Những đóng góp mới của luận văn: Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, là tài liệu giúp các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
LÊ QUANG TUẤN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA TRUNG QUỐC Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
LÊ QUANG TUẤN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA TRUNG QUỐC Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học
vị hoặc công bố tại công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế của mình, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tập thể trong cơ quan và anh chị em bạn bè
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội; Đặc
biệt là sự quan tâm, chỉ dẫn tận tình của TS Lưu Quốc Đạt là Thầy đã trực tiếp
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô Khoa Kinh tế Chính trị, Khoa Kinh tế Phát triển, Phòng Đào tạo cùng các giảng viên trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu nhằm hoàn thành chương trình cao học tại trường
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí, đồng nghiệp trong Cục Đầu tư nước ngoài và các đơn vị khác trong Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu phục vụ luận văn
Xin được cảm ơn các Thầy, Cô trong Hội đồng bảo về và kính mong nhận được sự quan tâm, nhận xét của các Thầy, Cô để tác giả có điều kiện hoàn thiện tốt hơn những nội dung của luận văn nhằm đạt được tính hiệu quả, hữu ích khi áp dụng trong thực tiễn
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng do kinh nghiệm và kiến thức của bản thân còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo, các anh chị, đồng nghiệp, bạn bè
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả các đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên luận văn: Quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc tại Việt Nam
Tác giả: LÊ QUANG TUẤN
Giáo viên hướng dẫn: TS LƯU QUỐC ĐẠT
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: Đánh giá đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc tại
Việt Nam cũng như tình hình quản lý đầu tư trực tiếp của Trung Quốc Trên cơ sở
đó khuyến nghị một số giải pháp và đề xuất một số chính sách nhằm góp phần quản
lý hiệu quả hoạt động đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam
Những đóng góp mới của luận văn: Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn thiết thực, là tài liệu giúp các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài có cơ sở quản lý một cách hiệu quả đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam
Luận văn đã phân tích và nhận định: Quá trình thu hút, quản lý và sử dụng đầu
tư trực tiếp của Trung Quốc trong thời gian qua đã thu được những kết quả đáng kể Điều đó khẳng định chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước là phù hợp, đáp ứng yêu cầu phát triển Tuy nhiên, trong quá trình quản
lý đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp của Trung Quốc nói riêng còn gặp không ít những khó khăn, hạn chế Từ thực tiễn đó, luận văn đã có những đóng góp chính sau:
- Hệ thống hóa và làm rõ lý luận chung về chính sách quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Làm rõ các điểm mạnh, mặt được và chưa được của công tác quản lý đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam
- Xây dựng các quan điểm, phương hướng và khuyến nghị một số chính sách chủ yếu
- Đề xuất các giải pháp để góp phần đẩy mạnh và quản lý có hiệu quả đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN, VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 10
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài 10
1.1.1 Các khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài 10
1.1.2 Phân loại đầu tư nước ngoài 11
1.1 3 Các lý thuyết chung về quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài 11
1.1.4 Vai trò của quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài 13
1.1.5 Cơ chế quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài 14
1.1.6 Tác động của FDI đến nước nhận đầu tư 15
1.2 Tổng quan nghiên cứu quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài 16
1.2.1.Nghiên cứu về vai trò của quản lý đầu tư trực tiếp trong phát triển kinh tế-xã hội 16
1.2.2 Nghiên cứu về các yếu tố tác động đến quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài 16
1.2.3 Các yếu tố tác động đến quản lý đầu tư của chủ thể kinh tế 17
1.3 Kinh nghiệm thực tiễn về quản lý đầu tư trực tiếp tại một số nước 18
1.3.1 Singapore 18
1.3.2 Ở Thái Lan: 20
1.3.3 Ở Ấn Độ: 20
1.4 Kinh nghiệm thực tiễn về quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại một số quốc gia 24
1.4.1 Hoa Kỳ 24
1.4.2 Tại Úc 25
Trang 71.4.3 Tại Nhật Bản 26
CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 27
2.1 Phương pháp nghiên cứu 27
2.1.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 27
2.1.2 Phương pháp thu thập số liệu, nghiên cứu tài liệu 27
2.1.3 Phương pháp phân tích 28
2.2 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 30
2.3 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu 31
2.4 Các công cụ, phương pháp phân tích số liệu, dữ liệu sơ cấp, thứ cấp 31
CHƯƠNG 3 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP TỪ TRUNG QUỐC TẠI VIỆT NAM 32
3.1 Tổng quan đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 32
3.1.1 Một số kết quả đạt được 32
3.1.2 Một số hạn chế 37
3.2 Thực trạng quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 41
3.2.1 Một số vướng mắc tồn tại trong công tác quản lý đầu tư nước ngoài 43
3.3 Cơ sở thực tiễn của đầu tư trực tiếp của Trung Quốc ở Việt Nam 44
3.3.1 Xu hướng hội nhập quốc tế thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài 44 3.3.2 Trung Quốc đã và đang thực hiện chiến lược « đi ra ngoài » 44
3.3.3 Động lực đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc 45
3.3.4 Đặc điểm của đầu tư Trung Quốc ra nước ngoài 45
3.4 Thực trạng quản lý đầu tư trực tiếp của Trung Quốc ở Việt Nam 45
3.4.1 Sự cần thiết phải quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc ở Việt Nam 46
3.4.2 Quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc tại Việt Nam 47
3.5 Các hình thức quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp của Trung Quốc ở Việt Nam 51
3.5.1 Quản lý cấp Trung ương 51
3.5.2 Quản lý cấp địa phương 52
Trang 83.5.3 Một số bất cập của quản lý đầu tư trực tiếp Trung Quốc tại Việt Nam
hiện nay 53
3.6 Đánh giá đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam 56
3.6.1 Từ phía Trung Quốc 56
3.6.2 Về phía Việt Nam 56
3.6.3 Đặc điểm của FDI Trung Quốc tại Việt Nam 57
3.6.4 Tác động tích cực và tồn tại của đầu tư Trung Quốc ta ̣i Viê ̣t Nam 57
CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ KHUYẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM TĂNG HIỆU QUẢ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP TỪ TRUNG QUỐC TẠI VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 62
4.1 Quan điểm về đầu tư trực tiếp của Trung Quốc ở Việt Nam 62
4.1.1 Những cơ hội mới 62
4.1.2 Những thách thức 63
4.2 Khuyến nghị một số giải pháp cơ bản nhằm tăng hiệu quả quản lý, sử dụng đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc tại Việt Nam đến năm 2020 64
4.2.1 Mục tiêu 64
4.2.2 Cơ sở đề xuất giải pháp 65
4.2.3 Các khuyến nghị giải pháp cụ thể 66
4.3 Đề xuất một số giải pháp chính sách quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc tại Việt Nam 70
4.3.1 Về luật pháp, chính sách 70
4.3.2 Quản lý nhà nước trong hoạt động đầu tư trực tiếp của Trung Quốc 70
KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 9i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 BOT Xây dựng-Vận hành-Chuyển giao
3 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 10ii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 3.1 So sánh chỉ số tăng GDP của cả nước với khu
2 Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ đóng góp NSNN của khối doanh nghiệp ĐTNN 37
3 Biểu đồ 3.3 Tăng trưởng GDP và thu hút FDI tại Việt Nam 41
4 Biểu đồ 3.4 Sơ đồ quản lý cấp phép dự án đầu tư trực tiếp
8 Biểu đồ 4.1 Doanh nghiệp TQ với các thông tin về chính sách,
quy định và môi trường đầu tư của Việt Nam 67
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành lần đầu tiên vào tháng 12 năm 1987, trải qua hơn 25 năm, khu vực ĐTNN đóng vai trò tích cực trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế; là nguồn vốn bổ sung quan trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, góp phần đáng kể thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng lực sản xuất, đối mới công nghệ, khai thông thị trường quốc tế, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, đóng góp ngân sách nhà nước, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tạo thêm việc làm
Hiện nay, khu vực ĐTNN nước luôn dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng công nghiệp và đóng góp lớn vào phát triển kinh tế của đất nước Chỉ tính riêng năm
2013 các doanh nghiệp FDI chiếm tới 45,4% tổng lợi nhuận và 30,5% tổng số nộp ngân sách nhà nước của toàn bộ khu vực doanh nghiệp Hiện nay, 58,4% vốn ĐTNN tập trung vào lĩnh vực công nghiệp – xây dựng với trình độ công nghệ cao hơn mặt bằng chung của cả nước Tốc độ tăng trưởng công nghiệp - xây dựng của khu vực ĐTNN đạt bình quân gần 18%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng toàn ngành Đến nay, khu vực ĐTNN đã tạo ra gần 45% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế như viễn thông, khai thác, chế biến dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin, thép, xi măng Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa ra khỏi nấc thang khá thấp của chuỗi giá trị toàn cầu, tỷ
lệ nội địa hóa trong một số ngành đặc biệt là công nghiệp còn thấp, theo các báo cáo của năm 2013 thì tỷ lệ nhập khẩu nguyên liệu đầu vào cao do doanh nghiệp trong nước chỉ cung cấp được khoảng 26,6% tổng giá trị1
Mặc dù có tới 101 quốc gia và vùng lãnh thổ nước ngoài đầu tư trực tiếp tại Việt Nam nhưng chỉ riêng các nhà đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan đã chiếm 59% số dự án và 54% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam2
1
Báo cáo Đầu tư công nghiệp Việt Nam 2013 của UNIDO và Bộ Kế hoạch và Đầu tư
2 Báo cáo tình hình đầu tư nước ngoài 9 tháng năm 2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trang 122
Ngoài ra, việc các nhà đầu tư phần lớn chỉ đến từ một số quốc gia và vùng lãnh thổ cũng có những hạn chế nhất định trong phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, góp phần đưa Việt Nam từng bước tham gia chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu, gián tiếp tạo việc làm cũng như đa dạng hóa các lĩnh vực đầu tư
Tinh hình quốc tế và trong nước đã thay đổi nhanh chóng, trong khi kinh tế Hoa Kỳ và các nước châu Âu vẫn chưa thoát khỏi cuộc khủng hoảng nợ công, nhà đầu tư của các nước châu Á phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…tại Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn khi nền kinh tế của thị trường xuất khẩu chính
là Hoa Kỳ, EU đang còn nhiều thách thức Do vậy, yêu cầu bức thiết là phải đa dạng hóa các đối tác hợp tác đầu tư, đánh giá toàn diện về một số đối tác có tiềm năng nhưng chưa phát triển tại khu vực ĐTNN, xác định rõ những thành công cũng như tồn tại trong công tác quản lý nhằm rút ra những luận cứ cho việc điều chỉnh và tạo cơ chế, chính sách để phát triển quan hệ đầu tư với các đối tác này cho giai đoạn phát triển mới
Tại báo cáo đầu tư thế giới năm 2013 của UNTACD, Trung Quốc vẫn củng cố
vị trí là một trong các nước dẫn đầu về đầu tư ra nước ngoài Trong 2 năm gần đây, dòng vốn FDI đầu tư ra đã vượt dòng vốn FDI vào trong nước Năm 2013, đầu tư ra của Trung Quốc tăng 15%, đạt 101 tỷ USD, đứng thứ 3 trên thế giới Tại Việt Nam, Trung Quốc là một trong 10 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư lớn nhất, mặc dù là nền kinh tế có quy mô lớn thứ 2 thế giới, tốc độ phát triển công nghiệp cao, có nhiều tương đồng về chính trị, xã hội và thuận lợi về vị trí địa lý, nhưng đầu tư trực tiếp của Trung Quốc rất khiêm tốn tại Việt Nam với 1092 dự án với 7,9 tỷ USD vốn đăng ký3, quy mô các dự án đầu tư trung bình cho mỗi dự án đầu tư của Trung Quốc chỉ hơn 6 triệu USD/dự án – đây là mức thấp so với trung bình (15 triệu USD) của các nhà đầu tư khác tại Việt Nam Các dự án của Trung Quốc tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp và xây dựng như khai khoáng, lắp ráp, gia công, giày da, dệt may…Số dự án đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở hoặc vào lĩnh vực công nghệ cao rất
ít Trang thiết bị, dây truyền máy móc trong doanh nghiệp FDI Trung Quốc còn đơn
3 Tính đến tháng 1 năm 2015
Trang 133
giản, công nghệ loại trung bình Hơn nữa, kinh nghiệm về tổ chức và quản lý doanh nghiệp, quản lý sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn yếu, do vậy xuất hiện những hiện tưởng biểu tình, bãi công, đình công tại các doanh nghiệp FDI Trung Quốc tại Việt Nam
Những thực tế và xu hướng mới của nhà đầu tư Trung Quốc cần được nghiên cứu, quản lý sát sao để có chỉ dẫn thích hợp về hoạt động đầu tư của Trung Quốc ở Việt Nam, nhằm thực hiện thống nhất trong cả nước, tránh tình trạng nơi ưu ái, nơi không khuyến khích cũng như nâng cao hiệu quả quản lý Trước tình hình đó, để thực hiện những mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội trong giai đoạn phát triển mới, Việt Nam cần có những chính sách quản lý hiệu quả để thu hút, sử dụng đầu tư trực
tiếp của Trung Quốc Vì vậy, “Quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của
Trung Quốc ở Việt Nam” được học viên lựa chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ,
chuyên ngành quản lý kinh tế
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Đánh giá đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc tại Việt Nam cũng như tình hình quản
lý đầu tư trực tiếp nước ngoài Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị
để góp phần thúc đẩy thu hút, sử dụng và quản lý có hiệu quả đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc tại Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu
Bản thân tên luận văn “Quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc ở Việt Nam” đã bao hàm những nội dung chính cần nghiên cứu về chính sách
Trang 14- Cơ sở lý luận và tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài?
- Thực trạng quản lý đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam?
- Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam?
- Những giải pháp được đề xuất để quản lý hiệu quả đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam đến năm 2020 là gì?
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Hoạt động quản lý đầu tư trực tiếp của Trung Quốc ở Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi về nội dung:
Đề tài tập trung đánh giá thực trạng đầu tư từ Trung Quốc tại Việt Nam cũng như hoạt động quản lý Đánh giá những kết quả đa ̣t được trong hoạt động quản lý, từ đó tìm ra những luận cứ khoa học, đề xuất giải pháp quản lý mới có hiê ̣u quả cao
5 Các công trình nghiên cứu
Cùng phát triển theo nền kinh tế, đầu tư từ Trung Quốc ra nước ngoài cũng tăng lên nhanh chóng, tuy nhiên số lượng nghiên cứu về lĩnh vực này chưa nhiều Các nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến chủ đề “Quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc ở Việt Nam” lại càng ít hơn
Các nghiên cứu ở nước ngoài:
Trang 15Ku, Zhu Ning Zhu, Kubny, Julia, Dylan Sutherland…
Richard Hoffmann, năm 2014, trong nghiên cứu của mình Chinese outward foreign direct investment (Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc ra nước ngoài),đã nghiên cứu và phân tích rõ về nguyên nhân của động lực đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc Các nguyên nhân đó là: chi phí nhân công nội địa cao, tìm kiếm các thị trường mới, tìm kiếm hợp tác và chuyển giao công nghệ…
Karl Sauvant, 2013, với báo cáo nghiên cứu Challenges for China's outward FDI (Thách thức cho đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc) đã nghiên cứu về
những khó khăn, thách thức của doanh nghiệp Trung Quốc khi đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt tại các thị trường mới nổi tại châu Á Đó là sự không ổn định về thể chế chính trị, chính sách thuế ngày càng tăng cao, công nghệ lạc hậu và sự yếu kém trong quản trị doanh nghiệp
Trung Quốc xác định gì khi đầu tư ra nước ngoài, là nghiên cứu nổi bật của
hai tác giả Ivar Kolstad và Arne Wiig năm 2009 Nghiên cứu này nêu bật lên những mục đích cụ thể cũng như hoạt động của doanh nghiệp Trung Quốc khi đầu tư ra nước ngoài Theo đó, các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư ra bên ngoài với sự hỗ trợ về vốn của chính phủ đã ít nhiều đạt được những mục tiêu cụ thể về thị trường, công nghệ, lao động và đặc biệt là tài nguyên thiên nhiên
Tác giả Zhu Ning Zhu trong bài phân tích “China's outbound investment has great growth potential despite "overheating" risk” (Đầu tư ra nước ngoài ở Trung
Quốc tăng trưởng mạnh mặc dù tiềm tàng nguy cơ “quá nóng”) được đăng trên Tân Hoa Xã năm 2013, đã nêu rõ việc các doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc đổ xô ra nước ngoài đầu tư có thể gây nên những tình trạng “bong bóng” có thể đổ vỡ bất kì lúc nào Ngoài ra, chính phủ Trung Quốc cũng chưa có những chính sách cụ thể nhằm giảm thiểu rủi ro cho những doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài này
Trang 166
Phân tích của nhà nghiên cứu Kubny Julia trong bài “The impact of Chinese
outward investment: evidence from Cambodia and Vietnam”( Tác động của đầu tư
ra nước ngoài của Trung Quốc: bằng chứng từ Campuchia và Việt Nam) năm 2010
đã chỉ ra những tác động của đầu tư ra nước ngoài trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc về lao động địa phương và các công ty ở Campuchia và Việt Nam Phân tích cho thấy những tác động tích cực đầu tư sản xuất Trung Quốc vẫn còn hạn chế, trong khi tác động tiêu cực không được tôn trọng Công ty Trung Quốc có tác động mạnh mẽ tích cực đến lực lượng lao động trong nước, nhưng ít tương tác với các công ty địa phương, làm giảm lợi ích tiềm năng từ sự lan tỏa
Các nghiên cứu ở trong nước:
Các nghiên cứu ở nước ngoài về FDI của Trung Quốc là tương đối nhiều và liên tục được công bố khi mà nền kinh tế và dòng đầu tư ra của Trung Quốc vẫn tăng ổn định như hiện nay, nhưng không có nhiều các nghiên cứu về đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam
Phân tích của tác giả Nguyễn Mại tại “Nhận diện đầu tư Trung Quốc tại Việt
Nam” năm 2014, đã nêu bật cần nhận diện đúng hoạt động đầu tư của Trung Quốc
tại nước ta để đánh giá tác động tích cực, đồng thời xử lý có hiệu quả các khiếm khuyết, nhằm lựa chọn chủ đầu tư thật sự có năng lực
Tác giả La Hoàn đã có bài viết về “Bí quyết thu hút FDI của một số nước Châu Á
và bài học cho Việt Nam” năm 2013, trong đó tập trung phân tích kinh nghiệm thu hút
và quản lý FDI của nước ngoài (trong đó có Trung Quốc) để từ đó đưa ra những khuyến nghị về chính sách quản lý trong lĩnh vực này đối với Việt Nam
Cuốn sách “Sự trỗi dậy về kinh tế của Trung Quốc và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam” của tác giả Nguyễn Kim Bảo năm 2013, trên cơ sở phân tích về sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng như các chính sách kinh tế của Trung Quốc để đưa ra phương hướng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế của Việt Nam đối với Trung Quốc, trong đó nhấn mạnh đến vấn đề quan hệ đầu tư của hai bên Phân tích về quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư của các tỉnh Tây Bắc Việt
Nam với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) trong cuốn sách “Cơ chế hợp tác phát triển giữa các tỉnh tây bắc (Việt Nam) và Vân Nam (Trung Quốc)” năm 2013, tác giả Đỗ
Trang 177
Tiến Sâm đã tập trung phân tích những ưu nhược điểm của hợp tác về mọi mặt giữa các tỉnh tây bắc và tỉnh Vân Nam của Trung Quốc Ngoài ra, một số khuyến nghị về các giải pháp nhằm thúc đẩy tiềm năng, thế mạnh của hai bên cũng được đề ra trong giai đoạn phát triển mới
Hầu hết những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về FDI Trung Quốc ra nước ngoài cũng như FDI của Trung Quốc tại Việt Nam là những tài liệu rất có giá trị Các nghiên cứu này đều có những kết quả tích cực như: nêu rõ được tình hình và sự cần thiết khách quan của chính sách “đầu tư ra” của Trung Quốc nói chung và vào Việt Nam nói riêng; phân tích được nhiều khía cạnh của FDI Trung Quốc tại Việt Nam như: lĩnh vực đầu tư, địa bàn đầu tư, mục đích đầu tư ; đề cập được những tác động tích cực và tiêu cực do thu hút FDI của Trung Quốc tại Việt Nam; đưa ra một số giải pháp thúc đẩy FDI của Trung Quốc tại Việt Nam
Tuy nhiên, trong các nghiên cứu trên vẫn còn thiếu một số nội dung chưa đề
cập đến như: thứ nhất phân tích sâu đặc điểm của quan hệ đầu tư Việt Nam – Trung Quốc cũng như tác động của kinh tế, thương mại; thứ hai chưa đề cập đến thực
trạng quản lý hoạt động đầu tư cũng như vai trò của cơ quan quản lý lĩnh vực này
của Việt Nam; thứ ba phân tích những tác động kinh tế, thương mại sẽ ảnh hưởng
đến phát triển quan hệ đầu tư giữa hai nước
Nhìn chung, đây là những khoảng trống trong nghiên cứu về quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam Trong luận văn này, tác giả sẽ
cố gắng khắc phục những nội dung còn thiếu của các nghiên cứu trước, đưa ra nghiên cứu tương đối khái quát và hệ thống về vấn đề này
6 Những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu
Mặc dù nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến vấn đề quản lý đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc như các công trình nghiên cứu khoa học các cấp, bài tạp chí, sách chuyên khảo, tham khảo,… Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu trong điều kiện thời gian mới, không gian mới với nhiều yếu tố tác động đan xen nhiều chiều cạnh Đặc biệt đề tài lựa chọn hoạt động quản lý để làm trọng tâm
Trang 188
nghiên cứu với những đặc thù và điều kiện riêng thì chưa có công trình nào đề cập tới với những lý do sau:
Một là, làm rõ đặc trưng của đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc giai đoạn 2000 –
2014, đặc biệt là giai đoạn 2010-2014 Quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc cần đạt được các mục tiêu:
Tiếp tục đẩy mạnh phát triển đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc tại Việt Nam; Nâng cao chất lượng dự án, đào tạo lao động có trình độ sản xuất cao;Xây dựng nền kinh tế phát triển bền vững theo hướng hiện đại; Nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất Sản phẩm có sức cạnh tranh cao, đóng vai trò vào chuỗi giá trị toàn cầu Phát triển các ngành sản xuất mới, gắn kết các lĩnh vực trong kinh tế -
xã hội, nhất là năng lượng mới, công nghệ cao, công nghệ sinh học; Thúc đẩy chuyển giao công nghệ, kĩ thuật, quản lý từ các nhà đầu tư nước ngoài tại Trung Quốc đang có kế hoạch phát triển thêm các dự án tại nước thứ 3
Hai là, Thực trạng quản lý đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc tại Việt Nam với những thành tựu đạt được, tồn tại cần khắc phục và nguyên nhân của nó Việc phân tích này được bám sát theo nội dung Chỉ thị 1617/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 19/9/2011 về tăng cường thực hiện và chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Ba là, trên cơ sở thăm dò ý kiến của các nhà đầu tư Trung Quốc tại Việt Nam, đưa ra một số quan điểm, định hướng và giải pháp cơ bản nhằm quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc tại Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, luận văn được kết cấu thành 4 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận, thực tiễn, và tổng quan nghiên cứu về quản lý đầu
tư trực tiếp nước ngoài
- Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc
Trang 199
- Chương 4: Quan điểm và khuyến nghị một số giải pháp cơ bản nhằm tăng hiệu quả quản lý đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc tại Việt Nam đến năm 2020
Trang 2010
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN, VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN
CỨU VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1 Các khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo khái niệm của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính Phủ Việt Nam chấp thuận
để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp Liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này
Theo quan điểm về đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam theo quy định tại khoản 1 điều 2 , Luật đầu tư nước ngoài được sửa đổi bổ sung năm 2000 “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này”
Theo quan điểm của Hoa Kỳ - một trong những nước tiến hành đầu tư và tiếp nhận đầu tư lớn nhất thế giới cho rằng “ Đầu tư trực tiếp nước ngoài là bất kỳ dòng vốn nào thuộc sở hữu đa phần của công dân hoặc công ty của nước đi đầu tư có được từ việc cho vay hoặc dùng để mua sở hữu của doanh nghiệp nước ngoài
Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF, đầu tư trực tiếp nước ngoài được xem như là một khoản đầu tư với những quan hệ, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại nền kinh
tế khác.Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác đó
Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp
nước ngoài như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản nào vào quốc gia đó
để được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình
Trang 2111
- Khái niệm mô hi ̀nh quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài
“Mô hình quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức quản lý đầu tư theo tiêu chí, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho đầu tư nước ngoài trong điều kiện hiện nay, là kiểu quản lý một thành phần trong nền kinh tế được xây dựng so với mô hình kinh tế cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt”
Quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài là hình thức quản lý của các cơ quan nhà nước để cộng đồng nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam theo các quy định, chính sách và pháp luật của Việt Nam; phát triển đầu tư nước ngoài theo định hướng và nhu cầu của nền kinh tế; đóng góp vào giá trị sản xuất của nền kinh tế
1.1.2 Phân loại đầu tư nước ngoài
+ Phân loại theo bản chất đầu tư: Đầu tư phương tiện hoạt động hay đầu tư
mới; Mua lại và sáp nhập (M&A)
+ Phân theo tính chất dòng vốn: Vốn chứng khoán; Vốn tái đầu tư
+ Phân theo động cơ của nhà đầu tư: Đầu tư tìm kiếm thị trường; Đầu tư tìm kiếm hiệu quả ; Đầu tư tìm kiếm nguồn lực
1.1 3 Các lý thuyết chung về quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài
Quản lý là một chức năng xã hội bắt nguồn từ tính xã hội của lao động Sự phát triển không ngừng sản xuất xã hội về quy mô trình độ khoa học và công nghê,
về các quan hệ phân công và hợp tác trên phạm vi quốc tế, sự phát triển rất cao của nền kinh tế thị trường được quốc tế hóa nhanh chong đã thúc đẩy mạnh mẽ xu hướng nâng cao vai trò quản lý với tư cách là một chức năng xã hội đặc biệt
Nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với các hoạt động đầu tư trực tiếp, luận văn này chỉ giới hạn ở khía cạnh quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp, đó là hoạt động chấp hành và điều hành do hệ thống cơ quan hành chính nhà nước thực hiện Do đó,
có thể đưa ra khái niệm :
Quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính Nhà nước Việt Nam được tiến hành trên cơ sở pháp luật
và để thi hành pháp luật về đầu tư nước ngoài nhằm khuyến khích và bảo đảm cho
Trang 22Quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài còn mang tính dưới luật Tính dưới luật thể hiện ở chỗ bản thân hoạt động quản lý là hoạt động chấp hành và điều hành trên cơ sở các quy định của Luật đầu tư và các đạo luật liên quan Quyết định được ban hành của các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài phải phù hợp với các quyết định của luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên Đầu tư trực tiếp nước ngoài có mối quan hệ với chính trị nên quản lý nhà nước
về đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng mang tính chính trị Hoạt động quản lý kinh tế của nhà nước nói chung-trong đó có lĩnh vực đầu tư trực tiếp-là một trong những kênh thực hiện quyền lực nhà nước
Mỗi giai đoạn phát triển, tùy theo những nhiệm vụ kinh tế-xã hội đòi hỏi phải thực hiện mà nội hàm quản lý nhà nước về kinh tế đã có sự thay đổi Điều này thể hiện rõ trong các học thuyết về kinh tế khi đi tìm tòi vai trò của nhà nước với nền kinh tế
Quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài là bộ phận của quản lý nhà nước về kinh tế Nó chịu sự tác động và chi phối của cơ chế quản lý và phương pháp quản lý Một khi nhà nước trực tiếp tiến hành quản lý nền sản xuất xã hội, điều tiết nền kinh tế bằng các công cụ quản lý vĩ mô thì việc điều chỉnh các quan hệ đầu
tư trực tiếp, hướng các quan hệ này phát triển này trong khuôn khổ luật định là điều hết sức dễ hiểu
Trang 2313
Hoạt động quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài được hình thành
và từng bước hoàn thiện gắn liền với phương hướng đổi mới vai trò kinh tế của nhà nước gắn liền với thực hiện cải cách lớn về tổ chức và hoạt động của quản lý nhà nước Song song với những quy định cởi mở nhằm thu hút đầu tư nước ngoài thì cần thiết phải tăng cường hoạt động quản lý nhà nước để đảm bảo hiệu quả và mực đích của đầu tư trực tiếp đối với nền kinh tế Việt Nam Đổi mới và thực hiện cơ chế quản lý về đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhà nước thực hiện sự tác động mang tính quyền lực vào các quan hệ đầu tư trực tiếp theo những hình thức và phương pháp nhất định để đạt được mục tiêu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra
1.1.4 Vai trò của quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài, quản lý nhà nước mang nhiều vai trò khác nhau, vai trò này vừa có mối liên hệ chặt chẽ, vừa có tính độc lập tương đối do quá trình hợp tác, phân công và chuyên môn hóa cao Vai trò của quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu và giác độ tiếp cận vấn đề Ở đây, có thể phân loại các vai trò cơ bản quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp là :
- Vai trò dự báo : là hoạt động dựa trên các cơ sở các thông tin chính xác và
kết luận khoa học, nghiên cứu và dự báo các quá trình, đặc điểm, xu hướng phát triển của đầu tư trực tiếp Tính chất và động thái của tình hình đầu tư trực tiếp diễn
ra hết sức phức tạp, theo nhiều chu trình Dự báo là điều kiện không thể thiếu được trong việc xây dựng và thực hiện các dự án đầu tư, do vậy, dự báo ngày càng đóng vai trò quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt để thực hiện tốt các vai trò, nhiệm vụ khác
- Vai trò kế hoạch : Kinh tế thị trường không đồng nghĩa với việc loại trừ vai
trò của kế hoạch hóa mà trái lại rất cần thiết sự định hướng và điều tiết của Nhà nước thông qua công cụ kế hoạch Việc xây dựng phương án, mục tiêu, chương trình hành động và những bước đi cụ thể có ý nghĩa đặc biệt to lớn đối với hoạt động quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài Đây không phải là điểm khó dễ cho các nhà đầu tư nước ngoài mà còn làm tăng độ hấp dẫn, lòng tin đối với môi trường đầu
tư bởi đó là những định hướng lâu dài, quan điểm chính thức của nhà nước khi quản
lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 2414
- Vai trò tổ chức-điều hành : Vai trò này có tính chất hết sức quan trọng
trong quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài Đó là việc xây dựng hệ thống cơ quan quản lý và cả một số chủ thể tham gia trực tiếp vào các quan hệ đầu tư nước ngoài,
là việc ban hành các quy định hành chính-pháp lý thừa nhận các tổ chức, cá nhân có đầy đủ năng lực tham gia quan hệ đầu tư, tham gia các hoạt động liên quan đến đầu
tư trực tiếp
- Vai trò kiểm tra, giám sát : Căn cứ vào giai đoạn, chính sách, kế hoạch và
pháp luật để phát hiện và đề ra các biện pháp khắc phục những sai sót, lệch lạc, vướng mắc trong quá trình đàm phán, triển khai và thực hiện dự án đầu tư Hoạt đọng kiểm tra, thanh trà cần được tiến hành thường xuyên dưới nhiều hình thức và phương pháp đối với các nhà đầu tư lẫn cơ quan quản lý về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.5 Cơ chế quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là một bộ phận của lĩnh vực kinh tế đối ngoại, đồng thời là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân
Với vai trò là một bộ phận cấu thành của kinh tế đối ngoại, đầu tư trực tiếp nước ngoài là biểu hiện của sự hợp tác giữa công ty nước ngoài với cơ quan chính quyền Việt Nam ; với doanh nghiệp Việt Nam ; với các đối tác khác trên cơ sở thỏa thuận và các bên đều có lợi Như vậy, về bản chất đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự kết hợp giữa các nhân tố trong và ngoài nước nhằm tạo ra những nguồn lực mới cho tăng trưởng kinh tế
Thực tiễn 25 năm triển khai và thực hiện quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài
ở Việt Nam, FDI đã chứng tỏ là nguồn vốn đầu tư quan trọng, đóng góp tích cực vào việc tạo ra năng lực sản xuất mới, sản phẩm mới, công nghệ mới và phương pháp quản lý kinh doanh hiệu quả theo kinh tế thị trường Những kết quả trên cho thấy kết quả của quản lý nhà nước đối với hoạt động này, và cần thống nhất cơ chế quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau :
- Quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm thực hiện một cách tốt nhất quy định của Luật Đầu tư nhằm tranh thủ mọi nguồn lực quốc tế và kết hợp nguồn lực trong nước để tạo ra các năng lực cho sản xuất, phát triển kinh tế
Trang 2515
- Công tác quản lý nhà nước phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các mục tiêu của Nhà nước trong công tác hợp tác, thu hút nguồn vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản
lý để phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa các ngành nghề, lĩnh vực sản xuất
- Các cơ chế quản lý nhà nước nhằm đảm bảo cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tuân thủ pháp luật-chính sách Việt Nam, giữ vững độc lập, chủ quyền, đảm bảo an ninh, quốc phòng đồng thời tôn trọng các quyền của nhà đầu tư, thực hiện nguyên tắc bình đẳng, các bên cùng có lợi
1.1.6 Tác động của FDI đến nước nhận đầu tư
Các tác động tích cực
+ Bổ sung nguồn vốn trong nước
+ Chuyển giao công nghệ và bí quyết quản lý
+ Tham gia chuỗi giá trị toàn cầu
+ Giải quyết việc làm và đào tạo nhân công
+ Tăng nguồn thu cho ngân sách
Những tác động tiêu cực
+ Nguồn FDI chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia chi phối, vì vậy các nước nhận đầu tư phải phụ thuộc vào vốn, công nghệ, thị trường và hệ thống tiêu thụ sản phẩm của những nước xuất khẩu tư bản
+ Mục tiêu chính của bất kỳ nhà đầu tư nào cũng đều mong muốn thu hồi vốn nhanh và có được nhiều lợi nhuận Có hai khuynh hướng thường xảy ra : (i) Đưa các thiết bị, dây truyền hiện đại vào nhằm thu hồi vốn và lợi nhuận nhanh mà không tính đến chất lượng và số lượng lao động hiện có của nước sở tại Kết quả là mặc dù tăng vốn đầu tư và quy mô sản xuất, thêm nhiều lĩnh vực sản xuất mới nhưng vẫn
dư thừa lao động (ii) Tận dụng các thiết bị công nghệ đã cũ và lạc hậu chuyển giao các nước tiếp nhận đầu tư
+ Tình trạng chuyển giá thông qua thủ thuật nâng chi phí đầu vào
+ Tác động tiêu cực lên cán cân thanh toán
+ Tác động tiêu cực và ảnh hưởng đến thị phần của các công ty nội địa
+ Một số hệ lụy đến xã hội, môi trường và phân bố dân cư
Trang 2616
1.2 Tổng quan nghiên cứu quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.1.Nghiên cứu về vai trò của quản lý đầu tư trực tiếp trong phát triển kinh
tế-xã hội
Các lý thuyết kinh tế khác nhau đều nhấn mạnh tầm quan trọng của đầu
tư trực tiếp nước ngoài trong phát triển kinh tế - xã hội Nhìn chung, quản lý đầu tư có vai trò chủ yếu như sau :
- Trên góc độ kinh tế quốc dân, quản lý đầu tư trực tiếp nhằm điều chỉnh tác động đến tổng cầu và tổng cung, trên cơ sở đó thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, tạo việc làm mới, tăng thu nhập cho dân cư, cải thiện chất lượng sống, góp phần phát triển bền vững
- Ở phương diện vi mô, quản lý đầu tư trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Các hoạt động đầu tư mới, đầu tư mở rộng hay đầu tư hiện đại hóa là cơ sở để doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới sản phẩm, giảm chi phí, đổi mới quy trình sản xuất, tăng năng lực cạnh tranh…
- Đối với dân cư, thì quản lý đầu tư trực tiếp là công cụ chủ yếu để tăng việc làm và thu nhập Trong điều kiện kỹ thuật công nghệ sản xuất ngày càng nâng lên thì năng suất lao động cũng tăng lên, số việc làm mới hoàn toàn phụ thuộc vào việc mở thêm các cơ sở sản xuất, kinh doanh mới
1.2.2 Nghiên cứu về các yếu tố tác động đến quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài
Qua các nghiên cứu và thực tiễn từ các quốc gia đang phát triển, một số yếu tố tác động đến hoạt động quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài như :
- Trình độ phát triển kinh tế của một nước : Quy mổ GDP và GNP lớn tạo khả năng đầu tư vì chỉ cần tiết kiệm số % nhỏ, tổng mức đầu tư đã có thể lớn Nói cách khác, các nước phát triển có khả năng, quản lý, điều tiết và giành nhiều nhiều nguồn lực cho đầu tư hơn vì có mức thu nhập cao, phần thu nhập đảm bảo cuộc sống tối thiểu chiếm phần nhỏ trong tổng thu nhập của dân cư Các nước kém phát triển rất khó khăn trong quản lý vì việc tìm vốn
Trang 2717
đầu tư sẵn có trong xã hội chỉ đủ thỏa mãn nhu cầu tối thiểu của xã hội, không
đủ chi phối cho các hoạt động khác
- Đường lối phát triển kinh tế của Nhà nước : Đây là yếu tố tương đối quan trọng, đóng vai trò điều tiết, kiểm soát các thành phần trong nền kinh tế, trong đó
có bộ phận đầu tư trực tiếp nước ngoài Chính sách ngoại thương tích cực sẽ khơi thông các thị trường mới, tạo xung lực khuyến khích các nhà đầu từ
- Lợi thế cạnh tranh quốc gia : Đây là yếu tố hỗ trợ tích cực hoạt động quản lý đầu tư trực tiếp Lợi thế cạnh tranh quốc gia là tổng hợp của lợi thế cạnh tranh của ngành, sản phẩm, môi trường chính sách đầu tư, vị trí địa lý thuận lợi, nhân lực, chính trị…
1.2.3 Các yếu tố tác động đến quản lý đầu tư của chủ thể kinh tế
Có ba yếu tố tác động đến quản lý đầu tư của các chủ thể kinh tế : doanh thu do đầu tư đem lại, chi phí đầu tư và kỳ vọng của nhà đầu tư vào tương lai
- Doanh thu : Các nhà đầu tư chỉ quyết định đầu tư khi thị trường hứa hẹn tiêu thụ hết lượng sản phẩm do khoản đầu tư mang lại Nói cách khác, đầu tư phụ thuộc vào mức tăng tổng cầu do nền kinh tế tạo ra Các nghiên cứu
về quản lý đầu tư chỉ ra rằng, tốc độ đầu tư chủ yếu do tốc độ tăng sản lượng của nền kinh tế quyết định Tóm lại, mức đầu tư sẽ cao khi sản lượng chung của nền kinh tế tăng lên
- Chi phí đầu tư bao gồm nhiều yếu tố : Chi phí đầu tư trực tiếp quan trọng nhất là vốn vay, lãi suất cao làm chi phí đầu tư tăng cao nên nhu cầu vay giảm và đầu tư trực tiếp cũng có xu hướng giảm Nhìn chung, nếu lãi suất lớn hơn mức lợi nhuận trung bình của nhà đầu tư thì sẽ triệt tiêu động lực đầu
tư ở đa số các nhà công, thương nghiệp Ngoài ra, chi phí thành lập doanh nghiệp và chi phí giao dịch cũng quan trọng không kém, chính vì vậy, để tăng sức cạnh tranh, cơ quan quản lý đầu tư trực tiếp thường tích cực đơn giản hóa thủ tục, cải thiện quy chế vận hành để giảm tối đa chi phí giao dịch
Trang 2818
- Kỳ vọng và niềm tin kinh doanh : Các nhà đầu tư tin rằng tình hình phát triển kinh tế trong tương lai là sáng sủa, lợi nhuận có thể cao thì họ sẽ đầu tư nhiều hơn Ngược lại, nếu thông tin thu được cho thấy tương lai là ảm đạm thì các nhà đầu tư sẽ ngần ngại bỏ vốn vào kinh doanh Chính vì vậy, các Chính phủ đều nỗ lực cung cấp thông tin đầy đủ cho các nhà đầu tư về kế hoạch phát triển kinh tế của Chính phủ cũng như triển vọng, tương lai của đất nước để nhà đầu tư có quyết định đúng đắn
1.3 Kinh nghiệm thực tiễn về quản lý đầu tư trực tiếp tại một số nước
Quản lý đầu tư trực tiếp ở mỗi nước thường không giống nhau, nó phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi nước
1.3.1 Singapore
Singapore có những bước phát triển thần kỳ, dù khi mới trở thành một nhà nước tự chủ năm 1959, nước này có xuất phát điểm thấp, với nguồn tài nguyên gần như ở con số 0 Năm 2012, Theo Cục Thống kê Singapore, GDP bình quân đầu người của nước này đạt 65.048 Đô la Singapore Có được điều này một phần quan trọng là nhờ vào nguồn vốn FDI quy mô lớn, liên tục chảy vào quốc đảo ngay cả trong những năm gần đây kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng
Mặc dù khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu xảy ra vào năm 2008, nhưng nguồn vốn FDI vào Singapore vẫn tăng lên (từ 24 tỷ USD năm 2009 lên 63,99 tỷ USD năm 2011) Mặc dù, năm 2012, nguồn vốn FDI tuy có sụt giảm so với năm 2011, song con số 56,7 tỷ USD vẫn khá cao và đứng đầu khối ASEAN4 Điều gì đã giúp Singapore thực hiện hiệu quả chính sách thu hút FDI và khiến nhiều doanh nghiệp lựa chọn đây là điểm đến hấp dẫn để họ đầu tư, kinh doanh thu lợi nhuận? Nhìn lại những chính sách mà Singapore đã thực hiện để quản lý và thu hút FDI, có thể rút ra một số bí quyết sau:
Thứ nhất, Singapore đã xác định rõ việc quản lý và thu hút nguồn vốn FDI tập
trung vào ba lĩnh vực cần ưu tiên là: ngành sản xuất mới, xây dựng và xuất khẩu Bên cạnh đó, tùy từng điều kiện cụ thể của mỗi thời kỳ, Singapore chủ trương thu hút FDI vào các ngành thích hợp Ban đầu, do cơ sở kinh tế ở điểm xuất phát thấp,
4
Theo báo cáo đầu tư thế giới năm 2013 của UNCTAD
Trang 2919
Singapore chủ trương sử dụng FDI vào các ngành tạo ra sản phẩm xuất khẩu, như: dệt may, lắp ráp các thiết bị điện và phương tiện giao thông… Cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp điện tử và một số công nghệ tiên tiến khác, hướng sử dụng nguồn vốn đầu tư tập trung vào những ngành, như: sản xuất máy vi tính, điện tử, hàng bán dân dụng, công nghiệp lọc dầu và kỹ thuật khai thác mỏ…
Để khai thác ưu thế về vị trí địa lý, cũng như khắc phục sự thiếu hụt về tài nguyên thiên nhiên, phù hợp với trình độ phát triển cao của nền kinh tế, thu hút FDI còn hướng vào việc tạo ra một hệ thống các ngành dịch vụ thúc đẩy đầu tư quốc tế
Thứ hai, Chính phủ Singapore đã tạo nên một môi trường kinh doanh ổn định,
hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài Chính phủ đã công khai khẳng định, không quốc hữu hoá các doanh nghiệp nước ngoài Bên cạnh đó, Singapore cũng rất chú trọng xây dựng kết cấu hạ tầng, phục vụ cho hoạt động sản xuất Thủ tục cấp giấy phép đơn giản, thuận tiện, có những dự án xin cấp giấy phép rồi đi vào sản xuất chỉ trong vòng vài tháng, có những dự án chỉ trong vòng 49 ngày đã có thể đi vào sản xuất Hiện tượng này được gọi là “kỳ tích 49 ngày” ở Singapore
Đặc biệt, Singapore đã xây dựng được hệ thống pháp luật hoàn thiện, nghiêm minh, công bằng và hiệu quả Tệ nạn tham nhũng được xét xử rất nghiêm, tất cả các doanh nghiệp không kể trong nước, ngoài nước đều được đối xử như nhau, mọi người đều làm việc, tuân thủ theo pháp luật Bên cạnh đó, Nhà nước trả lương rất cao cho viên chức Hàng tháng họ phải trích lại một phần lương coi như là một khoản tiền tiết kiệm khi về hưu, nếu trong quá trình công tác mà phạm tội tham ô thì
sẽ bị cắt khoản tích lũy này và cách chức Họ không những mất số tiền do mình tích cóp nhiều năm, mà có thể phải chịu hình phạt tù Nhiều người gọi đây là quỹ dưỡng liêm cho quan chức
Thứ ba, Chính phủ Singapore đã ban hành những chính sách khuyến khích các
nhà tư bản nước ngoài bỏ vốn vào đầu tư Singapore áp dụng chính sách ưu đãi rất đặc biệt, đó là: Khi kinh doanh có lợi nhuận, nhà đầu tư nước ngoài được tự do chuyển lợi nhuận về nước; Nhà đầu tư có quyền cư trú nhập cảnh (đặc quyền về nhập cảnh và nhập quốc tịch); Nhà đầu tư nào có số vốn ký thác tại Singapore từ
Trang 3020
250.000 Đô la Singapore trở lên và có dự án đầu tư thì gia đình họ được hưởng
quyền công dân Singapore
1.3.2 Ở Thái Lan:
FDI luôn được coi là một trong những nhân tố kích thích quan trọng đối với nền kinh tế Thái Lan Chính phủ Thái Lan đã xây dựng một chính sách quản lý hiệu quả để cho dòng vốn này phát huy được lợi thế
Ngay từ giai đoạn 1959 - 1971, Thái Lan đã thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế thay thế hàng nhập khẩu Quốc gia này đã có chủ trương giảm dần đầu tư từ Chính phủ, khuyến khích đầu tư tư nhân Theo đó, năm 1959, Thái Lan đã thành lập
Bộ Đầu tư và đến năm 1960 đã ban hành Đạo luật Đầu tư
Giai đoạn 1972 - 1996, Bộ Đầu tư Thái Lan đã ban hành chính sách nhằm quản lý hiệu quả các chuyên gia, lao động chất lượng cao từ bên ngoài với những
ưu đãi về đất, việc làm để thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế theo hướng xuất khẩu Từ năm 2005, chính sách thu hút và quản lý FDI của Thái Lan có sự biến chuyển theo hướng đầu tư chọn lọc với chính sách ưu tiên nhà đầu tư trong nước, hỗ trợ phát triển các loại hình dịch vụ phi sản xuất và các loại hình dịch vụ tài chính Thống kê cho thấy, FDI vào Thái Lan đầu tư nhiều nhất là lĩnh vực công nghiệp, sau đó là thương mại, bất động sản, xây dựng…
1.3.3 Ở Ấn Độ:
Trước đây, Ấn Độ được coi là quốc gia thuộc thế giới thứ ba với chỉ số thu hút FDI không tương xứng với một quốc gia nhiều tiềm năng Vốn FDI đổ vào Ấn Độ lúc đó chỉ tập trung vào lĩnh vực sản xuất những mặt hàng đơn giản, giá trị thấp để tận dụng nguồn lao động và tài nguyên dồi dào Từ thập niên 80, Ấn Độ ban hành nhiều chính sách nhằm quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI cũng như đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển các ngành nghề có tác động lan tỏa tới các thành phần kinh tế khác như công nghiệp hỗ trợ, dược phẩm, phần mềm
Để giảm bớt tình trạng lợi dụng nguồn lao động phổ thông, Ấn Độ tăng cường đào tạo nghề, chọn dịch vụ làm thế mạnh, tập trung vào công nghệ thông tin, dịch
vụ, tài chính, dược phẩm là những lĩnh vực mũi nhọn Đối với các doanh nghiệp
Trang 3121
nước ngoài đã đầu tư vào Ấn Độ, chính phủ nước này đã ban hành nhiều quy định mới nhằm tận dụng tối đa các tiềm năng, công nghệ và vốn từ khu vực này như khuyến khích đầu tư vào nghiên cứu, chế tạo; ban hành các luật chống độc quyền; cho phép các công ty nước ngoài được sở hữu tới 51% ở những lĩnh vực như tài chính, y tế, giáo dục, dược phẩm Nhờ đó, kinh tế Ấn Độ không ngừng phát triển
và trở thành một trong những cường quốc tại châu Á với những tiềm lực về lao động, công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin với kim ngạch xuất khẩu phần mền hàng năm hơn 50 tỷ USD và tăng trưởng trên 10%/năm
* Kinh nghiệm rút ra qua thực tiễn quản lý đầu tư nước ngoài ở một số nước trên thế giới:
Thứ nhất, luôn luôn cải thiện môi trường pháp lý cho hoạt động đầu tư
Môi trường pháp lý có vai trò quan trọng trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Thể chế chính trị ổn định, hệ thống pháp luật đồng bộ, thủ tục đầu tư đơn giản và nhiều chính sách khuyến khích, đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư
là những bí quyết của các nước châu Á thành công nhất
Đơn giản hóa thủ tục, quy trình đầu tư: Thủ tục đầu tư ở các nước này đều là
thủ tục một cửa đơn giản, với những hướng dẫn cụ thể tạo thuận lợi cho các nhà đầu
tư Ở Thái Lan có Luật xúc tiến thương mại quy định rõ ràng cơ quan nào, ngành
nào có nhiệm vụ gì trong việc xúc tiến đầu tư Trung Quốc thực hiện phân cấp, phân quyền, nâng cao quyền hạn nhiều hơn cho các tỉnh, thành phố, khu tự trị trong quản
lý nhà nước đối với doanh nghiệp FDI Nhà nước cho phép mỗi tỉnh, thành phố, khu
tự trị có những đặc quyền trong quản lý, phê chuẩn dự án đầu tư
Công khai các kế hoạch phát triển kinh tế: Thái Lan thực hiện tốt công tác
quy hoạch và công khai các kế hoạch phát triển đất nước từng giai đoạn, ngắn và trung hạn Trung Quốc cũng công bố rộng rãi và tập trung hướng dẫn đầu tư nước ngoài vào các ngành được khuyến khích phát triển
Hệ thống pháp luật đồng bộ, đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư: Hàn Quốc
chú trọng xây dựng hệ thống luật đồng bộ, đảm bảo cho nhà đầu tư nước ngoài được hưởng mức lợi nhuận thỏa đáng Trung Quốc thể hiện sự quan tâm đến những
quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài bằng cách thường xuyên bổ sung, sửa đổi Luật
Trang 3222
đầu tư nước ngoài, đảm bảo tính thực thi nghiêm túc Những hoạt động thanh tra
trái phép, thu lệ phí hay áp đặt thuế sai quy định đối với các doanh nghiệp nước ngoài bị xử lý nghiêm khắc.Nhiều quy định được xóa bỏ để phù hợp với pháp luật kinh doanh quốc tế như tỷ lệ nội địa hóa, cân đối ngoại tệ Phạm vi ngành nghề được phép đầu tư được mở rộng, từ 186 lên đến 262 khoản mục được đầu tư
Thứ hai, có các chính sách giảm thuế, ưu đãi tài chính tiền tệ
Thu nhiều nhất lợi nhuận từ dự án luôn là mục đích hàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài Vì vậy, nhiều nước châu Á đã có những chính sách tài chính hấp dẫn cho các nhà đầu tư như giảm thuế, ưu đãi tiền tệ, cho vay ngoại tệ nhằm thu hút nhiều nhất nguồn vốn FDI vào các nước này
Cắt giảm thuế: Hầu hết các nước châu Á đều đưa ra những chính sách cắt
giảm thuế hấp dẫn đối với các dự án đầu tư nước ngoài Hàn Quốc miễn giảm thuế
7 năm với doanh nghiệp FDI có vốn trên 50 triệu USD Thái Lan miễn thuế thu nhập doanh nghiệp từ 3 đến 8 năm, miễn thuế nhập khẩu 90% đối với nguyên liệu, 50% đối với máy móc mà Thái Lan chưa sản xuất được Ở Trung Quốc, các dự án đầu tư vào đặc khu kinh tế, khu công nghệ cao sẽ được ưu đãi về thuế, các dự án đầu tư vào các vùng kinh tế khó khăn như miền Tây, miền Trung - sẽ được thuê đất miễn phí, miễn thuê thu nhập trong vòng 10 năm Indonesia miễn thuế nhập khẩu, thuế doanh thu đối với hàng nhập khẩu dùng cho mục đích đầu tư
Cho phép nhà đầu tư hoạt động trên thị trường tài chính: Hàn quốc cho
phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia các hoạt động của thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, sát nhập và mua lại các công ty trong nước, giao dịch ngoại hối Trung Quốc mở rộng các quy định về ngoại hối, vay ngoại tệ: Doanh nghiệp FDI được cấp giấy chứng nhận quản lý ngoại hối, mở tài khoản ngoại tệ, vay vốn từ các ngân hàng Trung quốc nếu được bảo lãnh bởi các cổ động nước ngoài Ngoài ra, nước này còn cho phép nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần của doanh nghiệp nhà nước như các ngân hàng (ngoại trừ các doanh nghiệp đặc biệt quan trọng đến kinh tế và an ninh quốc gia)
Trang 3323
Các chính sách ưu đãi về dịch vụ: Thái Lan giảm giá thuê nhà đất, văn
phòng, cước viễn thông, vận tải Giá dịch vụ ở Thái Lan thuộc loại hấp dẫn nhất với việc thu hút FDI Sigapo lại tạo điều kiện thuận lợi cho người thân của các nhà đầu tư nhập cư và ổn định cuộc sống tại nước này
Thứ ba, phát triển xây dựng cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng hiện đại, thuận tiện cho việc buôn bán và giao lưu quốc tế luôn
là yếu tố quan trọng hấp dẫn các nhà đầu tư Các nước Châu Á như Thái Lan , Trung Quốc, Hàn Quốc đã thấy được tiềm năng thu hút nguồn vốn FDI từ yếu tố này Chính vì vậy, họ đã tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng: nhà xưởng, đường giao thông, viễn thông, dịch vụ nhằm tạo môi trường hấp dẫn và dễ dàng cho các nhà đầu tư khi hoạt động trên đất nước mình
Thái Lan chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng: hệ thống đường bộ, đường sắt, hệ thống sân bay, bến cảng, khu công nghiệp, kho bãi hiện đại, thuận lợi cho phát triển kinh tế và du lịch Nước này cũng xây dựng thành công hệ thống viễn thông, bưu điện, mạng internet thông suốt cả nước phục vụ cho hoạt động kinh doanh quốc tế
Trung Quốc chú trọng xây dựng nhiều đặc khu kinh tế và các thành phố duyên hải Tại các đặc khu này, Trung Quốc tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển đô thị, nhà ở, trường học, bệnh viện, trung tâm công cộng Nhà nước cho phép điạ phương tự khai thác mọi khả năng để có vốn đầu tư cơ sở hạ tầng, để khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào quá trình tái cơ cấu, đổi mới doanh nghiệp nhà nước
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao
Một trong những tiêu chí để các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm là thị trường lao động ở nước sở tại Thị trường lao động của Châu Á đặc biệt hấp dẫn bởi
tỷ lệ lao động trẻ, giá thấp Tuy nhiên, phát triển nguồn lao động có trình độ cao mới chính là bí quyết thu hút đầu tư của các nước châu Á thành công nhất
Coi trọng đầu tư cho giáo dục: Hàn Quốc thực hiện hoạt động dự báo nhu
cầu sử dụng nguồn lao động nhằm chủ động trong công tác đào tạo lao động, đáp ứng nhu cầu lao động cho thị trường Nước này đã trang bị miễn phí máy tính cho
Trang 3424
mỗi lớp học, miễn phí dạy tin học cho mọi đối tượng Thái Lan có tới 21% sinh viên tốt nghiệp đại học các ngành toán, máy tính Ấn Độ và Trung Quốc đặc biệt chú trọng giáo dục đại học, số người tốt nghiệp đại học ở hai nước này chỉ sau Mỹ Đặc biệt, Ấn Độ còn được coi là cái nôi của nguồn nhân lực có trình độ cao trong lĩnh vực công nghệ thông tin
Chính sách thu hút nhân tài: Không chỉ phát triển nguồn nhân lực trong
nước, Singapo, quốc gia có dân số ít ỏi còn thực hiện nhiều chính sách thu hút nhân tài từ bên ngoài Quốc đảo nhỏ bé này được coi là nơi có chính sách thu hút nhân tài bài bản nhất thế giới Các chính sách đột phá như cho phép người nước ngoài tham gia vào bộ máy nhà nước, nhập cư dễ dàng, đãi ngộ xứng đáng theo trình độ khiến nước này có được một đội ngũ lao động cao cấp hàng đầu thế giới, trở thành địa điểm hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các ngành nghề đòi hỏi nhiều trí tuệ, chất xám
1.4 Kinh nghiệm thực tiễn về quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại một số quốc gia
1.4.1 Hoa Kỳ
Theo thông tin từ Viện doanh nghiệp Hoa Kỳ (AEI), trong 10 năm qua Trung Quốc đã đầu tư 560 tỷ USD ra nước ngoài, tập trung vào các nước lớn và giàu có như Mỹ, Úc và Canada Trong số này, Hoa Kỳ là quốc gia được các doanh nghiệp và nhà đầu tư Trung Quốc lựa chọn nhiều nhất với 78 tỷ USD tính đến hết năm 2014
Các lĩnh vực mà Trung Quốc đầu tư tại Hoa Kỳ rất đa dạng, chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực mà Trung Quốc có thế mạnh như sản xuất, chế biến, chế tạo, bất động sản, điện tử, dịch vụ…và đầu tư của Trung Quốc có mặt tại tất cả các bang của Hoa Kỳ Hình thức đầu tư chủ yếu là mua cổ phần, mua lại, sáp nhập các công ty có sẵn của Hoa Kỳ để tận dụng cơ sở vật chất, công nghệ và rút ngắn các thủ tục đầu tư
Để tăng hiệu quả quản lý và giám sát chặt chẽ đầu tư trực tiếp của Trung Quốc cũng như bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp nội địa, Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã ban hành nhiều đạo luật, với các rào cản kĩ thuật nhắm vào các lĩnh vực có nhiều doanh
Trang 3525
nghiệp của Trung Quốc đầu tư Cụ thể, Cơ quan quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hoa Kì là Ủy ban đầu tư nước ngoài tại Hoa Kỳ (CFIUS) có quyền kiểm tra, thanh tra hoặc tra cứu hồ sơ của bất kì doanh nghiệp nào của Trung Quốc tại Hoa Kì nếu xét thấy có dấu hiệu vi phạm
Ngoài ra, với đặc thù Luật pháp, quy định tại các bang của Hoa Kỳ cũng có những sự khác biệt, chính quyền bang cũng ban hành một số chính sách nhằm hạn chế tối đa các ảnh hưởng không tích cực từ các doanh nghiệp của Trung Quốc như : siết chặt vấn đề lao động, tăng thêm các quy định về an toàn lao động, chất lượng sản phẩm, hạn mức nhập khẩu nguyên liệu từ Trung Quốc…
Mới đây nhất, Ủy ban Kinh tế-An ninh của Hoa Kỳ đã đệ trình lên chính sách mới nhằm siết chặt quản lý cấp thẻ cư trú dài hạn (thẻ xanh) cho các nhà đầu tư Trung Quốc khi một số dự án đầu tư trực tiếp của Trung Quốc bị phát hiện có dấu hiệu gian lận về đầu tư, kinh doanh Trong các báo cáo mới nhất của các Ủy ban : Chứng khoán và Hối đoái ; Quyền công dân và di trú và Cục Quản lý doanh nghiệp nhỏ của Chính phủ Hoa Kỳ cho thấy, phần lớn các dự án đầu tư trực tiếp quy mô nhỏ của Trung Quốc không đem lại lợi ích cho phát triển kinh tế cũng như chứng minh được tỉ lệ thất nghiệp có gia tăng
1.4.2 Tại Úc
Úc là quốc gia đứng thứ 2 trong số các quốc gia, vùng lãnh thổ mà doanh nghiệp, nhà đầu tư Trung Quốc có đầu tư trực tiếp Tính đến tháng 1/2015, Trung Quốc đã đầu tư trực tiếp vào Úc gần 63 tỷ USD, chủ yếu trong lĩnh vực khai khoáng, bất động sản, nông nghiệp, chế tạo, hóa chất, dịch vụ thương mại…
Trong khoảng thời gian những năm 70,80 của thế kỉ trước, do diện tích rộng, dân số ít, để kích thích nền kinh tế phát triển đa dạng, Úc đã nới lỏng các điều kiện
về quản lý và cấp phép đầu tư trực tiếp nước ngoài, đặc biệt tại các bang có vị trí địa
lý không thuận lợi như Perth, Queensland…Trong thời điểm đó, Trung Quốc tiến hành mở cửa, chuyển đổi nền kinh tế sang kinh tế thị trường, theo đó tạo điều kiện
và thúc đẩy các công ty nội địa ra nước ngoài đầu tư để tận dụng và nhận chuyển giao các kỹ thuật, công nghệ tiên tiến cũng như tranh thủ khai thác nguồn tài
Trang 3626
nguyên dồi dào như Úc Chỉ trong hơn 10 năm, đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại
Úc tăng từ 60.000 USD của năm 1979 đến 21,3 tỷ USD năm 1991 và chỉ mất 13 năm để tăng gấp 3 số vốn đầu tư này lên gần 63 tỷ USD
Trước làn sóng đầu tư ồ ạt của các doanh nghiệp Trung Quốc, chính phủ Úc liên tiếp ban hành các chính sách siết chặt cấp phép đầu tư, tăng cường công tác giám sát, kiểm tra về an toàn lao động, bảo đảm môi trường đối với các doanh nghiệp Trunug Quốc Cuối năm 2014, Chính phủ Úc đã ban hành chính sách mới liên quan đến quản lý về đầu tư trực tiếp trong lĩnh vực bất động sản và sở hữu bất động sản đối với nhà đầu tư nước ngoài Ngoài ra, Chính phủ cũng thông báo thành lập các ủy ban điều tra về hoạt động của dự án bất động sản, nghỉ dưỡng do các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư nhằm kiểm soát và cập nhật các dữ liệu liên quan
về các dự án này
1.4.3 Tại Nhật Bản
Nhật Bản là nước đầu tư ra nước ngoài hàng đầu thế giới với hàng trăm tỉ USD mỗi năm, tuy nhiên lại là nước nhận FDI từ nước ngoài khá khiêm tốn và đóng góp vào GDP của khối doanh nghiệp FDI chưa đến 4%/năm Trong những năm gần đây, Trung Quốc và Hàn Quốc là hai nhà đầu tư dành sự quan tâm đáng kể tới thị trường Nhật Bản, đặc biệt là các doanh nghiệp Trung Quốc với xu thế mua lại, sáp nhập (M&A) như Lenovo mua lại công ty NEC, Haier mua lại công ty sản xuất thiết
bị hỗ trợ của Panasonic và Suning mua lại hãng bán lẻ thiết bị LAOX…
Xu thế mua bán, sáp nhập là một trong những thế mạnh của các doanh nghiệp Trung Quốc khi đầu tư ra nước ngoài, và để quản lý, giám sát chặt chẽ hoạt động này từ các công ty Trung Quốc, chính phủ Nhật Bản đã ban hành nhiều chính sách ràng buộc về trình độ công nghệ, hệ thống quản lý chất lượng, nguồn vốn đối với những thương vụ M&A với doanh nghiệp Trung Quốc Và đặc biệt,
để có cơ sở quản lý các lao động, nhân sự từ Trung Quốc sau các vụ sáp nhập,
Bộ Lao động Nhật Bản quy định rất chi tiết về các sự thay đổi nhân sự, lãnh đạo doanh nghiệp, nhằm giảm thiểu tối đa các vấn đề tiêu cực phát sinh từ các lao động từ Trung Quốc
Trang 3727
CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Nghiên cứu các số liệu, báo cáo về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam từ
1987 đến nay Theo đó, tập trung nghiên cứu vào đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc tại Việt Nam Nghiên cứu quá trình quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài để từ đó kiểm chứng, đánh giá quá trình quản lý đầu tư nước ngoài, đầu tư từ Trung Quốc thời gian qua, cũng như xác định giải pháp phù hợp để thúc đẩy hoạt động quản lý đầu
tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam trong thời gian tới
Lũy kế tính đến hết tháng 1 năm 2015 đầu tư của Trung Quốc (chưa kể Đài Loan, Hồng Công , Ma Cao) tại Việt Nam có 1.092 dự án còn hiê ̣u lực , với tổng vốn đăng ký 7,9 tỷ USD , chiếm 6,1% số dự án và 3,24% tổng vốn đăng ký , đứng thứ 9 trong tổng số 101 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư ta ̣i Viê ̣t Nam (1) Quy mô các dự án đầu tư trung bình cho mỗi dự án đầu tư của Trung Quốc chỉ hơn 6 triệu USD/dự án – đây là mức thấp so với trung bình của các nhà đầu tư khác tại Việt Nam
2.1.2 Phương pháp thu thập số liệu, nghiên cứu tài liệu
Thu thập số liệu là một phương pháp có ý nghía vô cùng quan trọng đối với quá trình nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội Tuy nhiên việc thu thập số liệu lại thường tốn nhiều thời gian, công sức và chi phí; do đó cần phải nắm chắc các phương pháp thu thập số liệu để từ đó chọn ra các phương pháp thích hợp với hiện tượng, làm cơ sở để lập kế hoạch thu thập dữ liệu một cách khoa học, nhằm đặt được hiệu quả cao nhất của giai đoạn quan trọng này
Thu thập số liệu đã công bố
Số liệu đã công bố sử dụng trong luận văn được thu thập từ các thông tin công bố chính thức của các cơ quan Nhà nước, các nghiên cứu của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước về chính sách quản lý đầu tư trực tiếp, quản lý đầu tư của Trung Quốc
Trang 3828
Các số liệu đã công bố chủ yếu từ các nguồn, các công trình khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài và quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài như: Báo cáo đầu tư thế giới của UNTACD, Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê, Báo cáo đầu tư nước ngoài của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tài liệu, báo cáo nghiên cứu chuyên đề khác
Thu thập số liệu mới
Số liệu mới được sử dụng ở một số nội dung trong luận văn là số liệu tác giả thu thập từ các doanh nghiệp Trung Quốc đang đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam Đây là số liệu chưa được công bố, tính toán chính thức, phản ánh các đề xuất, giải pháp cho quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài và các vấn đề khác có liên quan
Để thu thập số liệu sơ cấp, tác giả sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu, có nghĩa là không tiến hành điều tra hết toàn bộ các đơn vị tổng thể mà chỉ điều tra các doanh nghiệp của Trung Quốc tại khu vực phía Bắc để tiết kiệm thời gian, công sức
và chi phí Vấn đề quan trọng nhất là đảm bảo cho tổng thể mẫu phải có khả năng đại diện được cho tổng thể chung
- Lý do chọn các doanh nghiệp của Trung Quốc khu vực phía Bắc: Do hạn chế
về thời gian và kinh phí điều tra, tác giả chỉ gửi phiếu điều tra thông tin tới các doanh nghiệp Trung Quốc tại khu vực phía Bắc (thông qua Hiệp hội doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam, các chi Hội tại Hải Phòng, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương )
2.1.3 Phương pháp phân tích
Phương pháp phân tổ thống kê
Phân tổ thống kê phân chia tổng thể thống kê thành các tổ (tiểu tổ) có tính chất khác nhau (phân chia theo loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực sản xuất, vốn đầu tư, địa
Trang 39 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh (so theo lĩnh vực đầu tư, vốn đầu tư, địa bàn đầu tư ) để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích, phản ánh chân thực hiện tượng nghiên cứu, giúp cho việc tổng hợp tài liệu, tính toán các chỉ tiêu được đúng đắn, cũng như giúp cho việc phân tích tài liệu được khoa học, khách quan, phản ánh đúng những nội dung cần nghiên cứu
Phương pháp phân tích dãy số biến động theo thời gian
Dãy số thời gian là dãy các trị số của chỉ tiêu thống kê được sắp xềp theo thứ tự thời gian Dãy số thời gian cho phép thống kê học nghiên cứu đặc điểm biến động của hiện tượng theo thời gian vạch rõ xu hướng và tính quy luật của sự biến động, đồng thời dự đoán các mức độ của hiện tượng trong tương lai Dãy số thì gian gồm hai thành phần: thời gian và chỉ tiêu của hiện tượng được nghiên cứu Thờt gian có thể đo bằng ngày, tháng, năm,…tuỳ theo mục đích nghiên cứu Đơn vị thời gian phải đồng nhất trong dãy số thời gian Độ dài thời gian giữa hai thời gian liền nhau được gọi là khoảng cách thời gian Chỉ tiêu về hiện tượng được nghiên cứu là chỉ tiêu được xây dựng cho dãy số thời gian Các trị số của chỉ tiêu được gọi là các mức độ của dãy số thời gian Các trị số này có thể là tuyệt đối , tương đối hay bình quân
Có một số cách phân loại dãy số thời gian theo các mục đích nghiên cứu khác nhau.Thông thường, người ta căn cứ vào đặc điểm tồn tại về quy mô của hiện tượng theo thời gian để phân loại Theo cách này, dãy số thời gian được chia thành hai loại: dãy số thời điẻm và dãy số thời kì
Dãy số thời điểm biểu hiện quy mô của hiện tượng nghiên cứu tại những thời điểm nhất định Do vậy, mức độ của hiện tượng ở thời điểm sau có thể bao gồm toàn bộ hay một bộ phận mức độ của hiện tượng ở thời điểm trước đó
Trang 4030
Dãy số thời kì biểu hiện quy mô (khối lượng) của hiện tượng trong từng thời gian nhất định Do đó, chúng ta có thể cộng các mức độ liền nhau để được một mức
độ lớn hơn trong một khoảng thời gian dài hơn Lúc này, số lượng các số trong dãy
số giảm xuống và khoảng cách thời gian lớn hơn
Dãy số thời gian có hai tác dụng chính: Thứ nhất, cho phép thống kê học nghiên cứu các đặc điểm và xu hướng biến động của hiện tượng theo thời gian Từ đó, chúng
ta có thể đề ra định hướng hoặc các biện pháp xử lí thích hợp; Thứ hai, cho phép dự đoán các mức độ của hiện tượng nghiên cứu có khả năng xảy ra trong tương lai
Yêu cầu cơ bản khi xây dựng một dãy số thời gian là phải đảm bảo tính chất có thể so sánh được giữa các mức độ trong dãy số Muốn vậy thì nội dung
và phương pháp tính toán chỉ tiêu qua thời gian phải thống nhất, phạm vi hiên tượng nghiên cứu trước sau phải nhất trí, các khoảng cách thời gian trong dãy số nên bằng nhau
Phương pháp dự báo thống kê
Dự báo là việc xác định các thông tin chưa biết có thể xảy ra trong tương lai của hiện tượng được nghiên cứu dựa trên cơ sở những số liệu thống kê trong những giai đoạn đã qua Dự báo sự biến động của đầu tư trực tiếp Trung Quốc tại Việt Nam, đó là dự báo về lĩnh vực đầu tư, nguồn vốn đầu tư và địa bàn đầu tư trong thời gian tới Công việc dự báo hoàn toàn không dễ dàng, bởi lẽ chúng ta phải nói trước những điều chưa biết, sự chính xác trong các kết quả của dự báo sẽ mang đến sự thành công hay thất bại của một phương án.Để kết quả của các dự báo tương đối sát với những gì sẽ xảy ra trong tương lai, điều quan trọng là phải có những phương pháp dự báo hợp lý
Dự báo xu hướng phát triển đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam phải căn cứ trên tình hình phát triển đầu tư của Trung Quốc thời gian qua; dựa trên số liệu thống kê đã thu thập được
2.2 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
Các chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả trong thực hiện quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc tại Việt Nam