ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ---o0o--- CHU HỒNG DƯƠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐỂ XÂY DỰNG CÁC KHU ĐÔ THỊ VÀ KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
CHU HỒNG DƯƠNG
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐỂ XÂY DỰNG CÁC KHU ĐÔ THỊ VÀ KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
CHU HỒNG DƯƠNG
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐỂ XÂY DỰNG CÁC KHU ĐÔ THỊ VÀ KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Hà Nội - 2015
Trang 3CAM KẾT
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Phạm Quang Vinh đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu này Tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành tới UBND huyện Văn Giang, Ban GPMB, các Phòng, Ban của huyện Văn Giang – tỉnh Hưng Yên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có được những thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu
Trang 5TÓM TẮT Tên luận văn: Giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây
dựng các khu đô thị và khu công nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên
Tác giả: Chu Hồng Dương
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Bảo vệ năm: 2015
Giáo viên hướng dẫn: TS Phạm Quang Vinh
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
*Mục đích:
Luận văn nhằm làm rõ những cơ sở lý luận và đánh giá một cách đúng đắn thực trạng giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu đô thị và khu công nghiệp ở huyện Văn Giang, đề xuất các giải pháp có căn
cứ và có tính khả thi nhằm giải quyết một cách căn bản việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp, đô thị trên địa bàn huyện những năm tới
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về công tác thu hồi đất nông nghiệp và các chính sách của nhà nước về công tác giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp và đô thị trên địa bàn huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về việc làm nói chung, việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp nói riêng trên địa bàn huyện Văn Giang
- Đánh giá đúng thực trạng thu hồi đất nông nghiệp và việc làm của lao động
bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp và khu đô thị
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp có căn cứ để tiếp tục giải quyết việc làm, ổn định cuộc sống cho lao động tại các địa phương đã, đang và sẽ thu hồi đất
để xây dựng các khu công nghiệp và đô thị trong những năm tới
Trang 6Những đóng góp mới của luận văn:
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện giải pháp giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng khu đô thị và công nghiệp một cách hệ thống, đầy đủ cả về lý luận, đánh giá thực trạng, giải pháp giải quyết việc làm cho lao động bị mất đất
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà nước về công tác Giải phóng mặt bằng, thu hồi đất nông nghiệp và giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
Trang 7MỤC LỤC
Danh sách các từ viết tắt xviii
Danh sách bảng xix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp 4
1.1.1 Việc làm và vai trò của việc làm 4
1.1.2 Phát triển các Khu công nghiệp, đô thị và vấn đề giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp 7
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới giải quyết việc làm cho người lao động 15
1.1.4 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp bị thu hồi đất nông nghiệp của một số nước trên thế giới 20
1.1.5 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp bị thu hồi đất của một số địa phương trong nước 23
1.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 24
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 28
2.1 Phương pháp luận 28
2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 28
2.2.1 Phương pháp phân tích 28
2.2.2 Phương pháp tổng hợp 29
2.2.3 Phương pháp so sánh 30
2.2.4 Phương pháp thống kê mô tả và nghiên cứu tài liệu 30
2.3 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu 31
2.4 Các bước thực hiện và thu thập số liệu 31
2.5 Các công cụ được sử dụng 32
Trang 8CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĂN GIANG – HƯNG YÊN 33 3.1 Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp và thực hiện chính sách đền bù cho người lao động khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Văn Giang 33
3.1.1 Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp của huyện Văn Giang để làm Khu công nghiệp và Khu đô thị 33 3.1.2 Chủ trương chính sách của huyện Văn Giang về đền bù, hỗ trợ cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp 34 3.1.3 Thực trạng thực hiện chính sách đền bù cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp xây dựng các Khu công nghiệp ở huyện Văn Giang 38
3.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho
lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Văn Giang 41
3.2.1 Đặc điểm tự nhiên 41 3.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 44 3.2.3 Những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Văn Giang 49
3.3 Nhu cầu việc làm và thực trạng giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp huyện Văn Giang 51
3.3.1 Nhu cầu việc làm của lao động sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp 51 3.3.2 Chủ trương của huyện Văn Giang giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp 54 3.3.3 Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp của huyện Văn Giang 59
3.4 Đánh giá về thực trạng giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang thời gian qua 67
3.4.1 Kết quả đạt được 67 3.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 70
Trang 9CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VĂN GIANG – HƯNG YÊN 76
4.1 Các căn cứ chủ yếu xác định phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang – Hưng Yên 76
4.2 Phương hướng giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang – Hưng Yên 76
4.2.1 Chuyển đổi cơ cấu kinh tế trên cơ sở phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động, đặc biệt là lao động phổ thông và không đòi hỏi chuyên môn cao 77
4.2.2 Nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động 78
4.2.3 Huy động mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế để giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp 79
4.2.4 Nâng cao vai trò của các cơ quan chức năng trong công tác giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp 80
4.3 Các giải pháp chủ yếu giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang 80
4.3.1 Tăng cường chỉ đạo công tác quy hoạch kinh tế, xã hội và đất đai 80
4.3.2 Tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo nghề 81
4.3.3 Đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn lao động nông nghiệp 84
4.3.4 Khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, dịch vụ 86
4.3.5 Thực hiện các chính sách thu hút đầu tư, đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp có vòng quay ngắn nhằm tăng cầu về lao động 88
4.3.6 Tạo điều kiện để người dân được góp vốn vào các dự án bằng giá trị đất bị thu hồi 90
4.3.7 Tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu lao động 91
KẾT LUẬN 94
Tài liệu tham khảo 96
Trang 10DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 11DANH SÁCH BẢNG
1 Bảng 3.1 Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi thời kỳ 2011 -
Bảng giá đất nông nghiệp theo quyết định số 21/2014/QĐ-UBND ngày 26/12/2014 về quy định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên năm 2014
37
3 Bảng 3.3 Diện tích, cơ cấu các loại đất đất của huyện Văn Giang
4 Bảng 3.4 Diện tích các loại đất nông nghiệp của huyện Văn
5 Bảng 3.5 Giá trị sản xuất các ngành của huyện Văn Giang
9 Bảng 3.9 Cơ cấu độ tuổi và trình độ văn hoá lao động huyện
10 Bảng 3.10 Diện tích và số hộ bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa
11 Bảng 3.11 Số người trong độ tuổi lao động bị thu hồi đất nông
Trang 1213 Bảng 3.13 Danh mục nghề đào tào và thời gian đào tạo 54
16 Bảng 3.16 Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật của
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài :
Mục tiêu CNH-HĐH, thực hiện mô hình nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng nhân tố con người, coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển Để thực hiện mục tiêu phát triển vì con người, do con người thì trước hết phải tạo ra môi trường sản xuất kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế tạo nhiều việc làm tăng thu nhập Khi phát triển các khu công nghiệp và đô thị sẽ được đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế, tạo nhiều việc làm và cải thiện đời sống nhân dân Nhưng trong thực tế thực hiện thì lại không hoàn toàn như vậy, những nông dân bị thu hồi đất bị phục vụ phát triển khu công nghiệp, đô thị hoá lại thiếu việc làm, đời sống giảm sút, nhiều vấn đề về xã hội, môi trường tác động tiêu cực đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Do vậy càng phát triển các khu công nghiệp và đô thị thì áp lực cho việc làm, đời sống cho nông dân ngày càng tăng
Sự nghiệp CNH - HĐH đang được đẩy mạnh ở Văn Giang Đã có 87 dự án được chấp thuận đầu tư kinh doanh, sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ và
đô thị trên địa bàn huyện Gắn liền với quá trình đô thị hóa, công nghiệp hoá đang diễn ra khá mạnh mẽ là việc thu hồi đất, mà chủ yếu là đất nông nghiệp để phát triển các khu đô thị và các khu công nghiệp Quá trình xây dựng các khu đô thị và khu công nghiệp đã và đang kéo theo hàng loạt những khó khăn trong việc giải quyết việc làm cho người lao động nông nghiệp bị mất đất Vấn đề này nếu không được giải quyết một cách thấu đáo sẽ không chỉ ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả của các công trình, mà sâu sa hơn nó còn tiềm tàng những bất ổn cho xã hội
Để đánh giá được thực trạng thu hồi đất và ảnh hưởng của nó tới việc làm của lao động bị thu hồi đất nông nghiệp, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang, tôi
đã triển khai nghiên cứu đề tài: “Giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất
nông nghiệp để xây dựng các khu đô thị và khu công nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên” làm đề tài luận văn thạc sỹ khoa học kinh tế
Trang 142 Mục tiêu nghiên cứu:
- Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá một cách đúng đắn thực trạng giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu đô thị và khu công nghiệp ở huyện Văn Giang, đề xuất các giải pháp có căn cứ và có tính khả thi nhằm giải quyết một cách căn bản việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp, đô thị trên địa bàn huyện những năm tới
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về việc làm nói chung, việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp nói riêng trên địa bàn huyện Văn Giang
- Đánh giá đúng thực trạng thu hồi đất nông nghiệp và việc làm của lao động
bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp và khu đô thị
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp có căn cứ để tiếp tục giải quyết việc làm, ổn định cuộc sống cho lao động tại các địa phương đã, đang và sẽ thu hồi đất
để xây dựng các khu công nghiệp và đô thị trong những năm tới
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu đô thị
và khu công nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên còn có những vấn đề
gì bất cập và tồn tại? Nguyên nhân dẫn đến các bất cập và tồn tại đó
- Các chính sách giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu đô thị và khu công nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên còn có gì chưa phù hợp, chưa đồng bộ?
- Những nhân tố nào ảnh hưởng tới giải quyết việc làm cho người lao động
- Phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu đô thị và khu công nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng việc làm và những giải pháp cơ bản giải quyết việc làm cho lao động có đất nông nghiệp bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, đô thị trong quá trình công nghiệp hoá trên địa bàn huyện Văn Giang - Hưng Yên
Trang 15Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn như sau:
- Về phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng việc làm của lao động có đất nông nghiệp bị thu hồi trên địa bàn huyện Văn Giang - Hưng Yên
- Phạm vi về nội dung: đề tài tập trung chủ yếu nghiên cứu những biện pháp đã
và đang được thực hiện để giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp cũng như tiềm năng và điều kiện để giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp bị thu hồi đất
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, hình vẽ, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm 4 chương :
- Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan tài liệu nghiên cứu
- Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng và giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất
nông nghiệp ở huyện Văn Giang – Hưng Yên
- Chương 4: Phương hướng và giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho lao động bị
thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang – Hưng Yên
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
1.1.1 Việc làm và vai trò của việc làm
1.1.1.1 Khái niệm
Điều 9, Chương II, Bộ Luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam có ghi rõ:
“Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”
Theo khái niệm trên một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện:
- Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và
cho các thành viên trong gia đình Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm
- Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm Điều này chỉ rõ tính pháp
lý của việc làm
Các hoạt động lao động được xác định là việc làm bao gồm:
- Tất cả các hoạt động tạo ra của cải vật chất hay tinh thần, không bị pháp luật cấm, được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật
- Những công việc tự làm để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc thu nhập cho gia đình mình, nhưng không được trả công (bằng tiền hoặc hiện vật) cho công việc đó Đó
có thể là các công việc trong các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc sở hữu tư nhân của gia đình, các công việc nội trợ, chăm sóc con cái, đều được coi là việc làm
Trong nền kinh tế, người có sức lao động nói chung luôn có nhu cầu việc làm
để tạo nguồn thu nhập, đảm bảo cuộc sống Người có việc làm là những người từ đủ
15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế đang làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiền hay hiện vật hoặc đang làm công việc không được hưởng tiền lương, tiền công hay lợi nhuận trong các công việc sản xuất kinh doanh, công việc nội trợ, chăm sóc con cái của hộ gia đình Khái niệm người
có việc làm còn bao gồm những người có sức lao động, có việc làm nhưng chưa chấp nhận làm việc, hoặc chưa sẵn sàng làm việc, thậm chí không chịu làm việc
Trang 17Trên thực tế, do phân biệt người có việc làm không chịu làm việc và người không
có việc làm thực sự có những khó khăn nên những đối tượng này được liệt kê vào những người không có việc làm Cách thức này tuy có tiện về thống kê, nhưng không phản ánh chính xác thực tiễn
Trong số người có việc làm, căn cứ vào số giờ thực tế làm việc và nhu cầu làm thêm của người được coi là có việc làm, người ta lại chia ra thành người đủ việc làm và người thiếu việc làm
Điều 104, mục I, chương VII, Bộ Luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam có quy định: “Thời giờ làm việc không quá 8 giờ trong một ngày hoặc 48 giờ trong một tuần Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần, nhưng phải thông báo trước cho người lao động biết Thời giờ làm việc hàng ngày được rút ngắn từ một đến hai giờ đối với những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành.”
Theo đó, người đủ việc làm gồm những người làm việc đủ thời gian quy định
là có số giờ làm việc trong tuần lễ lớn hơn hoặc bằng 48 giờ; hoặc những người có
số giờ nhỏ hơn 48, nhưng không có nhu cầu làm thêm; hoặc những người có số giờ làm việc nhỏ hơn 48, nhưng bằng hoặc lớn hơn giờ quy định đối với những người làm các công trình nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành
Người thiếu việc làm là những người có tổng số giờ làm việc trong 1 tuần dưới
48 giờ, hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn quy định đối với những người làm công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành của nhà nước, có nhu cầu làm thêm giờ và đã sẵn sàng làm việc nhưng không có việc để làm
Bên cạnh nhóm người có việc làm, còn tồn tại nhóm người không có việc làm
Đó là những người thất nghiệp
Thất nghiệp là sự tồn tại của một bộ phận lực lượng lao động có khả năng và
sẵn sàng làm việc nhưng không tìm được việc làm
Theo quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Người thất nghiệp
là những người đủ từ 15 tuổi trở lên, có nhu cầu làm việc nhưng không có việc làm
Trang 18trong tuần lễ điều tra, và tính đến thời điểm điều tra có đi tìm việc trong 4 tuần lễ qua hoặc không đi tìm việc trong 4 tuần lễ qua với lý do chờ việc, nghỉ thời vụ, không biết tìm việc ở đâu hoặc trong tuần lễ trước điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 48 giờ, muốn làm thêm nhưng không tìm được việc
1.1.1.2 Vai trò của việc làm
Việc làm có vai trò quan trọng quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội Vì
sự phát triển kinh tế phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng các nguồn lực như tài nguyên, vốn, lao động, công nghệ, trong đó việc sử dụng lao động có vai trò quan trọng và quyết định tới sự phát triển
Qua việc làm ta có thể đánh giá được sự phát triển của nông thôn về nhiều ngành, nhiều lĩnh vực cụ thể như an sinh xã hội, trình độ phát triển của dân cư, trình
độ học hành… Ở nông thôn, tỷ lệ người có việc làm thường xuyên cao thì cuộc sống của người dân sẽ ổn định, giảm bớt các tệ nạn xã hội mang lại do lao động không có việc làm gây ra như chơi bời cờ bạc, nghiện hút ma tuý… Vì thế, việc giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn sau khi bị thu hồi đất càng trở nên cần thiết Giải quyết tốt vấn đề này không những góp phần phát triển kinh tế xã hội mà còn giúp người dân lao động nông thôn giảm bớt việc bị lôi kéo vào các hoạt động không lành mạnh trong xã hội
Việc làm thường xuyên giúp cho người dân có đời sống thu nhập ổn định, giúp cho họ có khả năng dễ dàng tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại, đồng thời nâng cao khả năng nhận thức của người dân
Việc làm cho lao động nông thôn sẽ góp phần thúc đẩy cơ sở hạ tầng ngày càng phát triển theo hướng ngày càng hoàn thiện Tạo ra sự thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn
Việc làm còn giúp cho người lao động cải tạo bản thân, thông qua những quy định, nguyên tắc trong công việc mà người lao động sẽ sống có ý thức, trách nhiệm hơn đối với bản thân và cộng đồng xung quanh Việc làm cũng làm cho người lao động hoà nhập với cộng đồng thông qua hoạt động lao động tập thể và các mối quan
hệ xã hội Qua người lao động có thể tiếp thu, nâng cao trình độ văn hoá, các kỹ
Trang 19năng sống… thậm chí tìm được công việc mới phù hợp hơn, có thu nhập cao hơn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của bản thân và gia đình
Đối với người nông dân đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, rất quan trọng Giờ đây, khi đất canh tác của người nông dân bị quy hoạch làm khu công nghiệp khu đô thị làm cho nông dân rơi vào tình trạng tư liệu sản xuất bị mất hoặc giảm đi Trong khi, họ là những người thường rất dễ bị tổn thương trước sự chi phối của quy luật thị trường Cùng với tâm lý lo sợ rủi ro, lối tư duy “ăn chắc, mặc bền”, sản xuất nhỏ
lẻ, manh mún càng làm cho cơ hội tìm kiếm việc làm của người nông dân càng trở nên khó khăn Do đó, tạo việc làm cho nông dân là rất cần thiết, nhất là những nông dân bị mất đất canh tác
1.1.2 Phát triển các Khu công nghiệp, đô thị và vấn đề giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
1.1.2.1 Tính tất yếu của xu thế phát triển các Khu công nghiệp, đô thị trong quá trình công nghiệp hoá
Hiện đang có nhiều quan niệm về khu công nghiệp Có quan niệm cho rằng, khu công nghiệp là một vùng đất được phân chia theo hệ thống nhằm cung cấp mặt bằng cho các ngành công nghiệp Có quan niệm coi khu công nghiệp như một khu
đô thị công nghiệp hay thành phố công nghiệp, ngoại việc cung cấp cơ sở hạ tầng, tiện ích công cộng, khu công nghiệp còn bao gồm khu thương mại, dịch vụ, hành chính, nhà ở cho người lao động… ngoài hàng rào khu công nghiệp
Theo nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ, khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định (có tường rào bao quanh) không có dân cư sinh sống, do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập
Từ khi xuất hiện các khu công nghiệp cho đến nay, thực tế đã cho chúng ta thấy vai trò hết sức quan trọng của chúng trong nền kinh tế, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển thường thiếu vốn và kỹ thuật Việc tập trung các doanh nghiệp sản xuất trong khu công nghiệp đã thu hút được nguồn vốn lớn từ nước ngoài, cũng
Trang 20như sự tập trung được nguồn vốn trong nước, tạo điều kiện đưa kỹ thuật mới vào sản xuất, thúc đẩy chuyển giao và tiếp thu tiến bộ khoa học công nghệ, xây dựng các ngành mũi nhọn và nâng cao vị trí chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh tế đảm bảo tăng trưởng bền vững
Việc phát triển các khu công nghiệp ngoài việc giúp giải quyết khó khăn về vốn, việc làm còn giúp chính phủ nước sở tại học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến, khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh của nước mình, mở ra khả năng phát triển công nghiệp theo hướng hiên đại hoá, góp phần thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, hoà nhập với kinh tế thế giới
Các doanh nghiệp khi tham gia vào các khu công nghiệp sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh, khuyến trương nhãn hiệu hàng hoá của mình Giúp nước chủ nhà xuất khấu được vốn, chuyển giao được những công nghệ đã lỗi thời để kéo dài vòng đời của sản phẩm
Sự xuất hiện của các khu công nghiệp còn giúp cho nước sở tại tăng cường xuất khẩu, thu được nhiều ngoại tệ, phân bố lại các khu vực sản xuất, chuyển dời các khu vực sản xuất từ thành phố ra ngoại thành, thực hiện đô thị hoá nông thôn, cải tạo môi trường sống cho dân cư đô thị, tạo thêm nhiều việc làm cho lao động nông thôn
Do có những vai trò hết sức to lớn đối với phát triển kinh tế xã hội nên từ khi ra đời các khu công nghiệp đã phát triển mạnh mẽ tại hầu hết các quốc gia trên thế giới Hiện nay, CNH, HĐH là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Thực tiễn của nhiều quốc gia cho thấy, CNH, HĐH là nhân tố quyết định làm thay đổi căn bản phương hướng sản xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang phương thức sản xuất mới, hiện đại
Về thực chất, CNH, HĐH là quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phát triển mạnh khu vực công nghiệp, dịch vụ và chuyển dịch cơ cấu lao động đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH, tăng nhanh lao động làm công nghiệp và dịch vụ, giảm mạnh lao động làm nông nghiệp Công nghiệp hoá diễn ra đồng thời với phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, khu kinh tế mở, khu công nghiệp tập trung…
Trang 21Sự hình thành các trung tâm công nghiệp, các khu công nghiệp tập trung ở mỗi vùng nhằm đáp ứng các nhu cầu của sản xuất, đời sống ngày càng tăng của chính vùng đó và là hạt nhân lan toả sang các vùng khác là yếu tố khách quan Đó cũng là biểu hiện của tính tập trung hoá trong các hoat động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, quy mô sản xuất phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và quy mô dân số của vùng để đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả
CNH, HĐH ở một nước nông nghiệp như nước ta thì nội dung quan trọng nhất
là chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, giảm lao động nông thôn Đặc biệt, quá trình CNH, HĐH luôn gắn liền với việc xây dựng và phát triển các khu công nghiệp khu chế xuất Tính đến năm 2010, cả nước có 255 khu công nghiệp và khu chế xuất đã được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 69.253 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt trên 45.000 ha, chiếm khoảng 65% tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó 171 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 43.508 ha và 84 khu công nghiệp đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng diện tích đất tự nhiên 25.673 ha
1.1.2.2 Thu hồi đất xây dựng Khu công nghiệp, Khu đô thị
Quá trình mở cửa nền kinh tế hội nhập với khu vực và thế giới đã và đang có những tác động đáng kể tới nền kinh tế, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kéo theo sự thay đổi về cơ cấu lao động của các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người lao động nước ta Đặc biệt, ngày 7/11/2006, nước ta đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO Đây là một sự kiện trọng đại mang tính lịch sử, mở ra cho nước ta những thời cơ mới, thuận lợi mới, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình CNH, HĐH của đất nước
Công nghiệp hoá và đô thị hoá có mối quan hệ khá chặt chẽ, tốc độ công nghiệp hoá càng nhanh thì trình độ đô thị hóa càng được đẩy nhanh và ngược lại Sự hình thành các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp tập trung với quy mô lớn, khu kinh tế mở, các công trình công cộng, các cơ sở hạ tầng… đòi hỏi phải
Trang 22dành ra một bộ phận lớn đất đai, trong đó chủ yếu là đất nông nghiệp Như vậy, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo hướng CNH, HĐH, đô thị hóa thì sự giảm sút một bộ phận khá lớn đất nông nghiệp là một tất yếu khách quan Đất khu công nghiệp bao gồm đất để xây dựng cụm công nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất và các khu sản xuất, kinh doanh tập trung khác có cùng chế độ
sử dụng đất
Đất đai là yếu tố đầu vào quan trọng, làm địa điểm, làm cơ sở của các khu đô thị, khu công nghiệp Các khu đô thị, khu công nghiệp không thể hình thành, hoạt động và phát triển khi không có đất đai, không có địa điểm hoạt động Đất đai là nơi xây dựng các công trình, cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động của ngành công nghiệp: nhà xưởng, hệ thống điện, nước, giao thông, thông tin liên lạc… Sự phát triển nhanh chóng của các khu đô thị, khu công nghiệp đòi hỏi mở rộng quy mô, diện tích đất đai dành cho các nhu cầu này
Việc thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội… phục vụ lợi ích quốc gia ở nước ta được tiến hành mạnh mẽ từ khi thực hiện đường lối đổi mới, chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quá trình này được thúc đẩy nhanh hơn từ những năm 1990, khi nền kinh tế nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định rõ: Đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng nền kinh tế tự chủ… tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại
Định hướng cơ cấu sử dụng đất là vấn đề quan trọng đối với tổ chức không gian kinh tế - xã hội và tạo nguồn vốn từ quỹ đất cho phát triển Cơ cấu sử dụng đất được hoạch định theo nguyên tác đảm bảo hiệu quả sử dụng cao, cần đến đâu sử dụng đến đó, hạn chế tối đa lấy đất nông nghiệp, nhất là đất lúa nước để sử dụng cho các khu công nghiệp và kết cấu hạ tầng, đô thị và các yêu cầu phi nông nghiệp khác Một khi bắt buộc phải dùng đất nông – lâm nghiệp vào mục đích khác thì cần
có đầu tư để chuyển đất hoang hoá chưa sử dụng bù vào đất nông – lâm nghiệp đã mất Hạn chế tối đa việc chuyển đổi mục đích sử dụng các vùng đất màu mỡ thuận
Trang 23lợi cho nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, khuyến khích chuyển mục đích sử dụng những vùng đất đồi, đất mà sản lượng lương thực thấp, giữ đất nông nghiệp cho năng suất cao, đất trồng lúa nhiều vụ để đảm bảo vấn đề an ninh lương thực Trừ trường hợp không có đất nào khác mà địa phương bắt buộc phải phát triển công nghiệp thì mới tính toán một phần đất hạn chế nào đó
Điều 57, Luật đất đai 2013 quy định được phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với 7 trường hợp: Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối; Chuyển đất trồng cây hàng năm khác sang đất nuôi trồng thủy sản nước mặn, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dưới hình thức ao, hồ, đầm; Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang sử dụng vào mục đích khác trong nhóm đất nông nghiệp; Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp; Chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất; Chuyển đất phi nông nghiệp không phải
là đất ở sang đất ở; Chuyển đất xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng có mục đích kinh doanh, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất thương mại, dịch vụ, đất xây dựng công trình sự nghiệp sang đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp Việc sử dụng đất để xây dựng khu công nghiệp phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, quy hoạch chi tiết xây dựng khu công nghiệp đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng khu công nghiệp phải đảm bảo đồng bộ với quy hoạch nhà
ở, công trình công cộng phục vụ đời sống người lao động làm việc trong khu công nghiệp Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế: đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự
án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ
Hơn nữa, thực hiện theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng ta là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ, do vậy diện tích đất nông nghiệp phải thu hẹp để
Trang 24mở rộng các ngành khác Bởi vậy, thu hồi đất nông nghiệp chính là để phục vụ cho
sự phát triển của các ngành khác
Việc thu hồi đất không diễn ra đồng đều ở các địa phương mà chỉ tập trung ở một số vùng có điều kiện thuận lợi, nhất là gần các sân bay, bến cảng, các đầu mối giao thông đường sắt và đường bộ, gần các trung tâm kinh tế lớn của của cả nước Mức độ thu hồi đất cũng còn phụ thuộc lớn vào những tỉnh, thành phố có đội ngũ cán bộ có năng lực, năng động, sáng tạo và có chính sách cởi mở, phù hợp với xu thế phát triển của địa phương
Việc thu hồi đất ở nước ta trong những năm gần đây là sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất Nhờ có thu hồi đất, chúng ta đã xây dựng được nhiều khu đô thị, khu công nghiệp, các cụm công nghiệp, hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội… Chính điều đó đã làm cho quá trình CNH, HĐH có những bước tiến đáng kể
1.1.2.3 Mối quan hệ giữa việc thu hồi đất với việc làm của lao động nông nghiệp
Như đã nêu trên, để công nghiệp đại hoá, hiện đại hoá, việc thu hồi đất chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất xây dựng, đất chuyên dùng cho các khu đô thị và khu công nghiệp… là tất yếu Việc thu hồi đất này làm nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế - xã hội, trong đó có một vấn đề nổi cộm và bức xúc nhất thu hút sự quan tâm của toàn xã hồi là vấn đề ảnh hưởng của việc thu hồi đất tới việc làm của người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi để xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất
Đối với lao động nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, không thể thay thế được Việc chuyển một bộ phận đất nông nghiệp thành đất sử dụng cho sản xuất công nghiệp, dịch vụ làm cho những người dân vốn sinh sống trên bộ phận ruộng đất này không còn tư liệu sản xuất chính để đảm bảo cuộc sống, họ mặc nhiên trở thành người thất nghiệp Khi bị thu hồi đất, họ không những phải chuyển nơi ở mà còn phải chuyển đổi nghề nghiệp mà cả mấy đời gắn bó Vì vậy, vấn đề việc làm đối với người dân bị thu hồi đất là vấn đề nan giải cần được giải quyết trong thời gian sớm nhất
Từ góc độ lao động và việc làm, CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi cơ cấu
Trang 25lao động và việc làm từ các hoạt động nông nghiệp sang các hoạt động công nghiệp, thương mại và dịch vụ Khi các khu công nghiệp, khu đô thị mở rộng ra các vùng ngoại vi, các khu dân cư ở ngoại vi sẽ hình thành và các hoạt động công nghiệp, thương mại, dịch vụ sẽ phát triển Nông thôn sẽ là nơi có sự thay đổi mạnh mẽ về hoạt động công nghiệp, thương mại và dịch vụ
Những lao động nông nghiệp khi bị thu hồi đất canh tác, họ sẽ được Nhà đầu
tư đền bù một khoản tiền Với số tiền đó, họ dùng để tạo nghề mới, tìm việc mới…
và có rất nhiều vấn đề khác cũng thay đổi theo
Người lao động cần việc làm, họ muốn có thu nhập, có tiền công kiếm được từ công việc, vì vậy họ cung cấp sức lao động của mình Các ngành kinh tế vận hành quá trình sản xuất để đạt hiệu quả với sự tham gia của người lao động Người lao động cũng là đối tượng tiêu dùng các loại hàng hoá, dịch vụ do các ngành kinh tế sản xuất ra Vì vậy, các ngành cần lao động để phát triển cũng như người lao động cần cung cấp sức lao động của mình
Sự phát triển của các khu công nghiệp sẽ tạo ra một lượng lớn việc làm, thu hút
và làm giảm đáng kể lao động nông nghiệp không có việc làm Tuy nhiên, nhìn từ góc
độ khác thì khi gia tăng quy mô các khu công nghiệp, thu hồi thêm nhiều đất nông nghiệp cũng sẽ làm cho một lực lượng đáng kể lao động nông nghiệp bị mất việc làm, dẫn tới gia tăng tình trạng thất nghiệp Nguyên nhân của tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm của nông dân bị thu hồi đất một phần là do sự phát triển các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ chưa đáp ứng đủ nhu cầu giải quyết việc làm cho người lao động Mặt khác, do chính bản thân người lao động, vốn xuất phát từ nông dân, có nhiều hạn chế về năng lực, trình độ văn hoá, do lớn tuổi, chưa thích ứng với công việc mới, không đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động Điều này gây khó khăn cho cuộc sống của chính bản thân người lao động, đồng thời cũng gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc thu hút lao động và ổn định sản xuất Do chỉ có một bộ phận lao động có đủ năng lực, trình độ được tuyển dụng vào làm việc trong các khu công nghiệp, nên phần lớn lao động còn lại chưa tìm được việc làm thích hợp Để giải quyết việc làm cho số lao động thất nghiệp này cần có chính sách đào tạo phù hợp để nâng
Trang 26cao năng lực, trình độ để tìm được việc làm thích hợp trong các khu công nghiệp, hoặc tạo việc làm cho họ qua các ngành nghề nông thôn… Hiện nay, nhiều địa phương đã xây dựng được các trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm dạy nghề… nhưng chưa đủ đáp ứng nhu cầu được đào tạo và giải quyết việc làm cho người lao động do quy mô và chất lượng đào tạo còn nhiều hạn chế
1.1.2.4 Sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp sau khi bị thu hồi đất
Cùng với quá trình CNH, HĐH đang diễn ra một cách mạnh mẽ, là sự xuất hiện ngày càng nhiều các khu đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất khiến cho diện tích đất sản xuất nông nghiệp ở các địa phương bị thu hẹp Việc chuyển một bộ phận đất nông nghiệp thành đất sử dụng cho sản xuất công nghiệp, đô thị, dịch vụ làm cho những người dân vốn sinh sống trên bộ phận ruộng đất này không còn tư liệu sản xuất chính để đảm bảo cuộc sống Điều này đòi hỏi Nhà nước phải có chủ trương, chính sách và các biện pháp giải quyết việc làm cho lao động mất đất do quá trình CNH, HĐH Cơ chế giải quyết việc làm, tạo việc làm cần được xã hội hoá
có sự tham gia của các bên như: người lao động bị thu hồi đất, tổ chức sử dụng đất thu hồi, tổ chức sử lao động, tổ chức đào tạo lao động và nhà nước Mỗi bên đều
có nhiệm vụ chức năng riêng nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ để công tác giải quyết việc làm đạt hiệu quả cao
Công tác giải quyết việc làm cho lao động trong diện giải toả đất nông nghiệp
là cần thiết vì nó không chỉ giúp nền kinh tế phát triển mọi mặt, mà còn làm xã hội
ổn định Lao động có việc làm đầy đủ sẽ làm giảm thất nghiệp và các tệ nạn xã hội Đời sống của người dân sẽ được ổn định, chất lượng cuộc sống sẽ được nâng cao, giảm gánh nặng cho xã hội và chính phủ
Công tác giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện bị giải toả đất nông nghiệp là làm giảm tỷ trọng lao động trong nông nghiệp và tăng tỉ trọng lao động trong các ngành công nghiệp – xây dựng, thương mại – dịch vụ Giải quyết việc làm cho lao động mất đất trong quá trình xây dựng các khu công nghiệp là một vấn đề kinh tế - xã hội luôn được
đặt ra và đòi hỏi đồng thời giải quyết cùng với quá trình CNH, HĐH của cả nước
Trang 271.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới giải quyết việc làm cho người lao động
1.1.3.1 Điều kiện tự nhiên
Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động chịu tác động rất nhiều của điều kiện tự nhiên Trước hết phụ thuộc vào các nhân tố chủ yếu sau:
Vị trí địa lý: Vị trí địa lý của địa phương là điều kiện tiên quyết tới sự phát triển
và cơ cấu của các ngành kinh tế Khi địa phương có vị trí địa lý thuận lợi về giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước thì các nhà đầu tư sẽ có điều kiện thuận lợi hơn trong trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đồng thời tiết kiệm được nhiều chi phí trong quá trình đầu tư cũng như khi doanh nghiệp đi vào hoạt động Địa phương mà thu hút được càng nhiều nhà đầu tư thì nền kinh tế của địa phương càng phát triển Sự phát triển của các ngành kinh tế sẽ tạo nhiều việc làm cho người lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động của địa phương
Ngược lại, nếu vị trí địa lý không thuận lợi về giao thông, thông tin liên lạc sẽ làm mất nhiều thời gian, chi phí của nhà đầu tư thì địa phương sẽ không thu hút nhà đầu tư Khi đó, nền kinh tế của địa phương sẽ mất đi nhiều cơ hội phát triển mà người lao động cũng không có thêm việc làm Để thu hút được sự quan tâm của nhà đầu tư, địa phương nên khắc phục nhược điểm của vị trí địa lý bằng cách xây dựng các chính sách phát triển kinh tế sao cho có lợi hơn cho các nhà đầu tư, xây dựng hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng đồng bộ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án tại địa phương từ đó mà tạo thêm việc làm cho người lao động
Diện tích đất đai: địa phương quỹ đất lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các
ngành kinh tế phát triển mạnh hơn, tạo thêm nhiều việc làm cho lao động Mặt khác khi tiến hành thu hồi đất nông nghiệp để chuyển đổi mục đích sử dụng mà địa phương có diện tích đất nông nghiệp lớn, có quỹ đất dự phòng thì có thể đền bù cho người dân bằng đất cùng loại ở vị trí khác, làm cho người dân có đất bị thu hồi vẫn
có thể tiếp tục sản xuất nông nghiệp và không bị ảnh hưởng đến việc làm Còn nếu địa phương không có quỹ đất dự phòng để đền bù cho người dân thì phải có chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ để giải quyết việc làm cho người lao động
Trang 28Khí hậu, thời tiết: khí hậu, thời tiết nhìn chung có ảnh hưởng tới sự phát triển
của nhiều ngành kinh tế, tuy nhiên tuỳ thuộc theo từng ngành mà mức độ ảnh hưởng
có khác nhau Nông nghiệp là ngành sản xuất gắn liền với điều kiện tự nhiên, vì vậy khí hậu và thời tiết có ảnh hưởng rõ rệt đến sản xuất nông nghiệp Tại những vùng
có khí hậu, thời tiết thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho việc phát triển các loại cây, con đồng thời mở rộng quy mô của sản xuất, tạo nên những vùng chuyên canh, sản xuất hàng hoá lớn, từ đó thu hút được nhiều lao động tham gia, giải quyết được nhiều việc làm cho lao động trong lĩnh vực nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp phát triển cũng sẽ thu hút các ngành công nghiệp chế biến sử dụng nguyên liệu vào từ sản phẩm đầu ra của nông nghiệp phát triển, tạo thêm nhiều việc làm cho lao động địa phương Ngược lại, thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, không thuận lợi sẽ làm giảm quy
mô sản xuất, trường hợp thiên tai, bão lũ còn ảnh hưởng tới kết quả cuối cùng của người lao động Tại những địa phương đó, cần chú trọng chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp, dịch vụ để tạo việc làm cho người lao động
Tài nguyên, khoáng sản: tài nguyên, khoáng sản ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến
sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp Địa phương nào có nhiều tài nguyên, khoáng sản sẽ có các ngành công nghiệp khai thác phát triển mạnh mẽ Theo đó còn có sự phát triển của các ngành vận tải, dịch vụ giúp cho kinh tế địa phương phát triển, giải quyết việc làm cho người lao động
1.1.3.2 Điều kiện kinh tế
Điều kiện kinh tế, ở đây được hiểu là trình độ phát triển kinh tế, là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến việc làm của người lao động Điều kiện kinh tế ở trình độ cao thì các ngành kinh tế sẽ phát triển mạnh, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động
Trình độ phát triển kinh tế của địa phương được thể hiện rõ nhất qua tổng giá trị sản xuất và cơ cấu các ngành kinh tế của địa phương đó Địa phương có nền kinh tế phát triển thì trong cơ cấu kinh tế các ngành công nghiệp, thương mại, dịch
vụ sẽ chiếm tỷ trọng cao Sự phát triển của các ngành này sẽ sử dụng rất nhiều lao
Trang 29động, vì nếu 1 ha đất nông nghiệp chỉ cần 1 – 2 lao động để tiến hành sản xuất thì nay đối với 1 ha đất dành cho phát triển công nghiệp, dịch vụ thì cần nhiều lao động hơn, từ
đó vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi hơn Khi địa phương có nền kinh tế phát triển, lĩnh vực nông nghiệp cũng sẽ phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá thu hút nhiều lao động nông nghiệp tại địa phương Do trồng lúa chỉ cần 1 – 2 lao động/ha thì nay khi chuyển sang trồng hoa, cây công nghiệp… thì lượng lao động cần nhiều hơn vì các khâu sản xuất đòi hỏi cao hơn
Khi nền kinh tế của địa phương không phát triển hoặc phát triển chậm sẽ dẫn đến sản xuất bị đình đốn và thu hẹp, nhu cầu sử dụng lao động cũng bị thu hẹp theo, từ đó công tác giải quyết việc làm sẽ gặp rất nhiều khó khăn Mặt khác, kinh tế không phát triển hoặc phát triển chậm còn là nguyên nhân dẫn tới phát triển chậm
về giáo dục đào tào Giáo dục đào tạo phát triển chậm sẽ làm cho chất lượng lao động thấp, làm giảm cơ hội có việc làm của người lao động
1.1.3.3 Điều kiện xã hội
Điều kiện xã hội là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới khả năng có việc làm của người lao động Có rất nhiều nhân tố xã hội ảnh hưởng tới giải quyết việc làm cho người lao động
Dân số: Dân số vừa là yếu tố của sản xuất, vừa là yếu tố của tiêu dùng Quy
mô dân số tăng thì cầu hàng hoá và dịch vụ tăng Khi đó, nguồn cung sản xuất cũng tăng lên, đa dạng hoá các ngành nghề hoạt động do cung và cầu luôn có mối quan
hệ tác động qua lại lẫn nhau Các ngành nghề phát triển sẽ sử dụng nhiều lao động
và mở ra cơ hội việc làm cho người lao động
Cơ cấu dân số cũng quyết định tiêu dùng Tuỳ thuộc vào sở thích, giới tính, tâm lý, dân tộc, nhu cầu tiêu dùng của mỗi người là khác nhau Để lượng hàng hoá sản xuất bán ra có người mua, các doanh nghịêp buộc phải quan tâm đến nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng Nếu lượng hàng hoá bán ra nhiều, các nhà sản xuất phải tăng thêm công lao động, ngược lại, nếu không có người mua, các doanh nghiệp buộc phải sa thải một số lượng lao động để cân bằng chi phí sản xuất nhằm chánh tình trạng lỗ vốn Quá trình di dân cũng làm cho dân số ở từng nơi thay đổi Khi cơ cấu
Trang 30dân số thay đổi sẽ dẫn đến nhu cầu tiêu dùng hàng hoá ở từng nơi thay đổi Những vùng có người di dân di cư đến nhiều sẽ buộc phải tăng thêm lượng sản xuất để đáp ứng nhu cầu của người dân, từ đó tăng thêm nhiều ngành nghề mới, góp phần tạo ra nhiều chỗ làm mới Trong khi những vùng có dân di cư đi lại phải giảm số lượng sản xuất xuống dẫn đến tình trạng lao động bị thất nghiệp
Chất lượng lao động: chất lượng lao động cũng là một tố đặc biệt quan trọng
ảnh hưởng đến quá trình tạo việc làm cho người lao động Trong thời đại CNH, HĐH các doanh nghiệp ngày càng phát triển, việc đòi hỏi lao động có sực khoẻ, trình độ chuyên môn tay nghề cao để đáp ứng được yêu cầu của công việc đề ra là điều vô cùng cần thiết Người lao động có trình độ mới có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm theo đúng nguyện vọng, mới có thể có được thu nhập cao đáp ứng được nhu cầu cuộc sống Người lao động cần tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mình, tham gia các hoạt động giáo dục, đào tạo, nâng cao tay nghề để có thêm kinh nghiệm, kiến thức và nhận thức Điều đó mới có thể nâng cao vị thế bản thân mỗi lao động
Môi trường xã hội, an ninh trật tự: vấn đề giải quyết việc làm cho người lao
động phụ thuộc rất nhiều vào môi trường xã hội, an ninh trật tự Môi trường xã hội tốt, người lao động sẽ có điều kiện chăm sóc sức khoẻ, học tập nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn từ đó mà nâng cao khả năng giải quyết việc làm của người lao động Tình hình an ninh trật tự tốt sẽ giúp cho người dân yên tâm học tập văn hoá chuyên môn, chú trọng sản xuất giúp cho sản xuất phát triển, mở ra thêm nhiều cơ hội việc làm cho người lao động An ninh trật tự tốt cũng sẽ tạo niềm tin cho các nhà đầu
tư, thu hút họ đến đầu tư phát triển sản xuất ở địa phương, mở ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động
1.1.3.4 Chính sách và cơ chế của nhà nước
Cơ chế chính sách của chính phủ quốc gia, của chính quyền địa phương, các quy định của chủ doanh nghiệp là nhóm nhân tố quan trọng tạo việc làm cho người lao động Trong mỗi thời kỳ khác nhau, chính phủ sẽ đề ra những chính sách cụ thể, tạo hành lang pháp lý cho phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, mở rộng hoặc thu
Trang 31hẹp việc làm của ngành này hay ngành khác, tạo môi trường để người sử dụng lao động và người lao động gặp nhau Chẳng hạn, chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế, do đó cơ cấu lao động theo ngành kinh tế, theo vùng cũng thay đổi
Đảng ta đã xác định phương hướng cơ bản là: Nhà nước cùng toàn dân ra sức đầu
tư phát triển, thực hiện tốt kế hoạch và các chương trình kinh tế xã hội Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo việc làm cho người lao động Mọi công dân đều được tự do hành nghề, thuê mướn lao động theo pháp luật Phát triển dịch vụ việc làm, tiếp tục phân bố lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước, tăng dân cư trên các địa bàn có tính chiến lược về kinh tế, an ninh, quốc phòng Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu lao động
Trong Bộ luật lao động của nước ta quy định: “Người lao động có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và bất kỳ chỗ nào mà pháp luật không cấm” (khoản 1, điều 16) Điều 13 ghi rõ: “Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội”
Chính sách việc làm có mối quan hệ biện chứng với các chính sách xã hội và các chính sách kinh tế Thực hiện tốt chính sách việc làm thì nguồn lao động được sử dụng hiệu quả, thất nghiệp sẽ giảm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo ổn định chính trị và xã hội Ngược lại, khi chính sách việc làm chưa được giải quyết tốt, nạn thất nghiệp sẽ tăng và các tệ nạn xã hội sẽ dễ dàng phát sinh, gánh nặng của các chính sách bảo đảm an ninh, xã hội sẽ tăng lên
Chính sách phát triển kinh tế tốt, sẽ thúc đẩy các thành phần kinh tế tích cực tham gia sản xuất kinh doanh và hoạt động có hiệu quả, phát triển và đa dạng hoá các ngành nghề, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động
Bên cạnh đó, chính sách đào tạo và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho người lao động Các cấp chính quyền cần đưa ra được các chính sách giải quyết việc làm một các có
hệ thống và đồng bộ, bao gồm: chính sách khuyến khích phát triển những lĩnh vực,
Trang 32ngành nghề có khả năng thu hút nhiều lao động như chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách xuất khẩu lao động, chính sách khôi phục và phát triển các làng nghề Ngoài chính sách để tạo việc làm mới, còn có những chính sách tránh cho người lao động đang làm việc bị mất việc làm, chính sách trợ cấp thất nghiệp cho người lao động khi bị mất việc làm Một hệ thống các chính sách việc làm đồng bộ sẽ tạo môi trường thuận lợi để việc làm hình thành, ổn định và phát triển, từ đó cho công
tác giải quyết việc làm sẽ gặp nhiều thuận lợi và có kết quả tốt
1.1.4 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp bị thu hồi đất nông nghiệp của một số nước trên thế giới
* Kinh nghiệm của Nhật Bản
Quá trình công nghiệp hoá ở Nhật Bản cũng bắt đầu bằng thời gian dài tăng trưởng trong nông nghiệp Nhật Bản là nước luôn bị giới hạn bởi tài nguyên đất đai ít
và dân số đông, diện tích đất canh tác bình quân trên một hộ nông dân khoảng 0,8 ha Nhật Bản thực hiện chính sách đưa sản xuất công nghiệp về nông thôn, vừa biến đổi nền nông nghiệp cổ truyền Châu Á thành nên nông nghiệp tiên tiến, vừa phát triển nông thôn theo hướng đa dạng hoá nhằm giải quyết việc làm ở khu vực này Chính điều này đã làm cơ cấu nông thôn thay đổi, các ngành phi nông nghiệp đã đóng góp ngày càng tăng vào thu nhập của người dân nông thôn Việc chú trọng phát triển công nghiệp, đầu tư cho các ngành có hiệu quả cao như: luyện kim, hoá chất, đóng tàu, chế tạo máy, điện tử và đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng, đã thu hút nhiều lao động trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá đã cơ bản giải quyết được vấn đề việc làm cho lao động nông nghiệp, mặc dù diện tích đất canh tác ngày càng giảm Nhật Bản cũng đầu tư lớn cho giáo dục, đào tạo, đặc biệt là đầu tư cho nghiên cứu khoa học kỹ thuật, khoa học ứng dụng, vì vậy mà lao động Nhật Bản có trình độ chuyên môn kỹ thuật rất cao
Chính phủ Nhật Bản đã thành lập mạng thông tin việc làm trên khắp đất nước với mục đích cung cấp đầy đủ các thông tin vè việc làm từ các tổ chức, doanh nghiệp qua internet đến với những người đang tìm việc, giúp họ có những lựa chọn phù hợp với năng lực, điều kiện của mình Chính phủ cũng bồi dưỡng những công nhân có tay
Trang 33nghề cao qua việc hỗ trợ tài chính, tạo cơ hội phát triển năng lực, nâng cao chất lượng các tổ chức giáo dục đào tạo trên cơ sở nhu cầu của mỗi vùng, phát triển nguồn nhân lực và kỹ thuật kết nối thông tin trong những khu vực mới hoặc đang phát triển Hoạt động giải quyết việc làm cho người cao tuổi được chú trọng để xoá bỏ những mất cân đối về việc làm do tuổi tác Luật về ổn định việc làm của người lao động cao tuổi nhấn mạnh yêu cầu các công ty kéo dài tuổi về hưu bắt buộc và thuê mướn lại những người cao tuổi có năng lực, kinh nghiệm tại các công ty hiện tại hoặc
từ các công ty chi nhánh Nhiều chính sách được đưa ra như các chính sách về đào tạo lại, nâng cao tay nghề cho lao động trung niên Các loại hình tuyển dụng và thuê mướn được đa dạng hoá, coi trọng các công việc làm thêm không chính thức như làm bán thời gian, tạm thời hoặc bất thường Chế độ tuyển dụng thay đổi theo từng khu vực, không tập trung chủ yếu tại các đô thị lớn như trước kia mà chuyển sang các khu vực lân cận và các địa phương
Trong những năm 1960, 1970 các lĩnh vực như phúc lợi y tế, công nghệ tin học
và môi trường đang giữ một vai trò then chốt trong việc mở ra những thị trường mới
ở Nhật Bản Đồng thời, các ngành công nghiệp mới và các dịch vụ liên quan được khuyến khích phát triển Việc phát triển khoa học và công nghệ địa phương được đẩy mạnh thông qua việc tận dụng đặc thù mỗi vùng Chính phủ Nhật Bản đã có những bước đi thích hợp nhằm ổn định thị trường lao động ở tầm vĩ mô, nhưng để có tham gia được vào thị trường lao động thì bản thân mỗi người lao động cũng phải tự phát triển năng lực nghề nghiệp của mình thông qua việc tự đào tạo lại; các công ty, các tổ chức cũng phải ủng hộ điều này một cách tích cực
Các ngành tiểu thủ công nghiệp truyền thống cũng được khuyến khích phát triển, vùng Tây nam Nhật Bản đã có phong trào: Mỗi thôn, làng có một sản phẩm nhằm khai thác ngành nghề nông thôn Phong trào phục hồi ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống đã lan rộng khắp nước Nhật, góp phần giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động, làm tăng mức sống và mức đô thị hoá ở vùng nông thôn Nhật Bản
Từ chính sách của Nhật Bản trong quá trình công nghiệp hoá có thể rút ra một
số bài học kinh nghiệm sau:
Trang 34Thứ nhất, không ngừng phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trên
cơ sở nhu cầu lao động của xã hội
Thứ hai, phát triển mạnh mẽ những ngành nghề ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học – công nghệ và những ngành nghề sử dụng nhiều lao động
Thứ ba, phát triển hệ thống dịch vụ việc làm và thông tin thị trường
Thứ tư, phát triển tiểu thủ công nghiệp truyền thống tạo việc làm cho lao động địa phương
* Kinh nghiệm của Thái Lan
Trong những năm gần đây diện tích đất nông nghiệp của Thái Lan đang giảm dần
do quá trình công nghiệp hoá, sự mở rộng các khu công nghiệp, giải trí, khu đô thị Để khắc phục những thiệt hại do sụt giảm diện tích đất nông nghiệp mang lại, Thái Lan đã chủ trương vừa phát triển các khu công nghiệp, vừa tập trung phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá cho xuất khẩu, phát triển ngành nghề dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp
ở nông thôn Chủ trương đó đã thể hiện sự đúng đắn thông qua sự phát triển của nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá, giải quyết việc làm cho người lao động
Để trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới như hiện nay, Thái Lan đã quan tâm tới việc hỗ trợ, cung cấp tín dụng để đào tạo và bồi dưỡng tay nghề của người lao động Bên cạnh những chính sách khuyến khích và hỗ trợ nông dân thì vấn đề liên quan đến “tính mềm” như đào tạo kỹ thuật, nâng cao nhận thức của người nông dân được coi trọng hướng đến, như: kỹ thuật bón phân, kỹ thuật gieo sạ, kỹ thuật sản xuất sạch, giúp người nông dân nắm bắt được nhu cầu thị trường Các khoá học tại chỗ về kỹ thuật canh tác, chuyển giao công nghệ được mở rộng với nhiều ưu đãi nhằm thu hút và nâng cao trình độ nguồn nhân lực nông thôn
Bên cạnh đó, Thái Lan đã tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giảm rủi ro trong sản xuất nông nghiệp cho người nông dân, xoá bỏ thuế nông nghiệp Triển khai chương trình điện khí hoá nông thôn, xây dựng hệ thống thuỷ lợi bảo đảm tưới tiêu Quan trọng nhất là áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật cải tạo đất trồng, cải tạo những vùng đất thoái hoá, khô cằn nâng cao độ màu mỡ cho đất Điều này giúp tăng diện tích đất canh tác cho nông dân, góp phần sử dụng hiệu quả quỹ đất
Trang 351.1.5 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp bị thu hồi đất của một số địa phương trong nước
* Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp bị thu hồi đất của tỉnh Thái Bình
Để giải quyết việc làm ổn định cho nhân dân bị thu hồi đất, tỉnh Thái Bình triển khai thực hiện nhiều biện pháp như sau:
Thành lập Quỹ hỗ trợ ổn định đời sống, phổ cập giáo dục, học nghề và việc làm cho các hộ bị thu hồi trên 30% đất sản xuất Hỗ trợ tiền học phí và tiền đóng góp cơ sở vật chất trường học cho con em nông dân là học sinh ở độ tuổi phổ thông Trợ cấp kinh phí khó khăn, hỗ trợ 100% kinh phí BHYT cho người trên 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ; trợ cấp khó khăn cho người già, cô đơn có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, mức hỗ trợ tương đương 30kg gạo/người/tháng Hỗ trợ 1 lần kinh phí đào tạo nghề cho người trong độ tuổi lao động, có nhu cầu học nghề bằng hình thức cấp thẻ học nghề…
Xây dựng, ban hành quy chế ưu tiên đấu thầu kinh doanh dịch vụ tại các khu
đô thị, khu công nghiệp dịch vụ mới hình thành
Xã hội hóa các hoạt động dịch vụ tại các khu đô thị và khu công nghiệp khi xây dựng trên diện tích đất nông nghiệp, tạo điều kiện cho người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi được tham gia kinh doanh, ưu tiên cho các hộ bị thu hồi trên 30% đất sản xuất nông nghiệp
Có cơ chế đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn tại các khu vực bị thu hồi nhiều đất nông nghiệp nhằm tạo điều kiện kinh doanh dịch vụ, phục vụ các khu công nghiệp, đô thị ,giải quyết việc làm tại chỗ, đảm bảo sự gắn kết hạ tầng của khu
đô thị và khu CN hiện tại với vùng dân cư cũ
* Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp bị thu hồi đất của tỉnh Hải Dương
Công khai quy hoạch sử dụng đất của tỉnh, cần chi tiết quy hoạch theo từng
địa phương
Tạo vệc làm tại chỗ cho những lao động bị thu hồi đất tuổi đã cao, lao động nữ
Trang 36khó chuyển đổi nghề bằng các hình thức phát triển các làng nghề truyền thống, cấp đất dịch vụ không thu tiền cho các hộ theo tỷ lệ diện tích đất thu hồi sao cho phù hợp với quỹ đất của địa phương
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tăng các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, cho thu nhập cao trên một đơn vị diện tích đất sản xuất, khả năng quay vòng vốn nhanh
Quy định và khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức đóng trên địa bàn có đất bị thu hồi ưu tiên sử dụng lao động địa phương bằng các cơ chế, chính sách ưu đãi phù hợp
Đầu tư phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, đa dạng hoá các hình thức đào tạo nghề cho con em nông thôn, cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết về cung – cầu trên thị trường lao động cho người dân và các chủ sử dụng lao động Mở rộng và phát triển các cơ sở đào tạo nghề, các trung tâm hỗ trợ và giới thiệu việc làm
Đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến ngư, tăng cường chuyển giao tiến bộ khoa học - công nghệ, hỗ trợ vốn, kỹ thuật sản xuất cho nông dân
1.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nói chung và Giải pháp giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng khu đô thị và khu công nghiệp nói riêng là một vấn đề được các cấp chính quyền và các nhà nghiên cứu Việt Nam và quốc tế rất quan tâm
Các văn bản pháp luật của Nhà nước cũng như các đề tài nghiên cứu trong lĩnh giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất phục vụ nhu cầu CNH-HĐH đất nước đều xuất phát từ vấn đề đặc biệt quan trọng là xây dựng chính sách hỗ trợ, giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất sản xuất, ổn định cuộc sống của nhân dân, hài hòa giữa lợi ích tập thể - nhà nước - cá nhân, đảm bảo an ninh kinh
tế, ổn định trật tự xã hội của các địa phương, các vùng miền và của cả nước
Các Văn bản pháp luật của Nhà nước quy định về công tác thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất:
- Luật đất đai số 45/2013-QH13 ngày 29/11/2013;
Trang 37- Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 Quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai;
- Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 Quy định về Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;
- Quyết định số 14/2014/QĐ-UBND ngày 27/10/2014 về Ban hành Quy định một số trường hợp cụ thể về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa phận tỉnh Hưng Yên;
- Quyết định số 2254/QĐ-UBND ngày 28/11/2013 về việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) huyện Văn Giang
Các công trình nghiên cứu do các cá nhân và cơ quan nhà nước:
- Hoàng Văn Cường (9/2006), “Vấn đề việc làm cho người bị thu hồi đất phát triển các khu công nghiệp”, Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam
- Nguyễn Sinh Cúc (2008),“Phát triển khu công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng và vấn đề nông dân mất đất nông nghiệp”, Tạp chí Cộng sản điện tử, (14)
- Phạm Chánh Dương (1/2003), “Về thực hiện chính sách đền bù giải toả trong phát triển các khu công nghiệp”, Tạp Chí Cộng sản, (3)
- Đào Ngọc Dũng, Hoàn Hiền, Bảo Trung (3/2008), “Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước”, Báo Nhân dân, (19203 - 19206)
- Nguyễn Hữu Dũng (2008), “Phát triển Khu công nghiệp với vấn đề lao động - việc làm ở Việt Nam”, Tạp chí cộng sản, (5)
- Trần Đắc Hiến (5/2006), “Phát triển Khu công nghiệp với ổn định đời sống người dân ở nông thôn nước ta hiện nay”, Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam
- Nguyễn Văn Hiển (18/5/2010), “Khiếu nại, tố cáo đông người-Đất đai vẫn
là điểm nóng”, Báo điện tử Đảng Công sản Việt Nam
- Trần Minh Ngọc (2009), Việc làm của nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng Đồng bằng sông Hồng đến 2020, Đề tài NCKH cấp
Bộ, Viện KXXH Việt Nam
Trang 38- Vũ Đức Quyết (5/2006), “Một số giải pháp chuyển đổi nghề nghiệp việc làm cho người lao động tại địa phương thu hồi đất để phát triển các Khu công nghiệp và đô thị”, Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam
- Vũ Thị Mai (2007), Tạo việc làm cho người lao động bị ảnh hưởng trong quá trình đô thị hoá Hà Nội, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
- Lê Du Phong (2007), Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Đặng Kim Sơn (2008), Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hoá, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
Các văn bản pháp lý nhà nước và công trình nghiên cứu này do các cá nhân hoặc do các cơ quan QLNN nghiên cứu và công bố, với mức độ khác nhau, có sự liên quan đến công tác giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
để làm khu đô thị và khu công nghiệp nhằm đưa ra các quy định để các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người dân bị thu hồi đất thực hiện, nhằm mục đích tối đa là công tác an sinh xã hội, thu nhập và ổn định đời sống của người dân bị thu hồi đất nông nghiệp …Các văn bản pháp luật và công trình nghiên cứu nói trên thường đề cập đến những khía cạnh, góc độ, phạm vi không gian và thời gian khác nhau, theo các thành phần kinh tế,…cả về lý thuyết, thực tiễn, dự báo và định hướng liên quan vấn đề việc làm, thu hồi đất và công tác bổi thường, tái định cư Tuy nhiên chưa công trình nào đánh giá chuyên sâu hoàn thiện giải pháp giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng khu đô thị và công nghiệp một cách hệ thống, đầy đủ cả về lý luận, đánh giá thực trạng, giải pháp giải quyết việc làm cho lao động bị mất đất
Bối cảnh kinh tế hiện nay, công cuộc CNH-HĐH ở các địa phương nói chung
và ở huyện Văn Giang nói riêng diễn ra mạnh mẽ, việc thu hồi đất nông nghiệp phục phụ nhu cầu phát triển đô thị và công nghiệp là điều không tránh khỏi, phát sinh nhiều vấn đề an sinh xã hội cho lao động bị thu hồi đất vấn đề tạo việc là và chuyển đổi nghề cho người dân cần có những giải pháp phù hợp Do vậy, nghiên cứu về Giải pháp giải
Trang 39quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng khu đô thị và khu công nghiệp trên địa bàn huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên cần có các số liệu thực tế, khách quan từ đó tổng hợp và phân tích một cách khoa học, rút ra bài học kinh nghiệm
từ đó có các giải pháp giải quyết một cách khoa học phù hợp với trình đô văn hóa, điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội của địa phương
Trang 40CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp luận
Phương pháp luận là hệ thống lý luận về phương pháp nghiên cứu, phương pháp nhận thức và cải tạo hiện thực; là hệ thống chặt chẽ các quan điểm, nguyên lý chỉ đạo việc tìm kiếm, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp Tất cả những nguyên
lý nào có tác dụng gợi mở, định hướng, chỉ đạo đều là những lý luận và nguyên lý có ý nghĩa phương pháp luận Mặc dù vậy, triết học macxit với tư cách là phương pháp luận chung nhất và phổ biến không thể thay thế phương pháp luận của các khoa học cụ thể Phương pháp duy vật biện chứng: Là phương pháp luận nghiên cứu, xem xét
sự việc, hiện tượng trong các mối liên hệ, ảnh hưởng tác động lẫn nhau không ngừng nảy sinh, vận động và giải quyết mâu thuẫn làm cho sự vật phát triển
Phương pháp duy vật lịch sử: Là phương pháp luận nghiên cứu duy vật về lịch
sử phát triển của xã hội loài người Chính đời sống vật chất quyết định đời sống tinh thần của con người
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và phương pháp luận duy vật lịch sử để phân tích đánh giá sự ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp
để xây dựng khu đô thị và công nghiệp đến đời sống và việc làm của người dân và thực trạng công tác giải quyết việc làm cho những lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2011 – 2014, từ đó đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu đô thị và khu công nghiệp trong giai đoạn tiếp theo
2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.2.1 Phương pháp phân tích
Phân tích trước hết là phân chia cái toàn thể của đối tượng nghiên cứu thành những bộ phận, những mặt, những yếu tố cấu thành giản đơn hơn để nghiên cứu, phát hiện ra từng thuộc tính và bản chất của từng yếu tố đó, và từ đó giúp chúng ta hiểu được đối tượng nghiên cứu một cách mạch lạc hơn, hiểu được cái chung phức tạp từ những yếu tố bộ phận ấy