1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ở Ngân hàng thương mai cổ phần Bắc Á, chi nhánh 57A Phan Chu Trinh-Hà Nội

92 633 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ở Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á, chi nhánh 57A Phan Chu Trinh-Hà Nội
Trường học Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á
Chuyên ngành Tín dụng ngân hàng
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 690,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lảnh đạo, nền kinh tế nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn và thử thách đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ:

Trang 1

Lời nói đầu

Khi nói đến nền kinh tế của một đất nước phát triển, hiệu quả và công bằng hay không, các chỉ tiêu kinh tế vi mô, vĩ mô như thể nào cụ thể là: Tốc độ tăng trưởng (GDP) bình quân hàng năm, cơ cấu ngành kinh tế (CN-DN-NN), tốc độ lạm phát (G), công bằng xã hội và các chỉ tiêu phát triển con người là những chỉ tiêu phản ánh đậm nét nhất

Để có một nền kinh tế phát triển thì phải đạt được đồng thời hai chỉ tiêu là tăng trưởng kinh tế đi kèm công bằng xã hội , tuy nhiên, đây là một vấn đề dài hạn không những với nền kinh tế của chúng ta mà còn của cả các nước có nền kinh tế được coi là phát triển

Với đất nước Việt Nam chúng ta, một đất nước trải qua những cuộc chiến tranh với nhiều hi sinh và mất mát, nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nhất là trong cuộc chiến chống đế quốc Mỹ

Thực hiện đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lảnh đạo, nền kinh tế nước ta

đã vượt qua nhiều khó khăn và thử thách đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ:

Hằng năm tốc độ tăng trưởng đạt cao trên 7%, lạm phát được kiềm chế và nằm trong tầm kiểm soát, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đã ngày càng khẳng định vai trò của minh trên thị trường không chỉ thu gọn trong quốc gia, mà đang vươn rộng ra khu vực và quốc tế Để làm được như vậy là cả một quá trình phấn đấu của mọi thành phần kinh tế, mọi cơ quan tổ chức…, đặc biệt

là vai trò quản lí vĩ mô của Nhà nước và những đổi mới trong hoạt động của hệ thống ngân hàng

Trong thời kì khôi phục và phát triển, nền kinh tế cần trải quá qua trình tập trung tư bản và lúc này ngân hàng đóng vai trò như các mạch máu thu hút vốn từ

Trang 2

nền kinh tế trong và ngoài nước để tập trung đầu tư lại cho nền kinh tế đáp ứng nhu cầu phát triển, như vậy, hoạt động tín dụng của ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng, không những cho ngân hàng mà cho cả nền kinh tế Vì với ngân hàng, đây là hoạt động mang lại chủ yếu thu nhập, uy tín và quan hệ bên cạnh hoạt động thanh toán ngày càng mở rộng Còn với nền kinh tế, hoạt động tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu bổ sung và chu chuyển vốn của cả nền kinh tế Tuy nhiên, tín dụng cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro, tổn thất thậm chí đưa đến phá sản Do vậy “ Chất lượng tín dụng “ là vấn đế mà bất cứ một ngân hàng nào, một nền kinh tế nào cũng phải quan tâm Đặc biệt ngày nay, khi hệ thống ngân hàng không ngừng phát triển về cả số lưọng lẫn quy mô, bên cạnh hệ thống ngân hàng quốc doanh, còn có nhiều ngân hàng cổ phần và các tổ chức tín dụng khác cũng đang phát triển rất mạnh mẽ trong tiến trình mở rộng loại hình đầu tư và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, nền kinh tế ngày càng phát triển và cũng diễn biến càng phức tạp hơn nên vấn đề “chất lượng tín dụng” lại càng phải được đặc biệt quan tâm để ngăn ngừa nhửng rủi ro, tổn thẩt trong hoạt động tín dụng vốn mang tính rủi ro hệ thống rất cao Riêng đối với hệ thống ngân hàng thương mại

cổ phần, thì vấn đề chất lượng tín dụng càng cấp thiết hơn, vì các ngân hàng này thường giao dịch với các doanh nghiệp vừa và nhỏ với uy tín, khả năng tài chính

và chất lượng thông tin hạn chế nên rủi ro là rất cao, do vậy để đi sâu vào vấn

đề này, em chọn đề tài:

Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ở Ngân hàng thương mai cổ phần Bắc Á, chi nhánh 57A Phan Chu Trinh-Hà Nội” để nghiên cứu Với mong muốn góp, một phần công sức nhỏ bé của mình vào sự nghiệp đổi mới hoạt động của hệ thống NH ở nước ta hiện nay

Trang 3

Chương 1NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG

NGÂN HÀNG

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

1.1.1Khái niệm về tín dụng ngân hàng

Trong nền kinh tế tiền tệ, mọi chủ thể trong quá trình hoạt động của mình, luôn xảy ra tình trạng mất cân đối trong luồng tiền ra và luồng tiền vào, từ thực tế

đó, trong nền kinh tế luôn tồn tại những nguồn tài chính dư thừa chưa được sử dụng đến và nó bị đưa ra ngoài lưu thông dưới dạng tiết kiệm, bên cạnh đó, việc thiếu hụt tài chính của một số bộ phận tạo nên nhu cầu vốn của nền kinh tế Như vậy một dư thừa không sinh lời, một thiếu hụt làm mất cơ hội đầu tư, làm cho nền kinh tế không hiệu quả trong sử dụng nguồn lực tài chính của mình, từ đó mà các nguồn lực khác cũng không phát huy hiệu quả, vì sản xuất cấn kết hợp đầy đủ các yếu tố: Nhân lực, vật lực và tài lực

Từ yêu cầu đó hoạt động tín dụng ra đời từ dạng sơ khai là dùng tiền dư thừa

để cho vay, đến đi vay để cho vay Cùng với sự phát triển của nên kinh tế hoạt động tín dụng ngày này phát triển khá toàn diện:

Theo Luật Các tổ chức tín dụng “Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng”

Hoạt động tín dụng bao gồm bốn hoạt động chính:

Thứ nhất: Cho vay là việc ngân hàng giao cho khách hàng sử dụng một

khoản tiền, để dùng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận và nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi

Trang 4

Thứ hai: Chiết khấu là việc ngân hàng mua lại có thời hạn hay mua đứt các

giấy tờ có giá từ các tổ chức và các cá nhân trong nền kinh tế với giá chiết khấu

Thứ ba: Bão lãnh là việc cam kết bằng văn bản của Tổ chức tín dụng (bên

bão lãnh) với bên có quyền( bên nhận bão lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng( bên được bão lãnh)khi khách hàng không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ cam kết với bên nhận bão lãnh Khách hàng phải nhận nợ và phải hoàn trả cho Tổ chức tín dụng số tiền đã trả thay

Thứ tư: Cho thuê tài chính là loại cho thuê dài hạn, bên thuê không được huỷ

bỏ hợp đồng, bên đi thuê chịu trách nhiệm bảo trì, đóng bảo hiểm và thuế tài sản Phần lớn các hợp đồng cho thuê tài chính, bên thuê được quyền gia hạn hợp đồng hoặc được quyền mua đứt tài sản sau khi thời hạn hợp đồng kết thúc

Thực chất cho thuê tài chính là một hình thức tài trợ vốn, trong đó theo yêu cầu sử dụng của bên đi thuê, bên cho thuê tiến hành mua tài sản và giao cho bên

đi thuê

Như vậy hoạt động tín dụng trong quan hệ tài chính là việc dịch chuyển vốn giữa các chủ thể với nhau trên cơ sở thoả thuận và sự tin tưởng lẫn nhau

1.1.2 Đặc trưng của tín dụng ngân hàng

Quan hệ tín dụng chỉ được diễn ra khi người cung và cầu vốn gặp nhau trên thị trường với các ràng buộc về không gian, thời gian và các điều kiện tín dụng được thoã mãn

Thứ nhất: Quan hệ tín dụng xuất phát từ sự tin tưởng của người cho vay

với người đi vay, về việc sử dụng vốn đúng mục đích thoả thuận cùng sự hoàn trả đầy đủ và đúng han cả vốn lẫn lãi; ngược lại, người đi vay cũng tin tưởng rằng người cho vay có khả năng đáp ửng đủ các điều kiện của họ trong quan hệ tín dụng như số lượng, lãi suất, thời gian giải ngân và các điều kiện hỗ trợ khách hàng khác (như khả năng thực hiện thanh toán chuyển khoản, mạng lưới hoạt

Trang 5

động và quan hệ rộng rãi với các doanh nghiệp cũng như các ngân hàng khác trong nước và quốc tế )

Thứ hai: Quan hệ tín dụng có nguyên tắc hoàn trả, có nghĩa là người cho

vay giao vốn cho người đi vay sử dụng trong thời hạn thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, khi đáo hạn mà không có các thoả thuận khác, thì người đi vay phải hoàn trả lại số vốn đó cộng thêm phần thặng dư cho người cho vay

Thứ ba: Giá trị hoàn trả lại thông thường phải lớn hơn giá trị gốc ban đầu,

tức là chính bằng phần gốc với phần lãi Giá trị thặng dư này đảm bảo cho ngân hàng bù đắp những khoản chi phí, rủi ro và mang lại cho ngân hàng một phần lợi nhuận, do vậy, việc tính toán chính xác mức lãi suất, phải vừa đảm bảo yêu cầu trên từ phía ngân hàng, vừa phải đảm bảo tính cạnh tranh hiệu quả trên thị trường

Thư tư: Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, vì dựa trên cơ sở các hợp đồng

kinh tế được pháp luật điều chỉnh, cho nên việc thực hiện đúng các thoả thuận đã cam kết là bắt buộc

Thứ năm: Hoạt động tín dụng gắn liền với hệ thông lưu thông tiền tệ của

một quốc gia Biểu hiện chính là nó được thực hiện bởi các Trung gian tài chính

và thông qua hoạt động tín dụng của các Trung gian tài chính đó đã tác động trực tiếp đến quá trình luân chuyển vốn của nền kinh tế Các Trung gian tài chính thông qua huy động vốn và cho vay đã thực hiện đưa vốn tiết kiệm từ dân cư (vốn ngoài lưu thông) vào quá trình đầu tư có hiệu quả, làm tăng vòng quay vốn của nền kinh tế

Thứ sáu: Hoạt động tín dụng đa dạng phong phú và tiềm ẩn nhiều rủi ro

Tính đa dạng của hoạt động tín dụng thể hiện ở: Thành phần khách hàng giao dịch (họ có thể ở cùng miền hoặc miền khác nhau, thuộc các thành phần kinh tế

và giai tầng xã hội khác nhau) Trong thời kì công nghệ thông tin phát triển mạnh

mẽ như hiện nay, thì khoảng cách giữa mọi người đã được thu hẹp, thị trường

Trang 6

hoạt động được mở rộng, quan hệ tín dụng phát triển về cả số lượng và quy mô, bên cạnh đó, mục đích sử dụng vốn cũng rất đa dạng liên quan đến mọi hoạt động của nền kinh tế Vì đa dạng và liên quan đến mọi hoạt động của nền kinh tế cho nên hoạt động tín dụng cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro Rủi ro trực tiếp từ chính hoạt động của NH như: Rủi ro thanh khoản (mất khả năng giải ngân), rủi ro mất vốn do chính hoạt động tín dụng mang lại, ngoài ra còn có những rủi ro mang tính gián tiếp khách quan và chủ quan bên ngoài của nền kinh tế Do vậy, trong hoạt động tín dụng, ngân hàng phải chủ động có những biện pháp tương ứng để phòng và chống rủi ro một cách đa dạng và hiệu quả.

1.1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường

Hoạt động tín dụng là kết quả quá trình phát triển lâu dài của nền kinh tế thị trường, sự ra đời của nó nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển riêng của ngân hàng, cũng như của toàn xã hội Do vậy, vai trò quan trọng của tín dụng ngân hàng thường được xem xét qua các góc độ sau:

1.1.3.1 Với bản thân NH

Tín dụng là hoạt động chủ yếu mang lại thu nhập cho ngân hàng, với ngân hàng, hoạt động này chiếm gần 70% chi phí và 90% thu nhập của các ngân hàng Qua đó đủ cho ta thấy hoạt động tín dụng ngân hàng thực sự quan trọng với ngân hàng như thế nào Nhưng bên cạnh đó, chúng ta thấy rằng với hoạt động này cũng mang lại nhiều rủi ro cho ngân hàng trong quá trình hoạt động của mình; cho nên các ngân hàng thường coi đây là trọng tâm trong quản trị của ngân hàng “Quản trị rủi ro tín dụng”

1.1.3.2 Với khách hàng

Mọi dịch vụ cung cấp ra thị trường đều phải thoã mãn một hay nhiều nhu cầu nào đó của khách hàng Mặt khác, hoạt động tín dụng xuất hiện là từ yêu cầu của thị trường, nó thoã mãn chính nhu cầu về phương tiện thanh toán của khách hàng Thử xem rằng nếu một khách hàng với nhu cầu rất cấp thiết như y tế, mà

Trang 7

không có nguồn thanh toán lúc này thì hậu quả sẽ như thế nào; một cơ hội đầu tư

mà không có nguồn vốn thì khách hàng sẽ thiệt hại như thế nào Do vậy, hoạt động tín dụng đã đáp ứng các nhu cầu đó đã và ngày càng tốt hơn đem lại cho khách hàng sự an tâm trong cuộc sống, cũng như hoạt động kinh tế của mình.1.1.3.3 Với nền kinh tế

Nhận thấy rằng hoạt động tín dụng chủ yếu liên quan đến tiền tệ; chính là đối tượng giao dịch chính Huy động vốn nhàn rỗi từ nền kinh tế và cho vay lại nền kinh tế, qua hoạt động này không chỉ mang lại lợi ich cho chính bản thân ngân hàng hay khách hàng giao dịch, mà còn đóng một vai trò cực kì quan trọng đối với nề kinh tế bởi những lợi ích to lớn mà chính nó mang lại

Thứ nhất: Thông qua hoạt động này, vốn đã được tập trung và cung ứng

cho nền kinh tế; trên cơ sở đó, đảm bảo cho quá trình luân chuyển vốn và đầu tư của xã hội có hiệu quả

Thứ hai: Hoạt động tín dụng góp phần ổn định lưu thông tiền tệ và hàng

Thứ ba: Kiểm soát thị trường và thu hút đầu tư trong và ngoài nước.

+ Kiểm soát thị trường: Với thị trường vốn và thị trường tiền tệ hoạt động này của ngân hàng đóng vai trò điều tiết rất lớn, kênh huy động vốn (khách hàng

là người cho vay và ngân hàng đóng vai trò là đi vay) và kênh cung cấp vốn (ngược lại); khi thị trường có nhưng biến động, tín dụng thông qua lãi suất và các điều kiện cho vay sẽ điều tiết lại sự cân bằng của thị trường, Với thị trường hàng hoá, hoạt động tín dụng cũng có sự kiểm soát nhất định Với cung hàng hoá qua kênh tín dụng có tác động trực tiếp hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp, nhà máy

Trang 8

hay thông qua cổ đông Còn với cầu hàng hoá hoạt động tín dụng gián tiếp tác động đến tiêu dùng của khách hàng hay cầu đầu tư của doanh nghiệp Như vậy với sự kiểm soát thị trường, sẽ tạo nên sự ổn định và tính định hướng của thị trường.

+ Thu hút đầu tư: Ổn định môi trường, tăng trưởng kinh tế, ổn định giá trị đồng tiền Những điều này sẽ mang lại một môi trường đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư, không chỉ trong mà còn cả ngoài nước

Thứ tư: Hoạt động tín dụng mang lại nguồn thu lớn cho Ngân sách Nhà

nước thông qua thuế thu nhập và đầu tư có uỷ thác của chính phủ

1.1.4 Các hình thức cấp tín dụng ngân hàng

Điều 49 Luật Các Tổ chức tín dụng qui định: “ TCTD được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức cho vay; chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác; bảo lãnh; cho thuê tài chính và các hình thức khác theo qui định của Ngân hàng Nhà nước”

1.1.4.1 Cho vay đối với các tổ chức, cá nhân

Đây là hình thức cấp tín dụng phổ biến của các ngân hàng thương mại, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế Tài sản giao dịch được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ Các ngân hàng hiện nay chủ yếu huy động tiền gửi để cho vay, nhưng việc huy động này lại chủ yếu là huy động vốn ngắn hạn Chính vì vậy để hạn chế được rủi ro, ngân hàng chủ yếu là cho vay ngắn hạn Tại các nước phát triển, do nguồn vốn của các ngân hàng là rất lớn, mặt khác, tại đây thị trường chứng khoán cũng phát triển rầm rộ cho nên khả năng ngân hàng huy động được nguồn vốn là rất dễ dàng Chính vì thế tại các nước này tỉ lệ cho vay trung, dài hạn cũng khá cao Đối với một số nước đang phát triển như Việt Nam, thì việc huy động được nguồn vốn dài hạn là khá khó khăn; để đảm bảo cho hoạt

Trang 9

động của các ngân hàng được an toàn, NHNN đã qui định các NHTM chỉ được phép sử dụng tối đa 30% vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn Điều này đã kích thích các NHTM phải chủ động tìm ra các giải pháp thích hợp để có thể đáp ứng nhu cầu vay vốn cho nền kinh tế.

Theo quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN Việt Nam

về việc ban hành Qui chế cho vay của TCTD đối với khách hàng, các NHTM có thể áp dụng các phương thức cho vay sau:

a.Cho vay từng lần: Theo phương thức này, mỗi một lần khách hàng cần vay vốn,

khách hàng lại phải đến ngân hàng và hoàn tất thủ tục theo qui định của ngân hàng `và ký kết hợp đồng tín dụng

b.Cho vay theo hạn mức tín dụng: TCTD và khách hàng xác định và thoả thuận

một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định

c.Cho vay theo dự án đầu tư: TCTD cho khách hàng vay vốn để thức hiện dự án

đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống

d.Cho vay hợp vốn: Là phương thức cho vay, trong đó một nhóm các TCTD cùng

cho vay đối với một dự án đầu tư hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong

đó, có một TCTD đứng ra dàn xếp, phối hợp với các TCTD khác Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo qui định của Qui chế cho vay hiện hành và Qui chế đồng tài trợ của TCTD do Thống đốc NHNN ban hành

e.Cho vay trả góp: Khi khách hàng vay vốn, TCTD cùng khách hàng thoả thuận

và xác định số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kì hạn trong thời hạn vay

Trang 10

f.Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: TCTD cam kết đảm bảo sẵn sàng cho

khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định TCTD và khách hàng thoả thuận thời gian hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng

g.Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: TCTD chấp

thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng,

để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động

h.Cho vay theo hạn mức thấu chi: TCTD cho phép khách hàng chi vượt số tiền

ghi trên tài khoản tiền gửi thanh toán của mình phù hợp với các quy định của Chính phủ và NHNN về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

1.1.4.2 Chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá

Là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, trong đó khách hàng chuyển nhượng thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác cho ngân hàng để đổi lấy một

số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu và các giấy tờ có giá, trừ đi lãi chiết khấu

và hoa hồng phí (nếu có) Đây là một trong những kỹ thuật cho vay cổ điển của ngân hàng và vẫn được áp dụng rộng rãi đến ngày nay

1.1.4.3 Cho thuê tài chính

Cho thuê tài chính là một hình thức tài trợ vốn, trong đó theo yêu cầu sử dụng của bên đi thuê, bên cho thuê tiến hành mua tài sản và chuyển giao cho bên

đi thuê sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định và bên sử dụng tài sản phải thanh toán tiền thuê cho bên sở hữu tài sản theo kì hạn thoả thuận

Trang 11

Hoạt động cho thuê đã trải qua hàng nghìn năm, nhưng đến giữa thế kỉ XX mới trở thành một ngành kinh doanh thực sự So với các nước trên thế giới, hoạt động cho thuê tài chính thâm nhập vào Việt Nam có phần muộn hơn Hịên nay cả nước có trên 10 công ty cho thuê tài chính bao gồm: Các công ty cho thuê trực thuộc các NHTM, công ty cho thuê liên doanh và công ty cho thuê 100% vốn nước ngoài.

Hoạt động cho thuê tài chính ra đời là hình thức tài trợ bổ sung, nhằm tạo điều kiện cho các ngân hàng và nâng cao năng lực cạch tranh

1.2 CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG

1.2.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng.

Khi các chủ thể tham gia vào một giao dịch, tín dụng thì luôn quan tâm đến lợi ích mang lại từ chính giao dịch đó; có nghĩa là họ có được thoã mãn nhu cầu của mình hay không; do vậy để có cái nhìn toàn diện hơn về chất lượng tín dụng, thì phải xem xét nó dưới nhiều góc độ khác nhau

Theo cách nhìn nhận chung: Chất lượng tín dụng là chỉ tiêu định tính và định lượng phản ánh khả năng thoả mãn các nhu cầu của các chủ thể tham gia vào quan hệ tín dụng

Về khía cạnh khách hàng: Một giao dịch tín dụng được coi là có chất lượng, khi giao dịch đó phù hợp với mục đích và yêu cầu của họ về: Quy mô đáp

Trang 12

ứng nhu cầu sử dụng, lãi suất phù hợp với khả năng tài chính hay phương án dự

án, thời hạn đủ dài, thời gian giải ngân nhanh chóng kịp thời, kì hạn phù hợp với tính chất của phương án, dự án để thuận lợi cho việc trả nợ ; ngoài ra, thời gian thủ tục phải nhanh chóng, gọn nhẹ ; tức là khi tham gia vào quan hệ này thì khách hàng được tạo mọi điều kiện để tiếp cận và sử dụng nguồn tín dụng một cách thuận lợi nhất

Về khía cạnh ngân hàng: Đối với ngân hàng, là trung gian đầu mối của mọi

quạn hệ tín dụng, thì chất lượng tín dụng là vấn đề quan trọng hàng đầu khi tham gia vào một giao dịch Vì chất lưọng tín dụng không những quyết định đến khá năng thu hồi vốn, mà còn ảnh hưởng đến sự tồn tại của một ngân hàng nói riêng

và sử ổn định và phát triển của một nền kinh tế nói chung; vậy chất lượng tín

dụng đối với một ngân hàng, xét theo bản thân khoản tín dụng là phải có khả năng thu hồi vốn và lãi đúng hợp đồng tín dụng, còn về quy định bắt buộc thì khoản tín dụng đó phải phù hợp với các quy định của nhà nước và chính bản thân ngân hàng đó trong từng thời kì nhất định.

Về khía cạnh toàn bộ nền kinh tế: Đối với một nền kinh tế, hoạt động tín dụng có chất lượng khi nó làm cải thiện các chỉ tiêu kinh tế vi mô và vĩ mô như:

Cân bằng cung cầu trên thị trrường, ổn định thị trường hàng hoá và thị trường tiền tệ trong từng thời kì, thúc đẩy hoạt động đầu tư, tạo công ăn việc làm cải thiện đời sống của người lao động

1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng ngân hàng.

Khi nói đến chất lượng tín dụng, các nhà quản trị phải biết những nhân tố nào quyết định đến nó; từ đó có các quyết định quản trị phù hợp và hiệu quả nhằm mục đích cải thiện, duy trì và nâng cao chất lượng tín dụng của một ngân hàng Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu mang tính tổng hợp rất cao, vì nó nảy sinh trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng trong nền kinh tế; cho nên nhìn nhận chất lượng tín dụng cũng phải đi từ các khía cạnh:

Trang 13

Đứng từ khía cạnh khách hàng: Đối với khách hàng để đánh giá chất lượng

tín dụng thường qua các chỉ tiêu sau:

- Quy trình, thủ tục Khi đến với ngân hàng, khách hàng phải tuân thủ những quy trình thủ tục, theo quy định của ngân hàng

- Khả năng đáp ứng nhu cầu vốn của ngân hàng đối với khách hàng Điều này cũng ảnh hưởng không ít đến cái nhìn của về quy mô, uy tín và tiềm lực tài chính và từ đó ảnh hưởng đến sự lựa chọn ngân hàng của khách hàng

- Chi phí cấp tín dụng: Bao gồm lãi vay và các loại phí khác mà khách hàng phải chịu; đây là yếu tố mà khách hàng chú ý nhất về một ngân hàng Nó biểu hiện khả năng cạnh tranh, là sự ưu đãi lớn với khách hàng khi tham gia giao dịch Và chi phí này cũng có ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của khách hàng

- Tài sản đảm bảo: Điều kiện về tài sản đảm bảo là cần thiết, nhưng quá khắt khe cũng không thể nói là có chất lượng được Vì trong trường hợp này sẽ làm cho quan hệ tín dụng khó xảy ra, khi khách hàng khó đáp ứng được

- Các hỗ trợ khác: Trong điều kiện ngày nay, bên cạnh vốn thì các hỗ trợ khác cũng đóng vai trò rất quan trọng như các dịch vụ thanh toán, mở tài khoản, thẻ tín dụng, tư vấn tài chính cho khách hàng và đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, tư vấn kĩ thuật là điều rất khuyến khích khách hàng

Đứng từ phía ngân hàng: Khi cung cấp tín dụng cho khách hàng phải đảm

bảo mục tiêu hiệu quả, an toàn và lợi nhuận cho ngân hàng; do vậy chất lượng tín dụng phải đảm bảo các chỉ tiêu:

Trang 14

- Hoạt động tín dụng phải linh hoạt, phù hợp từng loại khách hàng, thời gian Và thực hiện tốt chính sách hỗ trợ khách hàng để nâng cao uy tín và cạnh tranh của ngân hàng.

Chỉ tiêu định lượng: Bên cạnh những chỉ tiêu định tính, chất lượng tín

dụng cũng được phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính định lượng nhằm hỗ trợ cho công tác quản trị ngân hàng có hiệu quả

- Cơ cấu về thời hạn, số lượng và chi phí huy động vốn: Nếu thời hạn huy động quá ngắn, cũng ảnh ảnh đến thời hạn và quy mô cho vay của ngân hàng Số lượng và chi phí đầu vào cũng quyết định đến số lượng và lãi suất đầu ra; do đó công tác huy động vốn có hiệu quả cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng

- Cơ cấu cho vay: Về thành phần kinh tế, vùng kinh tế, thời hạn cho vay, phương thức cho vay trong từng thời kì

- Vòng quay vốn của ngân hàng

Vòng quay vốn = doanh số thu nợ (một năm)/Dư nợ cho vay bình quân (một năm)

Thông số này biểu hiện trong một năm, vốn của ngân hàng vận động được bao nhiêu vòng Nếu vòng quay càng lớn, chứng tỏ hoạt động tín dụng càng có hiệu quả, chất lượng cao mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng

- Chỉ tiêu nợ quá hạn: Nợ quá hạn là những khoản tín dụng không được trả đúng hạn và không đủ điều kiện gia hạn nợ Một khi khách hàng không thực hiện đúng hợp đồng tín dụng, để xuất hiện nợ quá hạn, có nghĩa là chất lượng của khoản tín dụng đó đã có vấn đề, khả năng mất vốn là rất cao trong trường hợp này Chỉ tiêu này được đo lường bằng số lưọng tuyệt đối hay tương đối biểu hiện

tỉ lệ phần trăm giữa dư nợ tín dụng được cấp ra mà không thu hồi được đúng hạn chia cho tổng dư nợ cho vay, cho thuê đến một thời điểm

Trang 15

- Nợ quá hạn khó đòi, nợ không có khả năng thu hồi: Đây là khoản vốn lúc này không còn là rủi ro nữa, mà đã mang lại thiệt hại cho ngân hàng Đây là kết quả trực tiếp biểu hiện chất lượng của một khoản tín dụng cấp cho khách hàng Một ngân hàng khi có tỉ lệ nợ này trên tổng dư nợ cho vay cho thuê là cao chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng là rất thấp và lúc này cần phải xem xét lại toàn bộ hoạt động tín dụng của mình nếu không hậu quả là khó lường trước được.

- Chỉ tiêu lợi nhuận trên tổng dư nợ: Là kết quả tổng hợp của hoạt động kinh doanh ngân hàng trong một thời kì, cho nên chỉ tiêu này không những phản ánh chất lượng của hoạt động kinh doanh nói chung, mà nó còn cả chất lượng tín dụng nói riêng Khi chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ hoạt động tín dụng có hiệu quả cao

- Chỉ tiêu lợi nhuận từ hoạt động tín dụng trên tổng lợi nhuận: Lợi nhuận của hoạt động ngân hàng được mang lại từ rất nhiều hoạt động khác nhau; trong

đó, tỉ trọng của lợi nhuận từ hoạt động tín dụng phản ánh mức độ đóng góp của hoạt động đó trên tổng lợi nhuận, phản ánh hiệu quả từ nó mang lại Nếu tỉ trọng này càng cao chứng tỏ một phần chất lượng tín dụng của ngân hàng cao

Từ phía xã hội: Chất lưọng tín dụng cao mang lại nhiều hiệu quả kinh tế xã

hội nhất định, tạo điều kiện trực tiếp hay gián tiếp cho các ngành kinh tế khác phát triển:

- Thúc đẩy sự phát triển kinh tế ngành và liên ngành

- Thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hôi: Góp phần biến những vùng đất ngèo, dân cư thưa thớt thành vùng kinh tế trù phú, góp phần thực hiện phân bố lại lao động trong cả nước theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước

- Các tác động gián tiếp về môi trường Khi cung cấp tín dụng, ngân hàng phải quan tâm đến mức độ ảnh hưởng của các dự án, phương án đến môi sinh môi trường, sức khoẻ của người dân

Trang 16

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG

Chất lượng tín dụng là chỉ tiêu tổng hợp, chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu

tố cả về phía ngân hàng và khách hàng

1.3.1 Nhân tố từ phía khách hàng

Khách hàng đến với ngân hàng nhằm mục đích tìm kiếm nguồn tài trợ cho hoạt động kinh doanh và phi kinh doanh của mình Và nguồn vốn được cung cấp cho khách hàng khi đủ điều kiện cấp tín dụng, nó được sự quản lý và vận hành của khách hàng đó Do vậy, khoản tín dụng có mang lại hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào khách hàng và phương án dự án sử dụng vốn của họ

+ Mục đích sử dụng vốn: Khi một khoản tín dụng được xem xét là có cho vay hay không, thì vấn đề đầu tiên là mục đích sử dụng của khách hàng về khoản tín dụng đó Vì chính mục đích của phương án, dự án sử dụng vốn là yếu tố hàng đầu quyết định đến tính khả thi và khả năng trả nợ của khách hàng

- Tính hợp pháp của phương án dự án: Một khi hoạt động đó là không hợp pháp, thì không thể nào tài trợ, vì rằng mặc dầu hoạt động đó có thể mang lại lợi nhuận rất cao nhưng tính rủi ro cũng không thể đo lường được là khả năng mất vốn và bị liên đới là khó có thể tránh khỏi

- Mục đích của phương án, dự án có phù hợp với mục tiêu của ngành, của địa phương và của cả nước hay không (mục tiêu này có thể căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước hoặc của địa phương trong từng thời kì)

- Tính khả thi từ việc phân tích mục đích sử dụng vốn và năng lực của khách hàng Nếu tính khả thi cao, thì khả năng thực hiện hợp đồng cũng cao và rủi ro mang lại cho ngân hàng cũng thấp hơn

+ Năng lực của khách hàng Như trên, tính khả thi của phương án, dự án sử dụng vốn phụ thuộc không những vào mục đích, mà còn rất lớn vào khả năng của khách hàng:

Trang 17

- Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của khách hàng:

Nó đảm bảo giá trị pháp lý của các văn bản đã kí kết giữa khách hàng và ngân hàng Năng lực pháp luật dân sự là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự giống nhau Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết Năng lực hành vi dân sự, là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự - Điều 19 Bộ luật Dân sự

- Khả năng đáp ứng các điều kiện tín dụng của ngân hàng: Giúp ngân hàng loại bớt những khoản vay có rủi ro cao, các điều kiện tín dụng Điều kiện tín dụng mang đến cho ngân hàng cơ sở pháp lý và kinh tế để cung cấp môt khoản vay an toàn và hiệu quả Trong đó đặc biết quan trọng là bảo đảm tín dụng giúp ngân hàng dự phòng các khoản thu, nếu khách hàng không thực hiện đúng hợp đồng và cũng là ràng buộc khách hàng sử dụng vốn có hiệu quả hơn

- Năng lực tài chính: Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng cấp cho một khách hàng Năng lực tài chính của khách hàng là khả năng

về vốn và tài sản của khách hàng đáp ứng cho sản xuất kinh doanh, cũng như trả

nợ của khách hàng Khả năng tài chính của khách hàng được đánh giá thông qua các chỉ tiêu định tính như: Các hệ số về cơ cấu vốn, hệ số về khả năng thanh toán,

hệ số về kết quả kinh doanh

- Năng lực thị trường: Đối với một khách hàng, khi vay vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, ngân hàng cần phải đánh giá năng lực thị trường của khách hàng đó; tức là vị trí của khách hàng, sản phẩm của họ trên thị trường như thế nào, từ đó mới biết được tính khả thi của phương án, dự án sản xuất kinh doanh đó Nhu cầu của thị trường trong hiện tại, cũng như trong tương lai về sản phẩm, khả năng cạnh tranh của sản phẩm thông qua phân tích tình hình và mức

độ cạnh tranh trên thị trường hiện tại và tương lai, các đối thủ cạnh tranh để thấy

Trang 18

điểm mạnh và điểm yếu và mạng lưới tiêu thụ sản phẩm cũng ảnh hưởng đến năng lực thị trường của khách hàng.

- Năng lực sản xuất: Nguốn trả nợ của khách hàng chủ yếu là từ chính kết quả của quá trình sản xuất, là lợi nhuận do phương án, dự án mang lại; do vậy, năng lực sản xuất của khách hàng quyết định đến chất lượng và số lượng đầu ra của sản phẩm và từ đó, ảnh hưởng đến doanh thu, lợi nhuận đầu vào của khách hàng, nguồn trả nợ ngân hàng

- Năng lực quản lý: Cơ cấu hệ thống quản trị, ban điều hành, trình độ kinh nghiệm, phương pháp quản lý của cán bộ lãnh đạo có ảnh hưởng đến tính chất

và khả năng hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng

- Tư cách đạo đức: Trong quan hệ tín dụng với khách hàng tư cách đạo đức quyết định đến thiện chí trả nợ và điều này quyết định đến hành động trả nợ của khách hàng

1.3.2 Nhân tố từ phía ngân hàng.

+ Chính sách tín dụng: Là hệ thống các chủ trương, định hướng quy định chi phối hoạt động tín dụng nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn để tài trợ cho các doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân trong phạm vi cho phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 19

ngân hàng cung cấp, nguồn vốn để tài trợ cho các hoạt động tín dụng, phương thức quản lý danh mục cho vay, thời hạn và điều kiện áp dụng các loại sản phẩm tín dụng khác nhau.

+ Chất lượng thẩm định: Thẩm định khách hàng nhằm xem xét khách hàng trong việc đáp ứng được các điều kiện cấp tín dụng, loại bỏ những khách hàng có rủi ro cao Chất lượng thẩm định được quyết định bởi:

- Trình độ năng lực của cán bộ quản lý, cán bộ tín dụng trực tiếp thẩm định khách hàng

- Hoạt động thông tin tín dụng của ngân hàng Là việc thu thập, tổng hợp, cung cấp, lưu trữ, phân tích xếp loại, dự báo, trao đổi, khai thác và sử dụng các thông tin về tài chính, quan hệ tín dụng, bảo đảm tiền vay, tình hình hoạt động và thông tin pháp lý của khách hàng có quan hệ với ngân hàng nhằm góp phần bảo đảm an toàn cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thông qua ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng

+ Giám sát tín dụng: Là việc theo dõi đánh giá và điều chỉnh quá trình cấp tín dụng của ngân hàng từ khâu thẩm định khách hàng đến giải ngân và thanh lý hợp đồng tín dụng Giám sát tín dụng nhằm mục đích:

- Nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng, đảm bảo tuân thủ các chiến lược tín dụng, chính sách phê duyệt tín dụng và cơ cấu dư nợ tín dụng theo quy định của ngân hàng

- Tài sản đảm bảo nợ vay phải được thực hiện đầy đủ và phù hợp với quy định của ngân hàng

- Các khoản gốc, lãi, phí tiền vay được thu, tính và hạch toán đầy đủ, đúng hạn

- Đảm bảo tính chính xác, đúng đắn trong hoạt động tài chính của ngân hàng

Trang 20

+ Nguồn vốn hoạt động: Quy mô, cơ cấu, thời hạn nói chung là chất lượng nguồn vốn có ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của ngân hàng, bởi vì hoạt động cấp tín dụng phải căn cứ vào nguồn vốn Nếu nguồn vốn dồi dào, thời hạn và cơ cấu phù hợp, sẽ giảm chi phí đầu vào và tạo nguồn hiệu quả nhất cho đầu ra, đảm bảo sức cạnh tranh thu hút khách hàng tốt.

+ Công nghệ ngân hàng: Có tác dụng làm cơ sở nền tảng nâng cao chất lượng cho các nghiệp vụ tín dụng

+ Tổ chức bộ máy và chất lượng nhân sự: Nhỏ gọn, hiệu quả đảm bảo đủ

số lượng, đáp ứng chất lượng sẽ làm cho ngân hàng hoạt động tốt hơn

1.3.3 Nhân tố từ môi trường khách quan.

+ Môi trường kinh tế: Có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng và cả ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động cấp và thu hồi tín dụng, cụ thể:

- Sự biến động có tính chu kỳ của nền kinh tế sẽ ảnh hưởng tới điều kiện kinh doanh, từ đó ảnh hưởng tới nguồn trả nợ ngân hàng Được biểu hiện qua các chỉ số kinh tế vĩ mô như: GDP, lãi suất, tỷ giá, lạm phát

- Tính chất cạnh tranh của thị trường ảnh hưởng đến nguồn thu, lợi nhuận thậm chí suy thoái và phá sản của khách hàng

+ Môi trường chính trị và pháp luật: Sự ổn định về chính trị, sự thống nhất

và hoàn thiện, sự thay đổi của chính sách có ảnh hưởng đến hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế nói chung và ngân hàng, khách hàng nói riêng trong quan hệ tín dụng

+ Khoa học - công nghệ: Sự tiến bộ khoa học - công nghệ quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của khách hàng và hoạt động của ngân hàng và đặt

ra vấn đề thời đại cho cả doanh nghiệp và ngân hàng - nắm bắt khoa học - công nghệ

Trang 21

+ Môi trường tự nhiên: Mang lại thuận lợi và rủi ro bất khả kháng cho cả ngân hàng và khách hàng.

+ Sự cân xứng về thông tin, số lượng và chất lượng thông tin về khách hàng vay luôn quyết định đến sự lựa chọn của cả ngân hàng và khách hàng trong hoạt động kinh doanh Đây cũng là nhân tố mang lại rủi ro đạo đức: vi phạm cam kết ban đầu nhằm kiếm lời và gây thiệt hại cho ngân hàng

1.4 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG

Ngân hàng, những chủ thể kinh doanh tiền tệ với hoạt động chủ yếu là cấp tín dụng cho nền kinh tế, là trọng tâm mang lại doanh thu, lợi nhuận cũng như hầu hết rủi ro tổn thất cho ngân hàng Do vậy, quản lý tín dụng nói chung và quản trị rủi ro nói riêng, luôn là vấn đề mà ngân hàng cần phải quan tâm hàng đầu vì

sự phát triển của chính mình và của toàn bộ hệ thống ngân hàng

1.4.1.Rủi ro tín dụng.

Rủi ro tín dịng là những nguy cơ thiệt hại, tổn thất về tài sản đối với ngân hàng thương mại phát sinh trong kinh doanh tín dụng

Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy

đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng hạn

Rủi ro tín dụng có những đặc điểm:

- Mọi ngân hàng trong quá trình hoạt động của mình đều gặp phải rủi ro, luôn tồn tại với hoạt động tín dụng ngân hàng mang tính chất khách quan, do vậy, ngân hàng phài có biện pháp chủ động đối phó

- Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp Việc không thực hiện đúng hợp đồng

kí kết giữa ngân hàng và khách hàng, gây đến tổn thất cho ngân hàng về tài sản, đều xuất phát từ chính rủi ro của khách hàng mang lại Một khi khách hàng gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình, làm ành hưởng đến nguồn thu, từ đó

Trang 22

làm khả năng trả nợ của khách hàng giảm đi Chính vì vậy, việc thẩm định khách hàng thường xuyên và phải đảm bảo tính chính xác cao để có thể lựa chọn đúng khách hàng, ngay từ khâu thẩm định và giải quyết kịp thời những khó khăn vướng mắc trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng.

- Đa dạng và phức tạp Hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau của nhiều khách hàng khác nhau, cho nên rủi ro từ đó mang lại cũng rất đa dạng và phức tạp Do vậy, để có thể đối phó hiệu quả với rủi

ro, ngân hàng cũng phải có nhiều biện pháp khác nhau phù hợp với từng loại rủi

ro trong từng thời kì

1.4.2 Nhận biết rủi ro tín dụng.

Một khoản vay khi được coi là có rủi ro cho ngân hàng, khi nó có những dấu hiệu có thể ảnh hưởng đế khả năng thanh toán của khách hàng Những dấu hiệu này không phải lúc nào cũng biểu hiện rõ ràng để chúng ta dễ nhận thấy, mà đội lúc trong quá trình diễn tiến, chúng vẫn còn rất mờ nhạt và đôi khi nhận thấy chúng thì đã quá muộn Do vậy để nhận thấy chúng một cách hiệu quả và kịp thời, chính cán bộ ngân hàng phải biết cách nhận biết chúng một cách có hệ thống

Nhóm 1: Nhóm dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng:

- Trong quá trình giao dịch vói khách hàng thông qua các tài khoản, Ngân hàng một phần có thể nắm được tính hình tài chính của họ qua một số dấu hiệu quan trọng như: Phát hành séc quá bảo chứng, khó khăn trong thanh toán lương,

sự dao động của các tài khoản mà đặc biệt là giảm sút số dư các tài khoản tiền gửi, tăng mức sử dụng bình quân các tài khoản, thường xuyên yêu cầu hỗ trợ vốn lưu động từ nhiều nguồn khác nhau, không có khả năng thực hiện các hoạt động cắt giảm chi phí, gia tăng các khoản nợ thương mại hay không có khả năng thanh toán nợ đến hạn với đối tác kinh doanh

Trang 23

- Đối với các hoạt động cho vay: Mức độ vay thường xuyên tăng, thanh toán chậm các khoản gốc và lãi, thường xuyên yêu cầu ngân hàng cho gia hạn, yêu cầu các khoản vay vượt quá dự kiến.

- Phương thức tài chính: Sử dụng nhiều các khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động phát triển dài hạn, chấp nhận sử dụng các nguồn tài trợ đắt nhất, giảm các khoản phải trả, tăng các khoản phải thu, hệ số thanh toán phát triển theo chiều hướng xấu, có biểu hiện giảm vốn điều lệ

Nhóm 2: Nhóm các dấu hiệu liên quan tới phương pháp quản lý của khách

hàng:

- Thay đổi thường xuyên cơ cấu hệ thống quản trị hoặc ban điều hành

- Hệ thống quản trị hoặc ban điều hành luôn bất đồng về mục đích, quản trị, điều hành độc đoán hoặc ngược lại quá phân tán

- Cách thức hoạch định của khách hàng có biểu hiện: Được hoạch định bởi Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc điều hành ít hay không có kinh nghiệm, tham gia quá sâu vào vấn đề thường nhật, thiếu quan tâm đến lợi ích của cổ đông và chủ nợ, lập kế hoạch xác định mục tiêu kém, kế hoạch người kế cận không đầy

đủ, quản lý có tính gia đình

- Có các chi phí quản lý bất hợp lý

Nhóm 3: Nhóm các dấu hiệu liên quan đến các ưu tiên trong kinh doanh.

- Dấu hiệu hội chứng hợp đồng lớn: Khách hàng bị ấn tượng bởi đối tác lớn dễ dẫn đến lệ thuộc, bất chấp mọi chi phí cơ hội để đạt được hợp đồng lớn

- Dấu hiệu hội chứng sản phẩm đẹp: Không đúng lúc hoặc bị ám ảnh bởi một sản phẩm, mà không chú ý tới các yếu tố khác

- Sự cấp bách không thích hợp: Thực hiện các hoạt động kinh doanh vội vàng, không tính đến yếu tố thời điểm phù hợp

Nhóm 4: Nhóm các dấu hiệu thuộc về vấn đề kỹ thuật và thương mại như:

- Khó khăn trong phát triển sản phẩm

Trang 24

- Thay đổi trên thị trường theo chiều hướng không có lợi như: Sự thay đổi

về thị hiếu, mất nhà cung ứng hay khách hàng lớn, thêm đối thủ cạnh tranh

- Những thay đổi từ chính sách của Nhà nước, đặc biệt là sự tác động của thuế, điều kiện thành lập và hoạt động môi trường kinh doanh

- Sản phẩm mang tính thời vụ, biểu hiện cắt giảm chi phí sửa chữa, thay thế

Nhóm 5: Nhóm các dấu hiệu về xử lý thông tin tài chính, kế toán:

- Chuẩn bị không đầy đủ số liệu tài chính hoặc chậm trễ, trì hoãn nộp báo cáo tài chính

- Những kết luận về phân tích tài chính cho thấy: gia tăng không cân đối về

tỷ lệ nợ thường xuyên, giảm khả năng tiền mặt, tăng doanh số nhưng lãi giảm hoặc không có, các khoản phải thu tăng, các khoản phải trả giảm, làm đẹp bảng cân đối bằng cách tạo ra các tài sản vô hình, thường xuyên không đạt kế hoạch

Nhóm 6: Dấu hiệu phi tài chính khác, là những dấu hiệu bằng mắt thường

cán bộ tín dụng có thể nhìn thấy như: Vấn đề về đạo đức thông qua dáng vẻ, cách giao tiếp, sự xuống cấp trông thấy ở nơi kinh doanh

Như vậy thông qua đặc điểm và các dấu hiệu rủi ro tín dụng, ngân hàng có thể đưa ra và áp dụng các biện pháp phòng ngừa và hạn chế một cách thực sự có hiệu quả để tránh rủi ro mang lại cho ngân hàng và nâng cao chất lượng tín dụng

Cụ thể ngân hàng có thể sử dụng các biện pháp như sau:

- Biện pháp đảm bảo các khoản vay

- Gặp gỡ khách hàng: Sau khi cấp tín dụng cho khách hàng trên cơ sở tin tưởng khách hàng có đầy đủ khả năng trả nợ tuy nhiên khi xuất hiện một số dấu hiệu rủi ro cho thấy sự giảm sút của chất lượng tín dụng thì ngân hàng phải gặp

gỡ khách hàng nhằm tìm các biện pháp khắc phục trên cơ sỏ sự hợp tác hay bằng chính quyền của ngân hàng

Trang 25

Kết luận chương 1

Qua việc nghiên cứu một số lí luận cơ bản trên có thể đánh giá được vai trò hết sức quan trọng của hoạt động quản lí tín dụng tại ngân hàng thương mại Từ

đó, rút ra những mặt đạt được và chưa được để tìm ra biện pháp khắc phục, tháo

gỡ nhằm đảm bảo hoạt động tín dụng ngày càng hiệu quả, góp phần xây dựng thị trường tài chính lành mạnh và ổn định

Trang 26

Chương 2THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẮC Á – CHI NHÁNH 57A

PHAN CHU TRINH – HÀ NỘI

2.1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTMCP BẮC Á

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng

Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhu cầu về các sản phẩm tài chính nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất, an ninh, quốc phòng, tiêu dùng và thanh toán ngày càng gia tăng Tuy nhiên việc đáp ứng các nhu cầu này của các ngân hàng đang còn hạn chế Do vậy, ngày 07 tháng 04 năm 1994 Ngân hàng TMCP Bắc Á được thành lập và đi vào hoạt động theo Quyết định số 183/QĐ-NH5 ngày 01 tháng 09 năm 1993 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trụ sở chính của Ngân hàng đóng tại thành phố Vinh tỉnh Nghệ An Mục tiêu của ngân hàng là đáp ứng nhu cầu và các dịch vụ tài chính ngày càng gia tăng của nền kinh tế Cùng với sự phát triển của đất nước, Ngân hàng TMCPBắc Á không ngừng lớn mạnh, hệ thống chi nhánh ngân hàng mở rộng, chất lượng dịch vụ ngày càng tốt, góp phần quan trọng vào sự thành công chung của hệ thống ngân hàng ở nước ta Với cổ đông, quyền lợi của họ được duy trì với mức cổ tức hàng năm ổn định và ở mức cao Còn với nhân viên đời sống vật chất và tinh thần của họ luôn được đảm bảo đầy đủ

Hơn mười năm hoạt động kinh doanh, ngân hàng TMCP Bắc Á đã liên tục phát triển về quy mô, vốn điều lệ, mạng lưới, tổ chức, hoạt động đảm bảo an toàn, kết quả kinh doanh có lãi, liên tục và được xếp vào một trong mười Ngân hàng cổ phần tốt nhất tại Việt Nam Với mức vốn điều lệ 71 tỷ đồng năm 2002 và

Trang 27

vào năm 2004 đã đạt 115 tỷ đồng, tăng gần gấp hai lần chỉ sau 4 năm Trong hoạt động kinh doanh của mình Ngân hàng tăng cường hợp tác chặt chẽ với các Ngân hàng thương mại và Tổ chức tín dụng khác trên nhiều lĩnh vực hoạt động kinh doanh như: hoạt động vốn trên thị trường liên ngân hàng, đồng tài trợ, uỷ thác đầu tư, ứng dụng các công nghệ mới như: homebanking, internetbanking, phonebanking, nhằm tăng chất lượng dịch vụ cho khách hàng Cụ thể: Ngân hàng TMCP Bắc Á là thành viên chính thức của Hiệp hội thanh toán viễn thông Liên ngân hàng toàn cầu, của Hiệp hội các Ngân hàng Châu á, Hiệp hội các Ngân hàng Việt Nam và Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam Ngoài ra, ngân hàng còn

là một trong mười ngân hàng được chọn tham gia vào hệ thống thanh toán tự động Liên Ngân hàng

Hoạt động tín dụng của Ngân hàng có tăng trưởng hàng năm khá Bên cạnh cho vay các doanh nghiệp truyền thống là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho vay tiêu dùng, tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay du học, xuất khẩu lao động, cho vay cổ phần hoá ,cũng là đối tượng tập trung đáp ứng của ngân hàng Các dự án lớn, các công trình lớn cũng được ngân hàng chú trọng đầu tư thông qua hình thức liên doanh, đồng tài trợ mang lại hiệu quả cao Việc củng cố, tăng cường các mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa các Ngân hàng với các Tổ chức tài chính – Tín dụng khác vẫn luôn được Ngân hàng chủ động lưu ý đúng mức Chất lượng tín dụng được coi trọng, thể hiện ở tỷ lệ nợ quá hạn từ 2% năm 2001 giảm xuống còn dưới 1% trên tổng dư nợ cho vay cho đến nay

Về kết quả kinh doanh, lợi nhuận trước thuế của Ngân hàng TMCP Bắc

Á trong mười năm qua đều tăng trưởng ổn định, đạt trên 9.925 triệu đồng năm tài chính 2002 đến năm 2003 là 12.406 triệu đồng, năm 2004 đạt cao nhất 15.210 triệu đồng Là một trong những ngân hàng có mức lợi nhuận trước thuế cao của

hệ thống các ngân hàng TMCP Kể từ khi thành lập và đi vào hoạt động đến nay, ngân hàng luôn thực hiện nghiêm túc, đầy đủ nghĩa vụ thuế với Nhà nước

Trang 28

Bờn cạnh hoạt động kinh doanh chớnh, ngõn hàng TMCP Bắc Á luụn chỳ trọng đến cỏc hoạt động đoàn thể, cụng đoàn, đoàn thanh niờn, thể thao, văn nghệ, gúp phần tạo lập mụi trường làm việc tốt cho toàn thể cỏn bộ nhõn viờn ngõn hàng Cho đến nay ngõn hàng luụn cú phong trào hoạt động mạnh mẽ với một Đảng bộ mạnh Mọi đơn vị đều cú tổ chức Cụng đoàn và Đoàn thanh niờn hoạt động sụi nổi, nhiệt tỡnh theo chương trỡnh hoạt động chung của toàn hệ thống và tớch cực tham gia vào chương trỡnh hoạt động trờn địa bàn, giao lưu nhằm tăng cường và củng cố mối quan hệ trong và ngoài hệ thống ngõn hàng.

Như vậy trong hơn 11 năm thành lập và hoạt động Ngõn hàng TMCP Bắc

Á đó đạt những thành tựu đỏng khớch lệ, Ngõn hàng đó được nhận những phần thưởng cao quý như: Cờ thi đua của Thủ tướng Chớnh phủ, bằng khen của Thống đốc Ngõn hàng Nhà nước về thành tớch hoạt động kinh doanh và cờ thi đua của

Uỷ ban nhõn dõn tỉnh Nghệ An Tuy khụng phải là một khoảng thời gian dài, nhưng với tất cả những gỡ đạt được thỡ ngõn hàng cú quyền tin tưởng vào sự phỏt triển của mỡnh trong tương lai, vững bước vào con đường hội nhập khu vực và quốc tế

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của ngõn hàng

- Ngân hàng TMCP Bắc á đến nay đã có một mạng lới hoạt động khá rộng khắp Trụ sở chính tại: 117 – Quang Trung thành phố Vinh- Nghệ An

Một văn phòng đại diện tại 27 Hàng Đậu quân Hoàn Kiếm – Hà Nội

Các chi nhánh: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Thanh Hoá và trong thời gian tới một chi nhánh ở Quảng Bình sẽ đợc thành lập

Ngoài ra ngân hàng còn có 5 phòng giao dịch, 10 quỹ tiết kiệm

Trong đó chi nhánh Hà Nội là một đơn vị trực thuộc hệ thống NHTMCP Bắc Á đợc thành lập theo Giấy phép số 1908/GP ngày 22 /5/1995

- Sơ đồ tổ chức:

Trang 29

Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức của ngân hàng TMCP Bắc á

2.1.3 Hoạt động kinh doanh và kết quả kinh doanh

2.1.3.1 Hoạt động nguồn vốn

Đối với ngân hàng TMCP Bắc á, hoạt động nguồn vốn đợc xem nh là khâu

mở đờng, tạo điều kiện cho các hoạt động của ngân hàng một nền tảng vững chắc

Do vậy, trong những năm qua ngân hàng luôn chú trọng vào công tác huy động vốn

từ nền kinh tế thông qua việc đa dạng hoá các hình thức, biện pháp, kênh huy động vốn và lãi suất có tính hấp dẫn cao Chính vì vậy lợng vốn nhàn rỗi huy động từ nền kinh tế luôn đầy đủ đáp ứng một cách kịp thời đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng tránh đợc tình trạng căng thẳng do thiếu vốn, cũng nh không để vốn của ngân hàng bị đóng băng gây thiệt hại không đáng có

Chúng ta có thể thấy kết quả hoạt động huy động vốn của ngân hàng TMCP Bắc á trong những năm gần đây qua bảng 2.1

Ta thấy nguồn vốn của Ngân hàng đã tăng rất nhanh qua hàng năm với tốc

Phòngkĩthuật

PhòngNghiệpvụ

PhòngKD

đối ngoại

CácphòngGDttực thuộcBan lãnh đạo

Trang 30

Bảng 2.1 Kết quả hoạt động huy động vốn của ngân hàng TMCP Bắc á

Trong phân tích tiền gửi huy động theo kì hạn cho thấy tiền gửi có kì hạn chiếm tỉ trọng cao trong tổng nguồn vốn huy động (năm 2002: 64,5%; năm 2003: 72,5% và năm 2004 : 64,7%) Đây ta nguồn vốn tơng đối ổn định, giúp ngân hàng chủ động trong kế hoạch đầu t tín dụng

Nhìn chung, trong 3 năm vừa qua, tuy rằng cơ cấu nguồn vốn huy động có sự biến động, nhng không ảnh hởng đến kết quả đầy khả quan của Ngân hàng Đây là kết quả của sự cố gắng đối với toàn thể ngân hàng do ý thức đợc tầm quan trọng của vốn huy động, những chiến lợc chính sách thu hút vốn hợp lý, tranh thủ mọi

Trang 31

nguồn nhàn rỗi thông qua đa dạng hóa hình thức và phơng thức huy động vốn, đảm bảo tính cạnh tranh cao Ngân hàng TMCP Bắc Á đã không ngừng hiện đại hoá hệ thống thanh toán, cải tiến công nghệ nhằm nâng cao chất lợng dịch vụ và tạo niềm tin, uy tín trên thị trờng Các sản phẩm tài chính của Ngân hàng đợc cụ thể hoá và hớng tới từng đối tợng khách hàng khác nhau, đối với khách hàng là cá nhân, mục

đích của họ là hởng lãi và tính an toàn, còn đối với khách hàng doanh nghiệp thì nâng cao tiện ích thanh toán đợc đặt lên đầu Đồng thời, Ngân hàng còn tổ chức những đợt trao thởng, tặng quà nhằm thu hút khách hàng cùng với thái độ phục vụ tốt của nhân viên Mặt khác, cũng phải nói đến trong thời gian qua nền kinh tế của nớc ta tăng trởng khá nhanh với tốc độ tăng GDP trên 7%/năm đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác huy động vốn của Ngân hàng Với chính sách phát triển kinh

tế đúng đắn của Đảng và Nhà nớc đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển thuận lợi, kèm theo nhu cầu thanh toán qua ngân hàng của các tổ chức kinh tế và ngời dân ngày càng tăng nên đã làm tăng kết quả giao dịch qua ngân hàng

2.2.2 Hoạt động tín dụng.

Hoạt động tín dụng là hoạt động truyền thống và trọng tâm mang lại chủ yếu

đến 70%-80% trên tổng thu nhập của ngân hàng (tuy rằng ở hệ thống ngân hàng hiện đại, tỉ lệ này có thấp hơn các ngân hàng truyền thống) và mặt khác, hoạt động

đó cũng mang lại những rủi ro chủ yếu cho ngân hàng Chính vì vậy, mục tiêu chủ yếu của quản lý ngân hàng là lợi nhuận trên cơ sở phục vụ tốt các nhu cầu tín dụng của cộng đồng Việc không đáp ứng các đòi hỏi hợp pháp của khách hàng về tín dụng, sẽ dẫn đến thiệt hại trớc mắt của kinh doanh và kết quả cuối cùng là vấn đề tồn tại của ngân hàng Do đó, xét về khía cạnh nào đó, khách hàng vay vốn chính là những ngời quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng

Mặt khác, trong mối quan hệ qua lại với hoạt động huy động vốn, mức độ sinh lời và an toàn ở khâu cho vay sẽ quyết định đến việc tăng trởng nguồn vốn huy

động Nếu một ngân hàng sử dụng vốn hiệu quả, khả năng mở rộng tín dụng tốt với

Trang 32

chất lợng cao, thì từ đó quyết định đến cơ cấu và quy mô huy động vốn của ngân hàng Ngợc lại, mức độ huy động và cơ cấu nguồn vốn sẽ quyết định đến danh mục cho vay của một ngân hàng thơng mại

Do đó, từ tình hình thực tế cụ thể, nhiệm vụ và mục tiêu của mình, Ngân hàng TMCP Bắc Á trong những năm qua đã không ngừng mở rộng lĩnh vực, cơ cấu, phơng thức cho vay thông qua việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính hấp dẫn, mang tính u đãi cao cho khách hàng, đặc biệt là khối khách hàng doanh nghiệp

Năm 2002 tổng d nợ đạt 1.105.113 triệu đồng tăng 510.667 triệu đồng so với năm 2001(85,9%)

Năm 2003 đạt 1.331.391 triệu đồng tăng 226.278 triệu đồng (20,5%) so với năm 2002

Năm 2004 đạt 1.726.789 triệu đồng tăng 395.398 triệu đồng (29,7% ) so vói năm 2003

Nh vậy nhìn chung thấy tín dụng của ngân hàng trong 3 năm đều có xu hớng tăng lên cả về quy mô lẫn tốc độ Tuy nhiên có một vấn đề là tốc độ tín dụng năm

2002 tăng quá nóng (85,9%) và cũng trong thời gian này tốc độ tăng của huy động vốn cũng tăng rất cao

a Đối với kết cấu tín dụng theo thời hạn:

Bảng 2.3: Tình hình tăng trởng tín dụng theo kết cấu kì hạn của ngân hàng

Trang 33

(Nguồn: Phũng tớn dụng ngõn hàng TMCP Bắc Á)

Đơn vị tính: Triệu đồng

Qua kết cấu tín dụng theo thời hạn cho chúng ta thấy đặc điểm cơ cấu nhu cầu của thị trờng

+ Đối với tín dụng ngắn hạn: Khách hàng có nhu cầu vay ngắn hạn nhắm

đáp ứng thiếu hụt thanh khoản tạm thời trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng

nh tiêu dùng của khách hàng Đối với những khoản tín dụng này thời hạn ngắn nên tính thanh khoản cao hơn tín dụng dài hạn tuy nhiên lại mang lại thu nhập ít và không ổn định:

Trang 34

lại đợc điều chỉnh lại cho phù hợp, bởi vì trong năm 2002 cùng với nền kinh tế tăng trởng nhanh, nhu cầu vốn tăng ngày càng nhiều Nhng tốc độ tăng trởng tín dụng này là quá cao dễ dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, mặt khác d nợ tín dụng cũng đã vợt quá mức cho phép để đảm bảo an toàn do vậy ngân hàng đã điều chỉnh lại cho phù hợp

+Đối với tín dụng dài hạn: Tín dụng dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu tài trợ cho các dự án sản xuất kinh doanh, tiêu dùng cơ bản có tính lâu dài Đối với khoản tín dụng này do thời gian sử dụng và hoàn trả trong thơi gian khá lâu cho nên tính thanh khoản rất thấp, rủi ro mang lại do các biến động của thị trờng và chính khách hàng là rất lớn Chính vì vậy đối với các khoản tín dụng này cần có những ràng buộc chặth chẽ để đảm bảo an toàn cho ngân hàng

Năm 2002 d nợ tín dụng trung dài hạn đạt 484.039 triệu đồng tăng +261.122 triệu đồng (117,1%) so với năm 2001

Năm 2003 đạt 556.521 triệu đồng tăng +72.482 triệu đồng (15,0%) so với năm 2002

Năm 2004 đạt 678.676 triệu đồng tăng 122.155 triệu đồng (21,9%) so với năm 2003

Tín dụng trung dài hạn cũng có sự biến động tơng tự, tức là năm 2002 tốc độ tăng rất cao, năm 2003 thấp nhất và tăng vào năm 2004 Cũng xuất phát từ những lí

do nh trên tuy nhiên so với tín dụng ngắn hạn thì tín dụng trung dài hạn có tốc độ tăng trởng thấp hơn Mặt khác xét về tỉ trọng thì tín dụng trung dài hạn có tỉ trọng thấp hơn và xu hớng giảm xuống: Năm 2002 đạt 43,8%, năm 2003 đạt 41,8% và

đến năm 2004 tỉ trọng còn 39,3 % trên tổng d nợ tín dụng của toàn năm Nguyên nhân của tình trạng này là đối tợng khách hàng của doanh nghiệp là các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động dịch vụ là chủ yếu cho nên vòng quay vốn rất ngắn, nhu cầu vốn của họ chủ yếu là tài trợ cho các phơng án ngắn hạn và thanh toán,việc cho vay theo hạn mức tín dụng thông qua tài khoản tại ngân hàng khá phát triển Mặt khác do nhu cầu đầu t của thị trờng trong thời gian này có xu hớng chững lại

Trang 35

và một lí do khác là do cơ cấu huy động vốn của ngân hàng trong năm 2004 giảm xuống so với năm trớc.

b Đối với kết cấu tín dụng theo thành phần kinh tế:

Bảng 2.3: Tình hình tăng trởng tín dụng theo thành phần kinh tế của ngân hàngNăm

Trang 36

trong tiến tình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc thì số lợng doanh nghiệp quốc doanh ngày càng thu hẹp thay vào đó là sự mở rộng của các loại hình doanh nghiệp khác với quy mô ngày càng mở rộng, kinh doanh linh hoạt mang lại hiệu quả cao và tạo uy tín ngày càng tốt đối vói các ngân hàng thơng mại Ngoài ra do

đây là một ngân hàng cổ phần tính chất và quy mô nguồn vốn không đủ khả năng cạnh tranh với các ngân hàng lớn khác Tuy nhiên chúng ta thấy d nợ tín dụng của ngân hàng trong cả hai khu vực đều tăng qua hai năm vừa qua cụ thể:

+ Khu vực kinh tế quốc doanh:

Năm 2002 tổng d nợ tín dụng với các doanh nghiệp quốc doanh đạt 215.497 triệu đồng ( tỉ trọng 19,5% tổng d nợ) tăng 112.064 triệu đồng (108,3%) so với năm 2001

Năm 2003 đạt 286.648 triệu đồng ( chiếm tỉ trọng 21,53% trên tổng d nợ tín dụng) tăng 71.151 triệu đồng ( 33,0%) so với năm 2002

Năm 2004 đạt 317.582 triệu đồng ( chiếm tỉ trọng 18,39% ) tăng 30.934 triệu đồng (10,8%) so với năm 2003

Nh vậy tín dụng trung và dài hạn đối với các doanh nghiệp quốc doanh tại ngân hàng TMCP Bắc á có biến động khá ổn định tuy nhiên vào năm 2004 thì tốc

độ tăng và tỉ trong có xu hớng giảm đi nhiều vì cũng không ngoài xu thế chung đó

là việc giảm đần cả về tốc độ tăng trởng và tỉ trọng trên tổng d nợ tín dụng tại khu vực kinh tế này

+ Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh: Với tính năng động và hiệu quả kinh tế ngày càng cao cho nên đây là đối tợng giao dịch chính của ngân hàng

Năm 2002 tổng d nợ tín dụng với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 889.616 triệu đồng ( chiếm tỉ trọng 80,5% trên tổng d nợ tín dụng) tăng +398.603 triệu đồng (+81,1%) so với năm 2001

Năm 2003 đạt 1.044.743 triệu đồng (chiếm tỉ trọng 78,47%) tăng +155.127 triệu đồng (+17,4%) so với năm 2002

Trang 37

Năm 2004 đạt 1.409207 triệu đồng ( chiếm tỉ trọng 81,6%) tăng +364.464 triệu đồng (34,9%) so với năm 2003

Đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ngân hàng duy trì một tốc độ tăng trởng rất cao vào năm 2002 nhng ngay sau đó tỉ lệ này giảm xuống rất nhiều vào năm 2003 Đến năm 2004 đợc duy trì một tỉ lệ hợp lý Bởi vì đây là một khu vực kinh tế khá năng động cho nên nhu cầu vốn tại ngân hàng có sự biến động rất nhạy cảm với nền kinh tế

Nh vậy hoạt động tín dụng của ngân hàng trong thời gian qua có những kết quả rất khả quan với sự tăng lên khá cao về quy mô lẫn tốc độ tăng trởng tuy rằng trong một số khoản mục biểu hiện quá nóng, sự biến động không đồng đều của một

số khoản mục qua các năm Nguyên nhân của tình hình này là do sự biến động của môi trờng kinh tế ảnh hởng đến nhu cầu vốn của các doanh nghiệp và một phần quy mô nguồn vốn của ngân hàng khá nhỏ cho nên chỉ cần sự biến động của một khách hàng lớn cũng đủ ảnh hởng đến quy mô tín dụng của ngân hàng

Để đạt đợc kết quả nh vậy là do ngân hàng đã có nhận thức rõ về những cơ hội đang có và căn cứ vào khả năng của mình Ngân hàng đã có một định hớng rất

rõ ràng cho hoạt động tín dụng, đó là: giữ vững thị trờng khách hàng truyền thống; tăng cờng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ; không ngừng mở rộng ra các đối tợng khách hàng tiềm năng, kết hợp tăng cờng cho vay đa dạng nh hợp vốn, đồng tài trợ Cũng nhờ đó mà ngân hàng đã tạo đợc những tiền đề cho một hớng đi đúng: cho vay đa thành phần kinh tế, một hớng đi đã đem lại một hiệu quả kinh doanh cao và tăng trởng ổn định trong 10 năm qua cho ngân hàng

Hiện nay khách hàng vay vốn tại NHTMCP bao gồm 2 đối tợng chính từ: khu vực kinh tế quốc doanh ( doanh nghiệp nhà nớc ) và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ( công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn

đầu t nớc ngoài, doanh nghiệp t nhân và các cá nhân )

Trang 38

Thực tế này cho thấy ngân hàng đã và đang cố gắng thực hiện tốt những

định hớng hoạt động tín dụng đã đề ta và do đó đã đạt đợc một kết quả đáng khích lệ

2.2.3 Các hoạt động khác:

Ngoài những nghiệp vụ truyền thống trớc đây nh nhận tiền gửi và cho vay, hiện nay các ngân hàng thơng mại đã không ngừng gia tăng các hoạt động dịch vụ ngân hàng với mức thu chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu nhập của ngân hàng Đó là xu hớng chung của các ngân hàng hiện đại ngày nay Nắm đợc xu thế phát triển chung đó, NHTMCP Bắc á đã từng bớc ứng dụng các thành tựu khoa học- công nghệ hiện đại cùng với sự phát triển các loại hình dịch vụ đa dạng, phong phú đáp ứng đợc đòi hỏi của nền kinh tế thị trờng linh hoạt và năng động

- Dịch vụ thanh toán:

Nhờ việc áp dụng khoa học công nghệ mới, chất lợng thanh toán đã đợc tăng lên rõ rệt, thời gian thanh toán đợc rút ngắn, việc kiểm tra giám sát đợc thực hiện nhanh chóng, thuận tiện bảo đảm an toàn, chính xác

Ngân hàng đã chính thức tham gia hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, thu hút đợc nhiều tổ chức kinh tế và t nhân đến

mở tài khoản tiền gửi giao dịch với ngân hàng ngày càng tăng, đa doanh số thanh toán tăng tuy nhiên quy mô tăng còn hạn chế

Nhận thức đợc xu thế phát triển của thị trờng và là ngân hàng có một số lợng

đáng kể khách hàng lớn, hoạt động có hiệu quả và có nhiều tiềm năng nên nhu cầu của khách hàng sẽ ngày càng đa dạng hơn

- Hoạt động kinh doanh ngoại tệ:

Hoạt động kinh doanh ngoại tệ có những chuyển biến tích cực và đạt đợc những kết quả khích lệ

Cùng với việc đáp ứng đủ nhu cầu của khách hàng đặc biệt là đáp ứng tốt cho những khách hàng truyền thống, hoạt động kinh doanh ngoại tệ còn mang lại

Trang 39

nguồn thu đáng kể cho ngân hàng đặc biệt khắc phục đợc tình trạng khan hiếm ngoại tệ phục vụ khách hàng những năm trớc đây.

- Hoạt động kế toán, quản lý tài chính và kho quỹ:

Ngân hàng đã đa chơng trình phần mềm kế toán mới vào trong hoạt động của mình cùng với đó là việc triển khai thêm nhiều sản phẩm tiết kiệm mới nên số lợng khách hàng và chứng từ giao dịch cũng tăng lên đáng kể Tuy còn gặp khó khăn khi triển khai sản phẩm mới nhng hoạt động kế toán của ngân hàng đợc tiến hành nhanh hơn và thuận tiện hơn nhờ có hệ thống thanh toán điện tử Tuy nhiên, việc cha hoàn chỉnh của các chơng trình kế toán ít nhiều cũng ảnh hởng đến chất l-ợng phục vụ khách hàng

2.2.4 Kết quả kinh doanh:

Ngân hàng TMCP Bắc á là một trong những Ngân hàng đạt đợc kết quả khá cao trong khối các ngân hàng thơng mại cổ phần trong nhiều năm qua

Kết quả kinh doanh của ngõn hàng trong 3 năm vừa quả thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.4: Kết quả hoạt động kinh doanh của ngõn hàng

năm Chỉ tiờu

Số tiền Số tiền % CL Số tiền % CL

1 Thu lói TG,và cho vay 150.577 185.282 23,05 228.586 23,37

Chi trả lói TG, kỡ phiếu và GTCG 100.079 109.421 9,33 134.891 23,28

Chi trả lói tiền vay 9.346 25.430 172,10 26.812 5,43

Chi khỏc 1.245 1.042 -16,31 2.401 130,42

Thu phớ bảo lónh 8.354 11.599 38,84 16.245 40,06

Thu kinh doanh Ng.tệ, vàng bạc 4.429 6.652 50,19 9.722 46,15

Lói thuần tự hoạt động đầu tư 652 978 50,00 1.564 59,92

Thu khỏc 1.239 1.458 17,68 1.151 -21,06

6.Chi phớ hoạt động và cụng vụ 44.656 57.670 29,14 77.955 35,17

Trang 40

Chi phí cho nhân viên 12.255 17.934 46,34 25.929 44,58

Chi phi cho quản lí và công vụ 7.067 6.751 -4,47 8.329 23,37

Qua bảng trên nhìn chung ta thấy hoạt động kinh doanh của ngân hàng khá

ổn định, thu lãi cho vay của ngân hàng qua năm 2003 là 23,05% và đến năm

2004 đạt 23,37%, còn chi phí của ngân hàng có tốc độ tăng thấp hơn: năm 2003

là 22,79% và đến năm 2004 là 20,76 % có xu hướng giảm về tốc độ như vậy là khá tốt Đi vào cụ thể chúng ta thấy trong năm 2003 lãi trả tiền vay của ngân hàng tăng rất nhanh và giảm thấp vào năm 2004 Còn đối với lãi trả tiền gửi, kì phiếu và giấy tờ có giá trong năm 2003 tăng thấp trong khi đó lại tăng nhanh vào năm 2004 nguyên nhân này là do trong năm 2004 ngân hàng có tốc độ tăng trưởng huy động vốn gấp đối năm 2003 ( 40,1%,21,1%) Trong khi đó chi khác của ngân hàng lại biến động rất mạnh, giảm vào năm 2003 (-16,31%) và tăng cao trong năm 2004 ( 130,42%) điều này cần phải xem xét lại

Đối với thu nhập ngoài lãi lại có xu hướng giảm nhẹ về tốc độ tăng trưởng nguyên nhân do hoạt động kinh doanh ngoại tệ và vàng bạc, thu khác giảm, còn hoạt động bảo lãnh ngân hàng và hoạt động đầu tư đều duy trì tốc độ tăng của năm sau cao hơn năm trước

Về kết quả ròng từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng cho thấy lợi nhuận qua hai năm đều tăng với tốc độ khá nhưng tốc độ này lại không được duy trì vào năm 2004

2.2.5 Chất lượng tín dụng của ngân hàng TMCP Bắc Á.

Ngày đăng: 11/04/2013, 11:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức của ngân hàng TMCP Bắc á - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ở Ngân hàng thương mai cổ phần Bắc Á, chi nhánh 57A Phan Chu Trinh-Hà Nội
Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức của ngân hàng TMCP Bắc á (Trang 29)
Bảng 2.1. Kết quả hoạt động huy động vốn của ngân hàng TMCP Bắc á - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ở Ngân hàng thương mai cổ phần Bắc Á, chi nhánh 57A Phan Chu Trinh-Hà Nội
Bảng 2.1. Kết quả hoạt động huy động vốn của ngân hàng TMCP Bắc á (Trang 30)
Bảng 2.3: Tình hình tăng trởng tín dụng theo kết cấu kì hạn của ngân hàng - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ở Ngân hàng thương mai cổ phần Bắc Á, chi nhánh 57A Phan Chu Trinh-Hà Nội
Bảng 2.3 Tình hình tăng trởng tín dụng theo kết cấu kì hạn của ngân hàng (Trang 32)
Bảng 2.3: Kết cấu d nợ tín dụng theo kì hạn của ngân hàng. - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ở Ngân hàng thương mai cổ phần Bắc Á, chi nhánh 57A Phan Chu Trinh-Hà Nội
Bảng 2.3 Kết cấu d nợ tín dụng theo kì hạn của ngân hàng (Trang 33)
Bảng 2.3: Kết cấu d nợ tín dụng của ngân hàng. - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ở Ngân hàng thương mai cổ phần Bắc Á, chi nhánh 57A Phan Chu Trinh-Hà Nội
Bảng 2.3 Kết cấu d nợ tín dụng của ngân hàng (Trang 35)
Bảng 2.3: Tình hình tăng trởng tín dụng theo thành phần kinh tế của ngân hàng - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ở Ngân hàng thương mai cổ phần Bắc Á, chi nhánh 57A Phan Chu Trinh-Hà Nội
Bảng 2.3 Tình hình tăng trởng tín dụng theo thành phần kinh tế của ngân hàng (Trang 35)
Bảng 2.4: Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ở Ngân hàng thương mai cổ phần Bắc Á, chi nhánh 57A Phan Chu Trinh-Hà Nội
Bảng 2.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng (Trang 39)
Bảng 2.5: Tình hình nợ quá hạn của ngân hàng. - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ở Ngân hàng thương mai cổ phần Bắc Á, chi nhánh 57A Phan Chu Trinh-Hà Nội
Bảng 2.5 Tình hình nợ quá hạn của ngân hàng (Trang 41)
Bảng 2.6: Dư nợ cho vay theo biện pháp đảm bảo. - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ở Ngân hàng thương mai cổ phần Bắc Á, chi nhánh 57A Phan Chu Trinh-Hà Nội
Bảng 2.6 Dư nợ cho vay theo biện pháp đảm bảo (Trang 43)
Bảng 2.8: Hiệu suất sử dụng vốn của ngân hàng. - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ở Ngân hàng thương mai cổ phần Bắc Á, chi nhánh 57A Phan Chu Trinh-Hà Nội
Bảng 2.8 Hiệu suất sử dụng vốn của ngân hàng (Trang 46)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w