1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách nhà nước của thành phố Hà Nội Luận văn ThS

103 578 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 736,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trần Kim Hào Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu Làm rõ những vấn đề lý luận chung và phân tích thực trạng quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách Nhà nước

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

VŨ THỊ DOAN

QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

TS Trần Kim Hào GS.TS Phan Huy Đường

Hà Nội – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa đƣợc sử dụng ở bất kỳ công trình khoa học nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 23 tháng 04 năm 2015

Tác giả

Vũ Thị Doan

Trang 4

suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành đề tài "Quản lý vốn đầu

tư KHCN từ NSNN của Thành phố Hà Nội"

Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo - Các nhà khoa học đã trực tiếp giảng dạy truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành quản lý kinh tế cho bản thân tác giả trong những năm tháng qua

Xin gửi tới Sở KHCN Hà Nội lời cảm tạ sâu sắc vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tác giả thu thập số liệu ngoại nghiệp cũng nhƣ những tài liệu nghiên cứu cần thiết liên quan tới đề tài tốt nghiệp

Một lần nữa tác giả xin chân thành cảm ơn các đơn vị và cá nhân đã hết lòng quan tâm tới sự nghiệp đào tạo đội ngũ cán bộ ngành quản lý kinh tế Tác giả rất mong nhận đƣợc sự đóng góp, phê bình của quý Thầy Cô, các nhà khoa học, độc giả và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 23 tháng 04 năm 2015

Tác giả

Vũ Thị Doan

Trang 5

Giáo viên hướng dẫn: TS Trần Kim Hào

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu

Làm rõ những vấn đề lý luận chung và phân tích thực trạng quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách Nhà nước của thành phố Hà Nội để

đề xuất những phương hướng, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu

tư khoa học công nghệ của thành phố Hà Nội trong thời gian tới

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách nhà nước dưới góc độ địa phương

- Tổng kết kinh nghiệm quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ ở một số nước và địa phương, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho thành phố Hà Nội

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ

từ ngân sách nhà nước của Thành phố Hà Nội Rút ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế để từ đó làm rõ hơn các vấn đề cần giải quyết

- Kiến nghị, đề xuất một số phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách nhà nước của thành phố Hà Nội trong thời gian tới

Những đóng góp mới của luận văn:

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản của quản lý vốn đầu tư khoa

Trang 6

học công nghệ và bổ sung thêm một số lý luận về quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ dưới góc độ địa phương

- Tổng kết kinh nghiệm của một số địa phương về quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ, từ đó rút ra một số bài học có thể vận dụng cho Hà Nội

- Đánh giá tương đối toàn diện thực trạng quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ của thành phố Hà Nội theo khung lý thuyết đã phân tích, đề xuất

- Đề xuất được một số phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả quản

lý vốn đầu tư khoa học công nghệ ở thành phố Hà Nội, làm cơ sở khoa học cho các nhà quản lý tham khảo để đưa ra các quyết sách phù hợp về quản lý vốn đầu

tư và phát triển KHCN ở thành phố Hà Nội

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT LUẬN VĂN iii

MỤC LỤC v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Đóng góp của luận văn 4

5 Kết cấu của luận văn 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5

1.2 Cơ sở lý luận về quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách Nhà nước 8

1.2.1 Khái niệm quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ NSNN 8

1.2.2 Đặc điểm của vốn đầu tư KHCN 10

1.2.3 Sự cần thiết quản lý vốn đầu tư KHCN từ NSNN 15

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách Nhà nước 20

1.2.5 Nội dung quản lý vốn đầu tư KHCN từ NSNN 25

1.2.6 Hệ thống chỉ tiêu 30

1.3 Kinh nghiệm quản lý vốn đầu tư KHCN ở một số nước và địa phương và một số bài học kinh nghiệm cho thành phố Hà Nội 34

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý vốn đầu tư KHCN ở một số nước 34

1.3.2 Kinh nghiệm quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ ở địa phương 40

Trang 8

1.3.3 Một số bài học kinh nghiệm quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ cho

thành phố Hà Nội 41

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 43

2.1 Phương pháp nghiên cứu 43

2.1.1 Phương pháp thu thập thông tin, tài liệu 43

2.1.2 Phương pháp phân tích, xử lý thông tin 44

2.2 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu 46

2.2.1 Địa điểm thực hiện nghiên cứu 46

2.2.2 Thời gian thực hiện nghiên cứu 47

2.3 Các công cụ, phương pháp phân tích số liệu, dữ liệu sơ cấp, thứ cấp 47

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI 48

3.1 Tình hình đầu tư khoa học công nghệ trên địa bàn Thành phố Hà Nội 48

3.1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội cu ̉a thành phố Hà Nội 48

3.1.2 Tình hình vốn đầu tư cho thành phố Hà Nội 53

3.2 Thực trạng quản lý vốn đầu tư KHCN từ NSNN của Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hà Nội 55

3.2.1 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch trong đầu tư KHCN từ vốn NSNN 55

3.2.2 Các văn bản và các chính sách liên quan đến quản lý vốn đầu tư KHCN từ NSNN 57

3.2.3 Tổ chức thực hiện đầu tư 58

3.2.4 Giám sát, kiểm tra, thanh tra trong đầu tư KHCN 63

3.3 Đánh giá chung về thực trạng quản lý vốn đầu tư KHCN từ NSNN 64

3.3.1 Những thành tựu đạt được 64

3.3.2 Những hạn chế 66

3.3.3 Nguyên nhân của hạn chế 67

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI 69

4.1 Quan điểm và định hướng hoàn thiện quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách Nhà nước 69

4.1.1 Quan điểm quản lý vốn đầu tư 69

4.1.2 Mục tiêu đầu tư KHCN của Thành phố Hà Nội 71

Trang 9

4.1.3 Định hướng quản lý vốn đầu tư phát triển KH&CN ở thành phố Hà Nội

thời gian tới 73

4.2 Các giải pháp chủ yếu hoàn thiện quản lý vốn đầu tư Khoa học và Công nghệ từ ngân sách Nhà nước ở Thành phố Hà Nội 75

4.2.1 Hoàn thiện công tác quy hoạch trong đầu tư khoa học công nghệ, xây dựng kế hoạch KHCN hàng năm 75

4.2.2.Hoàn thiện chính sách quản lý Nhà nước về đầu tư ở địa phương có chất lượng, khoa học, kịp thời và đồng bộ 79

4.2.3 Tổ chức thực hiện đầu tư đúng quy hoạch, kịp thời và hiệu quả 82

4.2.4 Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát công tác quản lý các dự án đầu tư nghiên cứu khoa học 83

4.3 Kiến nghị với cơ quan quản lý Nhà nước 85

4.3.1 UBND Thành phố Hà Nội 85

4.3.2 Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội 86

KẾT LUẬN 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 10

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 BKHCN-KHTC Bộ khoa học công nghệ - Kế hoạch tài chính

2 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

3 ĐTKHCN Đầu tƣ khoa học công nghệ

5 GRDP Tổng sản phẩm trên địa bàn

7 KH & CN Khoa học và công nghệ

8 KT-XH Kinh tế - xã hội

11 VIFOTEC Quỹ hỗ trợ sáng tạo kỹ thuật Việt Nam

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 3.1 Chỉ tiêu tăng trưởng Kinh tế - xã hội Hà Nội

51

2 Bảng 3.2 Kế hoạch vốn đầu tư cho lĩnh vực Khoa học Công

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nền kinh tế đều phụ thuộc rất lớn và khoa học và công nghệ Nhận thức được điều đó, trong những năm qua, để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng

và Nhà nước ta đã rất chú trọng đến phát triển KHCN Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã xác định KHCN cùng với giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu ở nước ta hiện nay Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ: “Thế

kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi, khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt, kinh tế tri thức sẽ có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng có nhiều nước tham gia” Cần tạo ra năng lực nội sinh về KHCN đủ khả năng ứng dụng các công nghệ hiện đại, tiếp cận trình độ thế giới và tự phát triển trên một số lĩnh vực, nhất là công nghệ thông tin Nghị quyết Đại hội X của Đảng nêu “phát triển mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ… tạo động lực đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức”

Tuy nhiên, đến nay hoạt động KHCN của nước ta còn rất hạn chế Trong

đó, vấn đề vốn đầu tư cho KHCN chưa thật sự được chú trọng, nhất là đầu tư cho các dự án khoa học có điều kiện nghiên cứu và ứng dụng, gắn kết với nhu cầu thực tiễn của các ngành kinh tế quốc dân, nâng cao năng lực công nghệ nội sinh còn nhiều bất cập KHCN vẫn chưa thực sự gắn kết với nhu cầu và hoạt động của các ngành kinh tế, xã hội, chậm đưa vào ứng dụng những kết quả đã nghiên cứu được, trình độ công nghệ còn thấp nhiều so với các nước xung quanh Năng lực tạo ra công nghệ mới còn rất có hạn, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trang 13

Trong thời gian qua, Nhà nước và thành phố Hà Nội đã có nhiều văn bản pháp luật, chính sách và cơ chế góp phần tạo môi trường pháp lý cho việc quản lý vốn đầu tư KHCN từ Ngân sách nhà nước Tuy nhiên, việc quản lý Nhà nước nói chung và của tành phố Hà Nội nói riêng còn nhiều hạn chế, bất cập như một số luật pháp, chính sách, cơ chế không còn phú hợp, chồng chéo, thiếu và chưa đồng bộ; tình trạng buông lỏng quản lý dẫn đến lãng phí, thất thoát, tham nhũng vốn của Nhà nước Những nguyên nhân đó dẫn tới tình trạng hiệu quả ĐTKHCN từ nguồn vốn NSNN còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi kinh tế và hội nhập quốc tế trong thời kỳ mới, đặc biệt là giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

Đây thực sự là một vấn đề rất quan trọng cần được nghiên cứu làm rõ cả

về lý luận và thực tiễn Chính vì vậy đề tài “Quản lý vốn đầu tư khoa học

công nghệ từ ngân sách Nhà nước của thành phố Hà Nội " được học viên

chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành quản lý kinh tế

Câu hỏi nghiên cứu của Luận văn: Thành phố Hà Nội cần quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách Nhà nước như thế nào để có thể ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ vào thực tế?

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận chung và phân tích thực trạng quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách Nhà nước của thành phố

Hà Nội để đề xuất những phương hướng, giải pháp hoàn thiện công tác quản

lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách Nhà nước của thành phố Hà Nội trong thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách nhà nước dưới góc độ địa phương

Trang 14

- Tổng kết kinh nghiệm quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ ở một số nước và địa phương, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách nhà nước cho thành phố Hà Nội

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ

từ ngân sách nhà nước của Thành phố Hà Nội Rút ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế để từ đó làm rõ hơn các vấn đề cần giải quyết

- Kiến nghị, đề xuất một số phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách nhà nước của thành phố Hà Nội trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực tiễn quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách Nhà nước

ở thành phố Hà Nội, tập trung chủ yếu ở Sở Khoa học & Công nghệ Hà Nội, bao gồm: bộ máy tổ chức, quản lý vốn đầu tư khoa học và công nghệ; Cơ chế, chính sách, quy hoạch, kế hoạch khoa học và công nghệ; Hoạt động kiểm tra, giám sát khoa học và công nghệ…

3.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách Nhà nước ở thành phố Hà Nội Đại diện là Sở Khoa học & Công nghệ Hà Nội

+ Luận văn tìm hiểu kinh nghiệm quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ ở một số địa phương có đặc điểm tương đồng với Hà Nội như TP Hồ Chí Minh và một số nước như Trung Quốc, Nhật Bản

3.3 Thời gian nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ giai đoạn 2010 – 2014

Trang 15

4 Đóng góp của luận văn

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản của quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ và bổ sung thêm một số lý luận về quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ dưới góc độ địa phương

- Tổng kết kinh nghiệm của một số địa phương về quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ, từ đó rút ra một số bài học có thể vận dụng cho Hà Nội

- Đánh giá tương đối toàn diện thực trạng quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ của thành phố Hà Nội theo khung lý thuyết đã phân tích, đề xuất

- Đề xuất được một số phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả quản

lý vốn đầu tư khoa học công nghệ ở thành phố Hà Nội, làm cơ sở khoa học cho các nhà quản lý tham khảo để đưa ra các quyết sách phù hợp về quản lý vốn đầu

tư và phát triển KHCN ở thành phố Hà Nội

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý của thành phố, nhất là cán bộ công chức của Sở KH & CN Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức, nâng cao chất lượng hoạt động quản lý

và tác nghiệp cho cán bộ để có hiệu quả cao hơn

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có kết cấu gồm 4 chương: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách Nhà nước

Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách nhà nước của thành phố Hà Nội

Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách nhà nước của thành phố Hà Nội

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ KHOA HỌC

CÔNG NGHỆ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về vốn đầu tư và vốn đầu

tư khoa học công nghệ của các nhà khoa học, các tổ chức Coleman (1988) khẳng định vốn đầu tư là “sản phẩm tái sinh” của các hoạt động khác, thông qua mối quan hệ giữa các cá nhân, tổ chức với nhau, người ta thiết lập và duy trì những quan hệ như thế để tìm kiếm lợi ích Theo quan điểm của Fukuyama (2002), cá nhân có thể tạo ra và sử dụng vốn đầu tư để phục vụ mục đích của mình Trong khi đó Putnam (2000) cho biết vốn đầu tư được dùng để tìm kiếm sự thịnh vượng về kinh tế Lin (1999) lại nói rõ vốn đầu tư phản ánh khả năng đầu tư và lợi ích thu về

Cho đến nay, tầm quan trọng của vốn đầu tư khoa học công nghệ đã được đề cập trong các nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau trên thế giới

Bài viết của tác giả Fukuyama (2002), “Vốn đầu tư và phát triển: Chương

trình nghị sự sắp tới”, nhấn mạnh đến tính tích cực của vốn đầu tư Bài viết

chỉ ra cách mà vốn đầu tư có thể đóng góp vào phát triển kinh tế và khoa học công nghệ Bài viết cũng giải thích rằng vốn đầu tư giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của nhiều doanh nghiệp

Bài viết của tác giả Woolcock (2001), “Vị trí của vốn đầu tư trong việc

lý giải những kết quả kinh tế và xã hội”, nhấn mạnh rằng vốn đầu tư có vai trò

quan trọng trong việc huy động các nguồn lực nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Ở Việt Nam, quản lý vốn đầu tư KH & CN từ ngân sách Nhà nước đã được nghiên cứu nhiều ở dạng phương pháp luận chung nhất để dạy ở các trường đại học, các học viện hoặc được nghiên cứu ở tầm quốc gia do Bộ Khoa

Trang 17

học và Công nghệ, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội thực hiện dưới dạng đề tài cấp Nhà nước

Trong những năm gần đây, Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách KH&CN đã có những nghiên cứu bàn luận về nguồn vốn đầu tư cho phát triển KH&CN trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần Trong đó có đề

tài cấp Bộ nghiên cứu về “Chia sẻ kinh phỉ giữa nhà nước và cơ sở cho dự án

triển khai và đổi mới công nghệ” do Nguyễn Thanh Hà làm chủ nhiệm,

nghiên cứu tình hình và cơ chế hoạt động của hệ thống các quỹ hỗ trợ tài chính cho hoạt động KH&CN ở Việt Nam Hay những đề tài cấp cơ sở như:

“Nâng cao hiệu quả một sổ chỉnh sách thuế và tín dụng khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghề'’ do Hoàng Văn Tuyên làm chủ nhiệm,

nghiên cứu về chính sách thuế và tín dụng cùng một số nỗ lực của Nhà nước tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nghiên cứu và ứng dụng KH&CN vào sản xuất kinh doanh, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp chính sách

về tài chính đối với doanh nghiệp; đề tài về; “Nghiên cứu xây dựng các hình

thức hợp tác và cơ chế khuyến khích hợp tác viện — doanh nghiệp phát triển sản phẩm và công nghệ của doanh nghiệp” do Hoàng Thanh Hương làm chủ

nhiệm nhằm phân tích mối quan hệ giữa hoạt động KH&CN và hoạt động sản xuất nhằm tìm ra và kiến nghị các hình thức hợp tác và cơ chế khuyến khích hợp tác cho mối quan hệ này

Đã có một số bài viết như: “Thị trường khoa học và công nghệ; đặc

trưng của kỉnh tể tri thức” của GS Vũ Đình Cự bàn về nhiệm vụ do Đại hội

IX của Đảng đặt ra là phải phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam nhưng thực tế thị trường đó như thế nào, đã làm được gì và kiến nghị giải pháp thúc

đẩy phát triển; bài: “Phát triển thị trường khoa học và công nghệ Việt Nam”

của TS Hồ Ngọc Luật nhằm phân tích các yếu tố cung, cầu, môi trường pháp

lý, xã hội cho thị trường này hoạt động trôi chảy, đưa ra đánh giá bước đầu

Trang 18

về sự phát triển thị trường này và kiến nghị các giải pháp thúc đẩy phát triển Các nghiên cứu này đã có những bàn luận về nguồn vốn cho phát triển KH&CN trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần

Một số bài viết về đầu tư phát triển KH&CN, phân tích thực trạng của

hoạt động đầu tư này và kiến nghị giải pháp thúc đẩy như: “Vốn đầu tư cho

hoạt động khoa học và công nghệ vẫn chưa có lời giải hữu hiệu” của Hoàng

Vãn Dụ trên diễn đàn của Bộ Khoa học và Công nghệ, số 2/2003; “Quy chế

tài chỉnh không phù hợp với nghiên cứu khoa học và công nghệ” của Thu

Hương, số 1/2004; “Đầu tư cho khoa học công nghệ nông nghiệp” của Kiều

Linh trên báo Nhân dân điện tử

Các công trình nêu trên, ở mức độ khác nhau, đã cung cấp một số tư liệu và kiến thức chung cho luận văn Các công trình nghiên cứu đã phân tích khái quát những vấn đề lý luận chung, phân tích, đánh giá thực trạng và đưa ra một số giải pháp về phát triển khoa học và công nghệ, quản lý vốn đầu tư khoa học và công nghệ ở Việt Nam Việc nghiên cứu về lý luận và thực tiễn quản lý vốn đầu tư khoa học và công nghệ từ ngân sách Nhà nước mang tính đặc thù riêng của Hà Nội về tiềm năng, thế mạnh, nguồn lực, về không gian, về định hướng phát triển và phù hợp với điều kiện, bối cảnh mới hiện nay khi Việt Nam đang tái cấu trúc nền kinh tế và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới chưa được tiếp cận, phân tích và thực hiện một cách hệ thống, chuyên sâu

Luận văn góp phần bổ sung, luận giải thêm một số nội dung về lý luận

và thực tiễn quản lý vốn đầu tư KHCN từ ngân sách Nhà nước chưa được hệ thống hóa, giải quyết Đặc biệt, sẽ hệ thống hoá và phân tích chuyên sâu về lý luận và thực tiễn quản lý vốn đầu tư KH-CN từ ngân sách Nhà nước tại thành phố Hà Nội Vì vậy, đây là một công trình nghiên cứu độc lập, không trùng lặp với các công trình đã công bố

Trang 19

1.2 Cơ sở lý luận về quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách Nhà nước

1.2.1 Khái niệm quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ NSNN

1.2.1.1 Vốn đầu tư

Vốn đầu tư cùng với lao động và đất đai là một trong những yếu tố đầu vào cơ bản của mọi quá trình sản xuất Lý thuyết kinh tế hiện đại ngày nay đề cập vốn đầu tư theo quan điểm rộng hơn, đầy đủ hơn, bao gồm cả đầu tư để nâng cao tri thức, thậm chí bao gồm cả đầu tư để tạo ra nền tảng, tiêu chuẩn đạo đức xã hội, môi trường kinh doanh (nguồn vốn xã hội) cũng là những đầu

tư quan trọng của quá trình sản xuất

1.2.1.2 Vốn đầu tư khoa học công nghệ

Theo Luật Đầu tư của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005, tại Điều 3 - Giải thích từ ngữ, khái niệm đầu tư được hiểu:

“Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc

vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”

Đầu tư có nhiều loại: Đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp (cho vay); đầu tư ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Đầu tư dài hạn thường gắn với đầu tư khoa học công nghệ Do vậy, có thể hiểu như sau:

Đầu tư KHCN là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung, đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn

1.2.1.3 Vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách Nhà nước

* Ngân sách nhà nước

Điều 1 Luật của Quốc hội Nước cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam số

01/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002 về ngân sách nhà nước: “Ngân

Trang 20

sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”

- Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

- Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

* Vốn đầu tư KHCN từ ngân sách nhà nước

Căn cứ theo phân cấp quản lý NSNN, chia nguồn vốn đầu tư từ NSNN

thành: Vốn đầu tư từ NSNN Trung ương và vốn đầu tư từ NSNN địa phương

Từ khái niệm đầu tư KHCN và sự phân tích về NSNN có thể hiểu khái niệm Vốn đầu tư KHCN từ NSNN là:

Vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách nhà nước là một phần của vốn đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước được hình thành từ sự huy động của Nhà nước dùng để chi cho đầu tư KHCN nhằm nghiên cứu khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn

1.2.1.4 Quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách Nhà nước

Như vậy, với những khái niệm đã làm rõ ở trên chúng ta có thể hiểu việc quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách Nhà nước là chức năng

và hoạt động của hệ thống tổ chức nhằm quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách Nhà nước một cách có hiệu quả đảm bảo việc đầu tư phát triển KH&CN nhằm tăng năng lực KH&CN của một đơn vị và của quốc gia, thúc đẩy tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế

Trang 21

1.2.2 Đặc điểm của vốn đầu tư KHCN

Khoa học là hoạt động khám phá để sinh ra tri thức Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện để biến đổi các nguồn lực thành hàng hóa và dịch vụ mong muốn

Trước đây, do có không ít người cho rằng khoa học là hầu như không biên giới, còn công nghệ thì phải mua bán khá tốn kém, cho nên việc đầu tư kinh doanh chỉ chú ý vào lĩnh vực công nghệ Thế nhưng hiện nay, khoảng cách giữa KH&CN ngày càng được rút ngắn, thậm chí rất ngắn Ranh giới giới giữa khoa học và công nghệ khó tách bạch Do vậy, đầu tư vào công nghệ hay đầu tư vào khoa học đều mang ý nghĩa như nhau Chúng ta phải có cách nhìn động đối với đầu tư cho KH&CN và đặt hoạt động đầu tư này trong bối cảnh tổng thể của đầu tư phát triển nói chung và do vậy khẳng định mối liên

hệ mật thiết, sự phụ thuộc chặt chẽ của đầu tư cho KH&CN vào các hoạt động đầu tư khác trong phát triển kinh tế xã hội

Vốn đầu tư cho KH&CN là một loại đầu tư phát triển Nó là nguồn vốn được bỏ ra để thực hiện mục đích đầu tư phát triển KH&CN nhằm tăng năng lực KH&CN của một đơn vị và của quốc gia, thúc đẩy tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế Hoạt động KH&CN bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển KH&CN Đây là hoạt động có tính đặc thù Do vậy, vốn đầu tư cho KH&CN cũng mang tính đặc thù cả trong nội dung và phương thức hoạt động của nó Tính đặc thù này xuất phát từ đối tượng phục

vụ của nguồn vốn là hoạt động KH&CN Từ cách đặt vấn đề như trên, ta có thể khái quát những đặc điểm cơ bản của nguồn vốn đầu tư này:

- Một là, đối tượng đầu tư không chỉ đơn thuần thuộc lĩnh vực sản xuất,

kinh doanh để nhà đầu tư trực tiếp thu lợi nhuận, thu được một giá trị lớn hơn

Trang 22

giá trị vốn đã bỏ ra, mà khoản đầu tư này còn lấy đối tượng phục vụ là phục

vụ cho các hoạt động nghiên cứu, triển khai tìm kiếm, phát hiện tri thức mới

và vận dụng những tri thức đó vào việc tạo ra những phương tiện, phương pháp mới thúc đẩy sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội Nó không là bộ phận đầu tư trực tiếp tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động,

mà là bộ phận đầu tư để tăng năng lực sản xuất và để nâng cao chất lượng của

sự tăng trưởng Đầu tư cho phát triển KH&CN thực chất là đầu tư cho phát triển tri thức Bởi vậy, đây là hình thức đầu tư có tính “sống còn” trong việc nâng cao năng suất lao động của từng doanh nghiệp cũng như thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia

- Hai là, xét theo chu trình nghiên cứu – triển khai – sản xuất, thì hoạt

động KH&CN nằm trong giai đoạn trước khi đưa ra sản xuất đại trà

Theo cách tiếp cận này, đầu ra của các dự án KH&CN (sản phẩm khoa học và sản phẩm công nghệ) mới chỉ dừng lại ở sản phẩm loạt nhỏ, không thể bán đại trà và mới chỉ có khả năng thương mại hóa

Do mục tiêu của một dự án KH&CN là tạo ra hoặc hoàn thiện các yếu tố liên quan đến sự khám phá hoặc đến công nghệ (áp dụng, cải tiến, hấp thụ, làm chủ công nghệ) và sản phẩm của dự án có khả năng chuyển giao (thương mại hóa), nên trong quá trình thực hiện dự án, bản thân người trong cuộc sẽ phải có những hoạt động triển khai cụ thể mà những hoạt động này có thể nằm trong những giai đoạn khác nhau trong chu trình nghiên cứu – triển khai – sản xuất

Sản phẩm của dự án KH&CN có thể là tri thức mới, là công nghệ hoàn chỉnh với đầy đủ tính năng mong muốn và có khả năng thương mại hóa Sản phẩm của KH&CN thực chất là tri thức, chất xám nên khó định lượng, được thể hiện dưới dạng vật chất hữu hình như bằng phát minh sáng chế hoặc vô hình dưới dạng ý tưởng công nghệ Việc xác định giá trị của hàng hóa này là

Trang 23

điều rất khó, do lao động sáng tạo ra hàng hóa là lao động trí óc và tồn tại sự bất đối xứng thông tin giữa bên bán và bên mua Thực tế cho thấy, sự thành công trong việc tạo ra tri thức, công nghệ và khả năng chuyển giao, thương mại hóa phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: kinh tế, kỹ thuật, tài chính, xã hội, … Điều này có nghĩa là đầu tư vào các dự án KH&CN thường có độ mạo hiểm

và rủi ro tương đối Những rủi ro này thường gắn với rủi ro về mặt công nghệ

và rủi ro về mặt thị trường

Rủi ro về mặt công nghệ gắn nhiều tới các yếu tố kỹ thuật, các yếu tố đầu vào khác của dự án (kinh tế, tài chính) Điều này nghĩa là nếu sử dụng tiền túi tự đầu tư để nghiên cứu thì sự mạo hiểm có thể dẫn đến nguy hiểm Thực tế, đã có nhiều nhà khoa học ở các nước tư bản công nghiệp bị phá sản

vì thất bại Rủi ro về mặt thị trường gắn nhiều tới các yếu tố liên quan tới cầu (nhu cầu và sức mua) của thị trường Đầu tư cho KH&CN tiềm ẩn sự “mạo hiểm” Ngay cả tại các nước phát triển, tỷ lệ nghiên cứu thành công có thể áp dụng vào đời sống và sản xuất cũng chỉ khoảng trên dưới 20%

Tuy vậy, đi cùng với nó, một dự án khi thành công (tạo ra sản phẩm là tri thức, công nghệ hoàn chỉnh, đáp ứng được nhu cầu thị trường), thì nhà đầu tư

sẽ thu lợi nhuận lớn, thậm chí là rất lớn nếu đó là những dự án mang tính đột phá Đây chính là một điểm khá hấp dẫn các nhà đầu tư

- Ba là, KH&CN là yếu tố “đầu vào” rất quan trọng để biến đổi các

nguồn lực sản xuất, là thước đo trình độ phát triển của mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia Trong kinh tế thị trường, do áp lực cạnh tranh và lợi nhuận, từng doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế đều phải coi phát triển khoa học và đổi mới công nghệ sản xuất là một đòi hỏi có tính sống còn Bí quyết về KH&CN phải có chủ sở hữu Việc sản xuất và mua bán loại tài sản này tất yếu sẽ diễn ra, do đó tất yếu hình thành và phát triển thị trường KH&CN

Trang 24

Kinh tế thị trường càng phát triển, càng thúc đẩy phân công, chuyên môn hóa sâu Việc một chủ thể có được một sản phẩm KH&CN cũng không nhất thiết phải do chính chủ đó tạo ra, họ có thể mua trên thị trường Do đó, tồn tại quan hệ cung – cầu về KH&CN Dòng chảy của vốn đầu tư cho KH&CN phải tuân theo quan hệ cung – cầu trên thị trường Tức là người ta chỉ đầu tư vào lĩnh vực hay dự án KH&CN nào mà xã hội có nhu cầu Theo quy luật về dòng chảy của các nguồn vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh, thì sức cầu là một yếu tố quyết định việc chủ thể kinh tế nên đầu tư vào dự án KH&CN nào và mức độ nhiều hay ít Bởi vì loại vốn đầu tư này cũng tìm kiếm lợi nhuận Nó sẽ vận động từ nơi hoạt động đầu tư kém hiệu quả đến nơi hoạt động đầu tư có hiệu quả hơn

Trên thị trường KH&CN, sự cạnh tranh giữa các cơ sở khoa học với tư cách là người bán (nghiên cứu, tìm kiếm sản phẩm tốt nhất phục vụ khách hàng), và cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp với tư cách là người mua (lựa chọn sản phẩm tốt nhất của các cơ sở khoa học phục vụ mục tiêu phát triển) Điều đó có nghĩa là trong nền kinh tế thị trường, đầu tư cho phát triển KH&CN không chỉ đơn thuần là công việc được Nhà nước bao cấp như đã hiểu và làm trước đây ở nước ta Đầu tư cho KH&CN trước hết phải là hoạt động đầu tư cho sự tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp không phân biệt thuộc thành phần kinh tế nào trong cơ chế thị trường Vì khoản đầu tư này gắn với lợi ích thiết thân của mỗi chủ thể kinh tế

Tuy nhiên, đầu tư vào KH&CN không phải là vì bản thân KH&CN, mà lại vì đầu tư đó có đem lại cho chủ sản xuất kinh doanh một hàng hóa dịch vụ nào đó có chi phí thấp hơn và có chất lượng sản phẩm cao hơn năng lực hiện

có hay không? Đầu tư cho KH&CN là khoản đầu tư phái sinh, chỉ xuất hiện khi có nhu cầu đầu tư tạo sản phẩm mới hoặc làm tăng thêm năng lực sản xuất kinh doanh của một hàng hóa, dịch vụ nào đó trên thị trường

Trang 25

- Bốn là, do hiệu quả của hoạt động KH&CN có độ trễ nhất định, không

dễ thấy, nên việc đầu tư không thể đòi hỏi nhìn thấy hiệu quả ngay lập tức Đầu

tư cho KH&CN là đầu tư phát triển, đầu tư cho tương lai Nghiên cứu đã mất nhiều thời gian, đưa kết quả nghiên cứu vào cuộc sống cũng cần có thời gian,

để kết quả nghiên cứu phát huy hiệu quả lại cần thêm thời gian nữa Đây chính

là quá trình “thương mại hóa” kết quả nghiên cứu Trong lịch sử, nhiều phát minh vĩ đại phải hàng chục năm sau mới được xã hội biết đến Nhưng nếu không đầu tư cho nghiên cứu hôm nay thì không bao giờ có kết quả ngày mai Đầu tư cho KH&CN ngoài hiệu quả trực tiếp, còn có hiệu quả tiềm năng (Ví dụ, đầu thập niên 70 thế kỷ XX, Việt Nam bắt đầu nghiên cứu về ưu thế lai, 25 năm sau đánh bật được các công ty nước ngoài, giành lại thị phần ngô giống lai ở Việt Nam); hiệu quả mang tính tích hợp như: Việt Nam chặn đứng được dịch SARS sớm nhất thế giới là nhờ công của các nhà nghiên cứu siêu

vi trùng, dịch tễ học,bác sĩ điều trị; hiệu quả gián tiếp như công trình nghiên cứu sản xuất dây hàn lõi thuốc bằng vật liệu trong nước ngoài hiệu quả kinh

tế còn góp phần vào nâng cao chất lượng đóng tàu của Việt Nam

Nhiều sản phẩm khoa học mang lại hiệu quả lớn nhưng là hiệu quả gián tiếp hoặc vô hình Ví dụ, một phần mềm diệt vi rút máy tính Hiệu quả kinh tế trực tiếp của nó rất khó nhìn thấy Nhưng ở một nước có khoảng 10 triệu máy tính cá nhân, nếu không có phần mềm diệt virus hiệu quả, khi bị virus tấn công trên diện rộng, chi phí sửa chữa một máy có thể tới vài chục đô la Nhân lên cả xã hội thì tổn thất là rất lớn, chưa kể thiệt hại do cơ sở dữ liệu quản lý của cả xã hội bị phá hủy, trong khi việc bỏ ra vài nghìn đô la để đầu tư nghiên cứu phần mềm diệt virus có thể cứu được cả chục triệu cái máy tính trên, giảm tổn thất cho xã hội hàng nghìn tỷ đồng

Một ví dụ khác, nghiên cứu chế tạo thành công hệ thống xylanh nâng hạ thủy lực tải trọng lớn (400 tấn) ở công trình thủy điện Sơn La Hiệu quả nhìn

Trang 26

thấy được có thể chỉ là mấy triệu USD tiết kiệm được so với mua của nước ngoài, nhưng hiệu quả vô hình chính là sản phẩm khoa học này đã giúp rút ngắn thời gian thi công nhà máy, phát điện trước thời hạn 2 năm, cung cấp cho đất nước hàng chục tỷ kWh điện, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội hàng tỷ USD Đó là chưa kể những lợi ích khác như chúng ta làm chủ được công nghệ chế tạo, không phụ thuộc vào nước ngoài, có thể sử dụng cho các công trình khác tiếp theo như thủy điện Lai Châu, tiếp tục mang lại hiệu quả kinh tế cao

- Năm là, đầu tư cho KH&CN cũng là hoạt động đầu tư trong kinh tế thị

trường để tạo ra sản phẩm hàng hóa Do vậy, nguồn huy động vốn cho hoạt động đầu tư này cũng tất yếu thông qua thị trường Các hình thức tín dụng, cổ phiếu, trái phiếu cũng là kênh dẫn vốn thiết yếu cho hoạt động đầu tư này Tuy nhiên, do hoạt động KH&CN có độ trễ, hiệu quả hoạt động của nó

là gián tiếp hoặc vô hình, nên sự hỗ trợ về tài chính của Nhà nước là rất cần thiết cho các hoạt động KH&CN, nhất là đối với các nghiên cứu cơ bản, có tính đột phá nhằm nâng cao tiềm lực KH&CN quốc gia

1.2.3 Sự cần thiết quản lý vốn đầu tư KHCN từ NSNN

Vốn đầu tư có tầm quan trọng đặc biệt Nó là yếu tố vật chất trực tiếp quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ, cải thiện môi trường Trên bình diện vĩ mô tất cả các chiến lược, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội đều rất cần đến vốn đầu tư Đối với hoạt động KH&CN vốn đầu tư có vai trò là điều kiện tiên quyết Nếu không có vốn, các dự án KH&CN chỉ có thể dừng lại ở ý tưởng và sự mong muốn, chứ không thể trở thành hiện thực Vốn đầu tư là điều kiện không thể thiếu được để nâng cao năng lực KH&CN của một doanh nghiệp, một tổ chức và của một quốc gia

Để thực hiện tốt chức năng và vai trò của KH&CN yêu cầu đặt ra phải quản lý vốn đầu tư để tổ chức việc nghiên cứu, triển khai các dự án KH&CN, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển các cơ sở KH&CN trong toàn bộ nền

Trang 27

kinh tế quốc dân cũng như trong từng ngành, lĩnh vực kinh tế, xã hội là cần thiết và cấp bách

- Tính cấp thiết giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu đầu tư rất lớn cho KH&CN với tình trạng thiếu vốn và sự hạn hẹp của ngân sách Nhà nước

Nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH phấn đấu đến năm

2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Trong giai đoạn này, phải đẩy mạnh phát triển KH&CN, coi đó là điều kiện để đẩy nhanh tiến trình và thực hiện CNH, HĐH có hiệu quả Thực chất của CNH, HĐH là phát triển KH&CN Điều này có nghĩa là nguồn vốn đầu tư cho phát triển KH&CN phải rất lớn mới có thể đáp ứng được yêu cầu

Theo các nghiên cứu gần đây, để trở thành nước công nghiệp vào năm

2020, KH&CN nước ta phải đạt trình độ tiên tiến trong khu vực ở các ngành kinh tế trọng điểm như công nghệ sinh học, sản xuất lương thực, chế biến nông – lâm – hải sản, cơ khí điện tử, công nghệ thông tin, bưu chính viễn thông, khai thác và chế biến dầu khí, giao thông vận tải, xây dựng, vật liệu cơ bản, sản xuất và sử dụng năng lượng, y dược Phát triển một số ngành công nghiệp biển, ứng dụng có chọn lọc các thành tựu khoa học hiện đại nhằm tiếp cận với trình độ thế giới trong một số lĩnh vực quan trọng, làm cơ sở vững chắc cho phát triển các ngành công nghiệp hiện đại Để đạt được trình độ đó, mức đầu tư tối thiểu cho KH&CN hàng năm phải trên 2% GDP Thế nhưng, mức đầu tư những năm gần đây của nước ta còn rất khiêm tốn so với các nước trong vùng

Mức đầu tư của nước ta cho KH&CN thấp là sự phản ánh một thực tế điểm xuất phát về kinh tế còn thấp, thu nhập chưa cao, phần tiết kiệm cho đầu

tư còn ở mức rất khiêm tốn Nước ta đang đứng trước mâu thuẫn rất gay gắt giữa nhu cầu đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung, KH&CN nói riêng là rất lớn, nhưng mức đáp ứng còn hạn hẹp

Trang 28

Do thu nhập của dân cư thấp nên nguồn ngân sách Nhà nước còn ít Mặc

dù hàng năm Nhà nước đã có nhiều cố gắng dành phần lớn ngân sách cho phát triển KH&CN, nhưng không thể đáp ứng được nhu cầu

Cũng như các nước đang phát triển khác, nước ta đang đứng trước "vòng luẩn quẩn" của tình trạng kém phát triển: thu nhập thấp dẫn đến tiết kiệm và đầu tư thấp, dẫn đến tỷ lệ tích lũy vốn thấp, không đủ vốn cho đầu tư ; làm cho năng lực sản xuất giảm, năng suất của nền kinh tế thấp; điều này dẫn đến kết quả là thu nhập bình quân thấp và không thể vượt lên mức thu nhập ban đầu Để phá vỡ vòng luẩn quẩn đó, các nước đang phát triển phải tạo ra "một bước đột phá" vào một mắt xích nào đó, để rồi phá vỡ các mắt xích còn lại Khâu đột phá đó thường được lựa chọn là tăng nguồn vốn đầu tư

Việc thu hút các nguồn vốn xã hội cả trong và ngoài nước cho phát triển KH&CN là đồi hỏi thiết yếu trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH ở nước ta hiện nay

- Trong xu hướng toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra, chỉ có KH&CN mới đưa Việt Nam bứt phá

Trong quan hệ kinh tế, lợi thế của một nước có thể từ điều kiện tự nhiên

và vị trí địa lý, nhưng cũng có thể được tạo ra bởi hoạt động của con người Ngày nay, người ta đã rút ra quy luật: trên thế giới không phải những nước chiếm giữ nhiều đất đai và tiền bạc mà chính những nước chiếm giữ đỉnh cao tri thức và công nghệ mới trở thành quốc gia phát triển hàng đầu Điều này nghĩa là, trên toàn cầu, quyền lực KH&CN là nhân tố quyết định vị trí và thứ bậc phát triển của quốc gia

Thực tế cho thấy, khoa học – tri thức và công nghệ - ứng dụng tri thức vào sản xuất chính là những yếu tố quyết định sự phồn vinh của một dân tộc, một đất nước Thực tế ở nhiều nước và Việt Nam cũng cho thấy, chính tụt hạng về năng lực KH&CN là tác nhân lớn nhất làm cho năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và của quốc gia bị suy giảm

Trang 29

Để có 20 năm tăng trưởng kinh tế mạnh vừa qua, Đảng và Nhà nước ta

đã “cởi trói” nông nghiệp bằng khoán 10, công nghiệp bằng luật doanh nghiệp, huy động tối đa tiềm lực lao động giản đơn Tuy nhiên, muốn tiến xa hơn, chỉ còn cách phát triển KH&CN mới có thể làm cho một đất nước phát triển bền vững và bứt phá Con đường để đáp ứng đòi hỏi này là phải có vốn Xúc tiến đầu tư phải coi là một biện pháp chiến lược để thúc đẩy phát triển KH&CN

- Việc quản lý vốn đầu tư vào KH&CN còn là cần thiết để nuôi dưỡng nhân tài, tạo động lực phát triển, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động

Nhân lực trình độ cao là một yếu tố quyết định tốc độ và hiệu quả phát triển KH&CN Ngày nay, mục tiêu phát triển trong nền kinh tế thị trường toàn cầu hóa đã được nhiều nước quan niệm: khoa học sử dụng tiền để tạo ra tri thức, còn công nghệ thì sử dụng tri thức để tạo ra tiền Để có được như vậy, cần

có được nguồn nhân lực đủ trình độ Trong xu thế phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng KH&CN hiện nay, ngoài việc mở rộng đào tạo mới để tăng nhanh số lượng nguồn nhân lực KH&CN, thì việc trang bị thêm các kiến thức

về pháp lý, tài chính, mỗi nhà quản lý, mỗi nhà khoa học là rất cần thiết Hiện tại, đa phần các nước đang phát triển vẫn là nơi tự nguyện cung cấp lực lượng lao động và đất đai giá rẻ cũng như tạo các điều kiện thuận lợi về thuế và xuất khẩu để thu hút đầu tư nước ngoài Điển hình nhất của tình trạng

"công nghệ hóa phi công nghệ" là các nước Đông Nam Á Doanh nghiệp ở các nước này chỉ quan tâm việc thu lợi nhuận nhanh bằng buôn bán bất động sản hơn là bỏ công sức để học tập công nghệ và xây dựng nhà máy Rõ ràng

là, nếu chính sách phát triển chỉ nhìn nhận đầu tư theo phương diện tài chính hoặc số lượng người lao động có việc làm mà không coi trọng đầu tư để học tập, nâng cao trình độ khoa học và đổi mới công nghệ, đổi mới văn hóa, thì cùng lắm đất nước cũng chỉ thoát nghèo và mãi mãi vẫn chỉ là nước đang phát triển Không phải khi nào chỉ số GDP cũng là thước đo của sự phát triển

Trang 30

Khó khăn lớn nhất hiện nay của các doanh nghiệp Việt Nam là chưa đủ kiến thức (chất xám) để làm chủ công nghệ, nghiên cứu và ứng dụng KH&CN vào phát triển kinh tế Điều này nghĩa là, nếu chúng ta thiếu một cuộc cách mạng về phát triển con người sẽ rất khó khăn khi đón nhận những lợi ích lâu dài và to lớn mà đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài mang lại cho đất nước Cần phải coi củng cố nguồn nhân lực cho đổi mới là mục tiêu quan trọng trong phát triển KH&CN Do vậy, cần quản lý vốn đầu tư KH&CN bằng việc thu hút vốn đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực Đòi hỏi này đã và đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết đối với nước ta để phát triển KH&CN hay nói rộng

ra là đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

Quản lý vốn đầu tư KHCN bằng việc thu hút vốn đầu tư cho phát triển KH&CN còn là cần thiết để tạo và ổn định việc làm, tăng thu nhập kích thích tính năng động, sáng tạo của người lao động Việc thu hút nhân tài cho phát triển KH&CN cũng chỉ có thể thực hiện được thông qua chính sách hỗ trợ, ưu đãi trong đầu tư vốn

Một trong những nguy cơ của các nước đang phát triển trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay là tình trạng "chảy máu chất xám " Các nước phát triển thường lợi dụng toàn cầu hóa, tạo ra điều kiện làm việc thuận lợi và mức tiền công cao để thu hút nhân tài từ các nước đang phát triển Trong khi đó, các nước đang phát triển muốn thực hiện một dự án nào đó liên quan sử dụng công nghệ chất lượng cao lại phải thuê chuyên gia từ các nước phát triển với mức chi phí rất lớn Tức là, các nước đang phát triển bị thiệt hại kép Thực tế ngày càng chứng tỏ, thu hút vốn đầu tư cho phát triển nhân lực KH&CN, bảo đảm mức thu nhập cao và ổn định cho người lao động, nuôi dưỡng nhân tài phải được coi là ưu tiên trong quá trình nâng cao tiềm lực KH&CN quốc gia

Để đẩy mạnh tiến trình CNH, HĐH đất nước và hội nhập sâu hơn, đầy

đủ hơn vào các quan hệ kinh tế quốc tế, trên cơ sở nhận thức vai trò của vốn

Trang 31

cho phát triển KH&CN

Tóm lại, việc quản lý vốn đầu tư KHCN từ NSNN nói chung, trong đó

có Thành phố Hà Nội là một tất yếu khách quan Nó góp phần khắc phục tình trạng thất thoát lãng phí vốn, nâng cao chất lượng các dự án, đề tài khoa học, nâng cao chất lượng và nhịp độ CNH, HĐH; thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách Nhà nước

Việc quản lý vốn đầu tư cho phát triển KH&CN cũng chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố quyết định đầu tư nói chung Tuy nhiên, nếu xem xét đến cả tính đặc thù của hình thức đầu tư này thì quy mô vốn đầu tư cho phát triển KH&CN phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố: thu nhập, lãi suất vay vốn, triển vọng của dự án đầu tư và chính sách phát triển KH&CN của Nhà nước

1.2.4.1 Sức phát triển của các thành phần kinh tế và thu nhập của nền kinh tế quốc dân

Sức phát triển của các thành phần kinh tế phản ánh sức phát triển của nền kinh tế quốc dân Nó được thể hiện ở quy mô sản lượng và tốc độ tăng trưởng kinh tế Một nền kinh tế đang phát triển, sản xuất thường nằm ở dưới mức tiềm năng Ở đó, còn nhiều nguồn lực chưa được sử dụng Tuy có tốc độ tăng trưỏng kinh tế cao, nhưng các nền kinh tế đang phát triển mới chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, phát triển kinh tế theo chiều rộng Tổng giá trị sản lượng của thu nhập quốc dân và mức thu nhập bình quân đầu người còn thấp Do thu nhập thấp, nên phần chủ yếu của thu nhập là dành cho tiêu dùng,

tỷ lệ và mức tiết kiệm thấp Điều này không những cản trở đầu tư của khu vực tư nhân, mà còn làm nghèo ngân sách Nhà nước, do đó đầu tư của Nhà nước cũng bị hạn hẹp Điều này nghĩa là nền kinh tế càng kém phát triển thì

Trang 32

sức cung về vốn đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, KH&CN nói riêng càng thấp Ngược lại, thu nhập của dân cư càng cao, thì càng có điều kiện tăng cung về vốn cho thị trường, tạo cơ hội mở rộng đầu tư cho KH&CN Cũng do thu nhập thấp, nên sức cầu thị trường thấp Điều này khiến cho giá cả các hàng hóa bị giảm, lợi nhuận của các nhà đầu tư giảm, làm giảm động lực đầu tư Đầu tư vào KH&CN cũng không thoát khỏi tình trạng chung đó

Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế đang phát triển, nếu Nhà nước

có cơ chế, chính sách giải quyết tốt mối quan hệ giữa tiêu dùng và tiết kiệm, lựa chọn việc sản xuất và khuyến khích đầu tư, thì quy mô nguồn vốn cho đầu

tư vào KH&CN sẽ có thể tăng lên

1.2.4.2 Sự phát triển của thị trường vốn và thị trường tài chính

Về lý thuyết, thị trường vốn có thể hiểu là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính Thị trường tài chính là các định chế tài chính qua đó người muốn tiết kiệm có thể cung cấp vốn cho ngưòi muốn vay Trên thị trường tài chính có các chủ thể: người có khoản tài chính muốn cho vay, ngưòi muốn vay cho hoạt động đầu tư và các trung gian tài chính Trung gian tài chính là các định chế tài chính mà qua đó những ngưòi tiết kiệm có thể gián tiếp cung cấp vốn cho người muốn vay Nó bao gồm các tổ chức nhận tiền gửi (các ngân hàng, các tổ chức tín dụng); các công ty bảo hiểm; các công ty đầu tư, qũy đầu tư, quỹ tương hỗ, quỹ hưu trí.v.v Các trung gian này đứng giữa người cho vay (người tiết kiệm) và người vay (người chi tiêu vốn) và giúp cho chuyển vốn từ người này sang người kia, bằng cách nhận vốn của người cho vay (người tiết kiệm) và sau đó cho người đi vay vay Kết quả là vốn đã chuyển từ những người tiết kiệm tới những người cần vay Khi thực hiện chức năng chuyển vốn các trung gian tài chính đặt ra một lãi suất cao hơn cho các khoản tiền cho vay so với lãi suất mà họ trả cho người cho vay, bằng cách

Trang 33

đó họ cũng thu được một khoản lợi nhuận

Thị trường tài chính thực hiện chức năng kinh tế nòng cốt trong việc dẫn vốn từ những người tiết kiệm (những người chỉ chi tiêu môt phần thu nhập của mình) tới những người cần vốn (những ngưòi chi tiêu nhiều hơn thu nhập của mình) Đây chính là con đường tài chính trực tiếp, bởi vì những người đi vay vay vốn trực tiếp từ người cho vay trong các thị trường tài chính bằng cách bán cho họ những chứng khoán Các chứng khoán này là tài sản có đối với người mua chúng (người cho vay) và là tài sản nợ với người bán chúng (người đi vay)

Thị trường tài chính thực hiện chức năng dẫn vốn từ nơi có cung đến nơi

có cầu dưới tác động của các quy luật khách quan Thông qua thị trường này, người có vốn tuy không trực tiếp đầu tư sinh lời, nhưng vẫn có điều kiện đầu

tư để tăng thu nhập Đồng thời, giúp người cần vốn do có cơ hội sản xuất kinh doanh, nhưng họ không đủ vốn, có thể vay được vốn để đầu tư có hiệu quả và giúp nhà sản xuất tiêu thụ được hàng hóa nhanh hơn Thị trường tài chính thúc đẩy việc tích lũy và tập trung tiền vốn để đáp ứng nhu cầu vốn cho xây dựng cơ sở vật chất của nền kinh tế Thông qua thị trường tài chính nguồn vốn cho vay sử dụng có hiệu quả hơn Hoạt động của thị trường tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chính sách mở cửa, cải cách kinh tế của chính phủ Thực tế cho thấy nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định trong phát triển kinh tế, phát triển KH&CN

Sự phát triển, tính đồng bộ và sự thông thoáng của thị trường tài chính sẽ

là yếu tố tác động manh đến việc thu hút vốn đầu tư không chỉ cho KH&CN

mà còn cho tất cả các hoạt động đầu tư phát triển khác

1.2.4.3 Triển vọng hiệu quả của các dự án đầu tư

Một dự án đầu tư có hiệu quả là dự án sử dụng các nguồn lực sẵn có ít nhất để đạt được kết quả cao nhất Nó được xem xét qua hai khía cạnh: kinh

Trang 34

tế - kỹ thuật và kinh tế - xã hội

Có các tiêu thức phổ biến dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động của một

tổ chức kinh tế là: hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối, hiệu quả chung

và hiệu quả từng phần Hiệu quả tuyệt đối của hoạt động là mức lợi nhuận thu được trong quá ữình sản xuất kinh doanh của tổ chức kinh tế Hiệu quả tương đối của sản xuất kinh doanh là chỉ số so sánh giữa khoản thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh với chi phí thực tế để có được khoản thu đó Hiệu quả của hoạt động đầu tư còn được đo lường bằng chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn Chỉ tiêu này được xác định trên cơ sở lấy tổng doanh thu do hoạt động đầu tư mang lại trong 1 năm hoặc sau khi hoàn thành dự án chia cho tổng vốn đầu tư để có tổng doanh thu đó, tính theo phần trăm

Ngoài các chi tiêu trên, trong xác định hiệu quả hoạt động của một tổ chức kinh tế, người ta còn tính toán các chỉ tiêu khác như tỷ trọng thời gian lao động được sử dụng, mức tăng thu nhập của người lao động trong tổ chức kinh tế, mức đóng góp vào ngân sách nhà nước và việc thực hiện các nhiệm

vụ chính trị, xã hội

Để đánh giá hiệu quả của một hoạt động đầu tư của một tổ chức, cần phải sử dụng tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá nêu trên Nếu chỉ chú ý đến tỷ suất lợi nhuận mà bỏ qua mức độ thực hiện các mục tiêu chính trị, xã hội thì không thể gọi hoạt động của tổ chức đó có hiệu quả Hiệu quả kinh tế phải đi liền với hiệu quả xã hội, phục vụ cho sự tiến bộ xã hội Theo cách này, việc đánh giá hiệu quả của một dự án đầu tư cho KH&CN phải rất coi trọng vấn

đề hiệu quả kinh tế - xã hội Bởi vì, sản phẩm của hoạt động KH&CN có độ trễ nhất định Nó không chỉ thu được hiệu quả trực tiếp, mà nhiều khi chỉ thu được hiệu quả tiềm năng như đã phân tích ở đặc điểm của vốn đầu tư vào KH&CN ở trên

Hiệu quả đầu tư của dự án KH&CN càng cao thì càng có điều kiện

Trang 35

thuận lợi để thu hút các nguồn vốn trong xã hội cho hoạt động này Ngược lại, nếu dự án thu được hiệu quả thấp, thiếu triển vọng thì khổ có thể kích thích được các nguồn vốn đầu tư vào Hiệu quả sử dụng vốn là điều kiện (nếu không nói là có tính quyết định) của việc quản lý vốn

1.2.4.4 Chủ trương, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước

Muốn thu hút được nhiều vốn đầu tư phải có môi trường đầu tư hấp dẫn Môi trường đầu tư bao gồm luật pháp, kết cấu hạ tầng, thủ tục hành chính và môi trường chính trị xã hội Để tạo lập môi trường thuận lợi, hấp dẫn nhà đầu tư vào KH&CN, việc hoàn thiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là một yếu tố rất quan trọng

Chính sách kinh tế là một bộ phận quan trọng không thể thiếu của môi trường đầu tư Nếu một chính sách phù hợp, hấp dẫn, giải quyết hài hòa các lợi ích kinh tế của các chủ thể sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư lựa chọn và quyết định đầu tư Chính sách đầu tư là một bộ phận trong chính sách kinh tế của Nhà nước

Đi liền với hệ thống chính sách kinh tế là một môi trường pháp lý phù hợp và đồng bộ bao gồm các định chế pháp lý như: Hiến pháp, toà án kinh tế, trọng tài kinh tế, hệ thống kiểm toán quốc gia Chính sách kinh tế và hệ thống pháp luật được Nhà nước ban hành nhằm khuyến khích đầu tư bao gồm các ưu đãi đầu tư và các biện pháp đảm bảo cho các ưu đãi được thực hiện trên thực tế

Mức độ hoàn thiện và tính hiệu lực của chính sách và pháp luật cùng với phương thức vận hành của chúng, sẽ là điều kiện quan trọng trong việc tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, kích thích dòng chảy của vốn đầu tư trong kinh tế thị trường theo mục tiêu nhà nước đã xác định Ngược lại, tính không

ổn định, thiếu nhất quán, thiếu đồng bộ và kém hiệu lực của chính sách và luật pháp sẽ là yếu tố cản trở dòng chảy của vốn

Trang 36

1.2.5 Nội dung quản lý vốn đầu tư KHCN từ NSNN

1.2.5.1 Tạo môi trường pháp lý cho việc quản lý về quy hoạch, thiết kế và thẩm định các dự án đối với vốn đầu tư KHCN từ NSNN

Ngày 18.6.2013, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật KH&CN năm 2013 (Luật số 29/2013/QH13) Luật quy định về tổ chức, cá nhân hoạt động KH&CN; việc

tổ chức thực hiện hoạt động KH&CN; biện pháp bảo đảm phát triển KH&CN; quản lý Nhà nước về KH&CN Luật gồm 11 Chương: Những quy định chung;

Tổ chức KH&CN; Cá nhân hoạt động KH&CN, phát triển nguồn nhân lực KH&CN; Xác định, tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN; Ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, phổ biến kiến thức KH&CN; Đầu tư, tài chính phục vụ phát triển KH&CN; Xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển thị trường KH&CN; Hội nhập quốc tế về KH&CN; Trách nhiệm quản lý nhà nước về KH&CN; Khen thưởng và xử lý vi phạm; Điều khoản thi hành

Thực hiện sự quy hoạch, kế hoạch trong định hướng đầu tư KHCN, việc quản lý đầu tư và xây dựng đối với các dự án đầu tư , thành phố Hà Nội đã có

sự phân cấp rõ ràng hơn Thực hiê ̣n hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ tại Công văn số 159/BKHCN-KHTC ngày 18/01/2013 về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch, dự toán ngân sách KH&CN năm 2014

Thực hiện rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch trong các đồ án quy hoạch và quy định quản lý liên quan đã ban hành đảm bảo phù hợp với quy hoạch chung đã được phê duyệt Về tổ chức thực hiện đã phân công trách nhiệm

Để sử dụng nguồn vốn đầu tư KHCN từ NSNN có hiệu quả, Nhà nước thực hiện việc quản lý đầu tư KHCN từ vốn NSNN bằng việc xây dựng cơ sở, tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học

Trang 37

Xây dựng các quy hoạch, thiết kế và thẩm định các dự án, các đề tài khoa học đối với vốn đầu tư từ NSNN Hoạt động khoa học là hoạt động có tính ứng dụng cao, thời gian thực hiện lâu dài và cần một nguồn vốn tương đối lớn, đòi hỏi sự quan tâm đầu tư vốn của nhà nước cũng như các tổ chức khác Khoa học công nghệ có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế để phát triển đất nước

Do đó, để hoạt động nghiên cứu khoa học có hiệu quả, nhà nước cần quản lý chặt chẽ nguồn vốn đầu tư cho KHCN từ NSNN

1.2.5.2 Ban hành chính sách và cơ chế kinh tế làm cơ sở cho việc quản lý chi vốn đầu tư KHCN từ NSNN

Nhà nước ban hành các chính sách và cơ chế làm cơ sở cho việc quản lý chi vốn đầu tư KHCN từ NSNN bằng việc ban hành các văn bản pháp luật hướng dẫn thực thi và quản lý việc sử dụng vốn đầu tư cho KHCN từ NSNN Đẩy mạnh đổi mới cơ chế và chính sách kinh tế - xã hội tạo nhu cầu ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào thực tiễn

Hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu đổi mới công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Khuyến khích các tập đoàn, tổng công ty lớn đi tiên phong đầu tư cho đào tạo, nghiên cứu, làm chủ các công nghệ then chốt, đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao theo hướng xuất khẩu

Xây dựng chính sách ưu đãi về thuế, đất đai để khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư nghiên cứu phát triển công nghệ ứng dụng vào sản xuất kinh doanh tạo ra các sản phẩm công nghệ có sức cạnh tranh cao

Tăng cường gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất Có nhiều hình thức để quảng bá, giới thiệu rộng rãi kết quả nghiên cứu Tổ chức các hội nghị 3 nhà: nhà Quản lý, nhà Khoa học và nhà Sản xuất; tổ chức lấy ý kiến các nhà sản xuất, kinh doanh về nhu cầu đổi mới công nghệ, sản phẩm để cơ quan quản lý và doanh nghiệp có thế đặt hàng với các nhà khoa học, các đơn

Trang 38

vị nghiên cứu Tổ chức Chợ công nghệ định kỳ, xây dựng Chợ công nghệ trên mạng làm nơi giao lưu, gặp gỡ giữa "cung" và "cầu", mua - bán chuyển giao công nghệ

Đầu tư cho các đề tài, dự án nghiên cứu, ứng dụng triển khai tạo ra sản phẩm có thể thương mại hóa trên thị trường; tăng cường chuyển giao các kết quả nghiên cứu, trang thiết bị cho các doanh nghiệp ứng dụng và sản xuất thay thế nhập khẩu Cơ quan nhà nước phải là khách hàng lớn trên thị trường khoa học và công nghệ

1.2.5.3 Quản lý Nhà nước trong việc triển khai các dự án đối với vốn đầu tư KHCN từ NSNN

Nhà nước đầu tư vốn cho KHCN, đồng thời quản lý việc triển khai đối với các đề tài, dự án nghiên cứu KHCN sử dụng nguồn vốn của NSNN Hiện nay, mỗi năm nhà nước chi cho hoạt động công nghệ khoảng 2% ngân sách Đây là con số không thấp so với 1 số nước như Singapo, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, tuy nhiên con số này là thấp nếu so với GDP Thực tế đầu tư cho KHCN lớn nhưng hiệu quả không cao do đầu tư dàn trải, không tập trung vào nhưng nơi phát triển, phần lớn vốn KHCN được phân bổ theo hướng cào bằng Nhiều dự án, đề tài khoa học khi nghiên cứu gần ra kết quả thì phải dừng lại do không còn đủ kinh phí để thực hiện tiếp gây thất thoát, lãng phí nguồn vốn của nhà nước Một số đề tài khi nghiên cứu ra kết quả những vì nguồn kinh phí eo hẹp nên không thể thực hiện tiếp để đưa vào thử nghiệm

1.2.5.4 Thực hiện thanh, kiểm tra các dự án đối với vốn đầu tư KHCN từ NSNN

Thanh tra, kiểm tra các dự án đối với vốn đầu tư KHCN từ NSNN là việc hết sức quan trọng và có ý nghĩa Bất cứ hoạt động đầu tư nào, muốn đạt được kết quả cần phải có kế hoạch, thực thi và giám sát kiểm tra quá trình thực hiện hoạt động đầu tư Hàng năm, ngân sách Nhà nước chi cho hoạt động khoa học

Trang 39

công nghệ một lượng vốn lớn, tuy nhiên hiệu quả không cao Kiểm tra là một khâu của quá trình đầu tư, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn hiệu quả đầu tư như hiện nay Nhà nước cần có bộ phận quản lý nguồn vốn đầu tư để hoạt động đầu tư có hiệu quả Đồng thời thanh tra, kiểm tra tiến độ thực hiện của các dự

án khoa học, đảm bảo đúng tiến độ của dự toán và thực tế sử dụng nguồn vốn hợp lý Hiện nay để thực hiện các đề tài dự án, phải làm dự toán để đưa lên, quá trình chuẩn bị giấy tờ và các thủ tục này mất khá nhiều thời gian Vì vậy, khi đề tài được triển khai, do sự trượt giá so với thực tế, và nguồn vốn để nghiên cứu đề tài không đủ để thực hiện để có thể đưa ra sản phẩm đưa vào sản xuất thử nghiệm Do đó, các nhà khoa học để có tiền chi trả nhân công và một số hoạt động phục vụ nghiên cứu khoa học buộc phải cắt giảm bớt các khâu, có thể lấy kết quả của các đề tài, dự án khác để đưa vào kết quả đề tài của mình, tiết kiệm chi phí Thực tế, làm như vậy sẽ dẫn tới việc nghiên cứu khoa học đưa ra kết quả không chính xác, hiệu quả không cao, không đưa ra được kết quả cuối cùng Dẫn tới kết quả không mong muốn, đó là lãng phí tiền của của nhà nước Vì thế, xuất phát từ hiệu quả của hoạt động nghiên cứu thực tiễn, nhà nước cần có chế độ thanh tra, kiểm tra việc sử dụng nguồn vốn

và tiến độ thực thi đề tài một cách hợp trí, tránh thất thoát, lãng phí tiền của của quốc gia, gây tổn thất cho nền kinh tế Đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế, thời kỳ CNH – HĐH như hiện nay

Thông tư Số 10/2009/TT-BKHCN ngày 24/04/2009 về hướng dẫn thẩm tra công nghệ các dự án đầu tư, hướng dẫn việc thẩm tra công nghệ các dự án đầu tư do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư; các dự án do

Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh, các Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế cấp Giấy chứng nhận đầu tư quy định tại Điều 37, Điều 38, Điều 39 Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư

Trang 40

Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức thẩm tra công nghệ các dự án đầu tư quy định tại khoản 2 Điều 76 Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ Vụ Đánh giá, Thẩm định và Giám định Công nghệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ là đơn vị tổ chức thẩm tra

Sở Khoa học và Công nghệ của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức thẩm tra công nghệ các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền của Uỷ ban Nhân dân tỉnh được phân cấp quy định tại Điều 80 Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ

ra Vì vậy, trong khâu này, cần phải quan tâm những nội dung sau:

- Kiểm tra: là việc Chính phủ hoặc cơ quan trực thuộc Chính phủ sử dụng các chính sách và thủ tục nhằm đảm bảo cho hoạt động đầu tư có hiệu quả và hợp lý

- Kiểm toán: là việc một tổ chức độc lập với Chính phủ thực hiện thanh tra

và kiểm toán các hoạt động đầu tư và thông báo cho Quốc hội hoặc công chúng

- Đánh giá: là việc liên hệ các kết quả đầu tư có được trước đây với kế hoạch cho tương lai, bằng việc áp dụng các bài học kinh nghiệm có được từ những hoạt động đầu tư phục vụ cho việc ra quyết định đầu tư và quản lý dự

án trong tương lai Đặc biệt đánh giá đúng vai trò của các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý đầu tư từ NSNN, để từ đó có sự đánh giá toàn diện khách quan

Ngày đăng: 07/07/2015, 17:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Khoa học và công nghệ , 2011. Chiến lược Phát triển KH&CN đến năm 2020. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược Phát triển KH&CN đến năm 2020
10. Nguyễn Công Nghiệp, 2009. Nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư từ NSNN ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Nhà nước, Bộ Tài chính. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư từ NSNN ở Việt Nam
11.Nguyễn Bạch Nguyệt, Từ Quang Phương, 2007. Giáo trình Kinh tế Đầu Tư. Nhà Xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế Đầu Tư
Nhà XB: Nhà Xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân
12. Quốc hội,2013. Luật Khoa học và Công nghệ, Luật số 29/2013/QH13, ngày 18/6/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Khoa học và Công nghệ
13. Sở KH&CN Hà Nội, 2010. Báo cáo tổng kết hoạt động KH&CN. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết hoạt động KH&CN
14. Sở KH&CN Hà Nội, 2011. Báo cáo tổng kết hoạt động KH&CN. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết hoạt động KH&CN
15.Sở KH&CN Hà Nội, 2012. Báo cáo tổng kết hoạt động KH&CN. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết hoạt động KH&CN
16. Sở KH&CN Hà Nội, 2013. Báo cáo tổng kết hoạt động KH&CN. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết hoạt động KH&CN
17. Bùi Thiên Sơn , 2009. “Nghiên cứu chính sách đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng sơ sở hạ tầng kỹ thuật cho khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay”. Bộ Khoa học và công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu chính sách đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng sơ sở hạ tầng kỹ thuật cho khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay
18. Bùi Thiên Sơn, 2010. “Những vấn đề chi ngân sách cho phát triển KH&CN quốc gia và định hướng khuyến nghị trong thời gian tới”. Viện Chiến lƣợc và chính sách Khoa học và công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chi ngân sách cho phát triển KH&CN quốc gia và định hướng khuyến nghị trong thời gian tới
20. Nguyễn Mậu Trung , 2011. “Vấn đề đầu tư và vốn cho KH&CN ở nước ta”. Tạp chí Lí Luận Chính trị.Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đầu tư và vốn cho KH&CN ở nước ta
1. Francis Fukuyama (2002), “Social Capital and Development: The Coming Agenda”, SAIS Review Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Social Capital and Development: The Coming Agenda”
Tác giả: Francis Fukuyama
Năm: 2002
1. Hồng Anh, 2012. Đầu tư cho khoa học và công nghệ: “Một vốn sẽ được bốn lời ằ Khác
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, 2013. Công văn số 2478/BKHĐT-TH, ngày 18/4/2013 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 40/2012/QH13 của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn Khác
4. Bộ Khoa học và công nghệ - Trung tâm thông tin tƣ liệu khoa học và công nghệ Quốc gia, 2002. Khoa học và công nghệ thế giới - Kinh nghiệm và định hướng chiến lược. Hà Nội Khác
5. Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và Công nghệ , 2006. Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT/BTC-BKHCN 04/10/2006 Về việc hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của đề tài, dự án khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách Nhà nước Khác
6. Bộ Tài chính, 2011. Thông tư số 19/2011/TT-BTC, ngày 14/02/2011 quy định về quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn nhà nước Khác
7. Bộ Tài chính. 2011. Thông tư số 86/2011/TT-BTC, ngày 17/6/2011 quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn NSNN Khác
8. Chính phủ, 2006. Quyết định số 210/2006/QĐ-TTg, ngày 12/9/2006 về việc ban hành các nguyên tắc tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn vốn NSNN giai đoạn 2007-2010 Khác
9. Chính phủ , 2014. Nghị định số 95/2014/NĐ-CP, Ngày 17/10/2014 quy định về đầu tư và cơ chế tài chính đối với hoạt động Khoa học và Công nghệ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Bảng 3.1  Chỉ tiêu tăng trưởng Kinh tế - xã hội Hà Nội - Quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách nhà nước của thành phố Hà Nội  Luận văn ThS
1 Bảng 3.1 Chỉ tiêu tăng trưởng Kinh tế - xã hội Hà Nội (Trang 11)
Bảng 3.1: Chỉ tiêu tăng trưởng Kinh tế - xã hội Hà Nội - Quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách nhà nước của thành phố Hà Nội  Luận văn ThS
Bảng 3.1 Chỉ tiêu tăng trưởng Kinh tế - xã hội Hà Nội (Trang 62)
Bảng 3.2: Kế hoạch vốn đầu tƣ cho lĩnh vực Khoa học Công nghệ Hà Nội - Quản lý vốn đầu tư khoa học công nghệ từ ngân sách nhà nước của thành phố Hà Nội  Luận văn ThS
Bảng 3.2 Kế hoạch vốn đầu tƣ cho lĩnh vực Khoa học Công nghệ Hà Nội (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w