Vai trò của nguồn vốn FDI trong nền kinh tế là không thể phủ nhận.Các doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư tại Việt Nam đã tạo thêm nhiềucông ăn việc làm cho người lao động, đồng thời tạo
Trang 1Bộ môn: Chính sách kinh tế đối ngoại
Đề tài thảo luận
CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG THU HÚT FDI TẠI VIỆT NAM
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP WTO
Nhóm thực hiện:
1 Nguyễn Đức Trí Dũng
2 Nguyễn Anh Đức
3 Lại Hà Quang Huy
4 Đinh Quang Linh
5 Nguyễn Văn Nam
6 Trần Ngọc Tùng
7 Nguyễn Thị Duyên
Trang 2I Thực trạng thu hút FDI hiện nay của Việt Nam:
Hiện nay, Việt Nam vẫn được đánh giá là một nước có môi trường thuhút FDI tương đối thuận lợi Nhiều chính sách của chính phủ đã được thựchiện nhằm thu hút nguồn vốn nhiều tiềm năng này
Vai trò của nguồn vốn FDI trong nền kinh tế là không thể phủ nhận.Các doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư tại Việt Nam đã tạo thêm nhiềucông ăn việc làm cho người lao động, đồng thời tạo nên những điều kiện chophát triển kinh tế và nhiều tác dụng khác nữa Vì vậy nguồn vốn này luônnhận được sự quan tâm của chính phủ và các nhà hoạch định chính sách
Nguồn vốn FDI vào nước ta đến từ nhiều nước khác nhau thể hiệntrong biều đồ:
Biểu đồ 1: FDI vào Việt Nam từ 1990- 2010
(nguồn: http://www.vietpartners.com )
Trang 3Nhìn chung FDI vào nước ta có xu hướng tăng dần qua các năm và đạtđược nhiều kết quả khả quan Tuy nhiên trong phạm vi thảo luận này chúng ta
sẽ không đề cập sâu đến vấn đề này
Tình hình FDI vào nước ta trong những tháng đầu năm 2011 có một sốbiến động Theo số liệu báo cáo các địa phương gửi về tính đến ngày 20/08 đã
có 7,3 tỷ USD vốn FDI được giải ngân từ đầu năm(Cục đầu tư nước ngoài-Bộ
kế hoạch và đầu tư), tăng 1% so với cùng kỳ Như vậy, mức giải ngân 1 tỷUSD trong tháng này là cao hơn so với bình quân khoảng 900 triệuUSD/tháng tính đến nay
Đây có lẽ là dòng vốn duy nhất giữ được “phong độ” Theo ước tínhcủa Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong năm nay có thểchỉ bằng khoảng 34-35% GDP, thấp hơn rất nhiều con số trên 42% của nămngoái Tình hình sản xuất kinh doanh của khối doanh nghiệp FDI đang rấtthuận lợi, nếu nhìn trên các chỉ tiêu về xuất, nhập khẩu trong 8 tháng đầu nămnay
Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, ước tính kim ngạch xuấtkhẩu của khối doanh nghiệp FDI đến nay đạt khoảng 32,64 tỷ USD, nếu kể cảdầu thô, tăng tới 34% so với cùng kỳ năm ngoái Nếu loại trừ dầu thô thì cònđạt 27,73 tỷ USD và tăng 32% Con số tương ứng của nhập khẩu là 30,1 tỷUSD và tăng 31% Như vậy, ước tính khu vực doanh nghiệp FDI đã xuất siêukhoảng 2,54 tỷ USD trong 8 tháng qua Nếu không kể dầu thô thì nhập siêugần 2,4 tỷ USD
Tuy nhiên, các con số về thu hút vốn đăng ký còn khá ảm đạm, đặc biệt
là vốn đăng ký mới Chưa có đánh giá về sự dịch chuyển dòng đầu tư NhậtBản sau thảm họa kép động đất, sóng thần tại đất nước này, nhưng rõ ràng,khủng hoảng tài chính nhiều nơi trên thế giới đã có tác động đến dòng vốnFDI vào Việt Nam
Trang 4Theo Cục Đầu tư nước ngoài, trong 8 tháng qua mới có 582 dự án đượccấp giấy chứng nhận đầu tư, tổng vốn đăng ký đạt trên 7,9 tỷ USD, giảm 34%
về số dự án và 30% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm ngoái
Biểu đồ 2: Diễn biến thu hút FDI 8 tháng đầu năm 2011 và 2010 (nguồn:Cục đầu tư nước ngoài )
Cùng thời gian này, đã có 168 lượt dự án đăng ký tăng vốn với tổngvốn đăng ký tăng thêm trên 1,6 tỷ USD, giảm 47% về số dự án nhưng tăngkhoảng 1% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ
Dòng vốn FDI vẫn tiếp tục đổ vào lĩnh vực chế biến chế tạo Tính đếnnay, đã có khoảng 4,6 tỷ USD cả đăng ký mới và tăng vốn vào lĩnh vực này,chiếm tới trên 48% tổng vốn FDI vào Việt Nam trong 8 tháng đầu năm Tiếptheo vẫn là 2 lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí, gas, nước và xây dựngvới vốn đăng ký tương ứng trên 2,5 tỷ USD và khoảng 671 triệu USD Đángchú ý là lĩnh vực bất động sản đã 2 tháng nay không thấy có thay đổi trongthống kê về số vốn đăng ký mới và tăng thêm Cùng với dòng chảy này, nhiềuquan điểm cho rằng thị trường bất động sản đang thiếu sức hút với dòng tiền
Về phía các quốc gia, vùng lãnh thổ có quan hệ đầu tư với Việt Nam,tính đến tháng này các vị trí dẫn đầu vẫn là Hồng Kông, Singapore và Hàn
Trang 5Quốc với vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm lần lượt là gần 2,9 tỷ USD, gần2,5 tỷ USD và 851 triệu USD.
Các địa phương thu hút vốn lớn cũng không có sự thay đổi thứ hạngtrong tháng này, Hải Dương vẫn dẫn đầu với gần 2,5 tỷ USD vốn đăng ký.Tiếp theo là Tp.HCM và Bà Rịa - Vũng Tàu lần lượt kéo về 1,65 tỷ USD vàgần 780 triệu USD
II Một chính sách thu hút FDI hiện nay:
Để thu hút nguồn vốn FDI, chính phủ đã áp dụng rất nhiều chính sách vàbiện pháp như nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, ưuđãi thuế, cải cách thủ tục hành chính,…Các biện pháp, chính sách này bêncạnh những tác động tích cực không thể phủ nhận cũng vẫn còn rất nhiều bấtcập cần sửa đổi Mỗi chính sách đều có vai trò riêng, không thể nói cái nàoquan trọng hơn song để tránh tìm hiểu quá mien man, không đi vào chiều sâu,chúng ta sẽ chỉ đi tìm hiểu một số chính sách tiêu biểu hiện nay Mỗi chínhsách được đề cập đến thực trạng và những vấn đề hạn chế được đặt ra để giảiquyết Đó là:
Nâng cấp hạ tầng cơ sở:
Công tác huy động vốn cho đầu tư phát triển có vai trò quan trọngtrong tiến trình thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Quá trình huyđộng nguồn lực tài chính thông qua các công cụ tài chính để huy động vớinhiều kênh khác nhau, nhưng tựu trung lại huy động vốn trong nước vẫn làchủ yếu; việc huy động vốn nước ngoài thường mang tính giai đoạn, bởi vìnền kinh tế phát triển nếu không dựa trên cơ sở tích luỹ từ nội bộ thì thiếutính bền vững Thực tế cho thấy, chính sách thu hút vốn FDI bao giờ cũnggắn liền với nguồn vốn trong nước; đơn cử như: để thu hút vốn FDI hoặc các
dự án lớn thì số vốn đầu tư ban đầu để xây dựng cơ sở hạ tầng trong các khu
Trang 6công nghiệp cũng như bên ngoài hàng rào dự án luôn luôn là khâu đi trướcvới số vốn được huy động lớn.
Cơ sở hạ tầng là 1 phần quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư FDI vàoviệt nam.Cơ sở hạ tầng ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường đầu tư của ViệtNam.sau đây là bảng so sánh về cơ sở hạ tầng của Việt Nam với những nướctrong khu vực ASEAN
BẢNG So sánh cơ sở hạ tầng của các nước trong ASEAN năm 2010
bay
Cảngbiển
Giaothông
Điệnlực
Viễnthông
Bìnhquân
Trang 7Những hạn chế còn tồn tại
Cơ sở hạ tầng không đồng bộ, không đáp ứng nhu cầu
Cơ sở hạ tầng không phải là một nỗi lo mới đối với Việt Nam.đây làmột trong những trở ngại lớn nhất đối với các doanh nghiệp nước ngoài muốnđầu tư vào Việt NamTheo khảo sát mới nhất của Ban thư ký Diễn đàn doanh
nghiệp Việt Nam 2009,87,8% doanh nghiệp nước ngoài và 83% doanh nghiệp trong nước trong tổng số 291 doanh nghiệp đánh giá chất lượng
cơ sở hạ tầng ở mức kém và rất kém Kết quả này cũng tương đồng với Báo
cáo năng lực cạnh tranh quốc gia 2009 của Diễn đàn kinh tế thế giới, trong đó
cơ sở hạ tầng bị xếp hạng thấp nhất trong bộ chỉ số cạnh tranh của Việt Nam.Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) cho biết qua khảo sát mới nhấtvới 600 doanh nghiệp Nhật, cơ sở hạ tầng yếu kém của Việt Nam vẫn là trởngại hàng đầu như hồi 2008 Điểm tích cực là năm nay, số lượng các doanhnghiệp Nhật rất không hài lòng với cơ sở hạ tầng giảm xuống từ 43,1% xuốngcòn 33,8% Đa số doanh nghiệp Nhật (80%) cho rằng Việt Nam cần cải thiện
hệ thống đường xá, sau đó là điện năng, cảng và hệ thống cấp thoát nước.Qua những con số trên ta có thể nhận thấy được sự yếu và thiếu về cơ sở hạtầng tại Việt Nam.trong khi đây là một yếu tố quan trọng để có thể thu hútđược vốn đầu tư của những doanh nghiệp nước ngoài.Việt Nam không thểđáp ứng được những nhu cầu về điện nước.đường xá cho hoạt động kinhdoanh sản xuất
Đầu tư thiếu chiến lược và vấn nạn tham nhũng
Trang 8Những nguồn vốn dành cho đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng của Việt Nam làmột con số không nhỏ nhưng sử dụng nguồn vốn này bị hạn chế bởi tính thiếu
hiệu quả cũng như nạn tham nhũng tại Việt Nam Nguồn vốn đầu tư cho cơ
sở hạ tầng lên đến 10% GDP của cả nước nhưng lại không mang lại nhữnghiệu quả như mong muốn Có những con đường được đầu tư hàng nghìn tỷUSD như dự án đường dẫn cầu Phú Mĩ trị giá hơn 1800 tỷ vẫn chưa hoànthành xong, đoạn đường đi được thì “nát như tương”, xe container trọng tảilớn khó có thể đi được Hay như vấn đề đại lộ Thăng Long trong thời gianvừa qua với mức đầu tư gần 8000 tỷ đồng nhưng lại lộ rõ các lỗi bớt xén diệntích lòng đường, sai lệch giá trị nguyên vật liệu, và nhiều con đường, “đại lộ”khác nữa thể hiện những yếu kém trong quản lý, hoạch định chính sách đầutư-xây dựng
Bên cạnh đó, Hà nội cũng có những dự án nâng cấp hệ thống giaothông nhưng tình trạng ùn tắc vẫn diễn ra hang ngày các đường quốc lộ nối hànội với những tỉnh lân cận,những khu công nghiệp xung quanh hà nội,với mật
độ xe lớn việc ùn tắc sẽ gây ra cho doanh nghiệp những trở ngại lớn trongluân chuyển hang hóa
Tại buổi họp ngày 11/1/2008 của các đại diện công ty tàu biển, và nhữngnhà nhập khẩu - xuất khẩu, về các vấn đề liên quan đến hải cảng, một số đềxuất đã được đưa ra Đại diện của Gemadept nói rằng công việc xây dựng cáccon đường và nạo vét những lòng sông ở các cảng phía Nam phải được đặt ưutiên hàng đầu của Bộ Giao thông và Cơ quan Hàng hải Việt Nam - Tập đoàn
đã xây dựng cảng số 5 và cảng Thị Vải – Cái Mép tại tỉnh miền Nam, Bà Rịa– Vũng Tàu Đây là dự án cảng lớn nhất ở miền Nam, sẽ trực tiếp ảnh hưởngđến nhiều hoạt động sản xuất và xuất - nhập khẩu của nhiều doanh nghiệp.Song theo Gemadept, một trong những công ty tàu biển lớn nhất Việt Nam,
Bộ Giao thông và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cần phải đẩy mạnh công việc nạovét hành lang Cái Mép - Thị Vải
Trang 9 Hoàn thiện thể chế chính sách:
Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo điều kiện để quản lý nhà nướcbằng luật đối với nền kinh tế xã hội là một yêu cầu khách quan trong quátrình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam Hệ thống luật pháp và quiđịnh cần được xây dựng theo hướng đơn giản, dễ hiểu, tập trung vào các khâu
then chốt để điều chỉnh nhằm nâng cao tính hiệu lực Thứ nhất, sự ra đời của
Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư là một bước tiến lớn về tư duy Tư duytruyền thống về doanh nghiệp theo thành phần kinh tế đang dần được thay thếbằng tư duy theo loại hình pháp lý của doanh nghiệp Xét về mặt hoàn thiệnthể chế kinh tế, việc ban hành và thực thi hai luật này đã hoàn thành quá trìnhthống nhất khuôn khổ pháp lý về doanh nghiệp, không còn phân biệt tính chất
sở hữu và thành phần kinh tế phù hợp với thông lệ quốc tế Thứ hai, việc
ban hành và thực thi hai luật trên đã xóa bỏ các quy định trước đây của cácđịa phương liên quan đến đầu tư; thống nhất được các thủ tục về đầu tư theohướng đơn giản, rõ ràng và thống nhất giữa đầu tư trong nước và đầu tư nướcngoài Đây là một bước tiến lớn có tính đột phá trong cải cách hành chính vềthủ tục đầu tư Nhờ đó, các nhà đầu tư về cơ bản được quyền đầu tư vào tất cả
các lĩnh vực mà pháp luật không cấm Thứ ba, phân cấp một cách toàn diện
cho UBND cấp tỉnh trong việc trực tiếp quản lý nhà nước về đầu tư đã thực
sự tạo động lực khuyến khích và phát huy tính năng động, sáng tạo của cácđịa phương trong việc giải quyết các thủ tục hành chính về đầu tư cũng nhưxúc tiến đầu tư để phát triển kinh tế địa phương; đồng thời tạo điều kiện đểcác bộ tập trung nhiều hơn vào xây dựng và hoàn thiện chính sách, quy hoạchđịnh hướng thu hút đầu tư phát triểnTuy nhiên, để tạo điều kiện thuận lợi choviệc thực thi luật pháp, Chính phủ cần sớm ban hành nghị định hướng dẫn thihành luật và xóa bỏ các qui định về giấy phép không còn phù hợp Trong năm
2006, Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư đã kiến nghị
Trang 10bãi bỏ 42 giấy phép, nhưng vẫn còn 247 loại giấy phép con Trong LuậtDoanh nghiệp và Luật Đầu tư cũng còn có một số quy định không tươngthích với các quy định trong một số luật khác như Luật Xây dựng, Luật Đấtđai, Luật Bảo vệ môi trường đòi hỏi sớm có những sửa đổi cho phù hợp.
Trong thời gian vừa qua, Chính phủ đã tinh giản số lượng các bộ, xóa
bỏ cơ chế bộ chủ quản thông qua cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước,chuyển sang quản lý đa ngành Tuy nhiên, quá trình cải tổ phải được tiếnhành theo chiều sâu, phải thực sự chuyển từ nền hành chính cai trị sang phục
vụ nhân dân
Vai trò của Nhà nước trong quản lý nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa thể hiện ở việc định hướng, hỗ trợ, tạo dựng môi trường kinhdoanh thông thoáng và cơ chế khuyến khích các nguồn lực đầu tư vào pháttriển kinh tế, quản lý nền kinh tế thông qua các công cụ thị trường (tài chính,thu nhập, thuế, giá, tỷ giá,…)
Nâng cao tính minh bạch của thể chế, tách biệt rõ ràng hoạt động sản
xuất kinh doanh và quản lý nhà nước Ổn định các chính sách tài chính, thuế,xuất nhập khẩu, hải quan; từng bước xây dựng chính phủ điện tử, nâng caonăng lực của các cơ quan quản lý kinh doanh và hành chính công quyền trongcác hoạt động thực thi luật pháp, cấp phép đầu tư, quản lý đất đai, thuế, xuấtnhập khẩu và hải quan
Thể chế hoá vai trò của chính quyền địa phương, tập trung vào nhữngyếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả đầu tư và phát triển kinh tế: tínhnăng động, tính thân thiện, tính minh bạch và sự cam kết ủng hộ phát triểnkinh doanh Về thực chất, tính năng động của địa phương chính là thái độ củachính quyền đối với việc phát triển của các thành phần kinh tế, thể hiện quahai khía cạnh: (1) sự phối hợp giữa các cơ quan ở địa phương để tạo điều kiệncho hoạt động kinh doanh; (2) hợp tác với doanh nghiệp tìm cách pháp giải
Trang 11quyết các vướng mắc không rõ ràng về văn bản luật pháp, cho phép thực thithí điểm và nếu thành công sẽ được thể chế hóa bằng văn bản luật pháp.
Thực hiện quyền tự do kinh doanh và xã hội hóa việc trợ giúp phát triểnkinh doanh thông qua việc tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi Mộtcách hỗ trợ thiết thực là phát triển mạnh các tổ chức cung cấp các dịch vụphát triển kinh doanh (tư vấn pháp lý, kế toán, tài chính, đào tạo, quản lý vàthông tin thị trường)
Xây dựng hệ thống thuế minh bạch đảm bảo tính ổn định, đơn giản, dễ
hiểu, dễ vận dụng, có cơ chế kiểm soát thích hợp, giảm thời gian cho các cuộcthanh tra, làm lãng phí nguồn lực của cơ quan thuế lẫn doanh nghiệp
Sử dụng linh hoạt các công cụ lãi suất, tỉ giá hối đoái để bảo đảm giá trịđồng tiền, kiểm soát được lạm phát, bảo đảm an ninh tài chính cho hệ thốngtài chính, ngân hàng và các tổ chức tín dụng trước các cú sốc tỷ giá và lãi suấtđến từ bên ngoài
Mở rộng cho các tổ chức kinh tế đầu tư ra nước ngoài, tập trung vào cáclĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia
và cung cấp nguồn nguyên liệu cho sản xuất trong nước
- Chậm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật, tình trạng văn bảnhướng dẫn thi hành mâu thuẫn với văn bản luật chưa được khắc phục triệt để
Trang 12- Tính cụ thể, minh bạch và dự báo trước của nhiều luật còn thấp
- Hiệu lực thi hành của một số văn bản pháp luật chưa cao, như Luật cạnhtranh, Luật đất đai, Chưa qui định rõ quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh,thể chế hóa các hoạt động giao dịch, chống độc quyền, bảo vệ quyền lợingười tiêu dùng, bảo hiểm và an sinh xã hội
- Qui trình xây dựng văn bản pháp luật còn thiếu dân chủ, cứng nhắc, cáchphân công cho các bộ, ngành soạn thảo văn bản pháp luật dễ dẫn đến tìnhtrạng bảo vệ lợi ích cục bộ của bộ, ngành
Về cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường:
- Vận dụng chưa đồng bộ các công cụ quản lý và điều tiết thị trường
- Năng lực của bộ máy quản lý nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu quản lý hiệuquả nền kinh tế thị trường, thiếu tính chuyên nghiệp và sự tận tâm phục vụdoanh nghiệp
Về các ưu đãi thuế quan:
- Khi một công ty chuẩn bị đầu tư ra nước ngoài, họ sẽ tìm hiểu môi trườngđầu tư của cả khu vực, chứ không phải chỉ là một nước Điều mà các doanhnghiệp quan tâm là giá thuê đất, nhân công rẻ, thị trường lớn… và một yếu tốquan trọng nữa là chính sách ưu đãi về thuế Nhưng Nghị định số124/2008/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp rađời, trong đó khu công nghiệp, khu chế xuất không được liệt vào đối tượngđược hưởng ưu đãi thuế, điều này rất có thể, các nhà đầu tư sẽ không chọnViệt Nam
- Những ưu đãi dành cho các doanh nghiệp hiện nay cũng có ảnh hưởng phầnnào tới các quyết định đầu tư của doanh nghiệp Như đối với trường hợp nhưtập đoàn Bosch của Đức trong thời gian gần đây Tập đoàn này đã có ý định
Trang 13mở rộng vốn đầu tư từ 73 triệu USD lên 132,6 triệu USD vào năm 2015.Trước khi mở rộng, tập đoàn này cũng đã phân vân giữa Việt Nam vàMalaysia,sau đó họ đã chọn Malaysia vì có nhiều chính sách và hỗ trợ thuậnlợi hơn.
Đào tạo nguồn nhân lực
Theo kết quả điều tra dân số đến tháng 12/2010, Việt Nam có gần 87triệu người Điều này phản ánh nguồn nhân lực của Việt Nam đang phát triểndồi dào Nguồn nhân lực Việt Nam được cấu thành chủ yếu là nông dân, côngnhân, trí thức, doanh nhân, dịch vụ và nhân lực của các ngành, nghề Trong
đó, nguồn nhân lực nông dân có gần 62 triệu người, chiếm hơn 70% dân số;nguồn nhân lực công nhân là 9,5 triệu người (gần 10% dân số); nguồn nhânlực trí thức, tốt nghiệp từ đại học, cao đẳng trở lên là hơn 2,5 triệu người,chiếm khoảng 2,15% dân số; nguồn nhân lực từ các doanh nghiệp khoảng 2triệu người, trong đó, khối doanh nghiệp trung ương gần 1 triệu người… Sựxuất hiện của giới doanh nghiệp trẻ được xem như một nhân tố mới trongnguồn nhân lực, nếu biết khai thác, bồi dưỡng, sử dụng tốt sẽ giải quyết đượcnhiều vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội
Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực luôn được chính phủ và cả doanhnghiệp chú trọng quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay Về phíachính phủ, các chính sách giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực như traohọc bổng cho những học sinh, sinh viên có kết quả xuất sắc Đồng thời, chínhphủ cũng khuyến khích các trường Đại học, Cao đẳng, THPT tổ chức nhữngbuổi định hướng nghề nghiệp, định hướng tương lai cho học sinh, sinh viên;
hỗ trợ các trường dạy nghề Ta có thể thấy trong thời gian vừa qua, bộ Côngthương cũng đã đứng lên tổ chức một số khóa học dạy nghề miễn phí cho đối