1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

141 434 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 914,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng vì đặc điểm đặc thù đó mà việc thực hiện văn hóa kinh doanh của các chủ thể kinh doanh trong các lễ hội cũng có những đặc thù riêng đòi hỏi phải giữ gìn phát huy truyền thống, nét đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

LÊ THỊ THÚY HÀ

VĂN HÓA KINH DOANH TRONG CÁC LỄ HỘI

TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ

CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội, năm 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

LÊ THỊ THÚY HÀ

VĂN HÓA KINH DOANH TRONG CÁC LỄ HỘI

TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH

Chuyên ngành : Quản lý kinh tế

Mã số : 60 34 01

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ

CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN MẠNH HÙNG

VIỆN NGHIÊN CỨU CHÂU PHI VÀ TRUNG ĐÔNG

Hà Nội, năm 2014

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn

Cam kết Tóm tắt Danh mục các kí hiệu viết tắt i

Danh mục các bảng ii

Danh mục các hình vẽ iii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

6 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Một số cơ sở lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu 5

1.1.1 Văn hóa kinh doanh và văn hóa kinh doanh trong các LHTT 5

1.1.2 Quy định về VHKD trong các LHTT 29

1.2 Tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến VHKD trong LHTT 37

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 37

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 39

Trang 4

1.3 Tiểu kết chương 43

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45

2.1 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu 45

2.1.1 Tổ chức nghiên cứu 45

2.1.2 Cách thức xử lý số liệu 46

2.1.3 Quy trình nghiên cứu 47

2.2 Phương pháp xử lý số liệu nghiên cứu và thang đánh giá 52

2.2.1 Phương pháp xử lý số liệu nghiên cứu 52

2.2.2 Thang đánh giá 53

Chương 3 THỰC TRẠNG VĂN HÓA KINH DOANH TRONG CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TẠI BẮC NINH 55

3.1 Lịch sử hình thành và phát triển của các hoạt động lễ hội tỉnh bắc Ninh 55 3.1.1 Khái quát về lịch sử tỉnh Bắc Ninh 55

3.1.2 Hoạt động lễ hội tỉnh Bắc Ninh 56

3.2 Thực trạng văn hóa kinh doanh phục vụ lễ hội truyền thống tỉnh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 60

3.2.1 Đánh giá chung mức độ cần thiết về VHKD 60

3.2.2 Đánh giá mức độ cần thiết của các yếu tố cấu thành VHKD của CTKD 62 3.2.3 Đánh giá chung mức độ thực hiện VHKD của CTKD, BQL,du khách 69 3.2.4 Mức độ thực hiện yếu tố cấu thành văn hóa kinh doanh của CTKD, BQL và du khách 73

Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG VĂN HÓA KINH DOANH DỊCH VỤ PHỤC VỤ LỄ HỘI TẠI TỈNH BẮC NINH 92

Trang 5

4.1 Chủ trương của Đảng, nhà nước và địa phương về phát triển văn hóa kinh

doanh trong các lễ hội tại tỉnh Bắc Ninh 92

4.1.1 Chủ trương của Đảng và nhà nước 92

4.1.2 Chủ trương của tỉnh Bắc Ninh 94

4.2 Một số giải pháp xây dựng văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 96

4.2.1 Quan điểm và mục tiêu 96

4.2.2 Văn hóa trong giao tiếp kinh doanh 96

4.2.3 Xây dựng và bỏa vệ môi trường kinh doanh 98

4.2.4 Bảo vệ môi trường cảnh quan 103

4.3 Kiến nghị 104

4.3.1 Kiến nghị với tỉnh Bắc Ninh 104

4.3.2 Kiến nghị với Chính phủ 106

KẾT LUẬN 108 PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tƣ liệu và số

liệu trong luận văn là trung thực do tôi thực hiện

Tác giả luận văn

Lê Thị Thúy Hà

Trang 7

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Nguyễn Mạnh Hùng, Viện Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông đã luôn dành thời gian cùng tâm huyết hướng dẫn, chỉ bảo tận tình về mặt chuyên môn để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới các anh chị công tác tại sở Văn hóa Thể thao và Du lịch đặc biệt là Giám đốc Nguyễn Văn Phong đã cung cấp cho tôi những tài liệu, số liệu quý báu, các đồng nghiệp đã giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong cách xử lý số liệu và Ths Nguyễn Đức Lê (nguyên Giám đốc sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh) đã luôn ủng hộ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới gia đình đặc biệt là mẹ và con gái đã luôn bên cạnh, ủng hộ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Tác giả luận văn

Lê Thị Thuý Hà

Trang 8

TÓM TẮT

Đề tài luận văn “Văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh

Bắc Ninh” được nghiên cứu nhằm hệ thống hóa các chính sách về văn hóa kinh

doanh trong lễ hội truyền thống tỉnh Bắc Ninh;Tìm hiểu thực trạng việc thực hiện văn hóa kinh doanh của các chủ thể kinh doanh và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao việc thực hiện văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống tỉnh Bắc Ninh

Để thực hiện mục tiêu đã đề ra nghiên cứu trả lời các câu hỏi sau: Có các chính sách chủ yếu nào về văn hóa kinh doanh hiện hành ở Bắc Ninh?; Các chính sách được chủ thể kinh doanh tại lễ hội truyền thống thực hiện như thế nào?; Các giải pháp nhằm nâng cao việc thực hiện văn hóa kinh doanh của chủ thể kinh doanh là gì? Bằng phương pháp nghiên cứu tài liệu, điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu và sử dụng các phương pháp phân tích định lượng, thống kê toán học luận văn đã đem lại những đóng góp mới:

Về lý luận: Luận văn hệ thống hóa các lý luận về văn hóa kinh doanh, văn hóa kinh

doanh trong lễ hội và các chính sách về văn hóa kinh doanh trong lễ hội truyền thống tỉnh Bắc Ninh; tổng thuật được tình hình các nghiên cứu về lễ hội và văn hóa kinh doanh trong lễ hội truyền thống trong và ngoài nước cung cấp nguồn tư liệu cho các nghiên cứu có liên quan

Về thực tiễn: Luận văn miêu tả một số lễ hội lớn và tìm hiểu thực trạng việc thực

hiện văn hóa kinh doanh của các chủ thể kinh doanh trong lễ hội đó tại Bắc Ninh

Về đề xuất giải pháp: Luận văn đưa ra những kiến nghị, đề xuất giải pháp cho việc

hoàn thiện chính sách, nâng cao công tác quản lý và xây dựng, bồi dưỡng nhằm nâng cao văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh góp phần thúc đẩy sự phát triển ngành du lịch mang lại lợi nhuận cho tỉnh Bắc Ninh nói riêng, tăng trưởng kinh tế của cả nước nói chung

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1 Đánh giá mức độ cần thiết về VHKD của CTKD 61 Bảng 3.2 Đánh giá của CTKD về mức độ cần thiết của ĐĐKD 63 Bảng 3.3 Đánh giá của CTKD về mức độ cần thiết của văn hóa ứng xử 64 Bảng 3.4 Đánh giá của CTKD về mức độ cần thiết của việc duy trì nét đẹp truyền

thống tại các lễ hội 66

Bảng 3.5 Đánh giá của CTKD về múc độ cần thiết của việc bảo vệ môi trường tại

các lễ hội truyền thống 68

Bảng 3.6 So sánh đánh giá về mức độ thực hiện VHKD 70 Bảng 3.7 So sánh về mức độ thực hiện đạo đức kinh doanh 74 Bảng 3.8 Sự khác biệt trong đánh giá mức độ thực hiện đạo đức kinh doanh 77 Bảng 3.9 So sánh đánh giá về mức độ thực hiện văn hóa ứng xử 79 Bảng 3.10 Sự khác biệt trong đánh giá mức độ thực hiện về văn hóa ứng xử 82 Bảng 3.11 So sánh về mức độ thực hiện duy trì nét đẹp truyền thống 83 Bảng 3.12 Sự khác biệt trong đánh giá mức độ tực hiện duy trì nét đẹp truyền

thống 86

Bảng 3.13 So sánh đối chiếu về mức độ thực hiện bảo vệ môi trường 88 Bảng 3.14 Số trường vi phạm xử lý tại Hội Lim năm 2010, 2011,2012, 2013 89 Bảng 3.15 Sự khác biệt trong đánh giá mức độ thực hiện về bảo vệ môi trường 90

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Trang

Hình 1.1 Mô hình LHTT trước đây và hiện nay 32

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Xu thế toàn cầu hóa về mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội đã đem lại cho cả nước nói chung và tỉnh Bắc Ninh nói riêng những cơ hội và thách thức mới Với thế mạnh là các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể như hệ thống đền chùa, miếu mạo,

di tích lịch sử nổi tiếng cùng làn điệu dân ca quan họ mượt mà và một số lượng lớn

lễ hội truyền thống (Theo thống kê của Tổng cục du lịch năm 2012 cả nước có khoảng 8000 lễ hội thì riêng Bắc Ninh có 547 lễ hội với qui mô lớn nhỏ khác nhau,

và được mệnh danh là „Vương quốc của lễ hội‟) Ban lãnh đạo tỉnh Bắc Ninh đã có những quyết sách cho sự phát triển mới đáp ứng xu hướng, nhiệm vụ, và cơ hội đặt

ra trong giai đoạn hiện tại Bằng chứng là sự ra đời của quyết định số UBND của UBND tỉnh Bắc Ninh, ngày 12 tháng 12 năm 2011về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011-2020 và định hướng đến năm 2030 và quyết định số 108/2012/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bắc Ninh, ngày 23 tháng 11 năm 2012 về việc phê duyệt quy hoạch phát triển sự nghiệp văn hóa tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Trong đó có nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của lễ hội truyền thống trong sự nghiệp phát triển du

151/2011/QĐ-lịch của tỉnh

1.2 Cùng với sự phát triển kinh tế, số người tham gia các lễ hội ngày càng đông bởi

sự phong phú của lễ hội cũng chính là một trong những sản phẩm du lịch hấp dẫn

du khách trong và ngoài nước Khi số lượng du khách đổ về các lễ hội ngày càng tăng thì cũng là lúc các loại hình kinh doanh dịch vụ đua nhau nở rộ như: dịch vụ ăn uống, dịch vụ lưu trú, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ trông giữ xe, dịch vụ cung ứng vật phẩm lưu niệm, đồ lễ, dịch vụ vui chơi giải trí… Hoạt động kinh doanh trong lễ hội là hoạt động mang tính đặc thù, tham gia vào hoạt động này, chủ thể kinh doanh ngoài sự hiểu biết về kinh doanh phải am hiểu về lịch sử của lễ hội và phát huy truyền thống thế mạnh quê hương mình để tạo ra những nét bản sắc riêng của phần

lễ và phần hội trong mắt du khách trong và ngoài nước khi đến tham gia lễ hội

Trang 13

Cũng vì đặc điểm đặc thù đó mà việc thực hiện văn hóa kinh doanh của các chủ thể kinh doanh trong các lễ hội cũng có những đặc thù riêng đòi hỏi phải giữ gìn phát huy truyền thống, nét đẹp của quê hương cũng là nét bản sắc của cả dân tộc để có thể thu hút khách du lịch, phát triển kinh doanh, tạo nguồn thu cho chính mình… 1.3 Mặc dù hiện tại, tỉnh Bắc Ninh và các địa phương chịu trách nhiệm tổ chức lễ hội đã có những chính sách hướng dẫn, chỉ đạo, qui hoạch, tổ chức lễ hội cũng như việc kinh doanh trong lễ hội, thực trạng hoạt động kinh doanh các dịch vụ này tại các lễ hội vẫn đang diễn ra manh mún, mạnh ai người đó làm, thiếu tính chuyên nghiệp làm mất đi nét đặc trưng và giá trị văn hóa của dân tộc trong suy nghĩ của du khách trong nước và quốc tế cũng như làm mất đi nguồn thu nhập từ kinh doanh các dịch vụ lâu dài ổn định của người dân, của địa phương

Qua thực tế trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu về "Văn hóa kinh doanh trong lễ

hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh" nhằm hướng hoạt động kinh doanh

dịch vụ trong các lễ hội phải đảm bảo tính bền vững và giữ đúng ý nghĩa văn hóa trong lễ hội, bảo tồn văn hóa dân gian, để Bắc Ninh luôn là „Vương quốc của lễ hội‟

là niềm tự hào của người dân Bắc Ninh nói riêng của cả nước nói chung xứng đáng với tư cách của miền đất quan họ, miền đất của các liền anh, liền chị làm „vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi‟, để đúng với câu „đến hẹn lại nên‟ của người dân miền Quan họ Từ đó giới thiệu văn hóa dân gian Việt Nam ra thế giới cũng là một cách để phát triển ngành du lịch mang lại lợi nhuận cho tỉnh Bắc Ninh nói riêng, tăng trưởng kinh tế của cả nước nói chung

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa lí luận về VHKD và các chính sách, qui định về VHKD của CTKD các dịch vụ trong lễ hội;

- Tình hiểu thực trạng quản lý và thực hiện VHKD của các CTKD trong lễ hội những năm qua (giai đoạn 2010 - 2014) của tỉnh Bắc Ninh;

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao việc thực hiện VHKD của CTKD trong các LHTT tỉnh Bắc Ninh

Trang 14

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu đã đề ra nghiên cứu thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hóa lý luận về VHKD và các chính sách chủ yếu về VHKD hiện hành ở Bắc Ninh

- Dùng bảng hỏi và phương pháp phỏng vấn sâu để tìm hiểu và mô tả việc thực hiện VHKD của CTKD các dịch vụ tại LHTT lớn như: Hội Lim, hội chùa Phật Tích, hội Đền Bà Chúa Kho, Hội Đền Đô

- Tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao việc thực hiện VHKD của CTKD các dịch

vụ tại LHTT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

4 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, quan sát thực tế điều tra bằng bảng hỏi tại các LHTT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, phương pháp luận văn sử dụng là:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp phỏng vấn sâu

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Phương pháp phân tích định lượng, thống kê toán học

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chính sách và việc thực hiện VHKD của CTKD các dịch vụ phục vụ lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

5.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Về nội dung: Luận văn giới hạn việc nghiên cứu chính sách và việc thực hiện các chính sách về VHKD của CTKD các dịch vụ phục vụ LHTT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Trang 15

+ Về khách thể nghiên cứu: Luận văn tập trung tìm hiểu việc thực hiện VHKD của các CTKD từ góc độ nhận xét của bản thân CTKD, Ban quản lý lễ hội (BQL) và du khách tham gia LH (DK)

+ Về địa bàn nghiên cứu: luận văn nghiên cứu thực trạng việc thực hiện VHKD của các CTKD tại một số lễ hội qui mô lớn tại tỉnh Bắc Ninh: Hội Lim, Hội đền Bà Chúa Kho, Hội Phật Tích, Hội Đền Đô

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn có kết cấu gồm 4 chương, cụ thể như sau :

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan tài liệu

Chương 2 : Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng việc thực hiện VHKD của CTKD các dịch vụ phục vụ LHTT

trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Chương 4: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao việc thực hiện VHKD của các

CTKD các dịch vụ phục vụ LHTT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số cơ sở lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Văn hóa kinh doanh và văn hóa kinh doanh trong các LHTT

1.1.1.1 Khái niệm văn hóa kinh doanh

VHKD theo quan điểm của tác giả Nguyển Văn Diễn trong tác phẩm “ Khái niệm

văn hóa trong kinh doanh” cho rằng “VHKD là việc sử dụng các nhân tố văn hóa

vào hoạt động kinh doanh của chủ thể, là cái văn hóa mà các chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh, hình thành nên những kiểu kinh doanh ổn đinh

và đặc thù của họ.” [4]

Trong giáo trình “Văn hóa kinh doanh”, tác giả Dương Thị Liễu cho rằng “ VHKD

là một hệ thống các giá trị, chuẩn mực, các quan niệm và hành vi do chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh, được thể hiện trong cách ứng xử của họ với xã hội, tự nhiên ở một cộng đồng hay một khu vực” [10]

Vì vậy việc sử dụng các nhân tố văn hoá vào các hoạt động kinh doanh (HĐKD) sẽ đem lại cho CTKD một sứ mạng cao cả - sứ mạng phát triển con người, đem lại sự phồn thịnh và hạnh phúc cho con người, sự phồn vinh, vững mạnh cho đất nước, sự

vẻ vang cho dân tộc Nhận thức được sứ mạng đó con người sẽ hăng say lao động, không ngại khó khăn, gian khổ, thậm chí dám hy sinh cả lợi ích riêng của mình đóng góp vào lợi ích chung của đất nước, của xã hội Do vậy, VHKD là bộ phận cấu thành của nền văn hóa dân tộc, phản ánh trình độ của con người trong lĩnh vực kinh doanh Bản chất của VHKD là làm cho cái lợi gắn chặt chẽ với cái đúng, cái tốt, cái đẹp Cái lợi tuân theo cái tốt, cái đúng, cái đẹp Ngược lại, cái đúng, cái tốt, cái đẹp là cơ sở bền vững cho hoạt động sinh ra cái lợi VHKD của các nhà kinh doanh được nhận biết qua hai phương diện chính:

Trang 17

Thứ nhất, các nhân tố văn hóa (hệ giá trị, triết lý sống, tâm lý) được vận dụng vào quá trình kinh doanh để tạo ra các sản phẩm hàng hóa về dịch vụ phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của khách hàng có văn hóa Đó chính là kiểu kinh doanh có văn hóa, kiểu kinh doanh phù hợp với nét đẹp của văn hóa dân tộc

Thứ hai, các giá trị, sản phẩm văn hóa như hệ giá trị, triết lý, tập tục, nghệ thuật kinh doanh riêng mà CTKD tạo ra trong quá trình hoạt động và hành nghề kinh doanh của họ, có tác dụng cổ vũ biểu dương đối với kiểu kinh doanh có văn hóa mà

họ đang theo đuổi Đó chính là lối hoạt động, lối sống có văn hóa của CTKD

1.1.1.2 Nội dung của Văn hóa kinh doanh

Như vậy có thể thấy, VHKD là những giá trị văn hóa gắn liền với HĐKD thể hiện:

- Trong hình thức, mẫu mã sản phẩm;

- Trong quảng bá, truyền thông, quảng cáo về sản phẩm;

- Trong cách bài trí, bày bán, giới thiệu về sản phẩm và cả về cách chọn, bố trí máy móc, dây truyền công nghệ;

- Trong cách thức tổ chức bộ máy nhân sự;

- Trong quan hệ giao tiếp ứng xử của người bán với người mua;

- Trong tâm lý và thị hiếu tiêu dùng…

Hiểu rộng ra là trong quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh, phương thức tiến hành kinh doanh, phương thức quản lý kinh doanh với toàn bộ các khâu các điều kiện liên quan của nó nhằm tạo ra hiệu quả kinh doanh nhất định

VHKD là một phương diện của văn hóa trong xã hội, kinh doanh có văn hóa đòi hỏi CTKD không chỉ đặt mục tiêu lợi nhuận của cá nhân lên hàng đầu mà còn mang đến cái lợi, cái thiện, cái đẹp cho khách hàng, cho đối tác và cả xã hội CTKD cần

áp dụng trong HĐKD của doanh nghiệp và cả trong hành vi ứng xử với khách hàng

Từ các quan điểm trên có thể thấy rằng, VHKD là văn hóa của nghề kinh doanh, là văn hóa của cộng đồng kinh doanh, là văn hóa của giới doanh nhân

Trang 18

Nghiên cứu về VHKD đang là một trong những vấn đề quan trọng và cấp thiết đối với doanh nhân Việt Nam Vấn đề này được đề cập ở khắp các lĩnh vực của kinh doanh Trong thực tế, chúng ta mới chỉ quan tâm nhiều đến việc xây dựng VHKD, văn hóa doanh nhân của các công ty, tập đoàn, doanh nghiệp….nhưng đối với các CTKD tại các lễ hội (LH) mang tính đặc thù hình thái kinh doanh khác với doanh nghiệp, thể hiện nét văn hóa đặc trưng riêng tại các lễ hội truyền thống (LHTT) của người Việt Nam còn vẫn là vấn đề bỏ ngỏ chưa được quan tâm

1.1.1.3 Đặc trưng của văn hóa kinh doanh

VHKD theo tác giả Dương Thị Liễu trong giáo trình “Văn hóa kinh doanh” có

những đặc trưng cơ bản sau:VHKD có tính tập quán, VHKD có tính cộng đồng,

VHKD mang tính dân tộc, VHKD mang tính chủ quan, VHKD mang tính khách quan, VHKD mang tính kế thừa, VHKD mang tính học hỏi, VHKD mang tính tiến hóa Ngoài các đặc trưng trên VHKD còn có những nét riêng để phân biệt VHKD

với văn hóa ở các lĩnh vực khác thông qua hai đặc trưng cơ bản sau:

- VHKD xuất hiện cùng với sự xuất hiện của thị trường vì VHKD chỉ ra đời khi nền sản xuất hàng hoá phát triển đến mức kinh doanh trở thành hoạt động phổ biến và chính thức trở thành một nghề, xã hội ra đời một tầng lớp mới, đó là tầng lớp doanh nhân Vì vậy ở bất kì một xã hội nào khi có HĐKD đều có VHKD dù các thành viên trong xã hội có ý thức được sự tồn tại của nó hay không VHKD được hình thành cho một hệ thống những giá trị, những cách cư xử đặc trưng cho các thành viên trong lĩnh vực kinh doanh

- VHKD phải phù hợp với trình độ kinh doanh của CTKD, vì đó là sự thể hiện tài năng, phong cách, thói quen, sự thành công của các CTKD đó Ví dụ: thái độ, phong cách, quan điểm làm việc của doanh nhân Việt Nam thời kinh tế nông nghiệp, tự cung, tự cấp sẽ không thể nhanh nhạy, sắc bén và cập nhật thông tin như trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay Tác phong của họ nhiều khi chậm chạp,

lề mề, tùy tiện Thói quen sử dụng người thân trong gia đình vào các vị trí quan trọng hơn là quan tâm đến phát triển năng lực toàn diện cho nhân viên

Trang 19

Về cơ bản trình độ phát triển của VHKD là do sự phát triển của kinh tế hàng hóa qui định Trong một nền kinh tế hàng hóa đã phát triển- nơi mà ở đó các quan hệ kinhh doanh đã đi vào chiều sâu, các CTKD đã biết thực hiện mục đích tìm kiếm lợi nhuận một cách có văn hóa thì các giá trị tốt đẹp sẽ được thể hiện ngay từ ý thức, quan điểm kinh doanh cho đến những tri thức về sự lựa chọn mặt hàng, lựa chọn phương thức hoạt động từ hình thức, nội dung của quảng cáo cho đến phong cách giao tiếp ứng xử trong mọi mối quan hệ Ngược lại, ở các quốc gia nền kinh tế chưa phát triển, kinh doanh vẫn mang tính tự phát, vấn đề nghiên cứu về VHKD là điều

vô cùng quan trọng để các CTKD trên con đường tìm kiếm lợi nhuận cho bản thân phải quan tâm tới các yếu tố cốt lõi để hoạt động kinh doanh phát triển bền vững

1.1.1.4 Khái niệm văn hóa kinh doanh trong lễ hội truyền thống

VHKD trong LHTT có thể được định nghĩa từ những khái niệm về VHKD như sau:

“Văn hóa kinh doanh trong lễ hội truyền thống là toàn bộ các giá trị văn hóa được

chủ thể kinh doanh chọn lọc tạo ra và sử dụng trong các hoạt động kinh doanh tại các lễ hội truyền thống tạo nên bản sắc kinh doanh của chủ thể đó.”

VHKD trong các LHTT được thể hiện qua loại hàng hóa, mẫu mã, chất lượng sản phẩm, việc trưng bày, quảng bá, phương thức, chủng loại sản phẩm, trong cả cách cung ứng và cách giao tiếp ứng xử với người mua, cách thức cung cấp dịch vụ hậu mãi đối với khách hàng và cả cách ứng xử, giao tiếp với đồng nghiệp- người cùng kinh doanh trong LH như mình và thậm chí với cả những người quản lý việc kinh doanh trong LHTT… VHKD trong LH vì vậy có những tập tục, qui ước thói quen đặc trưng tùy theo từng vùng miền, từng LH ở Việt nam

Vì vậy kinh doanh trong các LHTT, CTKD không chỉ và không thể chỉ đặt mục tiêu lợi nhuận cá nhân trước mắt lên hàng đầu mà còn phải thể hiện VHKD đẹp đẽ thể hiện nét truyền thống của địa phương, giữ gìn truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hóa của địa phương nói riêng và niềm tự hào của cả dân tộc trong việc kinh doanh của mình Điều này cũng là cách thức để nâng tầm kinh doanh của bản thân, nâng cao lợi nhuận lâu bền của bản thân một cách bền vững thông qua việc ứng xử, đối

Trang 20

đãi, giao tiếp kiên trì, lịch sự, nhã nhặn, gần gũi với khách hàng, trong việc giữ gìn

đạo đức kinh doanh (ĐĐKD) thể hiện ở việc đảm bảo chất lượng sản phẩm, chữ tín

trong kinh doanh dịch vụ cung ứng đảm bảo thời gian, chất lượng, nguồn gốc, xuất

xứ của sản phẩm… dịch vụ bảo hành, bảo đảm, dịch vụ hậu mãi để đảm bảo vừa

bán được sản phẩm vừa thể hiện và tuyên truyền được nét đẹp truyền thống của LH

cho du khách Qua đó nâng cao các giá trị nhân văn giàu bản sắc văn hóa, quảng bá

nét đẹp về con người, văn hóa, lịch sử, nâng tầm giá trị VHKD tại các LH ngày

càng thu hút được đông đảo du khách trong và ngoài nước

Đặc trưng của VHKD trong các LHTT

Hoạt động kinh doanh trong LHTT là hoạt động kinh doanh có những nét đặc trưng

riêng Đó là hoạt động kinh doanh ngắn ngày, mang tính thời vụ và khác với các

hoạt động kinh doanh thông thường ở các đặc tính sau:

Hoạt động kinh doanh trong các LHTT mang tính cộng đồng: LH chỉ được sinh ra,

tồn tại và phát triển khi nó trở thành nhu cầu tự nguyện của một cộng đồng người

Cộng đồng đó lớn thì phạm vi của LH cũng lớn Bởi vậy mới có LH của một dòng

họ, một ấp, một làng, một xã, một huyện, một vùng và của cả một quốc gia LHTT

là sự kiện mang màu sắc văn hóa đặc trưng riêng của từng vùng, từng cộng đồng

người đó LH đó có thể ngày càng được mổ rộng, phát triển hoặc có thể bị thu hẹp

hoặc biến mất do khả năng thu hút được lượng người tham gia

LHTT luôn thể hiện hai phần quan trọng thể hiện trong từ “lễ hội” đó là phần “lễ”

và phần “hội” “Lễ” là hệ thống những hành vi thể hiện sự tôn kính của con người

với thần linh hay những con người, những vật được cộng đồng đó coi là linh thiêng

và được thờ cúng để mang lại sự phồn vinh, hạnh phúc của con người ở cộng đồng

đó phản ánh ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ

chưa có khả năng thực hiện “Hội” là hoạt động sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ

thuật mang tính cộng đồng của một cộng đồng người

Chính vì vậy hoạt động kinh doanh trong các LHTT phải đáp ứng cả phần “lễ” và

phần “hội” Hoạt động kinh doanh hướng tới việc phục vụ cộng đồng cư dân LH và

Trang 21

du khách tham gia LH LH qui mô lớn thì hoạt động kinh doanh tại các LH cũng lớn theo, LH qui mô nhỏ thì hoạt động kinh doanh kéo theo có qui mô nhỏ và thường là ngắn ngày hơn, tương xứng với việc phục vụ du khách trong từng LH trên các địa bàn, vùng miền cụ thể

Hoạt động kinh doanh trong các LH mang tính địa phương: LH được sinh ra và tồn

tại bởi một cộng đồng dân cư trên một địa bàn nhất định vì vậy LH thường gắn với một vùng đất nhất định Bởi vậy, LH ở địa phương nào mang bản sắc văn hóa của địa phương đó Tính địa phương của LH chính là điều chứng tỏ LH gắn bó chặt chẽ với đời sống của nhân dân, đáp ứng đời sống tinh thần, nhu cầu tín ngưỡng và những ước mơ, mong mỏi của người dân địa phương đó LHTT thể hiện không chỉ

ở nội dung LH mà còn ở phong cách của LH Phong cách đó có thể được thể hiện ở lời văn tế, ở trang phục, kiểu lọng, kiểu kiệu, kiểu cờ, ở lễ vật dâng cúng ở các trò chơi dân gian thi đấu vật, thì chọi gà, lễ hội đâm trâu, múa khiên, ném lao…Hàng hoá phục vụ ở mỗi LH là nhằm thỏa mãn những nhu cầu tâm linh khác nhau ngoài các dịch vụ cơ bản về ăn ở, đi lại…vì vậy cần có sự khác nhau về mẫu mã, chủng loại, phù hợp với sự khác biệt và thể hiện sự phong phú đặc trưng của LH

Văn hóa kinh doanh của lễ hội truyền thống mang tính cung đình: Đa phần các

nhân vật được suy tôn thành thần linh trong các LH của người Việt, là những người

đã giữ các chức vị trong triều đình ngày xưa Bởi vậy những nghi lễ diễn ra trong

LH, từ tế lễ, dâng hương, đến rước kiệu đều mô phỏng những sinh hoạt nơi cung đình Sự mô phỏng đó thể hiện ở cách bài trí, trang phục, nghi lễ… Điều làm cho

LH trở nên trang trọng hơn, lộng lẫy hơn Mặt khác lễ nghi cung đình cũng làm cho người tham gia cảm thấy được nâng lên một vị trí khác với ngày thường, đáp ứng nhu cầu về tâm lý, những khát khao nguyện vọng của nhân dân Thực tế cho thấy,

LH càng trang trọng, tôn nghiêm thì sức hút đối với du khách càng mạnh, tương ứng với nó là cách phục vụ của người bán hàng, của ban tổ chức cũng cần nâng lên

để phù hợp với nghi lễ của LH

Trang 22

Văn hóa kinh doanh trong lễ hội truyền thống mang tính dân tộc: VHKD trong các

LH nằm trong văn hóa của dân tộc CTKD của các lễ hội đều thuộc về một dân tộc, một địa phương cụ thể với một phần nhân cách tuân theo các giá trị của văn hóa dân

tộ, mang tính đặc thù của từng địa phương, thể hiện vào các hoạt động kinh doanh (HĐKD) nên suy nghĩ cảm nhận chung của những người làm kinh doanh trong từng

LH Quá trình kinh doanh chịu ảnh hưởng của văn hóa dân tộc, văn hóa vùng miền chi phối hoạt động kinh doanh của chủ thể kinh doanh Tại các vùng, miền khác nhau cách thức bán hàng, chủng lọa hàng hóa, cách ứng xử với du khách khác nhau Người Việt nam sống dựa vào thiên nhiên “ơn trời mưa nắng phải thì” do vậy HĐKD của hầu hết các chủ thể kinh doanh về quan niệm người mua hàng đầu tiên

sẽ quan trọng trong việc bán hàng cả ngày hôm đó của họ nên những người mua hàng chọn quá kĩ, trả giá xong không mua chủ hàng có thể ngay lập tức “đốt vía” để giải đen Cũng chính vì vậy, vào những ngày đầu năm tại các chùa nổi tiếng du khách đi lễ là doanh nhân chiếm tỉ lệ đông đảo hơn các đối tượng khác trong xã hội nhằm mục đích “cầu may”

Văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống mang tính chủ quan: VHKD là sự

thể hiện quan điểm, phương hướng, chiến lược và cách thức tiến hành kinh doanh của một CTKD cụ thể Tính chủ quan của VHKD thể hiện thông qua việc các CTKD khác nhau sẽ có suy nghĩ, đánh giá khác nhau về cùng một sự vật hiện tượng kinh doanh Do vậy, khi đến với HĐKD tại các LHTT có nhiều CTKD hướng đến việc phục vụ khách hàng với mong muốn „đến hẹn lại lên”, “ người ơi người ở đừng về” rất mến khách, mong muốn năm sau lại có dịp gặp lại khách quen, họ bán hàng trung thực trong giá cả, chất lượng giá cả, ngôn ngữ ứng xử giao tiếp trong mua bán tạo cho du khách sự yêu mến, hài lòng, tin tưởng Bên cạch đó một số CTKD lợi dụng lòng tin của khách nên thiếu tính trung thực trong phục vụ, lừa đảo, kinh doanhh kiểu chộp giật tạo cảm giác khó chịu, đề phòng cho du khách

Văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống mang tính khách quan: VHKD

của các CTKD trong các LH được hình thành trong cả qúa trình, chịu sự tác động của các nhân tố bên ngoài xã hội, yếu tố lịch sử, yếu tố hội nhập trong giai đoạn

Trang 23

hiện nay nên nó tồn tại khách quan ngay cả đối với các CTKD Có các giá trị VHKD buộc các CTKD phải chấp nhận chứ không thể thay đổi theo ý muốn chủ quan của mình

Văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống mang tính thời vụ: Các LH ở

đồng bằng Bắc Bộ trong đó có Bắc Ninh diễn ra chủ yếu vào mùa xuân, một số ít diễn ra vào mùa thu do vậy HĐKD phục vụ LH cũng thường diễn ra vào mùa xuân- sau tết cổ truyền Các sản phẩm phục vụ LH cũng có những nét khác nhau tượng trưng cho ý nghĩa tâm linh khác nhau được thể hiện thông qua các đồ lễ và các vật phẩm, đồ lưu niệm… bán cho du khách Những sản phẩm này cũng mang tính thời

vụ vì đa phần chỉ phục vụ cho LH nên thường chỉ được sản xuất và bày bán vào dịp

LH, ít hoặc thậm chí không được tiếp tục bán vào các ngày thường sau đó

Văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống mang tính kế thừa: Trong quá

trình phục vụ người dân và du khách, mỗi thế hệ kinh doanh sẽ cộng thêm những đặc trưng riêng của mình vào truyền thống kinh doanh trước khi truyền lại cho thế

hệ sau Đối với HĐKD trong các LHTT yếu tố kế thừa là vô cùng quan trọng Việc truyền lại những nét văn hóa, những bí quyết của gia đình, dòng tộc của quê hương

là việc bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa, bản sắc của dân tộc Đó còn là sức hút đối với du khách trong và ngoài nước Nếu du khách đến với LH mà thiếu yếu

tố truyền thống thì thiếu hẳn đi động lực, sức hút và nó không còn là điểm đến là kế hoạch tham gia LH của họ trong những năm kế tiếp và cũng không còn là điểm được họ ghi nhớ, giới thiệu cho bạn bè, người thân đến với LH Các LH càng lâu đời, càng giữ được vẻ linh thiêng, uy nghiêm, càng đáp ứng được nhu cầu tâm linh của con người càng có sức hút mạnh đối với người dân và du khách trong và ngoài nước Vì vậy, hơn bất kì điều gì việc giữ gìn, bảo tồn, kế thừa và phát huy yếu tố truyền thống của các HĐKD phục vụ lễ hội là yếu tố hết sức quan trọng Điều này được thể hiện ở các vật phẩm bày bán, chủng loại, nguồn gốc xuất xứ, chất lượng là những đặc sản của địa phương, vùng miền, mang đậm ý nghĩa văn hóa, lịch sử, yếu

tố tâm linh đặc trưng trong từng LH cụ thể…và phong cách phục vụ đặc trưng, thái

độ của CTKD

Trang 24

Văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống mang tính học hỏi: Tuy HĐKD

trong các LHTT mang đậm sắc thái cổ truyền, LH trong quá trình vận động của lịch

sự cùng dần dần tiếp thu những yếu tố đương đại Những trò chơi mới, những sản phẩm mới- kết quả của sự tiến bộ về kỹ thuật, khoa học- công nghệ, cách bài trí mới, những tiến bộ của khoa học như loa đài, video, tăng âm, cát xét, máy móc mới… đã tham gia vào LH giúp cho việc tổ chức LH cũng như việc thực hiện nghi

lễ, các hoạt động trong LH được dễ dàng, thuận lợi, tiết kiện thời gian, công sức…hơn Không gian tổ chức LH có xu hướng mở rộng hơn, không còn bó hẹp trong khuôn viên của nơi thờ cúng nhỏ bé nữa Điều này có được do sự điều kiện kinh tế của địa phương, của đất nước, của người dân ngày càng cao cùng với nó là nhu cầu tâm linh, giải trí của con người cũng cao dần lên Những giá trị của VHKD không chỉ thuộc về văn hóa dân tộc, văn hóa xã hội hay do CTKD sáng lập và sở hữu mà còn được phát triển, tích lũy qua sự phát triến, qua giao lưu, học hỏi… trong quá trình hoạt động Nó được hình thành và phát triển từ kinh nghiệm xử lý các vấn đề và trong quá trình phục vụ người dân và du khách… Tính học hỏi sẽ giúp VHKD của các CTKD phát huy được mặt mạnh, hạn chế điểm yếu, điểm chưa tốt, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đem lại lợi nhuận ngày càng cao của CTKD Tuy nhiên, sự tiếp thu, học hỏi này đều phải dần dần qua sự sàng lọc tự nhiên, tự nguyện của nhân dân, của CTKD và được cộng đồng chấp nhận, không phải sự sự

ép buộc hay lồng ghép tùy tiện, vô lý mà vẫn giữ được nét đẹp truyền thống Trong qúa trình tiếp cận với du khách vẫn đảm bảo yếu tố giữ được nét đẹp văn hóa truyền thống nhưng có sự bổ sung, rút kinh nghiệm trong các dịch vụ phục vụ để có thể ngày càng tốt đẹp hơn như: nhanh chóng, hiệu quả, giá thành hợp lý, không gây phiền nhiễu, ức chế cho du khách… Dịch vụ nhà nghiể cần phải thuận tiện, đầy đủ tiện nghi thiết yếu, có hướng dẫn cụ thể và có niêm yết giá; dịch vụ giữ xe cũng cần nhanh chóng, thuận tiện khi khách có nhu cầu gửi hay lấy xe, giá cả cũng phải được niêm yết và thực hiện theo đúng qui định; dịch vụ đồ lễ cũng phải đầy đủ , nhanh chóng, có hướng dẫn và qui định giá cả, tránh bịp bợm hay lừa đảo vì đã là lễ thì không thể mà cả do vậy giá cả cụ thể, được công bố trước là vấn đề rất quan trọng

Trang 25

để du khách có thể tự do lựa chọn mà không cảm thấy bị hớ hoặc ấm ức; dịch vụ ăn uống vừa đảm bảo phục vụ nhanh chóng, giá cả hợp lý vừa phải đảm bảo vệ sinh và bảo vệ môi trường…

Văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống mang yếu tố tâm linh: LH là dịp

con người được trở về với nguồn cội tự nhiên, nguồn cội dân tộc nên nó có ý nghĩa thiêng liêng trong tâm khảm mỗi người LH thể hiện sức mạnh của cộng đồng, làng

xã, địa phương hay của cả quốc gia, dân tộc Người Việt nam nói chung đều thờ chung một vị thần, có chung một mục tiêu đoàn kết để vượt qua khó khăn và cùng chung một ước muốn, nguyện vọng là có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc… Khi cuộc sống đã đạt được sự ấm no, thái bình thì LH là nơi con người thể hiện mong muốn cao hơn và là nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của mỗi tầng lớp dân cư LHTT là một hình thức giáo dục, là nơi chuyển giao cho các thế hệ sau những giá trị truyền thống và sự quí báu cần thiết phải giữu gìn chúng Thế hệ sau cần phải không những giữ gìn, kế thừa mà còn phải phát huy theo những cách riêng vừa kết hợp được yếu tố tâm linh vừa kết hợp được yếu tố giải trí Do vậy, kinh doanh trong LHTT phải thỏa mãn được cả nhu cầu tâm linh của du khách đi lễ đầu năm là cầu tài, cầu lộc, cầu tự… và cũng cần phải thỏa mãn nhu cầu giải trí, thưởng thức và mở rộng tầm hiểu biết về văn hóa…Thiếu một trong các yếu tố này đều làm giảm sức hấp dẫn của LH: sự linh thiêng của LH càng lớn thì sức hút với du khách càng nhiều, LH càng đặc sắc, các hoạt động văn hóa kết hợp giải trí, đặc sản, dịch vụ càng nhiều, càng phong phú thì càng có nhiều người tham gia Qui mô của LH ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng cao thì VHKD trong các LH cũng được đòi hỏi ngày càng cao Chính vì vậy mà các CTKD trong các LH cũng ngày càng phải rút kinh nghiệm, học hỏi nâng cao trình

độ phục vụ, nâng cấp cơ sở vật chất, hạ tầng cơ sở xứng tầm với nó Việc kinh doanh trong LH không còn dừng lại ở qui mô địa phương, vùng miền hay trong nước mà đã lớn mạnh lên tầm quốc tế, phục vụ khách quốc tế Đặc biệt trong điều kiện kinh tế phát triển, xu thế hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay việc kinh doanh và thực hiện VHKD ngày càng được đòi hỏi cao hơn

Trang 26

1.1.1.5 Vai trò của VHKD trong các LHTT

a Trong việc phát triển kinh doanh bền vững

VHKD không chỉ có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế địa phương, đối với các CTKD trong các LH trong một khoảng thời gian ngắn diễn ra LH mà ngày nó còn là yếu tố quan trọng trong việc phát triển kinh doanh bền vững Lợi nhuận là động cơ cho việc kinh doanh nhưng nếu chỉ vì lợi nhuận trước mắt mà làm mất lòng tin của

du khách, “buôn thần, bán thánh”, lừa đảo, kinh doanh theo kiểu chộp dật, ăn sổi, ở thì không vì mục đích lâu dài thì việc kinh doanh đó sẽ chỉ tồn tại được trong một khoảng thời gian ngắn, như vậy lợi nhuận trước mắt tưởng chừng như rất lớn nhưng lại không bền vững và cuối cùng lại là thất thu Tại nhiều các đền, chùa, LH nếu khách không mà cả hay thỏa thuận giá trước CTKD sẽ tự ý nâng giá và ép khách, thậm chí dọa nạt để khách nhiều khi phải mua hoặc sử dụng dịch vụ với giá “trên trời” Các dịch vụ phát sinh khó kiểm soát như: khấn thuê, đội lế, viết sớ, bán quẻ thẻ, xem bói xem tướng mang màu sắc mê tín dị đoan thi nhau “chặt chém” khách không những là mất lòng tin, đem lại sự ấm ức với du khách mà còn làm hoen ố, mất đi sự tôn nghiêm, linh thiêng của LH, phỉ báng thánh thần, phá hoại thuần phong, mỹ tục, sói mòn di sản văn hóa dân tộc… Như vậy VHKD có vai trò hết sức quan trọng trong việc giữ gìn, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc và việc phát triển kinh doanh bền vững Điều này đòi hỏi CTKD phải nhận thức, tự nguyện thực hiện và nâng cao văn hóa trong kinh doanh vì lợi ích lâu dài của bản thân và sự phát triển bền vững của địa phương, của quốc gia Điều này cũng đòi hỏi sự can thiệp của các tổ chức có thẩm quyền như chính quyền địa phương, sở văn hóa, bộ văn hóa… bằng các qui định, luật định, bằng các chương trình cổ động, tuyên truyền VHKD, bằng các lớp học ngắn hạn về nghiệp vụ kinh doanh cho các CTKD, các cuộc thi tìm hiểu VHKD, giải quyết các tình huống kinh doanh sử dụng VHKD để nâng cao nhận thức và việc thực hiện VHKD, văn hóa trong việc mua bán, sử dụng dịch vụ cho các CTKD, cho người dân

Trang 27

VHKD góp phần tạo nên CTKD có văn hóa, cung cấp những sản phẩm có chất lượng cho xã hội, giảm dần và đi đến triệt tiêu kiểu kinh doanh chộp giật và định hướng phát triển kinh tế dài hạn VHKD cũng làm thay đổi cách trao đổi mua bán

và giao lưu ứng xử cũng như cách đánh giá, nhìn nhận của du khách đối với việc kinh doanh cũng như con người địa phương nơi diễn ra LH Khi CTKD giao tiếp, buôn bán có văn hóa thì người giao tiếp với họ hay chính là du khách cũng phải chuyển theo cách giao tiếp có văn hóa Như vậy VHKD là cách thuyết phục du khách cũng là cách thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá và xử xự của du khách, làm cho họ cũng trở nên có văn hóa trong việc mua hàng và sử dụng các dịch vụ

b Trong việc giữ gìn di sản văn hóa, phát huy truyền thống của địa phương, của dân tộc: Đến với LH là đến với cội nguồn văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân

tộc Trong lòng mỗi người dân, mỗi du khách khi tham gia LH là họ muốn được chứng kiến, được tham gia, được xem lại những giá trị tốt đẹp đó để lưu giữ trong lòng, để được tự hào về truyền thống, nét đẹp văn hóa dân tộc cùng với việc cầu nguyện cho cuộc sống của bản thân, gia đình, người thân, cho quốc gia những điều tốt đẹp hơn Khi tham gia LH nhất là trong bối cảnh kinh tế phát triển và nhu cầu con người ngày càng cao hiện nay, không nười dân hay du khách nào không sử dụng dịch vụ LH, từ việc sắp lễ, mua hương, khấn vái, rút quẻ đầu năm đến việc

sinh hoạt ăn, ở, giải trí đến mua đồ lưu niệm, thành tâm công đức xây dựng, tu bổ

chùa chiền… tất cả những việc đó đều liên quan đến giao lưu, giao tiếp, mua bán đồng nghĩa với việc liên quan đến VHKD CTKD kinh doanh có văn hóa là góp phần to lớn trong việc giữ gìn hình ảnh tốt đẹp của địa phương nơi diễn ra LH, giữ

gìn và phát huy nét đẹp, bản sắc văn hóa của địa phương, của dân tộc

c Trong việc giao lưu, học hỏi và quảng bá văn hóa vùng, miền

LH là nơi sinh hoạt mang tính cộng đồng của mỗi địa phương, được lưu truyền qua nhiều thế hệ Khi đến với LH người dân và du khách ngoài việc thỏa mãn nhu cầu

về tâm linh, mở rộng hiểu biết về con người và văn hóa địa phương mà còn mở rộng giao lưu văn hóa, hợp tác quan hệ, giữ gìn và tôn vinh giá trị văn hóa địa phương,

Trang 28

vùng miền, văn hóa dân tộc Người dân địa phương, cụ thể ở đây là CTKD là những người đại diện cho cư dân địa phương tiếp xúc trực tiếp với du khách thông qua việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ …chính cách trao đổi, mua bán, ứng xử của họ là thông điệp ngầm gửi tới du khách hình ảnh của con người, hình ảnh văn hóa, hình ảnh của lễ hội nơi đây Người dân nơi đây hay chính là hầu hết các CTKD qua tiếp xúc với du khách ngược lại cũng học hỏi được những đặc điểm, những nét văn hóa, ứng xử… của các địa phương, các vùng miền, các quốc gia trên thế giới thông qua

du khách HĐKD có văn hóa tại các LH thông qua đó thúc đẩy sự giao lưu hai chiều, góp phần quảng bá về LH, về lịch sử, con người địa phương với du khách trong nước và quốc tế, làm đẹp thêm hình ảnh của con người Việt Nam trong lòng

du khách bốn phương

1.1.1.6 Thể hiện của VHKD trong các LHTT

Văn hóa kinh doanh thể hiện trong HĐKD, cụ thể là ở:

- Việc tổ chức, quản lý kinh doanh, cung cấp sản phẩm, dịch vụ trong LH, các sản phẩm phù hợp và thể hiện được những đắc sắc, truyền thống của quê hương VHKD thể hiện ngay cả trong sự hiểu biết về dịch vụ và sản phẩm cung cấp cho khách hàng, các sản phẩm có nguồn gốc, chất lượng, kinh doanh tuân theo các qui luật của thị trường Bên cạnh đó, VHKD còn thể hiện ở việc quản lý, chịu trách nhiệm với sản phẩm, dịch vụ mình kinh doanh, ở việc chỉ dẫn, hướng dẫn người tiêu dùng thông qua việc hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức đảm bảo và thuận tiện cho khách hàng

- VHKD thể hiện ở đạo đức kinh doanh: không chặt chém, tự ý nâng giá khi khan hiếm hàng; chất lượng sản phẩm: đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, không có hàng giả, kém chất lượng…

- VHKD thể hiện ở việc bảo vệ môi trường kinh doanh, môi trường, cảnh quan thiên nhiên: việc kinh doanh của bản thân CTKD phải gắn liền với việc đảm bảo và bảo vệ môi trường tự nhiên xung quanh nơi bán hàng và môi trường văn hóa của địa phương không vì lợi ích của bản thân trước mắt mà bất chấp tất cả…

Trang 29

- VHKD thể hiện ở việc giao lưu, ứng xử, với khách một cách có văn hóa không chỉ

ở việc giao tiếp, ứng xử nhã nhặn, ân cần, tận tình, “vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi”, chu đáo, lịch sự, tin cậy ngay cả khi khách không mua hàng… mà còn ở việc hướng dẫn sử dụng sản phẩm, dịch vụ hậu mãi thể hiện trách nhiệm của CTKD với sản phẩm, dịch vụ mà bản thân họ cung cấp và ở việc hướng dẫn, tuyên truyền, quảng bá về LH, về nét đẹp,về di sản văn hóa của quê hương, địa phương mình…

- VHKD thể hiện ở trách nhiệm, nghĩa vụ đối với cộng đồng, với xã hội của CTKD: thực hiện đúng pháp luật, qui định Tại các LH, CTKD ít chịu sự điều hành của pháp luật, của các qui định mà chủ yếu bằng sự tự giác của bản thân CTKD vì hoạt động này chỉ diễn ra trong thời gian ngắn nên ngoài các chế tài, các qui định của nhà nước, của địa phương CTKD còn cần phải tự giác thể hiện trách nhiệm của người làm kinh doanh trong việc bảo vệ môi trường văn hóa, môi trường tự nhiên

và các khoản đóng góp nghĩa vụ để tu bổ, bảo trì, nâng cấp cảnh quan, di tích và cơ

sở vật chất nơi diễn ra LH cũng chính là nơi họ thực nhiện việc kinh doanh

Khi tất cả các yếu tố văn hóa đó kết tinh trong HĐKD tạo thành một phương thức kinh doanh có văn hóa thì nó trở thành một truyền thống, một nguồn lực quan trọng

để phát triển kinh doanh Nó giúp CTKD trung thực, ngay thẳng, giữ được đạo đức,

uy tín trong kinh doanh để thực hiện việc kinh doanh bền vững, giúp cho địa phương, đất nước bảo vệ, phát huy được truyền thống và nét đẹp văn hóa vốn có và

để lại hình ảnh tốt đẹp trong lòng du khách- những người góp phần to lớn vào việc quảng bá về LH- và từ đó quay trở lại làm cho việc kinh doanh ngày càng phát triển

và phát triển dài lâu

a Chuẩn mực đạo đức kinh doanh của CTKD trong các LHTT

Tính trung thực trong kinh doanh: trung thực là sự tôn trọng sự thật, lẽ phải và chân

lý Trung thực là cơ sở cho mối quan hệ tốt đẹp, là cái làm nên chữ “tín” trong kinh doanh và đảm bảo cho sự phát triển kinh doanh bền vững Tính trung thực hay chữ

“tín” thể hiện trong quá trình cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng, trong giao lưu, mua bán với người cung cấp và trong cả việc báo cáo, tuân thủ các nguyên

Trang 30

tắc của nhà chức trách và pháp luật, địa phương đề ra Cụ thể là không dùng thủ đoạn gian trá, bất chấp hậu quả cho khách hàng để kiếm lời; giữ chữ tín trong kinh doanh, lấy được lòng tin của khách hàng, có trách nhiệm với sản phẩm và dịch vụ mình cung cấp như đảm bảo, cam kết về chất lượng, thực hiện đúng hợp đồng, đúng thời gian trao trả hàng theo đúng thỏa thuận, đúng với quảng cáo, chấp hành pháp luật và các qui định ban hành, không trốn thuế, không bán hàng cấm, không kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ đồi trụy, đi trái với thuần phong mỹ tục, không làm hàng giả, không tự ý nâng giá cao khi khan hiếm, không ép giá, hàng kém chất lượng… CTKD khi đã có được uy tín và lòng tin của du khách việc kinh doanh sẽ đạt được hiệu quả cao, làm cho xã hội ngày càng trong sạch, văn minh Trong giai đoạn hiện nay, nhất là chúng ta đang trong thời kì hội nhập với kinh tế, tri thức toàn cầu thì tính trung thực lại càng cần thiết hơn bao giờ hết vì trung thực giúp nâng cao phẩm giá của CTKD, làm lành mạnh các mối quan hệ xã hội, nhận được sự hài lòng, tôn trọng của du khách Trong LHTT ngoài các thể hiện trên về tính trung thực CTKD còn cần phải đảm bảo cung cấp những đồ lưu niệm có chất lượng đảm bảo, không cung cấp những sản phẩm nguy hại cho người tiêu dùng, làm tổn hại đến nét đẹp, phong tục truyền thống…không kinh doanh các mặt hàng nằm trong danh mục hàng cấm của ban quản lý (BQL) Đối với các mặt hàng ăn uống cần đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm Thực phẩm phải sạch sẽ, được kiểm định, bát đũa, chén cốc… phải được vệ sinh sạch sẽ, đảm bảo tiệt trùng Người phục vụ cần đeo tạp dề, khẩu trang, đi găng tay khi bốc thức ăn… Hàng hóa phải có giá cả phù hợp với chất lượng hàng, cân đo đong đếm chính xác, trung thực, đồ lễ cần được sắp đầy

đủ …dịch vụ ngủ, nghỉ phải an toàn, đầy đủ tiện nghi thiết yếu, có niêm yết giá…

Tôn trọng con người: CTKD tại các LH nói riêng và người kinh doanh Việt nam nói

chung luôn phải tâm niệm “khách hàng là thượng đế”, là người mang lại nguồn lợi cho mình, nếu không có khách hàng sẽ không có việc kinh doanh Họ phải đặt mình vào vị trí của cá nhân trong cộng đồng, có hành vi cư xử đúng mực với du khách, không thể lợi dụng khách đông ngày chính hội để ép khách, thanh toán với giá cắt

cổ, khách không mua hoặc trả giá không mua thì chửi mắng, đe dọa hay thậm chí

Trang 31

dùng áp lực, dọa nạt để buộc khách phải thanh toán Để lấy được lòng tin, sự yêu mến, trung thành của khách hàng, để khách hàng “đến hẹn lại lên” thay vì việc sau khi trả tiền đi thật nhanh khỏi cửa hàng kèm theo nhiều suy nghĩ, ấm ức và những bình luận không hay về CTKD…họ sẽ nở một nụ cười hẹn ngày gặp lại

Cạnh tranh hợp pháp: CTKD không làm hàng giả, không bán hàng giả, hàng không

rõ nguồn gốc, xuất xứ, quảng cáo sai sự thật, sử dụng trái phép những nhãn hiệu nổi tiếng, vi phạm bản quyền, bán phá giá Thực tế cho thấy tình trạng cạnh tranh không lành mạnh được biểu hiện qua các hành vi: đầu cơ để lũng loạn thị trường, bán phá giá, nâng ép giá, xâm phạm về quyền nhãn hiệu hàng hóa cũng như các quyền về sở hữu công nghiệp của các CTKD khác, quảng cáo so sánh dối trá, bán và lưu thông hàng nhái, hàng giả, hàng kém phẩm chất Những biểu hiện này có xu hướng tăng nên một cách đáng nghi ngại, đó là những hành vi cạnh tranh vi phạm chuẩn mực, ĐĐKD thông thường, có thể gây thiệt hại về về vật chất hoặc tinh thần cho CTKD khác và cho người tiêu dùng và cho cả bản thân họ trong việc kinh doanh bền vững

Gắn lợi ích với trách nhiệm và lợi ích của khách hàng: CTKD phải đảm bảo lợi ích

của bản thân mình nhưng không vì mục đích, lợi nhuận của riêng mình mà vô trách nhiệm, trà đạp nên lợi ích của người khác Không bán hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không được kiểm định… và phải đảm bảo dịch vụ, bảo hành, bảo trì, dịch vụ hậu mãi để thể hiện trách nhiệm của mình đối với sản phẩm và dịch vụ mà mình đã cung cấp Bên cạnh đó cũng phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường tự nhiên, không xả rác bữa bãi, không chặt cây, không làm hại đến cây cối, cảnh quan nơi mình thực hiện việc kinh doanh; bảo vệ môi trường văn hóa của lễ hội bằng thái độ ứng xử để lại ấn tượng tốt đẹp cho du khách, đồng thời có thể truyền bá nét đẹp văn hóa truyền thống của quê hương; bảo vệ môi trường kinh doanh lành mạnh, trong sạch…

Thực hiện khai báo kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ của người kinh doanh: Kinh

doanh trong LH truyền thống là HĐKD ngắn ngày và thường là tự phát Hoạt động này vẫn chịu sự kiểm soát của BQL và các nguyên tắc kinh doanh nhưng do đặc

Trang 32

điểm đặc thù nên việc kiểm soát của các tổ chức chức năng rất khó khăn và phụ thuộc nhiều vào ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm của CTKD Trong các LHTT

có nhiều các CTKD lớn và kinh doanh quanh năm hoặc kinh doanh các mùa LH năm này qua năm khác nhưng cũng không ít các CTKD bột phát có thể chỉ kinh doanh LH đó hoặc năm đó Những người này thường tự tìm chỗ cho mình, tự tổ chức và thường trốn hoặc luồn lách để thoát khỏi sự quản lý của lực lượng chức năng Đây cũng chính là những CTKD vì lợi nhuận trước mắt bán các mặt hàng kém chất lượng, hàng giả, hàng nhái, chèn ép, ép giá, chặt chém khách …vì họ kinh doanh theo kiểu chộp giật, lúc nhát… gây nên không ít sự lũng loạn thị trường mua bán trong LH, phá hoại cảnh quan, môi trường kinh doanh, môi trường tự nhiên và văn hóa, khó khăn cho việc kiểm soát, giữ gìn trật tự, an ninh của các lực lượng chức năng Chính vì vậy kinh doanh có đạo đức là việc kinh doanh có trách nhiệm, khai báo kinh doanh và thực hiện các nghĩa vụ kinh doanh như:

- Giữ nguyên giá bán hành hóa, dịch vụ trong những ngày chính hội

- Hàng hóa trước khi bày bán phải được kiểm tra có nhãn mác, nguồn gốc xuất xứ

- Dịch vụ ăn uống tại các LH cần đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm

b Văn hóa ứng xử của chủ thể kinh doanh trong các lễ hội truyền thống

Ứng xử là phản ứng của con người dưới sự tác động của người khác trong một tình huống cụ thể nhất định Ứng xử là phản ứng có lựa chọn, tính toán, là cách nói năng phụ thuộc vào tri thức, kinh nghiệm, nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả cao nhất trong giao tiếp Người Việt Nam có cách ứng xử, xử sự duy tình, thiên về tình cảm, đặt cái tình nên trước cái lý Đó chính là đặc trưng của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, cộng đồng, thôn dã Họ trọng tình anh em, làng xóm

Văn hóa ứng xử bao gồmvăn hóa ngôn ngữ và văn hóa hành động Văn hóa ngôn ngữ có thể khái quát bằng 3 cách: bằng ngôn từ, bằng ngôn ngữ cơ thể (ánh mắt, nụ cười…), bằng ngôn ngữ môi trường (trang phục, đồng phục, biển hiệu, …) trong đó văn hóa ngôn từ là quan trọng nhất Nói thế nào để có văn hóa, không thô tục cũng không điêu ngoa, lố bịch để người khác có thể thấy mình là người lịch lãm, văn

Trang 33

minh, lịch sự vừa tự trọng, thân thiện lại vừa đẹp lòng mọi người Lời nói có tác động đến tâm lý, tình cảm và hành động của con người nó thể hiện nhân cách, khí chất, gia phong, sự giáo dục, cơ tầng văn hóa của người nói Người Việt Nam có câu: Học ăn- học nói- học gói- học mở là cách để học cách ứng xử ở đời Trong cuộc sống hàng ngày, giao tiếp để được lòng nhau không phải là việc dễ dàng Trong kinh doanh, đặc biệt là kinh doanh trong các LHTT, công việc này càng trở nên khó khăn và phức tạp hơn Nó đòi hỏi một quá trình trau dồi kiến thức cả về lịch sử, văn hóa địa phương để giới thiệu với du khách làm giàu thêm nét đẹp của địa phương thông qua hình ảnh của CTKD Thông qua hình ảnh của CTKD trong

LH du khách phần nào đánh giá về con người của chính địa phương đó Do vậy vai trò của CTKD trong giao tiếp với du khách là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng thu hút khách của các LH Việc luôn tăng cường đổi mới, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ phục vụ khách thì văn hóa giao tiếp ứng xử trong kinh doanh như là một tài sản vô hình, một tài sản mang tính đặc trưng, có bản sắc riêng của CTKD, thể hiện văn hóa vùng miền trong tâm trí khách du lịch Để trở thành một người bán hàng có văn hóa trong giao tiếp với khách hàng trước hết:

Ngôn ngữ giao tiếp với khách phải thể hiện sự gần gũi, thân mật Giọng nói, cường

độ nói của người bán hàng có thể cho biết cảm xúc của họ đối với du khách như: vui thích, hào hứng, mệt mỏi, bực dọc…đồng thời chất lượng của giọng nói thể hiện ở: cường độ (cao hay thấp), cách phát âm (rõ ràng hay không), âm điệu (êm dịu hay nhát gừng), âm lượng (to hay nhỏ) thể hiện sự gần gũi, thân thiện với du khách

Hành vi trong quá trình giao tiếp với du khách cần đúng mực, tôn trọng du khách

Hành vi trong quá trình giao tiếp chính là ngôn ngữ không lời, du khách có thể cảm nhận thiện cảm của người bán đối với mình qua hành vi ứng xử, có nhiều người bán hàng thấy du khách ăn mặc sang trọng, đi xe đẹp thì có cách cư xử khác hẳn du khách ăn mặc tềnh toàng Sự phân biệt đó thể hiện ở thái độ, cử chỉ, điệu bộ như thái độ đon đả mời chào, miệng cười tơi tả hay nhìn khách mà chẳng buồn trả lời, mặc du khách ngồi đợi rất lâu mà không thấy phục vụ

Trang 34

Kiên nhẫn, nhiệt tình trả lời các câu hỏi của du khách về văn hóa, lịch sử của LH địa phương Điều này vô cùng quan trọng, bởi du khách đi LH đối tượng họ trực

tiếp tiếp xúc và dễ trao đổi thông tin, đặc biệt là thông tin về LH là CTKD CTKD trong con mắt của du khách là hình ảnh đại diện cho những con người địa phương,

họ là những người cung cấp thông tin cho du khách một cách không chính thức nhưng lại có khả năng giải đáp những thắc mắc tức thời vì vậy việc kiên nhẫn trả lời các câu hỏi của du khách là điều quan trọng thể hiện một trong những nét đẹp của văn hóa ứng xử

Kiềm chế trước những yêu cầu thái quá của du khách Đây cũng là điều hết sức cần

thiết Phục vụ du khách trong những ngày chính hội đông đúc, chật hẹp và với nhiều đối tượng khác nhau: người già đến trẻ em, từ người học thức thấp đến người học thức rất cao, từ người trong nước cho đến người nước ngoài với nền văn hóa, ngôn ngữ khác nhau cùng với nó là tần suất phục vụ cao… nếu CTKD không biết cách kiềm chế cảm xúc của mình thì mâu thuẫn rất dễ xảy ra và việc kinh doanh sẽ không đạt được hiệu quả

Làm hài lòng mọi du khách ngay cả khi khách không mua hàng, chê bai, phàn nàn….LH chỉ diễn ra trong vòng một hoặc vài ba ngày nên khi chính hội du khách

rất đông với nhiều kiểu người, nhiều phong cách, ý thích, thái độ khác nhau CTKD

là người “làm dâu trăm họ”, vì mục đích của bản thân trong dài hạn và vì sự phát triển của quê hương, đất nước họ phải biết cách làm hài lòng mọi du khách ngay cả khi họ mà cả rồi không mua, thậm chí xem lên xem xuống, chê bai, cân nhắc cuối cùng lại bỏ đi không mua hoặc thậm chí hách dịch, phiền hà mà chỉ mua có chút xíu Việc phản ứng ngay trước những thái độ không hay của du khách có thể làm cho du khách đi luôn mà không quay trở lại, hoặc không chỉ dừng lại ở việc lời qua tiếng lại mà có thể dẫn đến xô sát, hành hung gây ra cảnh tượng xấu và làm mất đi hình ảnh tốt đẹp trong lòng du khách

Hiểu, nhạy cảm với nhu cầu của khách hàng và phân loại đối tượng khách hàng

Trong quá trình giao tiếp với du khách tại các LH với bối cảnh tự do cạnh tranh như

Trang 35

hiện nay, vài trăm người bán hàng trong một khuôn viên lẽ hội trật hẹp, việc tìm kiếm lợi nhuận có thể dễ dàng với người này nhưng không dễ với người khác nếu người bán không hiểu được du khách cần gì, không phân loại được đối tượng khách hàng thì việc kinh doanh cũng như kiếm lợi nhuận trở nên khó khăn Trong thực tế,

du khách thuộc nhiều tầng lớp khác nhau cả về tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ, văn hóa, tầng lớp nên nhu cầu hết sức đa dạng, việc phân loại và nhạy cảm với nhu cầu của du khách làm cho việc phục vụ trở nên dễ dàng và việc ứng xử hay thực hiện văn hóa trong kinh doanh cũng không gặp khó khăn

Thể hiện qua tính chuyên nghiệp trong kinh doanh: như đồng phục, trang phục, biển

hiệu quảng cáo… Văn hóa ứng xử trong giao tiếp kinh doanh ngoài việc thể hiện bằng lời, bằng thái độ, cử chỉ, bằng sự phán đoán, phân loại nhu cầu, đối tượng khách hàng còn thể hiện ở phong cách bán hàng chuyên nghiệp, đẳng cấp Tính chuyên nghiệp thể hiện ngoài thái độ ân cần, hòa nhã, gần gũi, thân mật, tác phong nhanh nhẹn, kịp thời còn thể hiện ở biển hiệu quảng cáo, việc bài trí, không gian phục vụ và đặc biệt là trong đồng phục, trang phục của người phục vụ Đồng phục, trang phục của người vụ hết sức quan trọng, nó phải thể hiện được sự trang trọng, sạch sẽ, chuyên nghiệp, đẳng cấp vừa thể hiện được nét truyền thống, văn hóa vùng miền Đây chính là thông điệp không lời mà người dân địa phương gửi tới du khách Tuy không có lời nào thể hiện nhưng những hình ảnh đó lại có ấn tượng rất lớn, lưu lại trong du khách góp phần quảng bá cho lễ hội

Như vậy ứng xử của CTKD đối với khách hàng cụ thể trong LHTT đó là:

- Ngôn ngữ giao tiếp thể hiện sự gần gũi

- Hành vi giao tiếp đúng mực, tôn trọng khách hàng

- Kiên nhẫn, nhiệt tình phục vụ và trả lời các câu hỏi của du khách về văn hóa, lịch

sử của lễ hội đại phương

- Kiềm chế trước những yêu cầu thái quá của du khách

- Làm hài lòng du khách ngay cả khi họ không mua hàng

Trang 36

- Phán đoán tâm lý, nhu cầu và phân loại khách hàng

- Thể hiện tính chuyên nghiệp trong kinhdoanh qua cả trang phục, đồng phục, biển hiệu, cách bài trí, không gian bán hàng

c Bảo vệ, duy trì và phát huy môi trường văn hóa, nét đẹp truyền thống trong các lễ hội: Lễ hội dân gian, LHTT là lễ LH mang tính lịch sử, truyền thuyết ở Bắc

Ninh nói riêng và trong cả nước nói chung chủ yếu được diễn ra vào mùa xuân Mùa xuân là mùa khởi đầu cho một năm mới, mùa của sự bất đầu, của sự sinh sôi, nảy nở của sự đâm chồi, nảy lộc Con người Việt nam nói chung đều hướng về sự giải trí sau một năm làm việc vất vả và tìm về nơi cội nguồn, tìm nơi để cầu mong cho cuộc sống của năm mới gặp nhiều may mắn và tốt đẹp, cầu cho quốc thái, dân

an, con người hạnh phúc, vui vẻ, gặp nhiều may mắn trong công việc, kinh doanh… Người dân Việt nam có câu : “tháng giêng là tháng ăn chơi…” Người dân bỏ ra cả một tháng đầu năm để chúc tết, để ngao du tìm hiểu văn hóa của dân tộc qua việc tham gia vào các LHTT trên khắp mọi miền của tổ quốc như những tour du lịch văn hóa với mong muốn về lại nơi cội nguồn cũng như tìm hiểu khám phá những nét đẹp văn hóa, truyền thống, đặc trưng của mọi miền Tố quốc nơi họ sinh ra và cũng

để thỏa mãn nhu cầu tâm liunh của bản thân và của người thân Ngày nay, khi cuộc sống của con người đã ăn đủ no, mặc đủ ấm, kinh tế khá giả thì họ lại càng có nhu

cầu về du lịch, du lịch văn hóa kết hợp với tâm linh

LHTT là những LH rất phong phú và đa dạng mang đặc trưng của mỗi vùng, miền mỗi một đặc trưng của một tiểu vùng văn hóa riêng nhưng thường bao giờ cũng hướng tới một đối tượng linh thiêng cần được suy tôn của người dân vùng, miền đó như các vị anh hùng chống ngoại xâm đem lại thanh bình cho vùng, miền, đất nước; những người có công dạy dỗ, truyền nghề, chống thiên tai, diệt trừ ác thú, giàu lòng cứu nhân độ thế…Về góc độ văn hóa, LH hướng con người về nhiều điểm:

Trước hết, LHTT hướng con người về với cội nguồn tự nhiên, thiên nhiên và về với cội nguồn dân tộc Có thế thấy, LH Phật Tích là nơi con người về với dấu tích đầu tiên của Phật, Hội Lim là nơi tìm lại dấu tích, nguồn gốc của các làm điệu dân ca

Trang 37

Quan họ ; LH Đền Đô là nơi con người tìm về với các vị vua triều Lý những triều đại phong kiến lịch sử, nơi bắt đầu và góp phần to lớn tạo nên lịch sử đất nước…tất

cả các LH này được tổ chức ở những nơi có phong cảnh tự nhiên như LH Phật tích

ở trên ngọn đồi Phật tích nơi tọa lạc của ngôi chùa Phật Tích; LH đền Đô ở nơi ngội đền tọa lạc hay hội Lim được tổ chức trên ngọn đồi Lim … nhằm mục đích tái hiện lại một cách chân thực, sinh động cuộc sống, hoạt động của con người ngày xưa Bên cạnh đó LH là nơi biểu trưng cho cộng đồng người Việt cụ thể nào đó Cộng đồng đó có thể là công đồng làng, cộng đồng xã, huyện, vùng mà không có một lễ hội nào là của cá nhân Lễ hội vì thế thể hiện đặc trưng văn hóa, tín ngưỡng vùng, miền; thể hiện sức mạnh cộng đồng, sự gắn kết trong cộng đồng đó Các LH của một tiểu vùng, nhóm như làng ngày càng phát triển và có sức lan tỏa Lấy ví dụ như Hội Lim, Hội Phật Tích, Đền Đô, Hội Gióng, hội Chùa Hương… đều là LH của cộng đồng dân cư nhỏ là làng ở đó mà sau này phát triển thành LH của cả huyện, cả vùng, miền và có khi còn trở thành quốc lễ Trong LH con người được thỏa sức tìm hiểu về văn hóa, đặc trưng vùng miền và cũng được thỏa sức khám phá bản thân thể hiện con người mình qua việc tham gia vào các hoạt động mag tính động trong các

LH Trong LH, không có ai là người xem từ đầu đến cuối, cũng không có ai là người biểu diễn từ đầu đến cuối Mỗi người đều là khán giả và cũng đều là người biểu diễn chính vì vậy tham gia LH tuy rất mệt, rất vất vả nhưng thật hấp dẫn LH năm nay rồi LH năm sau cứ đến hẹn lại lên

Sự phong phú của LH Việt nam vừa là nét đẹp văn hóa vừa là một trong những sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước Người dân và du khách khi tham gia LH vừa mang trong mình ý nghĩa tâm linh, vừa được giáo dục sâu sắc về nét văn hóa cộng đồng, ý thức văn hóa trong LH không thể thiếu trong đời sống hàng ngày Chính vì vậy LH lúc nào cũng thu hút sự tham gia đông đảo của mọi tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước Để giữ gìn và tôn vinh nét đẹp truyền thống

đó của LH nói riêng của cả dân tộc nói chung các CTKD trong LH đóng góp một phần rất lớn vì họ là người luôn luôn có mặt, tiếp xúc trực tiếp và thường xuyên với

Trang 38

du khách Điều này có được đòi hỏi CTKD trước tiên phải có nhận thức đúng đắn

và sâu sắc về vấn đề này

Trước hết, ngoài việc trực tiếp thực hiện kinh doanh các dịch vụ thiết yếu như lưu trú, ăn uống, gửi xe các mặt hàng cần có tính chất giữ gìn truyền thống văn hóa, thể hiện nét đặc sắc tốt đẹp của vùng miền CTKD cần quan tâm đếnviệc giới thiệu các món ăn nổi tiếng đến cá mặt hàng là đặc sản riêng như các loại hoa quả, bánh kẹo, các đồ vật lưu niệm mang màu sắc riêng là thế mạnh của địa phương để du khách mua về làm quà và đó cũng là một cách để quảng bá hình ảnh LH, hình ảnh thương hiệu đến với người dân bốn phương

Điều quan trọng tiếp theo không chỉ có CTKD mà cả BQL LH cũng cần hết sức quan tâm đó là việc qui hoạch chỗ bán hàng, phục vụ LH hợp lý để không phá vỡ cảnh quan LH, không làm mất đi không gian linh thiêng của LH vừa đảm bảo thuận tiện cho người tham gia LH, không gay ra hiện tượng chen lấm xô đẩy trong khuôn viên chật hẹp tạo điều kiện cho các tệ nạn như móc túi, cướp giật, gây gổ…làm mất

đi nét đẹp văn hóa LH

Mặc dù việc kinh doanh phục vụ LH chỉ diễn ra rất ngắn do vậy CTKD không muốn đầu tư chỉ tính kiếm lời trong chớp nhoáng nhưng thực tế từ quan điểm này

đã dẫn đến lều quán tạm bợ, nhếch nhác, mất vệ sinh an toàn thực phẩm… cũng làm mất đi nét đẹp LH Các CTKD cần có nhận thức đúng đắn, sâu sắc để có thể đầu tư hợp lý về trang thiết bị phục vụ kinh doanh, mặt bằng sạch sẽ thoáng mát, dụng cụ đồng bộ, thái độ, cách làm việc chuyên nghiệp tạo sự phát triển bền vững Vì vậy,

để bảo vệ, duy trì, phát huy nét đẹp truyền thống trong kinh doanh cần thực hiện:

- Tại LH cần có các sản phẩm thể hiện đặc trưng riêng của địa phương

- Địa điểm kinh doanh hợp lý

- Sự hợp lý trong công tác qui hoạch dịch vụ hàng quán về mặt bằng kinh doanh, về

chủng loại hàng hóa

d Bảo vệ và cải tạo môi trường kinh doanh, môi trường tự nhiên của lễ hội

Trang 39

Kinh doanh trong các LH là HĐKD thời vụ và tập trung ở một địa điểm nhất định với mật độ, cường độ cao nên việc ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh, môi trường tự nhiên của khu vực diễn ra LH và các khu vực lân cận cũng sẽ lớn hơn so với các HĐKD khác Do đó việc đảm bảo bảo vệ môi trường hết sức quan trọng không những trong việc giữ gìn nét đẹp của LH mà còn đảm bảo cho việc kinh doanh mang tính bền vững đi kèm với bảo vệ môi trường

Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, hay ý thức, trách nhiệm của CTKD ở nước ta còn rất kém và tồn tại rất nhiều khó khăn, bất cập

do nhiều nguyên nhân khác nhau

Nguyên nhân đầu tiên và quan trọng nhất phải kể đến đó là ý thức, trách nhiệm của CTKD CTKD chưa nhận thức được một cách đúng đắn, đầy đủ và sâu sắc về mối quan hệ giữa HĐKD của mình với vấn đề bảo vệ môi trường Như vậy, chúng ta phải làm rõ mối quan hệ trong nhận thức của CTKD sau đó đưa ra các biện pháp cho việc bảo vệ môi trường kinh doanh và môi trường thiên nhiên nơi diễn ra HĐKD trong các LHTT

Nói về mối quan hệ giữa việc kinh doanh và môi trường kinh doanh trong đó có môi trường kinh doanh mà ở đây chúng tôi đề cập là môi trường thiên nhiên và môi trường kinh doanh Đây là mối quan hệ biện chứng Hoạt động của CTKD có những tác động nhất định: tích cực hoặc tiêu cực; trực tiếp hay gián tiếp; nhanh hay chậm; nhiều hay ít tới vấn đề môi trường và từ đó ngược lại môi trường cũng góp phần tạo nên những thuận lợi hay khó khăn cho việc kinh doanh Chúng ta cần phải khẳng định một điều là mọi HĐKD đều ảnh hưởng đến môi trường Vấn đề cần quan tâm

ở đây là mức độ tác động ở đây là như thế nào: nguy cơ gây hủy hoại, tàn phá môi trường, khả năng phục hồi của môi trường, sự ảnh hưởng bất lợi so với hiệu quả mang lại…Chính vì vậy để ngăn chặn ảnh hưởng của HĐKD đến môi trường ngoài việc CTKD nhận thức sâu sắc, đầy đủ mối quan hệ này và tác động quan lại của nó thì mỗi địa phương mà cụ thể ở đây là các đơn vị liên quan trực tiếp,: Sở văn hóa,

Trang 40

thể thao và Du lịch, BQL LH cần xây dựng các chế tài cụ thể cho các HĐKD trên phương diện bảo vệ môi trường

- Đầu tiên, có chế tài xử phạt các CTKD vi phạm về việc kinh doanh cho việc ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh như: kinh doanh hàng kém chất lượng, hàng giả, hàng nhái, hàng cấm, hàng không rõ nguồn gốc, xuất xứ, không đảm vệ sinh an toàn, an toàn thực phẩm, ép giá, nâng giá tùy tiện…nhằm tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng giữa các CTKD đồng thời tăng thêm nét đẹp, giá trị văn hóa của LH

- Có chế tài xử phạt đối với các HĐKD ảnh hưởng đến môi trường, cảnh quan thiên nhiên, cảnh quan LH Có thể nói ở đây đó là các hành động như: làm thay đổi môi trường tự nhiên, làm mất thẩm mỹ, cảnh quan không gian LH, tàn phá môi trường

tự nhiên như treo biển trên các thân cây, chật cây, phát cành, xả rác bừa bãi, xâm lấm không gian linh thiêng, không gian cấm bán hàng…

- Thực hiện triệt để các chế tài xử phạt đã đưa ra làm cho việc kinh doanh, quản lý đồng bộ, hiệu quả

Nguyên nhân thứ hai là ý thức tham gia LH của du khách cũng có tác động không nhỏ tới môi trường Chỉ có CTKD tham gia bảo vệ môi trường thôi còn chưa đủ mà cần có cả ý thức tự giác và tuân thủ các qui định của BTC của người tham gia LH Nguyên nhân hiển nhiên như đã đề cập trên đó chính là vai trò, chức năng của các nhà chức trách mà trực tiếp là Ban tổ chức LH Họ là những người chịu trách nhiệm giám sát việc bảo vệ môi trường, họ có các công cụ để thực hiện chức năng của mình, và vì vậy họ có ảnh hưởng quyết định đến việc bảo vệ môi trường kinh doanh Như đã nói BQL đưa ra các chế tài cụ thể không những đối với các CTKD

mà cả với các du khách, người tham gia LH Bên cạnh đó cũng cần cũng có những chính sách động viên, khuyến khích như thi đua bảo vệ môi trường, tố giác những người có hành vi vi phạm … và quan trong không kém là thực thi một cách nghiêm túc Đối với các CTKD nói tóm lại là có chế tài cho các hành vi vi phạm sau đây:

- Vi phạm về kinh doanh hàngkhông đủ tiêu chuẩn, không đảm bảo vệ sinh, an toàn

Ngày đăng: 07/07/2015, 19:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Mô hình LHTT trước đây và hiện tại - Văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Hình 1.1. Mô hình LHTT trước đây và hiện tại (Trang 43)
Bảng 3.1. Đánh giá mức độ cần thiết về VHKD của CTKD - Văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Bảng 3.1. Đánh giá mức độ cần thiết về VHKD của CTKD (Trang 72)
Bảng 3.2. Đánh giá của CTKD về mức độ cần thiết của ĐĐKD - Văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Bảng 3.2. Đánh giá của CTKD về mức độ cần thiết của ĐĐKD (Trang 74)
Bảng 3.4 cho thấy, nhận thức chung của CTKD về việc duy trì nét đẹp truyền thống  tại các LH là cần thiết (ĐTB= 2.35) - Văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Bảng 3.4 cho thấy, nhận thức chung của CTKD về việc duy trì nét đẹp truyền thống tại các LH là cần thiết (ĐTB= 2.35) (Trang 77)
Bảng 3.5 cho  thấy, theo  đánh  giá chung của  CTKD  việc  bảo vệ  môi trường cảnh - Văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Bảng 3.5 cho thấy, theo đánh giá chung của CTKD việc bảo vệ môi trường cảnh (Trang 79)
Bảng 3.6. So sánh đánh giá về mức độ thực hiện VHKD - Văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Bảng 3.6. So sánh đánh giá về mức độ thực hiện VHKD (Trang 81)
Bảng 3.7. So sánh về mức độ thực hiện đạo đức kinh doanh - Văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Bảng 3.7. So sánh về mức độ thực hiện đạo đức kinh doanh (Trang 84)
Bảng 3.9. So sánh đánh giá về mức độ thực hiện văn hóa ứng xử - Văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Bảng 3.9. So sánh đánh giá về mức độ thực hiện văn hóa ứng xử (Trang 90)
Bảng 3.10. Sự khác biệt trong đánh giá mức độ thực hiện về văn hóa ứng xử - Văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Bảng 3.10. Sự khác biệt trong đánh giá mức độ thực hiện về văn hóa ứng xử (Trang 93)
Bảng 3.11. So sánh về mức độ thực hiện duy trì nét đẹp truyền thống - Văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Bảng 3.11. So sánh về mức độ thực hiện duy trì nét đẹp truyền thống (Trang 95)
Bảng 3.12. Sự khác biệt trong đánh giá mức độ thực hiện duy trì nét đẹp truyền thống - Văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Bảng 3.12. Sự khác biệt trong đánh giá mức độ thực hiện duy trì nét đẹp truyền thống (Trang 97)
Bảng 3.13. So sánh đối chiếu về mức độ thực hiện bảo vệ môi trường - Văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Bảng 3.13. So sánh đối chiếu về mức độ thực hiện bảo vệ môi trường (Trang 99)
Bảng 3.14. Số trường vi phạm xử lý tại Hội Lim năm 2010, 2011,2012, 2013 - Văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Bảng 3.14. Số trường vi phạm xử lý tại Hội Lim năm 2010, 2011,2012, 2013 (Trang 100)
Bảng 3.15. Sự khác biệt trong đánh giá mức độ thực hiện về bảo vệ môi trường - Văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Bảng 3.15. Sự khác biệt trong đánh giá mức độ thực hiện về bảo vệ môi trường (Trang 101)
BẢNG HỎI DÀNH CHO BAN QUẢN LÝ - Văn hóa kinh doanh trong các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
BẢNG HỎI DÀNH CHO BAN QUẢN LÝ (Trang 125)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w