệu USD và ủy thác qua Ngân hàng Thế giới (WB) Trong 3 năm từ tháng 6/2012 - 6/2015, mô hình sẽ được triển khai ở 1.447 trường tiểu học tại 63 tỉnh, thành Đối với các trường có đông học sinh là người dân tộc thiểu số, bên cạnh việc chú trọng giảng dạy song ngữ (tiếng Việt và tiếng dân tộc) sẽ quan tâm đến việc hỗ trợ, vận động trẻ khuyết tật, trẻ có hoàn cảnh khó khăn đến lớp Thông qua việc áp dụng những kinh nghiệm trong giảng dạy ở một số nước tiên tiến trên thế giới, dự

án phấn đấu đến năm 2015, tất cả trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và con em các dân tộc thiểu số được đi học và hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học bắt buộc, miễn phí và có chất lượng.VNEN sẽ là mô hình trường học tương lai lý tưởng dành cho học sinh vùng núi và các vùng chưa phát triển ở nước ta sau giai đoạn thí điểm

Trang 34

34

Từ những kết quả đạt được thời gian qua, Vnen sẽ được nối tiếp thực hiện ở cấp THCS Nhiều chuyên gia giáo dục, các thầy, cô giáo và các bậc phụ huynh tin rằng, VNEN sẽ là mô hình trường học tương lai ở nước ta sau giai đoạn thí điểm.Có thể thấy đây là tín hiệu rất đáng mừng, góp một hướng đi tích cực trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học

1.1.3.3 Nội dung của dự án mô hình trường học mới (Vnen)

Mô hình trường học mới kết hợp bốn thành phần quan trọng vào mô hình của nó: chương trình giảng dạy, cộng đồng , đào tạo và đánh giá Các khía cạnh đều được giải quyết với một chiến lược đơn giản và cấu trúc:

- Quá trình hoạt động học tập của mô hình trường học mới tập trung vào học sinh

- Đây là chương trình có liên quan đến cuộc sống hàng ngày của học sinh

- Mô hình trường học mới cho phép sự linh hoạt với các đánh giá

- Tạo ra mối quan hệ gần gũi hơn giữa nhà trường và cộng đồng

- Mô hình nhằm nhấn mạnh việc thúc đẩy các giá trị dân chủ và khuyến khích sự tham gia của học sinh

- Đào tạo hiệu quả và thiết thực hơn cho giáo viên

Chuyển giáo viên vào vai trò của các lớp học hỗ trợ

Tạo ra một cách tiếp cận mới về sách giáo khoa tương tác và hướng dẫn học tập.Đề cao vai trò tự học và tích cực tham gia các hoạt động dưới sự hướng dẫn theo một trình tự phù hợp , mô hình trường học mới tập trung vào học sinh:

- Khả năng áp dụng kiến thức với các tình huống mới

- Học để suy nghĩ kỹ năng nhận thức

- Tăng cường lòng tự trọng

- Các hoạt động thúc đẩy dân chủ, hợp tác và đoàn kết

- Kỹ năng cơ bản trong ngôn ngữ, toán học, và khoa học xã hội và tự nhiên

Trang 35

- Khuyến khích làm việc theo nhóm học sinh học theo nhóm nhỏ để thúc đẩy cuộc trò chuyện và tương tác

- Học tập theo tốc độ của mỗi cá nhân học sinh

- Cơ hội bình đẳng cho trẻ em trai và trẻ em gái tham gia

Cách tổ chức dạy học mới của Dự án quy định cách thức sắp xếp lại lớp học: + Trang trí phòng học làm sao để chúng trở thành nơi có môi trường thân thiện nhất đối với trẻ: màu sắc phải sinh động; có các góc học tập theo môn học, HĐGD; có góc cộng đồng; góc thư viện; hộp thư bày tỏ ý kiến cá nhân…

Lớp học thực nghiệm mô hình VNEN tại trường Tiểu học Tả Thanh Oai

được trang trí rất sinh động theo chủ để hàng tháng

Trang 36

36

Tuy nhiên, tất cả những thứ đó không phải chỉ để trang trí cho đẹp mắt mà phải hướng tới mục đích phục vụ các nhu cầu học tập và hoạt động mang tính xã hội của mỗi học sinh Với ý tưởng trên, nhà trường không còn là nơi chỉ biết dạy chữ mà nhà trường phải có sứ mệnh tạo ra CON NGƯỜI XÃ HỘI Có nghĩa là khi vào trường, trẻ em không chỉ học chữ với mục đích ngắn là đọc thông viết thạo mà phải được học- giáo dục toàn diện để chúng

sẽ trở thành con người xã hội- không ngỡ ngàng, không bị khớp, không bị rủi

ro khi trở thành con người xã hội Phương châm học để biết chung sống, học

để làm người do Liên hợp quốc đưa ra cho GD thế kỷ XXI phải được cụ thể hóa trong mỗi nhà trường phổ thông

+ Cách sắp xếp bàn ghế thay vì bàn ghế được sắp theo hàng ngang như trước đây, các lớp học VNEN yêu cầu sắp xếp lại bàn ghế theo nhóm học sinh: nhóm 4 hoặc nhóm 6

Lớp học theo dự án mô hình trường học mới tại trường Tiểu học Tả Thanh

Oai- Thanh Trì- Hà Nội

Sự thay đổi trong cách sắp xếp bàn ghế tạo ra sự thay đổi về vị trí chỗ ngồi

từ đó, tạo ra sự thay đổi về tâm thế học tập và quan hệ tương tác của đứa trẻ

Trang 37

Với cách ngồi theo hàng ngang, trẻ không cần tương tác với nhau, trẻ chỉ có một quan hệ tương tác: cô và trò Từ đó, nẩy sinh tâm lý lấy cô giáo làm trung tâm của quá trình học tập; hoạt động học tập chủ yếu từ nghe giảng- ghi nhớ- vận dụng và tái hiện Cách học này chỉ tạo nên những bộ óc biết ghi nhớ và tái hiện mà không tạo nên được con người có các năng lực mà xã hội đang cần- năng lực tự chủ, năng lực phối hợp nhóm, năng lực tư duy, năng lực sáng tạo

1.1.3.5.Đặc trưngcủa giờ học lịch sử theo mô hình trường học mới

Trên cơ sở thuyết kiến tạo, trong quá trình dạy học, mô hình sẽ được phân ra

thành các chủ đề Trong mỗi chủ đề, các đơn vị kiến thức có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thành một thể thống nhất Mỗi đơn vị kiến thức đều được hướng dẫn học theo một cấu trúc thống nhất gồm các hoạt động, trong đó có hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm, hoạt động với giáo viên và hỗ trợ từ gia đình

Nếu như ở cấp Tiểu học được phân thành 3 phần cơ bản:

Ở cấp Trung học cơ sở bao gồm 5 hoạt động cơ bản sau:

- Thứ nhất là hoạt động khởi động

+ Mục đích: Giúp học sinh huy động những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm của bản thân để giải quyết các vấn đề có nội dung liên quan đến bài học mới, rèn luyện cho học sinh năng lực cảm nhận về khái niệm, sự hiểu biết, khả năng biểu đạt, tính toán, đề xuất chiến lược, năng lực tư duy….Đồng thời

Hoạt động cơ bản Hoạt động thực

hành

Hoạt động ứng dụng

HĐ khởi

động

HĐ tìm hiểu tri thức mới

HĐ thực hành

HĐ ứng dụng

HĐ bổ sung

Trang 38

38

giúp giáo viên tìm hiểu xem học sinh có hiểu biết như thế nào về những vấn

đề trong cuộc sống có liên quan đến nội dung của bài học

+ Nội dung: Nêu các câu hỏi gợi mở hoặc yêu cầu đưa ra ý kiến nhận xét về những vấn đề có liên quan đến nội dung kiến thức sẽ đề cập trong bài học + Phương thức hoạt động: Các hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm được tổ chức linh hoạt sao cho vừa giúp học sinh huy động kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm của bản thân để giải quyết vấn đề, vừa xây dựng được ý thức hợp tác, tinh thần học tập lẫn nhau trong học sinh Việc trao đổi với giáo viên có thể thực hiện trong quá trình hoặc sau khi đã kết thúc hoạt động nhóm

+ Đánh giá: Thông qua kết quả học tập của học sinh, giáo viên đánh giá được những hiểu biết ban đầu của học sinh về các vấn đề liên quan đến kiến thức trong bài học

- Thứ hai là hoạt động tìm hiểu kiến thức mới

+ Mục đích: Giúp HS tìm hiểu nội dung của bài học, rèn luyện cho HS năng lực cảm nhận về khái niệm khoa học, cung cấp cho HS cơ sở khoa học của những kiến thức được đề cập đến trong bài học

+ Nội dung: Trình bày những lập luận về cơ sở khoa học của những kiến thức liên quan đến kinh nghiệm sống của HS được đề cập đến ở hoạt động khởi động, đó cũng chính là những kiến thức mà học sinh sẽ được học trong bài học

Có ba loại câu hỏi gắn với bài học về tìm hiểu kiến thức mới

 Câu hỏi xác thực(là gì?): yêu cầu HS trả lời trực tiếp về nội dung được

Trang 39

Hướng dẫn HS hoạt động theo nhóm để thực hiện nhiệm vụ, kết thúc hoạt động nhóm, HS phải trình bày kết quả và thảo luận với GV

+ Đánh giá: Kết thúc hoạt động này, GV có thể đánh giá được sự hiểu biết của HS về nội dung bài học Nếu HS không đạt được sự hiểu biết cần thiết thì cần phải có biện pháp hỗ trợ thích hợp

- Thứ ba là hoạt động thực hành

+ Mục đích: Yêu cầu HS phải thực hành vận dụng những kiến thức vừa học được ở hoạt động tìm hiểu kiến thức mới để giải quyết những vấn đề có liên quan Thông qua đó GV xem HS đã nắm được kiến thức hay chưa và nắm ở mức độ nào

+ Nội dung: Đây là những hoạt động gắn với thực tiễn bao gồm những nhiệm

vụ như trình bày, viết văn, bài thực hành tạo ra tư duy chặc chẽ, yêu cầu HS phải vận dụng những hiểu biết đã học vào giải quyết các bài tập cụ thể, giúp

HS thực hiện tất cả những hiểu biết ở trên lớp Ví dụ như đối chiếu, so sánh giữa kinh nghiệm ( hoạt động khởi động) với kiến thức khoa học( hoạt động tìm hiểu kiến thức mới) làm các bài báo cáo( Powerpoint hay poster) về các kiến thức khoa học trong bài…

+ Phương thức hoạt động: HS có thể được hướng dẫn hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm để hoàn thành các câu hỏi, bài tập, bài thực hành… Đầu tiên nên cho HS hoạt động cá nhân để HS hiểu và biết được mình hiểu biết kiến thức như thế nào, có đóng góp gì vào hoạt động nhóm và xây dựng vào các hoạt động của tập thể lớp Sau đó cho HS hoạt động nhóm để trao đổi chia sẻ kết quả mình làm được, thông qua đó HS có thể học tập lẫn nhau,

tự sửa lỗi cho nhau, giúp cho quá trình học tập của HS hiệu quả hơn Kết thức hoạt động này HS sẽ trao đổi với GV để được bổ sung, uốn nắn những kết quả chưa đúng

+ Đánh giá: Thông qua hoạt động này, đánh giá được kĩ năng linh hoạt, nhạy bén của HS Nếu HS không đạt cần có kế hoạch bồi dưỡng thêm

- Thứ tư là hoạt động ứng dụng

Trang 40

40

+ Mục đích: Khuyến khích HS nghiên cứu, sáng tạo, tìm ra cái mới theo sự hiểu biết của mình, tìm phương pháp giải quyết vấn đề và đưa ra cách giải quyết vấn đề khác nhau, góp phần hình thành năng lực học tập với gia đình

và xã hội

+Nội dung: Hoạt động ứng dụng khác với hoạt động thực hành Hoạt động thực hành là làm bài cụ thể do GV hoặc sách hướng dẫn đề ra còn hoạt động ứng dụng là HS tự đặt ra bài tập cho mình Đây là hoạt động triển khai ở gia đình, địa phương, động viên, khuyến khích HS nghiên cứu, sáng tạo, giúp HS gần gũi với gia đình, địa phương HS tự đặt ra bài tập cho mình, trao đổi, thảo luận với gia đình và cộng đồng để cùng giải quyết Cần nêu những vấn

đề cần phải giải quyết và yêu cầu HS phải thể hiện năng lực thông qua trao đổi, thảo luận với các bạn trong lớp, giáo viên, gia đình, địa phương Có một yếu tố quan trọng để giúp HS sáng tạo là các vấn đề đưa ra không chỉ gắn chặt với những gì đã học trên lớp

+ Phương thức hoạt động: HS được hướng dẫn hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm để trao đổi với các bạn về nội dung và kết quả về bài tập do mình đặt ra, sau đó thảo luận với giáo viên Đặc biệt cần lưu ý hướng dẫn HS trao đổi, thảo luận với gia đình về những vấn đề cần giải quyết hoặc nêu những câu hỏi để các thành viên trong gia đình trả lời…Hoạt động với địa phương,

xã hội như tìm hiểu thêm về những vấn đề thực tiễn có liên quan đến nội dung bài học Hoạt động với GV có thể là trao đổi những kết quả và yêu cầu đánh giá

+ Đánh giá: Kết quả hoạt động này cho phép đánh giá được năng lực vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống thực tiễn, năng lực nghiên cứu

và sáng tạo của HS

- Thứ năm là hoạt động bổ sung

+ Mục đích:Khuyến khích HS tiếp tục tìm hiểu và mở rộng kiến thức để không bao giờ được hài lòng và hiểu rằng ngoài những kiến thức được học trong nhà trường còn rất nhiều điều cần phải tiếp tục học

Ngày đăng: 08/07/2015, 11:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG THEO DếI QUÁ TRèNH HỌC TẬP - Tổ chức giờ học lịch sử cho học sinh lớp 6- Trung học cơ sở theo mô hình trường học mới (Vnen)
BẢNG THEO DếI QUÁ TRèNH HỌC TẬP (Trang 42)
Bảng 1.1. Số lƣợng học sinh và giáo viên đƣợc điều tra, khảo sát     (Đơn vị: người) - Tổ chức giờ học lịch sử cho học sinh lớp 6- Trung học cơ sở theo mô hình trường học mới (Vnen)
Bảng 1.1. Số lƣợng học sinh và giáo viên đƣợc điều tra, khảo sát (Đơn vị: người) (Trang 43)
Bảng 1.4. Mức độ tiến hành đổi mới phương pháp dạy học  của giáo viên khi giảng dạy - Tổ chức giờ học lịch sử cho học sinh lớp 6- Trung học cơ sở theo mô hình trường học mới (Vnen)
Bảng 1.4. Mức độ tiến hành đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên khi giảng dạy (Trang 45)
Bảng 1.5: Bảng khảo sát về hình thức học của học sinh - Tổ chức giờ học lịch sử cho học sinh lớp 6- Trung học cơ sở theo mô hình trường học mới (Vnen)
Bảng 1.5 Bảng khảo sát về hình thức học của học sinh (Trang 47)
Bảng 1.8: Mức độ tiến hành giảng dạy lịch sử theo mô hình trường học  mới của giáo viên - Tổ chức giờ học lịch sử cho học sinh lớp 6- Trung học cơ sở theo mô hình trường học mới (Vnen)
Bảng 1.8 Mức độ tiến hành giảng dạy lịch sử theo mô hình trường học mới của giáo viên (Trang 50)
Bảng 1.7: Kết quảquá trình tiến hành dạy học lịch sử theo mô hình  trường học mới - Tổ chức giờ học lịch sử cho học sinh lớp 6- Trung học cơ sở theo mô hình trường học mới (Vnen)
Bảng 1.7 Kết quảquá trình tiến hành dạy học lịch sử theo mô hình trường học mới (Trang 50)
Bảng 1.9: Kết quả điều tra về nhận thức, thái độ, hành vi của học sinh  khi học theo mô hình trường học mới (vnen) - Tổ chức giờ học lịch sử cho học sinh lớp 6- Trung học cơ sở theo mô hình trường học mới (Vnen)
Bảng 1.9 Kết quả điều tra về nhận thức, thái độ, hành vi của học sinh khi học theo mô hình trường học mới (vnen) (Trang 51)
Hình 13.  Nghề  trồng  trọt  phát  triển - Tổ chức giờ học lịch sử cho học sinh lớp 6- Trung học cơ sở theo mô hình trường học mới (Vnen)
Hình 13. Nghề trồng trọt phát triển (Trang 71)
Bảng 2.1. Bảng điểm kiểm tra kết quả thực nghiệm   của học sinh lớp 6 - Tổ chức giờ học lịch sử cho học sinh lớp 6- Trung học cơ sở theo mô hình trường học mới (Vnen)
Bảng 2.1. Bảng điểm kiểm tra kết quả thực nghiệm của học sinh lớp 6 (Trang 85)
Bảng 2.2. Bảng điểm kiểm tra đã xử lí kết quả thực nghiệm  của học sinh lớp 6 - Tổ chức giờ học lịch sử cho học sinh lớp 6- Trung học cơ sở theo mô hình trường học mới (Vnen)
Bảng 2.2. Bảng điểm kiểm tra đã xử lí kết quả thực nghiệm của học sinh lớp 6 (Trang 86)
Hình 2  : Khởi nghĩa và kháng chiến Hai Bà Trƣng (40 - 43) - Tổ chức giờ học lịch sử cho học sinh lớp 6- Trung học cơ sở theo mô hình trường học mới (Vnen)
Hình 2 : Khởi nghĩa và kháng chiến Hai Bà Trƣng (40 - 43) (Trang 108)
Hình 3:  Hướng tiến quân của Hai Bà Trưng - Tổ chức giờ học lịch sử cho học sinh lớp 6- Trung học cơ sở theo mô hình trường học mới (Vnen)
Hình 3 Hướng tiến quân của Hai Bà Trưng (Trang 109)
Hình  4:  Lễ  thành  lập  nước  Vạn - Tổ chức giờ học lịch sử cho học sinh lớp 6- Trung học cơ sở theo mô hình trường học mới (Vnen)
nh 4: Lễ thành lập nước Vạn (Trang 110)
Hình 7: Lăng Bà Triệu (Thanh Hóa) - Tổ chức giờ học lịch sử cho học sinh lớp 6- Trung học cơ sở theo mô hình trường học mới (Vnen)
Hình 7 Lăng Bà Triệu (Thanh Hóa) (Trang 112)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w