1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố cần thơ (TT)

27 393 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 698,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm tắt nội dung luận ánMục tiêu chung của luận án là đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa cho nông hộ ở TP. Cần Thơ trên cơ sở kết quả ước lượng hiệu quả kinh tế và ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa thông qua hệ thống số liệu sơ cấp được thu thập ngẫu nhiên từ 815 nông hộ ở Vĩnh Thạnh, Thới Lai, Cờ Đỏ và Phong Điền (là 4 huyện sản xuất lúa của TP. Cần Thơ). Nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp phân tích hồi quy Tobit ước lượng ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ TP. Cần Thơ.Kết quả ước lượng hiệu quả kinh tế và ước lượng mô hình phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh tế cho thấy trong sản xuất lúa của nông hộ – hiệu quả kinh tế chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố đo lường (trực tiếp hay gián tiếp) đó là năng lực lựa chọn các yếu tố đầu vào và đầu ra của nông hộ (mua vật tư, bán lúa, tiền nhàn rỗi). Ngoài ra, cũng còn có các yếu tố liên quan (quy mô diện tích, khuyến nông, khoảng cách từ nơi ở đến trung tâm, v.v.). Đồng thời, các yếu tố nêu trên lại chịu tác động bởi chính sách của Chính phủ (nhà quản lý), DN, thương lái, v.v. (ngoại vi) và năng lực khai thác các nguồn lực của bản thân nông hộ (nội tại). Tuy nhiên, kết quả phân tích cũng cho thấy trong các yếu tố ảnh hưởng đến mức hiệu quả kinh tế đạt được, đến khoảng 90% các yếu tố mà nông hộ có thể kiểm soát được.Trên cơ sở đó, luận án đã đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa cho nông hộ ở TP. Cần Thơ nói riêng hay nông hộ vùng ĐBSCL nói chung.2. Những kết quả mới của luận án: Kết quả phân tích cho thấy khi diện tích canh tác của nông hộ trồng lúa nhỏ nhỏ hơn 5,08 ha thì hiệu quả kinh tế tăng theo quy mô. Vì vậy, nông hộ có đủ điều kiện nên phát triển theo hướng đầu tư mua thêm ruộng đất để đạt hiệu quả kinh tế cao hơn. Tuy nhiên, khi diện tích đất canh tác tăng vượt quá 5,08 ha thì nông hộ sẽ phải thuê mướn lao động và khó kiểm soát động cơ làm việc của họ nên hiệu quả kinh tế sẽ giảm. Vì vậy nông hộ có thể hợp tác sản xuất bằng cách tham gia hợp tác xã. Nếu nông hộ chủ động tham gia thị trường và trực tiếp bán lúa cho DN thì hiệu quả hơn là bán cho thương lái. Vì vậy, cần tăng cường phát triển liên kết dọc giữa công ty và người sản xuất nhằm rút ngắn kênh thị trường chuỗi, giảm tác nhân trung gian và chi phí trung gian. Hộ sản xuất theo mô hình luân canh đạt hiệu quả cao hơn hộ sản xuất theo mô hình độc canh. Nông hộ nên canh tác 2 vụ lúa, xen canh 1 vụ màu, kết hợp với nuôi tôm, cá trên đồng ruộng, trồng cây ăn trái. Chính phủ cần có chính sách khuyến khích nông hộ hạn chế độc canh cây lúa. Tỷ trọng số tiền mua chịu vật tư trong tổng số tiền mua vật tư nông nghiệp của nông hộ càng nhiều thì tính phi hiệu quả trong sản xuất lúa càng cao. Vì vậy, cần phải phát triển thị trường tín dụng nông thôn để kịp thời hỗ trợ tín dụng chính thức cho nông hộ. Vốn tự tích lũy của nông hộ đóng vai trò quan trọng đối với hiệu quả sản xuất lúa của nông hộ là do tính chủ động. Vốn nhàn rỗi chủ động xử lý khi có những việc đột xuất hay bất thường trước khi vay được vốn tín dụng. Hệ thống kết cấu hạ tầng tốt (thủy lợi, đường giao thông, thông tin liên lạc, hệ thống điện, bến cảng, kho bãi, chợ đầu mối, v.v.) sẽ góp phần tăng cường khả năng trao đổi, mua bán sản phẩm, qua đó làm tăng thu nhập của người dân nông thôn nói chung và của nông hộ sản xuất lúa nói riêng. Hoạt động hỗ trợ thông tin đầu ra và phương thức bán lúa (trực tiếp) có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ. Tương tự, khi được hỗ thông tin về thị trường đầu vào (giống, phân và nông dược), nông hộ có thể chủ động chọn lựa yếu tố đầu vào phù hợp, giúp cây lúa sinh trưởng tốt và tăng năng suất nên hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa sẽ tăng.3. Các ứng dụng trong thực tiễn, các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu:3.1. Khả năng ứng dụng trong thực tiễn Trên cơ sở lý thuyết về ước lượng hiệu quả kinh tế cũng như đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ một cách đầy đủ và có độ tin cậy cao của luận án sẽ là cơ sở để cho các nghiên cứu sau tham khảo. Từ các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản suất lúa của nông hộ ở TP. Cần Thơ nói riêng và nông hộ ở khu vực ĐBSCL nói chung, giúp cho các nhà lập chính sách, các nhà quản lý cũng như nông hộ khắc phục những yếu kém dẫn đến phi hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa.3.2. Vấn đề bỏ ngỏ cần tiếp tục nghiên cứu Những tác động của khoa học kỹ thuật đến hiệu quả trong sản xuất lúa của nông hộ. Ảnh hưởng của cơ giới hóa đến hiệu quả trong sản xuất lúa của nông hộ. Tác động của hệ thống chính sách vĩ mô của Chính phủ đến hiệu quả trong sản xuất lúa của nông hộ.

Trang 1

GIẢI PH P N NG C O HI U QUẢ INH TẾ

TRONG SẢN XUẤT LÚA CỦ N NG H

Trang 2

C NG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

gười hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê hương inh

- Phản biện 1: TS Thái Anh Hòa

- Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Phú Son

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường

Họp tại ………

Vào hồi …… giờ ……… ngày …… tháng … năm …

Có thể tìm hiểu luận án tại:

+ Thư viện Quốc gia Việt Nam

+ Trung tâm thông tin - Tư liệu

+ Thư viện trường

Trang 3

3

Chương 1 GIỚI THI U 1.1 Lý do chọn đề tài

TP Cần Thơ - với diện tích lúa gần 89.000 ha và hệ số sử dụng đất khoảng 2,50 lần - sản xuất bình quân trên 1 triệu tấn lúa mỗi năm Đặc biệt, năm 2013, sản lượng lúa của thành phố đạt 1.370.354 tấn (tăng 3,80% so với năm 2012) Tuy nhiên, thu nhập bình quân của lao động nông thôn (kể cả lao động trồng lúa) ở thành phố năm 2013 chỉ khoảng 25,80 triệu đồng/người/năm, bằng 41% thu nhập bình quân đầu người của thành phố (62,72 triệu đồng).1 Đó là hệ quả của việc sản xuất nông nghiệp bị lệ thuộc vào thời tiết, giá đầu vào và đầu ra biến động thất thường, thiếu hệ thống bảo hiểm rủi ro nông nghiệp, hệ thống giao thông kém phát triển và thiếu vốn Mặt khác, sự thiếu liên kết giữa nông hộ và doanh nghiệp tạo điều kiện để các tác nhân trung gian (như “cò” lúa, thương lái và doanh nghiệp) thụ hưởng phần lớn lợi nhuận trong chuỗi giá trị lúa gạo thay vì nông hộ - người trực tiếp làm ra hạt lúa

Để góp phần tìm hiểu sâu hơn về nguyên nhân của những nhược điểm trên và làm

sáng tỏ thêm nhận định của các nghiên cứu trước đây, luận án “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa cho nông hộ ở TP Cần Thơ” được thực hiện

nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của nông hộ sản xuất lúa,

để từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế và cải thiện thu nhập cho nông hộ trồng lúa ở TP Cần Thơ nói riêng và ở ĐBSCL nói chung

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

(ii) Ước lượng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ (iii) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ

(iv) Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa cho nông hộ

ở TP Cần Thơ nói riêng và ở ĐBSCL nói chung

2.1.3 Nội dung nghiên cứu

1 Nguồn: iên giám Thống kê T Cần Thơ, 2013

Trang 4

Căn cứ vào mục tiêu vừa đề cập, luận án có các nội dung như sau:

(i) Mô tả tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước để làm cơ sở lý thuyết cho các phân tích và đề xuất trong luận án

(ii) Trên cơ sở lý thuyết về phân tích hiệu quả kinh tế và các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, luận án xây dựng mô hình ước lượng hiệu quả kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ (iii) Dựa trên số liệu thứ cấp thu thập được và kết quả của các nghiên cứu có liên quan, luận án mô tả thực trạng về tình hình sản xuất lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ (iv) Trên cơ sở số liệu thu thập từ 815 nông hộ trồng lúa được chọn ngẫu nhiên

ở TP Cần Thơ, luận án ước lượng hiệu quả kinh tế và ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ

(v) Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận án đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa cho nông hộ ở TP Cần Thơ nói riêng và nông hộ ở khu vực ĐBSCL nói chung

1.3 Phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu

- Hệ thống hóa các lý thuyết về ước lượng hiệu quả kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ

- Phân tích thực trạng sản xuất và tiêu thụ lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ

- Ước lượng hiệu quả kinh tế và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa cho nông hộ ở TP Cần Thơ nói riêng và ở ĐBSCL nói chung

1.3.2 Giới hạn đối tƣợng nghiên cứu

Luận án đi sâu phân tích thực trạng sản xuất lúa để nhận dạng các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ để đề xuất giải pháp cải tiến

1.3.3 Giới hạn vùng nghiên cứu

TP Cần Thơ có 5 quận nội thành và 4 huyện ngoại thành Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP Cần Thơ, hoạt động sản xuất lúa của thành phố chủ yếu tập trung ở 4 huyện (đó là, Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, Thới Lai và Phong Điền).2Bốn huyện này chiếm đến 84,64% diện tích lúa và 84,99% sản lượng lúa năm 2013 của toàn thành phố.3 Vì vậy, để đảm bảo tính đại diện, luận án sẽ thu thập số liệu ở 4 huyện nói trên

2

Nguồn: Sở ông nghiệp và hát triển nông thôn T Cần Thơ, “Báo cáo tổng kết năm 2013”

3 Nguồn: iên giám thống kê T Cần Thơ, 2013.

Trang 5

5

1.3.4 Giới hạn thời gian nghiên cứu

Số liệu sử dụng trong luận án trải trong giai đoạn 5 năm (2009 - 2013) Bên cạnh đó, luận án cũng sử dụng số liệu dự báo và định hướng phát triển của các cơ quan hữu quan

- Mô tả được thực trạng sản xuất lúa, đo lường hiệu quả kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ

- Giúp các nhà lập chính sách, các nhà quản lý cũng như nông hộ khắc phục những yếu kém dẫn đến phi hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa

Chương 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Hiệu quả sản xuất nông nghiệp nói chung và hiệu quả trong sản xuất lúa nói riêng đã được nhiều học giả nghiên cứu từ khá sớm, nổi bật nhất là Theodore (1964), Rizzo (1979) và Ellis (1993) Đa số các nhà kinh tế học thường sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) hay phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) để ước lượng hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân phối và hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong sản xuất lúa của nông hộ nói riêng

2.1 Các nghiên cứu nước ngoài

2.1.1 Các nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA)

Bắt đầu từ Farrell (1957), sau đó phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu khác Đến 2005, Coelli & cộng sự đã thiết lập mô hình phân tích DEA để đo lường hiệu quả kinh tế Với đóng góp của

Charnes, thuật ngữ “Data Envelopment Analysis” (DEA) trở nên phổ biến từ năm

1978 Ngoài ra, các tác giả như Charnes, Cooper & Rhodes (1978), Banker, Charnes

& Cooper (1984), Chen & Ali (2002) và đặc biệt Coelli đã viết thành công chương trình ứng dụng trên máy tính hương pháp DEA được xác định dưới hai hình thức cơ

bản là đo lường theo các yếu tố đầu vào (input-orientated measures) và theo đầu ra (output-orientated measures)

Trang 6

Cụ thể, Haag & cộng sự (1992), Kalaitzandonakes & cộng sự (1992), Trewin & cộng sự (1995), Thiele & Brodersen (1999), Abdulai & cộng sự (2000), Dhungana & cộng sự (2004), (Krasachat, 2004), Hu & McAleer (2005), Brazdik (2006), Yang (2007), Balcombe & cộng sự (2008), Simar & Wilson (2007), Nasurudeen (2009), Aung (2011), Yu & cộng sự (2011), Galawat & Yabe (2012), v.v đã sử dụng phương pháp DEA để ước lượng hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất lúa của nông hộ

2.1.2 Các nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA)

Là người tiên phong, Timmer (1971) đã phát triển một phương pháp để đánh

giá hiệu quả kỹ thuật liên quan đến hàm sản xuất biên ngẫu nhiên (probabilistic

frontier production function) Sau đó, Bagi (1982), Bagi & Huang (1983), Ali &

Flinn (1989), Ivaldi & cộng sự (1994), Xu & Jeffrey (1995), Battese & Coelli (1995), Wang & cộng sự (1996), Abdulai & Huffman (1998), Tiani (2006), Jung & Ho (2007), Ayinde & cộng sự (2009), Narala & Zala (2010), Tan & cộng sự (2010), Kachroo & cộng sự (2010), Rahman (2011), Orawan & Somporn (2012), v.v cũng đã

sử dụng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) để đo lường hiệu quả kinh tế trong sản xuất của các nông hộ trồng lúa hương pháp SFA rất thích hợp để xác định hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ và hiệu quả kinh tế đối với các loại nông sản nói chung và lúa nói riêng, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Đó là vì dữ liệu thu thập

từ hộ sản xuất thường bị ảnh hưởng lớn do sai số ngẫu nhiên và tác động của điều kiện

tự nhiên (Coelli, 1998)

2.2 Các nghiên cứu trong nước

hương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) đã được Quan Minh Nhựt (2005) sử dụng

để đo lường khả năng sinh lời và hiệu quả quy mô của nông hộ trong hai mô hình canh tác được lựa chọn ở huyện Chợ Mới (An Giang) Phạm Lê Thông (1998), Hien

& Suzuki (2003), Phạm Lê Thông & cộng sự (2010), Khai & Yabe (2011), Linh (2012), Hoang & Yabe (2012) và Nguyễn Hữu Đặng (2012) đã sử dụng hàm sản xuất

và hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên để ước lượng các mức hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân phối và hiệu quả kinh tế mà nông hộ đạt được Ngoài ra, Huỳnh Trường Huy &

cộng sự (2008) phân tích hiệu quả quy mô và kỹ thuật của 261 hộ sản xuất lúa tại

ĐBSCL thông qua phương pháp DEA và SFA

2.3 Kết luận

Các nghiên cứu trên cho thấy, sản xuất lúa của nông hộ sẽ đạt hiệu quả kinh tế khi nông hộ đạt được cả hiệu quả kỹ thuật (kỹ thuật sản xuất) lẫn hiệu quả phân bổ (kỹ năng lựa chọn đầu vào) ói cách khác, hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa được đo lường bằng tích số giữa hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Đồng thời, hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng hai phương pháp phổ biến nhất để phân tích hiệu quả kinh tế,

Trang 7

7

đó là phương pháp ước lượng tham số và phương pháp ước lượng phi tham số Song,

bất lợi chính của phương pháp ước lượng phi tham số là không phân biệt được giữa

phần phi hiệu quả và phần nhiễu (phần sai số không thể kiểm soát bởi mô hình ước

lượng) Do đó, để khắc phục hạn chế của phương pháp ước lượng phi tham số,

phương pháp ước lượng tham số sử dụng mô hình phân tích biên ngẫu nhiên

(Stochastic frontier analysis - SFA) với phần sai số hỗn hợp đã được nhiều nghiên cứu

áp dụng Vì vậy, luận án sẽ tiếp tục kế thừa các nghiên cứu trên trong phương pháp

phân tích SFA Cụ thể, luận án sẽ sử dụng phương pháp ước lượng tham số thông qua

hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên (stochastic profit frontier function) để ước lượng hiệu

quả kinh tế của nông hộ sản xuất lúa ở TP Cần Thơ và sau đó sử dụng phương pháp

phân tích hồi quy Tobit để ước lượng ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả này

Chương 3

CƠ SỞ LÝ LU N V PHƯƠNG PH P NGHIÊN CỨU

3.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế và ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả

kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ

3.1.1 Hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa

Theo các nhà nghiên cứu, hiệu quả kinh tế lúa (EE) được đo lường bằng tích số

giữa hiệu quả kỹ thuật (TE) và hiệu quả phân bổ (AE)

AE TE

EE  (3.1)

Cụ thể, hiệu quả kỹ thuật được ước lượng thông qua hàm sản xuất biên ngẫu

nhiên, có dạng như sau ( urillo-Zamorano, 2004):

iTE

e x

(3.2) Trong đó, Yi là sản lượng lúa của nông hộ, f(x i,i)là vector đầu vào xi của

nông hộ sản xuất lúa và sai số i được xác định như sau:

iTE iTE iTEvu

N  và u iTE là mức độ phi hiệu quả kỹ thuật, với giả định u iTE có phân phối

nửa chu n N(0,uTE2 ) Thực hiện phương pháp ước lượng khả năng tối đa ( LE) đối

với Biểu thức (3.2) sẽ được giá trị ước lượng iTE, phương sai 2 2 2

uTE vTE

Trang 8

sản xuất lúa có thể được xác định bằng công thức:  ( u iTE)

e E

(3.4) Tương tự, hiệu quả phân bổ được ước lượng thông qua hàm chi phi biên ngẫu

nhiên có dạng:

) (),,( v iAE u iAE

iAE i i

C    (3.5)

i

C là chi phí sản xuất lúa của nông hộ p là giá đầu vào cho sản xuất lúa của i

nông hộ viAElà sai số ngẫu nhiên với phân phối chu n N(0,vAE2 ) và u iAE là mức độ

phi hiệu quả phân bổ với phân phối nửa chu n (0, 2 )

uAE

N  Thực hiện phương pháp ước lượng khả năng tối đa ( LE) đối với Biểu thức 3.5 sẽ được giá trị ước lượng

iAE

 , phương sai 2 2 2

uAE vAE

2 2

E AE TE

(3.7) Tuy nhiên, đo lường hiệu quả kinh tế thông qua hàm sản xuất và hàm chi phí

biên ngẫu nhiên không thích hợp khi giá bán lúa của các nông hộ khác nhau (Ali &

Flinn, 1989) Do đó, hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên sẽ được sử dụng để ước lượng

hiệu quả kinh tế của nông hộ sản xuất lúa (Ali & Flinn, 1989; Ali & cộng sự, 1994;

Rahman, 2003; và Phạm Lê Thông & cộng sự, 2011) Hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên

có dạng:

) (),,(P Z e i

 là lợi nhuận chu n hóa của nông hộ sản xuất lúa, được tính bằng lợi nhuận

từ hoạt động sản xuất lúa chia cho giá bán 1 kg lúa P là vector giá đầu vào chu n i

hóa, được tính bằng giá mua đầu vào chia cho giá bán 1 kg lúa Z i là lượng đầu vào

cố định của nông hộ sản xuất lúa và sai số i được xác định như sau:

i i

ivu

 (3.9)

i

v là sai số ngẫu nhiên với phân phối chu n N(0,v2) u i là mức độ phi hiệu

quả kinh tế với phân phối nửa chu n N(0,u2) Thực hiện phương pháp ước lượng

Trang 9

EE (  ) (3.10)

3.1.2 Mô hình ƣớc lƣợng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ

Dựa trên cơ sở lý thuyết được trình bày ở phần trước, mô hình ước lượng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP Cần Thơ có dạng cụ thể như sau:

u v CP

CP

CP CP

CP CP

CP CP

CP CP

CAYXOI THUHOACH

TUOITIEU LAODONG

PHAN PHAN

GIONG GIONG

NONGDUOC NONGDUOC

8 7

2 6 5

2 4 3

2 2 1

Trong Mô hình (3.11),  là logarit tự nhiên của lợi nhuận chu n hóa của nông hộ,

được đo lường bằng lợi nhuận từ hoạt động sản xuất lúa chia cho giá bán 1 kg lúa.4

Nghiên cứu

có liên quan

NONGDUOC

CP Logarit tự nhiên của chi phí

nông dược chu n hóa (giá bình

quân gia quyền 1 kg các loại

nông được sử dụng chia cho giá

bán 1 kg lúa)

+ Ali & Flinn, 1989; Ali & cộng sự, 1994; Rahman, 2003; Nwachukwu &

Onyenweaku, 2007; Tanko & Jirgi, 2008 2

Onyenweaku, 2007; Tanko & Jirgi, 2008

GIONG

CP Logarit tự nhiên của chi phí lúa

giống chu n hóa (giá mua 1 kg

lúa giống chia cho giá bán 1 kg

lúa của nông hộ)

+ Ali & Flinn, 1989; Ali & cộng sự, 1994; Rahman, 2003; Nwachukwu &

Onyenweaku, 2007; Tanko & Jirgi, 2008

4

Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất lúa của nông hộ được tính bằng doanh thu bán lúa trừ đi chi phí sản xuất lúa của nông hộ

Trang 10

Tên biến Ý nghĩa

Kỳ vọng

về dấu đối với các i

Onyenweaku, 2007; Tanko & Jirgi, 2008

PHAN

CP Logarit tự nhiên của chi phí

phân bón chu n hóa (giá bình

quân gia quyền 1 kg các loại

phân bón được sử dụng chia

cho giá bán 1 kg lúa)

+ Ali & Flinn, 1989; Ali & cộng sự, 1994; Rahman, 2003; Nwachukwu &

Onyenweaku, 2007; Tanko & Jirgi, 2008 2

PHAN

CP Bình phương của biến CP PHAN - Ali & Flinn, 1989; Ali &

cộng sự, 1994; Rahman, 2003; Nwachukwu &

Onyenweaku, 2007; Tanko & Jirgi, 2008

LAODONG

CP Logarit tự nhiên của chi phí lao

động chu n hóa (chi phí ngày

công của lao động thuê chia cho

giá bán 1 kg lúa)

Nwachukwu &

Onyenweaku, 2007; Tanko & Jirgi, 2008; Abu

& Asember, 2011

TUOITIEU

CP Logarit tự nhiên của chi phí

tưới tiêu cho ruộng lúa của

nông hộ (1.000 đồng/1.000 m2)

-

THUHOACH

CP Logarit tự nhiên của chi phí thu

hoạch và bảo quản sau thu

hoạch của nông hộ (1.000

đồng/1.000 m2)

-

CAYXOI

CP Logarit tự nhiên của các khoản

chi phí khác trong sản xuất lúa

của nông hộ (1.000 đồng/1.000

m2)

-

Nguồn: Tổng hợp từ các nghiên cứu được đề cập trong biểu bảng

3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ 3.2.1 Cơ sở lý thuyết

Các nghiên cứu nhận thấy mối quan hệ có dạng chữ ∩ giữa quy mô diện tích đất canh tác với hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp (Dorward, 1999) Cụ thể, khi quy mô diện tích tăng dần từ nhỏ đến một mốc nhất định thì hiệu quả kinh tế trong sản xuất của nông hộ sẽ tăng theo Tuy nhiên, khi quy mô diện tích đất canh tác của nông hộ vượt quá giới hạn hợp lý, nông hộ sẽ phải thuê mướn lao động và khó kiểm

Trang 11

11

soát động cơ làm việc của lực lượng này goài ra, quy mô tăng nên các nông hộ sẽ cần lượng yếu tố đầu vào lớn hơn, do đó khó mua được các loại yếu tố đầu vào đảm bảo chất lượng Hệ quả là hiệu quả kinh tế trong sản xuất của nông hộ sẽ giảm dần hương thức bán lúa cũng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của nông hộ Nếu nông hộ có thể bán lúa trực tiếp cho doanh nghiệp (đặc biệt là khi thông qua hợp đồng được ký kết trước), giá lúa sẽ cao hơn bởi ít bị “ép” giá và nông hộ có thể chủ động hoạch định kế hoạch sản xuất (nhất là trên phương diện sử dụng yếu tố đầu vào - khía cạnh quan trọng đối với hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa)

hương thức canh tác lúa cũng có mối quan hệ mật thiết với hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ Nếu độc canh lúa (nhất là trong thời gian dài), chất hữu cơ trong đất sẽ suy kiệt vì không kịp bổ sung, do đó nông hộ phải bón phân mỗi lúc một nhiều nhưng năng suất lúa vẫn có thể giảm và đất ngày càng bạc màu Nhiều nông hộ phải mua chịu vật tư nông nghiệp và phải chấp nhận các điều khoản của người bán (đại lý vật tư nông nghiệp) Do đó, lượng (hay tỷ trọng) tiền mua chịu mua vật tư nông nghiệp cũng là yếu tố cần xem xét khi phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ (Roosen & Hennessy, 2003; Klemick & Lichtenberg, 2008; Ma & cộng sự, 2014 và Khor & Zeller, 2014)

Ở nông thôn, các mối quan hệ xã hội (hay cộng đồng) truyền thống luôn đóng vai trò quan trọng trong quan hệ giao tiếp và là khía cạnh phản ánh uy tín của một cá nhân Vì vậy, mối quan hệ quen biết được củng cố theo thời gian giữa nông hộ và các đại lý vật tư nông nghiệp sẽ là yếu tố đảm bảo đối với giá, chất lượng và cả mức độ sẵn có của vật tư nông nghiệp Nói cách khác, mối quan hệ này sẽ tác động tích cực đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ

Bên cạnh các yếu tố trên, nếu có tiền nhàn rỗi (vàng, tiền tiết kiệm hay tiền tham gia hụi) càng nhiều thì nông hộ sẽ dễ càng chủ động (đặc biệt là về thời điểm, số lượng và chất lượng) trong việc mua đầu vào, thuê lao động, v.v để giúp cây lúa đạt năng suất cao hơn, do đó sẽ làm tăng hiệu quả cao kinh tế trong sản xuất lúa (Feng & cộng sự, 2010; Rahman, 2003) hư vừa đề cập, số lượng lao động gia đình tham gia sản xuất càng nhiều thì hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ càng tăng bởi lao động gia đình luôn có động cơ làm việc và tinh thần trách nhiệm cao hơn lao động thuê đối với các khoản chi phí và kết quả sản xuất của nông hộ (Heltberg, 1998) Kinh nghiệm tích lũy của chủ hộ (nhất là các kinh nghiệm trong hoạt động sản xuất lúa) sẽ giúp gia tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ (Mariano & cộng sự, 2012) Bên cạnh kinh nghiệm, học vấn của chủ hộ cũng giúp gia tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ Đó là vì học vấn cao sẽ giúp chủ hộ nhanh chóng tiếp cận và nắm bắt kỹ thuật sản xuất mới, xu hướng thay đổi của môi trường tự

Trang 12

nhiên, thị trường, v.v để có thể sử dụng hợp lý các loại yếu tố đầu vào (nhất là phân bón và nông dược) để đảm bảo năng suất cho cây lúa và chất lượng sản ph m (Strauss

và thuốc nông dược) chất lượng hay được mua chịu đầu vào với lãi suất thấp, nông hộ

có thể chủ động trong việc chăm sóc lúa, giúp cây lúa phát triển tốt, đạt năng suất cao hơn goài ra, hộ được cung cấp thông tin thị trường hay hỗ trợ bao tiêu sản ph m đầu

ra sẽ có giá bán cao hơn, gia tăng hiệu quả kinh tế của hộ

3.2.2 Mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả trong sản xuất lúa của nông hộ

Cơ sở lý thuyết vừa được trình bày ở phần trước cho phép hình thành mô hình ước lượng ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông

hộ ở thành phố Cần Thơ như sau:

KCTRUNGTAM HOCVAN

KINHNGHIEM

LDGIADINH I

TIENNHANRO ATTU

QUENDAILYV

TU TIENMUAVAT PTCANHTAC

PTBANLUA

DIENTICH DIENTICH

HIEUQUA

13 12

11 10

9

8 7

6

5 4

3

2 2

1 0

(3.12)

Trong ô hình 3.12, biến phụ thuộc HIEUQUA là hiệu quả kinh tế trong sản

xuất lúa của nông hộ (%) và được ước lượng bằng hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên

(stochastic profit frontier function) với phần sai số hỗn hợp Ý nghĩa các biến và kỳ

vọng về dấu đối với các hệ số i trong ô hình 3.12 được trình bày trong Bảng 3.2 Bảng 3.2 Kỳ vọng dấu của các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất

lúa của nông hộ

Kỳ vọng

về dấu đối với các i

canh tác của nông hộ

– Heltberg, 1998;

Dorward, 1999

cho DN và là 0 nếu ngược

+ Fafchapms & Hill,

2005

Trang 13

13

Kỳ vọng

về dấu đối với các i

Nghiên cứu

lại

PTCANHTAC Là 1 nếu trồng lúa luân

canh và là 0 nếu ngược lại

+

TIENMUAVATTU Tỷ trọng số tiền mua chịu

vật tư trong tổng số tiền mua vật tư nông nghiệp trong năm của nông hộ (%)

– Klemick & Lichtenberg, 2008; Ma & cộng

sự, 2014; Khor & Zeller, 2014

QUENDAILYVATTU Độ dài thời gian quen biết

của nông hộ với đại lý vật

tư (tháng)

+ Lê hương inh

& Cao Văn Hơn, 2013; Khor & Zeller, 2014

TIENNHANROI Lượng tiền nhàn rỗi của

nông hộ (triệu đồng)

+ Feng & cộng sự, 2010; Rahman,

2003

gia sản xuất lúa (người)

+ Heltberg, 1998; Dorward, 1999

của chủ hộ (năm)

+ Labarthe & Laurent, 2013

lớp học)

+ Strauss & cộng

sự, 1991; Huỳnh Trường Huy, 2007

KCTRUNGTAM Khoảng cách từ nơi sinh

sống của nông hộ đến thị

tứ, thị trấn, thị xã hay thành phố (km)

– Mu & van de Walle, 2007; Yamano & Kijima, 2010; Candelon & cộng

sự, 2013

được hỗ trợ để tiếp cận thông tin thị trường đầu ra

và là 0 nếu ngược lại

+ Poulton & cộng

sự, 2010; Nguyễn Hữu Đặng, 2012; Genius & cộng sự, 2013; Elias & cộng sự, 2013

trợ kiến thức sử dụng yếu

tố đầu vào và là 0 nếu ngược lại

+ Strauss & cộng sự (1991); Elias & cộng sự (2013); Genius & cộng sự (2013)

Nguồn: Tổng hợp từ các nghiên cứu được đề cập trong biểu bảng

Ngày đăng: 08/07/2015, 09:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Ý nghĩa của các biến và kỳ vọng về dấu của các   i  trong mô hình ước  lượng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ - Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố cần thơ (TT)
Bảng 3.1. Ý nghĩa của các biến và kỳ vọng về dấu của các  i trong mô hình ước lượng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ (Trang 9)
Bảng 5.1. Chi phí sản xuất lúa phân theo vụ của nông hộ ở TP. Cần Thơ - Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố cần thơ (TT)
Bảng 5.1. Chi phí sản xuất lúa phân theo vụ của nông hộ ở TP. Cần Thơ (Trang 17)
Bảng 5.3. Kết quả ước lượng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ - Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố cần thơ (TT)
Bảng 5.3. Kết quả ước lượng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ (Trang 18)
Bảng 5.2. Hiệu quả tài chính trong sản xuất lúa nông hộ TP. Cần  Thơ - Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố cần thơ (TT)
Bảng 5.2. Hiệu quả tài chính trong sản xuất lúa nông hộ TP. Cần Thơ (Trang 18)
Bảng 5.4. Mức hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP. Cần Thơ - Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố cần thơ (TT)
Bảng 5.4. Mức hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở TP. Cần Thơ (Trang 20)
Bảng 5.4 cho thấy, chỉ có 0,12% nông hộ sản xuất lúa đạt mức hiệu quả kinh tế - Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố cần thơ (TT)
Bảng 5.4 cho thấy, chỉ có 0,12% nông hộ sản xuất lúa đạt mức hiệu quả kinh tế (Trang 20)
Bảng 5.6. Thống kê mô tả các biến trong mô hình ước lượng các yếu tố ảnh hưởng - Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố cần thơ (TT)
Bảng 5.6. Thống kê mô tả các biến trong mô hình ước lượng các yếu tố ảnh hưởng (Trang 21)
Bảng 5.7. Kết quả ước lượng ảnh hưởng các yếu tố đến hiệu quả kinh tế trong sản - Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ ở thành phố cần thơ (TT)
Bảng 5.7. Kết quả ước lượng ảnh hưởng các yếu tố đến hiệu quả kinh tế trong sản (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w