1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Việt Nam vào thị trường EU-2003(1)

32 455 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 170,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU chủ yếu là hàng dệt may, giày dép, thủy sản, cà phê, khoáng sản than đá và hàng tiêudùng sử dụng nhiều lao động như: đồ gỗ, hàng thủ công mỹ

Trang 1

Khoa Thương mại và Kinh tế Quốc tế

Đỗ Nhật TrangĐào Thị Thu

Lê Ánh Dương

Trang 2

a Một thị trường đa dạng khó tính, đòi hỏi nhiều cách tiếp cận.

b Có sự cạnh tranh gay gắt nên hàng hoá phải có chất lượng sản phẩmcao, mẫu mã bao bì phải đổi mới bắt mắt

c Phải quan tâm đến sức khoẻ, an toàn và môi trường

d Hàng hoá nếu đã vào được 1 thành viên thì sẽ được luân chuyển toàn

EU bằng đồng EURO

e Các mặt hàng rau quả chủ lực mà EU nhập vào là: Chuối, Táo, Nho,quả có múi và rau tươi Các mặt hàng này thường nhập khẩu trực tiếp vào HàLan - Pháp - Bỉ sau đó được bảo quản và vận chuyển đi các nước EU khác quacác công ty phân phối của EU

Cách tính thuế nhập khẩu còn dựa trên biểu giá tham chiếu: Giá hàngnhập có giá cao hơn và thấp hơn giá tham chiếu được xem xét để quyết địnhmức thuế khác nhau

f Được áp dụng hệ thống ưu đãi phổ cập GSP (Generalifed Systems ofPreferences) nhằm hỗ trợ XK từ các nước đang phát triển hoặc nước phát triểnkém Thuế nhập 0% cho hàng NLS Nếu mặt hàng công nghiệp (đồ gỗ) cóchứng chỉ thân thiện môi trường được giảm 15-35% thuế quan

g Các qui định về hàng rào kĩ thuật của EU ban hành chủ yếu để bảo vệngười tiêu dụng như:

Trang 3

- Ngoài ra EU còn áp dụng: Tiêu chuẩn thị trường chung CAP (CommonAuthentication Policy) cho mọi loại sản phẩm tươi (chất lượng – bao bì – nhãnmác) Nếu xét đủ 3 P/c này thì được cấp giấy chứng nhận CAP và được vào EU.

-Cũng cần lưu ý cả đến quy trình canh tác nông nghiệp đảm bảo GAP nữa(Good Agriculture Practice) Qui định này nhằm cấm các sản phẩm sản xuất sảnxuất ra mà ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm, môi trường của nước xuất khẩu

Hiện tại EU áp dụng tiêu chuẩn GAP với các sản phẩm rau quả nhập khẩu

và đưa vào bán tại các siêu thị ở EU Ngoài ra EU còn áp dụng với nhiều mặthàng khác như: sản phẩm chăn nuôi, trái cây, thức ăn cho gia súc

- Về HACCP hệ thống phân tích điểm kiểm soát tối hạn trọng yếu (thuốctrừ sâu, thuốc thú y: MRLs = Maximum Residue limits) để được vào EU Quiđịnh này thường được áp dụng cho các sản phẩm đồ uống, các loại gia vị, thựcphẩm

- Về Hiệp định SPS (Sanaritary and Phytosanitary Measures Agreement)Hiệp định về các biện pháp vệ sinh và kiểm định động thực vật: Nội dung cơbản của SPS là đưa ra các quy tắc cơ bản đối với các tiêu chuẩn an toàn thựcphẩm và sức khỏe vật nuôi, cây trồng, được áp dụng riêng cho từng quốc gia vàthống nhất với SPS

- Qui định về môi trường như:

Qui đinh về sản phẩm thân thiện với môi trường như: bao bì phải có khảnăng phân hủy hoặc có khả năng tái chế lại; hóa chất bảo quan không ảnh hưởngdến sức khỏe người sử dụng và môi trường; trong quá trình sử dụng sản phẩmkhông ảnh hưởng đến môi trường Qui định này áp dụng đối với các sản phẩmoto, đồ gỗ…

h Một số qui định khác như tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội – qui địnhnày nhằm bảo vệ người lao động ở nước xuất khẩu Qui định này hiệu tại EU ápdụng đối với 22 ngành nghề và thường là những ngành sử dụng nhiều lao động

Trang 4

như: dệt may, hàng thủ công, gốm sứ… EU áp dụng đối với 30 nước xuất khẩutrong đó có Việt Nam.

i Hiện nay EU áp dụng hạn ngạch đối với một số mặt hàng như dệt may,

cà phê, một số mặt hàng thủy sản việc áp dụng hạn ngạch này được áp dụngmột phân nhằm bảo về nên sản xuất của các quốc gia trong nội khối EU

Nhưng hạn ngạch về hàng dẹt may đã được xóa bỏ vào năm 2005 khiHiệp định Đa sợi được áp dụng Nhưng mặt hàng cà phê hiện này vẫn được ápdụng

Quan hệ thương mại Việt Nam - EU

Quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước thành viên của Liên minhChâu Âu phát triển mạnh từ những năm đầu thập kỷ 90 sau khi Việt Nam kýmột loạt hiệp định song phương với EU như Hiệp định khung về hợp tác kinh tế,khoa học và kỹ thuật (năm 1990), Hiệp định dệt may (năm 1994, 1996, 1997,

2000, 2003); Hiệp định giày dép (năm 2000)… EU đã và đang trở thành một đốitác quan trọng, một thị trường rộng lớn, có khả năng tiêu thụ nhiều loại sảnphẩm của Việt Nam Hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU chủ yếu

là hàng dệt may, giày dép, thủy sản, cà phê, khoáng sản (than đá) và hàng tiêudùng sử dụng nhiều lao động như: đồ gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ… với chấtlượng, mẫu mã và tiêu chuẩn phù hợp với người tiêu dùng châu Âu

Bảng: Kim ngạch xuất khẩu hàng VN sang EU qua các năm

Đơn vị: triệu Euro)

Trang 5

khẩu sang khối EU tăng trưởng cao đặc biệt ở một số nhóm hàng sau: dệt maytăng 51%, cà phê tăng 110%, thuỷ sản tăng 23,8%,… Nhóm hàng giày dép dẫnđầu về kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này cũng đạt 1,22 tỷ USD và tăng18,1% so với cùng kỳ 2010 Các thị trường Đức, Anh, Hà Lan, Pháp và Tây BanNha là 5 thị trường lớn nhất thuộc EU nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam vớitổng trị giá đạt hơn 5 tỷ USD, chiếm 67,6% trị giá xuất khẩu sang khu vực này.

1.1 Xuất khẩu giày dép Việt Nam sang EU

a Kim ngạch xuất khẩu

EU là thị trường nhập khẩu giày dép lớn của Việt Nam trên thế giới Giầydép và sản phẩm da Việt Nam trước kia xuất khẩu vào EU phải chịu sự giám sát(phải xin phép trước khi nhập khẩu), nhưng sau khi ký Hiệp định hợp tác ViệtNam - EU (17/7/1995) nhóm hàng này được nhập khẩu tự do vào EU Kimngạch xuất khẩu kể từ đó tăng nhanh đáng kể, năm 1996 đạt 664,6 triệuUSD, năm 2000 con số này tăng lên 1.456,8 triệu USD và kết thúc năm 2001kim ngạch xuất khẩu của ngành sang thị trường Châu Âu là 1.843,3 triệu USD.Trong giai đoạn này, hàng giầy dép luôn là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩuvào EU lớn nhất của Việt nam vì mặt hàng này được hưởng thuế ưu đãi GSP vàViệt Nam và EU đã ký tắt biên bản ghi nhớ về chống gian lận trong buôn báncác sản phẩm giày dép tháng 8/1999, áp dụng từ 1/1/2000

Từ năm 2001 đến 2005, kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang

EU tiếp tục tăng lên không ngừng qua từng năm Năm 2006, dưới tác động của

vụ kiện bán phá giá giày mũ da, thị phần xuất khẩu giày dép của Việt Nam vàothị trường EU đã bị giảm mạnh Sau hơn 4 năm phải chịu mức thuế chống bánphá giá ở mức 10%, ngành da giày nước ta đã bị thiệt thòi khá lớn về tài chính.Theo thống kê của Bộ Công thương, trước năm 2005, khi Ủy ban châu Âu (EC)chưa áp thuế chống bán phá giá , tỷ trọng giày dép xuất khẩu vào EU của hầuhết các DN đều ở mức 60-80%, còn tại thời điểm này chỉ còn là 45-55%

Năm 2009, khi quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập cho mặt hàng giày daxuất khẩu vào EU bị bãi bỏ, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này vào EU có phầnsút giảm khi sản phẩm giày da VN sẽ phải gánh chịu mức thuế cao hơn khi tiêu

Trang 6

thụ tại thị trường này Tỷ trọng xuất khẩu sang EU đã giảm xuống còn 50%,thay vì 60-70% như những năm trước đây, các đơn hàng dần chuyển sang phục

vụ thị trường Mỹ Tuy nhiên, EU vẫn là thị trường nhập khẩu giày dép chính củaViệt Nam với 2 tỉ USD trong năm 2010, vượt Hoa Kỳ (1,3 tỉ USD), vượt xaNhật Bản (115 triệu USD)

Đến tháng 4 năm 2011, thuế chống bán phá gia không còn hiệu lực, giày

mũ da không còn phải chịu thuế 10% khi xuất khẩu vào EU Đây được coi làmột dấu hiệu tốt nhưng đồng thời cũng là một áp lực không nhỏ cho ngành giàydép Việt Nam khi cạnh tranh với đối thủ lớn Trung Quốc (trước đó, Trung Quốcphải chịu mức thuế lớn hơn là 16,5 % và cũng được bãi bỏ cùng thời điểm).Theo số liệu của Tổng cục hải quan, trong tám tháng đầu năm 2011, kim ngạchxuất khẩu giày dép của Việt Nam đạt trên 4,2 tỉ đô la Mỹ, trong đó sang cácnước EU là 1,89 tỉ đô la Mỹ, chiếm 45% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hànghóa này, tiếp đến là Mỹ với 1,23 tỉ đô la Mỹ (tăng 39% so với cùng kỳ nămngoái), chiếm 29,3%, đứng thứ ba là thị trường Nhật Bản (4,1%)

b Hình thức xuất khẩu

Cũng như hàng dệt may xuất khẩu, giày dép xuất khẩu của nước ta chủyếu vẫn thực hiện gia công cho đối tác nước ngoài nên hiệu quả kinh tế thu đượcrất thấp (chỉ 20 - 25%) Hơn nữa, do gia công theo đơn đặt hàng và sản xuất theoquy trình kỷ thuật nhập khẩu nên các doanh nghiệp hoàn toàn bị động về mẫu

mã, phụ thuộc vào quy trình sản xuất cũng như thị trường tiêu thụ Nếu cứ kéodài tình trạng này thì giày dép Việt Nam sẽ ở vào vị trí hoàn toàn bất lợi trongcạnh tranh trên thị trường EU nhất là trong giai đoạn hiện nay khi EU đã xoá bỏchế độ ưu đãi thuế quan cho các mặt hàng giày dép xuất khẩu vào EU Điều nàyđồng nghĩa với việc các sản phẩm giày dép Việt Nam sẽ phải chịu sức ép cạnhtranh rất lớn với các sản phẩm cùng loại của các đối thủ Trung Quốc và cácnước ASEAN khác

c Cơ cấu mặt hàng giày dép xuất khẩu

Các sản phẩm giầy dép của Việt Nam xuất sang EU rất đa dạng, chủ yếu

là giầy thể thao, chiếm trên 40% kim ngạch xuất khẩu giầy dép của Việt Nam

Trang 7

sang thị trường này, giầy vải gần 20%, giầy nữ khoảng 15%, dép khoảng 17%

và giầy da hơn 1,5% (theo thống kê của Bộ Thương mại - 2008)

Trang 8

d Bạn hàng xuất khẩu giày dép

Quan hệ thương mại Việt Nam - EU ngày càng phát triển Việt Nam đã

mở rộng thị trường xuất khẩu giày dép sang hầu hết các nước trong khối EU.Đức là thị trường nhập khẩu giày dép Việt Nam lớn nhất trong khu vực, tiếpđến là Pháp (21,0%), Anh (14,3%), Bỉ (12,3%), Italia (8,1%), Hà Lan (7,9%),Tây Ban Nha (4,6%), Thụy Điển (2,2%), Đan Mạch (1,3%), Hy Lạp (0,8%), Áo(0,8%), Phần Lan (0,8%), Ai Len (0,6%), Bồ Đào Nha và Lúc Xăm Bua (0,3%).Thị trường EU hiện tại và tương lai có thể nói làmột thị trường đầy tiềm năngnhưng cũng đầy thách thức đối với ngành da giày của Việt Nam

1.2 Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang EU

Dệt may là mặt hàng xuất khẩu chủ lực thứ hai của Việt Nam sang EU Đây

là ngành hàng tạo ra rất nhiều công ăn việc làm, giải quyết được nhiều lao độngtrong nước và thực sự ngành dệt may Việt Nam đã có những tiến triển vượt bậctrong những năm qua Sau 18 năm thực hiện Hiệp định Dệt may Việt Nam - EU,

EU đã trở thành thị trường nhập khẩu hàng may mặc lớn thứ hai của Việt Nam,chỉ xếp sau Hoa Kỳ

a Kim ngạch xuất khẩu

EU là thị trường xuất khẩu theo hạn ngạch lớn nhất của Việt Nam Kimngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường này vẫn tăngtrưởng ấn tượng và liên tục trong những năm qua

Trang 9

Biểu đồ: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang EU qua các năm

(Đơn vị: triệu USD)

(Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam)

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2009 là nguyên nhân làm sụt giảmkim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang EU Sang đến năm 2010, con số này đãtăng 12% (đạt 1981,2 triệu USD) EU vẫn tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớnthứ hai khi chiếm 17% thị phần xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam HiệnViệt Nam đang là nhà cung cấp hàng dệt may lớn thứ 8 vào thị trường EU sauTrung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Bangladesh, Ấn Độ, Tunisia, Morocco và Pakistan(trong 5 tháng/2011 thị phần chiếm 2,2%) Đơn giá xuất khẩu nhiều chủng loạihàng như áo ghile, áo jacket, áo thun vào khu vực thị trường này cũng đạt đượcmức tăng trưởng đáng kể

Cụ thể, trong 7 tháng đầu năm 2011 xuất khẩu hàng dệt may sang hầu hếtcác thị trường vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao

+ Trong tháng 7/2011, kim ngạch xuất khẩu dệt may sang thị trường Mỹđạt 652,42 triệu USD, tăng nhẹ 1,01% so với tháng 6/2011 và tăng 11,45% sovới tháng 7/2010 Tính chung trong 7 tháng đầu năm nay, tổng kim ngạch xuấtkhẩu mặt hàng này sang thị trường Mỹ đạt 3,83 tỷ USD, tăng 16,14% so với 7tháng cùng kỳ năm 2010

+ Tiếp đến, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang khu vực EU trongtháng đạt 294,96 triệu USD, so với tháng trước tăng không đáng kể 0,57%; còn

Trang 10

so với cùng kỳ năm 2010 tăng 38,51% Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt maysang khu vực này trong 7 tháng vừa qua đạt 1,43 tỷ USD, so với 7 tháng đầunăm 2010 đạt mức tăng trưởng khá cao, 47,57% Theo đó, xuất khẩu hàng dệtmay sang các thị trường riêng lẻ trong khu vực này đạt tốc độ tăng trưởng trongkhoảng từ 30 – 70%; Phần Lan tăng cao nhất 92,33%, đạt 7,14 triệu USD; tiếpđến Đan Mạch tăng 77,69%, đạt 53,66 triệu USD… ngoài ra, thị trường Đức vẫnduy trì là thị trường xuất khẩu lớn nhất của hàng dệt may Việt Nam trong khuvực EU, đạt 349,76 triệu USD, tăng 45,25%; còn thị trường Tây Ban Nha vàAnh có kim ngạch đều đạt trên 200 triệu USD, với mức tăng lần lượt là 42,71%

và 55,72%

Nhìn chung kim ngạch xuất khẩu dệt may sang các nước thành viên trongkhối EU tăng trưởng khá Mức độ sụt giảm ở từng nước là khá thấp Đây là điểmkhá thuận lợi cho hàng dệt may Việt Nam trong thời gian tới Điều này chứng tỏlòng tin người tiêu dùng EU đang ngày một tăng lên đối với hàng dệt may củaViệt Nam

b Phương thức xuất khẩu

Về phương thức xuất khẩu, hàng dệt may Việt Nam đi vào thị trường EUchủ yếu theo phương thức gia công xuất khẩu theo hiệp định (chiếm hơn 70%).Theo đó, các nhà sản xuất và công nhân Việt Nam phải sản xuất theo đơn hàngvới nguyên vật liệu được cung cấp sẵn với mức giá gia công rất thấp, trung bìnhchỉ nhận được khoảng 20% tính trên giá thành xuất khẩu, còn 80%thuộc về người đặt hàng và các công ty trung gian cung cấp nguyên phụ liệu vàmẫu mã cộng thêm việc chúng ta bị phụ thuộc về nguyên vật liệu, mất quyềnchủ động trong kinh doanh Tuy nhiên, đây vẫn là phương thức quan trọng đểhàng dệt may Việt Nam tham gia vào thị trường EU với độ rủi ro ít, không đòihỏi vốn đầu tư lớn và giải quyết một phần đáng kể công ăn việc làm cho ngườilao động Việt Nam

Hình thức xuất khẩu trực tiếp đem lại giá trị gia tăng cao hơn, bao gồmchi phí nhân công và chi phí nguyên phụ liệu Tăng lượng xuất khẩu theo giáFOB là mục tiêu của ngành bởi bán hàng theo hình thức này đem lại lợi nhuận

Trang 11

cao Bên cạnh đó xuất khẩu theo hình thức này giúp cho các nhà sản xuất có thểtiếp cận trực tiếp với thị trường, nắm được nhu cầu thị hiếu và các xu hướng,tránh được tính mùa vụ và những bị động mà hình thức gia công gặp phải Đâycũng là cơ hội để các doanh nghiệp và người tiêu dùng bắt đầu biết được hàngdệt may Việt Nam Tuy nhiên, số hàng dệt may Việt Nam được xuất khẩu theophương thức này còn ít, chỉ chiếm khoảng 20 - 30% tổng lượng hàng dệt mayxuất khẩu sang EU

c Cơ cấu mặt hàng dệt may xuất khẩu

Mặt hàng xuất khẩu truyền thống của ngành dệt may Việt Nam chủ yếu lànhững sản phẩm đơn giản, dễ làm như áo jacket, áo váy, sơ mi, áo thun… Đếnnăm 2011, áo thun vẫn là chủng loại sản phẩm xuất khẩu lớn nhất, chiếm 20%tổng kim ngạch xuất khẩu, giá áo thun xuất khẩu tăng bình quân trên 15% so vớicùng kỳ năm ngoái, đạt trung bình 3,58 USD/cái theo giá FOB Những mặt hàngxuất khẩu đòi hỏi kĩ thuật, đem lại giá trị gia tăng cao như quần âu, áo veston…chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ vì không nhiều doanh nghiệp Việt Nam đầu tư đổi mớicông nghệ để có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu sản xuất Đến nay, chỉ có một số

ít doanh nghiệp tham gia sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm cao cấp còn hạnngạch, đòi hỏi công nhân lành nghề, máy móc hiện đại Trong thời gian tới, nếucác doanh nghiệp không tự lấp lỗ hổng về tay nghề và kĩ thuật tức là tự mìnhlàm mất đi một thị phần xuất khẩu lớn của ngành dệt may nước nhà

d Cơ cấu bạn hàng xuất khẩu

Các bạn hàng chính của Việt Nam khi xuất khẩu hàng dệt may sang EUgồm có Anh, Pháp, Đức, Bỉ, Hà Lan, Italia Trong đó, Đức là quốc gia có tỷtrọng nhập khẩu hàng dệt may VN lớn nhất khu vực Theo số liệu thống kê,trong 9 tháng năm 2010, hàng dệt may đạt kim ngạch lớn nhất với 8 tỷ USD,tăng 20,6 % Còn trong tháng 8 năm 2010, kim ngạch xuất khẩu dệt may sangĐức đạt 43,5 triệu USD, nâng tổng kim ngạch sang nước này 8 tháng là 284,06triệu USD Ngoài ra, Việt Nam cũng mở rộng quan hệ thương mại sang cácnước EU khác như: Phần Lan, Thụy Điển, Đan Mạch…Tỷ trọng xuất khẩu hàngdệt may sang các nước này đang ngày một tăng lên

Trang 12

1.3 Thực trạng xuất khẩu nông thủy sản sang EU

Thực trạng xuất khẩu nông sản: EU là một thị trường khó tính nhưng cũng rấtnhiều tiềm năng mà các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản trong nước có thểkhai thác

Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EUnhững năm gần đây thường xuyên chiếm 18 - 19% kim ngạch xuất khẩu toànngành nông nghiệp nước ta Những nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu vào thịtrường EU ổn định và liên tục tăng là cafe, chè, cao su sơ chế, rau quả, gia vị,gạo, điều nhân Các thị trường xuất khẩu nông sản chính của ta trong khối EU làĐức, Hà Lan, Thụy Điển, Pháp, Anh, Bỉ

Mặ hàng cafe đã có dấu hiệu phục hồi sau vài năm đi xuống và hiện nayđang là một trong những mặt hàng nông sản khai thác tốt và có thị phần tươngđối lớn ở khu vực này Cùng với các mặt hàng cao su, chè, cafe của Việt Namhiện nay đang dần được tập trung thành các khu sản xuất và chế biến lớn, mangtính công nghiệp Do vậy, mặt hàng này xuất khẩu sang EU khá ổn định và cótốc độ tăng trưởng cao Cafe Việt Nam là mặt hàng được ưa thích đối với ngườitiêu dùng thế giới, trong đó người dân EU Trên thực tế, Đức, Bỉ, Pháp, Italia,Anh là các quốc gia EU nhập khẩu nhiều cafe từ Việt Nam Xu hướng tiêu dùngcafe của người dân EU hiện nay là những sản phẩm như cà phê hoà tan đượcchia thành những gói nhỏ tiện dụng, các sản phẩm cà phê nguyên chất Tiêuchuẩn về nhãn mác, môi trường, hóa chất được đặc biệt coi trọng Thị trường

EU đang hướng về những sản phẩm được chứng nhận về mức độ lành mạnh, do

đó, các loại cà phê có lợi cho sức khoẻ đang được tiêu thụ ngày càng nhiều Mộttrong những chứng nhận quan trọng về cà phê tại EU là chứng nhận ImpattoZero của Italia Trên toàn EU có sự đồng nhất và nhiều nét chung trong sự tiêuthụ và sử dụng cà phê, nhìn chung không có sự phân biệt giữa các vùng về sửdụng các loại cà phê

Tương tự cà phê, chè cũng là một loại thức uống mà người dân châu Âu

ưa thích các sản phầm nhập khẩu từ Việt Nam Trong nhóm các sản phẩm chèthì trà đen được người châu Âu ưa chuộng và dùng phổ biến hơn và đây cũng là

Trang 13

chủng loại chè xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang EU Hiện nay, người tiêudùng EU có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn các sản phẩm chè có lợi cho sứckhoẻ và thân thiện với môi trường với kích thước nhỏ, gọn, sử dụng ngay vàdùng một lần Không khó cho các doanh nghiệp xuất khẩu cafe và chè của ViệtNam để nắm bắt được xu hướng tiêu dùng này, tuy nhiên trên thực tế các sảnphảm cafe, chè của Việt Nam xuất sang EU chỉ ở dạng sơ chế sau đó được cácdoanh nghiệp bên EU tinh chế và đóng gói, dán nhãn mác Số lượng thương hiệucafe và chè Việt Nam xuất khẩu được người tiêu dùng EU biết đến còn rấtkhiêm tốn.

Rau quả Việt Nam mới thâm nhập vào thị trường EU vài năm gần đây,nhưng kim ngạch xuất khẩu đã tăng tương đối nhanh Tuy nhiên, thị trường rauquả tươi của EU lại đang có dấu hiệu bão hòa, hàng năm nhập khẩu khoảng 26 -

30 tỷ USD Cơ hội cho xuất khẩu của các nước đang phát triển như Việt Nam làrau quả tươi, hàng trái mùa (cung ứng vào mùa đông của châu Âu), hàng rau quảkhông thể trồng tại châu Âu như sản phẩm nhiệt đới hoặc cận nhiệt Xuất khẩuhoa quả vào thị trường này còn đang phải đối mặt với khó khăn do các các nướcĐông Âu trở thành thành viên EU và cung ứng mạnh rau quả Riêng về hàng rào

kỹ thuật, Luật Thực phẩm tổng hợp và các quy định của EU yêu cầu tất cả rauquả nhập khẩu vào EU phải tuân thủ tiêu chuẩn chất lượng EU và phải có chứngchỉ đạt yêu cầu, cùng các quy định cao về dư lượng bảo vệ thực vật, vệ sinh thựcvật và bảo vệ thực vật nhằm ngăn chặn rau quả châu Âu tiếp xúc với vi sinh vật

có hại trong lô hàng nhập khẩu

Ngoài ra, một số nông sản và thực phẩm Việt Nam cho đến nay vẫn chưa

áp dụng các yêu cầu mang tính kỹ thuật cao nên gặp rất nhiều khó khăn khi xuấtkhẩu vào EU Động vật và thực phẩm từ động vật là một thí dụ khá điển hình.Theo qui định của EU, nước xuất khẩu phải có kế hoạch và thiết bị đầy đủ đểgiám sát dư lượng độc tố trong nhóm hàng này, nhưng Cơ quan chức năng của

ta chưa đáp ứng được yêu cầu trên Điều này xảy ra đối với thịt động vật và mậtong

Trang 14

1.4 Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU: Còn nhiều tiềm năng

Tình hình xuất khẩu thủy sản Việt Nam

Trong số các thị trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, thị trường EUđược coi là thị trường xuất khẩu thủy sản chiến lược của Việt Nam với thị phầnchiếm 25,7% tổng kim ngạch xuất khẩu (so với Mỹ 16% và Nhật Bản 19% ).Mặc dù gặp khủng hoảng song châu Âu vẫn là thị trường nước ngoài quan trọngnhất của mặt hàng thủy sản Việt Nam Năm 2009, giá trị xuất khẩu hàng thủysản Việt Nam sang EU đạt 1,1 tỉ USD (đứng thứ 2 sau giày da về khối lượngxuất khẩu) Trong top 10 thị trường tiêu thụ thủy sản lớn nhất của Việt Nam,khối EU có 4 quốc gia đó là Đức, Tây Ban Nha, Hà Lan, Italia Các thị trườngnhập khẩu lớn khác là Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông, Australia và ĐàiLoan

Đặc điểm nổi bật trong xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường

EU đó là sự tăng trưởng mạnh của mặt hàng cá tra, basa cả về khối lượng cũngnhư giá trị Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã làmcho đồng euro giảm giá, đồng nghĩa với việc hàng xuất khẩu vào EU trở nên đắt

đỏ hơn dù giá bán bằng đôla không đổi, vì vậy xuất khẩu vào EU giảm sút cộngthêm chiến dịch bôi xấu chất lượng sản phẩm thủy sản Việt Nam ở một số nướcnhư Italia, Tây Ban Nha, Ai Cập… khiến cho lượng cá có xuất xứ Việt Namnhập khẩu vào thị trường EU đang có xu hướng giảm sút cả về số lượng lẫn giáthành Mức giá giảm từ 2,28USD/kg (2009) xuống còn 2,13 USD/kg (2010) EU

là thị trường nhập khẩu lớn nhất cá tra giá xuất khẩu cũng giảm

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu làm giảm 4,3% kim ngạch xuấtkhẩu thủy sản của Việt Nam, trong đó xuất khẩu vào EU giảm 4,6% so với trước

đó (đạt giá trị gần 1,11 tỉ USD) Tuy nhiên, mức giảm của thị trường EU vẫnkhông mạnh nếu như so sánh với kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ và Nhật Bản vớimức giảm lên tới 7,2% (sang Mỹ) và 12% (sang Nhật Bản) Sở dĩ, năm 2009xuất khẩu thủy sản sang EU không sụt giảm nhiều như xuất khẩu sang Mỹ vàNhật Bản là do những nguyên nhân: , kinh tế EU tuy đã rơi vào tình trạng suythoái nhưng nhìn chung vẫn còn sang sủa hơn so với Nhật Bản và Mỹ; các

Trang 15

doanh nghiệp Việt Nam đã chú trọng tới các hoạt động xúc tiến thương mại và

mở rộng thị trường tại châu Âu, tham gia nhiều hoạt động quảng bá, hội chợtriển lãm thủy sản Nhờ vậy số doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản sang EU đãtăng lên tới 330 doanh nghiệp

Hàng thủy sản Việt Nam hiện đã xuất khẩu tới 27 quốc gia EU, gồm cácmặt hàng sản phẩm cá, tôm, mực, bạch tuộc…

Đây là nhóm sản phẩm chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng giá trị xuấtkhẩu thủy sản của Việt Nam vào EU và cũng là mặt hàng có tốc độ phát triểncao nhất trên thị trường EU Nhóm sản phẩm này bao gồm các mặt hàng chính

là Cá ngừ tươi, cá tra, cá basa, cá đông lạnh các loại Trong số sản phẩm từ cá,

cá fillet của Việt Nam chiếm tỷ trọng cao nhất và chỉ đứng sau Trung Quốc Cáfillet xuất khẩu từ các nước chiếm một tỷ lệ khá cao khoảng 11,1% sản lượngnhập khẩu cá của thị trường EU

Việt Nam là nước có năng suất và chất lượng cá cao, chi phí, giá thànhthấp, cá xuất khẩu nước ta vì vậy có khả năng cạnh tranh hơn so với nhiều nước

và dễ vượt qua các rào cản về vệ sinh an toàn thực phẩm của EU

là nhóm sản phẩm quan trọng thứ hai sau cá fillet trong cơ cấu xuất khẩu thủysản của Việt Nam vào EU Tuy vậy, nhóm này chủ yếu là tôm đông lạnh và mớichỉ chiếm một tỷ lệ rất khiêm tốn, khoảng 4,31% sản lượng nhập khẩu của thịtrường này (trong khi đó Ecurado chiếm 12,39%, Ấn Độ chiếm 9,13% và TháiLan chiếm 4,46%) Sở dĩ như vậy vì năng suất và chất lượng nuôi tôm của ViệtNam còn thấp, làm cho chi phí, giá thành tôm xuất khẩu cao hơn so với cácnước khác Thêm vào đó, khả năng cạnh tranh của Việt Nam yếu, khó chiếmlĩnh thị trường EU Hơn nữa, trình độ và kinh nghiệm marketing, quảng bá vàtiếp thị trên thị trường nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam kém, nguồnlực đầu tư cho việc mở rộng thị trường hạn chế

Nhu cầu về mực vẫn chủ yếu là mực ống Lôligô, loại mực này được đánhgiá là tốt trên thị trường EU nên lượng tiêu dùng có xu hướng tăng Tuy nhiên,đến nay nhóm sản phẩm này cũng mới chỉ chiếm một tỷ lệ khoảng 5,24% lượng

Trang 16

nhập khẩu của thị trường EU, trong khi đó Thái Lan chiếm 7,53% và Ấn Độchiếm 10,3%

Hiệu quả hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam

Mặc dù sự kiểm tra chặt chẽ của cơ quan quản lý thực phẩm EU được cụthể hóa bằng Luật IUU (illegal unreported and unregulated fishing-Luật phảichứng minh được nguồn gốc thủy sản), kim ngạch xuất khẩu thủy sản của ViệtNam vẫn không ngừng tăng, đưa thủy sản lên vị trí dẫn đầu trong số các sảnphẩm thực phẩm xuất khẩu vào EU, đem lại cho đất nước một nguồn ngoại tệlớn Xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang EU đã đạt được kết quả đáng khích lệ.Chất lượng hàng thủy sản của Việt Nam không ngừng được nâng cao, hoạt độngđầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ nuôi trồng, đánh bắt thủy sản luôn đượcđổi mới, công nghệ chế biến thủy sản (theo tiêu chuẩn HACCP- là loại giấychứng nhận được phép xuất khẩu thủy sản vào EU) luôn được cải tiến Cácdoanh nghiệp tham gia xuất khẩu thủy sản đều có đủ tiêu chuẩn về vệ sinh antoàn thực phẩm và được EU chấp nhận Những thành tựu và đổi mới đó đã tạođược uy tín trên thị trường EU Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt đượcvẫn còn tồn tại không ít khó khăn làm cản trở cho việc thúc đẩy xuất khẩu vàothị trường EU, đó là:

thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào EU chủ yếu vẫn là hàng thô, sơ chế,những mặt hàng chế biến sâu và hàng giá trị gia tăng còn ít, cho nên chưa vậndụng tốt những ưu đãi về thuế mà Hiệp định khung đem lại Cơ cấu mặt hàngxuất khẩu chưa đa dạng, chủ yếu tập trung ở một số mặt hàng: Tôm, cá tra, cá ba

sa, mực, cá ngừ Mẫu mã kiểu dáng còn đơn điệu chưa hấp dẫn khách hàng.Chất lượng hàng thủy sản chưa cao nên trước những đòi hỏi ngày càng khắt khe

về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm chỉ có các doanh nghiệp áp dụng cóhiệu quả tiêu chuẩn HACCP mới được phép xuất khẩu vào thị trường EU, sốcòn lại không đủ tiêu chuẩn bị tái xuất

EU là thị trường rộng lớn có số lượng đơn đặt hàng nhiều, trong khi cácdoanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ bé hạn chế về tài chính, năng suất lao

Ngày đăng: 07/07/2015, 20:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w