1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết việc làm và đảm bảo đời sống cho người lao động sau khi bị thu hối đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tinh Nghệ An

218 411 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 218
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực tiễn trên, tác giả chọn vấn đề “ Giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá ở tỉnh Nghệ An” là

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN THỊ TRÂM

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ BẢO ĐẢM ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, ĐÔ THỊ HOÁ

Ở TỈNH NGHỆ AN

LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN THỊ TRÂM

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ BẢO ĐẢM ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, ĐÔ THỊ HOÁ

Ở TỈNH NGHỆ AN

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị

Mã số: 62 31 01 01

LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS Phạm Quang Phan

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các số liệu, tƣ liệu đƣợc sử dụng trong luận án là trung thực và dựa trên thực tế tiến hành khảo sát của tôi Những phát hiện đƣa ra trong luận án là kết quả nghiên cứu của tác giả luận án

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Thị Trâm

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BẰNG TIẾNG VIỆT

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BẰNG TIẾNG ANH

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ BẢO ĐẢM ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG SAU KHI

BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH CNH, ĐTH 7

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ BẢO ĐẢM ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT 7 1.1.1 Tổng quan một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài về giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất 7 1.1.2 Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nước về giải quyết việc làm

và bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH 10 1.2 NHẬN XÉT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 21 1.2.1 Những kết quả về giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH đã có sự thống nhất giải quyết 21 1.2.2 Những khoảng trống về giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất cần được tiếp tục nghiên cứu 22

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM

VÀ BẢO ĐẢM ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH CNH, ĐTH 24

2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ BẢO ĐẢM ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH CNH, ĐTH 24 2.1.1 Công nghiệp hóa, đô thị hóa và sự cần thiết khách quan phải thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất đai 24 2.1.2 Tác động của quá trình CNH, ĐTH đối với người lao động bị thu hồi đất 29

Trang 5

2.1.3 Việc làm, giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động bị thu hồi đất 35 2.2 GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ BẢO ĐẢM ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH CNH, ĐTH 42 2.2.1 Tầm quan trọng của giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi thu hồi đất 42 2.2.2 Nội dung, tiêu chí và các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động bị thu hồi đất trong quá trình CNH, HĐH 45 2.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TRONG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ BẢO ĐẢM ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG SAU KHI

BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH CNH, ĐTH 66 2.3.1 Kinh nghiệm của một số tỉnh, thành phố trong nước 66 2.3.2 Những bài học kinh nghiệm rút ra đối với tỉnh Nghệ An 74

Chương 3: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ BẢO ĐẢM ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, ĐÔ THỊ HÓA Ở TỈNH NGHỆ AN 77

3.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ -XÃ HỘI CỦA NGHỆ AN ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CNH, ĐTH VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM, BẢO ĐẢM ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG KHI BỊ THU HỒI ĐẤT 77 3.1.1 Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý của Nghệ An 77 3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Nghệ An 79 3.1.3 Tình hình thu hồi đất để phát triển công nghiệp, đô thị ở tỉnh Nghệ An từ năm 2001 đến nay 81 3.1.4 Ảnh hưởng thu hồi đất đến việc làm và đời sống của người lao động bị thu hôi đất ở Nghệ An 86 3.2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ BẢO ĐẢM ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH CNH, ĐTH Ở TỈNH NGHỆ AN 94 3.2.1 Giải quyết việc làm cho người lao động sau khi khi thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tỉnh Nghệ An 94 3.2.2 Bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất ở tỉnh Nghệ An 114 3.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ BẢO ĐẢM ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH CNH, ĐTH Ở TỈNH NGHỆ AN 129

Trang 6

3.3.1 Những thành tựu đã đạt được 129 3.3.2 Những tồn tại , hạn chế 130 3.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 134 3.3.4 Những vấn đề đặt ra trong quá trình giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH ở tỉnh Nghệ An 138

Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ BẢO ĐẢM ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA,

ĐÔ THỊ HÓA Ở TỈNH NGHỆ AN 142

4.1 DỰ BÁO TÌNH HÌNH THU HỒI ĐẤT VÀ NHU CẦU GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM, BẢO ĐẢM ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT Ở TỈNH NGHỆ AN TRONG NHỮNG NĂM TỚI 142 4.1.1 Định hướng phát triển các KCN, KĐT và nhu cầu thu hồi đất cho xây dựng các KCN, KĐT của tỉnh Nghệ An trong thời gian tới 142 4.1.2 Nhu cầu quyết việc làm, bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất ở tỉnh Nghệ An 151 4.2 QUAN ĐIỂM GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ BẢO ĐẢM ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT 152 4.2.1 Đảm bảo đảm bảo kết hợp hài hòa lợi ích của người dân có đất bị thu hồi với lợi ích quốc gia và của các doanh nghiệp sử dụng đất thu hồi 154 4.2.2 Bảo đảm việc làm hợp lý, ổn định, bền vững, có thu nhập cho người lao động sau khi bị thu hồi đất là một nhiệm vụ quan trọng trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An 155 4.2.3 Cần tuân theo nguyên tắc thị trường, đồng thời Nhà nước tạo môi trường và thực hiện điều tiết vĩ mô để GQVL và BĐĐS cho người lao động bị thu hồi đất 156 4.3 CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG CƯỜNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ BẢO ĐẢM ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT 158 4.3.1 Nhà nước tiếp tục sửa đổi và hoàn thiện cơ chế, chính sách để bảo đảm cuộc sống lâu dài cho người có đất bị thu hồi 158 4.3.2 Nhà nước và chính quyền địa phương cần nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất gắn với giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động bị thu hồi đất trong thời gian tới 168

Trang 7

4.3.3 Mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở tỉnh Nghệ An từ nay đến

năm 2020 và những năm tiếp theo 170

4.3.4 Cần đặc biệt chú ý hỗ trợ tự tạo việc làm, tự khắc phục các điều kiện để thỏa mãn các mặt của đời sống và sinh kế của người lao động 175

4.3.5 Nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống dịch vụ việc làm và hệ thống thông tin về thị trường sức lao động 176

4.3.6 Hoàn thiện công tác tổ chức và hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nước và doanh nghiệp đối với giải quyết việc thu hồi đất, tạo việc làm cho người dân có đất bị thu hồi 178

KẾT LUẬN 181

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 183

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 183

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 184

PHỤ LỤC 194

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BẰNG TIẾNG VIỆT

CMKT : Chuyên môn kỹ thuật

CCKT : Cơ cấu kinh tế

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

DN : Doanh nghiệp

GQVL : Giải quyết việc làm

KCN : Khu công nghiệp

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BẰNG TIẾNG ANH

Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ bằng tiếng Anh Nghĩa đầy đủ bằng tiếng Việt

ILO International labour organization Tổ chức Lao động quốc tế

NIC New industry country Các nước công nghiệp mới

NIE New industry economy Các nền kinh tế công nghiệp mới NLA National Landlords Association Cơ quan quản lý đất quốc gia

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU BẢNG

Bảng 3.1 Tình hình thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nghệ An qua các năm 81

Bảng 3.2: Diện tích đất thu hồi bình quân mỗi hộ phân theo loại đất 83

Bảng 3.3: Tỷ lệ diện tích đất thu hồi bình quân mỗi hộ phân theo mục đích sử dụng đất thu hồi 84

Bảng 3.4: Tình hình lao động bị mất việc làm do thu hồi đất để phát triển công nghiệp và đô thị hoá giai đoạn từ năm 2001 đến ngày 30.6.2014 86

Bảng 3.5: Tình hình việc làm của các hộ trước khi bị thu hồi đất và sau khi bị thu hồi đất 87

Bảng 3.6: Thu nhập bình quân/tháng của người có đất bị thu hồi 89

Bảng 3.7: Tình hình chi tiêu bình quân của các hộ điều tra 91

Bảng 3.8: Đồ dùng sinh hoạt và phương tiện đi lại 92

Bảng 3.9: Trình độ chuyên môn của người lao động trước khi bị thu hồi đất 105

Bảng 3.10: Trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật của người có đất trước khi Nhà nước thu hồi 106

Bảng 3.11: Tình hình tuyển dụng lao động sau khi bị thu hồi đất vào làm việc 109 Bảng 3.12: Tình trạng việc làm trước và sau khi thu hồi đất 109

Bảng 3.13: Tình hình việc làm của người lao động sau thu hồi đất 111

Bảng 3.14: Lý do không tìm được việc làm của người bị thu hồi đất 112

Bảng 3.15: Sự hỗ trợ của các cấp chính quyền địa phương đối với đào tạo nghề cho người lao động có đất bị thu hồi 112

Bảng 3.16: Giá tiền bồi thường 1m2 đất bị thu hồi và tiền bồi thường bình quân một hộ phân theo loại đất 115

Bảng 3.17: Số hộ được bồi thường bằng đất phân theo loại đất bị thu hồi và diện tích các loại đất được bồi thường tính bình quân một hộ phân theo các loại đất 117

Bảng 3.18: Phương tiện sản xuất và sinh hoạt của các hộ trước khi thu hồi đất 120 Bảng 3.19: Phương tiện sản xuất và sinh hoạt của các hộ sau khi thu hồi đất 121

Trang 11

Bảng 3.20: Nguồn gốc của tiền dùng để mua sắm phương tiện phục vụ sản xuất và

sinh hoạt của các hộ bị thu hồi đất 122

Bảng 3.21: Điều kiện đất sản xuất bồi thường so với đất cũ 124

Bảng 3.22: Đánh giá diện tích nhà ở tại khu tái định cư so với nơi ở cũ 126

Bảng 4.1: Dự kiến các loại đất thu hồi đến năm 2020 150

Bảng 4.2: Dự báo số lao động bị thu hồi đất có nhu cầu giải quyết việc làm ở Nghệ An giai đoạn 2006-2014 152

BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Trình độ chuyên môn người lao động trước khi thu hồi đất 105

Biểu đồ 3.1: Nguồn gốc của tiền dùng để mua sắm phương tiện phục vụ sản xuất và sinh hoạt của các hộ bị thu hồi đất 123

Biểu đồ 3.2: Đánh giá diện tích nhà tại khu tái định so với nơi ở cũ 127

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống là mối quan tâm hàng đầu trong các chính sách kinh tế - xã hội của các quốc gia Hiệu quả của việc giải quyết việc làm

và bảo đảm đời sống gắn liền với sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, do đó quá trình CNH,HĐH và ĐTH đã và đang diễn ra mạnh mẽ Đặc biệt, là trong 10 năm trở lại đây, tốc độ phát triển các KCN, KĐT, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội diễn ra rất nhanh Đi liền với

xu hướng này là việc thu hồi đất bao gồm đất ở và đất nông nghiệp của một bộ phận dân cư, chủ yếu là các vùng ven đô, vùng có tiềm năng và điều kiện phát triển kinh

tế - xã hội Điều đó, đòi hỏi Nhà nước phải có một hệ thống chính sách đồng bộ để vừa đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, của đất nước, vừa đảm bảo được lợi ích của người lao động thuộc diện thu hồi đất

Nghệ An là một tỉnh nghèo thuộc đồng bằng duyên hải miền Trung Việc phát triển các KCN và KĐT sẽ giúp Nghệ An đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm và cải thiện được đời sống cho người lao động trong tỉnh Trong những năm qua, việc quy hoạch lại các khu dân cư, chỉnh trang đô thị, xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế- xã hội và là một trong những chính sách lớn của các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân trong tỉnh Tuy nhiên, vấn đề giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người dân có đất do Nhà nước thu hồi còn gây ra nhiều vấn đề kinh tế - xã hội rất bức xúc Đó là, tình trạng người dân sau khi bị thu hồi đất phải thu hẹp diện tích canh tác, mất việc làm truyền thống, phải chuyển đổi nghề nghiệp, thay đổi chỗ ở Trong khi đó, tỉnh lại chưa chuẩn bị tốt những điều kiện cần thiết cho người dân có đất bị thu hồi chuyển đổi nghề nghiệp, gây nên tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng tìm kiếm cho mình một công việc mới Bởi vì, họ chỉ có nghề làm ruộng, trình độ văn hóa thấp, trình độ CMKT không có, nên khó tìm kiếm được việc làm trong các ngành nghề khác hay vào làm trong các khu công

Trang 13

nghiệp Do đó, tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp không chuyển đổi được nghề nghiệp, khó khăn trong cuộc sống của người dân sau khi bị thu hồi đất đã và đang diễn ra khá phổ biến

Tình trạng này càng đặc biệt khó khăn đối với bộ phận nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp Việc thu hồi đất của nông dân thường không gắn liền với giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống, đã đẩy một bộ phận nông dân vào tình trạng rất khó khăn, làm giảm hiệu quả của công cuộc đổi mới Tình trạng này đã và đang làm nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế - xã hội gay gắt Mặt khác, việc đền bù khi thu hồi đất nông nghiệp mới chỉ chú ý đến mặt lượng, mà bỏ qua mặt chất Mặc dù, số tiền mà Nhà nước phải bỏ ra để đền bù cho những người dân về những thiệt hại mà họ phải gánh chịu là không nhỏ, nhưng trong nhiều trường hợp số tiền đó không những không giúp cho người nông dân thiết lập một cuộc sống tốt hơn, mà còn gây nên những tác động xã hội tiêu cực Nhiều hộ nông dân không có khả năng sử dụng số tiền đền bù vào hoạt động sản xuất kinh doanh Đời sống của những người bị thu hồi đất vốn đã khó khăn càng trở nên khó khăn hơn

Thời gian qua, Nghệ An đã giải quyết vấn đề trên một cách rất tích cực, đã xác định một số ngành trọng điểm để thu hút và đầu tư đúng hướng, gia tăng liên kết và hợp tác trong và ngoài nước tăng cường xuất khẩu lao động nhằm giảm sức ép việc làm, tham quan, học hỏi kinh nghiệm các tỉnh trong quá trình CNH, ĐTH Tuy nhiên, tình trạng thiếu việc làm, thay đổi chỗ ở vẫn gây rất nhiều bức xúc, khi nhu cầu hiện tại chưa được thỏa mãn, mà quá trình CNH, ĐTH vẫn còn tiếp diễn Xung quanh vấn đề này còn nhiều việc phải làm trong đó việc khắc phục những yếu kém trong quy hoạch tổng thể,

sự chồng chéo, kém hiệu lực trong các văn bản, chính sách dẫn đến đầu tư kém hiệu quả, chưa có cơ cấu đào tạo nghề phù hợp để đáp ứng nhu cầu bức thiết của xã hội

Do đó, giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động khi thu hồi đất để phục vụ CNH, HĐH và ĐTH là một trong những vấn đề cấp bách đặt ra

đối với tỉnh Nghệ An Từ thực tiễn trên, tác giả chọn vấn đề “ Giải quyết việc làm

và bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá ở tỉnh Nghệ An” làm đề tài nghiên cứu cho luận án

tiến sĩ, chuyên ngành kinh tế chính trị

Trang 14

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống

cho người lao động bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH ở tỉnh Nghệ An giai đoạn từ năm 2001 đến nay, chỉ ra những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân, từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất có hiệu quả trong quá trình CNH, ĐTH ở tỉnh Nghệ An thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá lý luận về giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH

- Nghiên cứu kinh nghiệm giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động bị thu hồi đất của một số địa phương và rút ra bài học kinh nghiệm đối với Nghệ An

- Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá ở tỉnh Nghệ An, chỉ ra những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá ở tỉnh Nghệ An từ năm 2001 đến nay

- Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm giải quyết có hiệu quả hơn vấn đề này

ở tỉnh Nghệ An trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Vấn đề giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá ở tỉnh Nghệ An

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian nghiên cứu là tỉnh Nghệ An, tập trung nghiên cứu ở 7 huyện, thành thị xã: Thành phố Vinh, Thị xã Cửa Lò, Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Hưng Nguyên, Nghĩa Đàn là những nơi có tỷ lệ thu hồi đất nông nghiệp cao nhất,

Trang 15

tốc độ ĐTH nhanh, đang phát triển nhiều KCN nhằm tìm ra đặc điểm chung về giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH Từ đó cho thấy số người nông dân bị mất việc làm phải chuyển đổi nghề nghiệp rất lớn và khó có khả năng tìm được việc làm mới để bảo đảm đời sống Vì vậy, nếu không giải quyết được vấn đề này sẽ tạo ra nhiều vấn đề

xã hội bức xúc nảy sinh, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển bền vững của Nghệ An

Về thời gian, từ năm 2001 đến nay (2013) đây là thời kỳ CNH, ĐTH nhanh ở tỉnh Nghệ An

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về giải quyết việc làm và đảm bảo đời sống cho người lao động bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH Ngoài ra, luận án còn kế thừa và phát triển những quan điểm lý luận của các nhà khoa học về những nội dung liên quan

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp như: phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp trừu tượng hóa khoa học để phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm và đảm bảo đời sống cho người dân bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH;

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, lôgíc kết hợp với lịch sử được sử dụng trong việc phân tích và tổng hợp, kinh nghiệm của một số địa phương trong việc giải quyết việc làm và đảm bảo đời sống cho người dân bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH và có sự đối chiếu, so sánh với tỉnh Nghệ An để rút ra những bài học kinh nghiệm và giải pháp

- Phương pháp thống kê mô tả về thực tra ̣ng về đời sống của các hô ̣ bi ̣ thu hồi đất Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp số liê ̣u thu thâ ̣p được từ các nông hô ̣

So sánh đời sống các hô ̣ nông dân trước khi bị thu hồi đất và sau khi bị thu hồi đất

để thấy được tác động của việc thu hồi đất khi người dân không còn đất sản xuất

Trang 16

- Phương pháp thu thập thông tin : Số liệu thứ cấp lấy từ các sở , ban ngành để tìm hiểu thực trạng tổng quan của tỉnh Nghệ An Đồng thời nắm bắt đời sống của người lao động bi ̣ thu hồi đất hiê ̣n nay Số liê ̣u sơ cấp bằng cách phỏng vấn ngẫu nhiên một số hô ̣ bị thu hồi đất

- Để có cơ sở cho việc đánh giá thực trạng giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH ở tỉnh Nghệ An, tác giả đã tiến hành thực hiện cuộc khảo sát thu thập thông tin về tình hình giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất ở những địa phương có diện tích đất nông nghiệp thu hồi nhiều nhất Đối tượng, địa bàn khảo sát: người lao động có hộ khẩu thường trú ở địa bàn 7 huyện, thành thị: Thành phố Vinh, Thị xã Cửa Lò, Huyện Hưng Nguyên, Huyện Nghi Lộc, Huyện Quỳnh Lưu, Huyện Diễn Châu, Huyện Nghĩa Đàn Là những địa bàn có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi tương đối nhiều Phương pháp chọn mẫu: ngẫu nhiên có hệ thống

Phương pháp điều tra: điều tra chọn mẫu gián tiếp thông qua bảng hỏi kết hợp với phương pháp quan sát trực tiếp về tình hình giải quyết việc làm, bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất ở các địa bàn điều tra Cơ sở khoa học trong việc chọn mẫu và quy mô mẫu điều tra là căn cứ vào mục đích và phạm

vi nghiên cứu nghiên cứu vấn đề đặt ra

Về đối tượng, mục đích, nội dung điều tra đã được tác giả trình bày trong phụ lục 2 của luận án Tại mỗi Huyện tác giả điều tra 50 hộ nông dân, tuy nhiên, trong quá trình xử lý số liệu, có nhiều phiếu không được sử dụng do các hộ nông dân không đưa ra phương án trả lới đầy đủ Do các phiếu điều tra được phát ngẫu nhiên trước khi thu hồi nên tác giả không sử dụng mô hình SPSS để xử lý số liệu mà tác giả chỉ sử dụng phương pháp thống kê, phân tích số liệu Khi tác giả sử dụng số liệu bằng phương pháp thống kê, tùy từng câu hỏi khác nhau sẽ có số mẫu trả lời khác nhau Tuy vậy, tác giả cho rằng với phạm vi và đối tượng nghiên cứu của mình, các

số liệu mẫu điều tra của tác giả mang tính đại diện và đảm bảo độ tin cậy cho kết quả nghiên cứu

Trang 17

5 Những đóng góp mới của luận án

- Qua đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu, điều tra thực tế có liên quan đến đề tài luận án, tìm ra những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu về giải quyết việc làm và đảm bảo đời sống cho người dân bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH

- Khảo sát sự thay đổi về việc làm và đời sống của những người nông dân sau khi bị thu hồi đất

- Phân tích ảnh hưởng của việc thu hồi đất qua việc làm, thu nhập, chi tiêu, trình độ dân trí, điều kiện sống và sinh hoạt, … Từ đó thấy được mặt tích cực cũng như mặt tiêu cực của việc thu hồi đất đến việc làm và đời sống của người nông dân sau khi bị thu hồi đất

- Phân tích những kênh tác động trực tiếp của việc thu hồi đất đến việc làm và đời sống của người lao động bị thu hồi đất nhằm đánh giá chính xác hơn đời sống hiện tại của người nông dân khi không còn đất Từ đó đưa ra giải pháp giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động bị thu hồi đất đạt hiệu quả cao Đồng thời trong quá trình phân tích, đánh giá phát hiện ra những mặt mạnh cũng như điểm yếu trong công tác quản lý, giải quyết đền bù giải tỏa, tái định cư, vấn đề việc làm cho người lao động bị thu hồi đất

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu thành 4 chương 11 tiết

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về giải quyết việc làm và bảo đảm đời

sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH ở nước ta

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm và bảo đảm đời

sống cho người lao động bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa

Chương 3: Thực trạng giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao

động bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tỉnh Nghệ An

Chương 4: Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường giải quyết

việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tỉnh Nghệ An

Trang 18

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ BẢO ĐẢM ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH

CNH, ĐTH

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ BẢO ĐẢM ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT 1.1.1 Tổng quan một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài về giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất

Liên quan đến vấn đề bảo đảm đời sống đối với người dân có đất bị thu hồi có khá nhiều nhà khoa học nước ngoài nghiên cứu, trong đó đáng chú ý là một số công

trình sau đây:

- Mô hình thu nhập dự kiến về sự di cư nông thôn - thành thị (Hanis - Todaro) [77]

Do quá trình đô thị hoá diễn ra đồng thời với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Chính vì vậy, việc dân cư ở khu vực nông thôn, ngoại thành di chuyển vào thành thị là một xu hướng có tính quy luật trong quá trình phát triển của tất cả các nước, đặc biệt là đối với các nước phát triển trong giai đoạn hiện nay Theo

mô hình này thì người di cư sẽ xem xét các cơ hội khác nhau trong thị trường lao động dựa vào tối đưa hoá lợi ích dự kiến có được từ việc di cư bằng cách so sánh mức thu nhập dự kiến có được trong một khoảng thời gian nhất định ở thành thị với mức thu nhập trung bình đẳng có ở nông thôn Lúc này nếu thu nhập dự kiến (thu nhập kỳ vọng) cao hơn thu nhập thực tế hiện có thì họ sẽ quyết định di cư Thu nhập dự kiến thu được của lao động di chuyển tuỳ thuộc vào khả năng có thể kiếm được việc làm ở thành thị, mức lương ở đó cũng nhu độ tuổi của người di cư Lúc này Tòa án đã đề xuất với Chính phủ giảm mức lương ở thành thị, xoá bỏ những ảnh hưởng đến giá cả của các nhân tố sản xuất, tăng việc làm ở nông thôn,

áp dụng công nghệ và có chính sách phù hợp sẽ là biện pháp tạo thêm việc làm

Trang 19

Khi áp dụng mô hình này vào các nước đang phát triển cho thấy bên cạnh khu vực kinh tế hiện đại ở thành thị (khu vực chính quy) còn có một khu vực kinh tế thu hút một số ngành nghề như: thợ thủ công, dịch vụ sửa chữa nhỏ buôn bán nhỏ tự tạo việc làm hoặc kinh doanh có thuê nhân công và thoả thuận ngoài hệ thống luật pháp chính thức với giá nhân công rẻ Đây chính là khu vực hiện nay đang thu hút một lực lượng lao động rất lớn của những nước này vào làm việc - khu vực phi chính thức Thực tế cho thấy, việc phát triển khu vực kinh tế phi chính thức đã, đang và sẽ có những tác dụng rất to lớn trong việc GQVL, tăng thu nhập, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị Đồng thời phải không ngừng đầu tư phát triển cho khu vực nông thôn để nâng cao mức sống của họ, tăng cường cơ sở vật chất

kỹ thuật, giảm bớt khoảng cách về thu nhập giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn cũng như phát triển nhiều mô hình sản xuất kinh doanh phù hợp với khu vực nông thôn để tạo thêm nhiều việc làm ở khu vực này

- Mô hình lựa chọn công nghệ phù hợp, khuyến khích giá, tạo việc làm [77]

Mô hình này chỉ ra rằng để sản xuất ra một sản lượng mong muốn, các nhà sản xuất sẽ phải đứng trước những lựa chọn lớn: một là để mua các yếu tố của quá trình sản xuất như lao động, nguyên vật liệu thì có nhiều mức giá khác nhau, do đó phải lựa chọn mức giá nào cho phù hợp để có chi phí sản xuất là thấp nhất Hai là để đạt được lợi nhuận cao nhất các nhà sản xuất sẽ phải lựa chọn loại công nghệ phù hợp,

đó có thể là công nghệ hiện đại thì sẽ phải chi nhiều vốn hay công nghệ ở một mức

độ để sử dụng nhiều lao động Nếu công nghệ hiện đại, tốn nhiều vốn so với giá lao động thì nhà sản xuất sẽ lựa chọn công nghệ sử dụng nhiều lao động Ngược lại, nếu giá lao động tương đối cao thì các hãng sẽ lựa chọn công nghệ sử dụng nhiều vốn Việc áp dụng mô hình này ở các nước đang phát triển sẽ tạo được nhiều việc làm cho người lao động vì ở các nước này lực lượng lao động dồi dào nhưng lại thiếu vốn vì vậy công nghệ mà họ thường sử dụng là công nghệ sử dụng nhiều lao động để nhằm tận dụng tối đưa lợi thế này Chính vì vậy, Chính phủ ở các quốc gia này cần đưa ra những chính sách nhằm điều chỉnh lại giá cả, thông qua việc hạ thấp giá trị tương đối của sức lao động sẽ góp phần không chỉ tạo thêm nhiều việc

Trang 20

làm hơn mà còn sử dụng tốt hơn các nguồn vốn khan hiếm nhờ áp dụng công nghệ phù hợp

- ADB, (2007) Agricultural land conversion for industrial and commercial

use: Competing interests of the poor In ADB (Ed.), Markets and Development

Bulletin (pp.85-93) Hanoi, Vietnam: Asian Developmen Bank Chuyển đổi đất

nông nghiệp để sử dụng công nghiệp và thương mại: Cạnh tranh lợi ích của người

nghèo Trong Ngân hàng Phát triển Châu Á (Ed.), Thị trường và Phát triển (pp

85-93) Hà Nội, Việt Nam: Asian Developmen Bank Đã đề cập trong bối cảnh của sự mất mát ngày càng tăng của đất nông nghiệp do đô thị hóa và công nghiệp hóa ở nhiều vùng ngoại vi các thành phố lớn của Việt Nam, làm mất công ăn việc làm của người lao động nông nghiệp và đe dọa an ninh lương thực, ảnh hưởng đến sinh kế của hộ gia đình nông dân Vì vậy chính sách của chính phủ có thể giúp các hộ gia đình bị mất hoặc đất thay đổi đa dạng hóa sinh kế của họ bằng cách cung cấp cho họ với một lô đất ở vị trí đắc địa để làm kinh doanh Những người mất nhiều hơn 30 phần trăm đất nông nghiệp của họ sẽ được bồi thường bằng một thửa đất phi nông nghiệp, có thể được sử dụng như một tiền đề cho hộ kinh doanh như mở một cửa hàng, hoặc để cho thuê chỗ ở để duy trì đời sống các hộ gia đình bị mất đất

- Tác động của việc mất đất nông nghiệp phân phối thu nhập của các hộ gia

đình ở các khu vực ven đô Hà Nội, Việt Nam của tác giả Tuyên Quang

Trần ( tuyentq@vnu.edu.vn ) MPRA giấy từ Thư viện Đại học Munich, Đức

Nghiên cứu này đã cung cấp những bằng chứng kinh tế đầu tiên mà mất đất do đô thị hóa và công nghiệp hóa không ảnh hưởng đến xác suất của một hộ gia đình thuộc nhóm thu nhập đặc biệt như người nghèo, tầng lớp trung lưu hay giàu có trong khu vực ven đô thị Hà Nội, Việt Nam Kết quả cũng cho thấy rằng đất nông nghiệp giữ được không tương quan thống kê với khả năng của các hộ gia đình đang

ở trong một nhóm có thu nhập nhất định Tuy nhiên, các yếu tố khác, bao gồm giáo dục của hộ gia đình, tiếp cận tín dụng, tài sản và đặc biệt là sự tham gia của phi nông nghiệp của họ trước khi bị mất đất nông nghiệp, đã được tìm thấy để tăng cơ hội của các hộ gia đình di chuyển lên các bậc thang thu nhập

Trang 21

- Mối quan hệ giữa đất đai và sinh kế nông thôn ở Việt Nam (Tuyen, T.Q., Lim, S., Cameron, M P., & Huong, V.V (2014) Farmland loss and livelihood

outcomes: a mocroeconnometric analysis of household surveys in Vietnam Journal

of the Asia Pacific Economy, 19 (3), 423-444 Tác giả đã sử dụng dữ liệu mới thiết

lập từ khảo sát hộ gia đình của tác giả trong một khu tiểu đô thị của Hà Nội, Việt Nam, nghiên cứu này là lần đầu tiên sử dụng phương pháp kinh tế lượng để điều tra mối quan hệ giữa mất đất nông nghiệp (do đô thị hóa và công nghiệp) và chiến lược sinh kế của hộ gia đình Kết quả từ mô hình logit đã cung cấp các bằng chứng kinh

tế đầu tiên mà mất đất tăng với khả năng của các hộ áp dụng một chiến lược chuyên

về một hoạt động phi nông nghiệp duy nhất (không chính thức công ăn việc làm hoặc các doanh nghiệp hộ gia đình trả tiền) hoặc đa dạng hóa trong nhiều hoạt động Điều này cho thấy nhiều hộ gia đình đã chủ động đối phó với các cú sốc mất đất Như vậy chiến lược thích ứng trong bối cảnh mới có thể giúp giảm thiểu sự phụ thuộc vào đất nông nghiệp cũng như có thể giúp đỡ nâng cao phúc lợi của họ Vì vậy, một ý nghĩa có thể ở đây là tăng của mất đất không nên được xem như một hiện tượng hoàn toàn tiêu cực bởi vì nó có thể cải thiện phúc lợi hộ gia đình bằng cách thúc đẩy các hộ gia đình để thay đổi hoặc đa dạng hóa sinh kế của họ Bên cạnh đó, một số biến liên quan đến tài sản hộ gia đình như giáo dục, nông nghiệp,

và thứ vị trí của ngôi nhà đã được tìm thấy có liên quan chặt chẽ với sự tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp Dựa trên bằng chứng từ các phân tích kinh tế, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị chính sách có thể giúp đa dạng hóa các hộ gia đình hoặc chuyên hoạt động phi nông nghiệp hấp dẫn, trong bối cảnh đất nông nghiệp bị thu hẹp do đô thị hóa nhanh chóng trong khu vực tiểu đô thị của Hà Nội

1.1.2 Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nước về giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH

1.1.2.1 Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nước về giải quyết việc làm cho nông dân sau khi bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH

- Về cuốn sách ảnh hưởng của đô thị hóa nông thôn ngoại thành Hà Nội (Thực

Trang 22

trạng và giải pháp) do GS.TS Lê Du Phong , TS Nguyễn Văn Áng và Hoàng Văn Hoa đồng chủ biên (Trường Đại học kinh tế quốc dân phát hành năm 2002)

Ngoài việc hệ thống hóa những vấn đề về lý luận cơ bản, nhóm tác giả bước đầu xới xáo những tác động tiêu cực của quá trình đô thị hóa Trong đó giành đáng

kể dung lượng để đề cập tình trạng một bộ phận nông dân bị mất đất sản xuất nông nghiệp, tạm thời họ bị xáo trộn cuộc sống, đồng thời nêu lên những bức xúc trong quá trình đền bù khi Nhà nước thu hồi đất

Nhóm tác giả cũng đề xuất hai giải pháp tổng quát, đó là: Bù đắp thiệt hại về đất sao cho người nông dân không cảm thấy thiệt thòi; Có chính sách hỗ trợ người nông dân trong quá trình chuyển sang các nghề phi nông nghiệp

Từ hai giải pháp định hướng, tác giả đã đề xuất khá thuyết phục về chính sách đền bù thiệt hại về đất và căn cứ để xác định mức hỗ trợ chuyển đổi nghề cho nông dân Những đề xuất đó rất thiết thực, là căn cứ để các cơ quan trung ương nghiên cứu khi ban hành chính sách Tuy nhiên, có thể do khuôn khổ thời gian và phạm vi nghiên cứu, nhóm tác giả mới quan tâm đến những người lao động nông nghiệp trong độ tuổi Còn lại số người nông dân hết tuổi lao động trong khi trước đây họ vẫn tham gia sản xuất nông nghiệp để tự nuôi sống mình đến nay họ chưa biết trông cậy vào đâu thì chưa được đề cập Họ rất cần sự hỗ trợ từ phía Nhà nước và cộng đồng thông qua chính sách an sinh xã hội Đây là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu

- Sách “Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam” của PTS Nguyễn Hữu Dũng, PTS Trần Hữu Trung [17] tác giả đã khẳng định chính sách việc làm là một trong những nội dung cơ bản của công bằng xã hội và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống Cùng với các chính sách xã hội khác, chính sách việc làm góp phần ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội Bởi vậy chính sách việc làm mang tính chất xã hội, nhân văn và nhân đạo sâu sắc Công bằng xã hội trong lĩnh vực việc làm thực chất là nhà nước tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội như nhau trong tìm kiếm và tự tạo việc làm Do đó việc nghiên cứu chính sách giải quyết việc làm có ý nghĩa rất thiết thực Phương hướng cơ bản có tính chất chiến lược để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động và giải quyết việc làm ở nước ta là thực hiện tốt chiến lược

Trang 23

phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức lại toàn bộ lao động xã hội để phát huy tiềm năng các thành phần kinh tế; kết hợp giải quyết việc làm tại chỗ là chính với phân bố lại lao động theo vùng lãnh thổ, xây dựng các vùng kinh tế - xã hội, dân cư mới để gắn lao động với đất đai và tài nguyên của đất nước; đồng thời mở rộng sự nghiệp đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Tổ chức đào tạo, đào tạo lại đội ngũ lao động hiện có và phổ cập nghề nghiệp cho lao động xã hội, trước hết là cho thanh niên, nhằm hình thành đội ngũ lao động có cơ cấu, số lượng và chất lượng phù hợp với cấu trúc của hệ thống kinh tế mới và yêu cầu của thị trường lao động Đa dạng hóa việc làm, đa dạng hóa thu nhập, phát triển các hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh phong phú và đa dạng trong mối quan hệ đan xen giữa các thành phần kinh tế; coi trọng khuyến khích các hình thức thu hút được nhiều lao động và phù hợp với quy luật phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta

- " Việc làm của nông dân trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2010" (2010) do tác giả Trần Thị Minh Ngọc làm chủ biên Trên cơ sở phân tích, đánh giá những thuận lợi, khó khăn cũng như những thành tựu, hạn chế trong quá trình GQVL cho nông dân vùng đồng bằng sông Hồng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từ đó nhóm tác giả đề ra phương h-ướng và giải pháp cụ thể nhằm thực hiện có hiệu quả vấn đề GQVL cho nông dân: điều chỉnh cơ cấu đầu tư, phát triển các ngành kinh tế nhằm GQVL; đồng thời tác giả cũng đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao năng lực cho người lao động để tăng

cơ hội tìm kiếm được việc làm và các giải pháp hoàn thiện các chính sách của Nhà nước về việc làm cho người lao động [49]

- Cuốn sách do tác giả Nguyễn Thị Thơm và Phí Thị Hằng đồng chủ biên Cuốn sách đã được các tác giả đã bàn về những vấn đề này sinh do quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp mọc lên khắp nơi đã làm cho đất đai sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, người nông dân mất tư liệu sản xuất chủ yếu đồng nghĩa với việc mất hoặc thiếu việc làm, gây nên nhiều , song trọng điểm vùng đồng bằng sông Hồng, nhóm tác giả đã đưa ra một số

dự báo và giải pháp trong việc GQVL cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô

Trang 24

thị hoá: Nâng cao hiệu quả quy hoạch, mở rộng cầu lao động, nâng cao chất lượng cung lao động, phát triển thị trường lao động và giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách đối với lao động nông nghiệp bị thu hồi đất [90]

- "Báo cáo nghiên cứu về việc Làm nông thôn tại Việt Nam ", do Văn Phòng

Hỗ trợ Tư vấn Phản biện và Giám định Xã hội (OSEC) trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) thực hiện với sự hỗ trợ về tài chính và

kỹ thuật của Văn phòng Tổ chức Lao động Quốc tế tại Việt Nam (ILO) thông qua Cục Việc làm thuộc Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (MOLISA) Báo cáo gồm

2 phần chính: Phần I được xây dựng dựa trên việc phân tích kết quả điều tra lao động việc làm Việt Nam năm 2009 (LFS 2009) của Tổng cục Thống kê (GSO) Ngoài ra, báo cáo cũng dành một phần nội dung đáng kể để đánh giá tổng quan về

hệ thống chính sách có liên quan

Phần II của báo cáo là kết quả khảo sát tại 9 tỉnh gồm: Yên Bái, Hà Nam, ĩnh phúc, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bình Dơng, Vĩnh Long và Đồng Tháp nhằm tiếp tục nghiên cứu, đánh giá về các vấn đề có liên quan tới tình hình lao động, việc làm tại nông thôn Việt Nam để bổ sung cho các kết quả phân tích từ số liệu điều tra LFS 2009 Báo cáo: "Tác động của công nghiệp hoá và đô thị hoá đến sinh kế nông dân Việt Nam.' trường hợp một làng ven đô Hà Nội" do TS Nguyên Văn Sửu Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tập trung phân tích về các tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế của người nông dân Tuy chỉ nghiên cứu một trường hợp điển hình tại một làng ven đô

Hà Nội, song báo cáo cũng chỉ ra nhiều đặc trừng cũng như những tác động phổ biến của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế người dân Thực tế đã có những đổi thay rõ rệt trong thu nhập, cơ cấu ngành nghề của nhiều hộ gia đình Tuy nhiên, chiều hướng của sự chuyển dịch không đáp ứng được sự kì vọng của các cơ quan quản lý cũng như các hộ gia đình Những giảm sút thấy rõ của thu nhập từ ngành nông nghiệp, và những hướng sinh kế mới chuyển đổi lại thiếu bền vững là những hệ quả được nhận diện rõ rệt nhất Thêm vào đó, những hệ quả xã hội khác

từ việc thu hồi đất nông nghiệp của các hộ gia đình cũng diễn ra khá phức tạp như

sự bất ổn, rủi ro và bất bình đẳng, phân hoá giàu nghèo gia tăng

Trang 25

- Đề tài: Giải pháp chuyển đổi nghề nghiệp, đào tạo việc làm cho dân cư sau khi Nhà nước thu hồi đất phát triển các khu công nghiệp tập trung và đô thị tại Bắc Ninh trong những năm tới của tác giả Vũ Đức Quyết, Trưởng ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh năm 2005 Tác giả đã tập trung đánh giá khá kỹ về thực trạng chuyển đổi nghề nghiệp, đào tạo việc làm cho dân cư vùng Nhà nước thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp tập trung và đô thị Trên cơ sở những tồn tại về công tác đào tạo nghề, công tác giải quyết việc làm tại địa phương, tác giả đã đề xuất 3 mô hình sản xuất cho các hộ nông dân sau khi thu hồi đất phục vụ cho các khu công nghiệp và đô thị Đề xuất thí điểm 3 dự án tại Bắc Ninh trình Chính phủ phê duyệt và Quốc hội thông qua Song thời gian để các dự

án được duyệt khá lâu (khoảng 7-10 năm) Trong thời gian chờ các dự án được phê duyệt, tác giả mạnh dạn đề xuất cho phép tỉnh Bắc Ninh được thí điểm thực hiện: Một là, thí điểm giao cho Ban quản lý các khu công nghiệp Bắc Ninh tham gia xây dựng trường đào tạo nghề với sự tham gia của các doanh nghiệp…Hai là, thí điểm việc giao cho tổ chức Khuyến Công thực hiện việc thành lập và đưa vào vận hành vườn ươm công nghiệp, giao cho tổ chức Khuyến Nông thực hiện và đưa vào vận hành vườn ươm về nông nghiệp đô thị Ba là, thí điểm việc thực hiện cơ chế, chính sách bồi thường chuyển đổi nghề nghiệp và đào tạo việc làm thay cho chính sách bồi thường và hỗ trợ thu hồi đất trước đây

Các đề xuất của tác giả là khá mạnh dạn Tuy nhiên, khi nghiên cứu các giải pháp, cá nhân tôi nhận thấy: Công tác đào tạo nghề là hết sức cấp bách, song vấn đề

là ở chỗ sau đào tạo làm ở đâu và có làm đúng nghề mình được học hay không? đây

là vấn đề bất cập đang diễn ra tại các địa phương đang trong quá trình công nghiệp hóa, trong đó có Bắc Ninh Vì vậy, phải làm sao xác định được nhu cầu lao động cả

về số lượng và ngành nghề, độ tuổi từ đó mới tìm ra quy mô đào tạo sát thực tế, bảo đảm phần lớn người được đào tạo sẽ có việc làm ổn định và làm đúng nghề

Qua đề tài này nhận thấy: Những kiến nghị và đề xuất các giải pháp là rất đáng trân trọng, góp phần đẩy mạnh mục tiêu thu hút đầu tư Tuy nhiên trong vấn đề đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người nông dân khu vực thu hồi đất để phát

Trang 26

triển các khu công nghiệp và đô thị cần phải được nghiên cứu tiếp theo về xác định nhu cầu đào tạo, đào tạo gắn với sử dụng và các chính sách bảo đảm đời sống cho người nông dân ở khu vực này

- Đề tài: xây dựng một số mô hình tạo việc làm đối với lao động bị mất việc làm tại Các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất năm 2008 của tác giả Nguyễn Tiệp, trường Đại học Lao động Xã hội cũng là một báo cáo đưa ra nhiều vấn đề nổi cộm trong quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở nước ta hiện nay Cũng như các báo cáo khác, thông qua quá trình thống kê, phân tích số liệu từ các cuộc điều tra, tác giả đã chỉ ra những khó khăn trong quá trình giải quyết vấn đề việc làm cho lao động tại các hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp như chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn do trình độ thấp, ngoài độ tuổi tuyển dụng của doanh nghiệp, sự ỷ lại của người lao động vào chính sách hỗ trợ của nhà nước các hỗ trợ của nhà nước cha thực sự hiệu quả Ngoài việc phân tích những khó khăn của người dân tại các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tác giả cũng đưa ra và phân tích một số giải pháp tạo việc làm hiệu quả ở một số địa phương hiện nay điển hình như đào tạo nghề, thu hút lao động làm việc tại các KCN/KCX; triển khai các quy hoạch phát triển kinh tế

- xã hội, mở rộng mạng lưới đào tạo nghề tại địa phương vùng chuyển đổi mục đích

sử dụng đất gắn với GQVL cho người lao động Báo cáo của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt 'Nam "Đánh giá thực trạng lao động việc làm ở các khu vực bị thu hồi đất nông nghiệp và hiệu quả của các chính sách hỗ trợ nhóm nông dân mất đất (năm 2012) thông qua ba địa bàn được lựa chọn nghiên cứu là Hải Dương, Nam Định và Nghệ An Báo cáo đi sâu phân tích các vấn đề về đời sống, việc làm cũng như hiệu quả của các hỗ trợ dành cho nhóm nông dân mất đất Theo

đó, báo cáo chỉ ra những khó khăn là tìm kiếm, chuyển đổi việc làm, thất nghiệp và

dư thừa lao động; thiếu hoặc không còn đất nông nghiệp để canh tác” Bên cạnh việc đó, báo cáo chỉ ra các khó khăn của người dân thuộc diện thu hồi đất, phân tích các tác động khác của quá trình thu hồi đất đến điều kiện kinh tế- xã hội của địa phương cũng như những chuyển dịch trong cơ cấu việc làm và thu nhập của các hộ gia đình Trong đó chiều hướng chuyển dịch chính được chỉ ra là các công việc bấp

Trang 27

bênh từ hoạt động làm thuê ngoài Tỷ lệ người dân được hưởng lợi từ hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp hay các, dịch vụ liền kề doanh nghiệp vì thế chỉ chiếm tỷ

lệ khá thấp Khó khăn về việc làm, thu nhập thường trực cộng với sự gia tăng của các loại hình tệ nạn xã hội cùng sự biến đổi, Ô nhiễm môi trường làm cho nhiều người dân cảm thấy băn khoăn với các quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng đất hiện nay Đề án: "Một số giải pháp hỗ trợ ổn đinh đời sống, học tập, đào tạo nghề và việc làm cho các hộ vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đã đưa ra nhiều phân tích về quá trình triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân bị thu hồi đất ở Hà Nội Trên cơ sở phân tích về tình hình thu hồi đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp để đầu tư phát triển thủ đô và quá trình thực hiện các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, GQVL cho người lao động tại các khu vực này, đề

án đã đưa ra những dự báo về tình hình thu hồi đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2020, đề xuất các giải pháp về đào tạo nghề và việc làm cho nhóm đối tượng này Theo phân tích, quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất của Hà Nội đã tạo ra những chuyển dịch tích cực về cơ cấu kinh tế, lao động cũng như góp phần vào sự tăng trưởng của TP Để hỗ trợ cho nhóm đối tượng mất đất nông nghiệp, TP cũng đã chú trọng thực hiện nhiều chính sách phù hợp từ hỗ trợ

về cơ sở vật chất kỹ thuật, tái định cư đến đào tạo nghề và giới thiệu việc làm qua

đó bước đầu cũng đã góp phần ổn định đời sống và GQVL cho một bộ phận dân cư

- Nghiên cứu về vấn đề việc làm và thu nhập của người dân mất đất tại Huế qua báo cáo việc làm cho người lao động sau thu hồi đất trong quá trình đô thị hoá ở

TP Huế hiện nay của tác giả Hà Thị Hằng cũng đã cho thấy nhiều phát hiện quan trọng Kết quả từ tổng hợp số liệu điều tra 100 hộ gia đình điển hình về thu hồi đất nông nghiệp của Thừa Thiên - Huế cho thấy nhiều bức xúc trong vấn đề việc làm của người lao động tại các địa phương này Sự biến đổi việc làm của các hộ gia đình

có lẽ nằm ngoài sự mong đợi và dự đoán của các nhà hoạch định chính sách, bởi có biến đổi việc làm nhưng không diễn ra theo xu hướng chuyển dịch sang ngành công nghiệp và dịch vụ biến đổi việc làm hiện hữu nhất tại đây lại là không có, hoặc thiếu việc làm Tỷ lệ lao động có việc làm đã giảm xuống hơn 40% so với thời điểm trước

Trang 28

thu hồi, những người còn duy trì được nghề cũ là 14,5%; 41,61% đã tìm được nghề nghiệp mới và trên 30% rơi vào tình trạng thất nghiệp Số lao động tìm được việc làm mới lại chủ yếu là công việc bấp bênh, thu nhập thấp nh đạp xe xích lô, buôn bán nhỏ, phụ nề Những người duy trì được hoạt động sản xuất nông nghiệp thì cũng hết sức khó khăn bởi đất đai chật hẹp Những bất cập sau các quyết định về chuyển đổi mục đích sử dụng đất tại Huế cũng là thực trạng chung đã và đang xảy ra, tại các địa phương khác trong cả nước

- Luận án tiến sỹ Phát triển thị trường sức lao động, giải quyết việc làm của Đỗ

Thị Xuân Phương năm 2000 [78], tập trung nghiên cứu phát triển thị trường sức lao động hướng vào sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, xã hội hoá vấn đề giải quyết việc làm có sự quản lý của Nhà nước, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, nâng cao chất lượng lao động, phát triển toàn diện kinh tế - xã hội các vùng nông thôn, phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đổi mới hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong quản lý lao động và giải quyết việc làm…là những biện pháp cấp bách, vừa có ý nghĩa thiết thực trước mắt, vừa có ý nghĩa lâu dài Đổi mới tổ chức, bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ trực tiếp quản lý lao động việc làm, nâng cao chất lượng hoạt động của

bộ máy và đội ngũ cán bộ để trực tiếp thúc đẩy sự phát triển thị trường sức lao động, giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm Đề tài có tính chất gợi ý quan trọng cho chúng tôi khi nghiên cứu những giải pháp để thúc đẩy vấn đề giải quyết việc làm, bảo đảm đời sống cho người lao động trong giai đoạn hiện nay

Đề cập đến vấn đề đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, tác giả

Nguyễn Tiệp đã có một số công trình như: Thực trạng và giải pháp tạo việc làm cho

lao động thanh niên [92]; Giải quyết việc làm và ổn định đời sống dân cư vùng chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp [93], Một số giải pháp tạo việc làm gắn với giải quyết các vấn đề xã hội tại Hà Nội, Tạp chí Lao động - Xã hội của tác giả

Nguyễn Tiệp Tác giả chỉ ra thực trạng các vấn đề xã hội nảy sinh: thất' nghiệp, nghèo đói và các giải pháp tạo việc làm cho người lao động nhằm giảm thiểu các vấn đề xã hội nảy sinh "Giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở Thành

Trang 29

phố Hà Nội", tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông - của tác giả Trần Thị Lan, tác giả đề cập đến vấn đề việc làm của nông dân khi thu hồi đất ở Hà Nội còn có những hạn chế số việc làm tạo ra cha nhiều, nông dân được làm việc trong các dự

án thu hồi đất còn ít Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số quan điểm cần phải quán triệt và các giải pháp trong GQVL cho đối tượng trên

- "Tạo việc làm ở nước ta - Từ chính sách đến thực tiễn", tạp chí Tạp chí kinh

tế và phát triển - của tác giả Nguyễn Tiệp Tác giả đánh giá các chính sách của Nhà nước trong việc tạo việc làm cho người lao động; những vấn đề còn tồn tại và đề xuất các giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách GQVL cho lao động ở nước ta "Hà Nội giải quyết việc làm cho lao động khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất", tạp chí Lao động và xã hội của tác giả Hồng Minh Tác giả

đã chỉ ra những biến đổi về xã hội sau giải phóng mặt bằng ở ngoại thành Hà Nội: thu nhập, lối sống, sử dụng tiền đền bù và thất nghiệp đối với người nông dân sau thu hồi đất Các giải pháp tạo thêm việc làm", tạp chí Lao động và công đoàn của tác giả Nguyễn Tiệp Bài báo đề cập đến vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc GQVL cho người lao động, những hạn chế và giải pháp khắc phục đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong việc tạo việc làm cho người lao động

1.1.2.2 Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nước về đảm bảo đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH

- Sách thu nhập, đời sống, VL của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu

công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng

phục vụ lơi ích Quốc gia của tác giả Lê Du Phong làm chủ biên (2007)

Tác giả đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn quan trọng cho các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách trong quá trình thực hiện các mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Những phân tích cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy tính tất yếu của quá trình thu hồi đất đai để thực hiện mục tiêu CNH-HĐH đất nư-

ớc cùng những phát sinh trong quá trình này Trên cơ sở những phân tích này cần xây dựng các giải pháp then chốt để hạn chế các vấn đề phát sinh bảo đảm quyền lợi của người dân cũng như phục vụ tốt cho lợi ích quốc gia Nhìn chung, tác giả đã cung cấp

Trang 30

được nhiều tư liệu cần thiết cả về lý luận và thực tiên để luận giải cho các vấn đề liên quan đến quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay [75]

- Cuốn về “hậu giải phóng mặt bằng ở Hà Nội - Thực trạng và giải pháp” (2009) do tác giả Nguyễn Chí Mỹ và Hoàng Xuân Nghĩa đồng chủ biên Đây là cuốn sách tập hợp các bài viết của nhiều tác giả khác nhau cùng đề cập đến vấn đề bảo đảm lợi ích cho Nhà nước, doanh nghiệp, người nông dân sau khi thu hồi đất và các biện pháp nhằm giải quyết vấn đề nảy sinh hậu giải phóng mặt bằng ở Hà Nội

và một số địa phương khác trong cả nước [48] Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá " (2010)

- "Một số giải pháp nhằm phát triển bền vững nông thôn vùng đồng bằng Bắc

bộ trong quá trình xây dựng, phát triển các khu công nghiệp (Qua khảo sát các tỉnh Vĩnh Phúc, Hải Dương, Ninh Bình)" (2010) Cuốn sách do tác giả Đỗ Đức Quân làm chủ biên Qua khảo sát một số vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, các tác giả

đã chi ra thực trạng nông thôn đồng băng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, chỉ ra tình trạng chung trong nông thôn hiện nay đó là hiện tượng thu hẹp diện tích đất sản xuất nông nghiệp, từ đó là cho một bộ phận dân

c nông thôn mất việc làm, chất lượng môi trường bị suy giảm, mất cân đối và thiếu hụt các nguồn lực dành cho phát triển nông thôn Vì vậy, nhóm tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhóm giải pháp về kinh tế, nhóm giải pháp về xã hội và các giải pháp khác nhằm khắc phục các hạn chế trên [79]

- Luận án tiến sỹ Nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với thị trường nhà

ở và đất ở đô thị của Nguyễn Văn Hoàng năm 2010, đã phân tích rõ lợi thế của các

doanh nghiệp chủ đầu tư trong việc dùng đất nông nghiệp thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp và các khu đô thị mới hiện đại Một trong những nguyên nhân mà các doanh nghiệp chủ dự án này được hưởng lợi quá lớn là do cơ chế thực hiện giao đất theo kiểu “ xin - cho”, thiếu sự đánh giá khách quan và đặc biệt là sự thiếu minh bạch của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đất đai tại địa phương

- Luận án tiến sỹ Quan hệ lợi ích kinh tế trong thu hồi đất của nông dân để

xây dựng các khu công nghiệp và khu đô thị mới ở Hà Nội của Trần Thị Lan năm

2012 [43]: với đối tượng nghiên cứu là quan hệ lợi ích kinh tế nảy sinh trong quá

Trang 31

trình thu hồi đất của nông dân để xây dựng các khu công nghiệp và khu đô thị mới

ở Hà Nội Luận án đã có những đóng góp lý luận và thực tiễn dưới góc độ phân tích kinh nghiệm của Hà Nội trong việc giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế trong thu hồi đất, đề xuất cơ chế mới nhằm thực hiện một cách hài hoà lợi ích kinh tế của các chủ thể có liên quan đến thu hồi đất của nông dân cho xây dựng các khu công nghiệp và khu đô thị mới ở Hà Nội, để nhanh chóng tạo mặt bằng giúp triển khai đúng đúng tiến độ các dự án đầu tư, khắc phục được những hiện tượng khiếu kiện kéo dài, ổn định tình hình xã hội và bảo đảm phát triển bền vững Tuy nhiên, luận án này chưa

đề cập, xem xét, phân tích một cách có hệ thống, lô gic về vấn đề giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người dân có đất bị thu hồi

- Luận án tiến sĩ kinh tế của NCS Nguyễn Văn Nhường: "Chính sách an sinh

xã hội đối với người nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các cụm công nghiệp (nghiên cứu tại Bắc Ninh)", chuyên ngành Quản lý kinh tế Trường Đại học kinh tế Quốc dân năm 2010 Tác giả đi sâu vào phân tích những nội dung lý luận về chính sách an sinh xã hội đối với nông dân bị thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, đồng thời đánh giá thực trạng đời sống người dân bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp tại Bắc Ninh Qua việc chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân bằng sử dụng mô hình SWOT, tác giả đề xuất các giải pháp xây dựng và hoàn thiện chính sách về an sinh xã hội đối với người nông dân

bị thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp

- Nghiên cứu vấn đề này còn phải kể đến một số bài báo đề cập đến các giải pháp để thực hiện giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người nông dân khi bị

thu hồi đất như: “ Quan điểm, giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động nông

nghiệp trong quá trình đô thị hóa và phát triển khu công nghiệp” của tác giả Trần

Văn Chử đăng trên Tạp chí Lao động và Xã hội, số 330/2008; “ Đô thị hoá, công

nghiệp hoá, hiện đại hoá với việc bảo đảm điều kiện sống và làm việc của người lao động” của TS Nguyễn Hữu Dũng đăng trên Tạp chí LLCT, số 11/2005; Công tác thu hồi đền bù giải phóng mặt bằng sau khi có luật đất đai năm 1993 của tác giả

Nguyễn Thị Cúc đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước, tr.10, 13,22/2004 trong các bài báo này, tác giả đã phân tích một cách khách quan quá trình công nghiệp hóa,

Trang 32

hiện đại hóa tất yếu phải thu hồi đất của người nông dân để xây chính sách giải quyết việc làm và đảm bảo đời sống cho người lao động bị thu hồi dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, đề cập đến quan điểm và các giải pháp giải quyết việc làm, đảm bảo ổn định cuộc sống cho người dân, giải pháp đền bù thu hồi đất và giải phóng mặt bằng Tuy nhiên cơ chế, chính sách của nhà nước để giải quyết vấn đề này còn nhiều

lỗ hổng, thiếu đồng bộ, bất hợp lý như giá đất đền bù đất không theo giá thị trường, tổ chức đến nơi ở mới tái định cư điều kiện an sinh xã hội kém chất lượng, cơ chế đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp cho người dân có đất bị thu hồi chưa thực sự gắn với nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp tại các địa phương thu hồi đất dẫn đến kết quả doanh nghiệp chỉ tuyển dụng được rất ít lao động địa phương

1.2 NHẬN XÉT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.2.1 Những kết quả về giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH đã có sự thống nhất giải quyết

Tất cả các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài kể trên đều đã bao quát những vấn đề về việc làm, GQVL và bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất trong quá trình CNH,ĐTH; quan điểm và giải pháp GQVL và bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH nhằm nâng cao đời sống về vật chất và tinh thần cho người dân, giảm thiểu các vấn

đề xã hội nảy sinh, đặc biệt là tình trạng thất nghiệp hiện nay Việc thu hồi đất và giải quyết việc làm cho người nông dân sau khi bị thu hồi đất hiện đang là bài toán khó của Chính phủ và các địa phương trong việc bảo đảm phát triển bền vững Nếu không đánh giá tổng quát, khoa học về sự tác động của thu hồi đất đến việc làm của người nông dân sẽ không tìm ra „'cái đích" cho việc ổn định chính trị, kinh tế - xã hội ở nhiều nơi trong cả nước

Trong quá trình nghiên cứu, các tác giả đã đánh giá thực trạng sự tác động, sự cần thiết cũng như các nhân tố ảnh hưởng của thu hồi đất đến việc làm của người nông dân bị thu hồi đất; trên cơ đó đó đưa ra một số giải pháp và khuyến nghị nhằm

Trang 33

đẩy mạnh việc giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất Các lý thuyết

về việc làm nêu trên đều tập trung nghiên cứu, xác định mối quan hệ cung cầu lao động tác động đến việc làm Những lý luận đó chưa làm rõ vai trò của Chính phủ thông qua hệ thống các chính sách kinh tế kết hợp với chính sách xã hội để tạo việc làm ổn định cho người lao động sau khi bị thu hồi đất ở Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng Tuy nhiên, nó có tác dụng gợi mở cho chúng ta khi phân tích thực trạng việc làm và đề ra những giải pháp phù hợp trong tạo việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất

Mỗi báo cáo ở từng thời điểm cụ thể, với quy mô, phương pháp và cách tiếp cận khác nhau cũng đã khai thác khá triệt để bức tranh muôn màu của thực trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất và các vấn đề phát sinh xung quanh nó Tựu trung lại các báo cáo cũng làm nổi bật được các đặc trưng, quy mô, mức độ cũng như các tác động về kinh tế - xã hội, đời sống - việc làm của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất tại Việt Nam trong những năm qua

1.2.2 Những khoảng trống về giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động sau khi bị thu hồi đất cần được tiếp tục nghiên cứu

- Các nghiên cứu trên chưa làm rõ được vai trò của Chính phủ thông qua hệ thống các chính sách kinh tế kết hợp với chính sách xã hội để tạo việc làm ổn định cho người lao động sau khi bị thu hồi đất Đặc biệt chưa thống nhất về nội dung và các tiêu chí đánh giá kết quả của giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho người lao động nói chung và GQVL và bảo đảm đời sống cho nông dân sau khi thu hồi đất nói riêng Những tác động tích cực và tác động tiêu cực khi thu hồi đất Nhóm người nào được hưởng lợi trong việc thu hồi đất

- Đối với các nghiên cứu đánh giá về cơ chế thu hồi đất, phần lớn các nghiên cứu nghiêng về quá trình quản lý và cung cấp các thông tin về thu hồi đất, trong khi

đó mảng nghiên cứu cơ chế, chính sách hỗ trợ cho người nông dân khu vực thu hồi đất lại còn hạn chế, đặc biệt vấn đề tái định cư, đào tạo nghề hướng nghiệp - mảng then chốt để giải quyết tình trạng thiếu việc làm và ổn định đời sống ở khu vực bị thu hồi đất hiện nay hầu như chưa được phân tích một cách sâu sắc Những "khoảng trống" từ các nghiên cứu đã thực hiện cũng như những kinh nghiệm và bài học rút

Trang 34

ra từ các nghiên cứu trên sẽ là cơ sở cho việc xây dựng định hướng nghiên cứu của

đề tài luận án Trong đó, luận án cần đạt được các yêu cầu sau:

- Phân tích quá trình thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng đất đai tại các địa phương phục vụ cho quá trình CNH, ĐTH, cũng như các chính sách hỗ trợ cho người lao động khi bị thu hồi đất và hiệu quả của các chính sách này

- Nắm bắt nguyện vọng, nhu cầu và đề xuất của người dân bị thu hồi đất để có các chính sách hỗ trợ người dân bảo đảm thực hiện đúng đắn mục tiêu của các quyết định về chuyển đổi mục đích sử dụng đất

- Cần chỉ ra những khác biệt về sự tác động của các nhân tố kinh tế - xã hội đến quy mô, mức độ của việc chuyển đổi đất nông nghiệp cũng như đến các vấn đề lao động - việc làm tại các địa phương hiện nay

- Tiến hành khảo sát thực tế để đánh giá đúng thực trạng tình hình GQVL và bảo đảm đời sống cho người lao động bị thu hồi đất ở tỉnh Nghệ An, qua đó đề xuất những giải pháp hữu hiệu có tính khả thi phù hợp với điều kiện lịch sử mới ở Nghệ

An hiện nay

Trang 35

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ BẢO ĐẢM ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH CNH, ĐTH

2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ BẢO ĐẢM ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH CNH, ĐTH

2.1.1 Công nghiệp hóa, đô thị hóa và sự cần thiết khách quan phải thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất đai

2.1.1.1 Công nghiệp hóa, đô thị hóa

CNH, ĐTH là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Trong thời đại khoa học – công nghệ phát triển nhanh như vũ bão, kinh tế tri thức dần đi vào cuộc sống và toàn cầu hóa là một xu thế không có gì cưỡng lại được, thì CNH, ĐTH là con đường giúp các nước chậm phát triển rút ngắn khoảng cách so với các nước đi trước Thực tiễn, phát triển của nhiều quốc gia trong những năm gần đây cho thấy: CNH, ĐTH là nhân tố quyết định làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất truyền thống, tiểu nông sang phương thức sản xuất mới hiện đại, do đó cũng làm thay đổi nội dung KT-XH nông thôn Trong nền kinh

tế hiện đại, CNH, ĐTH có sự gắn bó chặt chẽ với nhau Về mặt kinh tế, CNH làm thay đổi phương thức sản xuất và cơ cấu nền kinh tế, chuyển nền kinh tế sang một bước phát triển mới về chất, đó là nền kinh tế dựa trên nền đại công nghiệp và dịch

vụ chất lượng cao Về mặt xã hội, đó là quá trình ĐTH Trong nền kinh tế hiện đại, ĐTH không chỉ đơn thuần là sự hình thành các đô thị mới mà còn là một nấc thang tiến hóa vượt bậc của xã hội với một trình độ văn minh mới, một phương thức phát triển mới Đó là cách thức tổ chức, bố trí lực lượng sản xuất, cơ cấu lại nền kinh tế

* Công nghiệp hóa

Khi tiến hành CNH ở Tây Âu đã hình thành nên khái niệm CNH, lúc này người ta coi CNH là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng

Trang 36

máy móc Các khái niệm kinh tế nói chung và khái niệm CNH nói riêng mang tính lịch sử, thay đổi cùng thời đại

Kế thừa văn minh nhân loại và kinh nghiệm của lịch sử tiến hành CNH và thực tiễn CNH ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ bảy khóa VI và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận định:

CNH là quá trình chuyển đổi căn bản và toàn diện các hoạt động kinh doanh, dịch vụ và quản lý KT – XH từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ tạo

ra năng suất lao động xã hội cao

* Đô thị hóa

Thuật ngữ ĐTH đã xuất hiện từ thời cổ đại, nó gắn liền với việc thừa nhận ngày càng phổ biến vai trò và tầm quan trọng của các đô thị đối với việc phát triển KT-XH, ĐTH là một quá trình KT –XH, lịch sử mang tính quy luật trên quy mô toàn cầu Ngày nay, ĐTH chứa đựng nhiều vấn đề phức tạp với nhiều hiện tượng và biểu hiện dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau của xã hội hiện đại Do đó, nó là đối tượng nghiên cứu của không ít các ngành khoa học trong nỗ lực xây dựng các

cơ sở khoa học cho việc quy hoạch, phát triển và quản lý đô thị Theo đó, cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về ĐTH

Theo cách tiếp cận của nhân khẩu học và địa lý kinh tế thì ĐTH chính là sự di

cư từ nông thôn vào thành thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống trong lãnh thổ địa lý hạn chế được gọi là các đô thị Đó cũng là quá trình gia tăng tỷ lệ dân cư đô thị trong tổng số dân của một quốc gia Với cách tiếp cận này thì dưỡng như tỷ lệ phần trăm dân số đô thị trên tổng số dân là chỉ tiêu duy nhất để đo lường mức độ ĐTH Và như vậy, nó sẽ không thể giải thích nổi tầm quan trọng và vai trò của ĐTH cũng như ảnh hưởng của nó đến sự phát triển KT-XH hiện đại

Theo cách tiếp cận xã hội học, ĐTH được hiểu rộng hơn, đó là quá trình tổ chức lại môi trường cư trú của nhân loại; là sự thay đổi những phương thức hay

Trang 37

hình thức cư trú của nhân loại Điều này có nghĩa là ĐTH không chỉ làm thay đổi phương thức sản xuất, tiến hành các hoạt động kinh tế mà còn là sự thay đổi lớn trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và cá nhân, trong đó các quan hệ xã hội, các mô hình hành vi và ứng xử tương ứng với điều kiện sống CNH, ĐTH Theo quan điểm một vùng, ĐTH là một quá trình hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị

Theo quan điểm nền kinh tế quốc dân, ĐTH là quá trình biến đổi về sự phân

bố các yếu tố lực lượng sản xuất, bố trí dân cư những vùng không phải đô thị thành

đô thị [36, tr.12]

Tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm ĐTH, song ngày nay khi mà ĐTH gắn liền với CNH đang diễn ra mạnh mẽ và phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới thì nhiều nhà khoa học ngày càng ngả sang cách hiểu: ĐTH là quá trình mang tính quy luật gắn liền với sự chuyển dịch CCKT và cơ cấu xã hội từ nông nghiệp – nông dân – nông thôn sang công nghiệp – thị dân – đô thị, với những đặc trưng sau: Một là, ĐTH không phải là kết quả mà là một quá trình lâu dài diễn ra trên một không gian lãnh thổ rộng lớn

Hai là, tiền đề cơ bản của ĐTH là sự phát triển công nghiệp hay CNH, HĐH Bởi lẽ, trong quá trình ĐTH có sự chuyển dịch CCKT từ dựa vào nông nghiệp là chủ yếu sang sản xuất công nghiệp, thương mại và dịch vụ

Ba là, ĐTH là quá trình hình thành, nâng cấp và mở rộng quy mô đô thị với cơ

sở hạ tầng hiện đại

Bốn là, các làn sóng di cư nông thôn – đô thị làm tăng nhanh quy mô dân số đô thị, chuyển từ lối sống phân tán - mật độ dân số thưa sang lối sống tập trung - mật độ dân số cao, dẫn đến sự bố trí lại dân cư, thay đổi cơ cấu giai cấp, phân tầng xã hội Năm là, không gian đô thị ngày càng mở rộng và cùng với nó là sự thu hẹp đất nông nghiệp để nhường chỗ cho các KCN, dịch vụ, thương mại, du lịch, KĐT mới Sáu là, tốc độ và quy mô hội tụ kinh tế đô thị ngày càng gia tăng, thể hiện ở tốc độ và quy mô thu hút vốn đầu tư, số lượng và quy mô các đơn vị kinh tế Bảy là, chuyển từ lối sống nông thôn sang lối sống đô thị; từ văn hóa làng, xã sang văn hóa đô thị; từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp

Trang 38

Tám là, cùng với quá trình ĐTH là sự đổi mới cơ chế, chính sách phát triển và quản lý đô thị

Mức độ ĐTH gắn liền với quá trình chuyển dịch CCKT, cơ cấu xã hội Về mặt

lý thuyết mức độ ĐTH thường được đo lường bằng các tiêu chí sau:

+ Mức độ tập trung dân số: mật độ dân số, quy mô dân số và tỷ trọng dân số trong khu vực đô thị

+ Tỷ lệ phần trăm (%) lực lượng lao động phi nông nghiệp

+ Mức độ hiện đại của cơ sở hạ tầng

+ Tỷ lệ phần trăm (%) kinh tế phi nông nghiệp trong CCKT đô thị

+ Vai trò trung tâm hành chính, văn hóa, chính trị, kinh tế tại các vùng lãnh thổ Tuy nhiên, trong thực tế vì không đủ các thông tin chi tiết cần thiết để xác định

và đo lường mức độ ĐTH, phân loại đô thị Thông thường để đo lường mức độ ĐTH

và phân loại đô thị có một cách phân loại chính thức dựa trên tiêu chí như quy mô và mật độ dân số đô thị Theo đó, các đô thị ở nước ta hiện nay được phân thành 5 loại

2.1.1.2 Sự cần thiết thu hồi đất để thực hiện các mục tiêu công nghiệp hoá,

đô thị hoá

Trên thế giới, các quốc gia đã tiến hành thu hồi đất để đáp ứng nhu cầu CNH,ĐTH nhằm mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội và phục vụ an ninh quốc phòng với nhiều hình thức và nội dung khác nhau

Ở Việt Nam, trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH, phát triển CNH,ĐTH thì Nhà nước đã tiến hành trưng thu, trưng mua lại quyền sử dụng đất canh tác và đất nhà ở của người dân dưới hình thức thu hồi đất có đền bù để xây dựng các KCN, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng KTXH, đảm bảo các nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia

Như vậy, dù ở bất cứ hình thái xã hội nào thì việc phát triển CNH, ĐTH tất yếu phải chuyển đổi mục đích sử dụng một phần đất nông nghiệp, nông thôn để chuyển sang đất chuyên dụng phục vụ công nghiệp và phát triển đô thị

Đất chuyên dùng tăng lên chủ yếu do xây dựng và phát triển các KCN, KĐT xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia

Trang 39

Do đó việc thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH nhằm phát triển kinh tế đất nước là việc làm cần thiết khách quan vì :

Thứ nhất, thu hồi đất để có mặt bằng xây dựng KCN, KCX thu hút đầu tư trong

và ngoài nước cho phát triển KTXH Điều kiện cơ bản tối cần thiết của CNH, HĐH là phải có mặt bằng để xây dựng các trung tâm nghiên cứu, triển khai và tạo lập các cơ sở công nghiệp Mức độ thu hồi đất (trong đó có đất nông nghiệp) để phát triển các KCN, KCX gia tăng cùng với tốc độ của CNH, HĐH

Tính đến cuối năm 2013 cả nước đã có 283 KCN và KCX được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên trên 76.000 ha, thu hút 6500 dự án đầu tư trong và ngoài nước Theo quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đến năm 2015 định hướng đến năm 2020 cả nước có khoảng 80.000 ha đất được thu hồi dành cho mục đích sản xuất công nghiệp [111, tr4]

Thứ hai, thu hồi đất để chuyển đổi mục đích sử dụng, thúc đẩy quá trình đô

thị hóa

Đất đô thị, theo Quy định tại Điều 1 Nghị định số 91/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ về việc “Ban hành Điều lệ quản lý quy hoạch đô thị” thì bao gồm các thành phố, thị xã, thị trấn

ĐTH là việc sử dụng tổng hợp đất đô thị bao gồm phát triển đất của khu vực mới và điều chỉnh, cải tạo đất của khu vực Biến đất sử dụng cho nông nghiệp thành đất sử dụng cho công nghiệp, thương nghiệp, giao thông, văn hóa, giáo dục, kho bãi

và các khu dân cư

Xu hướng ĐTH ở nước ta ngày càng gia tăng trong những năm gần đây Tính đến tháng 5 năm 2015 cả nước có 772 đô thị, tăng 1,54 lần so với năm 1990, trong

đó có 5 thành phố trực thuộc Trung ương, 67 thành phố trực thuộc tỉnh, 601 thị trấn

Do đó số diện tích đất được chuyển đổi sang phát triển càng ngày càng gia tăng và chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ

Thứ ba, thu hồi đất để nâng cấp và xây dựng mới hệ thống kết cấu hạ tầng

phục vụ yêu cầu phát triển KTXH và quốc phòng an ninh

Trang 40

Để phát triển KTXH và đảm bảo quốc phòng an ninh cho quốc gia, Nhà nước còn phải nâng cấp xây dựng mới các kết cấu hạ tầng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển giao lưu kinh tế giữa các vùng miền trong cả nước Đó là hệ thống đường giao thông thủy bộ, sắt, sân bay, bến cảng, hệ thống lưới điện quốc gia, hệ thống bưu chính viễn thông, thủy lợi Việc phát triển này cần thiết phải thu hồi một diện tích đất nông nghiệp không nhỏ ở vùng nông thôn, trung du, đồng bằng và hải đảo

Các hệ thống kết cấu hạ tầng KTXH phát triển sẽ tạo những lợi thế quan trọng

để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế ở các vùng sâu, vùng xa thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền trong nước cả về công gian, thời gian và trình độ phát triển

Thứ tư, việc thu hồi đất nông nghiệp để ĐTH tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng lao

động canh tác nông nghiệp sẽ mất việc làm trong giai đoạn trước mắt Mặc dù sau đó

có một bộ phận người lao động nông nghiệp sẽ tìm được việc làm ở những lĩnh vực khác như sản xuất công nghiệp, dịch vụ thương mại Song việc chuyển đổi này không

dễ dàng vì đại bộ phận nông dân có trình độ thấp, khả năng tiếp cận với những ngành nghề kỹ thuật đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo lâu dài Do đó sẽ vẫn còn một bộ phận không nhỏ người lao động nông nghiệp sẽ không có cơ hội tìm việc làm mới Nếu tính trung bình cứ 1 ha đất nông nghiệp bị thu hồi sẽ có 13 lao động không có việc làm, thì với trên 50.000 ha đất bị thu hồi mỗi năm sẽ có 650.000 lao động nông nghiệp cần có việc làm mới hàng năm mà Nhà nước phải giải quyết [4; tr4]

2.1.2 Tác động của quá trình CNH, ĐTH đối với người lao động bị thu hồi đất

2.1.2.1.Tác động tích cực từ các khu công nghiệp, khu đô thị đối với người lao động bị thu hồi đất

Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia trong những năm gần đây cho thấy, công nghiệp hoá, đô thị hóa là nhân tố quyết định làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất; chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống, nền kinh tế tiểu nông sang phương thức sản xuất mới, hiện đại và do đó cũng làm thay đổi nội dung

Ngày đăng: 07/07/2015, 20:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2006), Số liệu thống kê lao động - việc làm ở Việt Nam 2005, Nxb Lao động – xã hội, Hà Nội, tr 120-122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kê lao động - việc làm ở Việt Nam 2005
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động – xã hội
Năm: 2006
5. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2011), Tổng hợp báo cáo về tình hình lao động – việc làm ở khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, Hà Nội ở Việt Nam 2005, Nxb Lao động – xã hội, Hà Nội, tr 120-122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng hợp báo cáo về tình hình lao động – việc làm ở khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, Hà Nội ở Việt Nam 2005
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động – xã hội
Năm: 2011
8. Bộ Tài chính (2004), số 7760/TC-QLCS ngày 14/7/2004 về việc thực hiện Luật đất đai năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: số 7760/TC-QLCS ngày 14/7/2004 về việc thực hiện Luật đất đai năm 2003
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2004
10. Ngô Đức Cát (2004), “Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp và ảnh hưởng của nó tới lao động nông nghiệp”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, (82) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp và ảnh hưởng của nó tới lao động nông nghiệp”, "Tạp chí Kinh tế và Phát triển
Tác giả: Ngô Đức Cát
Năm: 2004
11. Trần Văn Chử, “ Quan điểm, giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa và phát triển khu công nghiệp”,Tạp chí Lao động và Xã hội, số 330/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm, giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa và phát triển khu công nghiệp”, "Tạp chí Lao động và Xã hội
14. Trung Chính – Trần Khâm: “Đời sống và việc làm của người nông dân những vùng bị thu hồi đất”, Báo Nhân Dân, các ngày 10,11,12 tháng 5- 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống và việc làm của người nông dân những vùng bị thu hồi đất
Tác giả: Trung Chính, Trần Khâm
Nhà XB: Báo Nhân Dân
Năm: 2005
15. Trung Chính: “ Kiểm tra đất ở đâu thấy sai ở đó”, Thời báo Kinh tế Việt Nam, số ra ngày 18-8-2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra đất ở đâu thấy sai ở đó”
16. Phan Dương: “ Đất mất, việc khó tìm”, Thời báo kinh tế Việt Nam, số ra ngày 4-5-2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Đất mất, việc khó tìm”
17. PTS. Nguyễn Hữu Dũng, PTS. Trần Hữu Trung ( đồng chủ biên), Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
18. Nguyễn Hữu Dũng (2004), “Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong quá trình ĐTH, CNH nông nghiệp, nông thôn”, Tạp chí Lao động và Xã hội, (246) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết vấn đề lao động và việc làm trong quá trình ĐTH, CNH nông nghiệp, nông thôn
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Nhà XB: Tạp chí Lao động và Xã hội
Năm: 2004
19. Nguyễn Hữu Dũng: “Thực trạng thu nhập, đời sống và việc làm của người dân có đất bị thu hồi”, Chuyên đề nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạng thu nhập, đời sống và việc làm của người dân có đất bị thu hồi”
20. TS. Nguyễn Hữu Dũng (2005),“ Đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá với việc bảo đảm điều kiện sống và làm việc cửa người lao động” , Tạp chí LLCT, số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá với việc bảo đảm điều kiện sống và làm việc cửa người lao động”
Tác giả: TS. Nguyễn Hữu Dũng
Năm: 2005
21. Dũng Điếu: “Chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp”, Thời báo Kinh tế Việt Nam, số ra ngày 20-4-2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp”
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
25. Lê Xuân Đăng (2003), “Giải quyết việc làm cho nông dân sau thu hồi đất để giải phóng mặt bằng ở Vĩnh Phúc”, Tạp chí Lao động và Xã hội, (224, 225) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết việc làm cho nông dân sau thu hồi đất để giải phóng mặt bằng ở Vĩnh Phúc
Tác giả: Lê Xuân Đăng
Năm: 2003
26. Lê Xuân Đăng (2005), “Vĩnh Phúc giải quyết việc làm”, Tạp chí Lao động và Xã hội, (273) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vĩnh Phúc giải quyết việc làm
Tác giả: Lê Xuân Đăng
Nhà XB: Tạp chí Lao động và Xã hội
Năm: 2005
27. Nguyễn Đại Đồng ( 2005), “ Giải quyết việc làm cho lao động khu vực Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết việc làm cho lao động khu vực
Tác giả: Nguyễn Đại Đồng
Năm: 2005
28. “ Đền bù, giải toả, phải quan tâm lợi ích nông dân”, Báo điện tử của Đảng Cộng sản Việt Nam: http://www.cpv.org.vn/cpr/Modules/ News/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền bù, giải toả, phải quan tâm lợi ích nông dân”
30. Bùi Hoàng Hà (2010), Giải quyết việc làm cho lao động có đất bị thu hồi để phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Trường Đại học kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giải quyết việc làm cho lao động có đất bị thu hồi để phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Tác giả: Bùi Hoàng Hà
Năm: 2010
31. Hoàng Hà ( chủ biên) ( 2009), Các giải pháp thu hút lao động tại chỗ, giải quyết việc làm, chỗ ở đảm bảo đời sống cho người lao động và đảm bảo an ninh góp phần phát triển các khu công nghiệp tỉnh Hưng Yên trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp thu hút lao động tại chỗ, giải quyết việc làm, chỗ ở đảm bảo đời sống cho người lao động và đảm bảo an ninh góp phần phát triển các khu công nghiệp tỉnh Hưng Yên trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Hoàng Hà
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2: Diện tích đất thu hồi bình quân mỗi hộ phân theo loại đất - Giải quyết việc làm và đảm bảo đời sống cho người lao động sau khi bị thu hối đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tinh Nghệ An
Bảng 3.2 Diện tích đất thu hồi bình quân mỗi hộ phân theo loại đất (Trang 94)
Bảng 3.7: Tình hình chi tiêu bình quân của các hộ điều tra - Giải quyết việc làm và đảm bảo đời sống cho người lao động sau khi bị thu hối đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tinh Nghệ An
Bảng 3.7 Tình hình chi tiêu bình quân của các hộ điều tra (Trang 102)
Bảng 3.8: Đồ dùng sinh hoạt và phương tiện đi lại - Giải quyết việc làm và đảm bảo đời sống cho người lao động sau khi bị thu hối đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tinh Nghệ An
Bảng 3.8 Đồ dùng sinh hoạt và phương tiện đi lại (Trang 103)
Bảng 3.9: Trình độ chuyên môn của người lao động trước khi bị thu hồi đất - Giải quyết việc làm và đảm bảo đời sống cho người lao động sau khi bị thu hối đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tinh Nghệ An
Bảng 3.9 Trình độ chuyên môn của người lao động trước khi bị thu hồi đất (Trang 116)
Bảng 3.10: Trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật của người có đất trước khi - Giải quyết việc làm và đảm bảo đời sống cho người lao động sau khi bị thu hối đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tinh Nghệ An
Bảng 3.10 Trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật của người có đất trước khi (Trang 117)
Bảng 3.13: Tình hình việc làm của người lao động sau thu hồi đất - Giải quyết việc làm và đảm bảo đời sống cho người lao động sau khi bị thu hối đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tinh Nghệ An
Bảng 3.13 Tình hình việc làm của người lao động sau thu hồi đất (Trang 122)
Bảng 3.15: Sự hỗ trợ của các cấp chính quyền địa phương đối với đào tạo nghề - Giải quyết việc làm và đảm bảo đời sống cho người lao động sau khi bị thu hối đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tinh Nghệ An
Bảng 3.15 Sự hỗ trợ của các cấp chính quyền địa phương đối với đào tạo nghề (Trang 123)
Bảng 3.14: Lý do không tìm được việc làm của người bị thu hồi đất - Giải quyết việc làm và đảm bảo đời sống cho người lao động sau khi bị thu hối đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tinh Nghệ An
Bảng 3.14 Lý do không tìm được việc làm của người bị thu hồi đất (Trang 123)
Bảng 3.16: Giá tiền bồi thường 1m 2  đất bị thu hồi và tiền bồi thường bình quân - Giải quyết việc làm và đảm bảo đời sống cho người lao động sau khi bị thu hối đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tinh Nghệ An
Bảng 3.16 Giá tiền bồi thường 1m 2 đất bị thu hồi và tiền bồi thường bình quân (Trang 126)
Bảng 3.18: Phương tiện sản xuất và sinh hoạt của các hộ trước khi thu hồi đất - Giải quyết việc làm và đảm bảo đời sống cho người lao động sau khi bị thu hối đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tinh Nghệ An
Bảng 3.18 Phương tiện sản xuất và sinh hoạt của các hộ trước khi thu hồi đất (Trang 131)
Bảng 3.19: Phương tiện sản xuất và sinh hoạt của các hộ sau khi thu hồi đất - Giải quyết việc làm và đảm bảo đời sống cho người lao động sau khi bị thu hối đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tinh Nghệ An
Bảng 3.19 Phương tiện sản xuất và sinh hoạt của các hộ sau khi thu hồi đất (Trang 132)
Bảng 3.20: Nguồn gốc của tiền dùng để mua sắm phương tiện phục vụ sản xuất - Giải quyết việc làm và đảm bảo đời sống cho người lao động sau khi bị thu hối đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tinh Nghệ An
Bảng 3.20 Nguồn gốc của tiền dùng để mua sắm phương tiện phục vụ sản xuất (Trang 133)
Bảng 3.21: Điều kiện đất sản xuất bồi thường so với đất cũ - Giải quyết việc làm và đảm bảo đời sống cho người lao động sau khi bị thu hối đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tinh Nghệ An
Bảng 3.21 Điều kiện đất sản xuất bồi thường so với đất cũ (Trang 135)
10  Hình thức ĐT nghề tham gia sau khi bị thu hồi đất: - Giải quyết việc làm và đảm bảo đời sống cho người lao động sau khi bị thu hối đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tinh Nghệ An
10 Hình thức ĐT nghề tham gia sau khi bị thu hồi đất: (Trang 214)
23  Hình thức hỗ trợ chuyển đổi nghề: - Giải quyết việc làm và đảm bảo đời sống cho người lao động sau khi bị thu hối đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tinh Nghệ An
23 Hình thức hỗ trợ chuyển đổi nghề: (Trang 216)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w