NGUYỄN THỊ DUYÊNẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ CẤY ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG GẠO CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA CÓ TRIỂN VỌNG TRỒNG TRONG VỤ XUÂN 2014 TẠI HUYỆN HƯNG NGUYÊN-TỈNH N
Trang 1NGUYỄN THỊ DUYÊN
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ CẤY ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG GẠO CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA CÓ TRIỂN VỌNG TRỒNG TRONG VỤ XUÂN 2014 TẠI
HUYỆN HƯNG NGUYÊN-TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số : 20606201125
Người hướng dẫn khoa: PGS–TS Nguyễn Kim Đường
NGHỆ AN, 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
Các thông tin trình bày trong luận văn này đều đã được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả
Nguyễn Thị Duyên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Kim Đường đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Sau đại học, Khoa Nông Lâm Ngư - Trường Đại học Vinh đã quan tâm giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu.
Nghệ An, Ngày 7 tháng 10 năm 2014
Học viên
Nguyễn Thị Duyên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu trên thế giới 3
1.1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 3
1.1.2 Tình hình nghiên cứu các giống lúa có chất lượng trên thế giới 5
1.1.3 Đặc điểm đẻ nhánh của cây lúa và những nghiên cứu về mật độ cấy 9
1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu ở Việt Nam 11
1.2.1 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam 11
1.2.2 Tình hình nghiên cứu các giống lúa ở Việt Nam 14
1.2.3 Những nghiên cứu về mật độ cấy ở Việt Nam 17
1.3 Tình hình sản xuất lúa tại Nghệ An 21
1.4 Điều kiện thời tiết, khí hậu tại tỉnh Nghệ an vụ xuân 2014 22
CHƯƠNG II:VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Vật liệu nghiên cứu 24
2.1.1 Giống 24
2.1.2 Phân bón 24
2.2 Các nội dung nghiên cứu 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 25
2.3.1 Bố trí thí nghiệm 25
2.3.2 Định điểm theo dõi và thời gian theo dõi 26
2.3.3 Kỹ thuật canh tác: 26
2.4 Phương pháp thu thập số liệu 26
2.4.1 Thời gian trải qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển 26
2.4.2 Các chỉ tiêu xác định tốc độ sinh trưởng của cây lúa 27
2.4.3 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình nhiễm sâu, bệnh 27
2.4.4 Khả năng chống đổ 29
2.4.5 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 29
Trang 52.4.6 Đánh giá chất lượng nông sản 30
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 32
2.6 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 32
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến thời gian sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm 33
3.2 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến động thái tăng trưởng chiều cao ở các giống thí nghiệm 36
3.3 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến động thái đẻ nhánh của các giống lúa thí nghiệm 38
3.4 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến số nhánh hữu hiệu của các giống lúa thí nghiệm 41
3.5 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến chỉ số diện tích lá ở một số thời kỳ của các giống thí nghiệm 44
3.6 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến khả năng tích lũy chất khô ở một số thời kỳ của các giống lúa thí nghiệm 47
3.7 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến khả năng nhiễm sâu hại của các giống lúa thí nghiệm 50
3.8 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến mức độ nhiễm bệnh hại của các giống lúa thí nghiệm 52
3.9 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến khả năng chống đỗ của lúa thí nghiệm 53
3.10 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến năng suất của các giống lúa thí nghiệm 55
3.11 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến năng suất sinh vật học và hệ số kinh tế của các giống thí nghiệm 59
3.12 Hiệu quả kinh tế của các mật độ cấy trên các giống thí nghiệm 61
3.13 Chất lượng gạo của các giống lúa trong thí nghiệm 62
3.14 Chất lượng dinh dưỡng của các giống lúa thí nghiệm 65
3.15 Chất lượng gạo của các giống lúa khi chế biến 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 6NSTT : Năng suất thực thu
NSSVH : Năng suất sinh vật học HQKT : Hiệu quả kinh tế
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1.1 Sản lượng lúa trên thế giới và các châu lục giai đoạn 2008÷2012 Error: Reference source not found
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới từ 2008÷2012 Error: Reference source not found
Bảng 1.3: Sản xuất lúa gạo ở Việt nam trong những năm gần đây 11
Bảng 1.4 Kết quả sản xuất lúa ở Nghệ An từ năm 2006÷2012 21
Bảng 1.5 Một số yếu tố khí hậu, thời tiết của các tháng trong vụ xuân 2014 22
Bảng 2.1 Danh sách các giống lúa thí nghiệm và đối chứng 24
Bảng 2.2: Tỷ lệ bón đạm và ka ly theo thời điểm (% khối lượng) 26
Bảng 3.1 Thời gian trải qua các giai đọan sinh trưởng và phát triển 34
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến động thái tăng trưởng 36
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến động thái đẻ nhánh 39
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của mật độ cấy số nhánh hữu hiệu 42
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến chỉ số diện tích lá 44
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến khả năng tích lũy chất khô 47
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến mức độ nhiễm sâu hại 50
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến mức độ nhiễm bệnh hại 51
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến khả năng chống đỗ 53
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống lúa thí nghiệm 55
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến năng suất sinh vật học và hệ số kinh tế của các giống thí nghiệm 58
Bảng 3.12 Hiệu quả kinh tế của các mật độ cấy trên các giống thí nghiệm 60
Bảng 3.13 Chất lượng gạo của các giống lúa trong thí nghiệm 62
Bảng 3.14 Chất lượng dinh dưỡng của các giống lúa trong thí nghiệm 64
Bảng 3.15 Chất lượng gạo của giống lúa khi chế biến 65
Trang 9MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Lúa là cây trồng quan trọng đối với hơn một nửa số dân trên thế giới và là loại cây trồng cung cấp lương thực quan trọng nhất trong bữa ăn hàng ngày của hàng triệu người Việt Nam Cây lúa không chỉ giải quyết vấn đề lương thực hàng ngày cho con người mà còn là nguồn xuất khẩu quan trọng, là nền tảng để xây dựng và phát triển các ngành công nghiệp Diện tích trồng lúa của cả nước năm
2013 khoảng 7.899.400 ha (faostat năm 2013) Trồng lúa là một nghề cổ truyền của hơn 80% dân số nước ta
Trong thời gian qua, dân số trên thế giới ngày càng gia tăng nhanh chóng, vì vậy nhu cầu lương thực nói chung, nhu cầu lúa gạo cũng tăng lên Song song với việc áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất cũng như tăng diện tích gieo trồng, các nhà khoa học trong và ngoài nước không ngừng nghiên cứu
để tạo ra những giống lúa mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, để làm tăng năng suất và sản lượng lúa, đáp ứng nhu cầu lương thực ngày càng tăng của toàn xã hội
Trong những yếu tố kỹ thuật để tăng năng suất cây trồng ngoài phân bón và
kỹ thuật bón phân thì mật độ ảnh hưởng lớn đến năng suất của cây trồng Đã có nhiều nghiên cứu về mật độ ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng thóc gạo, tuy nhiên ảnh hưởng của nó trong sản xuất lúa thương phẩm còn ít được nghiên cứu Việc cấy đúng mật độ không những tạo điều kiện tối ưu cho sinh trưởng phát triển, cho năng suất cao mà còn vô cùng có ý nghĩa trong vấn đề chăm sóc cho lúa của bà con nông dân Mật độ thưa làm lãng phí đất, làm giảm năng suất, nhưng nếu trồng quá dày vừa lãng phí giống, giảm số hạt trên bông, giảm kích thước khối lượng hạt Mật độ quá dày đồng nghĩa với việc sâu bệnh hại với mức
độ lớn hơn Chính vì vậy việc xác định được mật độ trồng phù hợp với từng loại giống lúa sao cho vừa tiết kiệm được hạt giống, tận dụng được đất trồng đồng, thời có năng suất và hiệu quả kinh tế cao là điều hết sức cần thiết
Trang 10Đồng thời việc tìm được loại giống có chất lượng gạo tốt để đưa vào sản xuất đại trà tại huyện Hưng Nguyên là điều rất cần thiết Xuất phát từ vấn đề đó
chúng tôi tiến hành đề tài “Ảnh hưởng của mật độ cấy đến sinh trưởng, phát
triển, năng suất và chất lượng gạo của một số giống lúa có triển vọng trồng trong vụ Xuân 2014 tại Hưng Nguyên–Nghệ An”.
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định được ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng-phát triển, năng suất của một số giống lúa mới có triển vọng tại huyện Hưng Nguyên
- Đánh giá được chất lượng gạo của một số giống có triển vọng tại Hưng Nguyên–Nghệ An
Trang 11CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu trên thế giới
1.1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Cây lúa là một loại cây ngũ cốc có lịch sử lâu đời, trải qua một quá trình biến đổi và chọn lọc từ cây lúa dại thành cây lúa ngày nay Quê hương của cây lúa được đông đảo các nhà khoa học thừa nhận ở vùng Đông Nam Á, vì vùng này khí hậu ẩm và điều kiện lý tưởng cho phát triển nghề trồng lúa Theo kết quả khảo cổ học trong vài thập niên qua, vùng Đông Nam Á và Đông Dương, những nơi mà dấu ấn cây lúa đã được ghi nhận là khoảng 10000 năm trước Công Nguyên Ở Trung Quốc, bằng chứng về cây lúa lâu đời nhất chỉ 5900÷7000 năm
về trước, thường thấy ở các vùng xung quanh sông Dương Tử Từ Đông Nam Á, nghề trồng lúa được du nhập vào Trung Quốc, rồi sang Nhật Bản, Hàn Quốc, những nơi mà cư dân chỉ quen với nghề trồng lúa mạch Việt Nam có vinh dự được coi là cái nôi của nền văn minh lúa nước.
Cây lúa có khả năng thích nghi rộng nên có thể gieo trồng ở nhiều vùng khí hậu khác nhau và ở nhiều nơi trên thế giới.
Hiện nay trên thế giới có 114 nước trồng lúa và phân bố ở tất cả các châu lục trên thế giới Trong đó, châu Phi có 41 nước trồng lúa, châu Á có 30 nước, bắc Trung Mỹ có 14 nước, Nam Mỹ có 13 nước, châu Âu có 11 nước, châu Đại Dương có 5 nước Diện tích trồng lúa biến động và đạt khoảng 153 triệu ha, năng suất lúa bình quân xấp xỉ 4 tấn/ha.
Sản xuất lúa gạo vẫn tập trung chủ yếu ở các nước châu Á, nơi chiếm 89% diện tích gieo trồng và 90,53% sản lưởng của thế giới Trong đó Ấn Độ là nước có diện tích lúa lớn nhất (42.500.000 ha), ngược lại Swaziland là nước có diện tích trồng lúa thấp nhất 35 ha Năng suất lúa cao nhất đạt 8,9 tấn/ha tại Autralia và thấp nhât là 0,5 tấn/ha tại Congo (Theo FAOSTAT 2012)
Trang 12Bảng 1.1 Sản lượng lúa trên thế giới và các châu lục giai đoạn 2008÷2012
ĐVT: Tấn Thế giới, châu
lục
Năm
Toàn thế giới 686212803 686970049 703154016 724959981 719738273 Châu Á 622293650 621323555 635866532 656310987 651579964
Á đạt 651.579.964 tấn, chiếm 90,5% Sản lượng lúa của Nam Mỹ là 24.205.224, chiếm 3,36% Sản lượng lúa của châu Âu đạt 4.338.944, chiếm 0,63% Sản lượng lúa Bắc Mỹ đạt 9.048.220 chiếm 1,26% Sản lượng lúa của Trung Mỹ đạt 12.110.391 chiếm 1,68% Sản lượng lúa của châu Phi đạt 26.823.723 chiếm 3,73% Sản lượng lúa của châu Đại dương đạt 932091 chiếm 0,13%.
Qua các số liệu trên Bảng 1.1 ta thấy:
Diện tích gieo trồng năm 2009 có giảm hơn so với năm 2008, sau đó có xu hướng tăng trong năm 2010 và 2011, sang năm 2012 lại giảm do việc mở rộng diện tích gặp khó khăn nghiêm trọng ở tất cả các quốc gia Vì một phần diện tích đất canh tác chuyển sang sử dụng cho mục đích sản xuất công nghiệp, quá trình
đô thị hóa diễn ra mạnh Mặt khác, do dân số tăng lên, vấn đề đất ở, đất phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của con người và xã hội đã làm cho đất sản xuất nông nghiệp giảm Đó là chưa kể đến một diện tích lớn đất bị thoái hóa do hiện tượng
sa mạc hóa, xâm lấn của nước biển, diện tích đất không đủ nước tưới
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới từ 2008÷2012
Trang 13do sản xuất lúa lai ngày càng được ưa chuộng do năng suất cao.
Từ năm 2008÷2012 sản lượng lúa không ngừng tăng lên Năm 2011÷2012 sản lượng lúa giảm xuống, song giảm không đáng kể do diện tích gieo trồng giảm Theo dự báo của các nhà khoa học thì sản lượng lúa sẽ tăng chậm và có xu hướng chững lại, vì diện tích ngày càng bị thu hẹp do tốc độ đô thị hóa gia tăng (Beachel, H.M, 1972)[26]
1.1.2 Tình hình nghiên cứu các giống lúa có chất lượng trên thế giới
Trong sản xuất nông nghiệp, giống là yếu tố quan trọng không kém gì đất đai, phân bón và công cụ sản xuất Người dân Việt Nam đã đã đúc kết thành câu ngạn ngữ: Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống, qua đó cho thấy giống cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng có tầm quan trọng như thế nào Vì thế, việc nghiên cứu chọn lọc, lai tạo giống đã được các nhà khoa học, các Viện nghiên cứu và các trường Đại học nông nghiệp ưu tiên hang đầu Vào những năm 1960, Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) đã được thành lập tại Losbanos, Laguna, Philippin Sau đó các Viện nghiên cứu nông nghiệp quốc tế khác cũng được thành lập ở các châu lục và tiểu vùng sinh thái khác nhau như: IRAT, EAT, CIAT, ICRISAT IRRI, 1997) [29] Tại các Viện này việc chọn lọc và lai tạo được nhiều giống lúa cũng được ưu tiên hàng đầu Chỉ tính riêng Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) cũng đã lai tạo và đưa ra sản xuất hàng nghìn giống lúa các loại, trong đó tiêu biểu là các giống lúa như: IR5, IR6, IR8, IR30, IR34, IR64, Jasmin Đặc biệt là 2 giống IR64 và Jasmin là những giống có phẩm chất
Trang 14gạo tốt, được trồng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam Hiện nay IRRI đang tập trung vào nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa có năng suất siêu cao (siêu lúa) có thể đạt 13 tấn/vụ, đồng thời tập trung vào nghiên cứu chọn tạo các giống lúa có chất lượng cao (giàu Vitamin A, giàu Protein, giàu Lisine, có mùi thơm ) để vừa hỗ trợ các nước giải quyết vấn đề an ninh lương thực, vừa đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng (Cada, E.C, 1997) [27] Trung Quốc là một nước trồng lúa hàng đầu thế giới nên công tác giống đã được chú trọng đặc biệt Vào những năm 60 và những năm 70 của thế kỷ XX, Trung Quốc đã cho ra đời hàng loạt các giống lúa có năng suất cao, phẩm chất tốt như: Bao Thai, Trân Châu lùn, Mộc Tuyền Các giống này cũng đã được nhập vào Việt Nam và cho tới nay nhiều giống vẫn đang được một số địa phương gieo trồng và có chất lượng gạo tốt, phù hợp với điều kiện gieo trồng và đất đai của địa phương Vào những năm 1970, Trung Quốc đã thử nghiệm và lai tạo thành công các giống lúa lai 3 dòng và gần đây là các giống lúa lai 2 dòng có đặc tính
ưu việt hơn hẳn về năng suất, chất lượng gạo và khả năng chống chịu sâu, bệnh.
Có thể nói Trung Quốc là nước đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng lúa lai ra sản xuất đại trà Nhờ đó đã làm tăng năng suất, sản lượng lúa của Trung Quốc lên gấp đôi trong vòng 3 thập niên qua, góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho một nước có 1,3 tỷ dân, Các giống lúa lai như: Bồi Tạp Sơn Thanh, Sán Ưu Quế rất nổi tiếng ở Trung Quốc và ở các nước láng giềng Song song với giống lúa lai, Trung Quốc vẫn tiếp tục chọn tạo các giống lúa thuần và cho ra đời các giống lúa tốt như: San Hoa, Ải Mai Hương, Khang dân 18 Các giống lúa này cũng cho năng suất cao không kém các giống lúa lai Nhiệm vụ trọng tâm của Viện nghiên cứu phát triển lúa lai của Trung Quốc trong thế kỷ 21 là phát triển lúa lai 2 dòng và đẩy mạnh nghiên cứu lúa lai một dòng và lúa lai siêu cao sản nhằm tăng năng suất và sản lượng của đất nước.
Ấn Độ là nước trồng lúa với diện tích đứng đầu thế giới Ấn Độ cũng là một nước đi đầu trong công cuộc cách mạng xanh lần thứ nhất về cải tiến giống lúa Viện nghiên cứu giống lúa trung ương của Ấn Độ được thành lập vào năm 1946 tại Cuttuck bang Orisa, đóng vai trò đầu tàu trong việc nghiên cứu, tạo chọn các
Trang 15giống lúa mới phục vụ cho sản xuất Ngoài ra, tại các bang của Ấn Độ đều có các
cơ sở nghiên cứu, trong đó các cơ sở quan trọng ở Madrasheydrabat, Kerala, hoặc Viện Nghiên cứu Cây trồng Á nhiệt đới (ICRISAT) Ấn Độ cũng là nước có những giống lúa chất lượng cao nổi tiếng trên thế giới như: Basmati, Brimphun, trong đó giống lúa Basmati có giá trị trên thị trường tới 850 USD/tấn (trong khi giống gạo thơm Thái Lan nổi tiếng trên thế giới cũng chỉ có giá trị 468 USD/tấn (Nông thôn 7/5/20040) [20].
Nhật Bản là một trong 10 nước trồng lúa có sản lượng hàng đầu thế giới, tuy diện tích trồng lúa không lớn Điều đó được lý giải là do năng suất lúa của Nhật Bản rất cao, thuộc loại hàng đầu thế giới Ở Nhật Bản, người ta chỉ trồng 1 vụ/năm, việc gieo trồng lúa được tiến hành trong những điều kiện thời tiết thuận lợi nhất Công tác giống lúa của Nhật Bản được đặc biệt chú trọng Để đáp ứng thị hiếu tiêu dùng cao, các Viện, các trạm nghiên cứu giống lúa được thành lập ở hầu hết các tỉnh thành của Nhật Bản, trong đó có các trung tâm quan trọng nhất đặt ở Sendai, Niigata, Nagoya, Fukuoka, Kochi, Miyazaki, Saga là những nơi diện tích trồng lúa lớn Các nhà khoa học Nhật Bản cũng
đã lai tạo và đưa ra các giống lúa vừa có năng suất cao, vừa có phẩm chất tốt như: Koshihikari, Sasanisiki, Nipponbare, Koenshu, Minamis Iki đặc biệt giáo sư tiến sĩ E.Tsuzuki đã lai taọ được 2 giống lúa đặt tên là Miyazaki 1 và Miyazaki 2 Giống Miyazaki 1 là kết quả lai tạo và chọn lọc từ tổ hợp lai Koshihikari và Brimphun của Ấn Độ Giống này có hàm lượng Lysin cũng rất cao (Nguyễn Hữu Hồng 1993)[11].
Từ lâu Thái Lan đã nổi tiếng là nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới Nước này cũng được thiên nhiên ưu đãi có vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, mặc dù năng suất và sản lượng lúa gạo của Thái Lan không cao song họ chú trọng đến việc chọn tạo giống có chất lượng gạo cao Các trung tâm nghiên cứu lúa của Thái Lan được thành lập ở nhiều tỉnh và các khu vực Các trung tâm này có nhiệm vụ tiến hành chọn lọc, phục tráng, lai tạo, nhân giống phục vụ cho nhu cầu sản xuất của người dân với mục tiêu phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu Các đặc điểm nổi bật của các giống lúa mà các nhà khoa học tập trung nghiên cứu và lai tạo đó là hạt gạo
Trang 16dài và trong, ít dập gãy khi xay sát, có hương thơm, coi trọng chất lượng hơn là năng suất, điều này cho chúng ta thấy rằng giá lúa gạo xuất khẩu của Thái Lan bao giờ cũng cao hơn của Việt Nam Một số giống lúa chất lượng cao nổi tiếng thế giới của Thái Lan là: Khaodomali, Jasmin (Hương nhài) Sản xuất nông nghiệp của Thái Lan trong mấy thập kỷ qua phát triển tương đối ổn định và Thái Lan cũng như nhiều nước Đông Nam Á khác trong buổi đầu phát triển kinh tế Tư bản đều xuất phát từ thế mạnh nông nghiệp [11].
Ở khu vực Đông Á còn có các nước trồng lúa quan trọng khác như: Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên, Đài Loan Các giống lúa ở đây thuộc loại hình Japonica,
có hạt gạo tròn, cơm dẻo và chất lượng cũng rất tốt Các giống lúa nổi tiếng của khu vực này là Ton gil (Hàn Quốc), Tai chung 1, Tai chung 2, Gang changi, Dee- Geo-Woo-Gen (Đài Loan) đặc biệt giống Dee-Geo-Woo-Gen là một trong những vật liệu khởi đầu để tạo ra giống IR8 nổi tiếng một thời (Hoang,CH, 1999) [28].
Indonesia là nước đứng thứ 4 trên thế giới về diện tích trồng lúa Đây cũng là nước có nhiều giống lúa chất lượng cao, có nguồn gốc bản địa hoặc được lai tạo tại các cơ sở nghiên cứu Các giống lúa chất lượng cao của Indonesia thường dẻo có mùi thơm Các giống lúa chất lượng nổi tiếng của nước này là Peta, BenWan, Sigadis, Synthe, Pelital-1 và Pelital-2 (IRRI, 1997)[29].
1.1.3 Đặc điểm đẻ nhánh của cây lúa và những nghiên cứu về mật độ cấy
1.1.3.1 Đặc điểm đẻ nhánh của cây lúa
* Đặc điểm hệ rễ của cây lúa
Bộ rễ lúa thuộc loại rễ chùm, các rễ non có màu trắng sữa, rễ trưởng thành có màu vàng nâu và nâu đậm, rễ đã già có màu đen Số lượng rễ có thể đạt tới 500÷800 cái, tổng chiều dài rễ ở thời kỳ trỗ bông có thể đạt đến 168 m Nói
Trang 17chung, tất cả các mắt đốt trên cây đều có khả năng ra rễ khi gặp điều kiện thuận lợi, kể cả các mắt trên đất (rễ khí sinh)
Bộ rễ lúa tăng dần về số lượng và chiều dài qua các thời kỳ đẻ nhánh, làm đòng và thường đạt tối đa vào thời kỳ trỗ bông, sau đó lại giảm đi Thời kỳ đẻ nhánh - làm đòng bộ rễ phát triển có hình bầu dục nằm ngang Còn thời kỳ trỗ bông, bộ rễ lúa phát triển xuống sâu có hình quả trứng ngược
Trên đồng ruộng, phạm vi ra rễ chỉ ở những mắt gần lớp đất mặt (0÷20 cm là chính) Khi cấy lúa quá sâu (>5 cm), cây lúa sẽ tạo ra 2 tầng rễ, trong thời gian này cây lúa chậm phát triển giống như hiện tượng lúa bị bệnh nghẹt rễ Cấy ở độ sâu thích hợp (3÷5 cm) sẽ khắc phục được hiện tượng trên
Lúa thấp cây có khả năng thâm canh cao cần cấy dày hơn để đạt được mật
độ tối thích Khi cấy dày, tổng số rễ lúa tăng nên mở rộng được diện tích hút chất dinh dưỡng của quần thể ruộng lúa, nhưng diện tích dinh dưỡng của cá thể càng
bị thu hẹp, trọng lượng trung bình của bộ rễ cây lúa giảm Muốn cho cá thể sinh trưởng và phát triển tốt, cần tăng lượng phân bón tương ứng với mức độ cấy dày
để phát huy hơn nữa hiệu quả của việc cấy dày và làm tăng năng suất Mật độ cao, bón phân hợp lý là hai biện pháp bổ sung cho nhau làm cho quần thể phát triển mạnh
* Nhánh lúa và sự đẻ nhánh của cây lúa
- Nhánh lúa
Nhánh lúa là một cây lúa con mọc từ mầm nhánh trên thân cây mẹ do đó nhánh lúa có đủ rễ, thân, lá và có thể sống độc lập, trổ bông kết hạt bình thường như cây mẹ Đẻ nhánh là một đặc tính sinh học của cây lúa, liên quan chặt chẽ đến quá trình hình thành số bông và năng suất sau này.
Kết quả thí nghiệm cho thấy, trong điều kiện cấy 1÷2 dảnh và cấy thưa, cây lúa có thể đẻ được 20÷30 nhánh Theo Bùi Huy Đáp (1980)[2], cấy 1 dảnh ngạnh trê và cấy thưa trong vụ mùa, giống lúa Tám có thể đẻ được 232 nhánh, trong đó có 198 nhánh thành bông Vụ chiêm, giống Chiêm chanh đẻ được 113 nhánh, trong đó có 101 nhánh thành bông Tuy nhiên, thông thường trên đồng
Trang 18ruộng, nếu cấy 4÷5 dảnh, khóm lúa có thể đẻ được 15÷20 nhánh, sau đó sẽ cho khoảng 12÷15 nhánh hữu hiệu (thành bông)
Thời gian đẻ nhánh của cây lúa từ sau khi bén rễ hồi xanh đến khi làm đốt, làm đòng Thời gian này dài ngắn tùy thuộc vào thời vụ, giống lúa và biện pháp
kỹ thuật canh tác Thường lúa chiêm có thời gian đẻ nhánh dài hơn lúa mùa, lúa xuân Trong một vụ, các trà cấy sớm có thời gian đẻ nhánh dài hơn các trà cấy muộn, các biện pháp kỹ thuật như bón phân nhiều, bón thúc muộn, mật độ gieo cấy thưa, cấy mạ non thì thời gian đẻ nhánh kéo dài hơn bón phân ít, mật độ cấy dày và cấy mạ già Ruộng lúa gieo thẳng (gieo sạ) do mật độ gieo thưa nhiều so với ruộng mạ nên cây lúa cũng đẻ nhánh sớm hơn (khi có 4÷5 lá), sau đó khi số nhánh đẻ trong quần thể tăng lên thì quá trình đẻ nhánh cũng ngừng lại Trên cây lúa, thông thường chỉ có những nhánh đẻ sớm, ở vị trí mắt đẻ thấp, có số lá nhiều, điều kiện dinh dưỡng thuận lợi mới có điều kiện phát triển đầy đủ để trở thành nhánh hữu hiệu (nhánh thành bông) Còn những nhánh đẻ muộn, thời gian sinh trưởng ngắn, số lá ít thường trở thành nhánh vô hiệu Tỷ lệ nhánh hữu hiệu cao hay thấp quyết định số bông/cây, ảnh hưởng đến năng suất cuối cùng Mật
độ cấy, tuổi mạ, kỹ thuật bón phân chăm sóc có tác dụng đến tỷ lệ nhánh hữu hiệu Bón phân nhiều, bón muộn làm cho ruộng lúa đẻ nhánh lai rai thường làm tăng tỷ lệ nhánh vô hiệu, mặt khác cũng tạo điều kiện cho sâu bệnh phá hoại nhiều hơn.
1.1.3.2 Những nghiên cứu về mật độ cấy cho cây lúa
Mật độ cấy là số cây, số khóm được trồng cấy trên một đơn vị diện tích Với lúa cấy mật độ được tính bằng số khóm/m2, còn với lúa gieo thẳng thì mật độ được tính bằng số hạt mọc/m2 (Nguyễn Văn Hoan, 2004)[9] Về nguyên tắc thì mật độ gieo cấy càng cao, số bông càng nhiều Nhưng trong giới hạn nhất định, khi tăng số bông không làm giảm số hạt/bông, vượt quá giới hạn đó số hạt/bông
và trọng lượng hạt bắt đầu giảm đi Mật độ thích hợp tạo cho cây lúa phát triển
Trang 19tốt, tận dụng dinh dưỡng và ánh sáng Xác định mật độ cấy phù hợp là yêu cầu cần thiết, nó phải dựa trên cơ sở về tính di truyền của giống, điều kiện tự nhiên, dinh dưỡng và các biện pháp kỹ thuật khác.
Khi nghiên cứu về vấn đề này Sasato (1966) đã có kết luận: Trong điều kiện
dễ canh tác, lúa mọc tốt thì phải cấy mật độ thưa, ngược lại thì phải cấy mật độ dầy Giống lúa cho nhiều bông thì cấy dầy không có lợi bằng giống to bông Vùng lạnh thì nên cấy dầy hơn vùng nóng ẩm, mạ dảnh to nên cấy thưa hơn mạ dảnh nhỏ, lúa gieo muộn nên cấy dầy hơn lúa cấy sớm.
Yoshida (1985)[21] khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa mật độ cấy và khả năng đẻ nhánh của lúa đã khẳng định: Với lúa cấy, khoảng cách thích hợp cho lúa đẻ nhánh khỏe và sớm thay đổi từ 20 x 20 cm đến 30 x 30 cm Theo ông, việc việc đẻ nhánh chỉ xảy ra với mật độ 300 cây/m2 Năng suất hạt tăng lên khi mật
độ cấy tăng lên từ 182÷242 dảnh/m2 Số bông trên đơn vị diện tích cũng tăng lên theo mật độ nhưng lại giảm số hạt/bông
“Các tác giả sinh thái học đã nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất và quần thể ruộng cây trồng đã thống nhất rằng: Các giống khác nhau phản ứng với các mật độ cấy khác nhau, việc tăng mật độ ở một giới hạn nhất định thì năng suất tăng nhưng tăng quá năng suất giảm xuống” Yoshida (1985) [21].
1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Việt Nam là nước có truyền thống sản xuất nông nghiệp gắn bó với cây lúa
từ xa xưa, vì vậy được gọi là đất nước có nền văn minh lúa nước Với điều kiện
tự nhiên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, những đồng bằng châu thổ phì nhiêu, Việt Nam đã trở thành cái nôi sản xuất lúa gạo hàng đầu trong khu vực và trên thế giới
Bảng 1.3: Sản xuất lúa gạo ở Việt nam trong những năm gần đây
(nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Trang 20(Nguồn: Tổng cục thống kê, năm 2014)
Việt Nam là một nước nông nghiệp, có tới 75% dân số sản xuất nông nghiệp
và từ lâu cây lúa đã ăn sâu vào tiềm thức người dân, nó có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người Lúa gạo không chỉ giữ vai trò trong việc cung cấp lương thực nuôi sống mọi người mà còn là mặt hàng xuất khẩu đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế quốc dân Mặt khác, do có điều kiện tự nhiên thuận lợi phù hợp cho cây lúa phát triển nên lúa được trồng ở khắp mọi miền của đất nước Theo Nguyễn Văn Hoan (2004)[9], các vùng trồng lúa nước ta được phân chia theo đặc điểm khí hậu và đất đai Khí hậu, đất đai là hai yếu tố chính chi phối các
vụ lúa, trà lúa và hình thành nên các vùng trồng lúa của nước ta Theo cách phân chia này nước ta có 8 vùng lúa phân bổ theo 3 miền sinh thái nông nghiệp như sau:
Miền sinh thái nông nghiệp Bắc Bộ có 3 vùng lúa:
Trang 21- Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.
Miền sinh thái nông ngiệp Tây Trường Sơn và Nam Bộ có 3 vùng:
- Cao nguyên Tây Trường Sơn (Tây Nguyên),
- Đông Nam Bộ,
- Đồng bằng Sông Cửu Long.
Theo Đinh Thế Lộc, Vũ Văn Liết (2004) thì 2 vùng sản xuất rộng lớn nhất đó là vùng Đồng bằng châu thổ Sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long.
“Trước năm 1945, diện tích đất trồng lúa của nước ta là 4,5 triệu ha, năng suất trung bình đạt 1,3 tấn/ha, sản lượng 5,4 triệu tấn Hiện nay, với những tiến
bộ kỹ thuật vượt bậc trong nông nghiệp, người dân đã được tiếp cận với những phương thức sản xuất tiên tiến nên họ đã dám mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, dùng các giống lúa mới, các giống lúa ưu thế lai, các giống lúa cao sản, các giống lúa thích nghi với điều kiện đặc biệt của từng vùng, các giống lúa chất lượng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu kết hợp đầu tư thâm canh cao, hợp lý Nhờ vậy, ngành trồng lúa nước ta đã có bước nhảy vọt về năng suất, sản lượng và giá trị kinh tế Năm 1996, nước ta xuất khẩu được 3,2 triệu tấn lương thực, năm 1999, nước ta vươn lên đứng hàng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo Năm 2002, tổng sản lượng lương thực đạt 36,4 trệu tấn, trong đó lúa chiếm 70% Tuy nhiên, con số này bị chững lại vào năm 2003 giảm xuống còn 34,5 triệu tấn Điều này đang đặt ra những yêu cầu mới trong nông nghiệp Trong điều kiện hiện nay, xu hướng đô thị hoá, công nghiệp hoá đang diễn ra mạnh, dân số liên tục tăng làm diện tích đất nông nghiệp nói chung và diện tích đất trồng lúa nói riêng ngày càng bị thu hẹp Vì vậy, vấn đề cấp thiết đặt ra ở đây là cần phải nâng cao hơn nữa năng suất và chất lượng lúa, nhằm đáp ứng được nhu cầu lương thực cho người dân và cho xuất khẩu (Nguyễn Hữu Tề, 2004)” [17].
1.2.2 Tình hình nghiên cứu các giống lúa ở Việt Nam
Việt Nam là cái nôi của nền văn minh lúa nước Vai trò của cây lúa đối với đời sống của người dân Việt Nam là không thể phủ nhận Có thể nói sản xuất lúa
là xương sống của nền nông nghiệp việt Nam, nó không những đáp ứng nhu cầu
Trang 22lương thực của một nước đông dân như nước ta mà nó còn góp phần quan trọng vào thị trường gạo thế giới Chính vì tầm quan trọng của cây lúa như vậy nên Đảng và Nhà nước ta một mặt đầu tư vào sản xuất, mặt khác đầu tư vào công tác nghiên cứu giống Việc đưa các giống lúa mới vào sản xuất có khả năng cho năng suất cao, phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai và kỹ thuật canh tác của từng địa phương là vấn đề rất quan trọng để nhanh chóng tạo ra bước nhảy vọt về năng suất và sản lượng lương thực, đảm bảo an ninh lương thực, góp phần vào việc thực hiện thành công các mục tiêu kinh tế-xã hội của Nhà nước, bằng cách tuyển chọn giống cũ, tạo giống mới và hội nhập thêm giống mới Hiện nay nước
ta có trên 575 loại giống lúa cho các vụ và các vùng sản xuất khác nhau, các giống này đều đáp ứng được yêu cầu sản xuất của các vùng thâm canh, vùng đất sản xuất khó khăn như hạn, úng, chua, mặn và các loại giống chống chịu sâu bệnh như kháng rầy, đạo ôn.
Điều kiện sinh thái nước ta rất đa dạng nên đòi hỏi phải có bộ giống lúa phong phú để có thể đáp ứng được các tiểu vùng nông sinh thái Do đó trong những năm qua chúng ta đã tạo được nhiều giống lúa phục vụ cho sản xuất lúa đa dạng của nông dân
Việt Nam có hàng nghìn giống lúa được gieo trồng từ Bắc vào Nam, trong đó
có rất nhiều giống cổ truyền có chất lượng cao như các loại lúa: Tám thơm, Lúa
di, Tám thơm, Nếp cái hoa vàng, Nếp cẩm, Nếp tú lệ… Chúng ta đã nhập và thuần hoá nhiều giống lúa tốt từ nước ngoài mà nay đã thành các giống lúa đặc sản của Việt nam có thương hiệu như: IR 64 Điện Biên, Bao thai Định Hóa, Khaodomaly Tiền Giang (Nguyễn Thị Hương Thủy, 2003) [18].
Trong quá trình nghiên cứu phát triển các giống lúa có chất lượng cao, vai trò của các Viện nghiên cứu và trường Đại học Nông nghiệp là hết sức quan trọng Viện cây lương thực và cây thực phẩm là Viện Nghiên cứu các giống lúa hàng đầu ở Việt Nam được thành lập từ rất sớm Viện này được các nhà khoa học danh tiếng như: Giáo sư nông học Lương Đình Của, Giáo sư, Tiến sĩ viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng lãnh đạo và chỉ đạo công tác nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa Hàng trăm
Trang 23giống lúa xuân, lúa mùa, lúa chịu hạn, chịu úng, lúa nếp, lúa có hàm lượng protein cao, lúa chịu mặn đã được chọn tạo và bồi dục ở Viện này trong đó có các giống lúa chất lượng cao Hai giống P4 và P6 là những giống lúa được lai tạo theo hướng hàm lượng Protein cao Giống P4 có thời gian sinh trưởng trung bình, trồng được 2 vụ/năm, năng suất khá đạt 45÷55 tạ/ha Giống P4 có hàm lượng protein cao tới 11%, hàm lượng amiloza 16÷20%, hạt gạo dài, tỷ lệ gạo sát đạt 70%, tỷ lệ gạo nguyên đạt 65% (Vũ Tuyên Hoàng, 1997) [10] Giống lúa P6 ngắn ngày hơn giống lúa P4 thuộc loại hình thâm canh, hàm lượng protein đạt 10,5%, năng suất đạt 45÷55 tạ/ha, cao nhất đạt 60 tạ/ha Đây là giống có chất lượng gạo tốt, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Giống lúa nếp K12 do Viện cây lương thực và thực phẩm lai tạo
ra có khả năng chống chịu với bệnh đạo ôn, có thể đạt năng suất từ 33,5÷58 tạ/ha chất lượng gạo khá (Lưu Văn Quyết và cộng sự, 1998)[14].
Viện Khoa học Kỹ thuật Việt Nam là một Viện nghiên cứu nông nghiệp hàng đầu ở Việt Nam và đã có nhiều thành tựu trong việc chọn tạo các giống lúa, nhất là các giống lúa chất lượng và lúa lai Trước đây viện đã nhập và chọn lọc thành công các giống lúa có chất lượng tốt như: IR 64, IR 66, NN 9A là những giống láu đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Giống lúa nếp 314 do Viện lai tạo ra cũng được trồng phổ biến Hiện tại các giống lúa lai HYT của Viện lai tạo ra cũng đang được sản xuất thử
ở nhiều nơi và có kết quả rất khả quan (Trương Đích, 1999)[3].
Viện di truyền nông nghiệp cũng đã nghiên cứu tạo ra các giống lúa mới, nổi tiếng như: DT10, DT12, V18 Đây là những giống lúa đạt chất lượng tốt cho năng suất cao.
Viện Bảo vệ Thực vật cũng đã chọn tạo được nhiều giống lúa có chất lượng tốt năng suất cao như: CR203,C 70, C71
Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long là một viện nghiên cứu chuyên sâu về các giống lúa đặt tại Trung tâm châu thổ sông Cửu Long Các giống lúa MTL
241, MTL 305, MTL 385, MTL 389, Má tủi, Om 35-36 do Viện chọn lọc, lai tạo được trồng phổ biến ở Đồng bằng này, tạo ra bước ngoặt về năng suất và chất lượng Ngoài ra viện cũng đang hướng dẫn nông dân vùng này trồng các giống
Trang 24lúa có chất lượng cao như: JASMIN 85 (Hương nhài, Khaodomaly, Nàng thơm) Viện này đang chịu trách nhiệm quy hoạch và hướng dẫn nông dân trồng 1 triệu
ha lúa có chất lượng cao phục vụ cho công tác xuất khẩu.
Cả nước hiện có 25 đơn vị nghiên cứu chọn tạo các giống cây trồng mới, trong đó 15 đơn vị thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, 01 đơn vị thuộc Viện Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, 02 đơn vị thuộc bộ Công nghiệp Bên cạnh
đó, còn có hàng chục Công ty nước ngoài, Công ty trong nước đang thực hiện các hoạt động nghiên cứu chọn tạo hoặc nhập nội giống phục vụ sản xuất đã đáp ứng được mục tiêu của công tác chọn tạo giống trong thời gian qua là: “Chọn tạo giống cây trồng đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp bền vững, đảm bảo an ninh lương thực, đa dạng di truyền, khai thác lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, né tránh điều kiện bất lợi của tự nhiên, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu”.
Thực tiễn sản xuất nông nghiệp trên thế giới cũng như trong nước khẳng định giống cây trồng là nhân tố quyết định năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp Nhờ có bộ giống cây trồng phong phú đa dạng chúng ta đã và đang thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng mùa vụ nhằm khai thác hiệu quả hơn tiềm năng và khắc phục những hạn chế về đất đai, thời tiết, khí hậu của nước ta, làm đa dạng hóa các sản phẩm nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
Xu hướng tăng tỷ lệ giống chất lượng để xuất khẩu và tiêu dùng trong nước nhằm nâng cao giá trị ngành trồng lúa đang được các địa phương và nông dân quan tâm Vùng đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ gieo trồng lúa chất lượng ngắn ngày và giống đặc sản dài ngày tăng cao, chiếm trên 55% diện tích lúa, đã góp phần quan trọng tăng giá trị xuất khẩu của Việt Nam trong những năm qua Vùng đồng bằng sông Hồng cũng đang chuyển dịch theo hướng tăng giống lúa chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và bữa ăn hàng ngày của nông dân Do đó cần quan tâm hơn nữa đến chất lượng trong công tác chọn tạo giống lúa và phục tráng các giống lúa địa phương cổ truyền.
Trang 251.2.3 Những nghiên cứu về mật độ cấy ở Việt Nam
Mật độ cấy luôn là vấn đề được quan tâm của bà con nông dân, từ rất lâu vấn
đề cấy dầy hay cấy thưa thì tốt hơn luôn là hai quan điểm được tranh luận nhiều nhất Cho đến nay các nhà khoa học đã nghiên cứu và chỉ ra rằng: Cấy dầy hợp lý làm tăng năng suất rõ rệt Tùy theo chân đất, tuổi mạ, giống lúa, tập quán canh tác, mức phân bón, thời vụ mà xác định mật độ cấy thích hợp Mật độ cấy có ý nghĩa quan trọng đến cấu trúc quần thể ruộng lúa Một quần thể ruộng lúa tốt phải đảm bảo được những chỉ tiêu nhất định về độ thông thoáng trong suốt thời kỳ sinh trưởng và phân bố không gian trên một ruộng lúa, đặc biệt là thời kỳ sinh trưởng mạnh nhất Mật độ thích hợp tạo cho cây lúa phát triển tốt, tận dụng hiệu quả chất dinh dưỡng, nước và ánh sáng Mật độ thích hợp còn tạo nên sự tương tác hài hòa giữa cá thể cây lúa và quần thể ruộng lúa và mục đích cuối cùng là cho năng suất cao trên một đơn vị diện tích.
Năng suất ruộng lúa được quyết định bởi các yếu tố như: Số bông/đơn vị diện tích, số hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc và trọng lượng hạt Được thể hiện bởi công thức: Năng suất (tạ/ha) = Số bông/m2 x Số hạt/bông x Tỷ lệ hạt chắc x P1000 x 10-4
Một quần thể ruộng lúa có nhiều bông trước hết mỗi cá thể phải đẻ nhiều nhánh, tỷ lệ nhánh thành bông cao Đây là yếu tố dễ điều chỉnh hơn so với hạt chắc/bông và khối lượng hạt Quần thể ruộng lúa muốn đạt số lượng bông nhiều trước hết cần có số bông/m2 lớn Như vậy mỗi khóm cần có nhiều nhánh hữu hiệu Bông lúa có nhiều hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc cao thì số hoa phân hóa được nhiều, số hoa thoái hóa ít, quá trình thụ phấn thụ tinh diễn ra bình thường
Trên cơ sở xác định mật độ cấy, số dảnh cấy/khóm phụ thuộc vào số bông dự định đạt được/m2 Việc xác định số dảnh cấy/khóm cần đảm bảo nguyên tắc chung là: Dù ở mật độ nào, tuổi mạ bao nhiêu, sức sinh trưởng của giống mạnh hay yếu thì vẫn phải đạt được số dảnh thành bông theo dự định, độ lớn của bông không giảm, tổng số hạt chắc/m2 cũng đạt được theo số lượng đã định
Một trong các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất của các giống lúa là mật độ cấy và mức phân bón Qua nghiên cứu các tác giả đều thấy rằng, không có mật
Trang 26độ cấy và các mức phân bón chung cho mọi giống lúa, mọi điều kiện Nói chung các giống lúa càng ngắn ngày càng cần cấy dày, như các giống lúa có thời gian sinh trưởng từ 75÷90 ngày nên cấy mật độ 40÷50 khóm/m2 Những giống lúa đẻ nhánh khỏe, dài ngày, cây cao trong những điều kiện thuận lợi cho lúa phát triển thì cấy mật độ thưa hơn Trong vụ mùa nên cấy 25÷ 35 khóm/m2, trong vụ xuân nên cấy từ 45÷50 khóm/m2 Trong trường hợp mạ tốt và chăm sóc tốt, cấy 1 dảnh vẫn đạt được năng suất và chất lượng hạt cao Đối với giống lúa mẫn cảm với chu kỳ ánh sáng thì mật độ cấy có thể 15÷25 khóm/m2 và thưa hơn.
Mật độ thích hợp còn hạn chế được quá trình đẻ nhánh kéo dài, hạn chế nhánh vô hiệu, lãng phí chất dinh dưỡng Cấy dày các cây còn cạnh tranh về dinh dưỡng, ánh sáng, cây lúa sẽ vươn cao, lá nhiều rậm rạp ảnh hưởng đến hiệu suất quang hợp thuần, sâu bệnh phát triển nhiều, cây có khả năng chống chịu kém và năng suất cuối cùng không cao Hạt chín không đều, mầm mống sâu bệnh trên hạt có thể tăng do độ ẩm hạt tăng nhanh chóng trong quá trình bảo quản làm ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng hạt giống.
Theo Nguyễn Công Tạn, Ngô Thế Dân, Hoàng Tuyết Minh, Nguyễn Thị Trâm, Nguyễn Trí Hòa, Quách Ngọc Ân (2002)[16], các giống lúa lai có thời gian sinh trưởng trung bình có thể cấy thưa, ví dụ Bắc ưu 64 có thể cấy 35 khóm/m2 Các giống có thời gian sinh trưởng ngắn như Bồi tạp Sơn thanh, Bồi tạp 77 cần cấy dày 40÷45 khóm/m2.
Bùi Huy Đáp (1999)[2] cho rằng, đối với lúa cấy, số lượng tuyệt đối về số nhánh thay đổi nhiều qua các mật độ nhưng tỷ lệ nhánh có ích giữa các mật độ lại không thay đổi nhiều Theo ông, các nhánh đẻ của cây lúa không phải nhánh nào cũng cho năng suất mà chỉ những nhánh đạt được thời gian sinh trưởng và số lá nhất định mới thành bông Số dảnh còn phụ thuộc vào khả năng đẻ nhánh của giống Nghiên cứu số dảnh cấy/khóm cho vụ xuân, Bùi Huy Đáp cho rằng: Trong điều kiện bình thường không nên cấy nhiều dảnh, nhìn chung cấy 2÷3 dảnh có ưu thế hơn cây 5÷6 dảnh, nếu mạ bị già nên tăng số dảnh cây Cũng theo tác giả, khi cấy 2÷3 dảnh/khóm lúa sẽ đẻ nhánh tốt hơn, có nhiều bông bằng cổ và đạt năng
Trang 27suất cao hơn Cấy 3÷4 dảnh/khóm trong những điều kiện bình thường chỉ nên cấy mật độ 25÷30 khóm/m2 ở các chân ruộng sâu trong vụ Mùa, cấy dày trên dưới 40 khóm/m2 ở ruộng tốt bón nhiều phân chỉ nên cấy 1÷2 dảnh Sau này Nguyễn Văn Hoan (2002)[7] cùng kết luận: Trên một diện tích gieo cấy, nếu mật
độ càng cao thì số bông càng nhiều song số hạt/bông càng ít (bông bé) Tốc độ giảm số hạt/bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ, cấy dày quá sẽ làm cho năng suất giảm nghiêm trọng Tuy nhiên, nếu cấy với mật độ quá thưa đối với các giống có thời gian sinh trưởng gắn rất khó hoặc không đạt được số bông tối ưu Do vậy nên bố trí các khóm lúa theo kiểu hàng sông, hàng con trong đó hàng sông rộng hơn hàng con để có khoảng cách giữa các khóm lúa theo kiểu hình chữ nhật là tốt nhất Cũng theo tác giả này, mật độ cấy dày trên 40 khóm/m2
thì để đạt 7 bông hữu hiệu/khóm cần cấy 3 dảnh (nếu mạ non) Theo Nguyễn Công Tạn và cs (2002)[16] khi sử dụng mạ non để cấy (mạ chưa đẻ nhánh) thì sau cấy, lúa thường đẻ nhánh sớm và nhanh Nếu cần đạt 9 bông hữu hiệu/khóm với mật độ 40 khóm/m2, chỉ cần cấy 3÷4 dảnh, mỗi dảnh đẻ 2 nhánh là đủ Nếu cấy nhiều hơn, số nhánh đẻ có thể tăng nhưng tỷ lệ hữu hiệu giảm.
Theo Nguyễn Văn Hoan (2003)[8], thì chúng ta định lượng số dãnh cấy của một khóm dựa vào số bông dự định cần phải đạt được/m2 và mật độ đã chọn Đối với mạ non khi cần đạt 9-10 bông/khóm và mật độ 35÷39 khóm/m2 thì chỉ cần cấy 2 dãnh/khóm, không cần cấy to hơn vì mạ non nên đẻ nhánh nhiều lúa sẽ ra nhiều nhánh quá nhỏ, yếu dẫn đến bông lúa nhỏ, số hạt/bông sẽ ít đi Khi cần đạt 11÷12 bông/khóm ở mật độ 29÷32 khóm/m2 cần cấy 3 dãnh/khóm để 1 dãnh mạ sinh được 4 bông lúa to đều nhau Với mật độ 27 khóm/m2, để đật 13÷14 bông lúa to cần cấy 4 dãnh/khóm đồng thời áp dụng các biện pháp kỹ thuật đồng bộ để hạn chế đẻ nhánh vô hiệu, tập trung sức sinh trưởng vào các nhánh đẻ sớm nhằm đạt năng suất cao nhất.
Nguyễn Đăng Nghĩa và Nguyễn Mạnh Chinh (2008)[13] cho rằng nên cấy riêng từng hàng với khoảng cách 20 x 15 cm hoặc 20 x 12 cm (với mật độ 30÷40 khóm/m2), tùy theo đất, giống lúa và mùa vụ, đất tốt và giống lúa dài ngày, vụ mùa cấy thưa hơn đất xấu, giống ngắn ngày và vụ đông xuân Mật độ cấy sao cho
Trang 28không lãng phí đât, không chen lấn che rợp nhau, để có khoảng 250÷300 bông/
m2 là có thể cho năng suất trên 5 tấn/ha.
Khi sử dụng mạ thâm canh, mạ đã đẻ 2÷5 nhánh thì số dảnh cấy phải tính cả nhánh đẻ trên mạ Loại mạ này già hơn 10÷15 ngày so với mạ chưa đẻ, vì vậy số dảnh cấy cần phải bằng số bông dự định hoặc ít nhất cũng phải đạt trên 70% số bông dự dịnh Sau khi cấy các nhánh đẻ trên mạ sẽ tích lũy, ra lá, lớn lên và thành bông Thời gian đẻ nhánh hữu hiệu chỉ tập trung vào khoảng 8÷15 ngày sau cấy Vì vậy cấy mạ thâm canh cần có số dảnh cấy/khóm nhiều hơn cấy mạ non
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của số dảnh và mật độ cấy đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Việt lai 20 của Tăng Thị Hạnh (2003)[6], cho thấy, mật độ cấy ảnh hưởng không nhiều đến thời gian sinh trưởng, số lá và chiều cao cây Nhưng mật độ có ảnh hưởng đến khả năng đẻ nhánh, hệ số đẻ nhánh (hệ số đẻ nhánh giảm khi tăng mật độ cấy) Mật độ cấy tăng thì diện tích lá và khả tích lũy chất khô tăng lên ở thời kỳ đầu, đến giai đoạn chín sữa khả năng tích lũy chất khô giảm khi tăng mật độ cấy Cũng theo tác giả này, trên cả hai vùng đất đồng bằng sông Hồng và đất bạc màu Sóc Sơn, cấy với mật độ 25 khóm/m2 và 3 dảnh/khóm đã cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất
Theo Trương Đích (1999)[3], thì mật độ cấy còn phụ thuộc vào mùa vụ và giống: Vụ Xuân hầu hết các giống cải tiến cấy mật độ thích hợp 45÷50 khóm/m2, nhưng vụ mùa thì cấy 55÷60 khóm/m2.
Theo Nguyễn Như Hà (2005) [5], khi nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy
và ảnh hưởng của liều lượng đạm tới sinh trưởng của giống lúa ngắn ngày thâm canh cho thấy: Tăng mật độ cấy làm cho việc đẻ nhánh của một khóm giảm So sánh số dảnh trên khóm của mật độ cấy thưa 45 khóm/m2 và mật độ cấy dày 85 khóm/m2 thì thấy số dảnh đẻ trong một khóm lúa ở công thức cấy thưa lớn hơn 0,9÷14,8% ở vụ Xuân, còn ở vụ Mùa lên tới 1,9÷25% Về dinh dưỡng đạm của lúa có tác động đến mật độ cấy tác giả đã kết luận: Tăng bón đạm ở mật độ cấy
Trang 29dày có tác dụng tăng tỷ lệ dảnh hữu hiệu Tỷ lệ dảnh hữu hiệu tăng tỷ lệ thuận với mật độ cho đến 65 khóm/m2 ở vụ Mùa và 75 khóm/m2 ở vụ Xuân Tăng bón đạm ở mật độ cao trong khoảng 55÷65 khóm/m2 làm tăng tỷ lệ dảnh hữu hiệu Một trong những biện pháp canh tác phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại trong nông nghiệp là gieo cấy với mật độ thích hợp với từng giống lúa, tránh gieo cấy quá dày
sẽ tạo môi trường thích hợp cho sâu bệnh phát triển vì quần thể ruộng lúa không được thông thoáng, các lá bị che khuất lẫn nhau nên bị chết lụi đi nhiều
Như vậy, mật độ và năng suất lúa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Việc tăng mật độ cấy trong giới hạn nhất định thì năng suất sẽ tăng Vượt quá giới hạn
đó thì năng suất sẽ không tăng mà thậm chí có thể giảm đi.
1.3 Tình hình sản xuất lúa tại Nghệ An
Bảng 1.4 Kết quả sản xuất lúa ở Nghệ An từ năm 2006÷2012
Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
(nguồn: Cục Thống kê Nghệ An, năm 2012)
Tỉnh Nghệ An nằm ở trung tâm khu vực Bắc Trung Bộ, đất rộng, người đông Với diện tích 16.490,25 km2, lớn nhất cả nước; dân số hơn 3,1 triệu người (tính đến năm 2010), đứng thứ tư cả nước, là tỉnh có nhiều tài nguyên thiên nhiên, nhưng hàng năm sản xuất lúa gạo vẫn được coi là quan trọng bậc nhất Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo Nghệ An lâu nay chủ yếu phát triển theo hướng tự cung, tự cấp, thời gian gần đây đã có bước chuyển dịch sang sản xuất hàng hoá (lúa giống, lúa để chế biến gạo chất lượng).
Kết quả sản xuất lúa 6 năm qua cho thấy diện tích, năng suất lúa có biến động hàng năm phụ thuộc vào diễn biến thời tiết cụ thể từng năm nhưng ổn định trên
Trang 30180 ngàn ha Sản lượng thóc bình quân đầu người 6 năm qua đạt 289÷325 kg/người/năm, như vậy về cơ bản Nghệ An đã tự giải quyết được lương thực tại chỗ Thậm chí nhiều vùng nhờ thâm canh cao, áp dụng giống lúa mới nên có mức tăng trưởng ổn định, năng suất cao Bên cạnh vấn đề giải quyết lượng thực tại chỗ đã có thóc dư thừa và một phần đã chuyển dịch sang sản xuất lúa gạo làm hàng hóa
1.4 Điều kiện thời tiết, khí hậu tại tỉnh Nghệ An vụ xuân 2014
Quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố ngoại cảnh như: Nhiệt độ, độ ẩm, ánh sang nắm vững được diễn biến của những yếu tố này giúp chúng ta giải thích được những hiện tượng bất thường trong quá trình làm thí nghiệm.
Nghệ An là tỉnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 4 mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông Từ tháng 4 đến tháng 8 dương lịch hàng năm, tỉnh chịu ảnh hưởng của gió phơn tây nam khô và nóng Vào mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc lạnh và ẩm ướt
Kết quả theo dõi diễn biến một số yếu tố khí hậu, thời tiết chính qua các tháng ở vụ xuân 2014 của Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Nghệ An có trên Bảng 1.5
Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình của các tháng dao động từ 17,4÷30,1 oC, do ảnh hưởng của đợt rét đậm, rét hại đầu năm nên tháng 1 và tháng 2 có nhiệt độ trung bình thấp lần lượt là 17,4 oC và 18,0 oC đã ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lúa ở giai đoạn mạ và giai đoạn mới cấy đến đẻ nhánh, tháng 4 và tháng 5 là hai tháng có nhiệt độ trung bình là 25,7oC và 30,1 oC đây là điều điều kiện rất thuận lợi cho lúa trổ và chín
- Ẩm độ: Ẩm độ trung bình của các tháng giao động từ 75÷93% ,Tháng 3 có ẩm
độ trung bình cao nhất 93 %, thời điểm có ẩm độ thấp nhất là tháng 5: 75 % đây là điều kiện thuận lợi cho lúa chín và thu hoạch.
Bảng 1.5 Một số yếu tố khí hậu, thời tiết của các tháng trong vụ xuân 2014
Trang 31mưa (mm)
không khí (%) nắng
Tối thấp Tối cao TB
- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình của các tháng tương đối thấp giao động
từ 5,4÷19,8 mm, tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 3, tại thời điểm này lúa đang trong giai đoạn đẻ nhánh – làm đòng Tại địa điểm thí nghiệm có hệ thống thủy lợi tốt nên những tháng ít mưa thì cây lúa vẫn đủ nước tưới nên sinh trưởng phát triển bình thường
Trang 32CHƯƠNG II VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Giống
Vật liệu nghiên cứu gồm các giống lúa mới có thời gian sinh trưởng ngắn ngày có triển vọng tại huyện Hưng Nguyên
Bảng 2.1 Danh sách các giống lúa thí nghiệm và đối chứng
1 Khang dân 18 Giống lúa thuần nhập nội từ Trung Quốc
2 Hương thơm số 1 Giống lúa thuần nhập nội từ Trung Quốc
3 Bắc thơm số 7 Giống lúa nhập nội từ Trung Quốc
4 RVT Công ty CP giống cây trồng Trung ương
5 NA2 Công ty CP Vật tư nông nghiệp Nghệ An
2.1.2 Phân bón
Mỗi ha được bón:
Đạm ure: 190 kg Phân Kali: 160 kg,
Supe lân: 400 kg Vôi bột: 300 kg
Phân chuồng hoai mục: 10 tấn
* Lượng phân bón như trên tính cho 1 ha lúa cấy.
2.2 Các nội dung nghiên cứu
- Ảnh hưởng của mật độ cấy đến sinh trưởng, phát triển của các giống.
- Ảnh hưởng của mật độ cấy đến khả năng nhiễm sâu bệnh của các giống.
- Ảnh hưởng của mật độ cấy đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống.
- Đánh giá chất lượng gạo của các giống lúa thí nghiệm.
- Đánh giá chất lượng gạo sau chế biến của các giống lúa thí nghiệm.
- Đánh giá chất lượng dinh dưỡng của các giống lúa thí nghiệm.
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 33+ Nhân tố phụ là giống bố trí trên ô lớn.
+ Diện tích mỗi ô nhỏ là 10 m2, diện tích mỗi ô lớn là 50 m2
+ Thí nghiệm nhắc lại 3 lần.
+ Diện tích khu thí nghiệm: (10 m2 x 20) x 3 = 600 m2 chưa kể dải bảo vệ
2.3.2 Định điểm theo dõi và thời gian theo dõi.
Xác định điểm theo dõi ở 3 lần nhắc lại, mỗi ô dùng 5 que cắm 5 điểm theo đường chéo góc, mỗi điểm lấy 2 khóm liên tiếp (10 khóm/ô).
Phương pháp theo dõi: Theo quy phạm khảo nghiệm giống lúa quốc gia
Thời gian theo dõi: 2 tuần/lần từ khi cấy đến khi lúa chín, riêng điều tra sâu
Trang 34bệnh theo dõi 1 tuần/lần
2.3.3 Kỹ thuật canh tác:
- Cách bón phân: Bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân và vôi Phân đạm và
kali bón theo thời điểm Cụ thể của cách bón phân đạm và kali thể hiện ở Bảng 2.2
Bảng 2.2: Tỷ lệ bón đạm và kali theo thời điểm (% khối lượng)
- Phòng trừ sâu bệnh
Phòng trừ kịp thời, khi cần sử dụng thuốc hoá học thì tuân theo hướng dẫn của ngành bảo vệ thực vật
- Thu hoạch: Thu hoạch khi có khoảng 85% số hạt/bông đã chín Trước khi thu
hoạch nhổ 10 khóm mỗi giống để làm mẫu và theo dõi các chỉ tiêu trong phòng Thu riêng từng ô và phơi riêng đến độ ẩm hạt đạt 14%, cân khối lượng (kg/ô).
2.4 Phương pháp thu thập số liệu
2.4.1 Thời gian trải qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển
- Thời gian từ gieo đến cấy.
- Thời gian từ cấy - bắt đầu đẻ nhánh (10% số cây đẻ nhánh).
- Thời gian từ bắt đầu đẻ nhánh - kết thúc đẻ nhánh.
- Thời gian từ kết thúc đẻ nhánh - bắt đầu trổ (10% số cây trổ).
- Thời gian từ bắt đầu trổ - kết thúc trổ: 80% số cây trổ.
- Thời gian chín hoàn toàn (trên 85 % số hạt/bông chín).
2.4.2 Các chỉ tiêu xác định tốc độ sinh trưởng của cây lúa
- Tăng trưởng chiều cao của cây: Tiến hành đo sau khi cấy, đo định kỳ 2 tuần
1 lần, đo chiều cao đồng thời đếm số nhánh, số lá Đo chiều cao của cây đến khi lúa đạt chiều cao cuối cùng Cố định 10 cây theo dõi/ô.
Trang 35- Tốc độ đẻ nhánh: Theo dõi ngày bắt đầu đẻ nhánh và ngày kết thúc đẻ nhánh của các giống.
+ Số nhánh đẻ: Đếm số nhánh hiện có trên khóm, định kỳ 2 tuần 1 lần (tiến hành đếm kết hợp với theo dõi chiều cao cây) cho đến khi cây ngừng đẻ nhánh
Số nhánh thành bông
Hệ số đẻ nhánh có ích (%) = - x 100
Tổng số nhánh Các chỉ tiêu về đẻ nhánh trên ruộng cấy được theo dõi trên từng khóm (10 khóm/1 ô thí nghiệm).
- Diện tích lá: LAI = m2 lá/m2 đất
- Khối lượng chất khô trên toàn cây (DM): Những cây đo diện tích lá sau đó đem sấy mẫu ở nhiệt độ 800C trong 48 h.
2.4.3 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình nhiễm sâu, bệnh
Thực hiện theo quy phạm khảo nghiệm giống lúa 10 TCN 558-2002 Bộ Nông nghiệp và PTNT [15].
Theo dõi một số đối tượng sâu bệnh hại chính trong vụ Xuân.
* Đối với sâu:
- Sâu đục thân: Có nhiều đối tượng gây hại, tính tỷ lệ dảnh bị chết và bông
- Sâu cuốn lá: Tính tỉ lệ cây bị sâu ăn phần xanh của lá hoặc bị cuốn thành ống.
0: Không bị hại 1: 1÷10% cây bị hại.
3: 11÷20% 5: 21÷35%.
7: 36÷51% 9: >51%
Trang 36- Rầy nâu: Quan sát lá, cây bị hại gây chết và héo.
0: Không bị hại.
1: Hơi biến vàng trên một số cây.
3: Lá biến vàng bộ phận chưa bị "cháy rầy".
5: Lá bị vàng rõ, cây lùn và héo, ít hơn 1 nửa số cây bị cháy rầy, cây còn lại lùn nặng.
7: Hơn một nửa số cây bị cháy hoặc héo rầy.
- Bệnh khô vằn: Quan sát độ cao tương đối của vết bệnh trên lá hoặc bẹ lá
(biểu thị bằng % so với chiều cao cây).
0: Không có triệu chứng.
1: Vết bệnh thấp hơn 20% chiều cao cây.
Trang 373: 20÷30% 5: 31÷45%.
- Bệnh bạc lá (Xanthomonas oryzae): Theo dõi ở giai đoạn đứng cái làm
đòng ở vụ xuân, đánh giá trên diện tích lá bị hại tính theo thang điểm:
+ Điểm 1: 1÷5% diện tích lá bị hại.
+ Điểm 3: 6÷12 % diện tích lá bị hại.
+ Điểm 5: 13÷25% diện tích lá bị hại.
+ Điểm 7: 26÷50% diện tích lá bị hại.
+ Điểm 9: 51÷100% diện tích lá bị hại.
2.4.4 Khả năng chống đổ
Thực hiện theo quy phạm khảo nghiệm giống lúa 10 TCN 558-2002 Bộ Nông nghiệp và PTNT.
Quan sát tư thế của cây trước khi thu hoạch và đánh giá:
Điểm 1: Cây không bị đổ.
Điểm 3: Hầu hết cây nghiêng nhẹ.
Điểm 5: Hầu hết cây bị nghiêng.
Điểm 7: Hầu hết cây bị đổ rạp.
Điểm 9: Tất cả cây bị đổ rạp.
2.4.5 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
+ Số bông/m2: Mỗi công thức đếm số bông của 10 khóm, tính trung bình rồi nhân với số khóm/m2.
+ Số hạt/bông: Đếm số hạt có trên bông: Số cây mẫu 10 (cây)
- Sè h¹t trªn b«ng
+ Số hạt chắc/bông: Đếm số hạt chắc của 10 bông tính trung bình;
+ Năng suất lý thuyết (tấn/ha):
NSLT = Số bông/m2 x số hạt chắc/bông x P1000 hạt/104;
Trang 38+ Trọng lượng 1000 hạt: Mỗi công thức lấy 3 mẫu, mỗi mẫu 1000 hạt, tính trung bình.
+ Năng suất thực thu: Các hạt lúa của 3 lần nhắc lại sau khi tuốt được phơi khô đến độ ẩm 14 %, quạt sạch đem cân lấy trung bình.
- Năng suất sinh vật học: Thu toàn bộ rơm rạ (không kể rễ) phơi khô cân cùng với khối lượng hạt khô của 5 khóm lấy mẫu.
Năng suất thực thu
- Hệ số kinh tế =
Năng suất sinh vật học
2.4.6 Đánh giá chất lượng nông sản
Một số chỉ tiêu về phẩm chất nông sản của các giống
+ Chiều dài hạt gạo: Dùng thước Palmer đo chiều dài, chiều rộng của các hạt gạo nguyên (không gãy, vỡ) rồi đưa vào bảng xếp loại theo tiêu chuẩn của viện lúa IRRI.
Rất dài: >7,5 mm Dài: 6,61÷7,5 mm.
Trung bình: 5,51÷6,6 mm Ngắn: 5,5 mm Rất ngắn: <5,5 mm.
+ Dạng hạt gạo được chia theo tỷ lệ dài/rộng (D/R) như sau:
Dạng hạt: Đo chiều dài và chiều rộng sau đó tỉnh tỷ số chiều dài/chiều rộng theo phương pháp của IRRI và đánh giá theo thang điểm:
Điểm 1: dạng hình thon dài, tỷ số dài/rộng >3.
Điểm 2: dạng hình trung bình, tỷ số dài/rộng 2,1÷3
Điểm 5: dạng hình bầu, tỷ số dài/rộng từ 1,1÷2.
Trang 39+ Tỷ lệ gạo xát (%) = - x 100
Khối lượng thóc đem vào xay + Tỷ lệ bạc bụng: Hạt bạc bụng là hạt có phần tinh bột màu trắng chiếm 1/4 chiều dài gạo trở lên Đếm mẫu 100 hạt nguyên rồi tính.
+ Đánh giá hương thơm khi nấu:
Điểm 1: Không thơm Điểm 2: Hơi thơm
Điểm 3: Thơm.vừa Điểm 4: Thơm Điểm 5: Rất thơm.
+ Đánh giá độ mềm:
Điểm 1: không mềm Điểm 2: hơi mềm
Điểm 3: mềm Vừa Điểm 4: mềm Điểm 5: Rất mềm
+ Đánh giá độ dính:
Điểm 1: Rất rời Điểm 2: Rời
Điểm 3: Hơi dính Điểm 4: Dính Điểm 5: Dính tốt
+ Đánh giá độ trắng:
Điểm 1: Nâu Điểm 2: Trắng ngả nâu
Điểm 3: Trắng hơi xám Điểm 4: Trắng ngà Điểm 5: Trắng.
+ Đánh giá độ bóng
Điểm 1: Rất mờ xỉn Điểm 2: Hơi mờ xỉn
Điểm 3: Hơi bóng Điểm 4: Bóng Điểm 5: Rất bóng.
Trang 40+ Đánh giá độ ngon: Đánh giá theo thang điểm
Điểm 1: Không ngon Điểm 2: Hơi ngon
Điểm 3: Ngon vừa Điểm 4: Ngon Điểm 5: Rất ngon.
2.5 Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý số liệu trên phần mềm Microsoft Excel và phầm mềm IRRISTAT4.0.
2.6 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu đã được triển khai trong vụ Xuân (từ tháng 1 đến tháng 5) năm
2014 tại Xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.