3.2.3 Tình hình nhiễm Tiên mao trùng do T.evansi theo mùa vụ trên đàn 3.2.4 Tình hình nhiễm Tiên mao trùng do T.evansi theo nòi giống trên 3.3 Biểu hiện lâm sàng ở trâu, bò nhiễm Tiên m
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIÊN NÔNG THÔN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và hoàn toàn chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Hà Đỗ Thọ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy cô giáo Học viện Nông nghiệp Việt Nam nói chung và các Thầy cô trong Khoa Thú Y nói riêng đã giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi xin cảm ơn PGS.TS Chu Đức Thắng – Phó bộ môn Nội – Chẩn – Dược - Độc chất, Khoa Thú Y, người Thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ tôi trong quá trình thực tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, anh em, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả
Hà Đỗ Thọ
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
T evansi Trypanosoma evansi
Trang 51.1 Sơ lược nghiên cứu Tiên mao trùng, bệnh Tiên mao trùng 3
1.6 Các nghiên cứu về côn trùng môi giới truyền bệnh Tiên mao trùng 12 1.7 Triệu chứng bệnh tiêm mao trùng do T.evansi gây ra ở trâu, bò 14
1.8.3 Các phương pháp phát hiện kháng thể Tiên mao trùng 17 1.9 Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu trâu nhiễm T.evansi 18
1.10.2 Chống côn trùng trung gian truyền bệnh Tiên mao trùng 23 1.10.3 Phòng nhiễm Tiên mao trùng cho gia súc bằng hóa dược 23
Trang 6CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG
3.2 Dịch tễ bệnh Tiên mao trùng do T.evansi trên đàn trâu, bò thuộc
3.2.1 Tỷ lệ nhiễm bệnh Tiên mao trùng do T.evansi trên đàn trâu, bò theo
3.2.2 Tình hình mắc bệnh Tiên mao trùng do T.evansi theo lứa tuổi khác
Trang 73.2.3 Tình hình nhiễm Tiên mao trùng do T.evansi theo mùa vụ trên đàn
3.2.4 Tình hình nhiễm Tiên mao trùng do T.evansi theo nòi giống trên
3.3 Biểu hiện lâm sàng ở trâu, bò nhiễm Tiên mao trùng do T.evansi 47 3.4 Sự thay đổi về thân nhiệt, tần số hô hấp, tần số tim của trâu, bò mắc
bệnh Tiên mao trùng do T.evansi trên đàn trâu, bò thuộc huyện
3.5 Một số chỉ tiêu sinh lý máu của trâu, bò mắc bệnh Tiên mao trùng
do T.evansi trên đàn trâu, bò thuộc huyện Nông Cống 52
3.6 Một số chỉ tiêu sinh hoá máu của trâu, bò mắc bệnh Tiên mao trùng
do T.evansi trên đàn trâu, bò thuộc huyện Nông Cống 59
3.7 Kết quả điều trị thử nghiệm bệnh Tiên mao trùng do T.evansi trên
Trang 83.7.1 Hiệu quả điều trị của 2 loại thuốc 64
3.7.2 Kiểm tra sự tồn tại của Tiên mao trùng do T.evansi trên đàn trâu, bò
3.7.3 Một số biến đổi về chỉ tiêu sinh lý của trâu mắc bệnh Tiên mao
trùng do T.evansi trước và sau khi dùng thuốc Trypanosoma và
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1 Sự biến động nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa và giờ nắng ở Nông
3.2 Sự biến động nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa và giờ nắng ở Nông
3.3 Tổng đàn trâu, bò của huyện Nông Cống từ năm 2009 đến năm
3.4 Tình hình nhiễm bệnh Tiên mao trùng do T.evansi trên đàn trâu, bò
3.5 Tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng do T.evansi theo các lứa tuổi trên đàn
3.6 Tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng do T.evansi theo mùa vụ trên đàn trâu,
3.7 Tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng do T.evansi theo nòi giống trên đàn
3.8 Biểu hiện lâm sàng ở trâu, bò mắc bệnh Tiên mao trùng do T.evansi
3.9 Sự thay đổi về thân nhiệt, tần số hô hấp, tần số tim của trâu, bò mắc
bệnh TMT do T.evansi trên đàn trâu, bò thuộc huyện Nông Cống 50 3.10 Một số chỉ tiêu sinh lý máu của trâu, bò mắc bệnh Tiên mao trùng
do T.evansi trên đàn trâu, bò thuộc huyện Nông Cống 53 3.11 Số lượng bạch cầu, công thức bạch cầu của trâu, bò mắc bệnh Tiên
mao trùng do T.evansi trên đàn trâu, bò thuộc huyện Nông Cống 57 3.12 Hàm lượng protein tổng số và các tiểu phần protein huyết thanh của
trâu, bò mắc bệnh Tiên mao trùng do T.evansi trên đàn trâu, bò
Trang 103.13 Hàm lượng đường huyết và độ dự kiềm trong máu trâu, bò mắc
bệnh Tiên mao trùng do T.evansi trên đàn trâu, bò thuộc huyện
3.14 Hiệu quả của 2 loại thuốc Trypanosoma và Azidin trong điều trị
bệnh Tiên mao trùng do T.evansi gây ra trên đàn trâu, bò thuộc
3.15 Sự tồn tại của Tiên mao trùng do T.evansi sau khi dùng thuốc điều
3.16 Một số chỉ tiêu sinh lý của trâu mắc bệnh Tiên mao trùng do
T.evansi trước và sau khi dùng thuốc Trypanosoma và Azidin 67 3.17 Một số chỉ tiêu sinh lý của bò mắc bệnh Tiên mao trùng do T.evansi
Trang 11DANH MỤC HÌNH
3.1 Tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng do T.evansi trên trâu, bò theo các
3.2 Tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng do T.evansi theo các lứa tuổi trên đàn
3.3 Tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng do T.evansi theo mùa vụ trên đàn trâu,
3.4 Tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng do T.evansi theo nòi giống trên đàn
3.5 Những biểu hiện lâm sàng ở trâu, bò mắc bệnh Tiên mao trùng do
T.evansi trên đàn trâu, bò thuộc huyện Nông Cống 48 3.6 Biến động một số chỉ tiêu huyết học của trâu mắc bệnh Tiên mao
trùng do T.evansi trên đàn trâu thuộc huyện Nông Cống 53 3.7 Biến động một số chỉ tiêu huyết học của bò mắc bệnh Tiên mao
trùng do T.evansi trên đàn bò thuộc huyện Nông Cống 54 3.8 Hàm lượng protein tổng số và các tiểu phần protein huyết thanh của
trâu, bò mắc bệnh Tiên mao trùng do T.evansi trên đàn trâu, bò
3.9 Hàm lượng đường huyết và độ dự kiềm trong máu trâu, bò mắc
bệnh Tiên mao trùng do T.evansi trên đàn trâu, bò thuộc huyện
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Nông Cống là huyện đồng bằng tiếp giáp với các huyện miền núi, trung
du của Tỉnh Thanh Hóa và huyện có diện tích rộng, có điều kiện về khí hậu, đất đai, kinh tế xã hội, phong tục tập quán có những đặc điểm riêng so với các vùng khác Đặc biệt là việc ứng dụng, tiếp thu khoa học kỹ thuật còn hạn chế Huyện Nông Cống có ít khu công nghiệp, dân cư ở đây chủ yếu là thuần nông làm ruộng
và chăn nuôi phát triển trâu, bò Chăn nuôi trâu, bò ngoài việc cung cấp sức kéo, phân bón thì còn là nguồn cung cấp thực phẩm chất lượng cao phục vụ tiêu dùng
của người dân
Đề phát triển ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi trâu, bò nói riêng thì ngoài công tác chọn giống có phẩm chất tốt, năng suất cao thì công tác phòng chống dịch bệnh cho gia súc là hết sức quan trọng và quyết định đến hiệu quả chăn nuôi
Song song với quá trình phát triển mạnh mẽ của ngành chăn nuôi trong thời gian vừa qua thì quá trình diễn biến của bệnh cũng hết sức nguy hiểm và gây nhiều tác động đến ngành chăn nuôi Ngoài các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm thì các bệnh ký sinh trùng cũng gây ra nhiều thiệt hại tới ngành chăn nuôi nói chung
và chăn nuôi trâu, bò nói riêng Chúng làm giảm khả năng sinh trưởng, phát triển, giảm chất lượng thực phẩm, giảm sức cầy kéo, giảm sản lượng sữa…
Bệnh do ký sinh trùng gây ra thì mang tính chất âm thầm, dai dẳng, mạn tính không nhanh dó đó nhiều địa phương còn chủ quan chưa quan tâm đúng mức tới việc phòng bệnh do ký sinh trùng gây ra bằng các bệnh khác Nếu bệnh nặng có thể làm con vật chết, vì vậy làm giảm năng suất chăn nuôi và tổn thất về kinh tế và điều đặc biệt nguy hiểm khác là những ký sinh trùng này có thể truyền lây và gây bệnh cho người
Với tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì nhiều bệnh do vi trùng và siêu vi trùng đã có vắc xin phòng bệnh Còn các bệnh ký sinh trùng đến nay vẫn chưa có
Trang 13vắc xin phòng bệnh nên bệnh xảy ra rất phổ biến và gây thiệt hại kinh tế lớn cho
ngành chăn nuôi
Ở nước ta, bệnh ký sinh trùng đường máu được phát hiện ở một số các vùng
sinh thái khác nhau: miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển Một trong những bệnh
phổ biến là bệnh Tiên mao trùng trâu, bò Đây là bệnh ký sinh trùng do loài
Trypanosoma evansi gây ra
Xuất phát từ thực tế trên và nhằm góp phần vào sự hiểu biết các bệnh về ký sinh
trùng ở trâu, bò chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình bệnh Tiên
mao trùng do Trypanosoma evansi của trâu, bò tại Nông Cống - Thanh Hóa và
biện pháp điều trị”
2 Mục tiêu của đề tài
Đề tài được nghiên cứu tại các vùng khí hậu khác nhau của huyện Nông
Cống Trên cơ sở kết quả lấy mẫu máu, huyết thanh của trâu, bò bằng các
phương pháp chẩn đoán xét nghiệm nhằm xác định được:
- Tỷ lệ nhiễm Trypanosoma evansi ở trâu, bò tại Nông Cống, tỷ lệ nhiễm
Trypanosoma evansi theo các lứa tuổi, các vùng địa lý, giống và mùa vụ
- Những biểu hiện lâm sàng của trâu, bò mắc bệnh
- Sự biến đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa trâu, bò nhiễm và không nhiễm
tiên mao trùng
- Đưa ra biện pháp điều trị bệnh Tiên mao trùng do T.evansi gây ra trên đàn
trâu, bò hiệu quả tại Nông Cống - Thanh Hóa
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược nghiên cứu Tiên mao trùng, bệnh Tiên mao trùng
Bệnh Tiên mao trùng là bệnh chung cho nhiều gia súc, trong đó có loài nhai lại, động vật hoang dã bệnh tiêm mao trùng phổ biến gây hại cho trâu,
bò, ngựa do một loài tiên mao trùng là Trypanosoma evansi gây ra
Theo Phạm Sỹ Lăng (1982), đã có nhiều nhà khoa học có công tìm ra Tiên
mao trùng như năm 1837, Donne phát hiện một loài Trychomonas trong ruột người, năm 1841 Vanletin tìm ra con trùng roi (Trypanosoma) đầu tiên trong
máu một loài cá Sau đó nhiều loài Tiên mao trùng khác đã được phát hiện trong
máu nhiều loài động vật, trong các loài được phát hiện thì loài T.evansi ký sinh,
gây bệnh cho động vật đóng vai trò đặc biệt quan trọng
Gruby (1843) đã phát hiện thấy con Tiên mao trùng trong máu ếch, đặt tên
là Eryganosoma sanguinis Tiếp sau đó nhiều loài Tiên mao trùng khác thuộc giống Trypanosoma Gruby lần lượt được phát hiện ký sinh, gây bệnh cho động
vật có vú và người:
Evans (1880), đã tìm thấy Tiên mao trùng gây bệnh trong máu la, ngựa, lạc
đà ở bang Punjab, Ấn Độ Nó được xác định là một thủ phạm gây bệnh chung cho ngựa, la, lạc đà, trâu ở Ấn Độ được gọi chung là bệnh “Surra”
Steel (1885), phát hiện Trypanosoma trong máu la Miến Điện, mô tả hình thái ký sinh trùng, đặt tên Spirochaete evansi, sau đổi là Trypanosoma evansi Blanchard (1886), cũng thông báo tìm thấy T.evansi trong máu la nhập nội
vào Bắc Bộ, Việt Nam Tác giả đã mô tả rất tỷ mỉ hình thái ký sinh trùng, những
biểu hiện lâm sàng ở vật bệnh do T.evansi
Laveran và Mesnil (1906), trong tác phẩm kinh điển nói về Tiên mao
trùng, những bệnh do Tiên mao trùng (Trypanosoma et Trypanosomiasis - Paris 1911) đã trình bày về bệnh lý do T.evansi gây ra cho các loài động vật, vai trò ký chủ trung gian của một loài ruồi hút máu họ Stomoxydinae, loài mòng họ
Tabanidae
Cũng theo Phạm Sỹ Lăng (1982), trong khoảng thời gian 1885 đến 1920, nhiều bệnh ở gia súc, dã thú tương tự như bệnh “Surra” lưu hành ở nhiều nước
Trang 15trên thế giới: bệnh “m’bori” của lạc đà các nước thuộc miền tây châu Phi Bệnh
“eldebab”, bệnh “Tahaga” của lạc đà An-giê-ri và Ni-gie-ria Bệnh “Zousifana” của ngựa, chó các nước ở Nam sa mạc Sahara Bệnh “Su-suru” của lạc đà ở tây nam Liên Xô cũ Bệnh “murvina” của ngựa ở Trung Mỹ Bệnh đau mông “mal
de cadera” ở ngựa, la các nước Nam Mỹ… Đã được các nhà khoa học nghiên cứu, tìm ra nguyên nhân Đó là những Tiên mao trùng có hình thái, tính chất sinh
học gần giống như Trypanosoma evansi, được đặt nhiều tên khác như:
Trypanosoma hippicum, Trypanosoma equinum, Trypanosoma vietnamense,
Trypanosoma soudanense , Trypanosoma ninae Kohl – Yakimovi, Trypanosoma
berberum, Trypanosoma venezuelense
Hoare C.A và Sulsby E.J (1972), khi nghiên cứu lịch sử phát triển, hình thái, tính chất sinh vật học của Tiên mao trùng trên, đi đến kết luận: tất cả đều là những chủng gốc châu Á, gốc châu Phi, gốc châu Mỹ và gốc châu Âu của một
loài duy nhất T evansi
Tổ chức dịch tễ thế giới (OIE) đã thông báo hiện nay có 7 loài Tiên
mao trùng gây bệnh cho động vật có vú và người là Trypanosoma evansi,
Trypanosoma vivax, Trypanosoma brucei, Trypanosoma congolence, Trypanosoma gambiense, Trypanosoma simiae, Trypanosoma cruzi. Trong số các
loài Tiên mao trùng kể trên thì Trypanosoma evansi là loài phổ biến nhất, phân bố
ở khắp nơi trên thế giới, gây bệnh cho hầu hết các loài động vật có vú trừ người, chiếm ưu thế ở vùng cận đông, châu Á và châu Mỹ la tinh
Theo Phạm Sỹ Lăng (1982); năm 1907 Schein.H, khi nghiên cứu bệnh Tiên mao trùng ở Đông Dương, cho rằng đây là bệnh (Surra) ở nước ta 1906, Vassal, thuộc viện Pasteur Nha Trang đã nghiên cứu khá đầy đủ về bệnh và gửi Tiên mao trùng về Viện Pasteur Paris để xác định rõ thêm về chúng
Các báo cáo về Tiên mao trùng của Liu and Ou, Y.C (1992), Lorh, K.F (1986) Đến nay ba loài Tiên mao trùng ký sinh ở động vật có vú được tìm thấy ở nước ta là:
1 T.evansi (Steel, 1885), ký sinh ở trâu, bò
2 T.theileri (Laveran, 1902), ký sinh ở trâu, bò
Trang 16Shein H (1907); Mathis and Leger N (1911), phát hiện thấy Tiên mao trùng
ở trâu, bò nước ta nhưng chưa rõ tác hại gây bệnh
3 T.lewisi (Kent, 1980), ký sinh ở chuột
1.2 Nguyên nhân gây bệnh Tiên mao trùng ở trâu, bò
Theo Trịnh Văn Thịnh (1982), hàng năm khi mùa đông tới, trâu,bò ở các tỉnh miền Bắc nước ta thường bị đổ ngã Đặc biệt ở Thanh Hóa theo dõi qua các năm chúng tôi thấy hàng năm trâu, bò vẫn bị chết nhiều, tỷ lệ chết phụ thuộc vào thời tiết năm đó, giá rét kéo dài, trâu, bò chết càng nhiều, làm ảnh hưởng, thiệt hại to lớn về kinh tế cho nông dân Để hạn chế, tiến tới ngăn chặn được bệnh Tiên mao trùng, các nhà nghiên cứu ký sinh trùng phải tìm hiểu nguyên nhân gây chết ở trâu, bò Đàn trâu, bò có mang trùng, trong điều kiện thức ăn đầy đủ chúng vẫn khoẻ mạnh Khi chuyển về các tỉnh đồng bằng do làm việc nặng nhọc, thức
ăn quá thiếu thốn, gặp thời tiết giá rét, thể trạng suy yếu dần, dẫn đến sức đề
kháng kém, vì thế T.evansi có điều kiện phát triển, làm cho trâu, bò từ thời kỳ mang bệnh T.evansi đã trở thành thời kỳ phát bệnh, chết hàng loạt Với triệu
chứng cước chân, có hiện tượng trâu, bò tiêu chảy, trâu, bò ngã nước có liên quan đến bệnh Tiên mao trùng Khi xét nghiệm bệnh Tiên mao trùng ở những hợp tác
xã có trâu, bò chết nhiều, thấy tỷ lệ nhiễm từ 3,5 đến 7% Tác giả kết luận: nguyên nhân trâu, bò chết trong vụ đông xuân ở vùng đồng bằng là do thức ăn thiếu nghiêm trọng, chế độ dinh dưỡng quá kém, làm việc nhiều, giá rét là điều kiện để Tiên mao trùng phát triển gây tác hại cho trâu, bò
Khi nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh TMT các tác giả Trịnh Văn Thịnh
(1982); Đoàn Văn Phúc (1985); Phạm Sỹ Lăng (1982) kết luận: T.evansi là tác
nhân gây bệnh Tiên mao trùng và là một trong những tác nhân gây thiệt hại cho
đàn trâu, bò ở nước ta T.evansi là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh, kết hợp với một
số nguyên nhân khác như các bệnh truyền nhiễm, sán lá gan, thức ăn thiếu nghiêm trọng, làm việc quá nặng nhọc, giá rét kéo dài đã làm cho trâu, bò đổ ngã hàng loạt trong vụ đông xuân
1.3 Phân bố địa lý của Tiên mao trùng
Tiên mao trùng, nguyên trùng gây bệnh Surra có một phạm vi phân bố địa
Trang 17lý cực kỳ rộng trước khi nó được phát hiện ở vật nuôi trong nhà và các động vật
hoang dã T.evansi phân bố rộng nhất trong sốt các loài Tiên mao trùng, chúng đã
gây bệnh ở Bắc Phi, Trung Đông, dọc theo Ấn Độ Dương tới gần đại lục châu Âu tới
châu Á; ở vùng đất mới như Trung và Nam Mỹ cũng đã tìm thấy T.evansi
Theo Losos, G.J (1979), đã cho biết: T.evansi có sự phân bố ở châu Á,
các đảo phụ thuộc: Ấn Độ, Srilanca, Miến Điện, Nam Trung Hoa, Inđônêxia, Malaixia, Pakistan, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Iran, Irắc, Ả Rập (Arabic) Palestin, Philippin
Châu Phi: Marốc, Angieri, Tunisie, Ai Cập, Triponidat
Nam Phi: Soudan, Xomali, Madagasca, Ethiopa, Yemen, Moritani, Zaia, Nigeria Châu Âu: Tây Nam Liên Xô
Bắc Mỹ: nước Mỹ
Trung Mỹ: Panama
Nam Mỹ: Venezuela, Brazin, Bolivia, Paraguay, Uruguay, Achentina Châu Đại Dương: Oxtralia
Phạm Sỹ Lăng (1982) cho biết: Brumpt (1949), đã tìm thấy T.evansi ký
sinh, gây bệnh cho nhiều loài động vật, trừ người Trâu, ngựa, chó, dê, mèo, ở
các nước châu Á đều cảm nhiễm T.evansi tự nhiên Nhưng bò ít mẫn cảm,
thường ở thể mãn tính, mang trùng Trâu truyền bệnh thực nghiệm đều thể hiện trạng thái bệnh lý rõ ràng, chết trong khoảng thời gian từ 22 đến ngày thứ 96 Tuy nhiên tác giả cũng cho biết có thể gặp một số trường hợp trâu ngoài tự nhiên
tự khỏi bệnh, trở thành vật mang trùng Lạc đà thường bị nhiễm T.evansi, bị chết
khá nhiều ở một số nước châu Á, châu Phi Lạc đà ở Tasken, Samarkan,
Boukhara Turkestan bị bệnh Tiên mao trùng do T.evansi, thường bị chết nếu như
không điều trị kịp thời
Nishikawa, H, Tunlasuvan (1990), khi điều tra tình hình dịch tễ bệnh Tiên
mao trùng do T.evansi tại Thái Lan cho thấy bệnh phân bố ở hầu khắp các tỉnh
của Thái Lan, tỷ lệ nhiễm bệnh ở trâu thường cao hơn bò
Theo Chen Qijun (1992), Trung Quốc đã xét nghiệm được năm loài Tiên
mao trùng: Trypanosoma evansi, Trypanosoma equiperdum, Trypanosoma
Trang 18theileri, Trypanosoma gallinarum, Trypanosoma brucei , đặc biệt T.evansi đã gây
bệnh cho hầu hết các loài động vật như trâu, bò, ngựa, la, chó
Cũng theo Phạm Sỹ Lăng (1982), đã có nhiều nhà khoa học tìm thấy
Trypanosoma evansi trong máu ngựa ở Việt Nam như: Blin (1903) tìm thấy T.evansi
ở máu ngựa Nha Trang, Kermorgant (1903) tìm thấy trong máu ngựa ở Hà Tiên
Yersin (1904), thấy T.evansi ở máu ngựa Vinh bị mắc bệnh T.evansi Montel (1904), thấy T.evansi ở máu ngựa Hà Tiên bị mắc bệnh T.evansi Bodin (1905), thấy T.evansi ở máu ngựa Nam Định bị mắc bệnh T.evansi Brau (1906), đã nghiên cứu triệu chứng bệnh TMT do T.evansi ở bò, ngựa
vùng Sài Gòn
Năm 1906, Viện Pasteur Nha Trang nghiên cứu khá đầy đủ về bệnh TMT đồng thời đã gửi ký sinh trùng về Viện Pasteur Paris và tại đây Laveran, Mesnil
đã làm miễn dịch chéo với chủng Maurice, chủng Ấn Độ và kết luận: không hoàn
toàn giống T.evansi, đặt tên là Trypanosoma annamense (Vietnamese)
Năm 1911, một ổ dịch làm chết nhiều ngựa ở hang Hít (Thái Nguyên), nhiều trường hợp chết tại chuồng ngựa của Công ty khai thác rừng Hà Nội Năm
1922 -1926 ở Nam Bộ, ngựa, chó mắc bệnh Tiên mao trùng đã chết hàng trăm con, Phạm Sỹ Lăng (1982)
Trịnh Văn Thịnh (1967), cho biết: năm 1925, bệnh Tiên mao trùng xảy ra
ở hầu hết các tỉnh Bắc Bộ như Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lai Châu, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Quảng Yên, Yên Bái, Hà Đông, Nam Định, Ninh Bình, Sơn Tây, Vĩnh Yên làm chết
148 ngựa, bò
Cũng theo Trịnh Văn Thịnh (1967) trước năm 1945 ngựa nước ta chủ yếu phục vụ cho mục đích của thực dân Pháp như vận chuyển, đi lại, chiến đấu Vì thế lúc đó con ngựa được quan tâm bảo vệ sức khoẻ, bệnh tật của ngựa được phát hiện, điều trị trong đó có bệnh Tiên mao trùng Những gia súc khác như trâu, bò rất quan trọng đối với người nông dân thì không được chú ý tới Sau năm 1945 khi đất nước được giải phóng, đàn trâu, bò mới được quan tâm tới, bệnh tật của
nó mới được tập trung nghiên cứu phòng trị Những năm sau này Tiên mao trùng
và bệnh Tiên mao trùng đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhiều Khi nghiên cứu về tình hình dịch tễ của bệnh Tiên mao trùng Phạm Sỹ
Trang 19Lăng (1982) đã tìm thấy T.evansi có ở các vùng: miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển và tỷ lệ nhiễm T.evansi ở các gia súc, ở các vùng cũng khác nhau Tỷ lệ
nhiễm bệnh ở trâu cao hơn ở bò Tác giả đã khảo sát 2.457 trâu, 364 bò trên 71 cơ
sở và thấy tỷ lệ nhiễm chung của trâu, bò là 8,8% Trâu, bò đồng bằng nhiễm
T.evansi từ 3- 20% cao hơn vùng núi (2,5 - 6,3%) Trâu, bò nhiễm T.evansi ở tất cả
các lứa tuổi, nhưng nhiễm cao chủ yếu ở lứa tuổi 5 - 8 năm là 16, - 18%
Lê Ngọc Mỹ và cs (1994), điều tra tình hình nhiễm T.evansi ở trâu, bò cho thấy, ở miền núi, trung du, đồng bằng, trâu, bò vẫn còn bị nhiễm T.evansi với
tỷ lệ tương đối cao Tỷ lệ nhiễm T.evansi ở các tỉnh miền núi, trung du cao hơn
trâu, bò ở đồng bằng
Phan Địch Lân (1983), trong đợt điều tra cơ bản về côn trùng thú y tại các vùng địa lý khác nhau ở miền Bắc cho biết: trâu, bò ở miền núi, trung du nhiễm ký sinh trùng máu nói chung cao hơn trâu, bò ở vùng đồng bằng ven biển Các giống
bò ngoại có tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng máu nói chung cao hơn các giống bò lai, bò nội Bò nhiễm ghép 2 loài ký sinh trùng máu là phổ biến, ít gặp nhiễm ghép 3 loài
Tỷ lệ bò nhiễm T.evansi chung toàn đàn là 0,29%
Phạm Văn Khuê và cs (1996) điều tra tình hình bò nhiễm T.evansi ở
các tỉnh phía Bắc cho biết: bò vùng trung du, miền núi, đồng bằng Bắc Bộ
nhiễm T.evansi với tỷ lệ 9,9% Bò ở vùng trung du nhiễm T.evansi 11,2% cao hơn tỷ lệ nhiễm T.evansi ở vùng đồng bằng, ven biển 8,7% Bò từ 2 - 8 năm tuổi nhiễm T.evansi với tỷ lệ 11,5% cao hơn tỷ lệ nhiễm T.evansi ở bò dưới 2
năm tuổi 2,8%
Hồ Thị Thuận và cs (1983); Hoàng Thạch và cs (1996), điều tra tình hình nhiễm ký sinh trùng máu trên đàn bò ở các tỉnh phía Nam cho biết: tỷ lệ nhiễm
ký sinh trùng máu nói chung từ 20 – 60%, trong đó đàn bò sữa ở trại thực nghiệm
Đà Lạt nhiễm ký sinh trùng máu với tỷ lệ 22,7%, đàn bò sữa ở Xí nghiệp bò sữa
An Phước, Đồng Nai nhiễm T.evansi với tỷ lệ 12,6%
Lê Đức Quyết và cs (1995); Nguyễn Đức Tân và cs (1999), điều tra tình
hình nhiễm T.evansi ở một số tỉnh duyên hải nam Trung Bộ cho biết: bò nhiễm
chung toàn đàn 6,0%; trong đó đàn bò ở Phú Yên nhiễm cao nhất 31,6%; đàn bò
Trang 20tỉnh Khánh Hoà nhiễm 7,6%; bò ở Đắk Lắk nhiễm thấp nhất 3,0%
1.4 Những nghiên cứu về miễn dịch Tiên mao trùng
Theo Đặng Đức Trạch (1987), khi có bất kỳ virus, ký sinh trùng xâm nhập vào cơ thể có thể chống lại chất lạ tạo ra miễn dịch cho cơ thể khi chất lạ xâm nhập lần sau Thể hiện dưới hai hình thức đáp ứng miễn dịch: miễn dịch dịch thể và miễn dịch qua trung gian tế bào
Zhao, J.Z and Yuan, C.H.G (1992), khi phân tích trình tự rARN cho thấy:
T evansi và Trypanosoma brucei có quan hệ rất gần gủi Kết quả chỉ ra rằng 5
Nucleotit cuối cùng của chuỗi Ls-rARN có thể dùng làm chỉ số tế bào cho phân
tích phát triển loài của giống Trypanosoma
Vũ Triều An và Jean Claude Homberg (1997), cho biết: đáp ứng miễn dịch dịch thể (Humoral immunity) giử vai trò bảo vệ cơ thể thông qua kháng thể hòa tan có trong mọi dịch sinh học của cở thể Kháng thể có bản chất là globulin, nên còn gọi là globulin miễn dịch (Immunoglobulin – Ig) Đó là sản phẩm của các tương bào plasma ở giai đoạn cuối cùng của quá trình biệt hóa tế bào Lympho B Khi kháng nguyên tiếp xúc với globulin miễn dịch có trên mặt tế bào lympho B thì được hoạt động thông qua tế bào lympho T hỗ trợ (T Help – Th) Tế bào B được hoạt hóa sản xuất ra khang thể, dịch thể tương ứng với từng loại kháng nguyên
Theo Nguyễn Như Thanh (1996), trong các loại Ig thì IgG chiếm 75% và thường được truyền qua nhau thai, nên con sinh ra được miễn dịch Đối với trâu,
bò do nhau thai có 6 lớp màng nên IgG không truyền được qua nhau thai mà truyền qua sữa đầu, vì vậy việc cho bê, nghé bú sữa đầu là rất quan trọng để tạo miễn dịch cho con non
Theo Phạm Sỹ Lăng (1982), những nghiên cứu rõ nhất về miễn dịch học
là sự ứng dụng các phản ứng huyết thanh học trong chẩn đoán đối với T.evansi
Jatkar (1973), tại Trung tâm Thú y Nhiệt đới đã xác định lượng IgM, IgG tăng
lên trong huyết thanh lạc đà nhiễm T.evansi đã ứng dụng IFAT, ELISA đã phát
hiện kháng thể đặc hiệu trong huyết thanh lạc đà bệnh Các phản ứng này được xem như chính xác hơn các phản ứng chẩn đoán huyết thanh học trước đây (phản ứng Formol, phản ứng Chlorremercure), nhưng chưa được ứng dụng rộng rãi,
Trang 21dụng cụ đắt tiền, cồng kềnh
Theo Lương Văn Huân, Lê Hưu Khương (1997), ký sinh trùng trong máu kích thích hệ thống miễn dịch của cơ thể gia súc sinh ra kháng thể chống lại ký sinh trùng, kháng thể xuất hiện làm ngưng kết hoặc tiêu tan ký sinh trung Quá trình này làm giảm sự sinh sôi, hạn chế quá trình phát triển của ký sinh trùng, kháng thể xuất hiện với nồng độ cao làm ký sinh trùng suy yếu có thể gây nên bệnh mãn tính, hoặc gia súc tự khỏi bệnh Qua nhiều nghiên cứu về miễn dịch của ký sinh trùng đường máu, người ta nhận định về cơ chế đáp ứng miễn dịch của cơ thể, sự lẫn tránh đáp ứng miễn dịch của Tiên mao trùng như sau: đáp ứng miễn dịch không hoàn toàn đối với các loài ký sinh trùng nói chung có tính miễn dịch yếu Điều này không đúng trong trường hợp ký sinh trùng có tính kháng nguyên đầy đủ, nhưng khi ký sinh trong máu của động vật chủ Tiên mao trùng đã tạo ra một cơ chế cho phép chúng tồn tại trước đáp ứng miên dịch của cơ thể và Tiên mao trùng có thể kích thích cơ thể sản sinh ra kháng thể, dịch thể, kháng thể
tế bào Kháng thể chủ yếu phục vụ kiểm soát số lượng ký sinh trùng có tự do trong máu, trong dịch mô, còn kháng thể tế bào có thể trực tiếp chống lại ký sinh trùng ở trong tế bào Kháng thể dịch thể ức chế trực tiếp các kháng nguyên bề mặt của Tiên mao trùng gây ra hiện tượng Sonin hóa, ngưng kết hoặc làm cho Tiên mao trùng không chuyển động được Kháng thể cùng với một số chất tiết của tế bào có thể giết chết Tiên mao trùng Mặt khác, kháng thể có thể ức chế hoạt động của các men tham gia vào quá trình sinh sản của Tiên mao trùng Song bản thân Tiên mao trùng cũng có cơ chế chống lại đáp ứng miễn dịch của vật chủ rất nhanh nhưng cách thức hoạt động của nó chưa được sáng tỏ
Zhao-rong Lun, Brun R (1992), khi nghiên cứu kiểu nhân, gen đẳng tính của 12 chủng xét nghiệm từ các vùng của Trung Quốc chỉ quan sát thấy 2 trong
số 16 enzyme có sự khác nhau miễn dịch H và ALAT
Lê Ngọc Vinh (1992) khi theo dõi về sự biến động kháng thể T evansi
trong máu động vật gây nhiễm cho biết trâu gây nhiễm từ ngày thứ 24 - 30 thì nồng độ kháng thể cao nhất, sau 90 ngày kháng thể giảm dần, sau điều trị 4 - 5 tháng kháng thể không còn trong máu
Weir C.et all (1986), Uilenberg, G (1988) cho biết: Glycoprotein chịu sự
Trang 22thay đổi tính kháng nguyên của T.evansi Cấu trúc kháng nguyên, đặc tính, chức
năng của glycoprotein bề mặt là khó hiểu nhất của mọi kháng nguyên ký sinh trùng Chu kỳ xuất hiện variants thường là 7 ngày Sự thay đỗi kháng nguyên là
do có sự thay đổi độ dài chất bề mặt của T.evansi
Dones, T.M (1992) so sánh các type kháng nguyên từ 15 chủng của
T.evansi phân lập từ các vùng khác nhau của Indonesia, thấy có 2 nhóm chính, hai nhóm phụ, bốn nhóm khác nhau về type kháng nguyên các type kháng
nguyên này cũng giống các type kháng nguyên xét nghiệm từ T.evansi Châu Phi
và Nam Mỹ
Authie, E (1974) cũng cho biết trong cùng một giống gia súc, sự mẫn cảm của các loài Tiên mao trùng cũng khác nhau Ở Châu Phi, bò Taurine như Baoune, Muturu vẫn sống được ở những vùng có mật độ côn trùng gây nhiễn cao, trong khi đó bò Zebu bị chết do bệnh Tiên mao trùng
Trịnh Văn Thịnh (1982), cho biết: tính chống đỡ bệnh ký sinh trùng máu của các giống bò có sự khác nhau, những giống bò gốc Châu Âu đưa sang các nước nhiệt đới dị cảm mạnh với bệnh ký sinh trùng máu Bò u cũng như bò nội
thường có tính chống đỡ đối với những dòng Trypanosoma ở địa phương
Lê Ngọc Mỹ, Nguyễn Thị Giang Thanh, Lê Minh Hà, Phạm Thị Tâm, Nguyên Anh Dũng (4/2014), cho biết: bò sau khi nhiễm bệnh Tiên mao trùng hai tuần trong máu xuất hiện kháng thể kháng Tiên mao trùng lưu hành, hàm lượng kháng thể bắt đầu cao dần ở tuần thứ tư đạt hàm lượng cao nhất ở tuần thứ 7 sau khi nhiễm bệnh
Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996), miễn dịch mang trùng ở bò có thể kéo dài 6 - 10 tháng số ký sinh trùng ấy chết đi thì con vật lại có thể tái nhiễm Nếu con vật tiếp tục nhiễm bệnh rồi lại qua khỏi nhiều lần thì sức miễn dịch đó càng được củng cố
Theo Đào Trọng Đạt (1963), cho biết: bệnh Tiên mao trùng ở người do
Trypanosoma rhodesiense gây nên, chúng phát triển nhanh, ở một số trường hợp
ký chủ có thể chết trong vòng vài tuần Ngược lại Trypanosoma gambiense thích
nghi với người, chúng có thể phát triển hàng trăm thế hệ, bệnh có thể ở dạng mãn tính trong nhiều năm Toxoplasma có khả năng thích nghi với nhiều loài động
Trang 23vật, chúng ít gây ra triệu chứng bệnh
1.5 Những nghiên cứu về loài mắc bệnh Tiên mao trùng
Trypanosoma evansi là loài gây bệnh phổ biến nhất trong các loài Tiên mao trùng, chúng gây bệnh cho hầu hết các loài gia súc trên thế giới: trâu, bò, ngựa,
chó, mèo ở các nước trâu đều nhiễm T.evansi tự nhiên, nhưng bò ít mẫn cảm thường ở thể mãn tính, mang trùng Lạc đà thường nhiễm T.evansi ở thể cấp tính,
chết khá nhiều ở một số nước châu Phi, châu Á
Gill, B.S., Singh, J., and Gill, J.S (1987), cho biết: ở Ấn Độ năm 1948 người ta tìm thấy 13 con lợn chết trong trang trại lợn ở Khara (Pumjab), khi lấy
bệnh phẩm tiêm truyền cho chuột bạch thấy 7 con nhiễm T.evansi
Killick-Kendrick, R (1964) thông báo 27% lạc đà bắc Nigieria nhiễm
T.evansi đều chết nếu như không điều trị Chó cũng nhiễm T vansi tự nhiên và bị
bệnh thể cấp tính, có thể gặp ở Đông Dương, ở Ấn Độ, theo Chard, K and Sinett, R.P, (1970)
Chen Qijun (1992), cũng cho biết: T.evansi gây bệnh cho hầu hết các loài
động vật như trâu, ngựa, la, chó ở Trung Quốc
Tamasankas, R (1992), cho biết: bò ở Guaico nhiễm T.evansi từ 11 – 74%
Bò dưới 12 tháng nhiễm 21,04%, bò trên 25 tháng nhiễm 72,92%, bò Zebu cao sản nhiễm 74,4%
Ngoài những động vật bị nhiễm T.evansi tự nhiên, trong phòng thí nghiệm
có thể truyền bệnh Tiên mao trùng cho các loài động vật nhỏ, chuột nhắt trắng, chuột cống trắng, thỏ, chuột lang, chồn, cầy hương, chó, mèo, trong đó chuột
nhắt trắng, chuột cống trắng đặc biệt mẫn cảm với T.evansi (theo Lapage.G,
1968[54])
1.6 Các nghiên cứu về côn trùng môi giới truyền bệnh Tiên mao trùng
Theo Trịnh Văn Thịnh (1967), cho biết: năm 1949, Brumpt E đã tìm
ra những loài ruồi hút máu họ Stomoxydinae, loài mòng họ Tabaninae đóng vai trò môi giới truyền bệnh chủ yếu của T.evansi T.evansi không có chu
kỳ phát triển trong ký chủ trung gian, mà chỉ được truyền theo phương thức
cơ giới Ngoài ra T.evansi còn có khả năng truyền bệnh nhờ một loại ve,
Trang 24bệnh T.evansi cho những động vật này Ở miền Bắc Việt Nam mòng hoạt động
tới 9 tháng, ruồi hút máu hoạt động quanh năm Nhưng tập trung vào những tháng nóng nực Điều kiện này giải thích tại sao bệnh Tiên mao trùng phân bố rộng rãi, mang tính chất mùa vụ
Theo Phạm Sỹ Lăng (1982), từ những nghiên cứu về ký chủ trung gian truyền bệnh TMT, các nhà khoa học đều khẳng định mùa phát triển, lây lan của bệnh thường xảy ra vào những tháng thời tiết ấm áp khi ruồi, mòng xuất hiện và hoạt động mạnh Ở Liên Xô mùa bệnh khoảng 3,5 tháng, từ tháng 5 đến tháng 8
ở các nước nhiệt đới thì mùa lây lan bệnh có thể xảy ra quanh năm
Ở nước ta họ mòng môi giới trung gian truyền T evansi đã được các nhà
khoa học nghiên cứu về thành phần, khả năng truyền bệnh của chúng Thành
phần họ mòng Tabanidae ở miền Bắc đã được Trịnh Văn Thịnh (1967), cùng
Ban điều tra Côn trùng thú y công bố 77 loài như sau:
Họ mòng Tabanidae
Họ phụ Tabaninae
Giống phụ Ochrops: 1 loài
Giống Chrysozona: 12 loài
Trong số những loài đã phát hiện có 47 loài được xác định tên chính thức
Loài mòng phổ biến ở các vùng là Tabanus rubidus, Chrysops dispar, một số loài
có tính chất khu vực như Chrysops vandervulpi chỉ thấy ở miền núi, trung du
Hoạt động của mòng theo giờ trong ngày ảnh hưởng đến vai trò truyền bệnh của
Trang 25chúng Trong một ngày, sự hoạt động của Tabanus ở vùng trung du, đồng bằng
giống nhau xuất hiện lúc 6 – 8 giờ, nhiều nhất 12 – 14 giờ, ít nhất, mất đi 16 – 18
giờ Ở miền núi Tabanus xuất hiện nhiều vào 9 – 10 giờ, 17 – 18 giờ và 10 – 14
giờ xuất hiện ít
Phạm Sỹ Lăng và Chu Huy Bào (1971), đã xác định vai trò của họ mòng
Tabanidae truyền bệnh T.evansi cho bê bằng cách cho mòng Tabanus rubidus đốt và kết luận Tabanus rubidus đã truyền được mầm bệnh cho bê Khoảng cách
mòng đốt bê ốm và bê khoẻ là 43 phút, đã gây cho bê một thể bệnh Tiên mao
trùng mãn tính T.evansi sống tới giờ thứ 53 sau khi xâm nhập vào ruột mòng
nhưng chỉ có khả năng gây bệnh đến giờ thứ 7 Các tác giả cũng thông báo về tỷ
lệ mang mầm bệnh T.evansi của một số loài ruồi, mòng như: ở Hà Nội mòng
Tabanus rubidus mang mầm bệnh với 26,58%; mòng Tabanus striatus 25,8%; mòng Chrysops dispar 7,55%; ở Bình Lục mòng Tabanus rubidus 25,1%;
Tabanus striatus 24,7% Tabanus kiangsuensia 19,5%, ruồi Stomoxys calcitrans
1.7 Triệu chứng bệnh tiêm mao trùng do T evansi gây ra ở trâu, bò
Theo Phạm Sỹ Lăng (1982) cho biết, đã có nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm theo dõi các triệu chứng lâm sàng của bệnh Tiên mao trùng trên trâu, bò Hytyra, F, Marik, J, Maninger, R (1949) quan sát triệu chứng lâm sàng của
bò nhiễm T.evansi thể cấp tính cho biết bò bệnh có biểu hiện: sốt cao, sốt gián đoạn,
thiếu máu, suy nhược, chảy nước mắt, bại liệt chân sau, thuỷ thũng dưới mõm ức,
phần bụng sau, đôi khi bị kéo dài tới 6 tháng Một số trường hợp bò nhiễm T evansi
thể cấp tính chết nhanh, chỉ trong vòng vài ngày
Theo Verma, B.B và Gautam, O.P (1988) trâu, bò nhiễm T evansi, thể
hiện rất rõ trạng thái bệnh lý và chết trong khoảng 22 - 96 ngày sau khi gây
Trang 26nhiễm Một số trâu, bò lại khỏi bệnh tự nhiên trở thành vật mang trùng
Ở nước ta các tác giả Phạm Sỹ Lăng (1982); Hồ Văn Nam (1963); Đoàn Văn Phúc (1985); Trịnh Văn Thịnh (1982), cũng cho biết ở trâu, bò bị bệnh cấp tính có biểu hiện rất nặng như: sốt cao, bỏ ăn, điên loạn, chết nhanh Nhưng ở trâu nhiễm bệnh thể mãn tính thường sốt gián đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm giác mạc, phù thũng ở bụng, liệt chân sau và chết do kiệt sức Đối với bệnh Tiên mao trùng bò, những biểu hiện lâm sàng gần giống như ở trâu, ít thấy các trường hợp cấp tính, con vật sốt gián đoạn, chậm chạp, hạch lâm ba trước đùi sưng, một
số con thuỷ thũng ở vùng hàm, vùng cổ nhưng không đau, gần chết thì bại liệt Nguyễn Văn Duệ và cs (1995), quan sát triệu chứng lâm sàng của bò nhiễm bệnh Tiên mao trùng miêu tả: một số bò nhiễm bệnh Tiên mao trùng cơ thể gầy còm, ỉa chảy dai dẳng, niêm mạc nhợt nhạt, chảy nước mắt, nước mũi liên tục, viêm kết mạc, giác mạc, có hiện tượng thủy thũng, bại liệt chân sau Bò thường sốt ngắt quãng, sốt rất cao vào buổi sáng, niêm mạc nhợt nhạt, lông xù, đi khập khiễng đôi lúc còn có triệu chứng thần kinh, run rẩy, sẩy thai, lồng lên trước khi chết Ở ngựa, bệnh thường thể hiện cấp tính, rất nặng so với trâu, sốt cao, phù thũng ở dịch hoàn, trước ngực, chân bị bại liệt nặng, nhưng vẫn ăn cho đến khi chết
Bùi Quý Huy và cs (1988), khi nghiên cứu nguyên nhân gây sảy thai ở 65
bò chửa tại nông trường trâu sữa tỉnh Ninh Bình cho thấy 43% trâu bị sảy thai
trong đó nguyên nhân chính là T evansi gây ra
1.8 Chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng
1.8.1 Chẩn đoán dựa trên triệu chứng lâm sàng
Theo Phạm Sỹ Lăng (1982) đối với gia súc mắc bệnh ở thể cấp tính, các biểu hiện bệnh đặc trưng là sốt cao, bỏ ăn, có triệu thần kinh và chết nhanh Trâu,
bò bị bệnh mãn tính có thể gây triệu chứng: sốt gián đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm giác mạc, phù thũng ở bụng và chân sau, chết do kiệt sức Triệu chứng sảy thai có thể thấy ở trâu, bò bị bệnh Tiên mao trùng Do vậy thực tế người ta cũng có thể căn cứ vào triệu chứng lâm sàng để chẩn đoán bệnh Nhưng các triệu chứng lâm sàng đặc trưng của bệnh Tiên mao trùng ở trâu, bò, ngựa không phải lúc nào cũng phát hiện
Trang 27được Rất nhiều gia súc mang bệnh nhưng khó phát hiện các triệu chứng đặc trưng, nhất là đối với những gia súc mắc bệnh Tiên mao trùng
1.8.2 Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Có nhiều phương pháp chẩn đoán Tiên mao trùng trong phòng thí nghiệm, mục đích là phát hiện Tiên mao trùng trong máu gia súc Tùy từng trường hợp bệnh, tùy điều kiện mà có thể làm cùng lúc một số phương pháp hoặc lựa chọn một phương pháp phù hợp và có độ chính xác cao
* Phương pháp phát hiện Tiên mao trùng trực tiếp
Để phát hiện Tiên mao trùng trực tiếp người ta có thể áp dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp xem tươi (Direct smear)
Nguyên lý: Khi sốt, trong mao quản ngoại vi của gia súc mắc bệnh tiên
mao trùng thường có T.evansi Vì vậy, trường hợp này nên lấy máu vùng ngoại
vi để xem tươi
Tiến hành: Cho một giọt máu nhỏ lên phiến kính, đậy lamen lên giọt máu
để giọt máu dàn theo lamen thành một lớp mỏng Soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10x20) để phát hiện tiêm mao trùng sống Nếu có, thấy hồng cầu dạt từ
bên nọ sang bên kia, chứng tỏ T.evansi chuyển động trong huyết tương, làm xáo
động các hồng cầu
- Phương pháp nhuộm Giemsa tiêu bản máu khô (Romanovsky)
- Phương pháp giọt dày: đặt 1 giọt máu to vào giữa phiến kính, dùng một góc của đầu một phiến kính khác đặt lên giọt máu để nghiêng một góc 450 so với phiến kính kia, sau đó đưa phiến kính từ đầu này sang đầu kia Để tự nhiên trong khoảng 1 giờ, rồi cố định bằng cồn Methanol, nhuộm Giemsa (1 giọt Giemsa + 1ml dung dịch PBS pa = 7,2) trong 25 phút Rửa tiêu bản dưới vời nước chảy nhẹ, để khô rồi soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10x100 hoặc 10x90)
- Phương pháp giọt mỏng: Nhỏ một giọt máu cách đầu phiến kính 2cm, dùng lamen ria máu thành một lớp mỏng, để khô, cố định bằng cồn Methanol trong 2 phút Nhuộm Giemsa trong 25 phút (1 giọt Giemsa + 1ml dung dịch PBS
Trang 28pa = 7,2) Rửa tiêu bản đươi vòi nước chảy nhẹ, để khô, soi kính hiển vi (độ phóng đại 10x100 hoặc 10x90)
- Phương pháp tập trung Tiên mao trùng: Trong hầu hết các ký chủ, T.evansi
có thể gây ra nhiễm trùng nhẹ, các biểu hiện lâm sàng và phi lâm sàng thường không
rõ rệt khi số lượng kí sinh trùng trong máu thấp, trong đó rất khó để chứng minh sự có mặt của ký sinh trùng Phương pháp tập trung trở nên cần thiết
Ly tâm tập trung bằng ống Haematocrit (WOO, 1971): Máu (70ml) được thu vào ống mao dẫn Haematocrit (75x1,5mm), sau đó một đầu ống được bịt kín bằng chất dẻo matit hoặc parafin, một đầu ống để hở Ly tâm với tốc độ 3000 vòng/phút trong 10 phút Lấy ống thủy tinh ra ngoài, bẻ phần tiếp giáp giữa huyết thanh và dung dịch vàng sẫm phía dưới, đổ dung dịch vào phiến kính Sau đó kiểm tra dưới kính hiển vi (x100-200) Đơn giản hơn để kiểm tra các ống mao dẫn ly tâm bằng cách nhỏ một giọt dầu ngâm vào ống và đảm bảo rằng có sự tiếp xúc giữa vật kính và giọt dầu
- Tiêm truyền động vật thí nghiệm: Tiên mao trùng có khả năng sống, nhân lên trong động vật thí nghiệm mẫn cảm như chuột nhắt trắng, chuột lang, thỏ
Máu chống đông được tiêm vào phúc mạc của chuột (1-2ml) hoặc chuột (0,25 -0,5 ml) Tiêm tối thiểu 2 loài động vật; sau đó cắt đuôi 3 lần/tuần để phát hiện ký sinh trùng trong máu Thời kỳ ủ bệnh và độc lực của chúng phụ thuộc vào chủng của Tiên mao trùng, nồng độ của chúng trong các nguồn bệnh và các yếu tố stress trong phòng thí nghiệm
1.8.3 Các phương pháp phát hiện kháng thể Tiên mao trùng
Khi tiêm mao trùng ký sinh, cơ thể vật chủ sinh ra kháng thể đặc hiệu chống lại tiêm mao trùng Những phương pháp sau cho phép phát hiện kháng thể kháng Tiên mao trùng trong máu vật chủ:
- Phương pháp ngưng kết trên phiến kính (SAT: Slice Agglutination Test): Hòa tan 1 giọt huyết thanh gia súc nghi mắc bệnh vào 1 giọt nước muối sinh lý trên phiến kính, sau đó cho 1 giọt máu chuột bạch có nhiều Tiên mao trùng vào, trộn đều, đậy lamen và soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10x20 hoặc 10x40)
Trang 29Nếu thấy ngưng kết hình hoa cúc là dương tính (+) và ngược lại là âm tính (-) Phương pháp này đơn giản, dễ làm và có thể áp dụng trên diện rộng
- Phương pháp LATEX (Latex Agglutination Test):
Theo Lương Tố Thu (1994)[36], LATEX là phương pháp ngưng kết giám tiếp, được dùng để phát hiện kháng thể lưu động có trong máu của gia súc mắc bệnh Tiên mao trùng
- Phương pháp CATT (CAM Agglutination Test for Trypanosomiatis): Theo Lương Tố Thu và Lê Ngọc Mỹ (1995) cho biết: sử dụng kít và quy trình do đề án Bỉ - Việt Nam cung cấp Phản ứng tiến hành theo quy trình của Magnus và cs (1978) Độ pha loãng sàng lọc là 1/4
Nguyên lý: kháng nguyên Tiên mao trùng đã được nhuộm màu kết hợp với kháng thể tạo thành những đám kết tủa li ti màu xanh
Phương pháp ELISA là một trong những phương pháp hiện đại nhất được ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng
Nguyên lý: dùng kháng thể hoặc kháng thể kháng Globulin (kháng kháng thể) có mang một enzym (phosphatase hoặc peroxydase) được gắn trên mảnh Fc, cho kết hợp trục tiếp hoặc gián tiếp với kháng nguyên Sau đó cho cơ chất sinh màu vào, cơ chất sẽ kết hợp với enzym và bị enzym phân hủy tạo nên màu So sánh với màu của quang phổ kế sẽ định lượng được mức độ của phản ứng
Phương pháp ELISA hiện đang được sử dụng rỗng rãi ở các nước trên thế giới, ở Việt Nam đã bước đầu chế kháng nguyên tiên mao trùng và ứng dụng để chấn đoán bệnh Tiên mao trùng ở nước ta
1.9 Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu trâu nhiễm T evansi
Trypanosoma evansi ký sinh trong máu đã làm biến đổi sinh lý, sinh hóa của trâu, bò nói riêng, động vật nuôi và hoang dã nói chung
Sự thay đổi của các chỉ tiêu sinh lý, huyết học, đặc biệt là các chỉ tiêu về
số lượng và chất lượng hồng cầu, các chỉ tiêu protein huyết thanh là triệu chứng của suy dinh dưỡng, thiếu máu và tổn thương gan do các bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng gây ra cho động vật
Trang 30Hồ Văn Nam (1963); Nguyễn Thị Đào Nguyên (1993) đã nghiên cứu hàm lượng các chất vô cơ: canxi, phốt pho, natri, kali, clo trong máu trâu, tỷ khối hồng biến động khi trâu, bò bị bệnh Tiên mao trùng, các chỉ tiêu về chất lượng hồng cầu đều thay đổi theo mức độ, sức kháng hồng cầu giảm, hàm lượng protein huyết thanh trâu bệnh rất thấp, lượng huyết đường thấp, albumin và tỷ lệ A/G giảm, α-globulin, γ-globulin tăng, hàm lượng bilirubin toàn phần trong huyết thanh tăng
Theo Losos, G J (1979) khi súc vật nhiễm T.evansi thường thiếu máu,
làm xuất hiện hồng cầu non, hồng cầu lưới, đại hồng cầu, tủy xương bị to ra Các tác giả Takarkhede, M L., Patel, M R Và Pandey, S K (1993) cũng cho
biết: súc vật nhiễm T.evansi thì số lượng hồng cầu, hàm lượng huyết sắc tố,
lympho, bạch cầu kiềm tính giảm, nhưng lại tăng bạch cầu toan tính, bạch cầu đơn nhân, bạch cầu trung tính
Losos, G J (1979) khi gây nhiễm 107 T evansi/con cho 4 ngựa từ 4 – 10
tuổi và sau 35 ngày gây nhiễm thấy, tỷ lệ albumin, globulin giảm 14 – 49% Không có sự thay đổi về axit lactic, protein toàn phần, kali trong huyết thanh Tỷ
lệ huyết trầm 35 – 54% Giảm tỷ khối hồng cầu, tổng số hồng cầu, bạch cầu, bạch cầu trung tính giảm, nhưng tăng tế bào lympho so với trước khi gây nhiễm
Raina, A K và Peskin, P K (1987), đã gây nhiễm 80 – 100 x 106
T.evansi/con cho 18 trâu đực 1,5 tuổi và thấy: một lô sau khi gây nhiễm 7 ngày dùng thuốc Suramin, Puirapiramine 4,2 mg/kg điều trị, không thấy có sự thay đổi urê, nitơ giữa lô dùng thuốc với lô không dùng thuốc, Hemoglobin có sự thay đổi không đáng kể Trong quá trình khỏi bệnh thì PO2, oxy tự do ở nhóm không dùng thuốc có sự thay đổi rõ
Ở nước ta việc nghiên cứu sự biến đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu
trên cơ thể động vật nhiễm T.evansi còn ít Xét nghiệm trên đàn trâu, bò nhiễm
T.evansi tự nhiên hay thực nghiệm hầu hết các tác giả đều cho thấy: số lượng hồng cầu, hàm lượng huyết sắc tố đều giảm Số lượng bạch cầu của trâu, bò bệnh tăng dần trong quá trình bệnh, nhưng tăng cao nhất vào tháng thứ hai sau gây nhiễm Thành phần các loại bạch cầu tăng không đều Ở trâu, bò bệnh lympho
Trang 31bào, bạch cầu ái toan đều tăng, bạch cầu đa nhân trung tính giảm Khảo sát các tiểu phần protein trong huyết thanh thấy lượng protein tổng số, albumin giảm rõ rệt, ngược lại α, β, γ-globulin đều tăng, chỉ số A/G <0,5
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Quốc Doanh và cs (1996), trâu, bò nhiễm bệnh tiên mao trùng số lượng hồng cầu giảm Cụ thể ở trâu: số lượng hồng cầu còn 4,12 triệu/mm3, hàm lượng huyết sắc tố giảm 8,24 g%, ở bò số lượng hồng cầu giảm còn 4,04 triệu/mm3, hàm lượng huyết sắc tố giảm 8,08 g%, mức
độ giảm còn phụ thuộc vào chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, quá trình tiến triển của bệnh, nhưng số lượng bạch cầu tăng cao
1.10 Các nghiên cứu về phòng và trị bệnh Tiên mao trùng
Trypanosoma evansi đã gây bệnh cho nhiều loài động vật như trâu, bò, lạc
đà, ngựa và nhiều loại thú hoang dã Khả năng phân bố T.evansi rộng rãi trong
các loài Tiên mao trùng, chúng có ở khắp các châu lục, gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho người chăn nuôi trâu, bò
Ở nước ta bệnh ký sinh trùng phát triển quanh năm trong đó bệnh Tiên mao trùng gây nhiều thiệt hại cho đàn trâu, bò Hiện nay T.evansi không còn gây
chết trâu, bò hàng loạt, nhưng vẫn gây thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi trâu,
bò Do vậy, bệnh vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu để tìm ra những biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả nhất, tiến tới khống chế hoàn toàn được bệnh Để phòng chống
bệnh Tiên mao trùng T.evansi nói riêng, khoa học thế giới đã đạt được nhiều thành
tựu quan trọng, nhiều loại hoá dược đặc hiệu đã được chế tạo, sử dụng rộng rãi để phòng chống dịch Naganol được xem như một loại thuốc kinh điển có hiệu lực cao
trong điều trị, phòng nhiễm T evansi cho hầu hết các loại gia súc, ngựa, lạc đà, trâu,
chó, mèo kể cả tự nhiên cũng như thực nghiệm
Theo Touratier, L, Aims (1979), Trypamydium có khả năng điều trị, phòng
bệnh do T.evansi trong thời gian 4 tháng
Các loại thuốc có hiệu lực phòng trị T.evansi đã được sử dụng trong khoảng
20 năm trở lại đây được chia làm 4 nhóm:
- Nhóm hợp chất có Phenanthridinium
Haumidium bromide (Ethidium)
Haumidium chloride (Novidium)
Trang 32Pyrithidium bromide (Prothidium)
Isome’tamidium chloride (Trypamydium)
Trang 33- Nhóm Quinapyramine
Quinapyramine metha – sulfate (Antrycide)
Quinapyramine chloride (Pyraldin)
Quinapyramine prophyllactik (Antrycide presalt)
- Nhóm Diamidine
Diminazène acéturate (Berénil)
- Nhóm Suramine
Naganol (Naganin, Bayer 205)
Để phòng ngừa bệnh Tiên mao trùng có hiệu quả cao, các nhà khoa học thế giới đã đề nghị các hộ chăn nuôi thực hiện các biện pháp:
- Diệt trừ mầm bệnh trên vật chủ
- Chống côn trùng trung gian truyền bệnh Tiên mao trùng
- Phòng nhiễm Tiên mao trùng cho gia súc bằng hóa dược
1.10.1 Diệt trừ mầm bệnh trên vật chủ
Theo Phạm Sỹ Lăng (1982), diệt ký sinh trùng trên ký chủ không những đã ngăn chặn được tác hại gây bệnh của chúng, mà còn làm cho bệnh mất khả năng lây lan và để diệt ký sinh trùng trên ký chủ có hiệu quả cao cần phải có biện pháp cụ thể như: phát hiện những gia súc nhiễm Tiên mao trùng ở vùng có bệnh, những vùng lân cận phải thường xuyên kiểm tra đàn gia súc, phát hiện những con ốm, những con mang trùng Nhốt riêng trong chuồng có lưới ngăn chặn côn trùng, điều trị cho khỏi bệnh Ngăn chặn không cho mầm bệnh lây lan sang gia súc khoẻ Không để các khu
vực chăn thả còn tàng trữ mầm bệnh T.evansi ở những vùng không có bệnh
T.evansi thì không nên nhập gia súc từ vùng đang có bệnh T.evansi lưu hành Nếu
cần thiết thì kiểm tra máu gia súc khi chuyển tới để xử lý những con mang trùng
Chỉ nhập những gia súc khoẻ, nếu gia súc bị nhiễm bệnh T.evansi thì phải nhốt
riêng, điều trị khỏi mới được nhập đàn Phát hiện, diệt những loài thú hoang nghi là
nguồn tàng trữ mầm bệnh T.evansi, hoặc không chăn thả gia súc trong những khu
vực sinh sống của các loài thú này Ở Mỹ để tiêu diệt bệnh Tiên mao trùng trong
nhiều năm người ta đã không nhập gia súc từ các nước lưu hành bệnh T.evansi Một
số nước châu Phi đã áp dụng biện pháp diệt thú hoang, nhưng đã bị các nhà sinh học phản đối, vì như vậy có nguy cơ diệt chủng những loài thú quý
Trang 341.10.2 Chống côn trùng trung gian truyền bệnh Tiên mao trùng
- Diệt côn trùng bằng phương pháp sinh thái
Theo Phạm Sỹ Lăng (1982), nguyên tắc là thay đổi điều kiện sống, làm cho côn trùng không sinh sản, không thực hiện được chu kỳ phát triển Do vậy cần phải tiến hành các biện pháp: phát quang, chặt cây cối từng khu vực, lấp hoặc làm thuỷ lợi tháo khô nước tù, không để khu vực nước tù, các bãi sinh lầy, ủ phân để diệt trứng, ấu trùng các loại ruồi, mòng, làm chuồng gia súc có lưới ngăn côn trùng Ở Liên Xô, người ta làm thuỷ lợi để làm khô các đầm lầy, thả dầu ma
zút lên mặt nước trong mùa phát triển của mòng họ Tabanidae, nhưng chỉ hạn
chế được một phần sự hoạt động của những côn trùng môi giới truyền bệnh Tiên mao trùng tại đấy
- Diệt côn trùng bằng chất hoá học
Khoảng 10 năm gần đây, người ta đã sử dụng nhiều loại hoá chất độc với qui mô lớn để chống ký chủ trung gian truyền lây bệnh Tiên mao trùng Tuy nhiên biện pháp này tiêu diệt được các ký chủ trung gian trong một thời gian ngắn, tỷ lệ nhiễm bệnh của gia súc giảm thấp Nhưng hoá chất đã gây nhiễm độc cho người, động vật, môi trường
1.10.3 Phòng nhiễm Tiên mao trùng cho gia súc bằng hóa dược
Các biện pháp tiêu diệt côn trùng môi giới trung gian truyền bệnh Tiên mao trùng có hiệu quả nhất định, nhưng cũng còn hạn chế nhiều mặt Vì vậy năm
1978 lại Luxaka, hội nghị chuyên đề quốc tế về phòng bệnh Tiên mao trùng đã nhấn mạnh: hiện nay biện pháp sử dụng hoá dược để tiêm phòng rộng rãi cho gia súc ở những vùng có lưu hành bệnh Tiên mao trùng còn cần phải tiếp tục trong nhiều năm (Touratier, L, Aims, 1979)
Ngay từ năm 1934 tổ chức dịch tễ thế giới đã đề nghị sử dụng Novarsenolbenzol để tiêm phòng cho toàn đàn ngựa ở những vùng có tỷ lệ nhiễm Tiên mao trùng cao
Gill, B.S (1965), đã nghiên cứu gây miễn dịch cho chuột nhắt non chống lại
một chủng của T.evansi cùng loại, trên cơ sở đó đã tạo ra một vacxin Nhưng vacxin
này chỉ có hiệu quả đối với chuột mà không có tác dụng đối với gia súc lớn
Trang 35Theo Phạm Sỹ Lăng (1982), ở nước ta sau năm 1954 đã áp dụng nhiều tiến
bộ kỹ thuật của thế giới trong phòng trị bệnh Tiên mao trùng cho đàn trâu, bò cày kéo, lấy thịt, lấy sữa đã đem lại nhiều kết quả Dưới đây là một số hoá dược chính đã
sử dụng để phòng chống bệnh Tiên mao trùng ở nước ta
1 Naganin, liều 10mg/kg trọng lượng, thuốc có tác dụng rất tốt điều trị bệnh
Tiên mao trùng trâu do T.evansi gây nên ở nước ta (Phan Địch Lân, 1983; Hồ Văn
Nam, 1963); Phạm Sỹ Lăng, 1972; Đoàn Văn Phúc và cs., 1981; Nguyễn Văn Duệ
và cs, 1995)
2 Novarsennobenzol, liều 0,01 g/kg trọng lượng, điều trị 2 lần cách nhau
2 ngày, hiệu lực của thuốc đạt 80%, tỷ lệ an toàn 80,3% - 825 (theo Hồ Văn Nam, 1963; Phạm Sỹ Lăng, 1982)
3 Trypamydium, liều 1 mg/kg trọng lượng, tiêm bắp sâu rất an toàn, hiệu lực của thuốc đạt 100% (Đoàn Văn Phúc và cs., 1981; Phạm Văn Khuê, 1962; Nguyễn Quốc Doanh và cs., 1996; Hồ Thị Thuận, 1980[32]; Nguyễn Văn Duệ và cs., 1995)
4 Berenil, liều điều trị 7 mg/kg trọng lượng, tiêm bắp (Hồ Thị Thuận, 1980; Lê Ngọc Mỹ, 1996 – 2000; Nguyễn Văn Duệ và cs., 1995)
5 Trypamydium samorin, liều 1 mg/kg trọng lượng, tiêm bắp sâu rất an toàn, hiệu lực của thuốc đạt 100% (Nguyễn Quốc Doanh và cs., 1996)
6 Trypazen, liều 3,5 mg/kg trọng lượng, thuốc rất an toàn, tỷ lệ khỏi bệnh 100% (Nguyễn Quốc Doanh và Phạm Sỹ Lăng, 1996; Phạm Văn Khuê, 1962) Phạm Sỹ Lăng (1982); Nguyễn Văn Duệ và cs (1995), đã nghiên cứu, sử dụng 5 loại hoá dược Naganol, Sulfarsenol, Novarsenobenzol, Berenil, Trypamydium để phòng, điều trị bệnh Tiên mao trùng, tác giả đã đề xuất 5 phác
đồ điều trị đã cho kết quả tốt
Phác đồ 1: Naganol dùng 2 liều, liều đầu 0,01 g/kg, liều 2 dùng 0,02 g/kg,
2 liều tiêm cách nhau 1 – 2 ngày thuốc tiêm tĩch mạch hoặc bắp thịt pha nước cất theo tỷ lệ 1:10
Phác đồ 2: Novarsenobenzol dùng 3 liều, liều đầu dùng 0,005 g/kg, liều 2 dùng 0,008 g/kg, liều 3 dùng 0,01 g/kg, mỗi liều cách nhau 1 – 2 ngày, thuốc pha với nước cất theo tỷ lệ 1:10 tiêm tĩnh mạch, tiêm thuốc trợ tim trước
Trang 36Phác đồ 3: Sulfasenol: dùng 2 liều, liều đàu 0,01 g/kg, liều 2 dùng 0,01 g/kg, 2 liều tiêm tĩnh mạch, có tiêm trợ tim, trợ sức trước
Phác đồ 4: sử dụng Novarsenobenzol, Naganol, dùng 2 liều, liều đầu dùng Novansenobenzol 0,01 g/1kg, liều 2 dùng Naganol 0,01 g/1kg; 2 liều tiêm cách nhau 1 – 2 ngày, pha nước cất theo tỷ lệ 1:10 thuốc tiêm theo tĩnh mạch, có sử dụng thuốc trợ tim mạch
Phác đồ 5: sử dụng Trypamydium dùng 1 liều 1 mg/kg thuốc pha với nước cất theo tỷ lệ 1,5 – 2:100, tiêm tĩnh mạch hoặc bắp thịt
Từ những kết quả nghiên cứu về bệnh TMT do T.evansi các nhà khoa học đã xây dựng được quy trình phòng bệnh TMT do T.evansi và theo các nhà khoa học để khống chế được bệnh TMT do T.evansi cần phải thực hiện the quy trình là:
- Diệt Tiên mao trùng T.evansi
- Ngăn chặn không cho mầm bênh lây lan
- Chăm sóc nuôi dưỡng tốt vật chủ
- Chống côn trùng trung gian môi giới truyền bệnh
Diệt T.evansi trên thân gia súc: định kỳ kiểm tra máu đàn trâu, bò mỗi năm
2 lần hoặc 3 lần, phát hiện trâu, bò bệnh hoặc mang trùng, để kịp điều trị, thanh
toán nguồn tàng trữ mầm bệnh T.evansi trong tự nhiên Ngăn không cho mầm
bệnh lây lan: thực hiện tiêm hoá dược phòng nhiễm (Naganol, Trypamydium, Berenil) cho đàn trâu, bò có lưu hành bệnh, theo định kỳ một năm hai lần vào thời gian mà ruồi, mòng hoạt động, truyền bệnh Ở những vùng mà đàn trâu, bò nhiễm
T.evansi trên 6% thì tổ chức tiêm cho toàn đàn Cùng với việc tiêm phòng phải
tăng sức đề kháng với bệnh T.evansi bằng biện pháp đẩy mạnh công tác nuôi
dưỡng, chăm sóc tốt đàn trâu, bò, đồng thời phải sử dụng cày kéo hợp lý Chống
côn trùng môi giới trung gian truyền bệnh T.evansi tổ chức diệt ruồi, mòng bằng
biện pháp cơ giới như phát quang bờ bụi, lấp cống rãnh để ngăn không cho ruồi có chỗ cư trú, phát triển vòng đời, diệt bằng hoá dược, phun, xua đuổi ruồi, mòng trên đàn trâu, bò khu vực chăn thả Để phòng chống bệnh Tiên mao trùng nói chung,
bệnh do T.evansi gây ra nói riêng, trên thế giới đã đạt được những thành tựu quan
trọng trong việc nghiên cứu, sản xuất các loại hoá dược đặc hiệu
Trang 37CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - VẬT LIỆU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Để lấy mẫu nghiên cứu (mẫu huyết thanh, máu) nhằm xác định tình hình
nhiễm Trypanosoma evansi ở trâu, bò tại Nông Cống chúng tôi tiến hành lấy mẫu
ở 3 vùng đại diện các vùng khí hậu trong huyện, gồm vùng giáp ranh các huyện miền núi huyện Như Thanh và Triệu Sơn, Vùng đồng bằng trung tâm huyện, Vùng giáp ranh với huyện Tĩnh Gia ven biển
Mẩu được lấy một cách ngẫu nhiên, ngẫu nhiên hệ thống và ngẫu nhiên phân tầng
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là trâu, bò các lứa tuổi thuộc các vùng
nghiên cứu của huyện Nông Cống Số lượng trâu, bò thí nghiệm đều được lấy mẫu máu ngẫu nhiên ở từng vùng, trâu, bò được chăn thả ở các bãi tự nhiên và vẫn sản xuất bình thường
- Số lượng trâu, bò nghiên cứu được phân chia theo lứa tuổi để đánh giá một cách khách quan về tình hình nhiễm Tiên mao trùng trên trâu, bò ở huyện Nông Cống
- Ở các điểm điều tra, đàn trâu được chia làm 03 lứa tuổi, phụ thuộc vào khả năng sinh lý của chúng và khả năng làm việc
+ Bê, nghé từ 1- 3 tuổi, đây là gia súc non, cơ thể đang phát triển, nhu cầu dinh dưỡng đòi hỏi cao, được chăm sóc chu đáo, chủ yếu là chăn thả, chưa tham gia việc cày kéo
+ Trâu, bò từ 3 đến 8 tuổi có số lượng đông nhất, chúng có vai trò quyết định trong việc cày kéo, lấy thịt, sinh sản
+ Trâu, bò > 8 tuổi là dạng già yếu, sống lâu năm trên địa bàn, chịu ảnh lớn của mọi điều kiện chi phối chúng, khả năng cày kéo đã bị hạn chế
Trang 382.2 Nội dung nghiên cứu
- Xác định tỷ lệ nhiễm bệnh Tiên mao trùng trên đàn trâu, bò nuôi tại Nông Cống:
+ Tỷ lệ nhiễm bệnh theo lứa tuổi
+ Tỷ lệ nhiễm bệnh theo vùng địa lý + Tỷ lệ nhiễm bệnh theo giống + Tỷ lệ nhiễm bệnh theo mùa vụ
- Nghiên cứu các biểu hiện lâm sàng của trâu, bò bệnh
- Nghiên cứu sự thay đổi về: thân nhiệt, tần số hô hấp, tần số tim của trâu,
bò bệnh
- Nghiên cứu sự thay đổi chỉ tiêu về sinh lý, sinh hóa máu của trâu, bò bệnh:
+ Số lượng hồng cầu, bạch cầu
+ Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng hồng cầu
+ Công thức bạch cầu
+ Một số chỉ tiêu sinh hoá máu (protein tổng số, các tiểu phần protein, độ
dự trữ kiềm, hàm lượng đường huyết)
+ Một số chỉ tiêu sắc tố mật (bilirubin, urobilirubin)
- Thử nghiệm một số loại thuốc điều trị bệnh Tiên mao trùng trên đàn trâu,
bò mắc bệnh thuộc huyện Nông Cống
- Biện pháp phòng, trị bệnh trên đàn trâu, bò thuộc huyện Nông cống
2.3 Vật liệu nghiên cứu
- Mẫu huyết thanh, máu được lấy từ trâu, bò ở các địa điểm nghiên cứu
- Các hóa chất, dụng cụ phòng thí nghiệm, động vật thí nghiệm phục vụ công tác chẩn đoán xét nghiệm
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp lấy mẫu
- Chúng tôi lấy máu ở tĩnh mạch cổ của trâu, bò vào buổi sáng, trước khi
trâu được chăn thả Trước khi lấy máu tiến hành cố định gia súc chắc chắn, dùng kéo cắt lông và sát trùng bằng cồn vùng lấy máu và dùng kim 16 để lấy máu Mỗi gia súc sử dụng một bộ dụng cụ lấy mẫu riêng, số hiệu mẫu được ghi chi tiết, các
Trang 39mẫu được bảo quản, vận chuyển ở nhiệt độ lạnh (Phích đá, tủ lạnh)
- Phương pháp lấy huyết thanh: Cho máu chảy từ từ vào thành ống (tránh làm vỡ hồng cầu) Khi lượng máu khoảng 4-5ml thì nút bông vào đầu ống nghiệm, sau đó để ống nghiệm nghiêng với một góc 35-45 độ, để ống nghiệm máu ở trong phòng từ 06 -12 giờ sau đó tiến hành chắt huyết thanh
- Đối với phương pháp lấy máu để tiêm truyền động vật thí nghiệm: máu được lấy cho vào lọ chống đông
2.4.2 Phương pháp chẩn đoán
Mẫu xét nghiệm được tiến hành chẩn đoán tại Phòng chẩn đoán xét nghiệm Chi cục Thú y Thanh Hóa, Thú y Vùng 3, bộ môn Nội Chẩn Học Viện Nông nghiệp Việt Nam bằng các phương pháp sau:
2.4.2.1 Phương pháp ngưng kết SAT
- Nguyên lý: trong máu trâu, bò bị bệnh Tiên mao trùng sinh ra ngưng kết
tố, có thể là ngưng kết Tiên mao trùng thành cụm như hình hoa cúc
- Các bước tiến hành phản ứng ngưng kết SAT (Sero agglutilation test):
* Bước 1 Chuẩn bị:
+ Chuẩn bị kháng nguyên là Tiên mao trùng sống được lấy từ chuột gây
nhiễm Tiên mao trùng chủng T.evansi Lấy máu chuột có lượng Tiên mao trùng
tối đa, máu chuột được xử lý bằng Natricitrat 10% (1 ml máu chuột + 0,1 ml Natricitrat)
- Pha loãng kháng nguyên với dung dịch đệm PSG thành nồng độ pha loãng 1/4-1/8
- Kháng nguyên bảo quản ở 40C có thể làm phản ứng 8-10 giờ
+ Huyết thanh chẩn đoán cũng pha loãng 1/8
* Bước 2: Tiến hành phản ứng:
- Nhỏ một giọt huyết thanh cần chẩn đoán lên phiến kính với một giọt tương đương kháng nguyên Trộn đều, đậy lá kính trong 5-10 phút, sau đó đọc phản ứng ngưng kết giữa kháng nguyên và kháng thể trên kính hiểm vi có độ phóng từ 200 - 400 lần Đánh giá kết quả phản ứng
- Phản ứng dương tính: nếu Tiên mao trùng chụm lại thành hình hoa cúc (hầu hết Tiên mao trùng bị chụm lại thành nhiều cụm hình hoa cúc khắp
Trang 40vi trường kính hiển vi) Phản ứng âm tính: Tiên mao trùng tản mạn khắp nơi Nếu một nửa phân tán, một nửa tập trung thì nghi ngờ Theo quy trình của Đoàn Văn Phúc và cs., 1992
2.4.2.2 Phương pháp tiêm truyền T.evansi cho chuột nhắt trắng
Phương pháp xét nghiệm Tiên mao trùng bằng tiêm truyền chuột nhắt trắng dùng để chẩn đoán và phân lập Tiên mao trùng Được coi là phương pháp chẩn đoán có độ chính xác đạt đến 100%
Sử dụng máu của gia súc có nhiễm Tiên mao trùng phân lập ở huyện Nông công tiêm vào cho động vật thí nghiệm trong máu của động vật thí nghiệm Tiên mao trùng phát triển, sinh sản gấp nhiều lần, kiểm tra máu của động vật thí nghiệm có phát hiện Tiên mao trung trong đó Lấy 0,4 - 0,6 ml máu tĩnh mạch tai trâu, bò có Tiên mao trung trong dung dịch có kháng đông (EDTA) tiêm vào xong phúc mạc, rồi định kỳ kiểm tra máu chuột trên kính hiển vi từ 3 - 30 (2
lần/tuần) ngay sau khi tiêm để tìm Trypanosoma evansi làm theo cách của (Đoàn
Văn Phúc, 1985)
2.4.2.3 Phương pháp xem tươi
Lấy một giọt máu ở tĩnh mạch tai nhỏ vào một giọt dung dịch chống đông máu hoà lẫn, đậy lamen, kiểm tra dưới kính hiển vi có độ phóng đại (10x 40) tìm Tiêm mao trùng di chuyển giữa các hồng cầu
2.4.2.4 Phương pháp nhuộn Giemsa
Chúng tôi lấy máu khi con vật sốt Lấy máu ở tĩnh mạch tai (trâu, bò), mèo, chó lấy máu ở tĩnh mạch chân, riêng chuột nhắt trắng và chuột lang thì cắt đuôi lấy máu phết tiêu bản
2.4.3 Phương pháp xác định biểu hiện lâm sàng
Chúng tôi tiến hành theo đợt, quan sát và ghi chép hàng ngày