Ngày nay, với sự phát triển về lĩnh vực y học trên thế giới, đầu tư của nhà nước, mạng lưới y tế của các địa phương đã từng bước được củng cố, cơ sở vật chất ngày càng được cải thiện, nh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
- o0o -
MAI SỸ THANH SƠN
PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
- o0o -
MAI SỸ THANH SƠN
PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng cá nhân tôi
Số liệu sử dụng trong luận văn được thu thập, thông kê có cơ sở khoa học, trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Luận văn được kế thừa nhiều kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, các kế thừa đó đều được đưa ra trong luận văn dưới dạng trích dẫn, nguồn gốc trích dẫn được liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo
TÁC GIẢ
Mai Sỹ Thanh Sơn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Muốn thành công bạn phải nỗ lực thực hiện, kết quả sẽ đến Với nhiều
nỗ lực, hôm nay tôi đã hoàn thành luận văn của mình với sự giúp đỡ rất nhiệt tình của nhiều người mà có lẽ tôi không bao giờ quên được
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn đáng kính là PGS.TS.Hà Văn Hội đã giúp đỡ tôi trong suốt hành trình bắt đầu thai nghén cho đến khi hoàn thành đề tài, các thầy cô giáo TS.Trần Quang Tuyến, PGS.TS.Phạm Thị Hồng Điệp, TS.Nguyễn Thị Hoài đã trao đổinhiều ý kiến cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này.Các thầy, cô không những cho tôi những ý kiến đóng góp quý báu về khoa học, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi, mà còn là những động viên tinh thần lớn lao đối với tôi
Tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị làm việc ở Bộ Y tế, sở y tế Nghệ An, bảo hiểm xã hộiViệt Nam đã cung cấp cho tôi nhiều ý kiến chuyên môn, số liệu điều kiện thuận lợi để tôi thu thập dữ liệu cho luận văn này
Tôi cũng xin cảm ơn những người thân trong gia đình, đặc biệt là mẹ,
vợ và 2 con đã giúp tôi có đủ thời gian, vật chất và đặc biệt là tinh thần rất lớn
để tôi có thể tập trung vào công việc này
Có thể do một số hạn chế nên kết quả chưa được như mong muốn, tuy nhiên tôi cũng muốn dành tặng kết quả này cho những người thân trong gia đình đã đồng hành cùng tôi trong suốt thời gian qua
Và cuối cùng tôi muốn dành tặng luận văn này cho người cha kính yêu khi còn sống đã luôn nhắc nhở động viên tôi phải không ngừng học tập để trở thành con người hiểu biết và có ích cho xã hội
Người viết
Mai Sỹ Thanh Sơn
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
PHẦN MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ Y TẾ NGHỆ AN 13
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 13
1.1.1 Lý luận về dịch vụ và dịch vụ y tế 13
1.1.2 Nội dung và những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ y tế 14
1.1.3 Sự cần thiết, điều kiện và giải pháp phát triển dịch vụ y tế 18
1.2 Một số vấn đề lý luận về phát triển dịch vụ y tế 22
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại dịch vụ y tế 22
1.2.2 Quản lý nhà nước về dịch vụ y tế 30
1.2.3 Điều kiện cơ bản để phát triển dịch vụ y tế 34
1.2.4 Nội dung và tiêu chí đánh giá sự phát triển dịch vụ y tế 34
1.3 Sự cần thiết khách quan phải phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An 39
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Phương pháp phân tích tổng hợp 41
2.2 Phương pháp thống kê, thu thập dữ liệu 44
2.3 Phương pháp so sánh 45
2.4 Phương pháp case study 48
2.5 Phương pháp chuyên gia 50
Trang 62.6 Phương pháp phân tích SWOT 51
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 55
3.1 Thực trạng phát triển mạng lưới, quy mô cơ sở y tế 55
3.1.1 Thực trạng phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ 55
3.1.2 Đầu tư của NSNN cho lĩnh vực y tế 61
3.2 Thực trạng về phát triển các loại hình dịch vụ y tế 63
3.2.1 Y học dự phòng 63
3.2.2 Khám bệnh, chữa bệnh 64
3.3 Chất lượng cung cấp dịch vụ y tế 66
3.3.1 Chất lượng nguồn nhân lực 66
3.3.2 Phát triển chuyên môn kỹ thuật cao 69
3.4 Chỉ số sức khỏe của người dân tỉnh Nghệ An: 71
3.5 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong việc phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An 75
3.5.1 Điểm mạnh 75
3.5.2 Điểm yếu 76
3.5.3 Cơ hội 77
3.5.4 Thách thức 78
3.6 Chính sách nhà nước tác động đến phát triển dịch vụ y tế tại Nghệ An 78
3.6.1 Chính sách của chính phủ 78
3.6.2 Chính sách của địa phương 80
Trang 7CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ
Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 82
4.1 Định hướng phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015 đến 2020 và tầm nhìn 2030 82
4.1.1 Định hướng phát triển chung 82
4.1.2 Định hướng phát triển cụ thể 82
4.2 Đề xuất một số giải pháp cơ bản 84
4.2.1 Phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ y tế 84
4.2.2 Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 86
4.2.3 Đẩy mạnh xã hội hoá và lộ trình tự chủ về tài chính của các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế 88
4.2.4 Phát triển đa dạng hóa các loại hình cung cấp dịch vụ y tế 88
4.2.5 Cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển 89
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 3.1 Quy mô giường bệnh của các cơ sở y tế tuyến tỉnh
2 Bảng 3.2 Quy mô giường bệnh của các cơ sở y tế tuyến huyện
3 Bảng 3.3 Quy mô giường bệnh của các cơ sở y tế ngoài công
lập trên địa bàn Nghệ An năm 2014 58
4 Bảng 3.4 Giường bệnh của các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh
5 Bảng 3.5 Tỷ lệ khoa/phòng theo phân hạng bệnh viện của một
số bệnh viện tuyến tỉnh trên địa bàn Nghệ An 60
6 Bảng 3.6 NSNN cấp cho ngành y tế Nghệ An hằng năm 62
7 Bảng 3.7 Tình hình tham gia BHYT tại tỉnh Nghệ An 62
8 Bảng 3.8 Kết quả tiêm chủng cho các cháu dưới 1 tuổi trên địa
9 Bảng 3.9 Số lượt người khám bệnh trên địa bàn Nghệ An 65
10 Bảng 3.10 Số lượt người bệnh điều trị nội trú trên địa bàn Tỉnh
11 Bảng 3.11 Trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực y tế ở
12 Bảng 3.12 Nhân lực cán bộ y tế phân theo tuyến tại Nghệ An 67
13 Bảng 3.13 Một số chỉ số về phát triển nhân lực y tế của Tỉnh
Trang 9DANH MỤC HÌNH
1 Hình 2.1 Mô tả phương pháp phân tích SWOT 54
2 Hình 3.1 Cơ cấu các nhóm đối tượng tham gia BHYT 63
3 Hình 3.2 Tuổi thọ trung bình theo vùng, ước tính năm 2013 73
4 Hình 3.3 Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi theo vùng 74
5 Hình 3.4 Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi theo vùng,
năm 2013
75
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 BHYT Bảo hiểm y tế
2 BHXH Bảo hiểm xã hội
3 BS Bác sỹ
4 BYT Bộ Y tế
5 BVĐK Bệnh viện đa khoa
6 CSSK Chăm sóc sức khỏe
7 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
8 CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển lĩnh vực y tế luôn là ưu tiên hàng đầu của mỗi một quốc gia
Nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và là động lực tham gia vào
sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Dịch vụ y tế là một hàng hóa không những liên quan đến sức khỏe đời sống của con người, nguồn lực của
cả quốc gia mà còn liên quan đến sự phát triển lâu dài và bền vững của quốc gia đó Đối với Việt Nam, lĩnh vực y tế được nhà nước và cả xã hội đặc biệt quan tâm
Ngày nay, với sự phát triển về lĩnh vực y học trên thế giới, đầu tư của nhà nước, mạng lưới y tế của các địa phương đã từng bước được củng cố, cơ
sở vật chất ngày càng được cải thiện, nhiều loại hình dịch vụ y tế phát triển ngày càng đa dạng Hoạt động của các cơ sở y tế đang dần chuyển sang cung cấp dịch vụ y tế với nhiều mô hình và hình thức tổ chức như những doanh nghiệp dịch vụ thực sự
Trước những biến chuyển nhanh như vậy, vấn đề phát triển dịch vụ y tế như thế nào để hoạt động này đạt được mục tiêu đã đề ra, mang lại hiệu quả
về kinh tế xã hội, góp phần đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng lớn của người dân đang đặt ra cho những nhà quản lý nhà nước về kinh tế nhiều vấn đề cần giải quyết
Chiến lược phát triển y tế của Việt Nam đã chỉ rõ: Tập trung phát triển mạnh hệ thống chăm sóc sức khoẻ và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa để phát triển nhanh
hệ thống y tế công lập và ngoài công lập Khuyến khích các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế thành lập các cơ sở y tế chuyên khoa có chất lượng
Trang 12cao Đổi mới cơ chế hoạt động, nhất là cơ chế tài chính của các cơ sở y tế công lập theo hướng tự chủ, công khai, minh bạch
Trong quá trình phát triển trong lĩnh vực y tế, xuất hiện mẫu thuẫn giữa lợi ích đầu tư và lợi ích cho xã hội nên còn nhiều biến tướng tiêu cực dẫn đến nhiều vấn đề nổi cộm cho xã hội liên quan đến cung cấp dịch vụ y tế Nhiều tiêu cực trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh đang gây tác hại lớn đến dư luận xã hội trong đó công tác quản lý nhà nước đối với các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế, đổi mới cơ chế quản lý y tế còn bộc lộ nhiều yếu kém
Những năm qua, nhiều công cụ và phương pháp của các nhà quản lý kinh tế về y tế đã được đưa ra và được thể chế hóa vào các văn bản pháp luật, trong hoạt động chỉ đạo của các cấp quản lý trong hệ thống Nhà nước Tuy nhiên, tại Nghệ An, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn khá nhiều hạn chế, vướng mắc dẫn đến việc phát triển dịch vụ y tế chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội và mục tiêu đã đề ra
Nghệ An có diện tích 1.649.025 ha, là tỉnh lớn nhất cả nước Nghệ An hiện có 1 thành phố, 3 thị xã và 17 huyện Địa phương này có địa hình phức tạp, lại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết rất khắc nghiệt, dịch bệnh thường diễn ra nhiều, quanh năm Không những thế, Nghệ An là địa phương đông dân đứng thứ 4 trong cả nước, hiện dân số hơn 3 triệu người, nhiều dân tộc sinh sống trên địa bàn, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên khoảng 1,0 %, nhu cầu được sử dụng dịch vụ y tế rất lớn Chính vì vậy, đây là một thị trường đầy tiềm năng để phát triển dịch vụ y tế
Nghệ An có số lượng các tổ chức cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh rất đa dạng Tính đến năm 2014, Trên địa bàn toàn tỉnh hiện có 38 bệnh viện, có 4 bệnh viện Bộ, ngành đóng trên địa bàn, tổng số giường bệnh đạt 7.081 giường, 480 trạm y tế xã/phường/thị trấn Hiện nay có 9 bệnh viện tư
Trang 13nhân hoạt động trên địa bàn, con số này hiện chỉ ít hơn so với thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
Tuy nhiên, quy mô phát triển của các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế mặc
dù phát triển mạnh về chiều rộng chưa thực sự chú trọng phát triển theo chiều sâu, mạng lưới các cơ sở khám chữa bệnh (KCB) được phân bố chưa thực sự phù hợp với địa hình và vị trí địa lý, tự nhiên, theo quy hoạch vùng dẫn đến ảnh hưởng tới sự phát triển thị trường dịch vụ y tế Ngoài ra, chất lượng dịch
vụ y tế vẫn chưa làm thỏa mãn được nhu cầu ngày càng cao của người dân địa phương Nhiều trang thiết bị hiện đại được đầu tư nhưng chưa phát huy được công suất sử dụng, giao tiếp ứng xử của nhân viên y tế nhiều lúc đang gây bức xúc cho người bệnh, quy trình tổ chức KCB chưa hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu cung cấp dịch vụ y tế tốt nhất đến với người dân địa phương
Chính vì vậy, phát triển dịch vụ y tế, quản lý nhà nước để phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An còn có nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu, xem xét, điều chỉnh, hoàn thiện
Dựa trên những thực tế như trên, tôi chọn đề tài: "Phát triển dịch vụ y
tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An" làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ quản lý kinh tế
của mình
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của luận văn là thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng cung cấp dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn Tỉnh
2.2 Câu hỏi nghiên cứu
a Tại sao cần phải phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An ?
b Thực trạng cung cấp dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An hiện nay như thế nào ?
Trang 14c Để phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An cần phải có điều kiện gì ?
2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những lý luận về dịch vụ y tế, phát triển dịch vụ y tế và
sự cần thiết phải phát triển dịch vụ y tế
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An, qua đó tìm ra được những ưu điểm, nhược điểm trong quản lý y tế
về phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An
- Đưa ra những giải pháp nhằm phát triển dịch vụ y tế ở Nghệ An theo mục tiêu đã đề ra, đáp ứng được nhu cầu của người dân và của xã hội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hoạt động cung cấp dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Các dịch vụ y tế cung cấp cho người dân trên địa bàn tỉnh Nghệ An có nhiều lĩnh vực: cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, y học dự phòng - nâng cao sức khỏe; phục hồi chức năng, y dược học cổ truyền, sản xuất và phân phối thuốc, vật tư tiêu hao (VTTH)
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài không đề cập đến phát triển dịch vụ y tế đối với các lĩnh vực thuộc mạng lưới sản xuất, kiểm nghiệm, phân phối thuốc, VTTH đóng trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Không gian: Nghiên cứu kết quả phát triển dịch vụ y tế thông qua kết
quả cung cấp dịch vụ y tế về khám bệnh, chữa bệnh, y học dự phòng của hệ thống y tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An (Không nghiên cứu kết quả của các bệnh viện trực thuộc bộ, ngành đóng trên địa phương do không thuộc chức năng quản lý nhà nước của Sở Y tế Nghệ An)
Trang 15Thời gian: Giớ i ha ̣n pha ̣m vi thời gian nghiên cứu trong luận văn là từ năm 2010 đến nay, có tham khảo số liệu của những năm trước đó và các số liệu của tỉnh bạn trong và ngoài nước Các giải pháp đề xuất trong luận văn có
ý nghĩa đối với những nhà hoạch định chiến lược phát triển y tế, quản lý y tế của ngành y tế Nghệ An trong thời gian 2015-2020, tầm nhìn đến năm 2030
Lý do đề tài lựa chọn thời gian nghiên cứu từ 2010 đến nay:
Đây là thời gian lĩnh vực y tế Nghệ An ảnh hưởng nhiều từ các định hướng và chính sách về phát triển y tế, có thể coi đây là thời gian "nóng" nhất trong các giai đoạn hình thành và phát triển ở nhiều góc độ, đối với cả hệ thống các cơ sở công lập và các ngoài công lập Nhiều cơ sở ngoài công lập đang đi vào phát triển ổn định, nhiều dịch vụ kỹ thuật cao đang được triển khai ở các cơ sở đầu ngành của tỉnh
Thời gian này cũng chính là cột mốc quan trọng đầu tiên tỉnh Nghệ An đang thực hiện quy hoạch phát triển mạng lưới khám bệnh, chữa bệnh giai đoạn 2011-2020, những năm đầu tiên thực hiện quyết định số 2579/QĐ-UBND.VX của UBND tỉnh Nghệ An ngày 24/6/2013 về việc phê duyệt đề án
"Nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2013 đến 2020"
Ngoài ra đây là thời gian tổng kết thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TU ngày 16/11/2006 của Ban thường vụ Tỉnh ủy về "Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân đến 2010 và những năm tiếp theo", bắt đầu thực hiện Quyết định số 3232/QĐ-UBND.VX của UBND tỉnh Nghệ
An ngày 11 tháng 7 năm 2014 về việc ban hành kế hoạch thực hiện nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 4/4/2014 của ban thường vụ tỉnh ủy về "Đẩy mạnh phát triển sự nghiệp y tế tỉnh Nghệ An đến năm 2020"
Cuối cùng, đây cũng là giai đoạn quan trọng đánh giá sơ bộ kết quả thực hiện quyết định 97/2007/UBND-CNXD ngày 29/8/2007 của UBND tỉnh
Trang 16Nghệ An về việc "Phê duyệt đề án xây dựng Trung tâm y tế kỹ thuật cao khu vực Bắc trung bộ tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An Điều chỉnh bổ sung nhiệm vụ, giải pháp đến năm 2020"
4 Những đóng góp mới của luận văn
- Luận giải được sự cần thiết khách quan phải phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An
- Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ y tế ở Nghệ An giai đoạn từ 2010 đến nay, dựa trên các tiêu chí để lượng giá, trên cơ sở đó chỉ ra những bất cập trong quản lý nhà nước trong phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn Tỉnh Nghệ An
- Đề xuất một số giải pháp và định hướng phát triển dịch vụ y tế ở Nghệ An trong thời gian tới Góp phần vào đề án quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015 đến năm 2020, tầm nhìn đến
2030
Kết cấu luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu
tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn
về phát triển dịch vụ y tế
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ y tế trên
địa bàn tỉnh Nghệ An
Chương 4: Một số giải pháp chủ yếu phát triển dịch vụ y tế trên địa
bàn Tỉnh Nghệ An
Trang 17CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ Y TẾ NGHỆ AN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Lý luận về dịch vụ và dịch vụ y tế
Dịch vụ là một lĩnh vực rất rộng, dịch vụ nằm trong cấu trúc nền sản xuất xã hội Ngoài lĩnh vực sản xuất sản phẩm vật chất ra, trong tổng sản phẩm quốc dân, sự đóng góp của khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn Theo đà phát triển của lực lượng sản xuất xã hội và sự tiến bộ văn minh nhân loại, lĩnh vực dịch vụ phát triển hết sức phong phú
Theo C.Mác khi nghiên cứu về khái niệm dịch vụ cho rằng: "Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển" Như vậy, với định nghĩa trên, C.Mác đã chỉ rõ nguồn gốc ra đời và sự phát triển của dịch vụ Nền kinh tế hàng hóa càng phát triển thì song song với nó dịch vụ cũng sẽ ngày càng phát triển
Còn Adam Smith từng định nghĩa rằng: "Dịch vụ là nghề hoang phí nhất trong tất cả các nghề như cha đạo, luật sư, nhạc công, ca sỹ opera, vũ công Công việc của tất cả bọn họ tàn lụi đúng lúc nó được sản xuất ra" Từ định nghĩa này, ta có thể nhận thấy rằng Adam Smith có lẽ muốn nhấn mạnh đến khía cạnh "không tồn trữ được" của sản phẩm dịch vụ, tức là được sản xuất và tiêu thụ đồng thời
Theo các tác giả Hoàng Thị Thu Hương, 2011 trong luận văn với đề tài: Phát triển dịch vụ y tế thành phố Đà Nẵng (Luận văn thạc sỹ kinh tế chuyên ngành kinh tế phát triển - Trường đại học Đà Nẵng), tác giả Đoàn Thị Xuân
Mỹ, năm 2011 trong luận văn: Phát triển dịch vụ y tế ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi (Luận văn thạc sỹ kinh tế - Trường đại học Đà Nẵng) và tác
Trang 18giả Bùi Thị Hằng, 2011 trong luận văn: Đẩy mạnh phát triển dịch vụ y tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Bình Định (Luận vặn thạc sỹ kinh tế - Trường đại học
Đà Nẵng) đều cho rằng bản chất dịch vụ y tế thực chất là hàng hóa và dịch vụ
y tế chính là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng để đáp ứng nhu cầu về sức khỏe Các tác giả đều đồng quan điểm cho rằng dịch vụ y tế là một dịch vụ đặc biệt, bao gồm các hoạt động được thực hiện bởi nhân viên y tế như: khám, chữa bệnh, cung cấp dịch vụ phục vụ chăm sóc người bệnh và gia đình người bệnh Không giống các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ y tế có những đặc điểm riêng như người mua không có quyền lựa chọn mà do bên cung ứng quyết định Dịch vụ y tế là loại hàng hóa gắn liền với sức khỏe, tính mạng con người nên không giống các nhu cầu khác, khi ốm đau mặc dù người bệnh không có tiền nhưng vẫn phải sử dụng Dịch vụ y tế nhiều khi không bình đẳng trong mối quan hệ, đặc biệt trong tình trạng cấp cứu
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Minh, 2011 trong luận văn: Phát triển dịch
vụ y tế tư nhân ở Việt Nam (Luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị - Trường Đại học Kinh tế, ĐHQG Hà Nội) cũng có quan điểm tương tự khi đưa khái niệm dịch vụ y tế theo khái niệm hàng hóa, hàng hóa dịch vụ y tế là tất cả các loại hình dịch vụ chăm sóc, tư vấn liên quan đến sức khỏe con người Tác giả cho rằng dịch vụ y tế là một trong những dịch vụ công được nhiều quốc gia quan tâm, bởi dịch vụ y tế là một hàng hóa không những liên quan đến sức khỏe đời sống của con người, liên quan đến nguồn lực của cả một quốc gia mà còn liên quan đến sự phát triển lâu dài và bền vững của toàn bộ quốc gia đó
1.1.2 Nội dung và những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ y
tế
Theo tác giả Đặng Thị Lệ Xuân, 2011 trong luận án tiến sỹ với đề tài:
Xã hội hóa y tế ở Việt Nam: Lý luận - thực tiễn và giải pháp (Luận án tiến sỹ
Trang 19kinh tế - Trường Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội), cho rằng phát triển dịch
vụ y tế luôn là ưu tiên hàng đầu của mọi chính phủ Đảm bảo cho người dân được thụ hưởng đầy đủ dịch vụ y tế có ý nghĩa quyết định đến chất lượng cuộc sống, phản ánh kết quả của quá trình phát triển Hơn nữa thành quả của
y tế cũng là điều kiện của sự phát triển, là động lực cho sự phát triển đất nước
Tác giả Hoàng Thị Thu Hương, trong nghiên cứu của mình cũng cho rằng phát triển dịch vụ y tế không chỉ là sự gia tăng thuần túy về mặt lượng
mà nó còn là những biến đổi về mặt chất của ngành y tế mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ
Theo tác giả Hoàng Thị Thu Hương, Đoàn Thị Xuân Mỹ trong nghiên cứu của mình: có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ y tế như nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, thái độ phục vụ người bệnh nhưng quan trọng nhất là các chính sách của địa phương dành cho y tế
Tác giả Đặng Thị Lệ Xuân có nêu trong luận án tiến sỹ của mình, cho rằng nếu vận dụng lý thuyết kinh tế y tế (Health economics) thì thị trường dịch vụ y tế Việt Nam hiện nay và trong tương lai không thỏa mãn những tiêu chí của thị trường cạnh tranh hoàn hảo Chính vì thế khi xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ y tế cần chú ý đến vấn đề này
Một điều kiện ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ là văn hóa và thói quen
sử dụng dịch vụ y tế của người dân địa phương Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Kim Chúc trong bài: Tình hình sử dụng dịch vụ y tế của người dân huyện Ba Vì - kết quả theo dõi tại cơ sở thực địa dịch tễ học năm 1999 (Tạp chí nghiên cứu y học Số 22, trang 41 - 46) cho biết về tình hình sử dụng dịch vụ y tế của người dân Ba Vì năm 1999, tỷ lệ ốm trong vòng 4 tuần là 47,7 %, và không có sự khác biệt lớn giữa các nhóm kinh tế, văn hóa và nghề
Trang 20nghiệp Các cơ sở y tế tư nhân được sử dụng nhiều hơn, trong khi các trạm y
tế được sử dụng với tỷ lệ thấp Trong nghiên cứu này, tỷ lệ đến khám chữa bệnh tại bệnh viện cao hơn ở nhóm tuổi có trình độ học vấn cao và nhóm cán
bộ nhà nước, công nhân Không có sự khác biệt giữa các nhóm kinh tế về mô hình sử dụng dịch vụ y tế; nghề nghiệp là một yếu tố liên quan một cách có ý nghĩa thống kê đến sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh bệnh viện
Theo nghiên cứu của đơn vị chăm sóc ban đầu - Bộ Y tế năm 1994 đến năm 1995 tại Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Long An, Cần Thơ, thì tỷ lệ người
ốm đau tự mua thuốc về nhà mà không qua khám chữa bệnh là phổ biến Nơi cao nhất là Long An (47 %), thấp nhất là Thừa Thiên Huế (28,9 %)
Theo một nghiên cứu được tiến hành qua phỏng vấn 1.000 hộ gia đình tại xã Cổ Nhuế huyện Từ Liêm thành phố Hà Nội về nơi đến khám chữa bệnh của người ốm trong vòng 2 tuần (trước khi điều tra): Trạm y tế xã là 26,10 %,
y tế tư nhân là 16,44 %, bệnh viện 20,72 %, mua thuốc tự điều trị là 30,72 %, không chữa gì là 2,41 %
Năm 1997, Lữ Ngọc Kính, Nguyễn Thành Trung và cộng sự đã nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân ở xã Hợp Tiến-Đồng Hỷ-Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ người ốm đến trạm y tế là 32,8 %
Liên quan đến vấn đền tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế tại các địa phương Các tác giả Dương Đình Thiện, Phùng Văn Hoàn, Vũ Diễn và cộng
sự nghiên cứu trong 2 năm 1997 - 1998 cho thấy: Chỉ có 33,8 % tổng số người dân đau ốm là đến khám tại Trạm y tế Theo thống kê của Bộ y tế trong năm 1993 sử dụng dịch vụ y tế tại các TYT xã, phường là: 38,7 %
Nghiên cứu của tác giả Phùng Thị Thu Hà, năm 2003 trong luận văn của mình về đề tài: Mô tả nhu cầu khám chữa bệnh và việc sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây (Luận văn thạc sỹ y
tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội) mô tả nhu cầu KCB và việc sử dụng
Trang 21dịch vụ KCB của người dân huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây 2003 cho thấy nhu cầu KCB của người nghèo cao hơn nhóm không nghèo gấp 1,5 lần, sử dụng dịch
vụ y tế của người nghèo chủ yếu ở tuyến huyện, tuyến xã, trong khi nhóm không nghèo sử dụng dịch vụ y tế ở tuyến huyện và tuyến tỉnh Nhóm người giàu sử dụng dịch vụ điều trị nội trú tại bệnh viện nhiều hơn nhóm người nghèo 1,3 lần và có sử dụng nhiều các dịch vụ y tế kỹ thuật cao, đắt tiền Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác nhau trong nhu cầu và sử dụng dịch vụ KCB của người dân trong bối cảnh nền kinh tế phát triển phân hóa giàu nghèo ngày càng mạnh; thể hiện sự thiệt thòi trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ KCB của các đối tượng dễ bị tổn thương, người nghèo
Các nghiên cứu trong và ngoài nước của một số tác giả về sự tiếp cận
và sử dụng dịch vụ KCB ngay cả ở các nước đang phát triển cũng cho thấy có
sự khác biệt trong việc lựa chọn dịch vụ KCB theo nhóm thu nhập
Tại Trung Quốc vào những năm 1960, 1970 đã đạt độ bao phủ về chăm sóc sức khỏe (CSSK) lên 95%, nhưng những rủi ro và nguy cơ về tài chính lớn dẫn đến mất công bằng trong CSSK Một nghiên cứu tại 30 huyện nghèo cho thấy 33% số hộ thu nhập thấp đã không tìm kiếm dịch vụ KCB trong một khoảng thời gian nhất định so với 16% ở các hộ thuộc nhóm thu nhập cao mặc dù những hộ nghèo có nhu cầu sử dụng dịch vụ KCB cao hơn (nhóm 1/4
số dân nghèo nhất có tỷ lệ mắc bệnh nhiễm khuẩn cao gấp 3 lần so với nhóm 1/4 số dân giàu nhất)
Ở Philippine, trên 90% phụ nữ ở nhóm nghèo nhất sinh con ở nhà trong khi phụ nữ ở nhóm 20% dân số giàu nhất sinh con tại nhà hộ sinh Tại Campuchia chỉ có 20% phụ nữ ở nhóm nghèo nhất nhận được sự giúp đỡ của
cơ sở y tế trong quá trình sinh đẻ trong khi hơn 80% bà mẹ ở nhóm giàu nhất nhận được sự trợ giúp
Trang 221.1.3 Sự cần thiết, điều kiện và giải pháp phát triển dịch vụ y tế
Theo tác giả Hoàng Thị Thu Hương và Đoàn Thị Xuân Mỹ: Việc gia nhập WTO sẽ tạo ra nhiều cơ hội tốt cho nền kinh tế Việt Nam nhưng đồng thời cũng đặt ra rất nhiều thách thức lớn lao - đó là cạnh tranh quốc tế - một cuộc cạnh tranh tuy công bằng nhưng vô cùng khốc liệt Ngành y tế Việt Nam nói chung và các tổ chức cung cấp dịch vụ y tế của Việt Nam không nằm ngoài cuộc cạnh tranh này Việc phát triển dịch vụ y tế tại Việt Nam là quy luật khách quan tất yếu Tuy nhiên, cung cấp dịch vụ y tế nói chung và đặc biệt là dịch vụ y tế chất lượng cao trong nền kinh tế thị trường là thỏa mãn nhu cầu của khách hàng vẫn là khái niệm mơ hồ đối với nhiều cơ sở cung cấp dịch vụ y tế tại Việt Nam, đặc biệt tại các cơ sở công lập Vấn đề mang tính thời đại là phải có những giải pháp cần thiết trong đạo tạo, nghiên cứu, quản
lý, đặc biệt là việc xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ y tế thì ngành y tế Việt Nam mới thực hiện tốt, hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân, tiến tới xuất khẩu dịch vụ y tế và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Theo tác giả Hoàng Thị Thu Hương, Đoàn Thị Xuân Mỹ, cơ sở vật chất
là điều kiện quan trọng đầu tiên quyết định hiệu quả, chất lượng, và phát triển dịch vụ y tế Tiếp đó là nhân lực y tế, đây được xem là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển y tế của mỗi quốc gia Nhân lực y tế có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống y tế, nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ sức khỏe cung cấp cho khách hàng Điều kiện cuối cùng cần cho phát triển dịch
vụ y tế là cơ chế tổ chức, điều hành và quản lý Trình độ quản lý, cơ chế điều hành, công tác tổ chức cán bộ có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển dịch vụ y tế nói riêng và các hoạt động kinh tế xã hội trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế nói chung
Trang 23Theo tác giả Nguyễn Thế Lương, năm 2002 trong luận văn: Nghiên cứu một số đặc điểm nhân khẩu học và nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế tại 3 tỉnh miền núi, đồng bằng và đô thị (Luận văn thạc sỹ y tế công cộng Trường đại học Y Hà Nội) thì việc chăm sóc sức khỏe có hiệu quả thì chăm sóc đó phải được dựa trên nhu cầu của con người Với đặc tính hay ốm đau người già có nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhiều hơn so với các nhóm đối tượng thuộc lứa tuổi trẻ Một nghiên cứu về tình hình sức khỏe của người già tại vùng nông thôn cho thấy tỷ lệ điều trị ở người già là 70,7 % trong khi đó tỷ lệ điều trị chung cho mọi lứa tuổi chỉ là 45 - 60 % Vì thế muốn phát triển dịch vụ y tế, những nhà hoạch định chính sách cần quan tâm đến những đối tượng này, tuy nhiên có nhiều lý do làm cản trở việc tiếp cận cơ sở y tế của người già Các cụ già khi ốm đau sử dụng dịch vụ y tế như sau: Tự điều trị 32 %, y tế tư nhân 39
%, trạm y tế 28,4 %, bệnh viện 22,8 %
Theo tác giả Đặng Thị Lệ Xuân, để phát triển dịch vụ y tế trong điều kiện như hiện nay cần cân bằng lại giữa khu vực công và tư, củng cố, hoàn thiện khu vực y tế công và thúc đẩy sự phát triển của y tế tư nhân Cả thị trường và nhà nước đều có những vai trò nhất định trong mọi lĩnh vực sản xuất, cung cấp dịch vụ, như hai bàn tay của một cơ thể Tuy nhiên, một thời gian dài nhà nước đã thực hiện bao cấp trong y tế mà vắng bóng thị trường Điều đó đã để lại nhiều hậu quả, đó là sự trì trệ trong các bệnh viện công, mọi người dân được khám chữa bệnh, được cấp thuốc không phải trả tiền nhưng ở mức dịch vụ thấp, là sự thiếu hụt nguồn lực nghiêm trọng phục vụ cho sự nghiệp y tế Xã hội hóa y tế là một cơ chế cho phép ngành y cần bằng lại giữa nhà nước và thị trường
Một trong những lý do cung cấp dịch vụ y tế gặp khó khăn trong phát triển là tình hình quá tải Theo các tác giả Lê Quang Cường, Trần Thị Mai Oanh, Khương Anh Tuấn, Dương Huy Lương và các cộng sự (2007) của Viện
Trang 24chiến lược và chính sách y tế cho biết: Trong những năm gần đây, quá tải bệnh viện đang là một trong những vấn đề bức xúc của ngành y tế Tình trạng này phổ biến nhất là tại các bệnh viện tuyến trung ương và bệnh viện nằm ở thành phố lớn Bệnh nhân bảo hiểm y tế (BHYT) có xu hướng đi KCB đúng tuyến cao gấp 3 lần bệnh nhân không có BHYT (46% so với 15%) Hệ thống phân tuyến kỹ thuật hoạt động thiếu hiệu quả, đặc biệt đối với chuyên ngành sản nhi và nhi khoa Tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương (TƯ), tỷ lệ bệnh nhân
đẻ thường và mổ đẻ chiếm tới 56%, trong đó đẻ thường chiếm 33% Đặc biệt khoảng 94% bệnh nhân tại Bệnh viện Nhi TƯ có thể được điều trị ngay tại tuyến dưới Người bệnh có xu hướng đến thẳng bệnh viện tuyến TƯ để điều trị kể cả người có và không có điều kiện kinh tế: 73,7% bệnh nhân Bệnh viện Bạch Mai đến thẳng bệnh viện mà chưa từng đi đâu để KCB, tại bệnh viện Phụ Sản và Từ Dũ thậm chí còn cao hơn 89% và 97% Giải pháp được đưa ra
là tăng cường công tác chỉ đạo tuyến, chuyển giao kỹ thuật, nâng cao năng lực khám chữa bệnh ở các bệnh viện tuyến dưới và phát triển các bệnh viện vệ tinh Xây dựng chính sách viện phí một cách hợp lý, đa dạng hóa loại hình dịch vụ y tế bệnh viện, đổi mới quản lý chất lượng bệnh viện, ưu tiên phát triển nguồn nhân lực y tế và tăng cường công tác đào tạo và đào tạo liên tục trong đó chú trọng đào tạo cán bộ chuyên sâu, chuyên gia đầu ngành và cán
bộ quản lý bệnh viện
Một trong những giải pháp đưa ra trong phát triển dịch vụ y tế là tạo điều kiện cho y tế ngoài công lập phát triển để đa dạng hóa các loại hình cung cấp dịch vụ y tế Theo tác giả Nguyễn Thị Hồng Minh trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng: Dịch vụ y tế tư nhân với những ưu thế vốn có của mình
đã có những đóng góp quan trọng trong việc cải thiện công tác khám chữa bệnh và nâng cao sức khỏe con người trong xã hội Khu vực kinh tế tư nhân tham gia vào lĩnh vực y tế đã góp phần huy động các nguồn lực cho phát triển
Trang 25y tế như: Nguồn vốn, nguồn nhân lực Y tế tư nhân góp phần tăng tính cạnh tranh trong thị trường dịch vụ y tế, góp phần đa dạng hóa sự lựa chọn của người tiêu dùng, giảm tải cho các bệnh viện công Bên cạnh đó y tế tư nhân cũng có những mặt tiêu cực là do tác động của các yếu tố như: Thông tin không đối xứng, độc quyền, đầu cơ tăng giá làm cho ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng
Theo tác giả Nguyễn Nguyệt Nga (1997), khi nguyên cứu về sự phát triển của khu vực y tế và cải cách kinh tế trong một nền kinh tế đang chuyển đổi đã đưa ra nhiều giải pháp trong phát triển dịch vụ y tế Trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến chính sách thu viện phí, chính sách bảo hiểm y tế và sự phát triển của khu vực y tế tư nhân và ảnh hưởng của nó đến việc sử dụng các dịch
vụ y tế và hoạt động của ngành y tế
Về các giải pháp phát triển dịch vụ y tế, tác giả Hoàng Thị Thu Hương cho rằng đầu tiên cần phải củng cố và phát triển mạng lưới y tế cơ sở nhằm nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu Đồng thời với việc phát triển mạng lưới y tế cơ sở, cần chú trọng phát triển dịch vụ y tế dự phòng, nâng cao sức khỏe nhân dân Hoàn thiện mạng lưới quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm
Để phát triển dịch y tế thì phát triển hệ thống khám chữa bệnh và phục hồi chức năng dựa trên quy hoạch, chuẩn hóa các phương tiện và kỹ thuật thường quy, sử dụng có hiệu quả và khai thác hết công suất các thiết bị trong chẩn đoán và điều trị Đa dạng hóa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bao gồm các cơ sở của nhà nước, y tế các ngành, cơ sở có vốn đấu từ nước ngoài, bán công và tư nhân Thống nhất quản lý về chuyên môn và nghiệp vụ của các cơ
sở y tế nói trên với hoạt động của hệ thống y tế quốc gia nói chung bao gồm
cả phòng bệnh và chữa bệnh
Trang 26Một giải pháp nữa được tác giả đưa ra là phát triển y dược học cổ truyền và phát triển công nghệ dược Nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu kết hợp, xác định những bệnh ưu tiên chữa bằng y học cổ truyền để hướng dẫn các cơ sở điều trị Phát triển vườn thuốc nam và các kỹ thuật không dùng thuốc như châm cứu, bấm huyệt, có chính sách cụ thể về tăng cường sử dụng thuốc YHCT Tiếp tục triển khai chính sách quốc gia về thuốc với các mục tiêu cơ bản là đảm bảo cung ứng thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng đến người dân, thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý Củng cố và kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về dược từ trung ương đến địa phương
Giải pháp cuối cùng là chính sách xã hội hóa công tác y tế: Đa dạng hóa các loại hình chăm sóc sức khỏe, tìm kiếm và khai thác các nguồn đầu tư khác nhau cho y tế như BHYT tự nguyện, viện trợ nước ngoài
1.2 Một số vấn đề lý luận về phát triển dịch vụ y tế
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại dịch vụ y tế
1.2.1.1 Khái niệm liên quan
Các khái niệm và thuật ngữ được sử dụng trong khuôn khổ của luận văn này được hiểu như sau:
- Khám bệnh: là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực
thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị cho phù hợp đã được cấp
có thẩm quyền cho phép hoặc đã được các nhà khoa học công nhận
- Chữa bệnh: là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã
được công nhận và thuốc, VTTH đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi sức khỏe cho người bệnh
- Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh: là cơ sở cố định hoặc lưu động đã
được cấp phép hoạt động về cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh
Trang 27- Cơ sở y, dược tư nhân: là cơ sở do cá nhân, hộ gia đình, doanh
nghiệp đăng ký kinh doanh và quản lý, điều hành
- Giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh: là số tiền phải trả cho mỗi dịch
vụ KCB
- Người bệnh: là những người có tình trạng bất thường về sức khoẻ
kéo dài từ một ngày trở lên (ví dụ như ho, sốt, tiêu chảy, đau viêm, chửa đẻ, tai nạn chấn thương, bệnh mạn tính…), tình trạng bất thường này do người được hỏi nhận thức trả lời hoặc do xác định của nhân viên y tế
- Sử dụng dịch vụ KCB: là những người khi có tình trạng sức khoẻ bất
thường hoặc khi có nhu cầu đến KCB, mua thuốc hay sử dụng bất cứ hình thức cung cấp dịch vụ KCB nào do các cơ sở y tế cung cấp
- Hàng hóa dịch vụ y tế: là tất cả những loại hình dịch vụ chăm sóc, tư
vấn liên quan đến sức khỏe của con người Các loại hình dịch vụ y tế phổ biến như: Dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, dịch vụ bảo hiểm y tế, y học dự phòng, dược, y học cổ truyền
- Chi phí khám, chữa bệnh: trong nghiên cứu này chi phí khám chữa
bệnh được hiểu bao gồm mọi chi phí cho việc KCB bao gồm tiền công khám bệnh, xét nghiệm, tiền thuốc, tiền giường, tiền phẫu thuật, thủ thuật, chi phí đi lại, ăn ở liên quan đến đợt khám chữa bệnh của người ốm
1.2.1.2 Đặc điểm của dịch vụ y tế
Dịch vụ y tế là một dịch vụ đặc biệt, về bản chất dịch vụ y tế bao gồm các hoạt động được thực hiện bởi nhân viên y tế như: khám, chữa bệnh, cung cấp dịch vụ phục vụ chăm sóc người bệnh và gia đình người bệnh
Chất lượng dịch vụ y tế bao gồm 2 thành phần: chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng Chất lượng kỹ thuật là sự chính xác trong kỹ thuật chẩn đoán và điều trị bệnh Chất lượng chức năng bao gồm các đặc tính như:
cơ sở vật chất, trang thiết bị của bệnh viện, giao tiếp với nhân viên y tế, cách
Trang 28thức tổ chức quy trình khám chữa bệnh mà người bệnh phải thực hiện, cách thức bệnh viện chăm sóc người bệnh
Dịch vụ y tế là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp dịch vụ và người bệnh, người nhà người bệnh (Khách hàng)
để đáp ứng một nhu cần nào đó của người tiêu dùng Dịch vụ y tế chỉ tồn tại khi tạo ra được niềm tin và uy tín đối với khách hàng Dịch vụ ngày càng phát triển và đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong mỗi quốc gia
Dịch vụ y tế là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng để đáp ứng nhu cầu về sức khỏe như: khám chữa bệnh, phòng bệnh, giáo dục sức khỏe, tư vấn sức khỏe do các cơ
sở y tế Nhà nước (Trạm y tế xã, Trung tâm y tế huyện/TP, các cơ sở y tế tuyến tỉnh và trung ương) và các cơ sở y tế tư nhân (Phòng khám, bệnh viện
tư, hiệu thuốc) cung cấp
Có quan niệm cho rằng dịch vụ y tế chính là hàng hóa song quan niệm
đó không được sử dụng vì thực tế dễ bị lợi dụng để biện minh cho hoạt động
y tế vì lợi nhuận, trái đạo đức của thầy thuốc Nhưng trên thực tế các dịch vụ
y tế vẫn mang nhiều tính chất của hàng hóa: có nhu cầu, có người cung cấp và
có người sử dụng thì phải trả tiền (Có thể người trả tiền là cá nhân, có thể là doanh nghiệp, nhà nước)
Trong cơ chế thị trường, nhà sản xuất để có lợi nhuận tối đa sẽ căn cứ vào nhu cầu và giá cả thị trường để quyết định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Thông qua cơ chế thị trường, các nguồn lực của nền kinh tế tự động phân bổ một cách tối ưu Tuy nhiên cơ chế thị trường thực hiện tốt được chức năng của mình, thị trường phải có môi trường cạnh tranh hoàn hảo, thông tin đầy đủ và không bị ảnh hưởng bởi các tác động ngoại ứng
Trang 29Đối với thị trường cung cấp dịch vụ y tế thì đây không phải là thị trường tự do Trong thị trường tự do, giá của một mặt hàng được xác định dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện giữa người mua và người bán Trong thị trường dịch vụ y tế không có sự thỏa thuận này, giá dịch vụ do người bán quyết định
Dịch vụ y tế là một ngành dịch vụ có điều kiện, tức là có sự hạn chế nhất định đối với sự gia nhập thị trường của các nhà cung ứng dịch vụ y tế
Cụ thể, muốn cung ứng dịch vụ y tế cần được cấp giấy phép hành nghề và cần đảm bảo những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất Nói một cách khác, trong thị trường sản xuất và cung cấp dịch vụ y tế không có sự cạnh tranh hoàn hảo
Bất đối xứng thông tin giữa bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch
vụ cũng là một đặc trưng của dịch vụ y tế Như đã trình bày ở trên, trên thực
tế, người bệnh hiểu biết rất ít về bệnh tật và các chỉ định điều trị, do vậy hầu như người bệnh hoàn toàn phải dựa vào các quyết định của thầy thuốc trong việc lựa chọn các dịch vụ y tế (Cầu do cung quyết định) Nếu vấn đề này không được kiểm soát tốt sẽ dẫn tới tình trạng lạm dụng dịch vụ từ phía cung ứng, đầy cao chi phí y tế
Dịch vụ y tế còn mang ảnh hưởng nhiều của các ngoại ứng tích cực và ngọa ứng tiêu cực Lợi ích không chỉ giới hạn ở những người trả tiền để hưởng dịch vụ mà kể cả những người không trả tiền (Ví dụ: các dịch vụ y tế
dự phòng, giáo dục sức khỏe) Chính điều này không tạo ra được động cơ lợi nhuận cho nhà sản xuất, làm việc cung ứng các dịch vụ đó thấp Lúc này, để đảm bảo đủ cung đáp ứng cho cầu cần có sự can thiệp hỗ trợ của Nhà nước trong cung ứng các dịch vụ y tế mang tính công cộng
Do tính chất đặc thù của dịch vụ y tế và thị trường dịch vụ y tế, nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe Nhà nước cần giữ vai trò cung ứng đối với các dịch vụ y tế
Trang 30"công cộng" và dịch vụ dành cho các đối tượng cần ưu tiên còn để tư nhân cung ứng các dịch vụ y tế tư Đồng thời với sự tạo điều kiện thuận lợi phát triển các loại hình dịch vụ y tế tư, vai trò quản lý của nhà nước rất cần thiết trong việc kiểm soát giá cả và chất lượng dịch vụ, tăng cường thông tin, thẩm định điều kiện hành nghề như đã nêu ở trên Công cụ hữu hiệu nhất trong kiểm soát giá cả và dịch vụ cung ứng chính là phương thức chi trả phù hợp Kinh nghiệm quốc tế đã cho thấy rất khó kiểm soát các yếu tố thất bại thị trường trong thị trường bảo hiểm y tế tư nhân Mục tiêu bao phủ bảo hiểm y
tế và tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản cho mọi người dân chỉ có thể đạt được thông qua con đường bảo hiểm y tế toàn dân với sự hỗ trợ của nhà nước cho các đối tượng như người nghèo, cận nghèo, dân tộc thiểu số, người già và sự tham gia tự giác của cộng đồng
Dịch vụ y tế là một ngành dịch vụ trong đó người cung ứng và người sử dụng quan hệ với nhau thông qua giá dịch vụ
Cũng như các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ y tế có đặc điểm sau:
- Tính chất vô hình của dịch vụ: Dịch vụ y tế xuất hiện đa dạng nhưng không tồn tại ở một mô hình, hữu hình cụ thể như đối với sản xuất hàng hóa
- Tính chất đúng thời điểm và không thể dự trữ, không thỏa mãn hai điều kiện này dịch vụ y tế trở nên không có giá trị
- Do phụ thuộc quá nhiều yếu tố: Không gian, thời gian, trạng thái tâm
lý, hoàn cảnh của các bên tham gia nên chất lượng dịch vụ y tế mang tính chất không đồng đều Do tính chất không thể dự trữ và không đồng đều nên gặp khó khăn trong việc tiêu chuẩn hóa dịch vụ Tuy nhiên vẫn có thể xác định được một mức độ phục vụ nhất định nào đó
- Dịch vụ y tế không thể tồn tại độc lập mà gắn liền với người tạo dịch
vụ và các trang thiết bị y tế Khác với hàng hóa, dịch vụ y tế là sự gắn chặt song hành giữa dịch vụ với người tạo ra dịch vụ Chính từ sự yêu cầu của
Trang 31người sử dụng dịch vụ mà dịch vụ y tế hình thành và quá trình tạo ra dịch vụ cũng chính là quá trình tiêu dùng dịch vụ Đó là sự ảnh hưởng mật thiết của người tiêu dùng tới sự tồn tại của dịch vụ
Tuy nhiên, không giống các loại dịch vụ khác, dịch vụ y tế có một
số đặc điểm riêng, đó là:
- Tính không thể đoán trước được: Tính không dự đoán rất phổ biến trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe, nghĩa là con người không thể chủ động quyết định thời gian mắc bệnh của mình Mỗi người đều có nguy cơ mắc bệnh
và nhu cầu chăm sóc sức khỏe ở các mức độ khác nhau Chính vì không dự đoán được thời điểm mắc bệnh nên thường người ta gặp khó khăn trong chi trả các chi phí y tế không lường trước được
- Tri thức không đối xứng: Thể hiện trong mối quan hệ đàm phán giữa người bệnh và thầy thuốc Thầy thuốc thường có nhiều tri thức, thông tin về chẩn đoán về điều trị so với người bệnh Dịch vụ y tế là loại hàng hóa mà người sử dụng (Người bệnh) thường không tự mình lựa chọn được mà chủ yếu do bên cung ứng (cơ sở y tế) quyết định Nói một cách khác, ngược lại với thông lệ "Cầu quyết định cung" trong dịch vụ y tế "Cung quyết định cầu"
Cụ thể, người bệnh có nhu cầu khám chữa bệnh nhưng điều trị bằng phương pháp nào, thời gian bao lâu lại do bác sỹ, người cung cấp dịch vụ quyết định Như vậy, người bệnh chỉ có thể lựa chọn nơi điều trị, ở một chừng mực nào
đó, bác sỹ điều trị chứ không được chủ động lựa chọn phương pháp điều trị
- Tính ngoại ứng: Được dùng để chỉ những tác động gây ra bởi người
sử dụng dịch vụ hàng hóa y tế đối với những người không sử dụng dịch vụ hàng hóa này Những ngoại ứng gây ra tác động có hại thì gọi là ngoại ứng tiêu cực, những ngoại ứng gây ra tác động có lợi thì gọi là ngoại ứng tích cực Dịch vụ y tế là loại hàng hóa gắn liền với sức khỏe, tính mạng con người nên không giống các nhu cầu khác, khi bị ốm, mặc dù không có tiền nhưng người
Trang 32ta vẫn phải mua (khám chữa bệnh) đây là đặc điểm đặc biệt riêng có của dịch
vụ y tế không giống các loại hàng hóa khác
- Dịch vụ y tế nhiều khi không bình đẳng trong mối quan hệ, đặc biệt trong tình trạng cấp cứu: Không thể chờ đợi được và chấp nhận dịch vụ bằng mọi giá
- Dịch vụ y tế luôn có rào cản gia nhập ngành: Dịch vụ y tế là một ngành dịch vụ có điều kiện, tức là có sự hạn chế nhất định đối với sự gia nhập thị trường của các nhà cung ứng dịch vụ y tế, cụ thể: Nguồn vốn, mặt bằng, trang thiết bị Bên cung cấp dịch vụ có thể là một tổ chức hay cũng có thể
là một cá nhân Để được là bên cung cấp dịch vụ y tế thì phải có giấy phép hành nghề theo quy định của nhà nước
1.2.1.3 Phân loại dịch vụ y tế
a Phân loại theo đối tượng phục vụ
Có ba loại dịch vụ y tế: Dịch vụ y tế công cộng (pubic good), dịch vụ y
tế cho các đối tượng cần chăm sóc ưu tiên (merit good) và dịch vụ y tế cá nhân (private good)
- Dịch vụ y tế công cộng: là các dịch vụ mà lợi ích của những dịch vụ này không chỉ giới hạn ở việc cung ứng trực tiếp (dịch vụ khám chữa bệnh) cho người sử dụng mà còn cung ứng gián tiếp cho cộng đồng như các dịch vụ phòng bệnh, giáo dục y tế
- Dịch vụ y tế cho các đối tượng cần chăm sóc ưu tiên: sẽ được dành cho một số đối tượng đặc biệt như người nghèo, người già, bà mẹ - trẻ em, người có công với cách mạng
- Dịch vụ y tế cá nhân: là các dịch vụ y tế chỉ cung ứng trực tiếp cho người sử dụng dịch vụ
b Phân loại theo phân tuyến kỹ thuật và danh mục kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh
Trang 33Danh mục kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh là những dịch vụ y tế
mà các cơ sở y tế đăng ký với nhà nước được cung cấp tại đơn vị mình Danh mục kỹ thuật trong khám chữa bệnh được sắp xếp theo chuyên khoa, chuyên ngành như: Dịch vụ ngoại khoa, chấn thương, nội, sản, nhi
Phân tuyến kỹ thuật là những quy định của cơ quan nhà nước trong phạm vi chuyên môn kỹ thuật cho các tuyến từ tuyến xã, huyện, tỉnh đến Trung ương Phân tuyến kỹ thuật và danh mục kỹ thuật trong khám chữa bệnh thực hiện theo thông tư số 43/2013/TT-BYT ngày 11/12/2013 quy định chi tiết phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Theo tiêu thức này dịch vụ y tế bao gồm các hoạt động sau:
- Hoạt động y tế dự phòng (Bao gồm cả lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm)
- Hoạt động khám chữa bệnh, phục hồi chức năng
- Hoạt động khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền
- Hoạt động sản xuất, kiểm nghiệm và phân phối thuốc
c Phân loại dịch vụ y tế theo tiêu thức của WHO
- Các dịch vụ nha khoa và y tế: Các dịch vụ chủ yếu nhằm mục đích dự phòng, chẩn đoán và chữa bệnh qua tham vấn với các bệnh nhân mà không có chăm sóc tại bệnh viện
- Các dịch vụ do hộ sinh, điều dưỡng, vật lý trị liệu mà nhân viên kỹ thuật y tế cung cấp: Các dịch vụ như giám sát trong thai kỳ và sinh con chăm sóc (không nhập viện), tư vấn và dự phòng cho người bệnh tại gia
- Các dịch vụ bệnh viện: Các dịch vụ được cung cấp theo chỉ dẫn của bác sỹ chủ yếu đối với các bệnh nhân nội trú nhằm mục đích chữa trị, phục hồi và/hoặc duy trì tình trạng sức khỏe
Trang 34- Các dịch vụ y tế con người khác: Các dịch vụ ngoại trú; Các dịch vụ y
tế kèm nơi ở thay vì các dịch vụ bệnh viện
1.2.2 Quản lý nhà nước về dịch vụ y tế
1.2.2.1 Tổ chức mạng lưới cung cấp dịch vụ y tế
Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết các hoạt động dịch vụ y tế để đạt được tính công bằng và tính hiệu quả trong nền kinh tế xã hội Các chính sách của nhà nước nhằm đảm bảo kiểm soát các dịch bệnh lây lan, khuyến khích sự phát triển của khoa học Bảo vệ người tiêu dùng tránh mua phải những dịch vụ không cần thiết, chất lượng kém hoặc chi phí cao
Sức khỏe tốt đang ngày càng được xem như một quyền cơ bản của con người trong xã hội Đảm bảo sức khỏe tốt cho mọi người là việc rất cần thiết của Chính phủ Hiện nay ở Việt Nam đang lấy dịch vụ y tế nhà nước làm chủ đạo và phát triển từng bước hợp lý dịch vụ y tế tư nhân Nhà nước nắm trong tay nguồn nhân lực y tế, đặc biệt là y tế cơ sở tuyến huyện, tuyến xã và thôn bản Nhà nước lấy nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) làm nguồn tài chính chủ yếu cho y tế, để chủ động điều chỉnh kinh phí cho vùng nghèo và các đối tượng nghèo cũng như các đối tượng hưởng chính sách (Những người có công với nước), thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe và giải quyết những việc bức bách, cấp thiết của các dịch vụ hoặc những hậu quả do thiên tai, thảm họa gây ra
Tuy lấy dịch vụ y tế nhà nước là chủ đạo nhưng hiện nay chúng ta vẫn kết hợp phát triển từng bước hợp lý dịch vụ y tế tư nhân vì dịch vụ y tế nhà nước tuy có các ưu điểm, nhưng cũng có nhược điểm ở chỗ thiếu tính cạnh tranh Trong hoàn cảnh nền kinh tế nước ta hiện nay, nguồn NSNN có hạn và tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa cao, sự phát triển không đồng đều giữa nông thôn và thành thị, giữa đồng bằng và miền núi, có bộ phận dân cư giàu lên nhưng đại bộ phận vẫn ở mức nghèo, vì vậy việc huy động tài chính từ một bộ
Trang 35phận dân cư giàu lên để đỡ một phần gánh nặng NSNN, đó là việc làm cần thiết
Xã hội hóa y tế là một chiến lược quan trọng nhưng muốn đảm bảo được sự công bằng theo định hướng XHCN thì không thể lấy việc giải quyết khó khăn của nguồn NSNN cung cấp cho ngành y tế và làm giảm gánh nặng cho NSNN là mục đích đầu tiên của XHH, mà phải lấy việc giải quyết nhu cầu của công tác CSSK trong khi nền y tế công chưa thể thỏa mãn được nhu cầu này làm mục đích chính
Trong chính sách xã hội hóa y tế cần phân khúc thị trường và tách bạch giữa hai lĩnh vực y tế công lập và y tế ngoài công lập Nhà nước nên định hướng tập trung nguồn lực vào lĩnh vực y tế công cộng như: chăm sóc sức khỏe cho người nghèo, vùng sâu vùng xa, phòng, chống dịch bệnh, thiên tai, y học dự phòng đối với lĩnh vực y tế công lập Lĩnh vực còn lại có thể tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa y tế công lập và y tế ngoài công lập để làm động lực cho phát triển
Hệ thống y tế tư nhân ở Việt Nam bao gồm các phòng khám, bệnh viện của tư nhân, các hiệu thuốc tư nhân hoạt động chủ yếu vì lợi nhuận nên hầu hết đều tập trung cấp các dịch vụ KCB ngoại trú và một số dịch vụ chẩn đoán, thăm dò chức năng
1.2.2.2 Đánh giá hoạt động cung cấp dịch vụ y tế
Với một nguồn lực nhất định, chúng ta đều muốn đạt được nhiều lợi ích hơn khi sử dụng nó Trong thực tế nguồn lực luôn hạn hẹp, do vậy phải lựa chọn biện pháp tốt nhất để sử dụng Để đạt được mục tiêu của mình, các cơ sở
y tế và cả cơ quan quản lý nhà nước về y tế đều phải đối mặt với sự lựa chọn
để tìm ra những giải pháp tốt nhất cho việc sử dụng các nguồn lực Bất kể quốc gia nào, nguồn lực dành cho y tế luôn hạn hẹp và luôn phải cạnh tranh với lĩnh vực khác
Trang 36Kiểm tra và đánh giá hoạt động cung cấp dịch vụ y tế là vấn đề không thể thiếu trong hoạt động dịch vụ y tế, song các phương pháp kiểm tra và đánh giá cũng sẽ gặp khó khăn vì dịch vụ y tế là hàng hóa có nhiều đặc điểm khác biệt với hàng hóa thông thường
Các phương pháp đánh giá kinh tế không phải là phương tiện thay thế quá trình ra quyết định Đánh giá hoạt động cung cấp dịch vụ y tế chỉ là một trong những phương tiện có sẵn và có ích làm cho sự lựa chọn trở nên rõ ràng hơn, tạo cho chúng ta khả năng sử dụng tốt nhất nguồn lực khan hiếm
Để kiểm tra và đánh giá hoạt động cung cấp dịch vụ y tế, những câu hỏi chung thường được đặt ra và cần trả lời:
- Với các nguồn lực đang sử dụng thì dịch vụ y tế và chương trình y tế đang được thực hiện có giá trị hơn là các chương trình khác mà chúng ta đã
Các phương pháp đánh giá dịch vụ y tế:
- Phân tích giảm thiểu chi phí (Cost Minimization Anlysisa-CMA): dựa trên các phát triển dịch tễ học, kỹ thuật này dùng để xác định các chi phí can thiệp nhỏ nhất
- Phân tích chi phí hiệu quả (Cost Effectiveness Analysis-CEA): Phát hiện phương pháp tốt nhất để hoàn thành một mục tiêu đơn bằng cách so sánh chi phí với hiệu quả
- Phân tích chi phí lợi ích (Cost Bebefit Analysis-CBA): Đó là việc định giá cả chi phí và lợi ích thành tiền, so sánh chúng, lượng giá xem đề án,
Trang 37chương trình có phải là điều mong muốn không, qua cách sử dụng các tiêu chuẩn để ra quyết định: Nếu tỷ số Lợi ích/Chi phí > 1 là khả thi
- Phân tích chi phí hữu dụng (Cost Unitity Analysis-CUA): là một dạng của CEA nhưng nó đo lường hiệu quả của một dự án, chương trình bằng tính hữu dụng, có thể hướng vào việc tối thiểu hóa chi phí hoặc tối đa hóa hiệu quả
1.2.2.3 Yếu tố ảnh hưởng đến định hướng phát triển dịch vụ y tế:
- Các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế - xã hội bao gồm: Quy mô và tốc
độ gia tăng dân số, cân bằng giới tính, cơ cấu tuổi tác và tử vong, chất lượng dân số, tỷ lệ phụ nữ và trẻ em trong cơ cấu dân số, vấn đề địa lý và di cư
Kinh tế phát triển và ổn định là điều kiện để tăng đầu tư cho chăm sóc sức khỏe Theo quy luật chung, khi kinh tế càng phát triển thì tỷ lệ đầu tư cho
y tế cũng tăng lên Yếu tố kinh tế xã hội ở đây chính là việc làm, vấn đề đói nghèo, giáo dục đào tạo
- Các yếu tố nguy cơ gánh nặng bệnh tật: Các yếu tố thuộc các nhóm môi trường như ô nhiễm môi trường, rác thải, biến đổi khí hậu, thiên tai Yếu tố về lối sống như hút thuốc lá, sử dụng rượu bia, ma túy Yếu tố về dinh dưỡng/chế độ ăn như: dinh dưỡng của trẻ em, chế độ ăn, an toàn thực phẩm Ngoài ra còn các yếu tố khác cũng cần phải quan tâm đó là: hoạt động thể lực sinh lý, nghề nghiệp và bạo lực Đó chính là các yếu tố cần phải xem xét để xây dựng kế hoạch định hướng cho phát triển dịch vụ y tế
- Các yếu tố liên quan đến tiếp cận dịch vụ y tế: Mạng lưới cung cấp dịch vụ y tế phù hợp với điều kiện vùng miền, địa lý là quan trọng nhất Vị trí địa lý của các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế, giao thông giữa các vùng miền sẽ ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân địa phương
Trang 381.2.3 Điều kiện cơ bản để phát triển dịch vụ y tế
1.2.3.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật là điều kiện quan trọng nhất quyết định đến hiệu quả, chất lượng khám, phòng và chữa bệnh
Đầu tiên là vấn đề đầu tư cho lĩnh vực y tế, bao gồm các nguồn đầu tư
từ ngân sách cho các chương trình mục tiêu y tế quốc gia và phân bổ ngân sách cho hoạt động y tế Việc thực hiện cơ chế chính sách tài chính đối với các cơ sở y tế theo hướng tự chủ về tài chính cũng là hình thức tạo điều kiện cho việc đầu tư từ xã hội cho phát triển dịch vụ y tế
Tiếp theo là vận hành trang thiết bị y tế và khai thác hiệu quả các trang thiết bị hiện có Các trang thiết bị cần được vận hành hết tính năng, công suất mang lại hiệu quả trong cung cấp dịch vụ y tế cho người dân
1.2.3.2 Nhân lực y tế
Nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất đối với mỗi quốc gia, trong lĩnh vực y tế con người là nhân tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển Việc phân bố nhân lực phù hợp giữa các vùng miền theo nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân là hết sức quan trọng để phát huy hết tiềm năng của nguồn nhân lực y tế (Nguồn nhân lực đặc biệt)
1.2.3.3 Cơ chế tổ chức, điều hành và quản lý
Trình độ quản lý, cơ chế điều hành và tổ chức nguồn nhân lực có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của dịch vụ y tế trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay Hệ thống tổ chức ngành y tế cần được tổ chức hợp lý để đạt được hiệu quả cao nhất theo hướng tinh giảm đầu mối, cần quan tâm đến mạng lưới tổ chức trong lĩnh vực y tế dự phòng, đào tạo nhân lực y tế
1.2.4 Nội dung và tiêu chí đánh giá sự phát triển dịch vụ y tế
1.2.4.1 Nội dung phát triển dịch vụ y tế
Trang 39Phát triển dịch vụ y tế được hiểu là sự gia tăng quy mô các dịch vụ KCB theo hướng hiện đại với cơ cấu hợp lý được cung ứng bởi các cơ sở y tế nhằm đáp ứng nhu cầu KCB của bộ phận dân cư trong xã hội
- Quy mô hệ thống cung cấp dịch vụ y tế: Phát triển quy mô các cơ sở dịch vụ y tế là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển dịch vụ y tế Quy mô phát triển dịch vụ y tế phải có sự gia tăng về số lượng các cơ sở y tế, về lao động, về doanh thu và năng suất lao động, số lượng người bệnh đã được KCB tại các cơ sở y tế
- Mạng lưới các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh: Thể hiện ở loại hình dịch
vụ cung ứng như bệnh viện đa khoa, chuyên khoa, bệnh viện tư, phòng khám
đa khoa, chuyên khoa và cơ cấu phân bổ theo khu vực địa lý; các cơ cấu này nhằm đánh giá mức độ thỏa mãn của người dân trong nhu cầu KCB, đánh giá sự phân bố phù hợp của dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh, đánh giá khả năng
1.2.4.2 Tiêu chí đánh giá sự phát triển dịch vụ y tế
Có nhiều nghiên cứu của các tác giả bàn về phát triển dịch vụ y tế nhưng trong những nghiên cứu đó chưa có nghiên cứu nào chính thức đưa ra những tiêu chí cơ bản để đánh giá kết quả phát triển dịch vụ y tế của một địa phương
Các tác giả chủ yếu đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ y tế ở địa phương dựa trên những yếu tố tác động đến phát triển dịch vụ y tế như: nhân
Trang 40lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị, hiện trạng về hệ thống xử lý chất thải y tế, trang thiết bị y tế, ngân sách tài chính đầu tư trong lĩnh vực y tế Thực trạng được nhóm theo phân loại: dịch vụ tế dự phòng, dịch vụ khám chữa bệnh và phục hồi chức năng, mạng lưới sản xuất, kiểm nghiệm và phân phối thuốc trong đó có đưa ra kết quả thực hiện công tác khám chữa bệnh, kết quả khám chữa bệnh y học cổ truyền (YHCT), giá trị sản xuất và kinh doanh thuốc của các công ty dược
Về góc độ quản lý nhà nước về y tế, BYT tế đã ban hành thông tư 06/2014/TT-BYT ngày 14/2/2014 về danh mục hệ thống chỉ số thống kê cơ bản ngành y tế và thông tư số 32/2014/TT-BYT ngày 30/9/2014 về việc ban hành danh mục chỉ tiêu thống kế cơ bản áp dụng cho tuyến tỉnh, huyện và xã Nhiều nghiên cứu của viện chiến lược và chính sách y tế của BYT liên quan đến tài chính y tế, bảo hiểm y tế, chiến lược phát triển y tế, chính sách về y tế cho người nghèo, cơ sở y tế tư nhân các nghiên cứu đó đã đưa ra rất nhiều tiêu chí để đánh giá trong lĩnh vực y tế nhưng không chỉ ra rõ tiêu chí nào là tiêu chí để đánh giá việc phát triển dịch vụ y tế Tuy nhiên những nghiên cứu
và những văn bản trên là cơ sở rất quan trọng để tác giả lựa chọn những tiêu chí trọng tâm làm cơ sở lượng giá sự phát triển dịch vụ y tế tại địa phương
Theo tác giả Hoàng Thị Thu Hương, tăng trưởng trong lĩnh vực y tế về
cơ bản chỉ là sự gia tăng thuần túy về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: Viện phí, công suất sử dụng giường bệnh thì phát triển dịch vụ y tế ngoài việc bao hàm quá trình gia tăng đó, còn có nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là biến đổi về mặt chất của ngành y tế, mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ thể hiện ở hàng loạt tiêu chí như: Tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật vào phát triển kinh tế - xã