- Đánh giá sự ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường do thuốc trừ sâu tồn dư lên một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa, huyết học và tình trạng sức khỏe của người dân trong địa điểm nghiên cứu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2ẢNH HƯỞNG CỦA Ô NHIỄM THUỐC TRỪ SÂU LÊN TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI DÂN
THỊ TRẤN KỲ ANH, HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
(Chuyên ngành Sinh học thực nghiệm)
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ GIANG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ GIANG AN
Nghệ An - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ về mọi mặt của Bộ môn Động vật – Sinh lí, khoa Sinh học và phòng Đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Vinh và Trung tâm Quan trắc Hà Tĩnh, Công ty TNHH MTV Kỹ thuật Tài nguyên & Môi trường Nghệ An, các thầy cô giáo, các nhà khoa học cũng như gia đình và bạn bè
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo tổ bộ môn Động vật - Sinh lí khoa Sinh học, phòng Đào tạo Sau Đại học và các phòng ban khác của Trường Đại học Vinh, y bác sĩ bệnh viện Hữu Nghị Đa khoa Nghệ An, đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Giang An, người cô đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và động viên trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Nghệ An, tháng 10 năm 2014
Tác giả
Phạm Thị Trang
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trạng phụ bìa
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1 Lịch sử về vấn đề nghiên cứu 3
1.1 Trên thế giới .3
1.2 Ở Việt Nam 4
1.2 Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của vùng nghiên cứu 5
1.2.1 Điều kiện tự nhiên 5
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 6
1.3 Một số khái niệm cơ bản 6
1.3.1 Khái niệm môi trường, ô nhiễm môi trường và sức khỏe 6
1.3.2 Khái niệm chất độc và độ độc 7
1.4 Tổng quan về hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) 7
1.4.1 Khái niệm 7
1.4.2 Vai trò của HCBVTV 8
1.4.3 Phân loại các loại HCBVTV 9
1.4.4 Tính chất chung của HCBVTV 9
1.4.5 Một số thuốc trừ sâu thuộc nhóm hợp chất hữu cơ 11
1.6 Tình hình ô nhiễm HCBVTV tồn lưu trên thế giới và ở Việt Nam 17
1.6.1 Trên thế giới 17
1.6.2 Ở Việt Nam .18
1.7 Ảnh hưởng của ô nhiễm HCBVTV tồn lưu đến môi trường và con người 19
1.7.1 Ảnh hưởng đến môi trường 20
1.7.2 Ảnh hưởng đến sức khoẻ con người 22
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 28
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 28
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: .28
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 29
2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu 29
2.3.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu môi trường 29
2.3.5 Phương pháp xác định các chỉ tiêu hình thái, thể lực, sinh lý và sinh hóa 33
Trang 52.3.6 Phương tiện nghiên cứu 38
2.3.7 Phương pháp điều tra phỏng vấn (phụ lục) 39
2.3.8 Phương pháp xử lý số liệu 39
2.4 Vấn đề đạo đức y sinh 39
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 40
3.1 Thực trạng môi trường khu vực nghiên cứu 40
3.1.1 Thực trạng môi trường đất khu vực nghiên cứu 40
3.1.2 Thực trạng môi trường nước khu vực nghiên cứu 42
3.1.3 Thực trạng môi trường không khí khu vực nghiên cứu 44
3.2 Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu sinh học ở đối tượng nghiên cứu 45
3.2.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 46
3.2.2 Chỉ tiêu hình thái 47
3.2.3 Chỉ tiêu sinh lý 52
3.2.4 Chỉ tiêu sinh hóa 56
3.2.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường lên Enzym Cholinesterase (ChE) 58
3.2.6 Chỉ tiêu huyết học 60
3.2.7 Thực trạng bệnh tật của đối tượng nghiên cứu 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 1 76
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
HCBVTV Hóa chất bảo vệ thực vật
MCH Lượng Hemoglobin trung bình trong hồng cầuMCHC Nồng độ Hemoglobin trung bình hồng cầu
MCV Thể tích trung bình hồng cầu
NEUT Bạch cầu trung tính Neut
POP Persistent organic pollutants
RDW-CV Dải phân bố kích thước hồng cầu - Hệ số biến thiênSGOT Serum Glutamic Oxaloacetic Transaminase
SGPT Serum Glutamic Pyruvic Transaminase
UNICEF Quỹ Nhi Đồng Liên Hợp Quốc
WHO Tổ chức Y tế thế giới
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Các biến đổi sinh hóa ở người tiếp xúc với thuốc BVTV 4Bảng 1.2 Các triệu chứng nhiễm độc hóa chất BVTV(%) sau khi phun 5Bảng 1.3 Bảng phân loại độc tính của WHO dựa vào LD50 10
Bảng 3.1 Kết quả phân tích môi trường đất khu vực nghiên cứu 40Bảng 3.2 Kết quả phân tích môi trường nước mặt khu vực nghiên cứu 43Bảng 3.3 Kết quả phân tích nước ngầm gần khu vực nghiên cứu 44Bảng 3.4 Kết quả phân tích chất lượng môi trường không khí 45Bảng 3.5 Tỷ lệ giới tính theo các theo nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu 47
Bảng 3.9 Vòng ngực trung bình của đối tượng nghiên cứu 50Bảng 3.10 Chỉ số pignet của đối tượng nghiên cứu 51
Bảng 3.13 Tần số hô hấp của đối tượng nghiên cứu 55Bảng 3.14 Một chỉ tiêu đánh giá chức năng thận của đối tượng nghiên cứu 56Bảng 3.15 Một chỉ tiêu đánh giá chức năng gan của đối tượng nghiên cứu 57Bảng 3.16 So sánh kết quả xét nghiệm enzym Cholinesterase 58Bảng 3.17: Chỉ số RBC, HGB, MCH của đối tượng nghiên cứu 60Bảng 3.18: Chỉ số HCT, MCV, MCHC, RDW-CV của đối tượng nghiên cứu 61Bảng 3.19 Một số chỉ tiêu bạch cầu của đối tượng nghiên cứu 63Bảng 3.20 Một số chỉ tiêu tiểu cầu của đối tượng nghiên cứu 64Bảng 3.21 Tỷ lệ bệnh tật của đối tượng nghiên cứu 66Bảng 3.22 Tỷ lệ bệnh tật của đối tượng nghiên cứu 67
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Trang
Hình 1.3 Sơ đồ tổng quát về sự dịch chuyển tích lũy và phản ứng của chất
Hình 1.4 Sự phân bố các chất hữu cơ bay hơi trong môi trường đất - nước - khí 20Hình 1.5 Sơ đồ hấp phụ tích lũy, phân chyển, chuyển đổi và bài tiết chất độc
Biểu đồ 3.1 Các nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu 47Biểu đồ 3.2 So sánh Tần số tim, HATT, HATTr của nam nhóm tuổi 50-75
Biểu đồ 3.3 So sánh tỷ lệ người mắc bệnh của đối tượng nghiên cứu 66Biểu đồ 3.4 So sánh tỷ lệ người mắc bệnh theo nhóm tuổi của đối tượng
Trang 9Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là các loại hoá chất do con người sản xuất ra
để phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại có hại cho cây trồng Thuốc BVTV được phân thành 2 loại chính là thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ Các loại thuốc này có ưu điểm
là diệt sâu bệnh, cỏ dại nhanh, sử dụng đơn giản, giúp con người kiểm soát được tình hình sâu bệnh, nâng cao năng suất cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, các loại thuốc trừ sâu đều chứa chất có tính độc cao, đó là những chất hữu cơ độc tính cao và khó phân hủy (POP)
Theo Tổ chức Y tế thế giới, POP có khả năng gây ung thư và hàng loạt ảnh hưởng xấu đến hệ thần kinh, hệ miễn dịch và hệ nội tiết của con người Để bảo vệ sức khoẻ con người và chất lượng môi trường, nhiều quốc gia trên thế giới đã tham gia công ước Stockholm năm 2001 nhằm hạn chế và tiến tới loại bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của POP
Việt Nam (VN) cũng như nhiều nước khác đang tồn tại các vấn đề về ô nhiễm môi trường bởi một số hóa chất BVTV thuộc nhóm POP, điển hình là Diclorodiphenyl tricloroetan (DDT) DDT đã từng được sử dụng ở VN với khối lượng lớn Theo kết quả từ dự án điều tra của Trung tâm công nghệ xử lý môi trường, thuộc Bộ Tư lệnh Hoá học, kiểm kê ban đầu về tổng lượng thuốc BVTV tồn đọng, quá hạn cần tiêu huỷ hiện nay trên phạm vi toàn quốc là khoảng 300 tấn Trong đó có khoảng 10 tấn DDT và 666 [41]
Theo ước tính lượng hoá chất BVTV tồn lưu đã quá hạn sử dụng hoặc nằm trong danh mục thuốc cấm sử dụng cần tiêu huỷ ở Hà Tĩnh hiện nay có mặt ở các địa phương rất lớn như: Hương Sơn, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Can Lộc, gây ra ô nhiễm trầm trọng đến môi trường và sức khỏe con người Đáng chú ý là tại Thị trấn Kỳ Anh có đến hai kho thuốc tồn lưu nằm ở tiểu khu 4 và tiểu khu 6, cho đến nay nó vẫn còn nhiều vấn đề nan giải [53] Tại đây có khoảng hơn 300 hộ dân đang sinh sống gần kho thuốc trừ sâu Hầu như các hộ dân này sống chủ yếu dựa vào nguồn nước giếng tự đào Nếu như kho thuốc trừ sâu này bị rò rỉ di chuyển theo các mạch nước ngấm vào giếng thì hậu quả khôn lường
Trang 10Xuất phát từ nhu cầu thực tế với mong muốn tìm hiểu rõ ảnh hưởng của thuốc trừ sâu tồn dư lên tình trạng sức khỏe ở tiểu khu 6, khu phố Hưng Thịnh, thị
trấn Kỳ Anh, Hà Tĩnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của ô nhiễm thuốc trừ sâu lên tình trạng sức khỏe của người dân thị trấn Kỳ Anh,
Hà Tĩnh” Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dữ liệu khoa học để góp
phần vào công tác bảo vệ môi trường và công tác bảo vệ, chăm sóc tốt sức khỏe người dân địa phương
II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá thực trạng môi trường không khí, môi trường nước, môi trường đất tại địa điểm nghiên cứu
- Đánh giá sự ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường do thuốc trừ sâu tồn dư lên một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa, huyết học và tình trạng sức khỏe của người dân trong địa điểm nghiên cứu
III NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề ô nhiễm thuốc trừ sâu hóa học đến sức khỏe của con người
- Điều tra, đánh giá về thực trạng ô nhiễm môi trường tại tiểu khu 6, khu phố Hưng Thịnh, thị trấn Kỳ Anh, Hà Tĩnh
+ Phân tích và đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường không khí tại địa điểm nghiên cứu
+ Phân tích và đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường nước mặt, nước ngầm tại địa điểm nghiên cứu
+ Phân tích và đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường đất tại địa điểm nghiên cứu
- Đánh giá sự ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường do thuốc trừ sâu tồn dư lên một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa, huyết học và tình trạng sức khỏe của nhóm TN, khu phố Hưng Thịnh, thị trấn Kỳ Anh, Hà Tĩnh
+ Đánh giá sự ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường do thuốc trừ sâu tồn dư lên các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa và huyết học của đối tượng nghiên cứu
+ Đánh giá sự ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường do thuốc trừ sâu tồn dư lên tình trạng bệnh lý của đối tượng nghiên cứu
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Cũng trong năm này Philippe Grandjean và Philip Landrigan đã nghiên cứu
ra rằng có 5 loại chất hóa học - chỉ, methylmercury, asen, PCBs và toluene rất độc hại với não bộ Thời gian gần đây, dựa vào những kết quả nghiên cứu mới, họ thêm vào danh sách những chất độc hại 6 chất nữa là Mangan, Fluoride, Chlorpyrifos, Dichlorodiphenyltrichloroethane DDT), Tetrachloroethylene (PERC), (PBDE) Polybrominated diphenyl ethers [47]
Gilles- Eric Séralini với công trình nghiên cứu sinh vật biến đổi gen và thuốc diệt cỏ Roundup Ông cho rằng Roundup là một loại rất độc và hệ quả nó mang lại tương đương như một quả bom Giáo sư cũng đã kiểm tra độc tố của 9 loại thuốc trừ sâu trong số những loại được sử dụng nhiều nhất trên thế giới: 3 loại thuốc diệt cỏ (Roundup, Matin E1, Starance 200), 3 loại thuốc trừ sâu (Pirimor G, Confidor, Polysect Ultra) và 3 loại thuốc diệt nấm (Maronee, Opus, Eyetak) Khác với những lần nghiên cứu trước không chỉ kiểm tra thành phần trong các thuốc lần này Giáo sư Seralini sẽ nghiên cứu những công thức để sản xuất ra 1 loại thuốc Kết quả đưa ra khiến người đọc phải rùng mình: “8 công thức bào chế này trên trung bình có độc tính cao hơn các thành phần hoạt tính gấp cả trăm lần” [47]
Về tác hại của thuốc trừ sâu, Viện quốc gia về sức khỏe và nghiên cứu thuốc (Inserm) ước tính trong mùa xuân năm 2013 đã xuất hiện một số bệnh như ung thư tuyến tiền liệt, bạch cầu hay các bệnh thoái hóa thần kinh Một số người tin vào nghiên cứu của Giáo sư Seralini, số khác còn lưỡng lự nhưng với những hệ quả trên
ta có thể thấy kết quả nghiên cứu của Giáo sư rất thuyết phục
Theo như Trung tâm Kiểm soát và ngăn chặn bệnh dịch thì những người bị phơi nhiễm lượng lớn DDT sẽ phải chịu đựng những cơn chấn động, tai biến mạch máu, đổ mồ hôi, đau đầu và hiện tượng nôn mửa Chất DDE là một thành phần nguy hiểm có trong thuốc trừ sâu DDT, chất này được tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới
Cơ thể có thể bị nhiễm chất này nếu như người ăn phải thức ăn bị nhiễm chất hay hít thở trong không khí chứa chất độc Báo cáo mới nhất về các chất còn dư thừa trong thuốc trừ sâu tác động tới phổi và đặc biệt khiến trẻ em khó thở nếu như chúng bị phơi nhiễm chất hóa học trước khi sinh Tuy nhiên một điều đáng chú ý là những
Trang 12triệu chứng này sẽ không xuất hiện nữa nếu như họ không ở trong môi trường bị phơi nhiễm thuốc trừ sâu [47].
1.2 Ở Việt Nam
Phạm Bình Quyền, 1995 đã tiến hành điều tra các tai biến của hóa chất BVTV đối với sức khỏe con người ở hai Bệnh viện đa khoa Bắc Thái và bệnh viện Trung ương Huế đã đi đến kết luận:
- Ngộ độc thuốc trừ sâu trong những năm gần đây có nhiều hướng gia tăng
- Đối tượng bị ngộ độc ngoài nông dân, các thành phần khác cũng chiếm tỷ
lệ đáng kể [2]
Trong những năm gần đây do cơ chế thị trường, thuốc trừ sâu được bán rộng rãi
và nhịp độ sử dụng gia tăng nên đã gây hậu quả nghiêm trọng Viện Y học và vệ sinh môi trường Bộ Y Tế nghiên cứu ở người tiếp xúc với hóa chất BVTVcho thấy những triệu chứng hay gặp nhất là nhức đầu 41- 64%, chóng mặt 26- 51%, suy nhược 28 - 61% rối loạn thần kinh thực vật 37- 52% Những người phun thuốc tiếp xúc trực tiếp với HCBVTV ở cường độ lớn thì các tỷ lệ gặp cao hơn so với những nhóm khác
HCBVTV tồn dư trong thức ăn, rau quả sẻ gây ra ngộ độc cấp tính gây rối loạn tiêu hóa, ảnh hưởng đến hệ thần kinh, trụy tim mạch, suy hô hấp vv Những trường hợp bị ngộ độc mãn tính do sự tích lũy lâu ngày cũng gây ra các bệnh nguy hiểm trong đó có ung thư [2]
Bảng 1.1 Các biến đổi sinh hóa ở người tiếp xúc với thuốc BVTV
TT Các đối tượng Tỷ lệ giảm hoạt tính men Cholinesterase (ChE)(%)
Men ChE toàn phần Men ChE hồng cầu
1 Công nhân sản xuất chè
(n= 258) 35,7- 82,3 (theo test lovibond)
-2 Người trực tiếp sử dụng
3 Công nhân sản xuất và
(Nguồn: Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường, năm 1995)
Tỷ lệ những người tiếp xúc với hóa chất BVTV bị giảm hoạt tính các men ChE là đáng quan tâm (trên 30%) ở tất cả các cơ sở
Viện Pasteur Nha Trang nghiên cứu về tình hình nhiễm HCBVTV từ năm
1995 đến năm 1997
Trang 13Bảng 1.2 Các triệu chứng nhiễm độc hóa chất BVTV(%) sau khi phun
(Nguồn: Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường, năm 1995)
Xét nghiệm điện tim cho 56 người có dấu hiệu về cường thần kinh thực vật chiếm 30,3% trong đó có 3 trường hợp bị tăng gánh thất trái
Điều tra 50 hộ nông dân ở Nam Dương- Nam Định, tổng số hóa chất BVTV nông dân sử dụng là 26 loại trong đó thuốc trừ sâu là 16 loại, thuốc trừ bệnh là 9 loại, thuốc trừ nhện có 1 loại Trong một tháng, 50 nông dân phun thuốc 231 lần, sử dụng 459 lượt các loại thuốc
- Thuốc trừ sâu thuốc nhóm lân hữu cơ được sử dụng 79 lần (34,2%)
- Thuốc trừ sâu nhóm Cacbamate được sử dụng 18 lần (7,79%)
- Thuốc trừ sâu nhóm Pyrethroid được sử dụng 25 lần (10,82%)
- Thuốc trừ sâu nhóm khác được sử dụng 186 lần (80,52%)
Trong một tháng phun 231 lần thấy xuất hiện 933 lượt dấu hiệu, triệu chứng, xuất hiện 26 loại dấu hiệu, triệu chứng khác nhau, 100% nông dân điều tra có dấu hiệu, triệu chứng nhiễm độc [52]
1.2 Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của vùng nghiên cứu
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý: Thị trấn Kỳ Anh là một thị trấn thuộc huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
* Diện tích tự nhiên là: 5,85 km2
* Dân số năm 1999 là 9.735 người, mật độ dân số đạt 1.664 người/km2 [1]
* Khí hậu: Thị trấn Kỳ Anh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa của khu vực Bắc Trung Bộ Về mùa đông chịu tác động của gió mùa Đông Bắc làm cho khí hậu khu vực trở nên lạnh và khô hanh Mùa hè khu vực công trình chịu tác động của gió Tây Nam khi vượt qua dãy Trường Sơn, gió đã biến tính và trở nên khô nóng do hiệu ứng gió Fơn tây nam
* Nhiệt độ không khí: Trung bình năm là 26,2 độ, cao nhất năm: 38,6°C
Trang 14* Độ ẩm không khí: Khu vực nghiên cứu có khí hậu nóng ẩm, độ ẩm trong vùng tương đối cao, độ ẩm bình quân dao động từ 75 ÷ 91% độ ẩm thấp nhất là 47% vào các tháng 5 và 6.
* Chế độ mưa, bốc hơi: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Mưa lớn thường xuất hiện vào các tháng 8, 9 và tháng 10 Số ngày mưa trung bình là 150 ngày/năm
* Chế độ thủy văn: Khu vực nghiên cứu có mạng lưới thủy văn khá phát triển với nhiều kênh rạch tương đối dày đặc là điều kiện thuận lợi trong sản xuất nông nghiệp của nhân dân địa phương Theo các số liệu đánh giá địa chất thủy văn của Cục Địa chất Việt Nam cho thấy vùng Kỳ Anh và khu cảng biển Vũng Áng thể hiện là vùng địa tầng có nước dưới đất tương đối nghèo Lưu lượng qua khảo sát một số giếng UNICEF và các giếng đào của dân chỉ ở mức 0,15- 2,31/s Tổng lưu lượng nước dưới đất có thể khai thác ước tính chỉ khoảng 1.000 m3/ngày đêm
( Nguồn: Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Hà Tĩnh, năm 2013) [9]
Như vậy, với điều kiện khí hậu và thỗ nhưỡng nêu trên, trong điều kiện có sự ô nhiễm về không khí, đất nước thì các chất độc rất dễ phát tán và gây ô nhiễm lan rộng, ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng dân cư sinh sống trong vùng bị ô nhiễm
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Theo kết quả điều tra và báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội - quốc phòng an ninh năm 2012 và phương hướng nhiệm vụ năm 2013 của Thị trấn Kỳ Anh và xã Kỳ Hưng, cho thấy: thu nhập bình quân đầu người của TT Kỳ Anh là 19,2 triệu đồng/năm, tốc độ tăng trưởng kinh tế 15%
(Nguồn: UBND TT Kỳ Anh, 2013)
Nhìn chung, tình hình kinh tế - xã hội của huyện Kỳ Anh nói chung là một huyện nghèo, thu nhập của người dân thấp, đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn Không có các ngành kinh tế chủ lực
1.3 Một số khái niệm cơ bản
1.3.1 Khái niệm môi trường, ô nhiễm môi trường và sức khỏe
Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam năm 2005:
+ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan
hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên [37]
+ Ô nhiễm môi trường: Là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm
tiêu chuẩn môi trường Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có thể gây hại đến sức khỏe con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các
Trang 15tác nhân gây ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí, lỏng, rắn chứa hóa chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ [29].
Ô nhiễm môi trường gồm ô nhiễm nước, không khí, đất Ô nhiễm môi trường
là tình trạng môi trường bị ô nhiễm bởi các chất hóa học, sinh học, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và các cơ thể sống khác
Theo Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa “Sức khỏe là sự thoải mái toàn diện
về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật [5], [61]
1.3.2 Khái niệm chất độc và độ độc
- Chất độc: Là những chất khi xâm nhập vào cơ thể sinh vật một lượng nhỏ
cũng có thể gây biến đổi sâu sắc về cấu trúc hay chức năng trong cơ thể sinh vật, phá huỷ nghiêm trọng những chức năng của cơ thể, làm cho sinh vật bị ngộ độc hoặc bị chết [35] Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam: Chất có khả năng ức chế, phá huỷ hoặc làm chết cơ thể sống: khi đưa một lượng nhỏ chất độc vào cơ thể (qua miệng, dạ dày, thở hít qua phổi, thấm qua da ) hoặc khi được hấp thụ vào máu trong những điều kiện nhất định, gây ra những rối loạn sinh lý của cơ thể, làm nguy hại cho sức khoẻ hoặc gây nguy hiểm đến tính mạng con người Hiện tượng này còn gọi là ngộ độc [10]
- Độ độc: Biểu thị mức độ của tính độc, là liều lượng nhất định của chất độc
cần có để gây được một tác động nào đó trên cơ thể sinh vật khi chúng xâm nhập vào cơ thể sinh vật [35] Độ độc còn được xác định bằng liều gây chết LD50 (Lethal Dose 50), là lượng chất độc tối thiểu đủ để gây chết 50% một số lớn sinh vật Khó xác định chính xác độ độc của một chất vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như bản chất của chất độc, tuổi, trạng thái sức khoẻ, giới tính, cơ quan hấp thụ chất độc của đối tượng bị ngộ độc [10]
1.4 Tổng quan về hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV)
1.4.1 Khái niệm
Thuốc trừ sâu hay hoá chất bảo vệ thực vật xuất phát từ thuật ngữ tiếng Anh
“Pesticide” có nghĩa là chất để diệt loài gây hại [10] HCBVTV là danh từ chung để chỉ một chất hoặc một hợp chất bất kỳ có tác dụng dự phòng, tiêu diệt hoặc kiểm soát các sinh vật gây hại kể cả các Vector gây bệnh cho người và động vật, các loại côn trùng khác hay động vật có hại trong quá trình sản xuất, chế biến, dự trữ, xuất khẩu, tiếp thị lương thực, sản phẩm trong nông nghiệp, sản phẩm của gỗ, thức ăn gia súc hoặc phòng chống các loại côn trùng, ký sinh trùng [19], [35]
Trang 161.4.2 Vai trò của HCBVTV
HCBVTV là một loại vật tư kỹ thuật quan trọng góp phần hạn chế dịch hại, bảo vệ cây trồng, giữ vững và nâng cao sản lượng, chất lượng nông sản Ngoài những công dụng trong sản xuất nông nghiệp HCBVTV còn có khả năng sử dụng trong y tế Người ta thường sử dụng HCBVTV trong y tế để sát trùng, khử trùng môi trường, phòng trừ dịch bệnh…trong đó DDT là một ví dụ điển hình
Ngoài những vai trò tích cực nêu trên, HCBVTV cũng thể hiện một số vai trò tiêu cực sau: Trong tự nhiên có rất nhiều loại sâu hại khác nhau, có loại sâu ẩn núp dưới lá, có loại đục vào thân cây, có loại lại chui vào đất nên phải dùng nhiều loại thuốc khác nhau để tiêu diệt chúng Mặc khác, một số loài sâu bệnh sau khi tiếp xúc với HCBVTV chúng có khả năng thay đổi cấu trúc di truyền, tạo nên các gen kháng thuốc Vì thế, HCBVTV đó không còn có hiệu quả Việc này gây khó khăn cho người sử dụng nhất là những người nông dân có trình độ văn hóa thấp Nhiều người chỉ thích dùng thuốc có giá thành thấp, không cần biết phạm vi tác dụng của chúng ra sao hoặc thường phun quá liều chỉ định làm tăng lượng thuốc thừa tích đọng trong đất và nước, ảnh hưởng đến chuỗi thức ăn, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và sinh vật
Thuốc trừ sâu đều có tính độc cao, có khả năng bay hơi mạnh nên gây mùi khó chịu, mệt mỏi, thậm chí choáng ngất do trực tiếp phun thuốc sâu trên đồng ruộng nhất là các trường hợp không có biện pháp phòng tránh tốt Trong quá trình dùng thuốc, một số sinh vật có ích, là kẻ thù thiên địch của sâu hại cũng bị tiêu diệt Ngoài ra, một lượng thuốc nào có thể đi vào trong thân cây, quả hoặc dính bám vào
lá, quả Người và động vật ăn phải loại nông sản này có thể bị ngộ độc tức thời đến chết, hoặc bị nhiễm độc nhẹ từ từ gây ảnh hưởng đến sức khỏe
Một số loại thuốc trừ sâu có tính năng hóa học ổn định, khó phân hủy nên sẽ tích lũy trong môi trường Sau nhiều lần sử dụng, lượng tích lũy này có thể cao đến mức gây độc cho môi trường đất, nước, không khí và con người Do thuốc tồn đọng lâu không phân hủy nên có thể theo nước và gió phát tán tới vùng khác theo các loài sinh vật đi khắp mọi nơi Nói chung, thuốc trừ sâu, diệt cỏ không chỉ có tác dụng tích cực bảo vệ mùa màng, mà còn gây nên nhiều hệ quả môi trường nghiêm trọng ảnh hưởng tới hệ sinh thái và con người do vậy cần phải thận trọng khi dùng thuốc
và phải dùng đúng liều theo chỉ dẫn của cán bộ kỹ thuật [38]
Trang 171.4.3 Phân loại các loại HCBVTV
Theo T.S Nguyễn Văn Viên, trường ĐH nông nghiệp Hà Nội (1997) [34]
Các loại HCBVTV thường được nông dân sử dụng: Thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh, thuốc trừ nhện, thuốc diệt cỏ, chất điều hòa sinh trưởng cây trồng, thuốc trừ tuyến trùng
a Thuốc trừ sâu: Đa số thuốc trừ sâu được dùng trong sản xuất nông nghiệp
đều có nguồn gốc là những chất hữu cơ tổng hợp như: thuốc trừ sâu lân hữu cơ, thuốc điều hòa sinh trưởng côn trùng, …vv và các hợp chất hữu cơ khác Nhằm chống lại các loại côn trùng gây bệnh cho cây trồng, mang lại hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp Ngược lại cũng gây tác động xấu đến môi trường và con người
b Thuốc trừ bệnh: Đa số các thuốc trừ nấm sử dụng trong nông nghiệp đều
là các hợp chất hữu cơ tổng hợp, so với thuốc trừ sâu thì thuốc trừ nấm thuộc nhiều nhóm hoá học hơn, phức tạp hơn
c Thuốc diệt nhện: Gây ức chế quá trình lột xác và tác động mạnh lên các
pha sinh trưởng của nhện như trứng, ấu trùng và nhện trưởng thành Và có tính nội hấp, hiệu lực cao đối với nhiều loại nhện hại thực vật, có tác dụng diệt trứng, ấu trùng và nhện trưởng thành
d Thuốc diệt cỏ: Tất cả những thuốc trừ cỏ đang được sử dụng ở nước ta
đều là những hợp chất hữu cơ tổng hợp Những thuốc trừ cỏ thông dụng trong sản xuất nông nghiệp hiện nay thường ít độc hơn với người và gia súc so với thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh
e Chất điều hòa sinh trưởng cây trồng: Các chất này chủ yếu là kích thích
sinh trưởng cây trồng, bổ sung và tăng cường hoạt động của các men trong quá trình sinh tổng hợp của cây bằng cung cấp thêm các chất vi lượng (Fe, Mn, Cu, Bo, Zn
…) Ngược lại có những chất ức chế sinh trưởng của cây, làm cho cây phát triển chậm lại, dùng chống lốp đổ và kích thích cây ra hoa
1.4.4 Tính chất chung của HCBVTV
Rất nhiều loại thuốc có khả năng bay hơi và thăng hoa, đặc biệt trong điều kiện nóng ẩm chúng có thể vận chuyển đến những khoảng cách rất xa Nhiều loại HCBVTV có cấu tạo đa vòng, trong đó có nhiều liên kết nối đôi Vì vậy, trong đất HCBVTV thường được tích lũy ở nồng độ tương đối cao Độc tính của một chất đối với một đối tượng cụ thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố như con đường xâm nhập vào
cơ thể (tiêu hóa, hô hấp,…), đặc điểm cơ thể của đối tượng (tuổi, giới, tình trạng sức khỏe,…), trạng thái tồn tại (rắn, lỏng, khí) và tính chất hóa học, vật lý của chất
đó Thông thường, theo Tổ chức Y tế thế giới WHO, độc tính của một chất có thể
Trang 18được phân loại thông qua giá trị liều lượng cần thiết để giết chết 50% số lượng vật thí nghiệm (LD50) được chỉ ra trong bảng 1.3
Bảng 1.3 Bảng phân loại độc tính của WHO dựa vào LD50
Phân loại tác hại Giá trị LD50 ở chuột (mg/kg thể trọng.ngày) Qua tiêu hóa Qua da
II Độc trung bình 50 – 500 200 – 2000 100 - 1000 400 - 4000III Độc nhẹ 500 – 2000 2000 - 3000 >1000 > 4000
IV Không độc >2000 >3000
Nguồn: Lê Văn Khoa, Nguyễn Đức Lương, Nguyễn Thế Truyền,(1999) [37]
Bảng 1.4 Phân nhóm chất độc BVTV tại Việt Nam Phân nhóm và ký hiệu LD50 qua miệng (mg/kg) LD50 qua da (mg/kg)
III Nguy hiểm
Vạch màu xanh lam > 500 > 2000 > 1000 > 4000
IV.Cẩn thận
Vạch màu xanh lá cây “Cẩn thận”
Nguồn: Chi cục bảo vệ thực vật Thành phố Hồ Chí Minh,(2010), [8]
Do đặc điểm ion của các hợp chất trong HCBVTV, nên chúng có khả năng liên kết chặt trong đất Cũng chính vì lý do này mà HCBVTV có thể tổn hại cho đất lâu dài và tích luỹ trong quá trình sinh trưởng của cây trồng
Trang 191.4.5 Một số thuốc trừ sâu thuộc nhóm hợp chất hữu cơ
Clo hữu cơ là những hợp chất được dùng đầu tiên để diệt sâu bọ sau chiến tranh thế giới thứ 2 Trong hai thập kỷ 50 và 60 nhiều chất được sử dụng phổ biến, điển hình là DDT Clo hữu cơ có tính tích lũy sinh học, tồn tại rất lâu trong môi
trường gây ô nhiễm đất và nguồn nước (thời gian bán hủy dài) Vì vậy, từ những
năm 90, nhiều chất đã bị cấm sử dụng như DDT, Lindan, Toxaphene, một số ít chất khác được sử dụng hạn chế Dựa theo cấu trúc clo hữu cơ chia thành các nhóm sau:
- Hợp chất diphenyl alphatic: DDT, methoxychlor, Perthane, difocol
- Nhóm aryhydrocarbon: lindan (666), mirex, kepone, paradichlorobenzen
- Nhóm cyclodiene: Aldrin, Endrin, Dieldrin cloran, Heptaclor, toxaphene.Các hợp chất Clo hữu cơ có thể xâm nhập vào cơ thể qua da, qua đường hít, đặc biệt là đường uống gây ngộ độc cấp hoặc mãn tính Ngộ độc cấp thường được chẩn đoán và xử lý, ngộ độc mãn thường ít được phát hiện do thương tổn thường tiến triển mãn tính nhưng có thể dẫn đến các thương tổn trầm trọng như suy giảm chức năng các cơ quan, ung thư
Trong nhóm này có các chất phổ biến sau đây: DDT, hexaclorbenzol, dieldrin và aldrin là những chất độc tích lũy mạnh, heptachlor tích lũy ở mức độ trung bình, γ - HCN (lindan) và metoxyclor thì ít tích lũy hơn [54]
a Đường phơi nhiễm: Qua da và đường tiêu hóa.
b Động học
- Hấp thu: Các hợp chất này do tan trong dầu mỡ nên hấp thu dễ dàng qua da
và niêm mạc Hấp thu qua đường hô hấp có ý nghĩa vì các hợp chất này không bay hơi
- Phân bố: Khi xâm nhiễm vào cơ thể, các hợp chất clo có thể tìm thấy trong
gan, thận và não Các chất này hấp thu rất nhanh qua màng tế bào vào tích tụ trong các tổ chức mỡ và tổ chức thần kinh, gan, thận, não của cơ thể, dễ gây ra nhiễm độc mãn tính với triệu chứng thần kinh là chủ yếu
- Chuyển hóa: Các hợp chất clo hữu cơ thuộc nhóm cyclodien chuyển hóa
thành dạng epoxide bởi các men MFOs Các chất chuyển hóa giải phóng chậm từ các kho dự trữ mỡ đến khi đạt được hàm lượng cân bằng trong máu Các chất chuyển hóa thường độc hơn chất gốc ban đầu
Từ đường tiêu hóa, clo hữu cơ được hấp thụ rất mạnh vào máu rồi phân phối vào các mô cơ thể đặc biệt là mô mỡ, não và các mô cơ quan khác như: thận, phổi, tim, gan, để rồi từ đó lại tái phân bố vào máu gây ngộ độc kéo dài Thời gian bán hủy có thể thay đổi từ vài ngày tới vài tháng tùy loại Clo hữu cơ được chuyển hóa qua gan thông qua quá trình oxy hóa như: Chlordane chuyển thành Oxychlordane, Aldrin chuyển thành Dieldrin vẫn giữ nguyên độc tính rồi được thải tiết chủ yếu qua
Trang 20mật nên nó có chu kỳ gan ruột Sản phẩm biến đổi cuối cùng của DDT trong cơ thể
là acid 4, diclorophenylacetic (DDA).
- Thải trừ: Đường đào thải chính là qua mật Có thấy chu kỳ gan ruột Clo
hữu cơ đào thải chậm qua thận Thời gian bán thải của diphenyl aliphatics và
cyclodien dao động trong khoảng vài ngày đến vài tuần Thải trừ qua phân (dạng không biến đổi) và qua thận(dạng biến đổi) Một phần thải qua sữa, qua mật, một
phần nhỏ qua các tuyến Sự thải trừ diễn ra qua 2 bước: đầu tiên thải trừ khá nhanh, sau đó là giai đoạn thải trừ rất chậm [54]
c Độc tính: Ngộ độc clo hữu cơ chủ yếu qua đường tiêu hóa, ngộ độc qua
da, ngộ độc qua đường hô hấp ít trầm trọng hơn Trong ngộ độc cấp clo hữu cơ thì
DDT tác dụng chủ yếu lên thần kinh trung ương (tiểu não và vỏ não vùng vận động) Nhóm cyclodien là độc nhất LD50 ở chó là 15 - 65mg/kg thể trọng, ở lợn và trâu bò là 20 - 100mg/kg thể trọng [54]
tác khó và dễ mệt cơ (trường hợp điển hình) rối loạn bơm Na+, K+, ATPase
+ Biểu hiện hệ thần kinh trung ương: Rối loạn ý thức: vật vã, kích động Nặng: hôn mê Co giật: co giật kiểu cơn động kinh toàn thể
+ Biểu hiện tim mạch: Ngoại tâm thu thất Tổn thương nặng gây cơn nhịp nhanh, rung thất, trụy mạch là dấu hiệu tiên lượng nặng
+ Biểu hiện tại gan: Tổn thương nặng biểu hiện của bệnh cảnh viêm gan
nhiễm độc: vàng da, gan to (vì gan là nơi chuyển hóa chủ yếu của clo hữu cơ).
* Ngộ độc mãn: Là giai đoạn sau ngộ độc cấp nặng hoặc do thường xuyên
tiếp xúc với clo hữu cơ Sau nhiều ngày mới xuất hiện các triệu chứng ngộ độc Bệnh nhân lúc đầu run nhẹ, sau mới co giật Ở gia cầm bị ngộ độc mãn tính không
có triệu chứng thần kinh, thường bỏ ăn, nằm dục một chỗ, lông xơ xác, rụng Thymus và tuyến giáp trạng phì đại Nhiều trường hợp có thấp khớp cấp Một số
chất gây hiện tượng porfirin có nhiều trong máu (Delta-ALA-sylterase bị kích hoạt)
Trong nước tiểu và trong phân có nhiều sản phẩm chuyển hóa của porfirin
Người béo mẫn cảm hơn với Clo hữu cơ so với người gầy vì những chất này tích lũy nhiều trong mỡ và rất chậm thải trừ Trẻ em và người bị đói mẫn cảm hơn những người lớn và no Dung dịch DDT và 666 trong dầu và mỡ độc hơn nhiều so với dùng dạng bôi ngoài da [54]
Trang 21* Chẩn đoán qua xét nghiệm:
- Trong trường hợp bị ngộ độc cấp cần định lượng clo hữu cơ trong máu và nước tiểu bằng phương pháp sắc ký Định lượng chất chuyển hóa của clo hữu cơ trong máu để xác định chẩn đoán
- Trong trường hợp bị ngộ độc mãn tính: Tìm clo hữu cơ trong mô mỡ, sữa
- Kết quả xét nghiệm máu cho thấy: Hàm lượng các men SGOT, SGPT tăng, Bilirulin máu tăng và CPK máu tăng [54]
e Các biện pháp hạn chế hấp thu:
+ Phơi nhiễm chất độc qua da: Tắm rửa bằng xà phòng, nước hoặc chất tẩy
rửa
+ Phơi nhiễm chất độc qua đường tiêu hóa: Ngừng sử dụng thức ăn có độc
Rửa dạ dày hoặc có thể tiêm thuốc gây nôn Chống tổn thương gan: Truyền dung dịch glucose 30% từ 500 - 800 ml và thêm vitamin B1 600 mg [54]
1.4.5.1 DDT
* DDT: Tên khoa học: 4, 4 diclodiphenyltriclorometymetan
* Tính chất và nguồn gốc:
DDT là chất kết tinh trắng không mùi, không vị Nhiệt độ nóng chảy 108,5 –
1090C Hầu như không tan trong nước, trong các acid và trong kiềm Tan tốt trong nhiều dung môi hữu cơ và mỡ Sản phẩm công nghệ có chứa 75 - 76% đồng phân 4,4 và 24 - 25% các đồng phân khác Chỉ có đồng phân 4,4 mới có tác dụng diệt sâu
Hình 1.1 Cấu tạo của DDT
DDT do nhà sinh hoá học Thuỵ sĩ, Paul Muller phát minh năm 1938 Thuốc DDT vừa ra đời đã tỏ rõ tác dụng tuyệt vời trong việc tiêu diệt các loại côn trùng có hại trong nông nghiệp Hầu như tất cả các loại sâu bọ có hại đều bị chết khi gặp phải DDT Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, người ta đã dùng DDT để tiêu diệt rất hiệu nghiệm loại bọ chét, giúp cho các binh sĩ chiến đấu ở Bắc Phi thoát khỏi
C
C
Cl
Cl
C
l
Cl
Cl
Cl
ClCl
H
Trang 22nạn dịch thương hàn do bọ chét lây truyền Tiếp đó, Tổ chức Y tế thế giới đã dùng DDT để diệt muỗi và thu được thành công lớn trong việc ngăn chặn bệnh sốt rét lây lan Với những thành tích đó DDT đã trở thành vua của các loại thuốc trừ sâu và năm 1948, ông Muller - người phát minh ra DDT đã vinh dự nhận giải thưởng Nobel về hoá học.
Khi DDT mới ra đời có sức mạnh vô địch Nhưng 30 năm sau, DDT bị tuyên
án "tử hình" (bị cấm sản xuất và sử dụng) bởi đã có một số loại côn trùng có hại không sợ DDT nữa, chúng đã nhờn với DDT Đến năm 1960 đã có 137 loại côn trùng có hại nhờn thuốc DDT Chưa hết, DDT đã kém hiệu quả trong việc tiêu diệt côn trùng có hại, lại còn giết chết khá nhiều chim chuyên ăn côn trùng có hại DDT
có thành phần tương đối ổn định nên khó bị phân giải trong môi trường tự nhiên và thâm nhập vào cơ thể các loại chim theo hệ thống nước, thực vật phù du, động vật phù du, tôm cá nhỏ DDT khi ở trong nước có nồng độ không đáng kể, nhưng khi xâm nhập vào cơ thể chim, nồng độ của DDT sẽ tăng lên hàng triệu lần khiến chim nếu không bị chết cũng mất khả năng sinh sản Đây là điều mà con người không ngờ tới [50]
Ở Việt Nam DDT và các hợp chất clo hữu cơ khác được sử dụng ở một vùng nông nghiệp dưới nhiều dạng như: dạng bột, dung dịch, phun mù
Do sử dụng nhiều, rộng rãi các nhóm thuốc này nên dư lượng của nó tồn tại trong đất, trong cây trồng khá cao và lâu Từ đó gây nhiễm độc cho người và gia súc Trong cơ thể gia súc, tồn dư của DDT cao nhất ở tổ chức mỡ, thận, buồng trứng, não Người ta đã chứng minh rằng việc dùng DDT làm ảnh hưởng đến sự sinh sản của các loài chim Trong động vật có vú, nó phá hoại khả năng dự trữ vitamin A của gan Cho chuột ăn thức ăn có chứa các này, thấy gan bị nhiễm độc, bạch cầu tăng và một số bệnh khác, trong mỡ có 7 - 11ppm DDT, mức nhiễm này cũng gần với mức ở người bị nhiễm nói trên
Theo kết quả nghiên cứu của Koil J.E và cộng sự, giữa hàm lượng DDT
trong máu và hoạt lực của enzym gluco-6-phosphat-dehydrogenase (G6PD) có
tương quan rõ rệt G6PD là một yếu tố di truyền Hoạt động của nó có tác dụng cản trở hàm lượng DDT trong huyết thanh Như vậy, sự tích lũy DDT, khả năng chịu đựng DDT của mỗi loài động vật mang tính di truyền
Trong đất, DDT phân hủy rất chậm, dẫn đến gây ô niễm các nguồn nước Ở nhiều nơi, phải tăng liều lượng DDT thật cao mới diệt được sâu bệnh Tuy nhiên với liều lượng này lại gây ngộ độc cho các động vật khác và tích lũy lâu dài trong đất Vì
thế DDT đã bị cấm sử dụng từ lâu ở nhiều nước (Hungari cấm sử dụng từ 1/1/1968)
Ở nước ta, từ năm 1993 đã có văn bản chính thức của Nhà nước cấm sử dụng DDT trong bảo vệ thức vật vì tính chất độc hại của nó
Trang 23* Cơ chế gây độc của DDT
- Với thần kinh động vật: Cơ chế gây độc của clo hữu cơ nói chung và DDT nói riêng sẽ làm thay đổi hoạt động của kênh Na+, K+ qua màng tế bào Dưới tác động của DDT, Na+ được chuyển dễ dàng qua màng tế bào trong khi đó K+ bị chặn lại làm ức chế hệ thống bơm Na+, K+, ATPase và Calmoduline làm giảm tính tải khử cực của tế bào dẫn đến các biểu hiện thần kinh, co giật Cyclodine, hexachloro,
cyclohexan gây ngộ độc thần kinh do kích thích receptor-aminobutyric acid (GABA)
của hệ thần kinh trung ương Trong hệ thống lymbic, lindane có thể kích thích trực tiếp neuron và gây các cơn co giật
- Với thần kinh thực vật: Sự chuyển hóa của các amin sinh học ở não cũng rối loạn, dẫn tới hàm lượng acetylcholin và serotonin ở não thay đổi, không còn ở mức độ sinh lý bình thường, do đó gây những rối loạn thần kinh Các thương tổn tim mạch thường loạn nhịp, do DDT làm halogene hóa hydrocacbon làm tăng tính nhạy cam của cơ tim với catecholamin gây loạn nhịp đặc biệt khi dùng catecholamin ngoại sinh [54]
Gan là nơi chuyển hóa clo hữu cơ, các thương tổn tại gan tùy theo mức độ ngộ độc có thể tăng men gan đơn thuần đến hoại tử tế bào gan
DDT trước hết là chất độc thần kinh, LD50 đối với động vật khoảng
250-400mg/kg Ngoài ra nó ức chế men carboanhydrase (có trong hồng cầu, tủy sống, thận, tuyến nước bọt, dạ dày) có vai trò trong các quá trình trao đổi khi tạo HCl trong
dạ dày Có ý kiến cho rằng hiện tượng co giật là do kết quả của sự carboanhydrase
* Con đường thải trừ: DDT được thải trừ qua nước tiểu dưới dạng DDA
DDT đào thải ra khỏi cơ thể động vật qua phân, nước tiểu và sữa Thuốc tích lũy trong mỡ và thải trừ rất chậm [54]
* Liều gây độc: Đối với trâu, bò: 0,2 g/kg; bê 0,44 g/kgP; cừu 0,1 g/kgP; thỏ
(mẫn cảm nhất) 0,05 g/kgP; gà 0,5 g/kgP gây độc và hơn các loài vật khác với DDT
VÀ HCH, chịu được liều 0,5 g/kgP per os mà không gây độc Nếu phun trừ kí sinh trùng DDT 1,5% và HCH 5% nhắc lại nhiều lần sẽ gây độc [54]
* Dấu hiệu ngộ độc DDT: Triệu chứng xuất hiện sau 12-24 giờ bị nhiễm độc.
- Bồn chồn không yên, run cơ đặt biệt là cơ vùng lưng và chân sau
- Kích thích vỏ não, nhịp thở giảm và rối loạn, run cơ và chết
- Co giật, mất thăng bằng sau đó bị liệt chân, bỏ ăn, ỉa chảy, chết sau khi suy sụp do co giật
- Dạng mãn tính: tổn thương gan ở các mức độ khác nhau
- Gan sưng nhiễm mỡ, hoại tử phần giữa tiểu thùy Hoại thư thận và cơ chân sau
Mỡ nhuộm màu vàng Có thể xuất huyết lan tràn ở niêm mạc dạ dày, ruột và cơ tim [36]
* Tiên lượng: Súc vật bị ngộ độc các loại clo hữu cơ khác thường bị chết
Trang 24sau 4 - 10 ngày, với DDT thường bị chết sau 24 - 36 giờ [54].
1.4.5.2 Hexaxyclohexan (HCH hoặc 666 hexancloran)
Hình 1.2 Cấu tạo của 666
666 có công thức hóa học C6H6Cl6, tên khoa học là Hexacloxyclohecxan (666 hexancloran) 666 kết thành bột không hòa tan trong nước, nhưng hòa tan mạnh trong dung môi hữu cơ Khác với DDT, Hexacloran gây nhiễm độc mạnh ở sâu bọ
và ít gây độc với động vật máu nóng Các hóa chất BVTV thuộc nhóm Clo bao gồm DDT và 666 đều có tính tích lũy lâu trong cơ thể và là chất gây độc với hệ thần kinh trung ương, thường được tích lũy trong các mô mỡ và thải trừ rất chậm Nó rất bền vững trong đất, nước gây ô nhiễm ra ngoài môi trường một cách lâu dài
* Tính chất
Hexaxyclohexan sản xuất trong kỹ nghệ là hỗn hợp tương đối phức tạp của các đồng phân của xyclohexan, đều là những chất kết tinh, chúng khác nhau về nhiệt độ chảy và độ hòa tan trong dung môi hữu cơ Nói chung các đồng phân đều hòa tan tốt trong một số dung môi: benzen, tolue, metanol, etanol, ete Chúng bền vững với các acid đặc như H2SO4, HNO3, HCl và các oxy hóa
Trong số các đồng phân chỉ có đồng phân G của hexaxyclohexan gọi là lindan có giá trị nhất Trong nông nghiệp được dùng chủ yếu để diệt những cây có hại, trong y tế lindan được dùng để trừ chấy, rận ở người Chất này tích lũy trong
mỡ rất lâu và thải trừ rất chậm [54]
* Độc tính: Tương tự như DDT nhưng ít độc hơn DDT 4 - 5 lần do nó được
đào thải ra khỏi cơ thể động vật máu nóng nhanh hơn DDT Cũng như DDT và các dẫn xuất khác có chứa clo khác, 666 cũng bền vững trong thiên nhiên và có tác dụng tích lũy trong cơ thể động vật máu nóng và người Đó là nguyên nhân gây ngộ độc trường diễn của 666 Hiện nay ít được dùng trong nông nghiệp cũng như trong y tế
* Liều gây chết: Đối với cừu: 100 mg/kgP per.os, 35 ngày gây chết 666 tích
lũy trong mô mỡ 8 tháng khi cho trâu, bò, lợn, thỏ với liều gây chết là 0,01 - 0,5g/kgP Ngựa mẫn cảm nhất với hexacloran: Liều gây độc 10 mg/kgP; Liều gây chết 20 mg/kgP [54]
Trang 25* Dấu hiệu ngộ độc 666:
Xảy ra vài giờ sau khi ăn phải thức ăn có độc; thân nhiệt tăng (0,7-1,20C) tim đập mạnh và nhanh, tăng nhịp thở, giảm ăn, chảy nhiều nước dãi, nghiến răng Bồn chồn, đau bụng do co thắt, co giật kiểu tetanos, sợ hãi, thở nông và nhanh, nhu động ruột tăng, vã mồ hôi và tăng xúc giác Sau 1 - 2 ngày quan sát thấy viêm dạ dày - ruột, tăng nhu động ruột dẫn đến bị ỉa chảy, phân lỏng chất nhày, người bị suy
sụp Có thể xuất huyết dưới da, phổi và màng phổi, loạn dưỡng (distrophia) gan,
thận, phổi, mỡ xung quanh thận có mùi 666 Bệnh nhân có giật đến co cứng cơ, trước khi chết đồng tử mắt giãn
- Kết quả xét nghiệm máu cho thấy: Số lượng bạch cầu tăng, lympho giảm, lượng Hb giảm, tiểu cầu tăng, fibrinogen tăng, thời gian đông máu giảm, nước tiểu
mà gây ra sự nhiễm độc môi trường đất, nước, không khí và cả nông sản [23]
Sự tồn dư lâu dài của HCBVTV trong các môi trường phải kể đến DDT đây là một hóa chất có độc tính cao Ban đầu, DDT được dùng trong chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng sau đó được dùng rất rộng rãi để trừ dịch bệnh trong nông nghiệp, diệt trừ sinh vật mang mầm bệnh (như muỗi gây sốt rét), ngoại kí sinh của gia súc và các côn trùng trong nhà, trong các cơ sở kỹ nghệ Từ năm 1940, hơn 4 tỷ pounds DDT được
sử dụng , trong đó có khoảng 80% được sử dụng trong nông nghiệp Năm 1961 ở mỹ
sử dụng khoảng 160 triệu pounds Bắc mỹ và Châu Âu quy định sử dụng DDT có phần nghiêm ngặt nhưng ở Châu Á và Châu Phi sử dụng đáng kể [58]
Do được sử dụng khắp thế giới, DDT qua nước và thực phẩm xâm nhập vào
cơ thể con người, phá hủy nội tiết tố giới tính của con người, gây ra các bệnh về thần kinh, ảnh hưởng tới công năng của gan Hậu quả này xảy ra cũng ngoài dự kiến của con người
Trang 26Thuốc trừ sâu DDT còn có đặc điểm ngoại lệ, đó là kể từ năm 1974 toàn thế giới hoàn toàn ngừng sản xuất DDT, nhưng hậu quả của DDT trong môi trường còn tồn tại lâu Thuốc DDT trong không khí phải sau 10 năm mới giảm nồng độ xuống
tỉ lệ ban đầu là 1/10; DDT tan trong biển còn phải mất thời gian lâu hơn nữa mới phân hủy hết Theo dự đoán của các nhà khoa học, phải đến sau năm 1993 DDT trong nước biển mới phân hủy về cơ bản
Vì DDT có tính độc cao và thời gian phân huỷ lâu nên tại Mỹ từ năm 1972, DDT đã bị cấm sử dụng, năm 2001 tại Thụy Điển, công ước Stockholm đã mở rộng lệnh cấm này ra toàn thế giới, ngoại trừ trong các lĩnh vực dịch tễ Một số nước phát triển thì ngừng sử dụng DDT mà chuyển sang các loại thuốc khác
Từ năm 1980-1983, có rất nhiều phân tích về sự tích tụ của HCBVTV ở trong các trầm tích biển ở FPA, hàm lượng trung bình DDT, DDE, DDD là: 0.1, 0.1, 0.2 Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy sự có mặt của HCBVTV ở trong các trầm tích Bắc cực và Nam cực do HCBVTV được vận chuyển từ khu vực bị ô nhiễm đến [58]
1.6.2 Ở Việt Nam
HCBVTV xâm nhập vào Việt Nam vào giữa thế kỉ XX, các loại HCBVTV
đã được sử dụng từ những năm 50 - 60 của thế kỷ trước để phòng trừ các loại dịch bệnh Từ năm 1957 đến 1980, HCBVTV được sử dụng khoảng 100 tấn/năm đến những năm gần đây việc sử dụng HCBVTV đã tăng đáng kể cả về khối lượng lẫn chủng loại Vào những năm cuối của thập kỷ 80, số lượng HCBVTV sử dụng là 10.000 tấn/năm, sang những năm của thập kỷ 90, số lượng HCBVTV đã tăng lên gấp đôi (21.600 tấn/năm vào năm 1990), thậm chí tăng lên gấp ba (33.000 tấn/năm vào năm 1995) Diện tích đất canh tác sử dụng HCBVTV cũng tăng theo thời gian
từ 0,48% (năm 1960) lên khoảng 80 - 90% (năm 1997) [52]
Theo kết quả điều tra, khảo sát của Bộ Tài nguyên và Môi trường về các điểm ô nhiễm do HCBVTV tồn lưu gây ra trên phạm vị toàn quốc từ năm 2007 đến 2009 cho thấy trên địa bàn toàn quốc có trên 1.100 địa điểm bị ô nhiễm HCBVTV thuộc nhóm những chất hữu cơ độc tính cao và khó phân hủy POP Có tới 289 kho chứa nằm rải rác tại 39 tỉnh, thành trong cả nước, tập trung chủ yếu ở Nghệ An, Thái Nguyên, Tuyên Quang Trong số này, có tới 89 điểm đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do tình trạng kho bãi xuống cấp và rò rỉ hoá chất Việc quản lý và xử lý lượng thuốc này như thế nào đang là thách thức của các nhà chuyên môn và quản lý [23]
Dư lượng thuốc BVTV còn lại trên thực phẩm đã gây ra 73 vụ ngộ độc trong 2 năm 1999 - 2000 Tuy nhiên đây chỉ là các vụ ngộ độc cấp tính Một số loại chất BVTV còn gây tình trạng ngộ độc với thời gian ủ bệnh lâu Trước tình hình này, giải pháp được giới môi trường và y tế ủng hộ là đẩy mạnh phát triển nông nghiệp
Trang 27hữu cơ, sử dụng ít hoặc không dùng hóa chất, một phương pháp đã có lúc được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam.
1.7 Ảnh hưởng của ô nhiễm HCBVTV tồn lưu đến môi trường và con người
Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội thì việc sử dụng hoạt chất HCBVTV để tăng năng suất cây trồng càng gia tăng Do việc quản lý, bảo quản và sử dụng HCBVTV dùng trong nông nghiệp còn chưa được chặt chẽ, nên một số loại HCBVTV ngoài danh mục được phép sử dụng vẫn lưu hành rộng rãi Tồn lưu HCBVTV cấm và hạn chế sử dụng trong môi trường đất, nước, không khí, động vật, thực vật ở các vùng nghiên cứu đáng lo ngại
Hình 1.3 Sơ đồ tổng quát về sự dịch chuyển tích lũy và phản ứng
của chất thải trong tự nhiên
(Nguồn http://www.gree-vn.com) [49]HCBVTV khi sử dụng cho cây trồng được cây trồng hấp thụ một phần còn một phần bị rửa trôi theo nước mưa xuống các sông ngòi hoặc thấm vào đất Dư lượng HCBVTV trong thực phẩm, đất, nước cao sẽ ảnh hưởng đến môi trường thiên nhiên như thay đổi thành phần của đất, tác động đến động vật thủy sinh trong các ruộng, ruộng rau Ngoài ra, sau một thời gian tiếp xúc với HCBVTV sẽ làm thay đổi cấu trúc
di truyền của các loại côn trùng và có thể là nguyên nhân gây bùng nổ các loại dịch bệnh khác trong nông nghiệp Đặc biệt, việc sử dụng HCBVTV không thực hiện đúng các quy trình bảo hộ lao động đã ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe con người như: gây rối loạn nội tiết, ung thư, thay đổi hệ miễn dịch, bệnh ngoài da, bệnh phổi [17]
Việc sử dụng ngày càng nhiều các chất hữu cơ POP và các loại HCBVTV có độc tính cao đã làm cho mức độ tồn lưu các loại hóa chất này trong nông sản, thực phẩm, đất, nước, không khí và môi trường ngày càng lớn Các vụ ngộ độc thức ăn bởi
Trang 28HCBVTV cùng với các loại bệnh tật do ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng và trở thành một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở nước ta hiện nay.
Các yếu tố quyết định mức độ độc hại của HCBVTV bao gồm độc tính, đặc tính vật lý của hóa chất, trạng thái tiếp xúc, đường xâm nhập vào cơ thể và tính mẫn cảm của cá nhân, tác hại tổng hợp của các yếu tố này và thời gian tiếp xúc [34]
1.7.1 Ảnh hưởng đến môi trường
Sử dụng HCBVTV là chìa khóa của sự thành công trong cách mạng xanh, đảm bảo nhu cầu về lương thực Tuy nhiên, trong những năm gần đây nhiều người
đã lo ngại về ảnh hưởng của HCBVTV đến môi trường Lo ngại này không chỉ ở những nước phát triển mà ngày càng trở thành vấn đề quan trọng ở những nước đang phát triển như ở Việt Nam Lượng HCBVTV tồn lưu sẽ khuếch tán và có thể
di chuyển xa đến khác theo sơ đồ sau:
Hình 1.4 Sự phân bố các chất hữu cơ bay hơi trong môi trường đất - nước - khí
- Gây độc hại cho bầu khí quyển bởi các loại khí amoniac (NH3), nitơ ôxit; mêtan và nhiều chất khác sinh ra từ quá trình đốt, làm suy giảm tầng ôzôn làm trái đất nóng lên và gây ô nhiễm bầu khí quyển
- Sử dụng quá mức các tài nguyên thiên nhiên gây suy thoái nước ngầm, mất dần các loại động vật và các nguồn lương thực tự nhiên, làm mất khả năng hấp thụ phế thải của chúng, dẫn đến lụt lội và mặn hóa
- Làm xuất hiện những tai biến mới về sức khỏe trong các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và hóa học nông nghiệp [20]
Không khí có thể dễ dàng bị ô nhiễm bởi HCBVTV dễ bay hơi, thậm chí không bay hơi như DDT sẽ bay hơi rất nhanh vào không khí trong điều kiện khí
Trang 29hậu thời tiết nóng Ở các vùng nhiệt đới, khoảng 90 % HCBVTV phospho hữu cơ
có thể bay hơi nhanh hơn Các thuốc diệt cỏ cũng bị bay hơi nhất là trong quá trình phun thuốc
Thuốc trừ sâu hiện diện trong môi trường sẽ làm tổn hại cho các loài động
thực vật sống trong nước và trên cạn Trong nguồn nước mặt và nước ngầm thuốc trừ sâu gây ô nhiễm nguồn nước và không thể sử dụng cho mục đích sinh hoạt của con người nếu nống độ quá cao; cũng như sẽ gây hại cho hệ thủy sinh trong nguồn nước mặt
Thuốc trừ sâu có thể tích lũy trong mô mỡ của động vật và đi vào chuỗi thực
phẩm và cơ thể người và động vật khác Thuốc trừ sâu còn có thể làm mất cân bằng sinh thái, giảm đa dạng sinh học khi diệt những loài có ích cho cây trồng hoặc các loài
là thực phẩm cho loài cao hơn trong chuỗi thực phẩm [51]
Trong các loại thuốc trừ sâu, DDT khi bị nhiễm vào môi trường không khí, nước, đất sẽ tiếp tục bị lan truyền rộng vào môi trường DDT và các đồng phân bị ngấm vào mạch nước ngầm Trong đất, DDT có thể suy giảm nhờ quá trình bốc hơi, quá trình quang phân và quá trình phân hủy sinh học (hiếu khí và kị khí) nhưng những quá trình này xảy ra rất chậm tạo ra sản phẩm là DDD và DDE có độ bền tương tự như DDT DDD cũng được sử dụng như là một loại thuốc trừ sâu, còn DDE chỉ được tìm thấy trong môi trường nhiễm bẩn do sự phân hủy sinh học của DDT
Quá trình bốc hơi, phân hủy DDT, DDD, DDE có thể được lặp lại nhiều lần
và kết quả là DDT, DDD, DDE được tìm thấy ở cả những nơi rất xa Những hợp chất hóa học này có thể được phát hiện ở đầm lầy, tuyết và động vật ở vùng Bắc Cực & Nam Cực, rất xa so với nơi chúng được sử dụng, DDT, DDD, DDE cuối cùng ở trong đất một thời gian dài, hầu hết bị phân hủy chậm thành DDD và DDE thường là bởi hoạt động của các vi sinh vật Chu kỳ bán hủy của những hợp chất này trong khí quyển khi bay hơi được ước tính 1,5- 3 ngày DDT ở đất ẩm bị phân hủy nhanh hơn ở đất khô Chúng làm giảm giá trị của đất
Ở Việt Nam hiện trạng ô nhiễm môi trường do HCBVTV đã trở thành vấn đề cần được quan tâm Các loại HCBVTV đã và đang là những nguyên nhân đóng góp vào việc làm giảm số lượng nhiều loại sinh vật có ích, làm giảm tính đa dạng sinh học, ảnh hưởng tới sức khỏe con người Hiện trạng sử dụng tùy tiện các loại HCBVTV đã gây xáo trộn trong hệ sinh thái HCBVTV có mức độ tác động khác nhau đến các loài của quần thể sinh vật Hậu quả trực tiếp của những tác động này gây khó khăn trong công tác bảo vệ thực vật, làm xuất hiện tính kháng thuốc, gây hại cho thiên địch tự nhiên của sâu bệnh, gây hiện tượng bùng phát dịch, xuất hiện những loại sâu hại mới và đôi khi khá nguy hiểm
Trang 30Thành phần thiên địch của sâu hại hệ sinh thái ruộng lúa ở Việt Nam khá phong phú nhưng hiện nay đã giảm sút nghiêm trọng Căn cứ kết quả điều tra, định loại của Trung tâm tư vấn Công nghệ môi trường - Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam đã thu thập được: 129 loài ký sinh, 186 loài côn trùng và nhện ăn thịt, 6 loài vi sinh vật gây bệnh cho sâu hại lúa và một số cây trồng khác Nhưng hiện nay số loài sinh vật có lợi giảm đi đáng kể do sử dụng hóa chất, thuốc trừ sâu không hợp lý
Một số nghiên cứu cho thấy việc sử dụng một số HCBVTV có độc tính mạnh như wofatoc và bassa với liều lượng trung bình khoảng 20ml/sào (thay đổi từ 10 -
20 ml/sào) đã gây ảnh hưởng tới sinh thái giun đất - một số loại sinh vật có lợi cho việc trồng trọt như xua đuổi chúng xuống lớp đất sâu, hoặc làm chết giun, làm gây hỏng hệ sinh thái đất và gây thoái hóa cây trồng [50]
Lượng HCBVTV tồn dư trong đất gây hại đến các vi sinh vật trong đất: Làm nhiệm vụ phân hủy, chuyển hóa chất hữu cơ thành chất khoáng đơn giản hơn cho dinh dưỡng cây trồng là một cách gián tiếp tác động đến cây trồng Mặc dù độ hòa tan của HCBVTV tương đối thấp, song chúng cũng bị rửa trôi vào nước tưới tiêu, gây ô nhiễm nước mặt, nước ngầm và nước vùng cửa sông ven biển nơi hệ thống tưới tiêu đổ vào
Thuốc trừ sâu tích lũy trong mô của các vi sinh vật đáy vùng ven biển châu thổ Sông Hồng Do quá trình lọc nước thụ động, thuốc trừ sâu từ môi trường xung quanh sẽ theo mùn bã hữu cơ theo nước đi vào cơ thể sinh vật và được tích tụ trong
cơ thể sinh vật ngày càng nhiều
Nhiều loài cá và động vật thân mềm tích tụ một số hóa chất độc hại trong cơ thể Người ta tìm thấy trong cơ thể cá một lượng DDT rất lớn Một số loại hóa chất
có tính chất bền vững và có thể tồn tại trong môi trường biển một thời gian dài [17]
Trên thực tế hiện tượng sử dụng HCBVTV không theo chỉ dẫn ở nhiều nơi hiện nay đã gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Kết quả định lượng HCBVTV ở một số địa phương cho thấy dư lượng HCBVTV trong đất, nước
và thực phẩm đang ở mức báo động và có nguy cơ gia tăng [27] Chính vì vậy nhiễm độc HCBVTV đang là vấn đề đáng lưu tâm trong công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ người lao động nông nghiệp
1.7.2 Ảnh hưởng đến sức khoẻ con người
Năm 1995, một nghiên cứu do Tổ chức Y tế Thế giới thực hiện ước tính có 3 triệu trường hợp ngộ độc thuốc trừ sâu hằng năm, bao gồm 220.000 ca chết liên quan đến thuốc trừ sâu, chủ yếu trong số những người sử dụng hoặc áp dụng thuốc trừ sâu Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có những con số chính xác về ngộ độc
Trang 31HCBVTV trên phạm vi toàn cầu [62] Theo Tổ chức Y tế Liên Mỹ ước tính khoảng 3% người lao động nông nghiệp tiếp xúc với HCBVTV bị ngộ độc cấp tính, với khoảng 1,3 tỷ người lao động nông nghiệp trên toàn thế giới có nghĩa là khoảng 39 triệu người có thể bị ngộ độc cấp tính hàng năm [60]
Một phương pháp khác để tính số trường hợp nhiễm độc do HCBVTV là dựa vào số dân có nguy cơ Theo Jayaratnam và CS ở một số nước mỗi năm có khoảng
7 % số người làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp có sử dụng HCBVTV đã từng có triệu chứng nhiễm độc (bao gồm cả các trường hợp nhiễm độc nhẹ) Một số đánh giá khác do Trung Quốc đưa ra lại cho rằng mỗi năm có 1% số người sử dụng HCBVTV bị nhiễm độc [57], tuy nhiên tất cả các đánh giá trên vẫn chưa được thống nhất [59]
Những nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến sức khỏe con người đặt trọng tâm vào hai khía cạnh, độc tính cấp tính hoặc ảnh hưởng ngay lập tức kết quả từ việc phơi nhiễm trong thời gian ngắn, và độc tính mãn tính hoặc những ảnh hưởng là kết quả từ việc phơi nhiễm kéo dài
Sự phơi nhiễm của cơ thể con người đối với bất kỳ tác nhân nào trong môi trường có thể diễn ra qua 3 con đường: hô hấp, ăn uống và tiếp xúc trực tiếp
Hình 1.5 Sơ đồ hấp phụ tích lũy, phân chyển, chuyển đổi và bài tiết chất độc
của cơ thể con người
(Nguồn http://www.gree-vn.com) [49]
Trang 32Các triệu chứng khi nhiễm HCBVTV:
- Hội chứng về thần kinh: Rối loạn thần kinh trung ương, nhức đầu, mất ngủ, giảm trí nhớ Rối loạn thần kinh thực vật như rã mồ hôi Ở mức độ nặng hơn có thể gây tổn thương thần kinh ngoại biên dẫn đến tê liệt, nặng hơn nữa có thể gây tổn thương não bộ, hội chứng nhiễm độc não thường gặp nhất là do thủy ngân hữu cơ sau đó đến lân hữu cơ và clo hữu cơ;
- Hội chứng về tim mạch: Co thắt ngoại vi, nhiễm độc cơ tim, rối loạn nhịp tim, nặng là suy tim, thường là do nhiễm độc lân hữu cơ, clo hữu cơ va nicotin;
- Hội chứng hô hấp: Viêm đường hô hấp, thở khò khè, viêm phổi, nặng hơn
là có thể suy hô hấp cấp, ngừng thở, thường là do nhiễm độc lân hữu cơ, clo hữu cơ;
- Hội chứng tiêu hóa - gan mật: Viêm dạ dày, viêm gan, mật, co thắt đường mật, thường là do nhiễm độc clo hữu cơ, carbamate, thuốc vô cơ chứ Cu, S;
- Hội chứng về máu: Thiếu máu, giảm bạch cầu, xuất huyết, thường là do nhiễm độc clo, lân hữu cơ, carbamate Ngoài ra trong máu có sự thay đổi hoạt tính của một số men như men acetyl cholinesterase Hơn nữa có thể thay đổi đường máu, tăng nồng độ acid pyruvic trong máu
Ngoài 5 hội chứng kể trên, nhiễm độc do HCBVTV còn có thể gây ra tổn thương đến hệ tiết niệu, nội tiết và tuyến giáp
a Nhiễm độc cấp tính: Đối với nhiễm độc cấp tính, việc chẩn đoán không
khó lắm với các triệu chứng, giống như nhiễm độc muscarin và nicotin
Các triệu chứng ban đầu của nhiễm độc tuỳ thuộc vào đường xâm nhập của HCBVTV Nếu xâm nhập theo đường hô hấp, triệu chứng đầu tiên là rối loạn tri giác,
co đồng tử, khó thở, rồi rối loạn thần kinh trung ương (TKTƯ) và tự động Nếu xâm nhập qua da, sẽ xuất hiện co giật ở nơi tiếp xúc Triệu chứng tổn thương TKTƯ ít biểu hiện hơn Xâm nhập đường tiêu hóa sẽ gây nôn, co thắt ruột, tiêu chảy
Nhiễm độc HCBVTV gây nên những rối loạn giống như nhiễm độc muscarin (hệ M-cholin) và nicotin (hệ H-cholin) đồng thời gây rối loạn hệ thần kinh trung ương
+ Triệu chứng cường phó giao cảm (giống nhiễm độc muscarin) :
Buồn nôn, da xanh xao, đổ mồ hôi, chảy nước mắt, ứa nước bọt, chuột rút ở bụng, nôn, co đồng tử, nhịp tim chậm, huyết áp giảm, tiết dịch kèm co thắt phế quản dẫn đến cơn khó thở dạng hen, ỉa chảy
+ Triệu chứng hệ N-cholin ( giống nhiễm độc nicotin):
Co giật và co cứng cơ, chuột rút cơ rồi liệt cơ, nhanh chóng lan đến cơ hô hấp, nhịp tim nhanh, tăng huyết áp bù trừ tác dụng gây hạ huyết áp của muscarin
+ Dấu hiệu tổn thương TKTƯ:
Nhức đầu, mệt mỏi, chóng mặt, lẫn lộn, lo âu, co giật, suy hô hấp, hôn mê.Tuỳ theo đường xâm nhập các triệu chứng có thể khác nhau
Trang 33- Nhiễm độc qua đường hô hấp:
Các biểu hiện đầu tiên là các dấu hiệu hô hấp và mắt
Các triệu chứng lúc đầu là nhức đầu, chóng mặt, nhìn mờ, chảy nước mắt, co thắt ngực và tiết nước bọt Sau đó là co đồng tử, vã mồ hôi, nghe phổi thấy có tiếng ran
- Nhiễm qua đường tiêu hóa:
Các triệu chứng hay gặp là buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy
Ngoài các triệu chứng chung còn thấy vật vã, cảm giác yếu các chi và thay đổi hành vi Co giật có xuất hiện ở mi mắt, lưỡi hay những cơ gần nơi hấp thu HCBVTV qua da
Hoạt tính ChE hồng cầu giảm, còn 40-50% so với trước khi nhiễm độc
- Nhiễm độc toàn phát:
Các triệu chứng trầm trọng hơn: khó thở dữ dội, co giật, choáng váng, lẫn, rối loạn cảm giác Khi hôn mê các phản xạ đều mất, co giật cuối cùng liệt
b Nhiễm độc mạn tính: Đối với nhiễm độc mạn tính, việc chẩn đoán khó
khăn, các dấu hiệu lâm sàng phần lớn là chủ quan
Triệu chứng nhiễm độc mạn tính bao gồm: Nhức đầu, choáng váng, cảm giác nặng đầu, nhức thái dương, giảm trí nhớ, dễ mệt mỏi, ngủ không ngon giấc, ăn kém ngon, chóng mặt Ở một số trường hợp, có rối loạn tinh thần và trí tuệ, giật nhãn cầu, run tay và một số triệu chứng rối loạn TK khác Đôi khi TK bị tổn thương như viêm TK, liệt nhẹ và liệt hẳn
Sự phá huỷ của HCBVTV diễn ra nhanh chóng trong cơ thể được nhiều tài liệu đề cập tới, nên khó có khả năng xảy ra nhiễm độc mạn tính Tuy nhiên, sự tiếp xúc nhiều lần, liên tục gây tình trạng nhiễm độc cấp tính “tối thiểu” Trường hợp tiếp xúc nhiều lần, những lần tiếp xúc gần nhau, nên ChE giảm nhanh hơn là hồi phục HCBVTV được tích luỹ trong cơ thể, đến khi chỉ cần tiếp xúc với một lượng nhỏ là đủ để gây nhiễm độc cấp tính
Trong những trường hợp nặng, có thể thấy: giảm khả năng trí tuệ, mất định hướng từng lúc kiểu động kinh nhẹ, và một số dấu hiệu TK Có thể gặp các các hiện tượng dị ứng khác nhau như hen phế quản[32]
- Thuốc trừ sâu gây ung thư: Những nghiên cứu khoa học khám phá một số
vấn đề tiêu cực quan trọng liên quan đến sức khỏe do mối liên hệ với việc sử dụng thuốc trừ sâu Ví dụ, thuốc trừ sâu được Viện Ung thư Quốc gia Mỹ nghiên cứu cho thấy có khả năng là một nguyên nhân làm gia tăng tỉ lệ một số bệnh ung thư ở nông dân Nông dân là đối tượng có rủi ro cao hơn so với các thành phần khác trong cộng đồng đối với một số bệnh ung thư: ung thư gan, ung thư lá lách (không phải bệnh ung thư dạng Hodgkin (non-Hodgkin’s lymphoma), bướu ác tính ở da, bệnh bạch
Trang 34cầu, và ung thư môi, dạ dày, tiền liệt tuyến, đa u tủy và não Phơi nhiễm với thuốc 2,4-D; 2,4,5-T; mecoprop, acilfluorfen và các lọai thuốc trừ sâu khác đã từng được liên hệ với bệnh ung thư gan, lá lách không phải bệnh ung thư dạng Hodgkin Phơi nhiễm với các lọai thuốc diệt côn trùng cho thấy có mối liên hệ với các bệnh ung thư máu, đa u tủy và ung thư não.
Viện Ung thư Quốc gia Mỹ đã ghi nhận một số bệnh ung thư ở trẻ em tại Mỹ
đã và đang tăng lên gần 1% mỗi năm trong vòng nhiều thập kỷ gần đây Theo nghiên cứu của viện này, việc gia tăng này có thể quy cho việc sử dụng thuốc trừ sâu tại các đô thị Năm 2003, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (US-EPA) đã công
bố một nghiên cứu khoa học về những rủi ro ung thư ở trẻ em, đã kết luận rằng trẻ
em ở độ tuổi 15 có rủi ro về ung thư cao gấp 3 lần so với người trưởng thành khi phơi nhiễm với các chất gây đột biến Các chất gây đột biến có thể gây ung thư và các chất này được tìm thấy trong một số lọai thuốc trừ sâu
- Thuốc trừ sây gây ảnh hưởng đến não và hệ thần kinh, hệ nội tiết, các hệ thống miễn dịch: Một số nghiên cứu trên công nhân đã phơi nhiễm trong một thời
gian dài với thuốc trừ sâu được biết độc cho hệ thần kinh (như organophosphate, carbamate và một số thuốc diệt nấm) cho thấy sự sút kém về xử lý thông tin, trí nhớ
và phản xạ, phản ứng tâm lý và ứng xử nhanh nhẹn và khả năng nhận thức
Thuốc trừ sâu gây ảnh hưởng phá vỡ hệ nội tiết hoặc gây ảnh hưởng đến cơ quan sinh sản là những loại thuốc trừ sâu được sử dụng rộng rãi nhất và bao gồm các loại thuốc diệt cỏ alachlor và atrazine; thuốc diệt nấm như mancozeb và benomyl;
và thuốc diệt côn trùng như carbaryl, dicofol, endosulfan, methomyl, methoxychlor, parathion và các pyrethroid tổng hợp Các rủi ro về sức khỏe do sử dụng thuốc trừ sâu chưa được biết đầy đủ Phần lớn thuốc trừ sâu chưa bao giờ được xem xét đầy đủ các phạm vi về khả năng gây những ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe con người, như khả năng gây tổn hại đến hệ di truyền, hệ thần kinh, hệ nội tiết hoặc các hệ thống miễn dịch của cơ thể
- Thuốc trừ sâu gây ảnh hưởng đến sinh sản: Tại Canada, nhiều nghiên
cứu trên đàn ông và phụ nữ làm việc với thuốc trừ sâu (bao gồm thuốc trừ sâu sử dụng cho bãi cỏ và vườn) đã nhận thấy thuốc trừ sâu làm tăng rủi ro các vấn đề về sinh sản, làm sảy thai và thai chết lưu trong tử cung Phụ nữ mang thai trong thời kỳ đầu có phơi nhiễm với thuốc trừ sâu tăng rủi ro về nhiều loại khiếm khuyết về sinh sản (như bị hở môi, hở hàm ếch, tật nứt đốt sống gây ốm yếu tàn tật nghiêm trọng, chi có hình dạng không bình thường)
- Thuốc trừ sâu gây các ảnh hưởng trẻ em: Trẻ sơ sinh và trẻ em dễ bị tổn
thương hơn người trưởng thành do chức năng sinh lý đang phát triển và sự phơi nhiễm gia tăng theo tỉ lệ Trẻ sơ sinh tiêu thụ calori nhiều hơn 2,5 lần theo trọng
Trang 35lượng cơ thể so với người trưởng thành; thở lượng khí nhiều hơn gấp 2 lần và có diện tích bề mặt da gấp hai lần theo trọng lượng cơ thể Trẻ em uống nhiều nước hơn theo trọng lượng cơ thể so với người trưởng thành Trẻ em cũng thường chơi đùa trên đất, bơi lội trong sông hồ và ngậm các đồ chơi hoặc những đồ vật khác; tất
cả những hoạt động này dẫn đến tăng sự phơi nhiễm đối với thuốc trừ sâu Ngoài ra,
cơ thể đang tăng trưởng của một đứa trẻ nhạy cảm hơn đối với sự phơi nhiễm hóa chất vì sự phát triển diễn ra trong não, hệ thần kinh và nhiều bộ phận khác Một số nghiên cứu cho thấy rằng những trẻ em có bố mẹ có nghề nghiệp hoặc trong gia đình phải sử dụng thuốc trừ sâu thường có tỉ lệ mắc bệnh bạch cầu cao hơn 3 đến 9 lần so với những trẻ em bình thường khác
Một nghiên cứu gần đây tại Mỹ kết luận rằng mỗi ngày, “hơn 1 triệu trẻ em
Mỹ ở độ tuổi 5 và dưới 5” có thể tiếp xúc với các loại thuốc diệt côn trùng chứa organophosphate ở nồng độ vượt mức an toàn cho phép theo qui định của Cơ quan Nông nghiệp Mỹ (USDA) Báo cáo cũng đã kết luận rằng việc sử dụng thuốc diệt côn trùng chứa organophosphate tại nhà đã làm tăng lên những rủi ro cho trẻ sơ sinh
và trẻ em đang tuổi tập đi Nhiều organophosphate độc cho não bộ và hệ thần kinh, đặc biệt có thể làm tổn thương cho não trong thời kỳ sơ sinh và tuổi niên thiếu [50]
Các ảnh hưởng cụ thể của thuốc trừ sâu đến sức khỏe do sự phơi nhiễm tùy thuộc vào nồng độ, khả năng bị hấp thu của cơ thể, thời gian các hợp chất bị phân cắt và thải ra khỏi cơ thể ngắn hay dài, và các yếu tố khác Cho đến nay, nồng độ chính xác mà ở đó sự phơi nhiễm đối với thuốc trừ sâu thực sự gây ra một ảnh hưởng xấu cho sức khỏe vẫn chưa được biết
Trang 36Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu các chỉ số về môi trường không khí, đất, nước mặt, nước ngầm tiểu khu 6, khu phố Hưng Thịnh, thị trấn Kỳ Anh, Hà Tĩnh
Đồng thời tiến hành nghiên cứu các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa, huyết học và thực trạng sức khỏe bệnh tật của 2 nhóm:
Nhóm nghiên cứu (NC): gồm 35 đối tượng (gồm 20 nam và 15 nữ) tuổi đời
từ 16 - 75 là những người dân trên sống tại tiểu khu 6, nơi đang chịu sự tác động của
ô nhiễm môi trường của kho thuốc BVTV
Nhóm đối chứng (ĐC): gồm những người dân thuộc tiểu khu 5, nơi không chịu tác động của sự ô nhiễm môi trường của kho thuốc BVTV
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Điểm tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật nằm ở tiểu khu 6, khối phố Hưng Thịnh, thị trấn Kỳ Anh, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Tọa độ X= 1998129; Y= 0585259
Kho nằm trên vườn của hộ dân, ranh giới giáp ranh như sau:
- Phía Bắc, giáp với vườn nhà ông Nguyễn Văn Vĩnh cách nhà 30 m
- Phía Nam, Đông Nam, Tây Nam giáp với đường nội khu tái định cư Hẻm đá
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 9/2013 đến tháng 7/2014 và chia làm 03 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Từ tháng 9/2013 đến tháng 12/2013: Phân tích các chỉ tiêu về
ô nhiễm môi trường nước, không khí và đất Được thực hiện với sự hỗ trợ về thiết
bị, kỹ thuật, nhân lực và kinh phí của Công ty TNHH Một thành viên Kỹ thuật môi trường Nghệ An
+ Giai đoạn 2: Từ tháng 1/2014 đến tháng 5/2014 - Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường lên các chỉ tiêu sinh lý, huyết học, sinh hóa và tình trạng sức khỏe của người dân sống trong địa bàn nghiên cứu tại bệnh viện Hữu Nghị và Học viện Quân y
+ Giai đoạn 3: Từ tháng 5/2014 đến tháng 8/2014 xử lý số liệu thống kê, phân tích kết quả nghiên cứu hoàn thành luận văn
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
Trang 372.3.2 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến ô nhiễm môi trường thuốc trừ sâu hóa học trong và ngoài nước
2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập các nguồn số liệu thứ cấp về các chỉ số môi trường từ các phòng, ban có chức năng tại UBND thị trấn Kỳ Anh, trung tâm khí tượng thủy văn Hà Tĩnh, trạm y tế thị trấn Kỳ Anh, trung tâm quan trắc và kỹ thuật môi trường - Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Hà Tĩnh
- Thu thập số liệu sơ cấp từ việc điều tra, phỏng vấn người dân vùng xung quanh nền kho cũ, kiểm định lại nguồn số liệu thứ cấp
2.3.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu môi trường
Các số liệu đo đạc, phân tích môi trường được thực hiện tại hiện trường dưới
sự giúp đỡ của cán bộ kỹ thuật thuộc Công ty TNHH Một thành viên Kỹ thuật môi trường và Trung tâm Quan trắc môi trường Hà Tĩnh Các mẫu được bảo quản và đưa
về phòng thí nghiệm của công ty TNHH MTV kỹ thuật tài nguyên và môi trường
a Dụng cụ, hoá chất dùng trong lấy mẫu
- Khoan tay, xà beng, cuốc, xẻng, khay chứa mẫu, rây cỡ hạt 1mm: bằng Inox
- Găng tay vải, găng tay cao su, ủng cao su
- Bình thuỷ tinh màu nâu dung tích 250ml hoặc túi PE có kẹp mép để chứa mẫu
- Thùng để lưu chứa các mẫu và vận chuyển
- Nhãn dán để ghi ký hiệu mẫu
- Nước/chất rửa dụng cụ lấy mẫu, nước sạch để tráng rửa dụng cụ
- Dung môi (hexan, axeton dùng trong phân tích) để rửa dụng cụ
- Máy định vị GPS và máy ảnh
b Vị trí lấy mẫu
Mẫu lấy theo tình hình thực tế khảo sát, khu nào có nguy cơ lớn thì tập trung lấy nhiều, khu nào đơn điệu thì chỉ lấy mẫu đại diện Mẫu được lấy trong luận văn bao gồm: mẫu nước, mẫu đất, mẫu khí
Trang 38150-220 (cm)
250-300 (cm)
1 Trung tâm khu vực
nền kho cũ
X= 0585247Y= 1998122 MĐ1-L01 MĐ1-L02 MĐ1-L03
2 Ở nền kho cũ cách trung
tâm kho 10m hướng Tây Nam
X= 0585240Y= 1998122 MĐ2-L01 MĐ2-L02 MĐ2-L03
3 Ở nền kho cũ cách trung tâm
kho 10m hướng Đông Nam
X= 0585255Y= 1998116 MĐ3-L01 MĐ3-L02 MĐ3-L03
4 Ở nền kho cũ cách trung tâm
kho 10m hướng Tây Bắc
X= 0585239Y= 1998128 MĐ4-L01 MĐ4-L02 MĐ4-L03
5 Ở nền kho cũ cách trung tâm
kho 10m hướng Đông Bắc
X= 0585254Y= 1998129 MĐ5-L01 MĐ5-L02 MĐ5-L03
6 Cách nền kho thuốc cũ 3m
về phía Đông Bắc
X= 0585249Y= 1998124 MĐ6-L01 MĐ6-L02 MĐ6-L03
7 Cách nền kho thuốc cũ 3m
về phía Tây Bắc
X= 0585244Y= 1998124 MĐ7-L01 MĐ7-L02 MĐ7-L03
10 Cách nền kho cũ 8m
về hướng Tây Nam
X= 0585242Y= 1998116 MĐ10-L01 MĐ10-L02 MĐ10-L03
11 Trong nền kho cũ, cách tầm
nền 10m, hướng chính Nam
X= 0585245Y= 1998112 MĐ11-L01 MĐ11-L02 MĐ11-L03
12 Cách nền kho cũ 8m
về hướng Đông Nam
X= 0585254Y= 1998118 MĐ12-L01 MĐ12-L02 MĐ12-L03
13 Cách nền kho cũ 2m hướng
chính Đông
X= 0585249Y= 1998122 MĐ13-L01 MĐ13-L02 MĐ13-L03
14 Cách hố xử lý 2m
hướng Tây Bắc
X= 0585246Y= 1998123 MĐ14-L01 MĐ14-L02 MĐ14-L03
Trang 39+ Mẫu nước mặt
2 Góc phía Tây nam ao độ sâu 0.5m 0585240 1998127 M2
4 Góc phía Tây bắc ao độ sâu 0.5m 0585240 1998127 M4
+ Mẫu nước ngầm (nước dưới đất)
1 Giếng khoan tại nhà ông Huy 0585244 1998129 N1
2 Giếng khoan tại nhà ông Bình 0585243 1998129 N2
3 Giếng khoan tại nhà ông Tẻo 0585253 1998125 N3
4 Giếng khoan tại nhà ông Vĩnh 0585249 1998128 N4
5 Giếng khoan tại nhà ông Tư 0585243 1998118 N5
+ Mẫu không khí
c Phương pháp lấy và bảo quản mẫu
Quá trình lấy mẫu đất và nước phân tích dựa vào TCVN 7538-2:2005 (chất lượng đât- lấy mẫu- phần 2: hướng dẫn kĩ thuật lấy mẫu) và TCVN 6663-3:2008 (chất lượng nước- lấy mẫu: hướng dẫn cách bảo quản và xử lý mẫu)
Lấy mẫu đất:
+ Căn cứ theo địa hình của khu vực xung quanh nền kho, xác định tâm của nền kho thuốc, từ vị trí này lấy mẫu theo hình nan quạt hướng theo hướng địa hình và lấy các điểm xung quanh nền kho thuốc để xác định giới hạn vùng ô nhiễm, các điểm so le
có khoảng cách so với tâm khác nhau ta lần lượt xác định được các điểm lấy mẫu
Trang 40+ Dùng khoan chuyên dùng khoan theo độ sâu 0-50cm, 90-110cm, 160cm, 190-210cm, 230-250cm (tùy thuộc từng vị trí và địa hình lấy mẫu) nhằm phân tích và đánh giá mức độ ảnh hưởng của hóa chất BVTV đến từng tầng đất.
140-Lấy mẫu nước:
- Dùng 2 chai thủy tinh sạch (màu nâu) loại 250ml để lưu giữ mẫu nước Cho mẫu nước cần lấy vào chai, tráng sạch 3 lần, sau đó mới tiến hành cho nước vào đầy chai và đậy nắp lại, chuyển vào hộp xốp và bảo quản bằng đá lạnh và chuyển đến phòng thí nghiệm để phân tích
Lấy mẫu khí
- Chuẩn bị tài liệu, các bản đồ, sơ đồ, thông tin chung về khu vực định lấy mẫu
- Theo dõi điều kiện khí hậu, diễn biến thời tiết
- Chuẩn bị các dụng cụ, thiết bị cần thiết; kiểm tra, vệ sinh và hiệu chuẩn các thiết bị và dụng cụ lấy mẫu, đo, thử trước khi ra hiện trường
- Chuẩn bị hoá chất, vật tư, dụng cụ phục vụ lấy mẫu và bảo quản mẫu
- Chuẩn bị nhãn mẫu, các biểu mẫu, nhật ký quan trắc và phân tích theo quy định
- Chuẩn bị các phương tiện phục vụ hoạt động lấy mẫu và vận chuyển mẫu
* Phương pháp phân tích mẫu
- pH: Đo trực tiếp tại địa điểm lấy mẫu bằng máy đo pH;
- Nhiệt độ: Được đo trực tiếp tại hiện trường bằng nhiệt kế;
- DO: xác định theo TCVN 5499 - 1995 Chất lượng nước - Xác định oxy hòa tan - Phương pháp Winkler;
- BOD5: xác định theo TCVN 6001 - 1995 Chất lượng nước - Xác định nhu cầu oxi sinh hóa sau 5 ngày - Phương pháp cấy và pha loãng;
- COD: xác định theo TCVN 6491 - 1999 Chất lượng nước - Xác định nhu cầu oxi hóa học
- PO43-: Tiến hành so màu với Molydate trên máy so màu quang phổ UV - VIS tại bước sóng 630 nm
- Fe tổng số: Tiến hành so màu với Xianua trên máy so màu quang phổ UV - VIS tại bước sóng 480 nm
- NH4+: Tiến hành so màu màu với Nesler trên máy so màu quang phổ UV - VIS tại bước sóng 410 nm
- Coliform: Sử dụng phương pháp MNP, nuôi cấy trong 2 môi trường: Brilliant Green Bile Lactose Broth (canh BGBL); và Lauryl Sulphate Broth LBS (canh Lauryl Sulphate) Sau đó sử dụng bảng MNP với loạt 3 ống nghiệm pha loãng
liên tiếp để kiểm tra lượng colifrom trong mẫu