Do đó, các điểm dân cư trong huyện ngày càng tăng và thực tế cho thấy sự phân bố mạng lưới dân cư ở các đô thị và nhất là ở vùng nông thôn còn có nhiều bất cập và hạn chế như: tình trạng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
HỆ THỐNG ĐIỂM DÂN CƯ THEO HƯỚNG NÔNG THÔN MỚI
HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
HỆ THỐNG ĐIỂM DÂN CƯ THEO HƯỚNG NÔNG THÔN
MỚI HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ
rõ nguồn gốc
Nguyễn Thị Phương Thảo
Trang 4đề tài này
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Nguyễn Thị Phương Thảo
Trang 51.1 Cở sở lý luận và pháp lý của phát triển hệ thống điểm dân cư 3 1.1.1 Khái niệm cơ bản về điểm dân cư 3 1.1.2 Thành phần đất đai trong khu dân cư 4 1.1.3 Phân loại hệ thống điểm dân cư 8 1.1.4 Căn cư pháp lý của phát triển hệ thống điểm dân cư 10 1.2 Thực trạng và xu thế phát triển mạng lưới dân cư một số nước trên thế
1.2.2 Khu vực Châu Á và Đông Nam Á 14 1.2.3 Nhận xét chung về thực trạng và xu thế phát triển mạng lưới dân cư
1.3 Tổng quan về phát triển khu dân cư ở Việt Nam 18 1.3.1 Thực trạng phân bố dân cư ở Việt Nam trong những năm gần đây 18 1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phân bố dân cư ở nước ta 20 1.3.3 Mục tiêu và xu hướng phát triển mạng lưới dân cư 21 1.3.4 Một số định hướng phát triển điểm dân cư 23 1.4 Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 28
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Bảo Thắng 30
Trang 62.2.2 Thực trạng hệ thống điểm dân cư trên địa bàn huyện Bảo Thắng 30 2.2.3 Đánh giá thực trạng hệ thống điểm dân cư theo tiêu chí nông thôn
2.2.4 Định hướng phát triển mạng lưới dân cư huyện Bảo Thắng theo
hướng xây dựng nông thôn mới 31 2.3 Phương pháp nghiên cứu 31 2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 31 2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 32 2.3.3 Phương pháp xây dựng bản đồ 32 2.3.4 Phương pháp phân loại điểm dân cư 32 2.3.5 Phương pháp phân tích tổng hợp 35 2.3.6 Phương pháp so sánh 35
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Bảo Thắng 36 3.1.1 Điều kiện tự nhiên, thiên nhiên và cảnh quan môi trường 36 3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 40 3.2 Thực trạng hệ thống điểm dân cư trên địa bàn huyện Bảo Thắng 49 3.2.1 Tình hình quản lý và sử dụng đất huyện Bảo Thắng 49 3.2.2 Thực trạng khu dân cư và tình hình sử dụng đất 53 3.2.3 Phân loại hệ thống điểm dân cư 60 3.2.4 Thực trạng kiến trúc cảnh quan trong xây dựng và phát triển điểm
3.3 Đánh giá thực trạng hệ thống điểm dân cư theo tiêu chí thông thôn mới 71 3.3.1 Đánh giá theo bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới 71 3.3.2 Đánh giá ưu, nhược điểm và những tồn tại trong quá trình xây dựng
và phát triển hệ thống điểm dân cư theo hướng nông thôn mới 81 3.4 Định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư theo hướng nông thôn mới 83 3.4.1 Các tiền đề và dự báo nhu cầu phát triển hệ thống điểm dân cư 83 3.4.2 Định hướng phát triển mạng lưới dân cư đến năm 2020 86 3.4.3 Giải pháp thực hiện 103
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Phân cấp một số tiêu chí đánh giá điểm dân cư 33 Bảng 2.2 Tổng hợp chỉ tiêu phân loại điểm dân cư 34 Bảng 3.1 Cơ cấu kinh tế của huyện Bảo Thắng qua một số năm 41 Bảng 3.2 Hiện trạng diện tích, dân số huyện Bảo Thắng năm 2013 43 Bảng 3.3 Tỷ lệ sinh, tỷ lệ chết, tỷ lệ tăng tự nhiên của dân số huyện Bảo
Bảng 3.4 Hiện trạng lao động, cơ cấu lao động huyện Bảo Thắng 45 Bảng 3.5 Diện tích, cơ cấu đất đai phân theo mục đích sử dụng năm 2013 51 Bảng 3.6 Diện tích, cơ cấu sử dụng đất của huyện qua các năm 52 Bảng 3.7 Diện tích các đơn vị xã, thị trấn huyện Bảo Thắng 53 Bảng 3.8 Hiện trạng khu dân cư theo xã, thị trấn huyện Bảo Thắng 55 Bảng 3.9 Hiện trạng sử dụng đất khu dân cư huyện Bảo Thắng năm 2013 58 Bảng 3.10 Kết quả phân cấp các chỉ tiêu đánh giá điểm dân cư dân cư nông
Bảng 3.11 Kết quả phân loại điểm dân cư nông thôn huyện Bảo Thắng 65 Bảng 3.12 Hệ thống điểm dân cư đô thị và nông thôn 66 Bảng 3.13 Dân số huyện Bảo Thắng đến năm 2020 85 Bảng 3.14 Dự kiến quy hoạch đất ở đô thị huyện Bảo Thắng đến năm 2020 87 Bảng 3.15 Dự kiến quy hoạch đất ở khu dân cư nông thôn huyện Bảo Thắng
Bảng 3 16 Các công trình thủy lợi dự kiến xây dựng tại huyện Bảo Thắng 95 Bảng 3.17 Các công trình y tế dự kiến xây dựng tại huyện Bảo Thắng 98 Bảng 3.18 Các công trình văn hóa dự kiến xây dựng tại huyện Bảo Thắng 99 Bảng 3.19 Các công trình chợ dự kiến xây dựng tại huyện Bảo Thắng 100 Bảng 3.20 Các công trình xử lý chất thải dự kiến xây dựng tại huyện Bảo
Bảng 3.21 Các công trình nghĩa địa dự kiến xây dựng tại huyện Bảo Thắng 103
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Vị trí địa lý huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai 36
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1 CNH - HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
2 THPT Trung học phổ thông
3 THCS Trung học cơ sở
4 UBND Ủy ban nhân dân
5 HĐND Hội đồng nhân dân
6 CTCC Công trình công cộng
7 CN Công nghiệp
8 TTCN Tiểu thủ công nghiệp
9 TNMT Tài nguyên môi trường
10 KDC Khu dân cư
11 DCNT Dân cư nông thôn
12 GCNQSD Giấy chứng nhận quyền sử dụng
13 NN &PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
14 XDCTCC Xây dựng công trình công cộng
15 GT Giao thông
16 ĐDC Điểm dân cư
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế phát triển hiện nay, nông nghiệp vẫn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống của mỗi quốc gia và trong kinh tế nông thôn Bất kỳ một quốc gia nào xuất phát điểm của nền kinh tế ban đầu cũng là nông nghiệp, sau quá trình công nghiệp hoá mới trở thành các nước công nghiệp phát triển
Vì vậy, xây dựng nông thôn mới được Đảng và Nhà nước Việt Nam cho là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Để phát triển vùng nông thôn trước hết phải đầu tư cho phát triển khu dân cư, bố trí các công trình phúc lợi công cộng nhằm đáp ứng tốt nhất cho cuộc sống của người dân Từ thực tế hiện nay cho thấy nhiều khu dân cư đang phải chịu những áp lực lớn về trật tự xây dựng, mặt bằng sản xuất, cơ sở hạ tầng, ô nhiễm môi trường, các khu dân cư bố trí không hợp lý, manh mún nên rất khó cho việc đầu tư phát triển Chính vì vậy, việc quy hoạch bố trí hệ thống điểm dân cư một cách khoa học, hợp lý là rất cần thiết
Bảo Thắng là một huyện có vị trí địa lý rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa Thực hiện Nghị quyết số 26 - NQ/TW ngày 05/8/2008 hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê quyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020; kế hoạch số 64/KH-UBND, ngày 05/8/2010 của UBND tỉnh Lào Cai triển khai thực hiện Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Huyện Bảo Thắng khẩn trương chỉ đạo các cấp, các ngành cùng chung tay thực hiện chương trình Huyện xác định xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ trọng yếu của cả hệ thống chính trị
và toàn xã hội
Trong những năm gần đây, huyện Bảo Thắng đã và đang tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - dịch vụ thông qua đẩy mạnh việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới các công trình công cộng như: Trụ
Trang 11sở UBND, đường giao thông nông thôn, hệ thống nước sinh hoạt, thủy lợi kênh mương, trạm bơm tưới tiêu, trạm điện, khu dân cư,… Chính điều đó đã làm nền sản xuất phát triển, đời sống vật chất tinh thần, văn hóa xã hội của người dân trong huyện được cải thiện rõ rệt
Do đó, các điểm dân cư trong huyện ngày càng tăng và thực tế cho thấy
sự phân bố mạng lưới dân cư ở các đô thị và nhất là ở vùng nông thôn còn có nhiều bất cập và hạn chế như: tình trạng xây dựng khu dân cư còn phân tán, lộn xộn, mạng lưới các công trình hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật còn thiếu và không đồng bộ, không đảm bảo yêu cầu cho hiện tại và cho nhu cầu phát triển trong những năm tới Chính vì vậy, việc đánh giá thực trạng và định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư nhằm xác định cơ sở pháp lý và khoa học cho việc quản lý và phát triển các điểm dân cư nông thôn trên địa bàn toàn huyện
để đảm bảo ổn định đời sống và hướng tới sự phát triển bền vững là rất cần thiết
Xuất phát từ thực trạng nêu trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá thực trạng và định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư theo hướng nông thôn mới huyện Bảo Thắng - tỉnh Lào Cai”
2 Mục đích, yêu cầu
2.1 Mục đích
+ Nghiên cứu, đánh giá thực trạng việc tổ chức sử dụng đất, xây dựng và phát triển hệ thống điểm dân cư đô thị và nông thôn trên địa bàn huyện Bảo Thắng - tỉnh Lào Cai
+ Định hướng phát triển mạng lưới điểm dân cư theo hướng xây dựng nông thôn mới, góp phần cải thiện môi trường dân sinh trên địa bàn huyện Bảo Thắng
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Cở sở lý luận và pháp lý của phát triển hệ thống điểm dân cư
1.1.1 Khái niệm cơ bản về điểm dân cư
- Cơ cấu cư dân:
Cơ cấu cư dân là toàn bộ các điểm dân cư của một nước, một tỉnh trong một vùng kinh tế, phân bố trong không gian có phân công liên kết chức năng và hài hoà cân đối trong mỗi điểm và gữa các điểm dân cư trong một đơn vị lãnh thổ
Như vậy, cơ cấu cư dân là một cấu trúc tổng hợp và tương đối bền vững, là một hình thái tổ chức của cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu vùng Các điểm dân cư phân biệt với nhau về quy mô và cấp hạng dựa trên sự tổng hợp các mối quan hệ phân công chức năng trong toàn bộ cơ cấu cư dân của quốc gia trong một vùng Vì vậy, trong quy hoạch cơ cấu dân cư phải lưu ý các mối quan hệ tương hỗ trong nội tạng cơ cấu của từng điểm dân cư, cũng như cơ
cấu của toàn bộ trong một nhóm các điểm dân cư cụ thể
- Điểm dân cư đô thị:
Điểm dân cư đô thị là điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân phi nông nghiệp, họ sống và làm việc theo kiểu thành thị [1]
Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là tập trung chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương Đô thị bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, trị trấn Dân số toàn
đô thị là dân số của khu vực nội thị và khu vực ngoại thị [7]
- Điểm dân cư nông thôn:
+ Theo quan điểm về xã hội học:
Điểm dân cư nông thôn là địa bàn cư tụ có tính chất cha truyền con nối của người nông dân (xóm, làng, thôn, bản, buôn, ấp), đó là một tập hợp dân cư sinh sống chủ yếu theo quan hệ láng giềng, nó được coi là những tế bào của xã hội người Việt từ xa xưa đến nay
Trang 13+ Theo Luật Xây dựng 2003 (Tại khoản 14, điều 3):
Điểm dân cư nông thôn là nơi cư trú tập trung của nhiều hộ gia đình gắn kết với nhau trong sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm
vi một khu vực nhất định (gọi chung là thôn), được hình thành do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán và các yếu tố khác
Như vậy, điểm dân cư nông thôn là một bộ phận của khu dân cư nông thôn
1.1.2 Thành phần đất đai trong khu dân cư
1.1.2.1 Thành phần đất đai trong khu đô thị
- Khu đất công nghiệp:
Khu đất công nghiệp trong đô thị bao gồm đất xây dựng các xí nghiệp công nghiệp và thủ công nghiệp được bố trí tập trung thành từng khu vực, trong đó tính cả đất giao thông nội bộ, các bến bãi hoặc công trình quản lý phục vụ cho các nhà máy
Khu đất công nghiệp là thành phần quan trọng của cơ cấu đô thị đồng thời là một yếu tố quan trọng của sự hình thành và phát triển đô thị
Do yêu cầu về sản xuất và bảo vệ môi trường sống, để tránh những ảnh hưởng độc hại của sản xuất công nghiệp, một số cơ sở sản xuất phải được
bố trí ở bên ngoài thành phố, được cách ly với các khu vực khác Ngược lại, một số loại xí nghiệp công nghiệp và thủ công nghiệp mà sản xuất không ảnh hưởng xấu đối với môi trường thì có thể bố trí trong khu dân dụng thành phố
- Khu đất kho tàng:
Khu đất kho tàng thành phố bao gồm đất xây dựng các kho trực thuộc và không trực thuộc thành phố, kể cả đất đai xây dựng các trang thiết bị kỹ thuật hành chính phục vụ, cách ly, bảo vệ của các kho tàng
- Khu đất giao thông đối ngoại:
Bao gồm các loại đất phục vụ cho yêu cầu hoạt động của các phương tiện giao thông vận tải của thành phố liên hệ với bên ngoài, cụ thể là:
+ Đất giao thông đường sắt: Gồm đất sử dụng cho các tuyến đường sắt
Trang 14kho tàng, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho yêu cầu hoạt động của giao thông đường sắt
+ Đất giao thông đường bộ: Là các loại đất xây dựng tuyến đường, bến xe, các trạm tiếp xăng dầu, bãi để xe, gara thành phố và cơ sở phục vụ cho giao thông đường bộ
+ Đất giao thông đường thuỷ: Bao gồm đất xây dựng các bến cảng hành khách và hàng hoá, kể cả các kho tàng, bến bãi, công trình phục vụ và trang thiết bị kỹ thuật phục vụ yêu cầu hoạt động vận chuyển hành khách và hàng hoá của thành phố với bên ngoài
+ Đất giao thông hàng không: Là đất xây dựng các sân bay dân dụng của thành phố, nhà ga hàng không và hệ thống công trình thiết bị kỹ thuật khác của các sân bay
- Khu đất dân dụng đô thị:
Bao gồm các loại đất xây dựng nhà ở, các công trình phục vụ công cộng, đường phố, quảng trường phục vụ nhu cầu về nhà ở, nghỉ ngơi, giải trí của nhân dân thành phố Theo tính chất sử dụng, đất dân dụng thành phố được chia thành 4 loại chính:
+ Đất xây dựng nhà ở: Bao gồm các loại đất xây dựng từng nhà ở, đường giao thông, hệ thống công trình phục vụ công cộng, cây xanh trong phạm vi tiểu khu nhà ở, còn được gọi là đất ở thành phố
+ Đất xây dựng trung tâm thành phố và các công trình phục vụ công cộng: Gồm đất xây dựng các công trình phục vụ về thương nghiệp, văn hoá, y
tế, giáo dục ngoài phạm vi khu nhà ở Các công trình đó do tính chất và yêu cầu phục vụ riêng mà có thể có vị trí quy hoạch khác nhau hoặc tập trung ở trung tâm thành phố, trung tâm nhà ở, hoặc ở bên ngoài khu vực thành phố + Đất đường và quảng trường hay còn gọi là đất giao thông đối nội: Bao gồm đất xây dựng mạng lưới đường phố phục vụ yêu cầu đi lại bên trong thành phố kể cả các quảng trường lớn của thành phố
+ Đất cây xanh đô thị: Bao gồm đất xây dựng các công viên, vườn hoa của thành phố và khu nhà ở
Trang 15Các mặt nước dùng cho yêu cầu nghỉ ngơi, giải trí của nhân dân cũng được tính vào diện tích cây xanh Khi mặt nước quá lớn, chỉ tính 30% diện tích mặt nước vào diện tích cây xanh thành phố
Trang 16- Đất khu đặc biệt:
Là loại đất phục vụ cho yêu cầu riêng biệt như doanh trại quân đội, các
cơ quan hành chính không thuộc thành phố, các cơ quan ngoại giao, nghĩa trang, công trình kỹ thuật xử lý nước bẩn, bãi rác
Các đô thị có quy mô trung bình trở lên thường có cơ cấu hoàn chỉnh với
5 loại đất trên Ở các đô thị lớn, ngoài phần đất nội thành còn có đất ngoại thành với các thành phần gồm đất sản xuất nông nghiệp hoặc đất cây xanh xung quanh thành phố Đất ngoại thành phục vụ cho việc tổ chức sản xuất công nghiệp, đáp ứng một phần nhu cầu đời sống của nhân dân, đồng thời tổ chức các cơ sở nghỉ
ngơi, giải trí, hệ thống trang bị kỹ thuật của thành phố [1]
1.1.2.2 Thành phần đất đai trong khu dân cư nông thôn
- Đất ở và đất vườn trong khuôn viên thổ cư của hộ gia đình:
Đây là loại đất gắn liền với đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn Mọi hoạt động sản xuất và sinh hoạt của hộ gia đình diễn ra đều có liên quan đến loại đất này
Khái niệm về thổ cư cho mỗi hộ gia đình ở nông thôn bao gồm cả phần không gian phục vụ sinh hoạt gia đình và không gian để triển khai các hoạt động theo phương thức kinh tế vườn - ao - chuồng hoặc vườn - rừng – ao - chuồng
Do đặc điểm của hoạt động sản xuất gia đình nên trong nông thôn, đất ở của mỗi hộ bao gồm cả phần diện tích phục vụ cho yêu cầu sản xuất phụ trong gia đình Thực tế phát triển nông thôn ở nước ta những năm gần đây đã khẳng định rằng đây là một phương thức tốt, phù hợp với thực tế của vùng nông thôn
Để tận dụng hết mọi khả năng và mọi thời gian có thể để đầu tư vào lao động sản xuất, hệ thống Vườn-Ao-Chuồng trong kinh tế gia đình luôn luôn gắn liền với phần đất ở của mỗi gia đình trong mối quan hệ đan xen và hỗ trợ nhau Những phần không gian trong khuôn viên hộ gia đình có thể bao gồm cả hai chức năng sản xuất và sinh hoạt
Theo Luật Đất đai năm 1993 thì đất trong khuôn viên thổ cư của hộ gia đình bao gồm 2 loại đất, đó là đất ở và đất vuờn tạp, ao (đất vườn, ao được xếp vào mục đất nông nghiệp)
Trang 17Theo Luật Đất đai năm 2003 thì đất ở của hộ gia đình cá nhân tại nông thôn bao gồm đất để xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình phục vụ đời sống, vườn, ao trong cùng một thửa đất thuộc khu dân cư nông thôn, phù hợp với xây dựng điểm dân cư nông thôn được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
xét duyệt
Do lịch sử hình thành đất khu dân cư có sự khác nhau nên cơ cấu diện tích loại đất này trong các điểm dân cư cũng rất khác nhau giữa các địa phương Qua kết quả nghiên cứu điều tra thực tế cho thấy đất thổ cư chiếm khoảng 30 - 60% tổng diện tích của điểm dân cư, tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng vùng Vùng đồng bằng thường có tỷ lệ đất thổ cư trong điểm dân cư cao hơn miền núi
- Đất chuyên dùng trong điểm dân cư:
Đất chuyên dùng trong điểm dân cư bao gồm đất xây dựng trụ sở cơ
quan, công trình sự nghiệp, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, đất có mục đích công cộng (các công trình hạ tầng kỹ thuật, phúc lợi xã hội, đất làm đường xá và mương rãnh thoát nước, đất mặt nước, cây xanh, khuôn viên công cộng ) Đây là loại đất phục vụ cho mục đích công cộng của cộng đồng xã hội Tuỳ theo đặc điểm về địa lý và tốc độ phát triển của mỗi địa phương mà cơ cấu diện tích các loại đất này cao hay thấp Tuy nhiên theo xu hướng phát triển chung thì nhu cầu sử dụng của loại đất này sẽ ngày càng cao
Đất chuyên dùng trong điểm dân cư do chính quyền các địa phương và các tổ chức trực tiếp quản lý sử dụng nhưng phải thực hiện theo đúng quy hoạch và pháp luật, đảm bảo cho việc sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển lâu dài của đất nước và cộng đồng dân cư
1.1.3 Phân loại hệ thống điểm dân cư
1.1.3.1 Phân loại đô thị
Nhằm phục vụ cho công tác quản lý hành chính về đô thị cũng như để xác định cơ cấu và định hướng phát triển đô thị, đô thị được phân chia thành nhiều loại khác nhau Thông thường việc phân loại đô thị dựa theo tính chất,
Trang 18Tại Thông tư số 34/2009/TT-BXD ngày 30/9/2009 của Bộ Xây dựng đã quy định cụ thể một số nội dung trong Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ Trong Thông tư này quy định cụ thể về việc phân loại và phân cấp quản lý đô thị, đô thị được chia thành 6 loại: Loại đặc biệt (đô thị cực lớn), loại I (đô thị lớn), loại II (đô thị trung bình lớn), loại III (đô thị vừa), loại IV (đô thị trung bình nhỏ), loại V (đô thị nhỏ)
Các đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì quy mô dân số và mật độ dân số có thể thấp hơn, nhưng tối thiểu phải đạt 50% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải bảo đảm tối thiểu 70% mức tiêu chuẩn quy định so với các loại đô thị tương đương
1.1.3.2 Điểm dân cư nông thôn
Phân loại điểm dân cư nông thôn theo Tiêu chuẩn Việt Nam 4418 (TCVN) năm 1987 Theo tiêu chuẩn Việt Nam 4418 quy định phương pháp đánh giá và phân loại điểm dân cư nông thôn như sau:
- Hệ thống điểm dân cư hiện trạng được phân thành 3 loại:
+ Loại I: Các điểm dân cư chính, tồn tại lâu dài và phát triển gần những thôn bản được quy hoạch xây dựng mới hoặc cải tạo để trở thành điểm dân cư chính thức của hệ thống dân cư chung trên lãnh thổ toàn huyện, được ưu tiên quy hoạch và đầu tư xây dựng đồng bộ Các điểm dân cư này có các trung tâm sản xuất và phục vụ công cộng chung của xã
+ Loại II: Các điểm dân cư phụ thuộc, phát triển có giới hạn Các điểm dân cư này có mối quan hệ hoạt động sản xuất và sinh hoạt gắn chặt với các điểm dân cư chính, chúng được khống chế về quy mô mở rộng, về mức độ xây dựng trong giai đoạn quá độ, không được đầu tư xây dựng những công trình có giá trị
+ Loại III: Những xóm, trại, ấp nhỏ không có triển vọng phát triển, không thuận lợi cho tổ chức sản xuất và đời sống, trong tương lai cần có biện pháp và kế hoạch di chuyển theo quy hoạch
-Tiêu chuẩn đánh giá phân loại điểm dân cư :
Ở những khu vực dân cư đông đúc đã tồn tại mạng lưới dân cư từ lâu đời cần dựa trên các tiêu chuẩn sau đây để đánh giá phân loại điểm dân cư:
Trang 19+ Thôn, xóm chính đảm nhận từ 100 ha canh tác trở lên
+ Cự ly trung bình từ điểm dân cư đến cánh đồng xa nhất không quá từ 1,5 đến 2 km
+ Có điều kiện thuận lợi về đất đai, vị trí địa lý, khả năng trang bị kỹ thuật và nguồn nhân lực để xây dựng nhiều công trình phục vụ sản xuất, sớm hình thành cụm trung tâm sản xuất tập trung của xã
+ Có điều kiện để xây dựng các công trình văn hoá phúc lợi công cộng chung của xã (Đối với những điểm dân cư chính phải có số dân ít nhất là trên
1500 người và phải có những điều kiện thuận lợi khác về đất đai, vị trí, trang
bị kỹ thuật, đối với điểm dân cư phụ phải có quy hoạch dân số tối thiểu là 500 người để xây dựng nhà trẻ, mẫu giáo)
+ Có nhiều công trình có giá trị như: các cơ sở vật chất kỹ thuật của Hợp tác xã hoặc công trình phúc lợi công cộng của xã, nhà ở của dân được xây bằng gạch, ngói từ 30 đến 40% trở lên Những điểm dân cư có các công trình di tích lịch sử văn hoá, công trình đặc biệt hoặc có phong cảnh đẹp, khí hậu tốt cần quy hoạch cải tạo thành nơi nghỉ, dưỡng bệnh hoặc tham quan du lịch
+ Có vị trí thuận lợi gần tuyến giao lưu đầu mối kỹ thuật
1.1.4 Căn cư pháp lý của phát triển hệ thống điểm dân cư
1.1.4.1 Hệ thống các văn bản pháp quy của Đảng, Nhà nước
- Nghị quyết số 26 - NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
- Luật xây dựng năm 2003 ;
- Quyết định số 10/1998/QĐ-TTg ngày 23/01/1998 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020;
- Quyết định số 445/QĐ-TTg ngày 07/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt điều chỉnh định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050;
- Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
Trang 20- Quyết định 193/QĐ-TTg ngày 02/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới;
- Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn năm 2010-2020;
- Quyết định số 1738/QĐ-TTg ngày 20/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ thành lập Thường trực Ban chỉ đạo trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020;
1.1.4.2 Hệ thống các tiêu chuẩn ngành
- Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 24/01/2005 về Quy hoạch xây dựng;
- Quyết định số 682/BXD ngày 14/02/1996 của Bộ Xây dựng về việc ban hành Quy chuẩn xây dựng (trong đó có Quy chuẩn quy hoạch xây dựng khu dân cư
nông thôn);
- Thông tư số 07/BXD/TT-BXD hướng dẫn lập, thẩm định, phê duyệt và
quản lý quy hoạch xây dựng ngày 07/4/2008;
- Quyết định số 03/2008/QĐ-BXD ngày 31/3/2008 của Bộ Xây dựng về ban hành quy định nội dung thể hiện bản vẽ, thuyết minh đối với nhiệm vụ và
đồ án quy hoạch xây dựng;
- Bộ tiêu chí Nông thôn mới do Chính phủ ban hành tại Quyết định số
491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009;
- Thông tư số 21/2009/TT-BXD ngày 03 tháng 6 năm 2009 của Bộ Xây
dựng về lập, thẩm định, phê duyệt, quản lý quy hoạch xây dựng nông thôn;
- Thông tư số 31/2009/TT-BXD ngày 10 tháng 9 năm 2009 của Bộ trưởng
Bộ Xây dựng về việc ban hành Tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông thôn;
- Thông tư số 32/2009/TT-BXD ngày 10 tháng 9 năm 2009 của Bộ trưởng
Bộ Xây dựng về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng nông thôn;
- Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21 tháng 8 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
Trang 21- Thông tư số 09/2010/TT-BXD ngày 04/8/2010 của Bộ Xây dựng quy định việc lập thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch xây dựng xã nông
Trang 221.2 Thực trạng và xu thế phát triển mạng lưới dân cư một số nước trên thế giới
1.2.1 Các nước Châu Âu
a) Vương quốc Hà Lan
Vương quốc Hà Lan không được thiên nhiên ưu đãi, sau thiên tai nặng
nề trong thế kỷ XIV, nhân dân Hà Lan đã tiến hành từng bước việc khoanh vùng rút nước để làm khô một diện tích rất lớn đất trũng nhằm mở mang diện tích đất đai sinh sống Trên các vùng đất trũng đó được chia thành từng khu để lập các điểm dân cư nông nghiệp Trung tâm của vùng xây dựng một thành phố
cỡ 12000 dân với các công trình công cộng đạt trình độ cao, xung quanh thành phố là các làng cách nhau từ 5 – 7 km với quy mô mỗi làng (village) khoảng
1500 - 2500 dân Trong mỗi làng được xây dựng đầy đủ các công trình văn hoá xã hội và nhà ở cho nông dân, công nhân nông nghiệp, mỗi làng có các xóm (hamlet) với quy mô khoảng 500 người Sản xuất nông nghiệp được tổ chức theo kiểu các điền chủ thuê đất của Nhà nước, tập hợp nhân công canh tác Số người này trở thành công nhân nông nghiệp và sống trong các làng nói trên
Mạng lưới giao thông được tổ chức rất tốt, đường ô tô nối liền các điểm dân cư đảm bảo liên hệ thuận tiện và nhanh chóng từ nơi ở đến các cánh đồng
và khu vực tiêu thụ chế biến [20]
b) Vương quốc Anh
Khác với phần lớn các nước ở lục địa Châu Âu, nông thôn nước Anh hầu như không bị chiến tranh tàn phá, các điểm dân cư nông thôn truyền thống có sức hấp dẫn mạnh mẽ với những người dân sống trong các thành phố lớn và các khu công nghiệp tập trung Mức độ “ôtô hoá” và mạng lưới giao thông rất phát triển, rút ngắn khoảng cách về thời gian từ chỗ ở đến nơi làm việc
Quy mô làng xóm của nước Anh thường từ 300 - 400 người, khoảng 100
- 150 hộ sinh sống Tuy dân số ít nhưng đầy đủ các công trình văn hoá, xã hội Trong các KDC có đường giao thông dẫn đến từng nhà, không khí trong lành, phong cảnh đẹp và yên tĩnh Chính vì vậy mà nhiều người dân muốn bỏ chỗ ở không thoải mái trong các căn hộ khép kín nơi đô thị đi tìm chỗ ở lý tưởng nơi
Trang 23miền quê Do sự di chuyển một bộ phận dân cư ở các thành phố về sống ở nông thôn mà cơ sở dịch vụ văn hoá, xã hội của làng quê truyền thống được cải thiện, nó trở thành các khu ngoại ô của đô thị lớn hay khu công nghiệp Đây là
xu hướng khác hẳn so với các nước khác trên thế giới
Quy hoạch xây dựng phát triển mạng lưới đô thị và nông thôn của nước Anh được công nhận là thành công nhất thế giới, từ cuối thế kỷ 18 đến đầu thế
kỷ 19 đã có nhiều nhà kiến trúc sư người Anh nghiên cứu về lĩnh vực này [19]
c) Cộng hòa SEC
Nét đặc trưng của các điểm dân cư nông thôn của Cộng hoà Séc là có sẵn một mạng lưới rất dày các điểm dân cư nhỏ bé, manh mún Theo thống kê có 14.234 đơn vị hành chính xã Diện tích trung bình mỗi xã là 8,9 km2 Mỗi xã trung bình có 4 làng thì tổng số điểm dân cư có tới 55.000 – 60.000 điểm Trong số đó
có khoảng 35% là các điểm dân cư có quy mô dân số dưới 500 người
Các điểm dân cư ban đầu đơn thuần chỉ tham gia sản xuất nông nghiệp Ngày nay số người làm nông nghiệp chỉ chiếm 18% trong tổng số dân và nông nghiệp đã được cơ giới hoá do vậy sản xuất nông nghiệp tăng lên Dân cư sống
ở các vùng nông thôn, làm việc trong các xí nghiệp ở thành phố phần lớn không di chuyển chỗ ở Nguyên nhân là họ đã có nhà ở nông thôn, họ vẫn tận dụng được hoa màu trên mảnh đất vườn và chi phí cho cuộc sống gia đình đỡ tốn kém hơn ở thành phố Mặt khác, nhờ có mạng lưới giao thông phát triển nên việc
đi lại thuận tiện Vấn đề xây dựng mạng lưới giao thông nông thôn hợp lí với chất lượng cao và đều khắp rất được chú ý [19]
1.2.2 Khu vực Châu Á và Đông Nam Á
a) Khu vực Đông Nam Á
Theo Colins Free stone, trong công trình nghiên cứu các yếu tố về kinh tế chính trị làng xóm vùng Đông Nam Á đã tổng kết những vấn đề chung nhất trong việc quy hoạch xây dựng làng của một số nước thuộc vùng này theo xu hướng:
- Dân cư bố trí dọc theo kênh rạch hoặc theo đường giao thông và đó cũng là đường giao thông chính liên hệ giữa các điểm dân cư
- Nhà ở bố trí phân tán, không có định hướng từ ban đầu khi mới hình
Trang 24- Khu ở của điểm dân cư thường rất gần với khu sản xuất
- Các công trình hạ tầng kỹ thuật, các công trình phục vụ công cộng ít được quan tâm trong từng điểm dân cư mà chỉ được bố trí cho từng cụm gồm nhiều điểm dân cư, làng nào cũng có một trung tâm công cộng nhỏ, gồm các công trình sinh hoạt văn hoá, hành chính hoặc tín ngưỡng chung như đình chùa, chợ…
- Quy mô làng xóm thường nhỏ, nằm rải rác trong hệ thống đồng ruộng canh tác
Trong thời gian gần đây các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Thái Lan đã
có nhiều cố gắng đưa ra các chương trình phát triển nông thôn để phát triển kinh tế và ổn định xã hội Họ đã đầu tư nhiều trong việc xây dựng hệ thống giao thông nông thôn phục vụ sản xuất mạng lưới đường nối liền khu sản xuất với thị trường chế biến, tiêu thụ, quy hoạch lại làng bản theo mô hình và nguyên lý mới hiện đại Tuy vậy, vấn đề phân hoá giàu nghèo ở mức độ cao tại Thái Lan cũng như một số nước trong khu vực là bài học cho chúng ta rút kinh nghiệm để đề ra các mô hình phát triển và xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam [19]
b) Trung Quốc
Trung Quốc là nước nông nghiệp lâu đời, đất rộng, người đông Dân số trên 1 tỷ người, trong đó nông dân chiếm xấp xỉ 80% Đơn vị cơ sở ở nông thôn Trung Quốc là làng hành chính (traditional village) Làng truyền thống chia thành hai hay nhiều làng hành chính Toàn quốc có trên 800.000 làng hành chính, mỗi làng có 800 – 900 dân Trong chiến lược hiện đại hoá đất nước, việc phát triển các cộng đồng nông thôn có ý nghĩa quan trọng [19]
Hiện nay, xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa là một công trình có
hệ thống mang lại lợi ích cho hàng trăm triệu nông dân, đồng thời cũng là một quá trình lâu dài Nguyên tắc của Trung Quốc là quy hoạch đi trước, định ra các biện pháp thích hợp cho từng nơi, đột phá trọng điểm, làm mẫu dẫn đường, Chính phủ hỗ trợ, nông dân xây dựng Giải quyết trước mắt vấn đề nước sinh hoạt cho hàng trăm triệu nông dân; cải tạo và xây dựng mới 1,2 triệu km đường
Trang 25giao thông ở nông thôn; hoàn thiện hệ thống dịch vụ y tế khám, chữa bệnh ở nông thôn và chuyển dịch việc làm cho lao động dư thừa ở nông thôn Đồng thời với những công việc trên, trong việc xây dựng nông thôn mới, Trung Quốc còn áp dụng các biện pháp thúc đẩy phát triển sự nghiệp giáo dục và y tế khám, chữa bệnh ở khu vực nông thôn [19]
c) Hàn Quốc
Hàn Quốc là nước có diện tích tự nhiên chủ yếu là đồi núi, địa hình chia cắt mạnh, chỉ có khoảng 22% tổng diện tích đất có thể canh tác Trong quá khứ, làng truyền thống ở Hàn Quốc chủ yếu nằm dọc theo các con sông suối, các thung lũng có địa hình bằng phẳng và các tuyến giao thông chính Điểm dân cư thường nhỏ và nằm rải rác, nhà ở bố trí phân tán không có định hướng từ ban đầu khi mới hình thành điểm dân cư
Hiện nay, việc quy hoạch phát triển làng trực tiếp do cộng đồng dân cư trong làng cùng bàn bạc và xây dựng dưới sự giúp đỡ về kỹ thuật của các nhà chuyên môn do chính quyền cử đến Quan điểm quy hoạch phát triển làng là hiện đại, tiện ích cho sinh hoạt và phát triển sản xuất của người dân nhưng phải đảm bảo duy trì phát triển cảnh quan môi trường và bản sắc văn hóa Các yếu
tố cơ bản để đạt mục đích trên là:
- Cải tạo cấu trúc không gian của các điểm dân cư trên cơ sở kinh tế xã hội hiện tại, đảm bảo điều kiện vệ sinh môi trường
- Cải tạo tổ chức và nâng cao mức độ phục vụ văn hoá và đời sống
- Nâng cao tiêu chuẩn nhà ở
- Cải thiện cơ sở hạ tầng (giao thông, điện, nước, công trình phúc lợi,…)
- Giữ gìn ưu thế cơ bản của các điểm dân cư nông thôn là mối quan hệ trực tiếp của chúng với thiên nhiên
Giữ nguyên hiện trạng, cải tạo từng phần là hình thức đặc trưng của quá trình xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc Khi dự kiến cải tạo một làng người
ta cân nhắc sử dụng một cách hợp lý nhất các công trình hiện có và các nhà ở
có giá trị, tìm ra và phát triển mối quan hệ mật thiết giữa cấu trúc hình thái của
Trang 26cải tạo là trung tâm công cộng, đảm bảo mối liên hệ trực tiếp với các khu nhà
ở, khu sản xuất với khu nghỉ ngơi giải trí Giao thông trong làng cũng được lưu
ý, đường vận chuyển hàng hoá thường được đặt bên ngoài làng Đường trục chính của làng dẫn tới các đầu mối giao thông khu vực, nối các khu chức năng với nhau và với các khu trung tâm công cộng [19]
Trang 271.2.3 Nhận xét chung về thực trạng và xu thế phát triển mạng lưới dân cư các nước trên thế giới
Qua nghiên cứu tình hình phát triển KDC của một số nước trên thế giới
từ châu Âu sang châu Á cho ta thấy muốn phát triển nông thôn phải xây dựng
cơ sở hạ tầng và mạng lưới đường giao thông phát triển hợp lý, phải quy hoạch
hệ thống làng xã một cách hợp lý cùng với việc xây dựng trung tâm làng xã trở thành hạt nhân phát triển kinh tế - xã hội - văn hoá và là môi trường thuận lợi cho việc tiếp thu văn minh đô thị vào nông thôn Mặt khác muốn quản lý sự di dân hàng loạt từ vùng nông thôn vào đô thị, ngăn cản sự phình to quá cỡ của các thành phố lớn nhất thiết phải “công nghiệp hoá nông thôn” Công nghiệp hoá nông thôn còn mang lại sự thay đổi lối sống nông thôn truyền thống sang lối sống văn minh đô thị - thành thị hoá nông thôn Để đạt được điều đó, việc phát triển hạ tầng kỹ thuật luôn luôn giữ vai trò hàng đầu, hệ thống giao thông luôn giữ vai trò trọng yếu trong việc phát triển kinh tế - xã hội nông thôn
Trong thời gian gần đây, các nước Đông Nam Á có rất nhiều cố gắng đưa ra các chương trình phát triển nông thôn để phát triển kinh tế và ổn định xã hội Các vùng nông thôn được đầu tư cơ sở hạ tầng, mạng lưới đường giao thông phát triển, dịch vụ công cộng được nâng cao, đời sống nhân dân được cải thiện Tuy vậy, chưa có nước nào đạt được mục tiêu cuối cùng là xoá bỏ đói nghèo, nâng chất lượng sống ở vùng nông thôn ngang với đô thị Do vậy, mỗi nước cần phải tìm ra một mô hình phát triển nông thôn phù hợp với điều kiện
cụ thể của mình
1.3 Tổng quan về phát triển khu dân cư ở Việt Nam
1.3.1 Thực trạng phân bố dân cư ở Việt Nam trong những năm gần đây
Tổng số dân Việt Nam đến ngày 01 tháng 4 năm 2012 là 88.772,9 người với sai số 0,3% Như vậy, Việt Nam là nước đông dân thứ 3 ở Đông Nam Á ( sau Philippin và singapore) và đứng thứ 13 trong số những nước đông dân nhất thế giới
Dân số tăng nhanh, đặc biệt vào cuối thế kỉ XX, đã dẫn đến hiện tượng bùng nổ dân số, nhưng khác nhau giữa các thời kì Mức tăng dân số hiện nay có
Trang 28về dân số nhanh đã tạo nên sức ép lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội đất nước, bảo vệ tài nguyên Do đó, thực trạng phân bố dân cư ở Việt Nam hiện nay có những đặc điểm sau:
a) Phân bố dân cư không đều giữa các vùng và các tỉnh trong cả nước
Quy mô dân số là 88.772.900 người được phân bố trên sáu vùng kinh tế -
xã hội của đất nước Vùng đông dân nhất là Đồng bằng sông Hồng (20.236.700 người), tiếp đến là Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (19.173.600 người)
và Đồng bằng sông Cửu Long (17.390.500 người) Vùng có số dân ít nhất là Tây Nguyên, gồm 5 tỉnh với dân số là 5.397.600 người
Số liệu cho thấy, dân số Việt Nam phân bố không đều và có sự khác biệt lớn theo vùng Hai vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long là châu thổ của hai sông lớn, nơi có đất đai màu mỡ và điều kiện canh tác nông nghiệp thuận lợi, có đến 42,39% dân số của cả nước sinh sống Ngược lại, hai vùng Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, là những vùng núi cao điều kiện đi lại khó khăn và là nơi các dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu, chỉ chiếm dưới một phần năm (gần 19%) dân số của cả nước
Dân số Việt Nam cũng phân bố giữa các tỉnh, đặc biệt dân cư tập trung ở các đô thị lớn: đông nhất là ở TP Hồ Chí Minh (3666 người/km2), tiếp đến là
Hà Nội (2059 người/km2), thứ ba là Bắc Ninh (1313 người/km2)
Qua các năm, dưới tác động của kinh tế thị trường, dân số và lao động
đã có sự phân bố lại trên quy mô rộng và với cường độ mạnh mẽ trong phạm vi
cả nước (Chi tiết xem ở phụ lục 01)
b) Phân bố dân cư không đồng dều giữa thành thị và nông thôn
Theo số liệu của Tổng cụ Thống kê năm 2012, trong tổng dân số của cả nước, thì 28.371.818 người cư trú ở khu vực thành thị và 85.953.718 người cư trú tại khu vực nông thôn Đến năm 2012 đã có 31,94% dân số sống ở khu vực thành thị tăng 1,32 lần so với năm 2000 (Khu vực thành thị 24,12%) và tăng 1,15 lần so với năm 2006 (Khu vực thành thị 27,66%) Như vậy, nhưng năm gần đây đang có xu hướng di dân mạnh từ nông thôn ra thành thị, tuy nhiên sự
di dân tự phát này sẽ nảy sinh nhiều vấn đề bất cập về nhà ở, vệ sinh và môi trường
Trang 29c) Phân bố dân cư không đồng đều giữa đồng bằng và miền núi
Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2012, ở đồng bằng tập trung khoảng 75% dân số cả nước Trong lýc diện tích hẹp (chỉ chiếm ¼ diện tích lãnh thổ Trong khi đó, ở vùng trung du và miền núi với diện tích rộng lớn chiếm ¾ diện tích lãnh thổ, tài nguyên phong phú, nhưng dân số chỉ chiếm 25% dân số cả nước, mật độ dân số thấp hơn nhiều so với cùng đồng bằng: Tây Nguyên 95 người/km2, trung du và miền núi phía Bắc 117 người/km2
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phân bố dân cư ở nước ta
a) Điều kiện tự nhiên
Những vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi như khí hậu ôn hòa, đất đai phì nhiêu, địa hình bằng phẳng,…thì dân cư tập trung đông đúc Vùng Đồng bằng sông Hồng là khu vực có tiềm năng phát triển sản xuất, chính từ điều kiện
tự nhiên thuận lợi mà nơi đây có mật độ dân cư đông nhất cả nước, có các đô thị lớn: Hà Nội, Hải Phòng…Đồng bằng sông Hồng là vùng có đông dân cư nhất (20236,7 nghìn người) Điều kiện tự nhiên của vùng miền núi Tây Bắc thiếu thuận lợi cho quá trình sinh sống và sản xuất của dân cư Chính vì thế, đây là vùng có mật độ dân cư thấp trong cả nước (11400,2 nghìn người)
b) Lịch sử khai thác lãnh thổ
Những vùng có lịch sử khai thác lâu đời thì dân cư tập trung đông Đồng bằng sông hồng ở nước ta đươc hình thành sớm và lâu đời trong lịch sử nên mật đô dân cư đông nhất so với các khu vực khác trên cả nước
c) Điều kiện kinh tế - xã hội
Những vùng có nền kinh tế - xã hội phát triển mạnh thì thường thu hút dân cư tập trung đông Như ở nước ta, các đô thị lớn, phát triển lớn mạnh về kinh tế - xã hội thì mật độ dân cư rất cao Nhìn vào Thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, ta có thể thấy đây là 2 đô thị tập trung dân cư đông nhất cả nước Theo số liệu thống kê năm 2012, mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 2.059,0 người/km2, của thành phố Hồ Chí Minh là 3.666,0 người/km2 Trong khi đó, 1 số tỉnh lại có mật độ dân số rất thưa thớt chẳng hạn như: Lai Châu (44 người/km2), Bắc Kạn (62 người/km2), Kon Tum (48 người/km2),
Trang 30vực, các tỉnh thành trong cả nước Dân số tập trung đông nhất ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… là do yếu tố kinh tế - xã hội tác động, Hà Nội là thành phố đã trải qua nghìn năm tuổi, là trung tâm văn hóa của
cả nước, đây cũng là nơi có nền kinh tế phát triển bậc nhất cả nước Thành phố
Hồ Chí Minh cũng vậy, là đô thị lớn nhất cả nước, có nền kinh tế phát triển, cở
sở vật chất hiện đại Tại các thành phố, đô thị lớn thường tập trung nhiều khu công nghiệp, tạo việc làm và thu nhập cao cho người lao động Chính vì thế nơi đây tập trung rất nhiều dân cư sinh sống
Trong 3 nhân tố trên thì nhân tố điều kiện kinh tế - xã hội có tác động
lớn nhất đến sự phân bố dân cư ở Việt Nam
1.3.3 Mục tiêu và xu hướng phát triển mạng lưới dân cư
1.3.3.1 Mục tiêu phát triển cơ cấu dân cư
Mục tiêu phát triển dân cư trên toàn bộ lãnh thổ hay vùng là hình thành một mạng lưới các điểm dân cư hài hoà thống nhất với nhau, tương xứng tỷ lệ trong quy mô và cân bằng trong phát triển, nhằm giải quyết các vấn đề sau đây:
- Đáp ứng yêu cầu tổ chức và phát triển sản xuất các ngành nghề kinh tế;
- Thoả mãn tốt nhu cầu của nhân dân về việc làm, nhà ở, giao tiếp cũng như các nhu cầu về vật chất, văn hoá tinh thần và nghỉ ngơi giải trí;
- Đáp ứng những yêu cầu tạo lập hài hoà và phong phú, đa dạng cảnh quan và bảo vệ môi trường;
- Đáp ứng yêu cầu về phòng hộ, an toàn và an ninh xã hội;
- Tiết kiệm đất đai xây dựng, hạn chế sử dụng đất nông nghiệp [1]
1.3.3.2 Xu hướng phát triển mạng lưới dân cư
Nhìn chung có hai xu hướng chính trong phát triển mạng lưới dân cư là tập trung hoá các điểm dân cư và trung tâm hoá các cụm, các tổ hợp dân cư
- Tập trung hoá cơ cấu cư dân là giảm bớt số lượng các điểm dân cư quá nhỏ, để tăng quy mô các điểm dân cư, tạo thuận lợi cho tổ chức phát triển sản xuất, tổ chức mạng lưới cơ sở hạ tầng và có điều kiện nâng cao điều kiện sống
và lao động của nhân dân [1]
- Trung tâm hoá cơ cấu cư dân là hình thành và phát triển một mạng lưới trung tâm cụm dân cư Đó là mạng lưới các đô thị: đô thị lớn, trung bình trên
Trang 31các vùng lớn, các đô thị vừa và nhỏ ở các vùng nông thôn Phân bố và phát triển mạng lưới các trung tâm cụm dân cư (trung tâm vùng và tiểu vùng, trung tâm cụm xã) sẽ góp phần xoá bỏ dần những khác biệt cơ bản về điều kiện sống
và lao động của nhân dân giữa nông thôn và đô thị, giữa các vùng lãnh thổ khác nhau của đất nước thông qua một mạng lưới giao thông thuận lợi nối liền các trung tâm này với nhau và vùng ngoại thành với trung tâm [1]
Mạng lưới các điểm dân cư của các vùng, các đô thị và nông thôn hiện nay tuy có khác nhau song trong tương lai cần phải được bố cục và phát triển theo hướng sau:
+ Các đô thị lớn và trung bình đều có ý nghĩa nổi trội trong mạng lưới dân
cư của trung tâm quốc gia hay vùng Vùng ảnh hưởng của các đô thị này khá rộng lớn chúng cần phải đảm bảo cho nhân dân trong vùng có điều kiện sống tốt Trong tương lai cần phải phát triển mở rộng sản xuất công nghiệp trong phạm vi có thể tăng dần về lao động
+ Các đô thị vừa và nhỏ trong tương lai cần được phát triển cả về chất lượng và số lượng Các đô thị này cần được tăng cường phát triển sản xuất công nghiệp - dịch vụ, hoàn thiện và mở rộng hệ thống cơ sở hạ tầng, phát triển dân số và lao động thu hút từ nông thôn để chúng không những là các trung tâm chính trị mà còn là các trung tâm kinh tế - xã hội, văn hoá, tinh thần cuộc sống cộng đồng của dân cư Các đô thị này sẽ góp phần giảm bớt sự tăng dân
số quá tải của các đô thị lớn đồng thời kích thích sự phát triển của công nghiệp hoá và đô thị hoá
+ Các làng lớn sẽ phát triển thành các điểm sản xuất công nông nghiệp (thị tứ) chúng là các trung tâm của xã hoặc liên xã và là các điểm tập trung các giải pháp và đầu tư và nâng cao điều kiện sống và lao động của người dân nông thôn, giảm bớt sự cách biệt còn tồn tại giữa nông thôn và thành thị
+ Các làng nhỏ trong tương vẫn còn là nơi ở, nơi sản xuất, nghỉ ngơi của người dân nông thôn và là một thành viên của cơ cấu dân cư Việc quy hoạch
và nâng cao hiệu quả các điều kiện sống và lao động cho nhân nhân trong các làng nhỏ này chỉ có thể thực hiện được và đảm bảo trong phạm vi của các đơn
Trang 32+ Các xóm, ấp là các điểm dân cư có quy mô quá nhỏ Điều kiện sống
và lao động thấp kém, không đáp ứng được nhu cầu của người dân, phân bố tản mạn, manh mún và không có cơ hội phát triển Các điểm dân cư này trong quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá cần phải xoá bỏ, sát nhập vào các điểm dân
cư lớn hơn [1]
1.3.4 Một số định hướng phát triển điểm dân cư
1.3.4.1.Những quy định về hướng phát triển hệ thống điểm dân cư
a Quy định về định mức sử dụng đất
Định mức sử dụng đất là cơ sở quan trọng để nhà nước lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất nói chung và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất KDC nói riêng
- Tại Điều 6 Nghị định số 04/CP ngày 11/02/2000 thì hạn mức giao đất cho hộ gia đình cá nhân tại KDC nông thôn do UBND cấp tỉnh quyết định theo quy định sau:
+ Các xã đồng bằng không quá 300 m2
+ Các xã trung du miền núi, hải đảo không quá 400 m2
- Tại Điều 86 Luật Đất đai năm 2003 “Đất sử dụng để chỉnh trang, phát triển đô thị và KDC nông thôn” đã quy định: Việc sử dụng đất để chỉnh trang, phát triển đô thị, KDC nông thôn phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được xét duyệt và các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành [20]
- Theo công văn số 5763/BTNMT-ĐKTK ngày 25/12/2006 của Bộ Tài Nguyên Môi Trường về việc hướng dẫn định mức sử dụng đất áp dụng trong công tác lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã hướng dẫn áp dụng định mức cho 10 loại đất: Đất y tế, đất văn hoá, đất giáo dục, đất thể thao, đất thương nghiệp dịch vụ, đất giao thông vận tải, đất thuỷ lợi, đất công nghiệp, đất đô thị, đất KDC nông thôn
b Định hướng phát triển nhà ở
Theo Quyết định số 76/2004/QĐ - TTg ngày 6/5/2004 của Thủ Tướng Chính phủ đã phê duyệt định hướng phát triển nhà ở đến năm 2020 như sau:
Trang 33- Nhà ở đô thị:
Khuyến khích phát triển nhà ở căn hộ chung cư cao tầng một cách hợp
lý phù hợp với điều kiện cụ thể của từng đô thị để góp phần tăng nhanh quỹ nhà ở, tiết kiệm đất đai, tạo diện mạo và cuộc sống văn minh đô thị theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Nhà ở đô thị phải được xây dựng phù hợp với quy hoạch, quy chuẩn, tiêu chuẩn và các quy định về quản lý đầu tư và xây dựng nhà ở do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành; hình thành các tiểu khu nhà ở, khu dân cư tập trung vừa và nhỏ, phân bố hợp lý, không tập trung dân cư quá đông vào các thành phố lớn
Bình quân 15m2 sàn/người vào năm 2010 và phấn đấu đạt 20m2sàn/người vào năm 2020 [6]
- Nhà ở nông thôn
Phấn đấu để từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng chỗ ở của các
hộ dân cư nông thôn Phát triển nhà ở nông thôn gắn với việc phát triển và nâng cấp hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội
Phát triển nhà ở nông thôn phải đảm bảo phù hợp với điều kiện sản xuất, đặc điểm tự nhiên và tập quán sinh hoạt của từng vùng, sử dụng có hiệu quả quỹ đất sẵn có và khuyến khích phát triển nhà nhiều tầng để tiết kiệm đất, hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp sang đất ở
Khuyến khích huy động nội lực của hộ gia đình, cá nhân khu vực nông thôn tự cải thiện chỗ ở kết hợp với sự giúp đỡ hỗ trợ của cộng đồng, dòng họ, các thành phần kinh tế
Phấn đấu đến năm 2020 hoàn thành chương trình hỗ trợ cải thiện nhà ở đối với các hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số và các hộ thuộc diện chính sách Phấn đấu hoàn thành việc xoá bỏ nhà ở tạm (tranh, tre, nứa, lá) tại các khu vực nông thôn vào năm 2020 Diện tích nhà ở bình quân tính theo đầu người đạt 14 m2 sàn/người, nhà ở nông thôn có công trình phục vụ sinh hoạt và sản xuất dịch vụ phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường
2
Trang 34các điểm dân cư nông thôn đều có hệ thống cấp, thoát nước đảm bảo tiêu chuẩn quy định [6]
c Định hướng phát triển kiến trúc cảnh quan
Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong những năm trước mắt là tiếp tục ưu tiên đầu tư phát triển nông thôn Đến năm 2020 để 100% số xã có trường cấp 1, 2 và trạm y tế Phấn đấu để 100% xã có đường ô tô đến được trung tâm xã, tổ chức lại các khu dân cư nông thôn, hầu hết các hộ đều có điện, nước để dùng để đời sống xã hội ở nông thôn trở nên an ninh, văn minh và ổn định
Theo định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam đến năm 2020 [21]:
- Phát triển kiến trúc tại các làng, xã có liên quan trực tiếp với cơ cấu quy hoạch chung của các đô thị phải được dựa trên quy hoạch chi tiết xây dựng, có sự tham gia của dân cư và cộng đồng; cần lưu ý giữ lại di sản kiến trúc, thiên nhiên của làng, xã; bổ sung những chức năng còn thiếu, kết hợp hiện đại hoá kết cấu hạ tầng Công trình mới được tạo lập phải tuân thủ các quy định
về quản lý kiến trúc và quy hoạch đô thị
- Hình thành tổng thể kiến trúc tại các thị tứ, trung tâm xã, cụm xã trên
cơ sở tuân thủ các quy định của quy hoạch xây dựng; khuyến khích phát triển các công trình xây dựng ít tầng, mái dốc, kế thừa hình thức kiến trúc truyền thống, gắn bó hài hoà với khung cảnh thiên nhiên, phù hợp với điều kiện khí hậu của địa phương
- Kiến trúc làng mạc cần được thực hiện theo quy hoạch từ tổng thể đến khuôn viên ngôi nhà của từng gia đình Xây dựng nông thôn đồng bộ về kiến trúc lẫn hạ tầng kỹ thuật đảm bảo môi trường sinh thái và phát triển bền vững Phát triển không gian kiến trúc nông thôn cần phù hợp với sự phát triển kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp, chăn nuôi, phát triển nghề truyền thống, kinh tế du lịch, văn hoá
Trong những năm tới kiến trúc nông thôn được hình thành và phát triển theo 3 hướng sau:
- Hướng hoà nhập vào không gian đô thị: xu hướng này diễn ra cùng với quá trình phát triển và mở rộng không gian đô thị ra các vùng ngoại ô, làm cho
Trang 35một số khu dân cư bị mất đi, một số khác được sắp xếp lại, số còn lại được bảo tồn trong cơ cấu quy hoạch đô thị để trở thành một bộ phận cấu thành đô thị
- Hướng phát triển kiến trúc gắn với việc hình thành các thị trấn, thị tứ giữ vai trò là trung tâm xã, cụm xã: Các thị trấn, thị tứ gắn với vùng nông nghiệp trước khi xây dựng đều phải lập quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết
- Hướng cải tạo, chỉnh trang và phát triển kiến trúc tại các làng xã: Việc phát triển kiến trúc tại các làng, xã thuộc các vùng nông nghiệp cần lưu ý bảo tồn được các truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán riêng bệt của từng địa phương
1.3.4.2 Một số chương trình phát triển nông thôn trong thời kỳ đổi mới
Trong những năm qua, việc phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta luôn nhận được sự quan tâm to lớn của Đảng và Nhà nước, nhiều chương trình phát triển
đã được thực hiện, tập trung vào hỗ trợ thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn
* Chương trình phát triển nông thôn mới cấp xã
Kể từ năm 2001, Ban Kinh tế Trung ương cùng với Bộ NN & PTNT, các
Bộ, Ngành và địa phương đã bắt đầu triển khai xây dựng mô hình điểm “Phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hợp tác hoá, dân chủ hóa” tại các vùng sinh thái Chương trình phát triển nông thôn đã được triển khai tại 14
xã điểm của Bộ NN & PTNT (tăng lên 18 xã trong năm 2004) và khoảng 200 xã điểm của các địa phương [20]
Chương trình phát triển nông thôn cấp xã bao gồm 5 nội dung cơ bản:
- Phát triển kinh tế hàng hóa với một cơ chế phù hợp, khai thác được lợi thế của địa phương, có thị trường tiêu thụ
- Phát triển cơ sở hạ tầng phù hợp với nền nông nghiệp hàng hóa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá
- Xây dựng khu dân cư văn minh
- Tăng cường công tác y tế, văn hoá, giáo dục trong nông thôn và xây dựng đội ngũ cán bộ
- Tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, phát huy vai trò của cán bộ
tổ chức quần chúng, thực hiện tập trung dân chủ [20]
Trang 36lộ một số tồn tại:
- Một số xã đã quá chú trọng đến đầu tư xây dựng cơ bản mà chưa quan tâm đúng mức đến phát triển sản xuất Có mô hình còn quá thiên về nông nghiệp, chưa có đầu tư thoả đáng vào phát triển ngành nghề, công nghiệp nông thôn, dịch vụ và các vấn đề văn hóa - xã hội Đa số các dự án còn dàn trải chưa làm nổi bật được các trọng tâm để tập trung triển khai thực hiện
- Quy hoạch phát triển các xã điểm chưa thực sự phù hợp do quá chú trọng đến dự án đầu tư, đòi hỏi số vốn đầu tư lên đến hàng chục tỷ đồng Do vậy hầu hết các bản quy hoạch thiếu tính khả thi, không thực tế, không phản ánh đúng nhu cầu thiết thực của người dân
Ngoài ra, còn có một số vấn đề tồn tại khác như khả năng huy động vốn,
tổ chức quản lý và thực hiện chương trình,… vì vậy làm ảnh hưởng tới sự thành công của chương trình [20]
* Các chương trình khác
Bên cạnh đó, một số chương trình, dự án mang tính phát triển nông thôn, như dự án ngành cơ sở hạ tầng nông thôn, Chương trình 135 hay Chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói, giảm nghèo và việc làm Những chương trình dự
án này đã góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn của vùng dự án, kinh tế nông thôn phát triển, cơ sở hạ tầng được ưu tiên đầu tư, đời sống dân cư được cải thiện, điều kiện ở, đi lại, học tập, chăm sóc sức khoẻ được quan tâm đúng mức [20]
Chương trình lớn về Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn của Chính phủ được UNICEF tài trợ đã hoạt động từ hơn 10 năm nay ở hầu hết các tỉnh là một đóng góp quan trọng cho sự phát triển của lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn Hàng trăm ngàn giếng nước bơm tay UNICEF và các nhà vệ sinh đã được xây dựng, đồng thời người dân đã tự đầu tư xây dựng số lượng công trình cấp nước sạch và vệ sinh lớn hơn 2 - 3 lần số lượng công trình do chương trình UNICEF tài trợ, đã cải thiện một cách đáng kể điều kiện cấp nước sạch và vệ sinh cho các vùng nông thôn Tuy nhiên, tổng đầu tư của cả Nhà nước và nhân dân cho Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn còn rất nhỏ bé so với yêu cầu cải thiện điều kiện Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn ở nước ta
Tuy nhiên, những chương trình hay dự án này hoặc mới chỉ giải quyết
Trang 37một số khía cạnh riêng rẽ hoặc nhằm mục tiêu xoá đói, giảm nghèo cho những vùng đặc biệt khó khăn, vùng nghèo mà chưa mang tính toàn diện, tổng thể nhằm tạo ra một phong trào phát triển nông thôn mang tính sâu rộng, bền vững
có khả năng nhân rộng trên phạm vi cả nước [20]
Ngày 16/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg quy định Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Căn cứ Quyết định số 491/QĐ-TTg, ngày 21/8/2009, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành Thông tư số: 54/2009/TT-BNN&PTNT hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20 tháng 02 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ Đây là các văn bản quan trọng của Đảng và nhà nước mang tầm nhìn chiến lược để phát triển toàn diện nông thôn nước ta, nhằm mục đích tạo sự cân đối trong quá trình phát triển giữa nông thôn và thành thị Sau một năm thực hiện Quyết định của Thủ tướng, phong trào xây dựng nông thôn mới đã được triển khai sâu rộng tại tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước
1.4 Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển khu dân cư và những quy định của Nhà nước về quản lý, quy hoạch xây dựng phát triển hệ thống điểm dân cư, nhiều nhà khoa học đã có những nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực này
Bộ Xây Dựng đã có nhiều đồ án quy hoạch cải tạo phát triển các điểm dân cư trên địa bàn vùng huyện trong xu hướng cải tạo từng bước các điểm dân cư nông thôn, các chòm xóm nhỏ được gộp lại tạo thành các điểm dân cư tương đối lớn, tập trung, thuận tiện cho việc xây dựng các công trình công cộng phúc lợi, khoảng 600 dân (200 hộ)
Mô hình “nhà ở và lô đất gia đình vùng nội đồng” đã triển khai ở xã Đại Áng - huyện Thanh Trì - Hà Nội, mô hình giải quyết 2 vấn đề: Tiết kiệm và tận dụng đất đai có hiệu quả, cải thiện điều kiện vệ sinh ở gia đình và thôn xóm Bên cạnh đó còn một số dự án về quy hoạch dân cư nông thôn nước ta
đó là:
+ Quy hoạch huyện Đông Hưng - Thái Bình: Trong phương án quy
Trang 38hoạch này, từ 1400 điểm dân cư trên toàn huyện được tổ chức lại còn khoảng
100 điểm, tổ chức thành 7 cụm xã, ở đó xây dựng trạm trại kho tàng, xây dựng các công trình hạ tầng… kiến trúc không gian ở được xây dựng hợp lý phù hợp tạo điều kiện cho phát triển dân cư trên địa bàn
+ Quy hoạch sản xuất và xây dựng huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An (1997): Theo đồ án này, toàn bộ 360 điểm dân cư sẽ được bố trí gọn lại còn 54 điểm có quy mô từ 1000 – 5000 người, cứ 2 đến 3 điểm dân cư đủ dân số để xây dựng một trung tâm các công trình văn hoá phục vụ công cộng như: nhà trẻ, trường học, thư viện, nhà văn hoá… nhằm phục vụ tốt nhất cho đời sống nhân dân Năm 2008 có đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của PGS.TS.Vũ Thị Bình-Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội thực hiện tại huyện Chí Linh - tỉnh Hải Dương Đề tài đã xây mạng lưới dân cư huyện Chí Linh đồng thời xây dựng 2 mô hình quy hoạch chi tiết trung tâm xã
Dựa trên các tiêu chí phân loại điểm dân cư nông thôn của Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) năm 2000 nhiều nhà khoa học đã đánh giá thực trạng, phân loại và định hướng phát triển hệ thống điểm dân cư như: Công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Hạnh trên địa bàn huyện Thường Tín - Hà Nội, Nguyễn Danh Hùng trên địa bàn huyện Từ Sơn - Bắc Ninh, Cù Ngọc Thọ trên địa bàn huyện Gia Lâm - Hà Nội,
Nhìn chung, những nghiên cứu ứng dụng này đã có ý nghĩa rất lớn trong quy hoạch mạng lưới dân cư của mỗi địa phương Tuy nhiên tính khả thi của các đồ án này còn chưa cao, quy hoạch vẫn ở tầm khái quát, phần lớn chưa có quy hoạch chi tiết cho từng điểm dân cư Do vậy, các điểm dân cư được bố trí vẫn manh mún, phân tán, chưa hợp lý, chưa đồng bộ, công tác xây dựng kiến trúc cảnh quan khu dân cư phát triển một cách tự phát có những hạng mục không theo quy hoạch gây khó khăn cho việc bố trí các công trình công cộng phục vụ cho các khu dân cư
Trang 39CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tiến hành trên địa bàn huyện Bảo Thắng - tỉnh Lào Cai
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề có liên quan đến phát triển
hệ thống điểm dân cư trên địa bàn huyện Bảo Thắng
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Bảo Thắng
- Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn
- Các nguồn tài nguyên: Tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nhân văn
- Cảnh quan môi trường
- Thực trạng phát triển kinh tế xã hội:
+ Kinh tế: Tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xu hướng phát triển
+ Xã hội: Dân số, lao động, việc làm, thu nhập và mức sống dân cư + Thực trạng phát triển văn hóa - xã hội
- Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và cảnh quan môi trường tác động đến phát triển hệ thống điểm dân cư
2.2.2 Thực trạng hệ thống điểm dân cư trên địa bàn huyện Bảo Thắng
- Tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện
- Thực trạng khu dân cư và tình hình sử dụng đất
- Phân loại hệ thống điểm dân cư
- Thực trạng kiến trúc cảnh quan trong xây dựng và phát triển điểm dân cư
2.2.3 Đánh giá thực trạng hệ thống điểm dân cư theo tiêu chí nông thôn mới
- Đánh giá theo bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới
- Đánh giá ưu nhược điểm và những tồn tại trong quá trình xây dựng và phát triển hệ thống điểm dân cư
Trang 402.2.4 Định hướng phát triển mạng lưới dân cư huyện Bảo Thắng theo hướng xây dựng nông thôn mới
- Các tiền đề và dự báo nhu cầu phát triển hệ thống điểm dân cư
- Định hướng phát triển mạng lưới dân cư đến năm 2020:
+ Nhu cầu sử dụng đất trong tương lai,
+ Định hướng phát triển mạng lưới điểm dân cư,
+ Định hướng phát triển cơ sở hạ tầng trong điểm dân cư
- Xác định các giải pháp thực hiện
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
Đây là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong quá trình thực hiện đề tài Tôi đã tiến hành thu thập các thông tin, tư liệu có liên quan đến vấn đề thực trạng và định hướng quy hoạch mạng lưới khu dân cư trên địa bàn huyện vv
- Nguồn số liệu thứ cấp: Thu thập tư liệu, số liệu có sẵn từ các cơ quan
nhà nước, các sở, các phòng ban, UBND 12 xac và thị trấn trên địa bàn huyện, các thư viện, trung tâm nghiên cứu Một số tài liệu cần thu thập: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất của huyện và các xã, niên giám thống kê trong 10 năm gần đây của huyện, báo cáo quy hoạch sử dụng đất của huyện, tình hình phân bố dân cư, lao động trên địa bàn huyện, các văn bản pháp luật có liên quan đến tình hình sử dụng đất khu dân cư; các văn bản pháp luật, báo cáo, tài liệu có liên quan đến việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện
- Nguồn số liệu sơ cấp: Nguồn số liệu sơ cấp được thu thập bằng
phương pháp khảo sát thực địa, tổng hợp quan sát cảnh quan từ tất cả 264 tổ dân phố, thôn, bản trong huyện Bảo Thắng
Mục đích của phương pháp này là thu thập các tiêu chí từ các điểm dân
+ Thực trạng cơ sở hạ tầng của khu dân cư: giao thông, hạ tầng nhà ở, hệ thống điện, hạ tầng xã hội,