Cần phải có các công trình nghiên cứu khoa học, đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, nhằm phát hiện ra các yếu tố tích cực và hạn chế, từ đó làm cơ sở để định h
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN THẾ CƯỜNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN THẾ CƯỜNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 60.85.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THỊ VÒNG
HÀ NỘI, NĂM 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thế Cường
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được nội dung này, tôi đã nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ rất tận tình của PGS.TS Nguyễn Thị Vòng, sự giúp đỡ, động viên của các thầy cô giáo trong khoa Quản lý đất đai, Ban Quản lý đào tạo Sau đại học Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Vòng và những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo trong khoa Quản lý đất đai Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Thống kê, chính quyền các xã cùng nhân dân huyện Văn Yên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và các bạn đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thế Cường
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Yêu cầu của đề tài 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
1.1 Những lý luận cơ bản về sử dụng đất nông nghiệp 3
1.1.1 Khái niệm về đất và đất nông nghiệp 3
1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất nông nghiệp 3
1.1.3 Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất 4
1.1.4 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững 5
1.1.5 Sơ lược về vấn đề sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 7
1.2 Những vấn đề về hiệu quả và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 10
1.2.1 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất 10
1.2.2 Đặc điểm, phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 14
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 16
1.3.1 Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên 16
1.3.2 Nhóm các yếu tố kỹ thuật canh tác 17
1.3.3 Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức 17
1.3.4 Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội 18
1.4 Những nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 20
1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới 20
Trang 61.4.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 22
1.4.3 Những nghiên cứu ở tỉnh Yên Bái và huyện Văn Yên 22
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 24
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 24
2.2 Nội dung nghiên cứu 24
2.2.1 Đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện Văn Yên 24
2.2.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và các loại hình sử dụng đất của huyện Văn Yên 24
2.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của một số loại hình sử dụng đất chính của huyện 24
2.2.4 Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái theo hướng phát triển bền vững đến năm 2020 25
2.3 Phương pháp nghiên cứu 25
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 25
2.3.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu, tài liệu 26
2.3.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu, tài liệu 26
2.3.4 Phương pháp tính hiệu quả sử dụng đất 26
3.3.5 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia 28
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 29
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 29
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 33
3.1.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 38
3.1.4 Hiện trạng phát triển cơ sở hạ tầng 41
3.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và các loại hình sử dụng đất của huyện Văn Yên 46
Trang 73.2.1 Hiện trạng sử dụng đất đai của huyện 46
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 46
3.2.3 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 47
3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của một số loại hình sử dụng đất chính của huyện 50
3.3.1 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất 50
3.3.2 Hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất 59
3.3.3 Hiệu quả môi trường của các loại hình sử dụng đất 65
3.3.4 Đánh giá tổng hợp các loại hình sử dụng đất 69
3.4 Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Văn Yên đến năm 2020 72
3.4.1 Nguyên tắc lựa chọn các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 72
3.4.2 Quan điểm sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Văn Yên 72
3.4.3 Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện Văn Yên đến năm 2020 73
3.4.4 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
1 Kết luận 82
2 Kiến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHẦN PHỤ LỤC 86
Phụ lục 1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Văn Yên năm 2013 86
Phụ lục 2 Giá một số mặt hàng và giá thuê lao động năm 2014 87
Phụ lục 3: Tổng hợp ý kiến đánh giá của người dân về một số yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất 88
Phụ luc 4 Kết quả điều tra nông hộ về hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng 89
Phụ lục 5: Thời vụ gieo trồng một số cây trồng 90 MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA HUYỆN VĂN YÊN 91
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình phát triển ngành trồng trọt của huyện qua một số năm 36
Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Văn Yên năm 2013 47
Bảng 3.3 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất và kiểu sử dụng đất chính của huyện Văn Yên năm 2013 48
Bảng 3.4 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 1 51
Bảng 3.5 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 2 53
Bảng 3.6 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 3 56
Bảng 3.7 Mức đầu tư lao động và thu nhập bình quân trên ngày công lao động của các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 1 tính trên 1 ha 60
Bảng 3.8 Mức đầu tư lao động và thu nhập bình quân trên ngày công lao động của các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 2 tính trên 1 ha 61
Bảng 3.9 Mức đầu tư lao động và thu nhập bình quân trên ngày công lao động của các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 3 tính trên 1 ha 62
Bảng 3.10 Định hướng sử dụng đất cho các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của tiểu vùng 1 đến năm 2020 74
Bảng 3.11 Định hướng sử dụng đất cho các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của tiểu vùng 2 đến năm 2020 75
Bảng 3.12 Định hướng sử dụng đất cho các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của tiểu vùng 3 đến năm 2020 76
Bảng 3.13 Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Văn Yên đến năm 2020 77
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 So sánh cơ cấu kinh tế của huyện năm 2012 và năm 2013 34 Hình 3.2 Cơ cấu lao động phân theo các ngành kinh tế năm 2013 40 Hình 3.3 Cơ cấu sử dụng đất huyện Văn Yên năm 2013 78 Hình 3.4 So sánh diện tích đất sản xuất nông nghiệp của huyện trước và
sau khi định hướng 78
Trang 10GTGT/LĐ Giá trị gia tăng trên ngày công lao động
UNDP Chương trình hỗ trợ phát triển của Liên Hiệp Quốc
WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khai thác tiềm năng đất đai sao cho đạt hiệu quả cao nhất là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết, đảm bảo cho sự phát triển của sản xuất nông nghiệp cũng như của sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước Cần phải có các công trình nghiên cứu khoa học, đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, nhằm phát hiện ra các yếu tố tích cực và hạn chế, từ đó làm cơ sở để định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp, thiết lập các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
Đứng trước vấn đề trên việc sử dụng đất sản xuất nông nghiệp hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả kinh tế cao trên quan điểm bền vững là vấn đề quan trọng mà các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển cũng như Việt Nam đang quan tâm
Văn Yên là một huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh Yên Bái, hiện nay đang trong quá trình đô thị hoá đã làm cho diện tích đất dùng trong sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm đi Hơn nữa trong quá trình sử dụng đất, huyện chưa chú trọng đúng mức việc sử dụng đất đai mà chỉ quan tâm tới năng suất, sản lượng cây trồng do đó
hệ sinh thái nông nghiệp đã bị thay đổi đáng kể và tính bền vững trong hệ thống nông nghiệp không được duy trì Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến nguy cơ làm suy thoái đất đai đặc biệt là ở các vùng sản xuất chuyên canh trên đất dốc Vì vậy,
để giúp huyện Văn Yên có hướng đi đúng trong phát triển nền kinh tế nông nghiệp, giúp người dân lựa chọn được loại hình sử dụng đất phù hợp trong điều kiện cụ thể của huyện, nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển nền nông nghiệp bền vững là rất cần thiết
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái”
Trang 122 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Văn Yên làm
cơ sở định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trong tương lai góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và nâng cao mức thu nhập cho người dân
3 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đầy đủ và chính xác, các chỉ tiêu phải đảm bảo tính thống nhất, hệ thống và chính xác
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất theo các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường
- Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo quan điểm bền vững, có hiệu quả cao trong điều kiện huyện Văn Yên
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Những lý luận cơ bản về sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1 K hái ni ệm về đất và đất nông nghiệp
Đất đã có từ lâu nhưng khái niệm về đất mới có từ thế kỷ XVIII Trong từng lĩnh vực khác nhau, các nhà khoa học khái niệm về đất khác nhau
Nhà bác học người Nga Đocutraiep (1897) đưa ra định nghĩa: “Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất đó là: sinh vật, đá mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian” Sau này người ta bổ sung thêm yếu tố thứ sáu là con người
Theo Vũ Thị Bình (1995), quan điểm sinh thái đất được định nghĩa: Đất là vật mang của hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nông nghiệp
Theo FAO (1976), quan điểm của đánh giá đất thì đất đai được định nghĩa là một vùng đất mà đặc tính của nó được xem như bao gồm các đặc trưng tự nhiên quyết định đến khả năng khai thác được hay không mà ở mức độ nào của vùng đó Thuộc tính của đất bao gồm khí hậu, thổ nhưỡng, lớp địa chất bên dưới, thuỷ văn, động vật, thực vật và những tác động trong quá khứ cũng như hiện tại của con người
Theo Luật Đất đai (2013), đất nông nghiệp được chia ra làm các nhóm đất chính sau: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác
1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất nông nghiệp
Đất đai đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất Các Mác đã nhấn mạnh “Đất là mẹ, sức lao động là cha sản sinh ra của cải vật chất” Luật đất đai (1993) cũng đã khẳng định “Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở y tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng” Trong sản xuất nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng cơ bản và đặc biệt với những đặc điểm riêng như sau:
Theo Cao Liêm và ctv (1992) “ Đất đai vừa là đối tượng lao động vừa là tư
Trang 14liệu lao động trong quá trình sản xuất Đất đai là đối tượng lao động bởi lẽ nó là nơi
để con người thực hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm Bên cạnh đó, đất đai còn là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất thông qua việc con người đã biết lợi dụng một cách ý thức các đặc tính tự nhiên của đất như lý học, hoá học, sinh vật học và các tính chất khác để tác động và giúp cây trồng tạo nên sản phẩm”
Prabhul Pingali (1991) “Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp nếu biết sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của đất đai sẽ ngày càng tăng lên”
Nguyễn Viết Phổ và cs (1996) “Đất đai là tài nguyên bị hạn chế bởi ranh giới đất liền và bề mặt địa lục” Đặc biệt là đất đai nông nghiệp, sự giới hạn về diện tích đất còn thể hiện ở khả năng có hạn về khai hoang tăng vụ trong từng điều kiện cụ thể Do vậy trong quá trình sử dụng đất cần hết sức quý trọng và tiết kiệm thì mới
có thể đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất đai ngày càng tăng của xã hội
Như vậy: trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế được Nhưng diện tích đất đai lại có hạn, bên cạnh đó sự gia tăng dân số cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa làm cho diện tích đất đang ngày càng giảm đặc biệt là đất sản xuất nông nghiệp Mặt khác hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu đã ảnh hưởng lớn đến diện tích, năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp Vì vậy sử dụng đất đai một cách hợp lý là một trong những điều kiện
để phát triển kinh tế - xã hội bền vững
1.1.3 S ự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Hiệu quả sử dụng phải là kết quả của quá trình sử dụng đất Kết quả ở đây được hiểu là kết quả hữu ích, là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được hiểu bằng những chỉ tiêu do tích chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết quả đó được tạo
ra như thế nào, chi phí bỏ ra là bao nhiêu, có đưa lại kết quả hữu ích hay không Chính vì thế, khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng công tác hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó
Trang 15Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Sử dụng đất sản xuất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia và quá trình sản xuất nông nghiệp
1.1.4 Nguyên t ắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững
1.1.4.1 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn, trong khi nhu cầu của con người về các sản phẩm lấy từ đất ngày càng tăng Mặt khác, đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp
do bị trưng dụng sang các mục đích khác Vì vậy, mục tiêu sử dụng đất nông nghiệp
ở nước ta là nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu
Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất trên cơ sở cân nhắc các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững tài nguyên đất đai Do đó, đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ, hợp lý và hiệu quả”, mặt khác phải có các quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể làm cơ sở thực hiện, sử dụng có hiệu quả kinh tế xã hội cao
1.1.4.2 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững
Nông nghiệp bền vững được Bill Mollison và David Holingren (Australia) phát triển vào những năm 70 của thế kỷ này nhằm khắc phục nạn ô nhiễm đất, nước không khí bởi hệ thống nông nghiệp và công nghiệp cùng với sự mất mát của các loài động thực vật, suy giảm các tài nguyên thiên nhiên không tái sinh Vấn đề nông nghiệp bền vững là vấn đề thời sự được nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực quan tâm Đi cùng với vấn đề phát triển nông nghiệp là sử dụng đất bền vững
Lựa chọn các loại hình sử dụng đất dựa trên cơ sở 5 nguyên tắc “đánh giá quản lý đất đai bền vững” của FAO đó là:
Trang 16+ Duy trì, nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất);
+ Giảm thiểu mức rủi ro trong sản xuất;
+ Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, ngăn chặn sự thoái hoá đất và nước;
+ Có hiệu quả lâu bền;
+ Được xã hội chấp nhận
Năm nguyên tắc trên là cốt lõi của việc sử dụng đất đai bền vững Nếu sử dụng đất đai đảm bảo các nguyên tắc trên thì đất được bảo vệ cho phát triển nông nghiệp bền vững
Hiện nay, nhân loại đang phải đương đầu với nhiều vấn đề hết sức phức tạp
và khó khăn, sự bùng nổ dân số, nạn ô nhiễm suy thoái môi trường, mất cân bằng sinh thái… Nhiều nước trên thế giới đã phát triển nông nghiệp theo hướng quan điểm nông nghiệp bền vững
Nông nghiệp bền vững là tiền đề và điều kiện cho định cư lâu dài Một trong những cơ sở quan trọng nhất của nông nghiệp bền vững là thiết lập được các hệ thống
sử dụng đất hợp lý Vấn đề này được Altieri và Susanna B.H.1990 (KKU,1992) cho rằng: nền tảng của nông nghiệp bền vững là chế độ đa canh cây trồng với các lợi thế
cơ bản là: tăng sản lượng, tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm tác hại của sâu bệnh và cỏ dại, giảm nguy cơ rủi ro… Quan điểm đa canh và đa dạng hoá nhằm nâng cao sản lượng và tính ổn định này được Ngân hàng thế giới đặc biệt khuyến khích các nước nghèo
Phát triển nông nghiệp bền vững sẽ vừa đáp ứng nhu cầu của hiện tại, vừa đảm bảo được nhu cầu của các thế hệ tương lai Một quan điểm khác lại cho rằng: Phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn sự thay đổi về tổ chức và
kỹ thuật nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cả hiện tại
và mai sau Để phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta, cần nắm vững mục tiêu
về tác dụng lâu dài của từng mô hình, để duy trì và phát triển đa dạng sinh học
Để đánh giá tính bền vững trong sử dụng đất cần dựa vào 3 tiêu chí sau:
* Bền vững kinh tế:
Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, thị trường chấp nhận
Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình
Trang 17quân vùng có điều kiện đất đai Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, hạt, củ, quả và tàn dư để lại) Một hệ bền vững phải
có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong
Thu hút được lao động, đảm bảo đời sống và phát triển xã hội
Đáp ứng nhu cầu của nông hộ là điều quan tâm trước, nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi trường ) Sản phẩm thu được cần thỏa mãn cái
ăn cái mặc và nhu cầu sống hàng ngày của người nông dân Nội lực và nguồn lực của địa phương phải được phát huy Về đất đai, hệ thống sử dụng đất phải được tổ chức trên đất mà nông dân có quyền hưởng thụ lâu dài, đất đã được giao, rừng đã được khoán với lợi ích các bên cụ thể
Sử dụng đất bền vững nếu phù hợp với nền văn hóa của dân tộc và tập quán của địa phương, nếu ngược lại sẽ không được cộng đồng ủng hộ
* Bền vững về môi trường
Loại hình sử dụng đất phải được bảo vệ độ màu mỡ của đất, ngăn chặn thái hóa đất và bảo vệ môi trường sinh thái Giữ đất được thể hiện bằng giảm thiểu lượng đất mất hàng năm dưới mức cho phép
Độ phì nhiêu đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với quản lý sử dụng đất bền vững
Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)
Tóm lại: Sử dụng đất nông nghiệp bền vững là phải đảm bảo khả năng sản xuất ổn định của cây trồng, chất lượng tài nguyên đất không suy giảm theo thời gian
và việc sử dụng đất không ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người, của các sinh vật
1.1.5 S ơ lược về vấn đề sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
Trang 181.1.5.1 Sơ lược về vấn đề sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Hiện nay trên thế giới, xu thế phát triển chung của các nước là hướng tới một nền kinh tế mà sản xuất công nghiệp là chủ đạo Tuy nhiên, ngành sản xuất nông nghiệp vẫn giữ một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của tất cả các nước Do vậy sản xuất nông nghiệp luôn được duy trì và phát triển Sản xuất nông nghiệp tạo
ra lương thực, thực phẩm để nuôi sống con người và đồng thời cũng là nguồn thu nhập đáng kể của các nước đang phát triển và kém phát triển Mức độ sử dụng đất
có thể trồng trọt được ở các khu vực trên thế giới cũng rất khác nhau tùy thuộc vào
điều kiện đất đai, khí hậu, điều kiện kinh tế - xã hội ở mỗi khu vực
Từ những năm 1980, Hiệp hội quốc tế các tổ chức bảo vệ thiên nhiên và tài nguyên môi trường (IUCN), tổ chức FAO và chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đã khởi xướng chương trình toàn cầu về bảo vệ môi trường nhằm mục tiêu duy trì các nguồn gen, bảo vệ sử dụng hợp lý và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo được Thế giới đang trải qua “thập kỷ nhận thức về môi trường” (1971 - 1981) và “thập kỷ hành động” (1981 - 1991) Bảo
vệ môi trường trở thành chiến lược toàn cầu và chiến lược của mỗi quốc gia Mục tiêu của con người trong quá trình sử dụng đất là sử dụng khoa học và hợp lý Trong thực tế do quá trình sử dụng lâu dài, nhận thức về sử dụng đất còn hạn chế dẫn tới nhiều vùng đất đai đang bị thoái hóa, ảnh hưởng tới môi trường sống của con người Những diện tích đất đai thích hợp cho sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp,
do đó con người phải mở mang thêm diện tích đất canh tác trên các vùng không thích hợp Hậu quả đã gây ra quá trình thoái hóa rửa trôi và phá hoại đất một cách nghiêm trọng
Trên thế giới tổng diện tích đất tự nhiên là 148 triệu km2 Những loại đất tốt thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 12,6% Những loại đất quá xấu chiếm 40,5% Diện tích đất trồng trọt chỉ chiếm 10% tổng diện tích đất tự nhiên Đất đai thế giới phân bố không đều giữa các châu lục và các nước (châu Mỹ chiếm 35%, châu Á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6%) Diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm liên tục về số lượng và chất lượng Ước tính có tới 15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hóa do những
hành động của con người gây ra
Trang 19Theo Nguyễn Đình Bồng (1995), hiện nay trên thế giới có khoảng 3,3 tỷ ha
đất sản xuất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỷ ha; còn lại phần đa là
đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn Qui mô đất sản xuất nông
nghiệp được phân bố như sau: châu Mỹ chiếm 35%, châu Á chiếm 26%, châu Âu
chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6% Bình quân đất sản
xuất nông nghiệp trên đầu người trên toàn thế giới là 12.000m2, trong đó ở Mỹ
20.000m2, ở Bungari 7.000m2, ở Nhật Bản 650m2 Theo báocáo của UNDP năm
1995 ở khu vực Đông Nam Á bình quân đất canh tác trên đầu người của các nước
như sau: Indonesia 0,12 ha; Malaysia 0,27 ha; Philipin 0,13 ha; Thái Lan 0,42 ha;
Việt Nam 0,1 ha
Báo cáo của Viện tài nguyên thế giới cho thấy gần 20% diện tích đất đai
châu Á bị suy thoái do những hoạt động của con người Hoạt động sản xuất nông
nghiệp là một nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất thông qua quá trình thâm
canh tăng vụ đã phá hủy cấu trúc đất, xói mòn và suy kiệt dinh dưỡng
Để đảm bảo đủ dinh dưỡng, đất không bị suy thoái thì N, P là hai yếu tố cần
phải được bổ sung thường xuyên Trong quá trình sử dụng đất do chưa tìm được các
loại hình sử dụng đất hợp lý hoặc chưa có công thức luân canh hợp lý cũng gây ra
hiện tượng thoái hóa đất như vùng đất dốc mà trồng cây lương thực, đất có dinh
dưỡng kém lại không luân canh với cây họ đậu Bên cạnh đó sự suy thoái đất còn
liên quan đến điều kiện kinh tế - xã hội của vùng Trong điều kiện nền kinh tế kém
phát triển, người dân đã tập trung chủ yếu vào trồng cây lương thực như vậy gây ra
hiện tượng xói mòn, suy thoái đất Điều kiện kinh tế và sự hiểu biết của con người
còn thấp dẫn đến việc sử dụng phân bón hạn chế và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
quá nhiều gây ảnh hưởng tới môi trường
1.1.5.2 Sơ lược về vấn đề sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Đặng Văn Minh (2005): Tổng quỹ đất của Việt Nam là gần 33 tiệu ha, đứng
thứ 58 so với các nước trên thế giới và đứng thứ 4 ở Đông Nam Á Nhưng dân số lại
đứng thứ 2 trong khu vực, dẫn tới diện tích đất bình quân trên đầu người đứng thứ 9
trong khu vực Theo số liệu thông kê ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
của Nhà xuất bản Nông nghiệp năm 2002 thì năm 2000 diện tích đất sản xuất nông
nghiệp của Việt Nam là 9.345.346 ha, diện tích đất trồng cây hàng năm là 6.129.518
Trang 20ha, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người là 803 m2
Ngày 26 tháng 8 năm 2008, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định số 1682/QĐ - BTNMT công bố diện tích đất đai của cả nước tính tới ngày 01 tháng 01 năm 2008 Theo đó tổng diện tích tự nhiên là 33,12 triệu ha, trong
đó đất sản xuất nông nghiệp có 24,99 triệu ha So với 10 nước trong khu vực Đông Nam Á, tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam đứng thứ 2 nhưng bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người của Việt Nam đứng vị trí thứ 9 trong khu vực Diện tích đất canh tác là 10.805,9 ha Bình quân diện tích đất canh tác đạt 1.300,4 m2/người Chủ trương của Nhà nước là giao đất sản xuất nông nghiệp ổn định lâu dài, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và cho phép người sử dụng đất có các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, đã được quy định trong Luật đất đai năm và cụ thể hoá trong Nghị định của Chính phủ về việc giao đất sản xuất nông nghiệp cho hộ gia đình cá nhân ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp với phương châm công bằng xã hội, bằng cách chia đều ruộng đất tính trên một khẩu cho các gia đình, cùng với các chính sách khuyến nông vào sự đầu tư cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật cho nông nghiệp trong thời gian qua
đã có sự tiến bộ đáng kể, phù hợp với quy luật của nền kinh tế thị trường Các nhóm cây trồng một vụ có hiệu quả kinh tế thấp đã dần được thay thế bằng các cơ cấu cây trồng luân canh 2 đến 3 vụ/năm và các cây lâu năm có tốc độ che phủ rộng, hiệu quả kinh tế cao, hệ số sử dụng đất tăng hơn so với các thời kỳ trước
Ở Việt Nam, do nhận thức và hiểu biết về đất đai của nhiều người còn hạn chế, đã lạm dụng và khai thác không hợp lý tiềm năng của chúng dẫn đến nhiều diện tích bị thoái hoá, làm mất đi từng phần hoặc toàn bộ tính năng sản xuất, làm cho nhiều loại đất vốn rất màu mỡ lúc ban đầu, nhưng sau một thời gian canh tác đã trở thành những loại đất "có vấn đề" và muốn sử dụng có hiệu quả cần phải đầu tư
để cải tạo, bảo vệ tốn kém và trong trường hợp xấu phải bỏ hoá
1.2 Những vấn đề về hiệu quả và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1 K hái quát v ề hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả Khi nhận thức của con người còn hạn chế, người ta thường quan niệm kết quả chính là hiệu quả Sau này, khi nhận thức của con người phát triển cao hơn, người ta thấy rõ sự khác nhau giữa hiệu
Trang 21quả và kết quả Nói một cách chung nhất thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của công việc mang lại
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi hướng tới; nó có những nội dung khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản
xuất ra trong một đơn vị thời gian
Kết quả, mà là kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết quả
đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì vậy khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà phải đánh giá chất lượng hoạt động tạo ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung của đánh giá hiệu quả
Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử dụng đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế Thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền, đồng thời
về mặt xã hội là thể hiện hiệu quả của lực lượng lao động được sử dụng trong cả quá trình hoạt động kinh tế cũng như hàng năm để khai thác đất Riêng đối với ngành nông nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng nông sản thu hoạch được, nhất là các loại nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu…) để đảm bảo sự ổn định về kinh tế - xã hội đất nước
Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp
tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây
Trang 22trồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn của nông dân - những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp
1.2.1.1 Hiệu quả kinh tế
Theo Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian, lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Theo các nhà khoa học kinh tế Samuel – Nordhuas “Hiệu quả là không lãng phí” Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau, Rusteruyer, Simmerman) hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích cho xã hội
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau Vì thế, hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:
- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”;
- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệ thống;
- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi ích của con người
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được
là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt đối
và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp
ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội"
Trang 231.2.1.2 Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội
và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất Theo Nguyễn Duy Tính (1995), hiệu quả về mặt xã hội của sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
Hiệu quả xã hội được thể hiện thông qua mức thu hút lao động, thu nhập của nhân dân Hiệu quả xã hội cao góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, phát huy được nguồn lực của địa phương, nâng cao mức sống của nhân dân Sử dụng đất phải phù hợp với tập quán, truyền thống văn hoá của địa phương thì việc sử dụng đất bền vững hơn
1.2.1.3 Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: loại hình sử dụng đất phải bảo
vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)
đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài
Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo chiều hướng khác nhau Cây trồng phát triển tốt khi phù hợp với đặc tính, tính chất của đất Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt động sản xuất, phương thức quản lý của con người, hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường
Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: hiệu quả hoá học, hiệu quả vật lý và hiệu quả sinh học môi trường
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá thông qua mức độ sử dụng các chất hoá học trong nông nghiệp Đó là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất cho cây trồng sinh trưởng tốt Cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trường
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại trong các loại hình sử dụng đất nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được
Trang 24mục tiêu đề ra
Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào
1.2.2 Đặc điểm, phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
+ Trên đất nông nghiệp có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân canh,
do đó cần phải đánh giá hiệu quả từng loại cây trồng, từng công thức luân canh
+ Thâm canh là biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu, tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước mắt và lâu dài Vì thế, cần phải nghiên cứu hậu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nghiên cứu ảnh hưởng của việc tăng đầu tư thâm canh đến quá trình sử dụng đất
+ Phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp được khi con người biết làm cho môi trường cùng phát triển Do đó, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp đến môi trường xung quanh
+ Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội khác như giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí…
1.2.2.2 Nguyên tắc lựa chọn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải dựa trên những nguyên tắc cụ thể:
Trang 25+ Hệ thống các chỉ tiêu phải có tính thống nhất, toàn diện và tính hệ thống Các chỉ tiêu phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có thang bậc
+ Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu cơ bản biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn theo quan điểm và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu cơ bản làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn
+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp
ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu
+ Hệ thống các chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn, tính khoa học và phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển
1.2.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
* Hiệu quả kinh tế
+ Hiệu quả kinh tế được tính trên 1 ha đất nông nghiệp
- Giá trị sản xuất (GTSX): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm)
- Chi phí trung gian (CPTG): là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào, chi phí thuê lao động và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất
- Giá trị gia tăng (GTGT): là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian, là giá trị sản phẩm xã hội tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó
GTGT = GTSX - CPTG + Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG, GTGT/CPTG): đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ
+ Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, gồm có (GTSX/LĐ, GTGT/LĐ) Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu
sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao động
Trang 26* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Theo Hội Khoa học đất Việt Nam (2000), hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu sau:
+ Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân;
+ Đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng;
+ Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân;
+ Góp phần định canh định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật
+ Tăng cường sản phẩm hàng hoá, đặc biệt là hàng hoá xuất khẩu
* Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường
Theo Đỗ Nguyên Hải (1999), chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất bền vững ở vùng nông nghiệp được tưới là:
+ Quản lý đối với đất đai rừng đầu nguồn;
+ Đánh giá các tài nguyên nước bền vững;
+ Đánh giá quản lý đất đai;
+ Đánh giá hệ thống cây trồng;
+ Đánh giá về tính bền vững đối với việc duy trì độ phì nhiêu của đất và bảo
vệ cây trồng;
+ Đánh giá về quản lý và bảo vệ tự nhiên;
+ Sự thích hợp của môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất
Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng, nó đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong thời gian dài Vì vậy, đề tài nghiên cứu của chúng tôi chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả môi trường thông qua kết quả điều tra về việc đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và ý kiến nhận xét của nông dân đối với các loại hình sử dụng đất hiện tại
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.3.1 Nhóm y ếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết ) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Bởi vì, các yếu tố của điều kiện tự nhiên là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên để trên cơ sở đó xác định cây trồng, vật nuôi chủ lực phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng
Trang 27Theo Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I Theo N.Borlang - người được giải Nobel về giải quyết lương thực cho các nước phát triển cho rằng: yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây trồng ở tầm cỡ thế giới của các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phì của đất
Và sản xuất nông nghiệp được coi là ngành kinh doanh năng lượng ánh sáng mặt trời dựa trên các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khác
Điều kiện về đất đai, khí hậu thời tiết có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, các hộ nông dân có thể lợi dụng những yếu tố đầu vào không kinh tế thuận lợi để tạo ra nông sản hàng hoá với giá rẻ
1.3.2 Nhóm các y ếu tố kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi, nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Đây là những vấn đề thể hiện sự hiểu biết về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh của người sản xuất Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt được các mục tiêu đề ra là cơ sở để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá Theo Frank Ellis và Douglass C.North, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh dựa trên việc chuyển đổi
sử dụng đất Cho đến giữa thế kỷ 21, trong nông nghiệp nước ta, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.3.3 Nhóm các y ếu tố kinh tế tổ chức
+ Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất
Phát triển sản xuất hàng hoá gắn với công tác quy hoạch và phân vùng sinh thái nông nghiệp Cơ sở để tiến hành quy hoạch dựa vào điều kiện tự nhiên, kinh tế
- xã hội đặc trưng cho từng vùng Việc phát triển sản xuất nông nghiệp phải đánh
Trang 28giá, phân tích thị trường tiêu thụ và gắn với quy hoạch công nghiệp chế biến Đó sẽ
là cơ sở để phát triển sản xuất, khai thác các tiềm năng của đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển sản xuất hàng hoá
+ Hình thức tổ chức sản xuất: các hình thức tổ chức sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Vì vậy, cần phải thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất, kinh doanh phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa sản xuất, dịch vụ và tiêu thụ nông sản hàng hoá Tổ chức có tác động lớn đến hàng hoá của hộ nông dân là: tổ chức dịch vụ đầu vào và đầu ra
+ Dịch vụ kỹ thuật: sản xuất hàng hoá của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất Vì sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển đòi hỏi phải không ngừng nâng cao chất lượng và hạ giá thành nông sản
1.3.4 Nhóm các y ếu tố kinh tế - xã hội
Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá cũng giống như ngành sản xuất vật chất khác của xã hội, nó chịu sự chi phối của quy luật cung cầu, chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố đầu vào, quy mô các nguồn lực như: đất, lao động, vốn sản xuất, thị trường, kiến thức và kinh nghiệm trong sản xuất và tiêu thụ nông sản
+ Thị trường là nhân tố quan trọng, dựa vào nhu cầu của thị trường nông dân lựa chọn hàng hoá để sản xuất Theo Nguyễn Duy Tính (1995), ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất và thị trường cung ứng đầu vào và tiêu thụ đầu ra Trong cơ chế thị trường, các nông hộ hoàn toàn tự do lựa chọn hàng hoá họ có khả năng sản xuất, đồng thời họ có xu hướng hợp tác, liên doanh, liên kết để sản xuất ra những nông sản hàng hoá mà nhu cầu thị trường cần với chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng Muốn mở rộng thị trường phải phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin, dự báo, mở rộng các dịch vụ tư vấn Đồng thời, quy hoạch các vùng trọng điểm sản xuất hàng hoá để người sản xuất biết nên sản xuất cái gì? bán ở đâu? mua tư liệu sản xuất và áp dụng khoa học công nghệ gì? Sản
Trang 29phẩm hàng hoá của Việt Nam đa dạng, phong phú về chủng loại, chất lượng, giá
rẻ và đang được lưu thông trên thị trường là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có hiệu quả
+ Hệ thống chính sách về đất đai, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, hỗ trợ có ảnh hưởng lớn đến sản xuất hàng hoá của nông dân Đó là công cụ để nhà nước can thiệp vào sản xuất nhằm khuyến khích hoặc hạn chế sản xuất các loại nông sản hàng hoá
Sau hơn hai mươi năm Việt Nam đã thực hiện chính sách đổi mới trong nông nghiệp tập trung vào trọng tâm: làm rõ và giao cho nông dân nhiều quyền đối với ruộng đất; tự do hóa thương mại trong nước và xuất nhập khẩu; giao quyền quyết định sản xuất cho nông dân; đổi mới các hợp tác xã, doanh nghiệp nhà nước, khuyến khích kinh tế tư nhân Đồng thời nhà nước tăng đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp tín dụng, chuyển giao khoa học công nghệ Những chính sách mới
đã khuyến khích mạnh mẽ nhân dân đầu tư vào phát triển sản xuất Nông nghiệp Việt Nam đã phát triển nhanh, liên tục trong thời kỳ thực hiện chính sách đổi mới
Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực triền miên trong vài thập kỷ, nay đã xuất khẩu được trên 4 triệu tấn gạo hàng hoá đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo Nền nông nghiệp từng bước chuyển từ sản xuất tự cung, tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hóa đa dạng, hướng ra xuất khẩu
Chính sách đất đai của nước ta đã được thể hiện trong Hiến pháp, Luật Đất đai năm 1993, 1998 sửa đổi 2003, hệ thống các văn bản dưới luật có liên quan đến khai thác và sử dụng đất đai được quy định một cách thích hợp cho những đối tượng, những vùng khác nhau; các Nghị định của Chính phủ về phương pháp tính thuế sử dụng đất và khung giá của các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi
Luật Đất đai số ngày 29/11/2013 và Nghị định số 43/2013/NĐ –CP ngày 15/5/2013 của chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật đất đai ra đời là căn cứ pháp lý quan trong trong việc quản lý, sử dụng đất Đặc biệt trong việc quy định về chuyển đổi mục đích sử dụng đất lúa, đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng
Trang 30Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng tới việc phát triển ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá Do vậy, nhiều chính sách thúc đẩy nền kinh tế quốc dân như: Chương trình 327 “phủ xanh đất trống đồi núi trọc”, Chính sách xoá đói giảm nghèo, chính sách 773 về “khai thác mặt nước hoang, bãi chiều ven sông biển”, Chính sách dồn điền, đổi thửa
+ Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển nông nghiệp của Nhà nước Cùng với những kinh nghiệm, tập quán sản xuất nông nghiệp, trình độ năng lực của các chủ thể kinh doanh, là những động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hàng hoá
Trong quá trình nông nghiệp chuyển mạnh sang nền kinh tế hàng hoá hội nhập quốc tế thì nguồn động lực quan trọng trước hết vẫn là những lợi ích chính đáng của nông dân được bảo vệ bằng các chính sách đã ban hành, đồng thời tiếp tục hoàn thiện, xây dựng các chính sách mới
1.4 Những nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.4.1 Các nghiên c ứu trên thế giới
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài là vấn đề quan trọng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu vào việc đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loại đất,
để từ đó sắp xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so sánh của vùng
Hàng năm các viện nghiên cứu nông nghiệp trên thế giới cũng đã đưa ra nhiều giống cây trồng mới, những kiểu sử dụng đất mới, giúp cho việc tạo thành một số hình thức sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả cao hơn Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồng trên đất lúa
Nói chung về việc sử dụng đất đai, các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng: đối các vùng nhiệt đới có thể thực hiện các công thức luân canh cây trồng hàng năm, có thể chuyển từ chế độ canh tác cũ sang chế độ canh tác mới tiến bộ
Trang 31hơn, mang kết quả và hiệu quả cao hơn Tạp chí “Farming Japan” của Nhật Bản
ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất đai cho người dân, nhất là ở nông thôn
Tại Thái Lan nhiều vùng trong điều kiện thiếu nước, từ sử dụng đất thông qua công thức luân canh lúa xuân - lúa mùa hiệu quả thấp vì chi phí tưới nước quá lớn và độc canh cây lúa làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng đất đã đưa cây đậu tương thay thế lúa xuân trong công thức luân canh Kết quả là giá trị sản lượng tăng lên đáng kể, hiệu quả kinh tế được nâng cao, độ phì nhiêu của đất được tăng lên rõ rệt Nhờ đó hiệu quả sử dụng đất được nâng cao
Kinh nghiệm của Trung Quốc, việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế - xã hội nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai ổn định, chế độ sở hữu giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất Thực hiện chủ trương “ly nông bất ly hương” đã thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn một cách toàn diện và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Ở Thái Lan, Uỷ ban chính sách Quốc gia đã có nhiều quy chế mới ngoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không thích hợp trên từng loại đất nhằm quản lý việc sử dụng và bảo vệ đất tốt
Tại Philippin tình hình nghiên cứu sử dụng đất dốc được thực hiện bằng kỹ thuật canh tác SALT
SALT là hệ thống canh tác trồng nhiều băng cây thay đổi giữa cây lâu năm
và cây hàng năm theo đường đồng mức Cây lâu năm chính là cây ca cao, cà phê, chuối, chanh và các loại cây ăn quả
Một số chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển nông nghiệp quan trọng nhất là đầu tư vào sản xuất nông nghiệp Theo Vũ Thị Phương Thuỵ (2000), ở Mỹ tổng số tiền trợ cấp là 66,2 tỉ USD, chiếm 28,3% trong thu nhập của nông nghiệp, Canada tương ứng là 5,7 tỉ và 39,1 %, Austraylia 1,7 tỉ và 14,5 %, Nhật Bản 42,3 tỉ
và 69,8 %, cộng đồng Châu Âu 67,2 tỉ và 40,1 %, Áo là 1,6 tỉ và 69,8 %
Trang 321.4.2 Nh ững nghiên cứu ở Việt Nam
Việt Nam thuộc vùng nhiệt đới ẩm châu Á có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên quỹ đất có hạn, dân số lại đông, bình quân đất tự nhiên trên người là 0,45 ha, chỉ bằng 1/3 mức bình quân của thế giới, xếp thứ 135 trên thế giới, xếp thứ 9/10 Đông Nam Á Mặt khác, dân số lại tăng nhanh làm cho bình quân diện tích đất trên người sẽ tiếp tục giảm Tốc độ tăng dân số bình quân là 2,0% Theo dự kiến nếu tốc độ tăng dân số là 1-1,2% năm thì dân số Việt Nam sẽ là 100,8 triệu người vào năm 2015 Trong khi đó diện tích đất nông nghiệp có chiều hướng giảm nhanh do chuyển mục đích sử dụng Vì thế nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là yêu cầu cần thiết đối với Việt Nam trong những năm tới
Thực tế những năm qua chúng ta đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề về kỹ thuật và kinh tế, tổ chức trong sử dụng đất nông nghiệp, việc nghiên cứu và ứng dụng được tập trung vào các vấn đề như: lai tạo các giống cây trồng mới ngắn ngày
có năng suất cao, bố trí luân canh cây trồng phù hợp với từng loại đất, thực hiện thâm canh trên cơ sở ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Các công trình có giá trị trên phạm vi cả nước phải kể đến công trình nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất đai Việt Nam của Nguyễn Khang và Phạm Dương Ưng (1993), đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền của tác giả Trần An Phong- Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp (1995)
1.4.3 Nh ững nghiên cứu ở tỉnh Y ên Bái và huyện Văn Y ên
Tỉnh Yên Bái thuộc vùng sinh thái Tây Bắc có điều kiện thuận lợi cho phát triển một nền nông nghiệp đa canh, đa dạng hóa sản xuất và phát triển nông nghiệp hàng hóa
Trước đây, tỉnh đã tiến hành phân hạng đất để phục vụ quản lý nhà nước về đất đai: thu thuế, chỉ đạo sản xuất nông nghiệp, giao đất và thu hồi đất, dồn điền đổi thửa…, xây dựng các bản đồ đất đến cấp xã Ở cấp huyện, đã xây dựng được các loại bản đồ tỷ lệ 1: 25.000 theo chuyên đề, bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ thủy lợi, bản
đồ nông hóa, bản đồ hiện trạng sử dụng đất
Huyện Văn Yên có 26 xã và 01 thị trấn Nông nghiệp của huyện có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của huyện theo hướng công nghiệp
Trang 33hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Do tập trung áp dụng các tiến bộ khoa học
về giống, phương pháp canh tác và thực hiện chuyển đổi hệ thống cây trồng hợp lý nên nông nghiệp của huyện trong những năm qua đã đạt được những thành quả rất đáng kể Giá trị sản xuất nông nghiệp- thủy sản trên địa bàn năm 2013 đạt 4.508,22
tỷ đồng, cơ cấu nông nghiệp đã bắt đầu có sự chuyển đổi theo hướng tích cực
Kinh tế của huyện Văn Yên là kinh tế thuần nông, huyện có tiềm năng đất đai, lao động và tài nguyên thiên nhiên Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện là hết sức cần thiết nhằm phát triển nhanh hơn nền kinh tế nông nghiệp của huyện Trong thời gian tới huyện Văn Yên cần phải nghiên cứu và triển khai có hiệu quả các giải pháp đất đai phù hợp, thiết thực với điều kiện cụ thể của huyện nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất cả trước mắt và lâu dài
Trang 34CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài là quỹ đất sản xuất nông nghiệp và một số yếu tố liên quan đến quá trình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
2.1.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là đánh giá hiệu quả và định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đến năm 2020
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến sử
d ụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện Văn Y ên
- Đánh giá điều kiện tự nhiên về: Vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, địa hình, thuỷ văn
- Đánh giá điều kiện kinh tế xã hội: Tăng trưởng kinh tế, hiện trạng phát triển cơ sở hạ tầng, hiện trạng phát triển đô thị và khu dân cư nông thôn…
2.2.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và các loại hình sử dụng đất của huyện
Trang 352.2.4 Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Văn Y ên, tỉnh Y ên
Bái theo h ướng phát triển bền vững đến năm 2020
- Quan điểm sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
- Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp đến năm 2020
- Giải pháp thực hiện định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Ph ương pháp chọn điểm nghiên cứu
Dựa trên cơ sở về đặc điểm tự nhiên (địa hình, độ dốc, hệ thống thuỷ hệ,
nguồn gốc phát sinh đất, kiểu sử dụng đất, trình độ canh tác ) lãnh thổ huyện
có 3 tiểu vùng Mỗi tiểu vùng có đặc điểm sử dụng đất khác nhau Trên cơ sở phân chia tiểu vùng, tôi tiến hành chọn xã điểm đại diện để nghiên cứu Cụ thể:
- Tiểu vùng 1: Gồm 8 xã ( Phong Dụ Thượng, Phong Dụ Hạ, Xuân Tầm,
Mỏ Vàng, Nà Hẩu, Quang Minh, Viễn Sơn và Đại Sơn) đây là các xã có địa hình cao nhất của huyện, diện tích tự nhiên chủ yếu là đất rừng, diện tích đất trồng cây hàng năm rất ít, trình độ canh tác của người dân rất thấp do vậy các kiểu sử dụng đất và công thức luân canh kém đa dạng nhất trong 3 tiểu vùng Tuy nhiên đây lại là vùng có điều kiện đất đai và khí hậu thời tiết để phát triển cây quế đặc biệt các xã này tập trung nhiều người dân tộc Dao có tập quán và truyền thống trồng quế từ lâu đời Xã đại diện cho tiểu vùng 1 được chọn để tiến hành điều tra là xã Đại Sơn
- Tiểu vùng 2: Gồm 6 xã (Lang Thíp, Lâm Giang, Châu Quế Thượng, Châu Quế Hạ, An Bình, Đông An), đây là các xã có địa hình trung bình so với địa hình của huyện có diện tích lớn, đất đai bằng phẳng, lượng mưa ở mức trung bình và thấp, có tiềm năng lớn về trồng màu, cây công nghiệp hàng năm (cây mía cho nămg suất, sản lượng đường mật khá cao) Xã đại diện cho tiểu vùng 2 được chọn để tiến hành điều tra là xã Đông An
- Tiểu vùng 3: Gồm 13 xã (Yên Hưng, Yên Thái, Ngòi A, Mậu A, Mậu Đông, Đông Cuông, Hoàng Thắng, Xuân Ái, Yên Hợp, An Thịnh, Yên Phú, Đại Phác và Tân Hợp), đây là các xã vùng thấp của huyện nằm ở ven Ngòi Thia
Trang 36và sông Hồng thuộc khu vực trung tâm huyện có nguồn nước dồi dào, đất đai màu mỡ, trình độ canh tác của người dân khá cao do vậy hệ thông cây trồng và công thức luân canh đa dạng nhất trong 3 tiểu vùng Có tiềm năng lớn về thâm canh lúa và trồng màu Xã đại diện cho tiểu vùng 3 được chọn để tiến hành điều tra là xã Yên Hợp
2.3.2 Ph ương pháp điều tra, thu thập số liệu, tài liệu
- Điều tra số liệu thứ cấp: Thu thập tư liệu, số liệu có sẵn từ các cơ quan nhà nước, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Phòng Thống kê, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Trung tâm khai thác công trình thuỷ lợi huyện
- Điều tra số liệu sơ cấp: Trên cơ sở điều tra thu thập các thông tin đánh giá hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất bằng phương pháp điều tra nông thôn nhanh (RRA) và điều tra nông hộ (theo mẫu phiếu điều tra) Điều tra: 90 hộ trên 3 xã điểm, mỗi xã chọn ngẫu nghiên 30 hộ để phỏng vấn
2.3.3 Ph ương pháp tổng hợp, phân tích số liệu, tài liệu
Các số liệu thu thập được về điều kiện tự nhiên, đất đai, phân tích kinh tế của các loại hình sử dụng đất được đưa vào xử lý trên các phần mềm máy tính như Word, Excel…
2.3.4 Ph ương pháp tính hiệu quả sử dụng đất
2.3.4.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế
* Các chỉ tiêu sử dụng cho đánh giá đối với cây hàng năm: (hiệu quả tính trên 1 ha đất trồng cây hàng năm):
Để tính hiệu quả kinh tế sử dụng đất trên một ha đất của các loại hình sử dụng đất (LUT) sản xuất nông nghiệp đề tài sử dụng hệ thống các chỉ tiêu:
- Giá trị sản xuất (GTSX) là toàn bộ giá tri sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định, thường là một vụ hoặc một năm Với hệ thống cây trồng, giá trị sản xuất là giá trị của sản lượng trên một đơn vị diện tích;
- Chi phí trung gian (CPTG) là toàn bộ chi phí vật chất được tính bằng tiền tham gia vào quá trình sản xuất tạo ra hàng hóa đó;
- Giá trị gia tăng (GTGT) là hiệu số giữa GTSX và CPTG, đó chính là sản
Trang 37phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó:
GTGT = GTSX - CPTG
- Hiệu quả kinh tế tính trên ngày công lao động (LĐ), quy đổi bao gồm: GTSX/công LĐ; GTGT/công LĐ, thực chất là đánh giá kết quả lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng loại cây trồng, nhằn so sánh chi phí cơ hội của từng người lao động
Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng bằng tiền theo thời gian, giá hiện hành Các chỉ tiêu đạt giá trị càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn
* Đánh giá hiệu quả kinh tế đối với cây lâu năm:
- Giá trị sản xuất: Toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một thời kỳ
- Chi phí cố định, hệ số chiết khấu
- Chi phí sản xuất trực tiếp hàng năm
- Giá trị gia tăng trong 1 thời kỳ
- Tỷ lệ lợi ích - đầu tư thuần: Là tỷ số của giá trị hiện tại của thu nhập thuần chia cho giá trị hiện tại của vốn đầu tư ban đầu
2.3.4.2 Đánh giá hiệu quả xã hội
Đánh giá hiệu quả xã hội là chỉ tiêu khó định lượng, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi chỉ đề cập đến một số chỉ tiêu sau:
- Khả năng giải quyết việc làm thể hiện qua số công lao động cần thiết của loại hình sử dụng đất trong một chu kỳ kinh tế, mức thu hút lao động (nhu cầu sử dụng lao động, tạo ra việc làm, tăng thu nhập);
- GTSX/công LĐ/ha, GTGT/công LĐ/ha;
2.3.4.3 Đánh giá hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường cũng là một chỉ tiêu khó đánh giá về mặt định lượng Do vậy, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tôi chỉ đánh giá hai chỉ tiêu mang tính định tính có ảnh hưởng lớn đến môi trường của các loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện:
- Hệ thống luân canh cây trồng tác động đến đất đối với đất trồng cây hàng năm
Trang 38- Mức độ xói mòn, rửa trôi, độ che phủ của loại hình đất nương rấy được tưới nhờ nước trời và loại hình đất trồng cây lâu năm
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất cần kết hợp chặt chẽ giữa 3 hệ thống chỉ tiêu kinh tế, xã hội và môi trường trong một thể thống nhất Tuy nhiên, tùy từng điều kiện cụ thể mà ta có thể nhấn mạnh từng hệ thống chỉ tiêu ở mức độ khác nhau
3.3.5 Ph ương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
Tham khảo thêm ý kiến của các chuyên gia, lãnh đạo UBND các cấp (huyện, xã), chuyên viên và lãnh đạo các phòng chuyên môn, cán bộ khuyến nông xã cũng như các hộ nông dân điển hình sản xuất giỏi đề đề xuất hướng sử dụng đất và đưa ra các giải pháp thực hiện
Trang 39CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
* Toạ độ địa lý của huyện: 104o23’ đến 104o30’ độ kinh đông và từ
21o50’30” đến 22o12’ độ vĩ bắc
* Các mặt tiếp giáp:
- Phía Đông giáp huyện Lục Yên và huyện Yờn Bình
- Phía Tây giáp huyện Văn Chấn
- Phía Nam giáp huyện Trấn Yên
- Phía Bắc giáp huyện Văn Bàn, huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai
Tổng diện tích đất tự nhiên là 139.023,0 ha Huyện Văn Yên cách trung
tâm tỉnh lỵ Yên Bái 40 km về phía Bắc Toàn Huyện có 26 xã và 01 thị trấn, với
312 thôn bản
Thị trấn Mậu A là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của Huyện
Với vị trí nằm trên tuyến đường sắt Yên Bái - Lào Cai, tuyến đường tỉnh lộ Yên Bái - Khe Sang và đường sông với lợi thế này thị trấn Mậu A sẽ là động lực để phát triển kinh tế xã hội cho các vùng trong toàn Huyện
Văn Yên là huyện có vị trí địa lý tương đối thuận lợi trong việc khai thác và
sử dụng đất đối với phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, bảo vệ
tài nguyên thiên nhiên, môi trường
3.1.1.2 Địa hình
Địa hình huyện tương đối phức tạp, đồi núi liên tiếp và cao dần từ Đông
Nam lên Tây Bắc, thuộc thung lũng sông Hồng, kẹp giữa hai dãy núi Con Voi và Púng Luông; hệ thống sông ngòi dày đặc, với các kiểu địa hình khác nhau: vùng núi cao hiểm trở, vùng đồi bát úp lượn sóng nhấp nhô xen kẽ với các thung lũng
và các cánh đồng phù sa nhỏ hẹp ven sông Sự chênh lệch địa hình giữa các vùng trong huyện rất lớn, có đỉnh cao nhất là 1952m, nơi thấp nhất là 20m so với mặt nước biển
Trang 403.1.1.3 Khí hậu thời tiết
Huyện Văn Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, kết hợp với địa
hình bị chia cắt mạnh tạo nên hai tiểu vùng khí hậu:
- Vùng phía Bắc (từ Trái Hút trở lên) có độ cao trung bình 500m so với mặt
nước biển, đặc điểm vùng này ít mưa, nhiệt độ trung bình 21-230C, lượng mưa bình quân 1800 mm/năm Độ ẩm thường xuyên 80-85%, có những ngày chịu ảnh hưởng
của gió Lào
- Vùng núi phía nam (từ Trái Hút trở xuống): chịu ảnh hưởng của gió mùa
Đông Bắc, có lượng mưa lớn, bình quân từ 1800-2000 mm/năm, nhiệt độ trung bình 23-240C, độ ẩm không khí 81-86%
- Những lợi thế, hạn chế về khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp, tác động
đến đời sống dân sinh: Quá trình hình thành đất liên quan chặt chẽ với các yếu tố
khí hậu Quá trình phong hoá đất ở những vùng có khí hậu khác nhau thì hàm lượng các chất dinh dưỡng khác nhau do quá trình phân giải các chất hữu cơ có thành phần cơ giới khác nhau, quyết định đến việc trồng các loại cây thích hợp và hình
thành những vùng chuyên canh
- Nhiệt độ cao, lượng nước bốc hơi mạnh, độ ẩm thấp vào mùa khô thường gây ra
hạn hán, thiếu nước cho sinh hoạt đời sống của nhân dân và cho cây trồng vật nuôi
Vào mùa mưa, lượng mưa lớn, tập trung vào tháng 5 đến tháng 9 gây xói mòn
mạnh trên vùng đất dốc, làm giảm độ phì của đất, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, gây lũ lụt phá hoại mùa màng, nhà cửa và các công trình thuỷ lợi, gây ách tắc giao thông, khó khăn trong việc giao lưu, phát triển kinh tế
3.1.1.4 Thuỷ văn và nguồn nước
Do địa hình dốc, lượng mưa lớn và tập trung tạo cho Văn Yên một hệ thống sông, suối khá dày đặc, có tốc độ dòng chảy lớn và lưu lượng nước thay đổi theo từng mùa Mùa khô nước cạn, mùa mưa dễ gây lũ lụt
Sông Hồng chảy qua địa phận Văn Yên bắt đầu từ xã Lang Thíp chảy qua Châu Quế Thượng, Châu Quế Hạ, Lâm Giang, An Bình, Đông An, Đông Cuông,
An Thịnh, Tân Hợp, Mậu Đông, thị trấn Mậu A, Yên Thái, Yên Hưng, Yên Hợp, Xuân ái và kết thúc ở xã Hoàng Thắng Lưu lượng nước sông Hồng thường thay đổi