Trong điều kiện các nguồn tài nguyên để sản xuất có hạn, mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa là hết sức cần thiết, tạo ra giá trị lớn về kinh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-
PHẠM THỊ NHÀN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA
HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
MÃ SỐ : 60.85.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THỊ VÒNG
HÀ NỘI, 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Phạm Thị Nhàn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình điều tra, nghiên cứu để hoàn thành luận văn, ngoài sự
nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các thầy cô giáo và sự giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo của cơ quan, đồng nghiệp
và nhân dân địa phương
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS.TS Nguyễn Thị Vòng đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và động viên tôi trong suốt thời gian thực tập
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo Khoa Quản lý đất đai – Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Phòng tài nguyên
và Môi trường, Phòng thống kê huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng; các phòng, ban, cán bộ và nhân dân các xã, Thị trấn của huyện Vĩnh Bảo đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, những người thân, cán bộ đồng nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện
đề tài này
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Vĩnh Bảo, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Phạm Thị Nhàn
Trang 41.1 Cơ sở lý luận hiệu quả sử dụng đất theo hướng hàng hóa 3 1.1.1 Cơ sở lý luận về đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp 3 1.1.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng
1.2 Cơ sở thực tiễn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo
1.2.2 Xu hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng hàng hóa 35 1.2.3 Một số nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp hàng hóa trên thế giới và ở
Trang 52.1.1 Đối tượng nghiên cứu 41
3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội liên quan đến sử
3.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Vĩnh Bảo 61
3.2.2 Thực trạng sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa 64 3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 82 3.3.1 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp 82
3.3.4 Tiềm năng phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
3.4 Định hướng chiến lược phát triển nông nghiệp theo hướng sản
3.4.4 Đề xuất sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 108 3.5 Các giải pháp thực hiện cho xây dựng các đề xuất 110
Trang 63.5.1 Giải pháp về cơ chế, chính sách 110 3.5.2 Giải pháp tiếp thị, tìm kiếm thị trường và xúc tiến thương mại 111
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
CPTG Chi phí trung gian
CN – TTCN Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp
FAO Tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới
GTGT Giá trị gia tăng
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
TLSX Tư liệu sản xuất
TSHH Tỷ suất hàng hóa
WTO Tổ chức thương mại thế giới
XSNN Sản xuất nông nghiệp
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 8DANH MỤC BẢNG
3.1 Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế của huyện Vĩnh Bảo 53 3.2 Hiện trạng sử dụng đất của huyện năm 2013 61 3.3 Một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện Vĩnh Bảo 65 3.4 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất canh tác huyện Vĩnh Bảo 67 3.5 Tình hình tiêu thụ một số loại hàng nông sản 81 3.6 Hiệu quả kinh tế các cây trồng chính tiểu vùng 1 83 3.7 Hiệu quả kinh tế các cây trồng chính tiểu vùng 2 85 3.8 Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 1 88 3.9 Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 2 89 3.10 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất huyện Vĩnh Bảo 91 3.11 Đánh giá hiệu quả kinh tế của LUT trang trại 93 3.12 Mức thu hút lao động và giá trị/ngày công lao động tiểu vùng 1 95 3.13 Mức thu hút lao động và giá trị/ngày công lao động tiểu vùng 2 96 3.14 So sánh mức đầu tư phân bón với tiêu chuẩn bón phân cân đối và
Trang 9DANH MỤC HÌNH
3.1 Sơ đồ vị trí huyện Vĩnh Bảo trong thành phố Hải Phòng 49 3.2 Biểu đồ cơ cấu ngành kinh tế huyện Vĩnh Bảo 2013 54 3.3 Cơ cấu sử dụng đất huyện Vĩnh Bảo năm 2013 63 3.4 Biểu đồ cơ cấu phân bố diện tích của các loại hình sử dụng đất 68
3.9 Trang trại chăn nuôi gia cầm ở xã Vĩnh An (Vĩnh Bảo) 78
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là quốc gia sản xuất nông nghiệp, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng Trong những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp nước ta đạt được nhiều tiến bộ vượt bậc: chuyển dần từ một nền nông nghiệp
tự cung tự cấp sang nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa; từ thiếu lương thực trở thành quốc gia có “tầm cỡ” về sản xuất lương thực phục vụ nội tiêu và xuất khẩu Với trên 70% dân số và lao động xã hội đang sống ở vùng nông thôn, trong tương lai ngành nông nghiệp nước ta vẫn có vị trí, vai trò quan trọng Tuy nhiên, nền nông nghiệp nước ta vẫn là nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, hiệu quả kinh tế thấp không còn phù hợp với kinh tế thị trường đã mở cửa
Đất đai là nền tảng để định cư và tổ chức các hoạt động kinh tế xã hội,
nó không chỉ là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, đặc biệt là đối với sản xuất nông nghiệp Đất là cơ sở của sản xuất nông nghiệp, là yếu tố đầu vào có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã hội Con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng đó Đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn về diện tích nhưng lại có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên, sự thiếu ý thức của con người trong quá trình sản xuất, quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh
mẽ trong khi khả năng khai hoang đất mới lại rất hạn chế Trong điều kiện các nguồn tài nguyên để sản xuất có hạn, mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa là hết sức cần thiết, tạo ra giá trị lớn
về kinh tế đồng thời tạo đà cho phát triển nông nghiệp bền vững
Vĩnh Bảo là một huyện đồng bằng ở phía Tây Nam Thành phố Hải
Trang 11Phòng với diện tích đất tự nhiên trên 180.53 km², dân số 186.484 người Phần lớn đất nông nghiệp của huyện đã được Hải Phòng xác định là một trong những địa bàn quan trọng cung cấp lương thực, thực phẩm cho thành phố Hải Phòng và nhiều tỉnh trong cả nước Trong những năm gần đây, nông nghiệp của huyện đã có những bước khởi sắc Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tăng, xuất hiện những sản phẩm nông nghiệp hàng hoá có giá trị như: nếp bắc, nấm, ớt, thuốc lào, ngô, rau Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp của huyện vẫn mang nặng tính truyền thống Sản xuất hàng hoá vẫn còn mang tính tự phát, chưa có quy hoạch và phương án giải quyết đầu ra nên chưa phát huy hết các tiềm năng sẵn có Vì vậy, việc nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, đưa ra những loại hình sử dụng đất, kiểu sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao, có tính hàng hoá trên địa bàn huyện là vấn đề rất cần thiết Để góp phần giải quyết vấn đề này, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng”
2 Mục đích và yêu cầu nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá nhằm góp phần giúp người nông dân lựa chọn phương thức sử dụng đất phù hợp trong điều kiện cụ thể trên địa bàn huyện
- Định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
2.2 Yêu cầu nghiên cứu
- Điều tra, đánh giá xác định được các loại hình sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả theo hướng sản xuất hàng hoá phù hợp với điều kiện đất đai trong địa bàn huyện
- Đề xuất những giải pháp thực tiễn cho sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả, trên cơ sở sản xuất hàng hóa tại huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận hiệu quả sử dụng đất theo hướng hàng hóa
1.1.1 Cơ sở lý luận về đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm và phân loại đất nông nghiệp
a Khái niệm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp (ký hiệu là NNP) là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác [29]
b Phân loại đất nông nghiệp
*) Đất sản xuất nông nghiệp (SXN): là đất nông nghiệp sử dụng vào mục
đích sản xuất nông nghiệp; bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm
MĐất trồng cây hàng năm (CHN): là đất chuyên trồng các loại cây có
thời gian sinh trưởng từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch không quá một (01) năm, kể cả đất sử dụng theo chế độ canh tác không thường xuyên, đất cỏ tự nhiên có cải tạo sử dụng vào mục đích chăn nuôi Loại này bao gồm đất trồng lúa, đất cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác
MĐất trồng cây lâu năm (CLN): là đất trồng các loại cây có thời gian
sinh trưởng trên một năm từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch kể cả cây có thời gian sinh trưởng như cây hàng năm nhưng cho thu hoạch trong nhiều năm như Thanh long, Chuối, Dứa, Nho, v.v.; bao gồm đất trồng cây công nghiệp lâu năm, đất trồng cây ăn quả lâu năm và đất trồng cây lâu năm khác
Trang 13*) Đất lâm nghiệp (LNP): là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng
trồng đạt tiêu chuẩn rừng, đất đang khoanh nuôi phục hồi rừng (đất đã có rừng bị khai thác, chặt phá, hoả hoạn nay được đầu tư để phục hồi rừng), đất để trồng rừng mới (đất có cây rừng mới trồng chưa đạt tiêu chuẩn rừng hoặc đất đã giao để trồng rừng mới); bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng
MĐất rừng sản xuất (RSX): là đất sử dụng vào mục đích sản xuất lâm
nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; bao gồm đất có rừng tự nhiên sản xuất, đất có rừng trồng sản xuất, đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất, đất trồng rừng sản xuất
MĐất rừng đặc dụng (RDD): là đất để sử dụng vào mục đích nghiên
cứu, thí nghiệm khoa học, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, vườn rừng quốc gia, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh, bảo vệ môi trường sinh thái theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; bao gồm đất có rừng tự nhiên đặc dụng, đất có rừng trồng đặc dụng, đất khoanh nuôi phục hồi rừng đặc dụng, đất trồng rừng đặc dụng
*) Đất nuôi trồng thuỷ sản (NTS): là đất được sử dụng chuyên vào
mục đích nuôi, trồng thuỷ sản; bao gồm đất nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt
3*) Đất làm muối (LMU): là ruộng muối để sử dụng vào mục đích sản
xuất muối
Trang 14*) Đất nông nghiệp khác (NKH): là đất tại nông thôn sử dụng để xây
dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống; xây dựng kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp [29]
1.1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất nông nghiệp
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện cho sự sống của động - thực vật và con người trên trái đất Đất đai là điều kiện rất cần thiết
để con người tồn tại và tái sản xuất các thế hệ kế tiếp nhau của loài người Đất đai tham gia vào tất cả các ngành kinh tế của xã hội Tuy vậy, đối với từng ngành cụ thể đất đai có vị trí khác nhau
Trong nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng, đất đai có
vị trí đặc biệt Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế Đặc biệt vì đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Đất đai là đối tượng lao động vì đất đai chịu sự tác động của con người trong quá trình sản xuất như: cày, bừa, xới, để có môi trường tốt cho sinh vật phát triển Đất đai là tư liệu lao động vì đất đai phát huy tác dụng như một công cụ lao động Con người sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi Không có đất đai thì không có sản xuất nông nghiệp Với sinh vật, đất đai không chỉ là môi trường sống, mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng Năng suất cây trồng, vật nuôi phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất đai Diện tích, chất lượng của đất đai quy định lợi thế so sánh của mỗi vùng cũng như cơ cấu sản xuất của từng nông trại và của cả vùng Vì vậy, việc quản lý, sử dụng đất đai nói chung cũng như đất nông nghiệp nói
Trang 15riêng một cách đúng hướng, có hiệu quả, sẽ góp phần làm tăng thu nhập, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội
Bên cạnh đó, một bộ phận lớn đất ngập nước: các đầm lầy, sông ngòi, kênh rạch, rừng ngập mặn, các vũng, vịnh ven biển, hồ nước nhân tạo,…còn có nhiều vai trò quan trọng khác Đây là nơi cung cấp nhiên liệu, thức ăn, là nơi diễn ra các hoạt động giải trí, nuôi trồng thủy sản, lưu trữ các nguồn gien quý hiếm Ngoài ra, đất nông nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc lọc nước thải, điều hoà dòng chảy (giảm lũ lụt và hạn hán), điều hòa khí hậu địa phương, chống xói lở ở bờ biển, ổn định mạch nước ngầm cho nguồn sản xuất nông nghiệp, tích lũy nước ngầm, là nơi cư trú của các loài chim, phát triển du lịch,…
Hướng sử dụng đất quy định hướng sử dụng các tư liệu sản xuất khác
và hiệu quả sản xuất Chỉ có thông qua đất, các tư liệu sản xuất mới tác động đến hầu hết các cây trồng, vật nuôi Vì vậy, muốn làm tăng năng suất đất đai, giữ gìn và bảo vệ đất đai để đảm bảo cả lợi ích trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài, cần sử dụng đất tiết kiệm có hiệu quả, cần coi việc bảo vệ lâu bền nguồn tài nguyên vô giá này là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp bách đối với mỗi quốc gia [5]
1.1.1.3 Sử dụng đất nông nghiệp
a Sử dụng đất nông nghiệp
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người - đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường Quy luật phát triển kinh tế - xã hội cùng với yêu cầu bền vững về mặt môi trường cũng như hệ sinh thái quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất hợp lý, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới lợi ích sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại Trong mỗi phương thức sản
Trang 16xuất nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai Với vai trò là nhân tố cơ bản của sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất nông nghiệp được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất đai được sử dụng, hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy
mô kinh tế sử dụng đất
- Giữ mật độ sử dụng đất đai thích hợp, hình thành việc sử dụng đất đai một cách kinh tế, tập trung, thâm canh [9]
b Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
*) Đất nông nghiệp cần được sử dụng đầy đủ và hợp lý
Sử dụng đầy đủ và hợp lý đất nông nghiệp có nghĩa là đất nông nghiệp cần được sử dụng hết và mọi diện tích đất nông nghiệp đều được bố trí sử dụng phù hợp với đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của từng loại đất để vừa nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi vừa duy trì được độ phì nhiêu của đất
*) Đất nông nghiệp cần được sử dụng có hiệu quả kinh tế cao
Đây là kết quả của nguyên tắc thứ nhất trong sử dụng đất nông nghiệp Nguyên tắc chung là đầu tư vào đất nông nghiệp đến khi mức sản phẩm thu thêm trên một đơn vị diện tích bằng mức chi phí tăng thêm trên một đơn vị diện tích đó
*) Đất nông nghiệp cần được quản lý và sử dụng một cách bền vững
Sự bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp có nghĩa là cả số lượng và chất lượng đất nông nghiệp phải được bảo tồn không những để đáp ứng mục đích trước mắt của thế hệ hiện tại mà còn phải đáp ứng được cả nhu
Trang 17cầu ngày càng tăng của các thế hệ mai sau Sự bền vững của đất nông nghiệp gắn liền với điều kiện sinh thái môi trường Vì vậy, cần áp dụng các phương thức sử dụng đất nông nghiệp kết hợp hài hòa lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài
Yêu cầu của các LUT là những đòi hỏi về đặc điểm và tính chất đất đai để bảo vệ mỗi LUT phát triển bền vững Đó là những yêu cầu sinh
trưởng, quản lý, chăm sóc, các yêu cầu bảo vệ đất và môi trường.[33]
Có thể liệt kê một số LUT khá phổ biến trong nông nghiệp hiện nay, như:
- Chuyên trồng lúa: có thể canh tác nhờ nước mưa hay có tưới chủ động, trồng 1 vụ, 2 vụ hay 3 vụ trong năm;
- Chuyên trồng màu: thường được áp dụng cho những vùng đất cao thiếu nước tưới, đất có thành phần cơ giới nhẹ;
- Kết hợp trồng lúa với cây trồng cạn, thực hiện những công thức luân canh nhiều vụ trong năm nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu cuộc sống con người, đồng thời còn có tác dụng cải tạo độ phì của đất Cũng có thể nhằm khắc phục những hạn chế về điều kiện tưới không chủ động một số tháng trong năm, nhất là mùa khô
- Trồng cỏ chăn nuôi;
- Nuôi trồng thủy sản;
Trang 181.1.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
1.1.2.1 Khái quát về hiệu quả
a Khái niệm: Hiệu quả là một phạm trù khoa học phản ánh quan hệ so sánh
giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó trong một thời kỳ nhất định
b. Phân loại hiệu quả: Các nhà kinh tế thường phân loại hiệu quả theo các
tiêu thức sau đây:
*) Theo lĩnh vực hoạt động của xã hội, hiệu quả bao gồm: hiệu quả
kinh tế, hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả xã hội, hiệu quả quốc phòng
*) Theo phạm vi lợi ích, hiệu quả bao gồm hiệu quả tài chính và hiệu
quả kinh tế - xã hội
*) Theo mức độ phát sinh, hiệu quả bao gồm: hiệu quả trực tiếp và hiệu
quả gián tiếp
*) Theo cách tính toán, hiệu quả bao gồm: hiệu quả tuyệt đối và hiệu
quả tương đối Hiệu quả tuyệt đối được tính bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí Hiệu quả tương đối được tính bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí Hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp đã được nhiều học giả nghiên cứu, nổi bật nhất là Theodore W Schultz (1964), Rizzo (1979) và Ellis (1993) Các học giả này đều cho rằng cần phân biệt 3 khái niệm cơ bản về hiệu quả là: hiệu quả kỹ thuật (technical efficiency), hiệu quả phân bổ (allocative efficiency) và hiệu quả kinh tế (economic efficiency)
*) Hiệu quả kỹ thuật (TE): là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên
một đơn vị đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp Hiệu quả
kỹ thuật được áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mô để xem xét tình hình sử dụng nguồn lực cụ thể Hiệu quả này thường được phản ánh trong hàm sản
Trang 19xuất Hiệu quả kỹ thuật liên quan đến phương diện vật chất của sản xuất, hiệu quả này chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm Hiệu quả kỹ thuật phụ thuộc nhiều vào bản chất kỹ thuật và công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp, phụ thuộc vào kỹ năng của người sản xuất cũng như môi trường kinh tế - xã hội khác mà trong đó kỹ thuật được áp dụng
Như vậy, có thể hiểu hiệu quả kỹ thuật trong sử dụng đất nông nghiệp là
số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp Hiệu quả kỹ thuật liên quan đến phương diện vật chất của sản xuất, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp chỉ ra rằng một đơn vị diện tích đất nông nghiệp được dùng vào sản xuất đem lại thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm
*) Hiệu quả phân bổ (AE): là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố giá sản
phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí chi thêm về đầu vào hay nguồn lực Thực chất của hiệu
quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố về giá đầu vào và đầu ra Vì thế mà hiệu quả phân bổ còn được gọi là hiệu quả giá (price efficiency) Việc xác định hiệu quả này giống như xác định các điều kiện về
lý thuyết cận biên để tối đa hóa lợi nhuận Điều đó có nghĩa là hiệu quả này đạt được khi giá trị biên của sản phẩm phải bằng chi phí biên của nguồn lực
sử dụng vào sản xuất
*) Hiệu quả kinh tế (EE): là mục tiêu của người sản xuất, là thước đo
phản ánh mức độ thành công của người sản xuất trong việc lựa chọn tổ hợp đầu vào và đầu ra tối ưu EE được tính bằng tích của hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ (EE = TE*AE)
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế, trong đó sản xuất đạt cả hiệu
Trang 20quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật
và giá trị đều được tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạt được một trong hai hiệu quả, hoặc là hiệu quả kỹ thuật, hoặc là hiệu quả phân bổ thì mới chỉ thỏa mãn điều kiện cần chứ chưa
phải là điều kiện đủ cho hiệu quả kinh tế Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn
lực đạt cả chỉ tiêu về hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt được hiệu quả kinh tế Như vậy, để đạt được hiệu quả kinh tế
trong sử dụng đất nông nghiệp cũng cần phải đạt được cả hiệu quả kỹ thuật
và hiệu quả phân bổ Hiệu quả kinh tế chỉ thể hiện mục đích của người sản xuất là tối đa hóa lợi nhuận
Muốn sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa cần quan tâm chủ yếu đến hiệu quả kinh tế Song, để hiểu rõ về hiệu quả kinh
tế, cần phải phân biệt kết quả với hiệu quả kinh tế, phân biệt hiệu quả kinh
tế với các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế Bên cạnh đó, cũng cần nhận ra những ưu điểm, nhược điểm của phương thức đánh giá hiệu quả kinh tế theo quan điểm truyền thống và quan điểm hiện đại
Về sự khác nhau giữa kết quả và hiệu quả kinh tế, ta thấy, hiệu quả
kinh tế là phạm trù so sánh thể hiện mối tương quan giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu được, còn kết quả kinh tế chỉ là một yếu tố trong được sử dụng
để xác định hiệu quả mà thôi
Thực tế cho thấy, các hoạt động sản xuất kinh doanh của từng tổ chức cũng như của cả nền kinh tế quốc dân mang lại kết quả được tính bằng khối lượng sản phẩm hàng hoá, giá trị sản lượng hàng hoá, doanh thu bán hàng,… Nhưng kết quả này chỉ phản ánh quy mô hoạt động kinh tế mà chưa phản ánh được trình độ tổ chức sản xuất của một đơn vị hoặc một nền kinh
tế, chưa trả lời được các câu hỏi như: được tạo ra bằng cách nào? Bằng phương tiện gì? Chi phí bằng bao nhiêu?
Trang 21Để giải quyết được vấn đề này, kết quả của quá trình sản xuất phải được đặt trong mối quan hệ so sánh với chi phí và nguồn lực khác Trong điều kiện giới hạn nguồn lực, phải tạo ra kết quả sản xuất cao, tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hoá cho xã hội Chính điều này thể hiện trình độ sản xuất trong nền kinh tế quốc dân mà theo C.Mác thì đây là cơ sở để phân biệt trình độ văn minh của nền sản xuất này so với nền sản xuất khác Hiệu quả kinh tế chính là yếu tố thể hiện được điều này
Tóm lại, việc nâng cao hiệu quả kinh tế được hiểu là nâng cao các chỉ
tiêu đo lường và mức độ đạt được các mục tiêu định tính theo hướng tích cực
1.1.2.2 Khái quát hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Trong lĩnh vực sử dụng đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế, thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền Đồng thời về mặt hiệu quả xã hội là thể hiện mức thu hút lao động trong quá trình hoạt động kinh tế để khai thác sử dụng đất Riêng đối với ngành nông nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng nông sản thu hoạch được, nhất là các loại nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu…) để đảm bảo sự ổn định về kinh tế - xã hội đất nước
Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa
Trang 22học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn
là mong muốn của nông dân - những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp.[25]
Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng, vấn đề đánh giá hiệu quả sử dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó
mà phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
a Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể
là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Theo nhà kinh tế Samuel – Nordhuas thì
“Hiệu quả là không lãng phí” Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau, Rusteruyer, Simmerman) hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích cho
xã hội [19]
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau
Vì thế, hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:
- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”;
- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệ thống;
- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi ích của con người
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết
Trang 23quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra
là phần giá trị của nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh
tế sử dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội" [18]
b Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất Theo Nguyễn Duy Tính, hiệu quả về mặt xã hội của sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định
bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp [23]
Hiệu quả xã hội được thể hiện thông qua mức thu hút lao động, thu nhập của nhân dân, Hiệu quả xã hội cao góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, phát huy được nguồn lực của địa phương, nâng cao mức sống của nhân dân Sử dụng đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc sử dụng đất bền vững hơn [20]
c Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái
(>35%) đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài [13]
Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo chiều hướng khác nhau Cây trồng phát triển tốt khi phù hợp với đặc
Trang 24tính, tính chất của đất Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt động sản xuất, phương thức quản lý của con người, hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường
Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: hiệu quả hoá học, hiệu quả vật lý và hiệu quả sinh học môi trường [12]
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá thông qua mức độ sử dụng các chất hoá học trong nông nghiệp Đó là việc
sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trường
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào
1.1.2.3 Khái quát sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa
a Hàng hóa, sản xuất hàng hóa
Đối với hộ nông dân, những sản phẩm được đưa ra bán thì gọi là hàng hóa (Nguyễn Đình Hợi, 1993) [15] Đối với hệ thống trồng trọt, nếu mức hàng hóa được bán ra thị trường dưới 50% thị gọi là hệ thống nông nghiệp thương mại hóa một phần, nếu trên 50% thì gọi là hệ thống trồng trọt thương mại hóa (Hà Thị Thanh Bình, 2000) [3] Hàng hóa là sản phẩm của lao động dùng để trao đổi Sản xuất hàng hóa là sản xuất ra sản phẩm đem bán để thu
về giá trị của nó trong đó có phần giá trị thặng dư để tái sản xuất và mở rộng quy mô[27]
Hàng hóa là sản phẩm do người lao động tạo ra, nhưng để trao đổi, sản
Trang 25xuất hàng hóa ra đời và phát triển dựa trên cơ sở phát triển các phương thức sản xuất và sự phân công lao động xã hội Sự phân công ấy càng cao, càng sâu sắc, trình độ chuyên môn hóa cao thì sản xuất hàng hóa càng phát triển, đời sống người dân ngày một tăng lên Điều đó lại làm cho quá trình trao đổi hàng hóa diễn ra mạnh hơn, sản xuất hàng hóa càng phát triển đa dạng hơn
Nền kinh tế thị trường ra đời làm nảy sinh mối quan hệ cung cầu trên thị trường Đối với sản xuất nông nghiệp thì khả năng cung cho thị trường là các loại nông sản phẩm còn cầu nông nghiệp là các yếu tố đầu vào như phân bón, thuốc trừ sâu Hiện nay, nếu chủ hộ không chuyên môn hóa cao trong việc sản xuất kinh doanh, không thay đổi giống và thâm canh tăng vụ thì kết quả sản xuất cũng chỉ để thỏa mãn nhu cầu của mình mà không có sản phẩm mang ra bán ở thị trường, hoặc sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu của thị trường và sẽ không có tích lũy để đề phòng rủi ro Trong sản xuất hàng hóa rủi ro về thị trường luôn là mối lo ngại nhất của người sản xuất
Theo Nguyễn Duy Bột (2001) [12], thị trường và hoạt động tiêu thụ nông sản phẩm ở nước ta nổi lên một số vấn đề sau:
- Hầu hết các sản phẩm nông nghiệp thường bị tồn đọng, nhất là vào vụ thu hoạch
- Trong tất cả các kênh phân phối liên quan đến sản xuất nông nghiệp đều có sự tham gia rất phổ biến của tư thương Phân phối qua nhiều khâu trung gian đã làm chậm quá trình lưu thông sản phẩm, thậm chí gây ách tắc dẫn đến tồn đọng giả tạo
- Hệ thống kinh doanh thương mại Nhà nước đang lâm vào thế lúng túng Thị trường đầu ra không ổn định gây khó khăn thường xuyên cho nông nghiệp trong việc bao mua sản phẩm và bao cung tư liệu sản xuất
- Đối với nông dân, trong sản xuất nông nghiệp vẫn phổ biến là ”bán cái mình có chứ chưa phải bán cái thị trường cần”, hoạt động sản xuất kinh
Trang 26doanh chủ yếu sử dụng cái sẵn có chứ chưa chủ động khai thác các yếu tố của nền kinh tế thị trường
Từ những vấn đề trên cho thấy: xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa là hướng đi đúng, là sự tiến hóa hợp quy luật Do đó, tìm kiếm thị trường và những giải pháp sản xuất, đầu tư hợp lý để sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa có hiệu quả cao, ổn định là rất cần thiết
b Sự cần thiết sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa
Sản xuất hàng hóa là sự biểu hiện của lực lượng sản xuất đã phát triển
có sự tồn tại của chủ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Sản xuất hàng hóa phản ánh về trình độ của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hội
Sự phân công lao động của xã hội này càng sâu sắc bao nhiêu thì sản xuất hàng hóa càng phát triển bấy nhiêu, sự phát triển hàng hóa phải gắn với sự trao đổi của thị trường và chính sách của Nhà nước Nông nghiệp sản xuất hàng hóa phải gắn liền với trình độ canh tác của người nông dân, người nông dân cần phải biết chuyên môn hóa, tập trung trong sản xuất nhằm tạo ra nông sản phẩm nhiều về số lượng, tăng cường về chất lượng, đa dạng về chủng loại
để thỏa mãn nhu cầu của thị trường, đem lại hiệu quả cao nhất trên một đơn vị diện tích nông nghiệp
Nông nghiệp là một hoạt động sản xuất cơ bản của mỗi quốc gia Nhiều nước trên thế giới có nền kinh tế phát triển, tỉ trọng của sản xuất công nghiệp
và dịch vụ trong thu nhập quốc dân chiếm phần lớn Tuy nhiên những khó khăn, trở ngại trong nông nghiệp đã gây ra không ít xáo động trong đời sống
xã hội và ảnh hưởng sâu sắc đến tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh
tế nói chung Đối với các nước có nền kinh tế kém phát triển hơn, nông nghiệp lại càng đóng vai trò thiết yếu Để nông nghiệp có thể thực hiện được vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế quốc dân đòi hỏi sản xuất nông nghiệp phải phát triển toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc
Trang 27Đặc biệt ngày nay khi Việt Nam trở thành viên thứ 150 của WTO Hơn hai mươi năm nay, hàng nông sản Việt Nam đã được xuất khẩu đi nhiều nước, nhiều mặt hàng năm trong tốp đứng đầu thế giới Theo kết quả thực hiện kế hoạch giai đoạn 2000 – 2010 tại báo cáo Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020 của Bộ NN & PTNT, năm 2009 Việt Nam có lượng xuất khẩu nông sản tương đối lớn: gạo 5,5 triệu tấn, cà phê 1 triệu tấn, cao su
600 000 tấn, hồ tiêu 100 000 tấn, hạt điều chế biến 150000 tấn,… Vào WTO, trong vòng 5-7 năm, thuế nhập khẩu bình quân giảm từ 17,4% xuống còn 13,4%; riêng hàng nông sản trong 5 năm tới thuế nhập khẩu giảm từ 23,5% hiện xuống còn 20,9% Chúng ta phải nhanh chóng đổi mới nền nông nghiệp
để đáp ứng được nhu cầu của thị trường, đảm bảo chất lượng Con đường tất yếu để phát triển nông nghiệp nước ta hiện nay là phải chuyển từ sản xuất nhỏ
tự túc tự cấp sang sản xuất hàng hóa
Ở Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu nông sản đã chiếm tới 30 - 40% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước [6], điển hình như cao su, cà phê, hồ tiêu, chè, lúa, Tuy nhiên, năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa Việt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực và các nước trên thế giới Điều đó làm cho các sản phẩm hàng hóa khó tiêu thụ, ảnh hưởng đến thu nhập của người sản xuất Theo Đặng Hữu (2000) [6], nguyên nhân sâu xa của tình trạng trên là do bố trí cây trồng, vật nuôi chủ yếu dựa vào tiềm năng tự nhiên mà chưa dựa vào các luận cứ khoa học, chưa tổ chức tốt việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật Một trong những nguyên nhân của việc xuất khẩu hàng hóa sụt giảm là ”chúng ta chưa có tập quán sản xuất nông nghiệp chất lượng cao để cạnh tranh với thị trường thế giới” (Hoàng Thu Hà, 2001) [11] Mặt khác, số đông nông dân còn thiếu những hiểu biết về kinh tế thị trường, thiếu năng lực, bản lĩnh và trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp hàng hóa Do đó, sản xuất hàng hóa còn mang tính tự phát, thiếu ổn định và thiếu
Trang 28định hướng thị trường Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với phát triển sản xuất nông nghiệp hiện nay là phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa có định hướng và thị trường ổn định
Chuyển sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa là sự tiến hóa hợp quy luật, đó là quá trình chuyển nền nông nghiệp truyền thống, lạc hậu sang nền nông nghiệp hiện đại phù hợp với cơ chế thị trường theo định hướng XHCN Sản xuất hàng hóa là quy luật khách quan của mọi hình thái kinh tế xã hội, nó phản ánh trình độ phát triển sản xuất của xã hội đó (Nguyễn Duy Tính, 1995) [23] Theo Lê Nin thì nguồn gốc của sản xuất hàng hóa là sự phân công lao động xã hội (Vũ Thị Phương Thụy, 2000) [21] Vì thế, nền kinh tế tự cung tự cấp gắn liền với nền kinh tế đóng cửa và gần như tách biệt với thị trường làm cho nông dân có cuộc sống thấp do năng suất lao động thấp, thế vận động kinh tế hộ nông dân tự cấp tự túc lên sản xuất hàng hóa, kích thích sự phát triển kinh tế nông hộ lên sản xuất hàng hóa là đúng quy luật, nhằm tạo ra lực lượng sản xuất mới ở nông thôn, tạo nhiều sản phẩm hàng hóa (Vũ Thị Ngọc Trân, 1996) [24]
Nền sản xuất hàng hóa có đặc trưng là cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, trình độ khoa học - kỹ thuật, trình độ văn hóa của người lao động cao Đó
là nền sản xuất nông nghiệp có cơ cấu sản xuất hợp lý, được hình thành trên
cơ sở khai thác tối đa thế mạnh sản xuất nông nghiệp từng vùng Vì thế nó là nền nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao, khối lượng hàng hóa nhiều với nhiều chủng loại phong phú, đa dạng (Nguyễn Đình Hợi, 1993) [15]
Việc đưa nông nghiệp sang phát triển sản xuất hàng hóa là quá trình lâu dài và đầy những khó khăn phức tạp, cần phải gắn liền với việc hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên canh và thâm canh ngày càng cao và phải gắn nông nghiệp với lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp chế biến và được thực hiện thông qua việc phân công lại lao động, xã hội hóa sản xuất, ứng
Trang 29dụng các công nghệ mới vào sản xuất
Báo cáo Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020
đã nêu rõ: “Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài” Định hướng phát triển của vùng đồng bằng sông Hồng là: “sản xuất thâm canh lúa đặc sản, rau, hoa và cây trồng vụ đông; phát triển các làng nghề, ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới và dịch vụ”
Nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, đòi hỏi phải đẩy mạnh sản xuất nông - lâm - thuỷ sản theo hướng hàng hoá với cơ cấu và chất lượng sản phẩm đa dạng nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá trên thị trường trong nước
và quốc tế Do vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, đẩy nhanh việc hình thành các vùng sản xuất tập trung và chuyên môn hoá nông sản hàng hoá cả
về số lượng và quy mô diện tích với chất lượng sản phẩm đáp ứng được các yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước là vấn đề cấp bách
Sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa có những ưu thế đặc biệt
Nó thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động
xã hội Trong kinh tế hàng hóa có sự tác động của quy luật giá trị, sự nghiệt ngã của cạnh tranh, sự khắt khe của thị trường và quy luật cung cầu, buộc người nông dân phải năng động và biết tính toán, cải tiến kỹ thuật, tiết kiệm, nâng cao chất lượng các sản phẩm nông nghiệp cho phù hợp với nhu cầu xã hội Khi có sản xuất hàng hóa, quá trình xã hội hóa sản xuất nhanh chóng được thúc đẩy làm cho sự phân công chuyên môn hóa sản xuất ngày càng sâu sắc, hợp tác hóa chặt chẽ, hình thành các mối liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau, hình thành thị trường trong nước và thế giới, thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, thúc đẩy quá trình dân chủ hóa, bình đẳng và tiến bộ xã hội Vì vậy, sản
Trang 30xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá mang lại rất nhiều lợi ích
1.1.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
a Điều kiện tự nhiên
Sự phát triển của bất cứ hoạt động kinh tế nào cũng phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên Song, đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp thì tác động của nhân tố tự nhiên thể hiện rõ nét hơn cả, thậm chí còn mang tính quyết định Điều kiện tự nhiên như: vị trí, địa hình, khí hậu, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, nguồn nước, có tác động không nhỏ đến hiệu quả sử dụng đất đai trong sản xuất nông nghiệp
*) Vị trí, địa hình, đất đai: Đất đai là yếu tố sản xuất không thể thiếu
được trong sản xuất nông nghiệp, là mối quan tâm hàng đầu đối với người làm nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp phải gắn liền với đất đai, quỹ đất nhiều hay ít, tốt hay xấu, vị trí thuận lợi hay không, độ dốc lớn hay nhỏ, đều ảnh hưởng đến kết quả sản xuất và tác động đến thu nhập của người nông dân Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp bởi vì đây là cơ sở để sinh vật sinh trưởng, phát triển và tạo sinh khối Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên là cơ sở xác định cây trồng vật nuôi phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng
Ở vùng đồng bằng, đất nông nghiệp được hình thành chủ yếu do sự bồi tụ phù sa của hệ thống các sông lớn theo những loại hình tam giác châu thổ hoặc đồng bằng ven biển Với các đặc điểm là địa hình tương đối bằng phẳng, có nguồn nước tưới thuận lợi, đất đai màu mỡ phì nhiêu, đồng bằng
đã và đang là những cánh đồng lớn ngày càng phong phú về chủng loại cây trồng theo sự phát triển của giống và hệ thống canh tác mới Cùng với khí hậu, đất tạo nên môi trường sống của cây trồng Đất trồng với các đặc tính như loại đất, thành phần cơ giới, chế độ nước, độ phì, có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng, ảnh hưởng đến
Trang 31hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.[12]
*) Khí hậu, thời tiết: Yếu tố khí hậu, thời tiết ảnh hưởng trực tiếp đến
sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Nhiệt độ bình quân, sự sai khác nhiệt độ ánh sáng, lượng mưa, độ ẩm, số giờ nắng, trực tiếp ảnh hưởng tới sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi Lượng mưa có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ, độ ẩm của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho quá trình sinh trưởng của cây trồng và vật nuôi [12]
*Yếu tố cây trồng
Trong sử dụng đất nông nghiệp, cây trồng là yếu tố trung tâm Con người hưởng lợi trực tiếp từ những sản phẩm của cây trồng Những sản phẩm này cung cấp lương thực, thực phẩm cho các nhu cầu thiết yếu cho con người
và cho xuất khẩu
Việc bố trí cây trồng và kiểu sử dụng đất hợp lý trên đất đem lại những giá trị cao về mặt hiệu quả cho cả người sản xuất và môi trường đất Ngược lại, nếu cây trồng được bố trí bất hợp lý, sử dụng đất bừa bãi không những gây thất thu cho người nông dân mà còn ảnh hưởng xấu đến đất
Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của những tiến bộ khoa học,
kỹ thuật, các giống cây trồng mới với chất lượng và năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn xuất hiện ngày càng nhiều Sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển gắn với việc tăng hệ số sử dụng đất Vì vậy, những tiến bộ trong công tác giống cây trồng đã tạo cơ hội cho việc phát triển nông nghiệp hàng hoá
b Điều kiện kinh tế - xã hội
Điều kiện kinh tế - xã hội bao gồm: các yếu tố về chế độ xã hội; dân số
và lao động; thông tin và chính sách; trình độ dân trí; yêu cầu quốc phòng - an ninh; sức sản xuất và trình độ phát triển kinh tế hàng hoá; cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất; các điều kiện phát triển công nghiệp, nông nghiệp, thương
Trang 32mại, giao thông vận tải; thủy lợi; sự phát triển của khoa học kỹ thuật; trình độ quản lý sử dụng lao động; điều kiện trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực, Trong đó, các nhân tố xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo về việc sử dụng đất đai nói chung, sử dụng đất nông nghiệp nói riêng Phương thức sử dụng đất nông nghiệp được quyết định bởi yêu cầu của
xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định
Chế độ sở hữu tư liệu sản xuất và điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau
đã tác động đến việc quản lý sử dụng đất nông nghiệp, khống chế phương thức và hiệu quả sử dụng đất Trình độ phát triển xã hội và kinh tế khác nhau dẫn đến trình độ sử dụng đất nông nghiệp cũng khác nhau Nền kinh tế
và khoa học kỹ thuật nông nghiệp càng phát triển thì khả năng sử dụng đất nông nghiệp của con người càng được nâng cao
Chính sách và những quy định của Nhà nước là nhân tố ảnh hưởng
lớn đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Có bốn nhóm chính sách có tác
động gián tiếp đến hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp: nhóm
thứ nhất thường có ảnh hưởng trực tiếp là: các chính sách liên quan quyền
sử dụng đất nông nghiệp; nhóm thứ hai bao gồm các chính sách liên quan đến giá sản phẩm, giá đầu vào; nhóm thứ ba gồm các chính sách phát triển
cơ sở hạ tầng: giao thông, thủy lợi, giáo dục, thông tin, nghiên cứu và phát
triển khoa học công nghệ và nhóm thứ tư gồm các chính sách liên quan đến
Trang 33d Kỹ thuật, công nghệ
Bản chất của kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp có
ảnh hưởng rất lớn đến năng suất đất đai và hiệu quả kinh tế Như chúng ta
đã biết, đổi mới công nghệ trong nông nghiệp có thể hướng vào việc tiết kiệm các nguồn lực, phát triển các công nghệ đòi hỏi mức đầu tư thấp, ít sử dụng chất hóa học trong sản xuất nông nghiệp, phát huy kiến thức cổ truyền của nông dân và thực hiện mục tiêu đa dạng sinh học Hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp nói chung và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp nói riêng phụ thuộc nhiều vào công nghệ áp dụng trong sản xuất Có khi cùng chủng loại và số lượng đầu vào nhưng đổi mới cách thức, kỹ năng
sử dụng cũng có thể dẫn đến sự thay đổi lớn trong kết quả cũng như hiệu quả kinh tế [1]
Biện pháp kỹ thuật canh tác cũng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh
tế trong sử dụng đất nông nghiệp Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bổ và tích luỹ năng suất kinh tế Theo Đường Hồng Dật, biện pháp kỹ thuật canh tác là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của con người về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường, thể hiện những dự báo thông minh và sắc xảo, sự lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại cũng như cách sử dụng đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt mục tiêu đề ra [7]
Theo một số nhà nghiên cứu về đất đai, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì yêu cầu đối với tổ chức sử dụng đất cũng được đặt ra Thực tế cũng cho thấy, ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh
tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh Cho đến giữa thế kỷ XXI, trong nông
Trang 34nghiệp Việt Nam, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.[12]
e Điều kiện sản xuất của nông hộ
Kiến thức và kỹ năng của nông dân góp phần quan trọng trong việc
nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp Khả năng tiếp thu kỹ thuật và năng suất cây trồng, vật nuôi có liên quan chặt chẽ đến kiến thức và
kỹ năng canh tác của nông dân Trình độ văn hóa và kinh nghiệm có thể được coi là những biến độc lập quy định đến năng suất và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp [1]
Bên cạnh đó, diện tích đất, số lượng lao động, lượng vốn mà hộ nông dân có để phục vụ sản xuất nông nghiệp,…cũng là những biến số quan
trọng trong nhân tố này
f Thị trường trong nông nghiệp
Bàn về thị trường trong nông nghiệp cần kể đến thị trường đầu vào và đầu ra Phần lớn các thị trường trong nông nghiệp mang tính cạnh tranh cao hơn so với các ngành khác trong nền kinh tế Vì vậy, tạo ra thị trường cạnh tranh lành mạnh, cũng là một trong những điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp, đặc biệt là đất nông nghiệp Môi trường cạnh tranh lành mạnh, trong đó các thành phần kinh tế quốc doanh,
tư nhân và hợp tác xã có quyền ngang nhau trong việc tạo vốn, sử dụng các thông tin mua và bán sản phẩm [1]
Tóm lại, các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, khuynh hướng quan
tâm quá mức đến lợi ích kinh tế luôn luôn chi phối quá trình sử dụng đất nông nghiệp và hiệu quả của quá trình này Hiện nay, do nhiều nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan, đất đai nhìn chung đang bị khai thác một
Trang 35cách không hợp lý, cụ thể là khai thác quá mức – vượt quá khả năng mang tải (carrrying capacity) của đất, làm cho đất nông nghiệp bị giảm sút về số lượng và suy thoái về chất lượng Vì vậy, cần phải dựa vào quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế - xã hội để nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu
tố tự nhiên, kinh tế - xã hội trong việc sử dụng đất nông nghiệp Cần căn cứ vào những yêu cầu của thị trường, của xã hội để xác định hướng sử dụng đất nông nghiệp, kết hợp chặt chẽ yêu cầu sử dụng với ưu thế tài nguyên của đất đai nhằm đạt tới cơ cấu hợp lý nhất với diện tích đất nông nghiệp có hạn, mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội cũng như hiệu quả về môi trường, đồng thời nên có chính sách phù hợp nhằm cải thiện chất lượng đất nông nghiệp [12]
1.1.2.5 Đặc điểm và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
a Nguyên tắc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải dựa trên những nguyên tắc cụ thể:
- Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ thống Các chỉ tiêu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, đảm bảo tính so sánh có thang bậc [20], [15]
- Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định chỉ tiêu chính, chỉ tiêu cơ bản, biểu hiện mặt cốt yếu của hiệu quả theo quan điểm và tiêu chuẩn
đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu chính, làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn [14]
Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu
Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học, phải có
Trang 36tác dụng kích thích sản xuất phát triển
c Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
* Hiệu quả kinh tế
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường
1.2 Cơ sở thực tiễn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
1.2.1 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1.1 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Hiện nay, toàn bộ quỹ đất có khả năng sản xuất nông nghiệp trên thế giới là 3.256 triệu hecta, chiếm khoảng 22% tổng diện tích đất liền
Những loại đất tốt thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 12,6% Những loại đất quá xấu chiếm tới 40,5% Diện tích đất trồng trọt trên toàn thế giới mới chỉ chiếm 10,8% tổng diện tích đất tự nhiên (khoảng 1.500 triệu hecta), trong đó chỉ có 46% đất có khả năng sản xuất nông nghiệp còn 54% đất có khả năng sản xuất nhưng chưa được khai thác Kết quả đánh giá đất nông nghiệp của thế giới cho thấy: chỉ có 14% đất có năng suất cao, 28% đất có năng suất trung bình, nhưng có tới 58% đất có năng suất thấp [30] Hàng năm, trên thế giới diện tích đất canh tác bị thu hẹp, sản xuất nông nghiệp trở nên khó khăn hơn Không chỉ đối mặt với sự sụt giảm về diện tích, cả thế giới cũng đang lo ngại trước sự suy giảm chất lượng đất trồng Một diện tích lớn đất canh tác bị nhiễm mặn không canh tác được một phần cũng do tác động gián tiếp của sự gia tăng dân số Sự gia tăng sử dụng thuốc BVTV cũng tạo ra nguy cơ ô nhiễm đất nông nghiệp Thuốc hóa học trừ sâu, phân bón hóa học trên thế giới ngày càng được sử dụng nhiều Trong thập niên 80, thuốc BVTV được sử dụng ở các nước như: Indonexia, Pakistan, Philipin, Srilanka đã tăng hơn 10%/năm Thuốc BVTV gây hại
Trang 37nghiêm trọng cho môi trường và sức khỏe con người Theo ước lượng của
Tổ chức WHO, mỗi năm có 3% lao động trong nông nghiệp ở các nước đang phát triển (25 triệu người) bị nhiễm độc thuốc trừ sâu Thập niên 90, ở Châu Phi mỗi năm 11 triệu người bị nhiễm độc Tại Malayxia, 7% nông dân
bị ngộ độc hàng năm và 15 % bị ngộ độc ít nhất 1 lần trong đời
Hiện tượng mất rừng cũng gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng đất nông nghiệp Toàn thế giới có khoảng 3,8 tỷ hecta rừng Hàng năm mất đi khoảng trên 15 triệu hecta Tỷ lệ mất rừng nhiệt đới khoảng 2% /năm [30] Hoang mạc hoá hiện đang đe dọa 1/3 diện tích trái đất, ảnh hưởng đời sống ít nhất 850 triệu người Hoang mạc hoá là quá trình tự nhiên và xã hội Khoảng 30% diện tích trái đất nằm trong vùng khô hạn và bán khô hạn đang đứng trước nguy cơ hoang mạc hóa Hàng năm có khoảng 6 triệu hecta đất bị hoang mạc hoá, mất khả năng canh tác do những hoạt động của con người Xói mòn rửa trôi cũng là một nguyên nhân khác gây suy thoái đất Mỗi năm rửa trôi xói mòn chiếm 15% nguyên nhân thoái hoá đất Trung bình đất đai trên thế giới bị xói mòn 1,8 - 3,4 tấn/hecta/năm Tổng lượng dinh dưỡng bị rửa trôi xói mòn hàng năm là 5,4 - 8,4 triệu tấn, tương đương với khả năng sản sinh 30 - 50 triệu tấn lương thực Sự xói mòn đất dẫn tới hậu quả là làm giảm năng suất đất, tạo ra nguy cơ mất an ninh lương thực, phá hoại nguồn tài nguyên, làm mất đa dạng sinh học, mất cân bằng sinh thái và nhiều nguy cơ khác [30]
Tốc độ đô thị quá nhanh dẫn tới sự hình thành các siêu đô thị, hiện nay trên thế giới đã có khoảng 20 siêu đô thị với dân số trên 10 triệu người Sự hình thành siêu đô thị gây khó khăn cho giao thông vận tải, nhà ở, nguyên vật liệu, xử lý chất thải và cũng làm giảm bớt diện tích đất nông nghiệp [30] Đất nông nghiệp bị suy thoái, biến chất đã ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng nông sản và khả năng đảm bảo an ninh lương thực Thực tế
Trang 38cho thấy, khi đất nông nghiệp bị thoái hóa thì cuộc sống của con người bị đe dọa Theo FAO, tình trạng thoái hóa đất gia tăng đã khiến năng suất cây trồng giảm và có thể đe dọa tới tình hình an ninh lương thực đối với khoảng
¼ dân số trên thế giới Năng suất cây trồng giảm, giá lương thực tăng cao, nguồn dự trữ thấp, trong khi đó nhu cầu tiêu dùng tăng và thiên tai ngày càng nhiều đang là nguyên nhân gây nên tình trạng thiếu đói của hàng triệu người ở các nước đang phát triển
Bên cạnh hiện tượng thu hẹp về diện tích đất nông nghiệp do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và suy giảm chất lượng đất nông nghiệp
do sa mạc hóa, xói mòn, rửa trôi, mất rừng, việc chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp không bền vững sẽ làm tình trạng sản xuất nông nghiệp rơi vào
tình trạng trầm trọng hơn trong vòng luẩn quẩn: suy thoái đất – mất đa dạng
sinh học – biến đổi khí hậu – hiệu quả sử dụng đất thấp – tăng cường khai
thác đất – suy thoái đất Cùng với mức tăng dân số và sự gia tăng hàng loạt
nhu cầu của con người về các sản phẩm nông nghiệp thì cách tiếp cận quản
lý đất đai không bền vững đã đem lại nhiều thất bại
Tóm lại, đất nông nghiệp trên thế giới đã không nhiều so với tổng
diện tích tự nhiên, lại bị sử dụng kém hiệu quả và kém bền vững dẫn tới nhiều hệ luỵ xấu cho hiện tại và tương lai Có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do con người Nghiên cứu thực trạng hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới, chúng tôi nhận thấy rằng tăng cường quản lý và sử dụng đất theo hướng nâng cao hiệu quả là một việc làm cần thiết trong bối cảnh hiện nay
1.2.1.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
a Diện tích đất nông nghiệp
Tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam là 33.168.855 hecta, đứng thứ
59 trong hơn 200 nước trên thế giới Thế nhưng, diện tích đất canh tác của
Trang 39Việt Nam thấp vào bậc nhất trên thế giới Đó là dự báo của các chuyên gia
trong hội thảo “Sử dụng tài nguyên đất ở Việt Nam với định cư đô thị và
nông thôn” do Liên hiệp các Hội khoa học Kỹ thuật Việt Nam, Viện nghiên
cứu định cư (SHI), Viện nghiên cứu đô thị và phát triển hạ tầng tổ chức vào ngày 24-25/5/2007
Nước ta có các vùng đất nông nghiệp trù phú như: đồng bằng sông Hồng rộng gần 800 ngàn hecta, đồng bằng sông Cửu Long khoảng 2,5 triệu hecta Nhưng hiện những vùng đất này đều bị chia nhỏ, manh mún khiến một số công trình thủy nông không còn tác dụng Mặt khác, đất nông nghiệp đang bị chuyển đổi tùy tiện Đến năm 2010, đất nông nghiệp giảm khoảng hơn 170 ngàn hecta
Đất bằng ở Việt Nam có khoảng trên 7 triệu hecta, đất dốc trên 25 triệu hecta Trên 50% diện tích đất đồng bằng, gần 70% diện tích đất đồi núi
là đất xấu và có độ phì nhiêu thấp, trong đó đất bạc màu gần 3 triệu hecta, đất trơ sỏi đá 5,76 triệu hecta, đất mặn 0,91 triệu hecta, đất dốc trên 250 gần 12,4 triệu hecta
Bình quân đất tự nhiên theo đầu người là 0,4 hecta Theo mục đích sử dụng năm 2000, đất nông nghiệp 9,35 triệu hecta, đất lâm nghiệp 11,58 triệu hecta, đất chưa sử dụng 10 triệu hecta (30,45%), đất chuyên dùng 1,5 triệu hecta Đất tiềm năng nông nghiệp hiện còn khoảng 4 triệu hecta Bình quân đất nông nghiệp theo đầu người thấp và giảm rất nhanh theo thời gian, năm 1940 có 0,2 hecta, năm 1995 là 0,095 hecta Đây là một hạn chế rất lớn cho phát triển [17]
Đến 01/01/2007 tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước là 24.696 hecta và đến 01/01/2008 vẫn là 24.696 hecta, nhưng với số dân cả nước lên tới 86.210.800 người (tính đến hết 2008), trong đó dân số thành thị là 24.233.300 người, chiếm 28,11%; nông thôn là 61.977.500 người,
Trang 40(71,89%) Do nhu cầu sử dụng đất cho các mục tiêu phát triển kinh tế- xã
hội, trong những năm gần đây, diện tích đất này ngày càng giảm mạnh
Phân theo địa phương, khu vực TD - MNPB đứng thứ 2 trong cả nước về tổng diện tích, khu vực này đứng đầu trong cả nước về diện tích đất lâm nghiệp, nhưng diện tích sản xuất nông nghiệp thì chỉ đứng thứ tư trong 6 khu vực của cả nước với 1.423,2 nghìn hecta Khu vực TD - MNPB có diện tích đất lâm nghiệp chiếm tới hơn 50% tổng diện tích, chỉ đứng sau khu vực Tây Nguyên về cơ cấu đất lâm nghiệp Song, đất nông nghiệp của khu vực
TD - MNPB lại chỉ chiếm hơn 14,9% tổng diện tích Con số này cho thấy, đây là khu vực có diện tích đất nông nghiệp so với tổng diện tích tự nhiên thấp nhất trong cả nước Tính đến hết năm 2008 là như vậy, nhưng xét trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2007, diện tích đất nông nghiệp đã có sự biến động đáng kể Xét xu hướng biến động của đất nông nghiệp cùng với
sự biến động của dân số trong giai đoạn này có thể thấy, dân số không ngừng tăng lên theo thời gian, trong khi đó đất SXNN, bao gồm cả đất trồng cây hàng năm liên tục giảm, khiến cho diện tích đất SXNN bình quân đầu người cũng giảm So sánh với một số nước trong khu vực và trên thế giới, trong giai đoạn 2005- 2008, diện tích đất canh tác bình quân của nước ta hiện vào bậc thấp nhất thế giới, chỉ khoảng 0,12 hecta/người Xét bình quân, diện tích đất canh tác của Việt Nam chỉ hơn được một số nước như: Hàn Quốc, Băng-la-đét, Ai Cập, Tại Thái Lan, diện tích đất canh tác bình quân là 0,3 hecta/người, cao hơn 2,5 lần so với Việt Nam
Theo phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) do Chính phủ trình Quốc hội ngày 20/10/2011, được Ủy ban Kinh tế Quốc hội thông qua, đất nông nghiệp của cả nước đến năm 2020 là 26.732 nghìn hecta, tăng 506 nghìn hecta so với năm 2010 Đến thời điểm hiện nay, cả nước còn trên 4 triệu hecta đất trồng lúa, diện