Xuất phát từ thực tiễn đó, với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp và sử dụng hợp lý hơn đất nông nghiệp, bảo vệ môi trường, đối với sản xuất nông nghiệp của huyện
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG
ĐẤT NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG HÀNG HÓA HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI – 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG
ĐẤT NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG HÀNG HÓA HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 60.85.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN ÍCH TÂN
HÀ NỘI – 2014
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bích Ngọc
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ii
Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô trong khoa quản lý đất đai
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo UBND huyện Hoằng Hoá, các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên phòng NN – PTNT, phòng tài nguyên và môi trường, phòng thống kê và UBND các xã đã tạo điều kiện về thời gian và cung cấp
số liệu giúp tôi thực hiện đề tài này
Cám ơn sự cổ vũ động viên và giúp đỡ của gia đình, các anh chị đồng nghiệp, bạn bè trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Hà Nội ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bích Ngọc
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết đề tài 1
2 Mục đích và yêu cầu 2
2.1 Mục đích 2
2.2 Yêu cầu 2
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 3
1.1.1 Đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp 3
1.1.2 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp 9
1.2 Những vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 10
1.2.1 Quan điểm về hiệu quả 10
1.2.2 Phân loại hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 11
1.2.3 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 13
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 13
1.2.5 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 15
1.2.6 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng đất nông nghiệp 18
1.3 Xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa 18
1.3.1 Sự cần thiết phải xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa 18
1.3.2 Hàng hóa, sản xuất hàng hóa 21
1.3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa 22
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv
1.4 Cơ sở thực tiễn về sử dụng đất và nâng cao hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 23
1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới 23
1.4.2 Ở Việt Nam 26
1.4.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở tỉnh Thanh Hóa 28
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG 30
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 30
2.2 Nội dung nghiên cứu 30
2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan đến sản xuất nông nghiệp hàng hoá 30
2.2.2 Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp 30
2.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 30
2.2.4 Định hướng và các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng đất theo hướng sản xuất hàng hoá đến năm 2020 31
2.3 Phương pháp nghiên cứu 31
2.3.1 Thu thập số liệu 31
2.3.2 Phương pháp chọn điểm 31
2.3.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu, tài liệu 32
2.3.4 Phương pháp và chỉ tiêu tính hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 32
2.3.5 Phương pháp minh họa trên bản đồ 35
2.3.6 Một số phương pháp khác 35
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên huyện Hoằng Hoá 36
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 36
3.1.2 Các nguồn tài nguyên 38
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v
3.2 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội 49
3.2.1 Tăng trưởng kinh tế 49
3.2.3 Dân số, lao động 53
3.2.4 Đánh giá chung 55
3.2.5 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Hoằng Hoá 57
3.2.6 Tình hình biến động đất nông nghiệp 59
3.3 Hiện trạng cây trồng và các loại hình sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 60
3.3.1 Một số cây trồng chính của huyện 60
3.3.2 Tình hình tiêu thụ nông sản 63
3.3.3 Thực trạng các loại hình sử dụng đất của huyện Hoằng Hoá 66
3.4 Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính huyện Hoằng Hóa 70
3.4.1 Hiệu quả kinh tế 70
3.4.2 Hiệu quả xã hội 79
3.4.3 Hiệu quả về môi trường 82
3.3.4 Nhận xét chung 85
3.5 Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá huyện Hoằng Hoá đến năm 2020 87
3.6 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện Hoằng Hoá theo hướng hàng hoá 89
3.6.1 Giải pháp thị trường 89
3.6.2 Giải pháp về khoa học công nghệ 90
3.6.3 Hoàn thiện hệ thống chính sách tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 90
3.6.4 Một số giải pháp khác 91
KẾT LUẬN, ĐỀ NGHỊ 92
1 Kết luận 92
2 Kiến nghị 93
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CNH - HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
2 CN-TTCN Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
3 CN-XDCB Công nghiệp, xây dựng cơ bản
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Phân loại đất huyện Hoằng Hoá 38 Bảng 3.2: Tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện Hoằng Hoá giai đoạn
2009 - 2013 51 Bảng 3.3 Tình hình dân số và lao động của huyện qua 3 năm (2011- 2013) 54 Bảng 3.4 Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 huyện Hoằng Hóa 58 Bảng 3.5 Tình hình biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2009 - 2013 59 Bảng 3.6 Tình hình sản xuất một số cây trồng chính huyện Hoằng Hoá qua các năm 2009-2013 62 Bảng 3.7 Tỷ lệ hàng hóa và phương thức tiêu thụ các nông sản chính huyện Hoằng Hoá 64 Bảng 3.8 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất canh tác huyện Hoằng Hoá 66 Bảng 3.9 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 70 Bảng 3.10Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất nông ngư nghiệp vùng đồng bằng huyện Hoằng Hoá 72 Bảng 3.11 Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất nông ngư nghiệp vùng ven biển huyện Hoằng Hoá 73 Bảng 3.12 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 79 Bảng 3.13 Hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất nông ngư nghiệp 80 Bảng 3.14 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 82 Bảng 3.15 Hiệu quả môi trường các loại hình sử dụng đất nông ngư nghiệp 83 Bảng 3.16 Đánh giá mức độ hiệu quả của các loại hình sử dụng đất 86 Bảng 3.17 Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện Hoằng Hoá đến năm 2020 89
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 3.1: Sơ đồ hành chính huyện Hoằng Hoá 36
Biểu đồ 3.1 Cơ cấu kinh tế huyện qua 3 năm (2011- 2013) 49
Biểu đồ 3.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 của huyện Hoằng Hoá 59
II.2 115
Trang 11
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết đề tài
Sau hai mươi năm đổi mới, mặc dù đã có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế khá mạnh theo hướng tích cực, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP năm 1998 là 46,3% và đến năm 2005 còn 20,5%; nhưng nhìn chung Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp với 67% lao động nông nghiệp và 1/3 kim ngạch xuất khẩu
là từ nông nghiệp “Nông nghiệp là nền tảng để ổn định kinh tế - xã hội”, là một ngành quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam về phương diện việc làm
và an ninh lương thực Trong Báo cáo tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, đã chỉ rõ định hướng phát triển ngành nông nghiệp là: “Phải luôn coi trọng đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hoá lớn, đa dạng, phát triển mạnh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao; bảo đảm vững chắc an ninh lương thực và tạo điều kiện từng bước hình thành nền nông nghiệp sạch… Xây dựng các vùng sản xuất hàng hoá tập trung, gắn với việc chuyển giao công nghệ sản xuất và chế biến, khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, tự phát”
Hoằng Hoá là một huyện nông nghiệp nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc của thành phố Thanh Hoá có vùng sinh thái đa dạng mang đặc thù của vùng đất đồng bằng ven biển Trong những năm qua, nền sản xuất nông nghiệp của huyện đã được chú trọng đầu tư phát triển mạnh theo hướng sản xuất hàng hoá Năng suất, sản lượng không ngừng tăng lên, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện Tuy nhiên trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp việc sản xuất nhỏ lẻ, manh mún thường cho hiệu quả thấp, chỉ thích hợp cho nền sản xuất tự cung tự cấp Ngày nay trong xu hướng sản xuất hàng hóa và hội nhập toàn cầu, việc tổ chức sản xuất này không còn thích hợp Xu thế tất yếu là phải tổ chức lại sản xuất nông nghiệp trên những quy mô lớn hơn Vì vậy việc sử dụng đất có hiệu quả nhằm đem lại ngày càng nhiều hơn những sản phẩm cho xã hội là vấn đề quan tâm trong kinh
tế nông nghiệp, cũng như đảm bảo được độ an toàn cho đất đai mà không tổn hại
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2
đến môi trường sống là vấn đề hết sức quan trọng
Xuất phát từ thực tiễn đó, với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế
nông nghiệp và sử dụng hợp lý hơn đất nông nghiệp, bảo vệ môi trường, đối với sản xuất nông nghiệp của huyện Hoằng Hóa trong những năm trước mắt và lâu dài,
chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất hướng sử dụng
đất nông nghiệp theo hướng hàng hóa huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa” có ý
nghĩa cấp thiết
2 Mục đích và yêu cầu
2.1 Mục đích
- Đánh giá được hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng
hoá nhằm góp phần giúp người nông dân lựa chọn phương thức sử dụng đất phù hợp trong điều kiện cụ thể trên địa bàn huyện
- Đề xuất được các giải pháp hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững theo hướng sản xuất hàng hoá
2.2 Yêu cầu
- Các thông tin, số liệu, tài liệu điều tra phải trung thực, chính xác, bảo đảm
độ tin cậy và phản ánh đúng thực tiễn trên địa bàn nghiên cứu
- Các giải pháp phải hợp lý về mặt khoa học Đánh giá với các chỉ tiêu phù hợp với các điều kiện của huyện
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1 Đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp
a Đất nông nghiệp
Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến khái niệm, định nghĩa về đất Có quan điểm cho rằng: “Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời
do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất, đó là: sinh vật,
đá mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian” (Nguyễn Thế Đặng, Nguyễn Thế Hùng, 1999) Sau này một số học giả khác đã bổ sung các yếu tố: nước của đất, nước ngầm
và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm về đất nêu trên Nhà nông học người Anh V.R William đã đưa ra khái niệm: “Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cho cây” (Lê Văn Minh, 2005)
Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái Với khái niệm này, đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học
và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng
sử dụng đất Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: khí hậu, dáng đất, địa hình địa mạo, thổ nhưỡng, thuỷ văn, thảm thực vật tự nhiên bao gồm cả rừng, cỏ dại trên đồng ruộng, động vật tự nhiên, những biến đổi của đất do các hoạt động của con người (Đặng Kim Sơn và cộng sự, 2002)
Với ý nghĩa đó, đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc sử dụng vào mục đích nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Khi nói đất nông nghiệp người ta nói đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp, bởi vì thực tế có trường hợp đất đai được sử dụng vào mục đích khác nhau của các ngành Trong trường hợp
đó, đất đai dược sử dụng chủ yếu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp mới được coi là đất nông nghiệp, nếu không sẽ là các loại đất khác (tùy theo việc sử dụng vào mục đích nào là chính)
Theo điều 10 Luật đất đai Việt Nam năm 2013 thì đất tự nhiên được chia
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4
thành 3 nhóm chính là: Nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp, nhóm đất chưa sử dụng (Luật đất đai Việt Nam, 2013) Trong đó, nhóm đất nông nghiệp bao gồm: Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất
rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thuỷ sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác
b Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất là hết sức cần thiết, nó giúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng loại đất, vùng đất để trên cơ
sở đó đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất Các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp có thể chia thành 3 nhóm:
là các yếu tố khí hậu (Hà Thị Thanh Bình và cộng sự, 2002) Chính vì thế, khí hậu
là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, năng suất và sản lượng cây trồng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa Tuy nhiên, vì sự khác biệt về vĩ độ địa lý và địa hình nên khí hậu có khuynh hướng khác biệt nhau khá rõ nét theo từng vùng Miền bắc có nhiệt độ trung bình 22,2 - 23,50C, lượng mưa trung bình từ 1.500
- 2.400 mm, tổng số giờ nắng từ 1.650 - 1.750 giờ/năm Trong khi đó, ở miền nam, khí hậu mang tính chất xích đạo, nhiệt độ trung bình 22,6 - 27,50C, lượng mưa trung bình 1.400 - 2.400 mm, nắng trên 2.000 giờ/năm Trải dài trên 15 vĩ độ, Việt Nam
có 7 tiểu vùng khí hậu khác nhau nên chúng ta có thể đa dạng hoá các loại cây trồng, vật nuôi Chính vì thế, sử dụng đất cũng đa dạng và giảm được rủi ro và có
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5
thể trồng các loại cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới và cả ôn đới
Khí hậu là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến việc phân bố các loại cây trồng, cũng như thời vụ cây trồng trong sản xuất nông nghiệp Nếu như ở trung du và miền núi phía Bắc có thể trồng mận, hồng, đào, chuối, đậu côve, súp
lơ xanh ở đồng bằng sông Hồng có thể trồng các loại rau vụ đông có nguồn gốc ôn đới thì ở đồng bằng sông Cửu Long có thể trồng sầu riêng, măng cụt hay miền Đông Nam bộ và Tây Nguyên có thể trồng chôm chôm, trái bơ, thanh long là những cây nhiệt đới điển hình (Nguyễn Văn Nam, 2005)
Yếu tố khí hậu nhiều khi ảnh hưởng rõ nét đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp với các mức độ khác nhau Ở đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ, nhiệt độ thấp vào
vụ đông và thời kỳ đầu vụ xuân kèm theo ẩm ướt, mưa phùn, thiếu ánh sáng làm hạn chế sinh trưởng và phát triển của cây trồng ưa nắng, ưa nhiệt nhưng lại phù hợp cho cây trồng ưa lạnh có nguồn gốc ôn đới Trời âm u thiếu ánh sáng cũng là điều kiện cho sâu bệnh phát triển phá hại mùa màng (Nguyễn Duy Tính, 1995)
- Yếu tố đất trồng
Cùng với khí hậu, đất tạo nên môi trường sống của cây trồng Đất trồng với các đặc tính như loại đất, thành phần cơ giới, chế độ nước, độ phì có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Đất giữ cây đứng vững trong không gian, cung cấp cho cây các yếu tố sinh
trưởng như nước, dinh dưỡng và không khí (Hà Thị Thanh Bình và cộng sự, 2002)
Độ phì là một trong những yếu tố quan trọng nhất của đất Vị trí từng mảnh đất có ảnh hưởng đến quá trình hình thành độ phì của đất Độ phì nhiêu của đất liên quan trực tiếp đến năng suất cây trồng Do vậy, tuỳ theo vị trí địa hình, chất đất mà lựa chọn, bố trí cây trồng thích hợp trên từng loại đất mới cho năng suất, hiệu quả sử dụng đất cao
- Yếu tố cây trồng
Cây trồng là yếu tố trung tâm trong quá trình sản xuất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp Con người hưởng lợi trực tiếp từ những sản phẩm của cây trồng
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6
Những sản phẩm này cung cấp lương thực, thực phẩm cho các nhu cầu thiết yếu cho con người và cho các hoạt động trao đổi hàng hóa, xuất khẩu
Việc bố trí cây trồng và kiểu sử dụng đất hợp lý trên đất sẽ đem lại những giá trị cao về mặt hiệu quả cho cả người sản xuất và tạo ra sự bền vững cho môi trường đất Ngược lại, nếu cây trồng được bố trí bất hợp lý, sử dụng đất bừa bãi không những gây thất thu cho người nông dân mà còn ảnh hưởng xấu đến đất
Báo cáo của Viện tài nguyên thế giới cho thấy gần 20% diện tích đất đai Châu Á
bị suy thoái do những hoạt động của con người Hoạt động sản xuất nông nghiệp là một nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất thông qua quá trình thâm canh tăng vụ đã phá huỷ cấu trúc đất, xói mòn và suy kiệt dinh dưỡng (ESCAp/FAO/UNIDO (1993)
Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của những tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong quá trình sản xuất nông nghiệp cũng như trình độ của người nông dân ngày càng được nâng cao, các giống cây trồng mới với chất lượng và năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn xuất hiện ngày càng nhiều góp phần tạo tiền đề mạnh mẽ cho quá trình sản xuất hàng hóa trong sản xuất nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển gắn với việc tăng hệ số sử dụng đất, gia tăng giá trị kinh tế cho một đơn vị diện tích đất
* Yếu tố kinh tế, xã hội
- Yếu tố con người
Con người là chủ thể của quá trình lao động, là nhân tố tác động trực tiếp tới đất và hưởng lợi từ đất Con người với bàn tay và khối óc của mình có thể tạo ra những phương thức sử dụng đất hợp lý, hiệu quả
Theo thông tin của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn đưa ra trong định hướng phát triển Nông nghiệp Việt Nam: Khi dân số còn thấp, trình độ và nhu cầu thấp, việc khai thác quỹ đất nông nghiệp còn ở mức hạn chế, hiệu quả không cao nhưng sự bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp được đảm bảo Ngược lại, ngày nay, khi dân số tăng nhanh kéo theo sự gia tăng các nhu cầu thì tài nguyên đất nông nghiệp bị khai thác nhiều, triệt để hơn nhằm đạt năng suất và hiệu quả cao hơn Vì vậy, quy luật sinh thái và tự nhiên bị xâm phạm, tính bền vững tài nguyên
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7
đất kém hơn (Trần Đình Đằng, Trần Việt Dũng và Hồ Văn Vĩnh, 2000) Việc đảm
bảo cân bằng giữa sử dụng và bảo vệ đất trở thành vấn đề cấp thiết
Đối với các hoạt động kinh tế nói chung, sản xuất nông nghiệp nói riêng, dân số vừa là thị trường cầu của sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, vừa là nguồn cung về lao động cho sản xuất Các hoạt động kinh tế sẽ không thể phát triển nếu không có thị trường tiêu thụ các sản phẩm do chúng tạo ra (Hoàng Văn Cường (2002) Đặc biệt, đối với một nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá thì điều này lại càng trở nên quan trọng
- Yếu tố kinh tế
Đối với mỗi quốc gia, mức độ phát triển của nền kinh tế quốc dân có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động sản xuất nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng và ngược lại Nếu sử dụng đất có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển Khi kinh tế phát triển, nó sẽ làm tiền đề cho quá trình sử dụng đất đạt được hiệu quả cao hơn, thông qua việc đầu tư, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ cao làm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm cây trồng
Trong cuốn nguyên lý kinh tế nông nghiệp (1999) khẳng định phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá cũng giống như ngành sản xuất vật chất khác của xã hội, nó chịu sự chi phối của quy luật cung cầu, chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố đầu vào, quy mô các nguồn lực như: đất, lao động, vốn sản xuất, thị trường, kiến thức và kinh nghiệm trong sản xuất và tiêu thụ nông sản (Lê Ngọc Dương, Trần Công Tá 1999)
- Cơ chế chính sách
Trong hơn mười năm qua, Việt Nam đã thực hiện chính sách đổi mới trong nông nghiệp, tập trung vào trọng tâm: làm rõ và giao cho nông dân nhiều quyền đối với ruộng đất; tự do hóa thương mại trong nước và xuất nhập khẩu; giao quyền quyết định sản xuất cho nông dân; đổi mới các hợp tác xã, doanh nghiệp nhà nước, khuyến khích kinh tế tư nhân Đồng thời nhà nước tăng đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp tín dụng, chuyển giao khoa học công nghệ Những chính sách mới
đã khuyến khích mạnh mẽ nhân dân đầu tư vào phát triển sản xuất Nông nghiệp
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8
Việt Nam đã phát triển nhanh, liên tục trong thời kỳ thực hiện chính sách đổi mới
Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực triền miên trong vài thập kỷ, nay đã xuất khẩu được trên 4 triệu tấn gạo hàng hoá đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo Nền nông nghiệp từng bước chuyển từ sản xuất tự cung, tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hóa đa dạng, hướng ra xuất khẩu (Lê Văn Minh 2005)
Các chính sách đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn, chính sách tín dụng nông thôn, chính sách về giải quyết việc làm và xoá đói giảm nghèo, khuyến nông thực sự đã giúp ích rất nhiều trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp của những người nông dân
Trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp hàng hoá, người nông dân thường chịu thiệt thòi do hạn chế về kiến thức thị trường, thông tin thị trường, sức mua Hơn nữa, các hiệu ứng tràn ra ngoài trong sản xuất nông nghiệp cũng làm cho sản xuất không hiệu quả: việc sử dụng bừa bãi phân hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ có tác động tiêu cực đến môi trường, nguồn nước, không khí và đất Do vậy, việc Nhà nước can thiệp bằng các chính sách và pháp luật thích hợp đã tạo điều kiện, khuyến khích, hướng dẫn sản xuất nông nghiệp và đảm bảo tính bền vững của các yếu tố nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp, góp phần
nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (Đặng Kim Sơn và cộng sự, 2002)
Cũng bằng các chính sách thích hợp, sử dụng đất nông nghiệp được đảm bảo ổn định và lâu dài Trong những năm qua, Chính phủ đã ban hành, sửa đổi và bổ sung những chủ trương, chính sách về đất đai nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển sản xuất nông nghiệp nông thôn Luật đất đai sửa đổi (chính thức có hiệu lực vào ngày 1/7/2003)
đã thể chế hoá và nới rộng quyền của người sử dụng đất Đây là một chính sách khuyến khích người nông dân đầu tư vào sản xuất dài hạn, thay đổi cơ cấu cây trồng nhằm phát triển sản xuất hàng hoá một cách có hiệu quả (Nguyễn Văn Nam, 2005)
Mặc dù đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng Hiến pháp, pháp luật công nhận quyền sử dụng lâu dài đối với đất Người sử dụng đất không chỉ được quyền sử dụng lâu dài mà còn được quyền thừa kế những đầu tư trên đất Điều
đó đã trở thành động lực quan trọng trong phát triển nông nghiệp Nó làm cho
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9
người nông dân yên tâm đầu tư trên đất, sử dụng đất nông nghiệp một cách chủ động và hiệu quả, phát huy được lợi thế so sánh của từng vùng, từng miền Thực
tế cho thấy, chính sách về đất đai thông thoáng sẽ là cơ sở để hình thành các phương thức sản xuất mới như thâm canh, tăng vụ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác, đặc biệt là sử dụng để sản xuất cây trồng có giá trị hàng hoá cao
- Khoa học kỹ thuật
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của xã hội, những thành tựu
và khoa học kỹ thuật ngày càng được ứng dụng nhiều trong các ngành kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng Các máy móc cơ giới liên tục được cải tiến cho phù hợp hơn với đồng ruộng Việt Nam, các giống cây trồng mới tốt hơn, năng suất hơn thường xuyên được ứng dụng vào sản xuất Điều này góp phần không nhỏ vào việc giải phóng sức lao động cũng như nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng hay tạo ra những sản phẩm tốt hơn, sạch hơn cho xã hội
Sản xuất hàng hoá của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất Vì sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển đòi hỏi phải không ngừng nâng cao chất lượng nông sản và hạ giá thành nông sản phẩm (Vũ Thị Thanh Tâm, 2007)
Khoa học kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Cải tiến kỹ thuật trước hết làm tăng cung về hàng hoá nông sản, cũng tức là làm phát triển kinh tế (Phạm Thị Mỹ Dung, 1995)
1.1.2 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý Điều này có nghĩa là toàn
bộ diện tích đất cần được sử dụng hết vào sản xuất, với việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với đặc điểm của từng loại đất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi đồng thời gìn giữ bảo vệ và nâng cao độ phì của đất
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đạt hiệu quả cao Đây là kết quả của việc sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai, việc xác định hiệu quả sử dụng đất thông qua tính toán hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau: năng suất cây trồng, chi phí đầu tư, hệ số
sử dụng đất, giá cả sản phẩm, tỷ lệ che phủ đất…
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10
- Đất nông nghiệp cần phải được quản lý và sử dụng một cách bền vững Sự bền vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lượng, có nghĩa là đất đai phải được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn cho thế hệ tương lai Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái, môi trường Vì vậy, các phương thức sử dụng đất nông lâm nghiệp phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường đất, đáp ứng được lợi ích trước mắt và lâu dài
Như vậy, để sử dụng đất triệt để và có hiệu quả, đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cần thiết và hết sức quan trọng với mỗi quốc gia
1.2 Những vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1 Quan điểm về hiệu quả
Trong thực tế, các thuật ngữ “sản xuất có hiệu quả”, “sản xuất không có hiệu quả” hay là “sản xuất kém hiệu quả” thường được sử dụng phổ biến trong sản xuất Vậy hiệu quả là gì? Đến nay, các nhà nghiên cứu xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau, đã đưa
ra nhiều quan điểm về hiệu quả, có thể khái quát như sau:
- Hiệu quả theo quan điểm của C.Mác đó là việc “Tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý”, các nhà khoa học Xô Viết cho rằng đó là sự tăng trưởng kinh tế thông qua tăng tổng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân với tốc độ cao nhằm đáp ứng được yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội (Nguyễn Văn Bích, 2007);
- Có quan điểm cho rằng: “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng một loại hàng hoá mà không cắt giảm một loại hàng hoá khác Một nền kinh
tế có hiệu quả, một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì các điểm lựa chọn đều nằm trên một đường giới hạn khả năng sản xuất của nó”, hoặc “Khi sản xuất có hiệu quả, chúng ta nói rằng nền kinh tế đang sản xuất trên giới hạn khả năng sản xuất” (Nguyễn Văn Bích, 2007)
- Quan điểm khác lại khẳng định “Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối quan hệ tương quan so sánh giữa kết quả sản xuất đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó” (Trần Thị Minh Châu, 2007) Kết quả sản xuất ở đây được hiểu là giá trị sản xuất đầu ra, còn lượng chi phí bỏ ra là giá trị của các nguồn lực đầu vào
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11
Trong thực tế có rất nhiều quan điểm về hiệu quả Tuy nhiên, việc xác định bản chất và khái niệm hiệu quả cần xuất phát từ những luận điểm triết học của Mác
và những luận điểm lý thuyết hệ thống:
- Bản chất của hiệu quả là sự thực hiện yêu cầu tiết kiệm thời gian, biểu hiện trình độ sử dụng nguồn lực của xã hội Các Mác cho rằng quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật đó, nó quyết định động lực phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh xã hội và nâng cao đời sống của con người qua mọi thời đại
- Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống, nền sản xuất xã hội là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất Hệ thống sản xuất xã hội bao gồm trong đó các quá trình sản xuất, các phương tiện bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội, đáp ứng các nhu cầu xã hội, nhu cầu của con người là những yếu tố khách quan phản ánh mối quan hệ nhất định của con người đối với môi trường bên ngoài Đó là quá trình trao đổi vật chất, năng lượng giữa sản xuất xã hội và môi trường
- Hiệu quả kinh tế là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng mà là mục tiêu xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế Trong kế hoạch và quản lý kinh tế nói chung, hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu vào và đầu ra, là lợi ích lớn hơn thu được với một chi phí nhất định, hoặc một kết quả nhất định với chi phí nhỏ hơn Như vậy, từ những quan điểm trên ta thấy rằng: hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh
tế - xã hội phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh tế và đặc trưng của mọi hình thái kinh tế - xã hội Quan điểm về hiệu quả kinh tế ở các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau sẽ không giống nhau, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu mục đích của đơn vị sản xuất từ đó đánh giá theo những giác độ khác nhau cho phù hợp Tuy vậy, mọi quan niệm về hiệu quả kinh tế đều toát lên nét chung nhất đó là vấn đề tiết kiệm các nguồn lực để sản xuất ra khối lượng sản phẩm tối đa
1.2.2 Phân loại hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế là hiệu quả do tổ chức và bố trí sản xuất
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12
hợp lý để đạt được lợi nhuận cao với chi phí thấp hơn, là tiêu chí được quan tâm hàng đầu, khâu trung tâm để đạt các loại hiệu quả khác Có khả năng lượng hoá bằng các chỉ tiêu kinh tế, tài chính (Lê Ngọc Dương, Trần Công Tá, 1999)
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạt được một trong hai yếu tố hiệu quả hay hiệu quả phân bổ mới có điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ cho đạt hiệu quả kinh tế Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó mới đạt hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả xã hội: Là hiệu quả phản ánh mối quan hệ lợi ích giữa con người với con người, có tác động tới mục tiêu kinh tế Hiệu quả xã hội được thể hiện bằng các chỉ tiêu định tính hoặc định lượng
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra (Phạm Duy Ưng, Nguyễn Khang, 1993)
Hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp (Nguyễn Duy Tính, 1995)
- Hiệu quả môi trường: là hiệu quả đảm bảo tính bền vững cho môi trường trong sản xuất và xã hội Hiệu quả môi trường là vấn đề đang được nhân loại quan tâm, được phản ánh bằng các chỉ tiêu kinh tế và kỹ thuật
Hiệu quả môi trường được phân theo nguyên nhân gây nên gồm: hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh học môi trường
Trong sản xuất nông nghiệp hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá thông qua mức độ hoá học hoá trong nông nghiệp Đó là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất cho cây trồng sinh trưởng tốt, cho năng suất cao mà không gây ô nhiễm môi trường đất
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại trong các loại hình sử dụng đất nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13
tiêu đặt ra
Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào
Trước kia, khi dân số còn thưa thớt, việc sử dụng đất ít, hệ số sử dụng đất thấp thì đất gần như có khả năng tự phục hồi Ngày nay, khi dân số gia tăng, xã hội phát triển thì các hoạt động công nghiệp đã gây hậu quả môi trường không nhỏ với đất đai Nên việc cân nhắc phát triển kinh tế và cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường đang là vấn đề được quan tâm hiện nay
1.2.3 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Theo quan điểm của tổ chức FAO (1990) đưa ra có ba tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất bền vững là bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt môi trường và bền vững về mặt xã hội, nghĩa là định hướng sự thay đổi về kỹ thuật và tổ chức sản xuất nhằm đảm bảo thoả mãn liên tục các nhu cầu của con người thuộc các thế hệ hôm nay và mai sau Đối với sử dụng đất nông nghiệp, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả cụ thể như sau:
- Mức đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường do xã hội đặt ra
Cụ thể là tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm hướng tới thoả mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu về bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững
- Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểu hoá chi phí các yếu tố đầu vào và theo nguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra một lượng nông sản nhất định
- Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất ngành nông nghiệp, đến hệ thống môi trường sinh thái nông nghiệp, đến những người sống bằng nông nghiệp Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải tuân theo quan điểm sử dụng đất bền vững
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là hết sức cần thiết, nó giúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng loại vùng đất để trên
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14
cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất Các nhân tố ảnh hưởng có thể chia thành 3 nhóm:
- Điều kiện tự nhiên: bao gồm điều kiện khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý, địa hình, thổ nhưỡng, môi trường sinh thái, nguồn nước…Chúng có ảnh hưởng một
cách rõ nét, thậm chí quyết định đến kết quả và hiệu quả sử dụng đất (Vũ Ngọc
Hùng, 2007)
+ Đặc điểm lý, hoá tính của đất: trong sản xuất nông lâm nghịêp, thành phần
cơ giới, kết cấu đất, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ trong đất, … quyết định đến chất lượng đất và sử dụng đất Quỹ đất đai nhiều hay ít, tốt hay xấu, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất
+ Nguồn nước và chế độ nước là yếu tố rất cần thiết, nó vừa là điều kiện quan trọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp cho sinh vật sinh trưởng và phát triển
+ Địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng: điều kiện địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng
là yếu tố quyết định lớn đến hiệu quả sản xuất, độ phì đất có ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển và năng suất cây trồng vật nuôi
+ Vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp,… sẽ quyết định đến khả năng
và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất nông lâm nghiệp cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế sẵn có nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường
- Điều kiện kinh tế, xã hội: bao gồm rất nhiều nhân tố (chế độ xã hội, dân số,
cơ sở hạ tầng, môi trường chính sách,…) các yếu tố này có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với kết quả và hiệu quả sử dụng đất (Trần Thị Minh Châu (2007)
+ Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp: trong các yếu tố cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất, nó góp phần vào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ những yếu tố đầu vào cho sản xuất Các yếu tố khác như thủy lợi, điện, thông tin liên lạc, dịch vụ, nông nghiệp đều
có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng Trong đó, thuỷ lợi và điện là yếu tố
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15
không thể thiếu trong điều kiện sản xuất hiện nay Các yếu tố còn lại cũng có hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất
+ Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản là cầu nối giữa người sản xuất
và tiêu dùng, ở đó người sản xuất thực hiện việc trao đổi hàng hoá, điều này giúp cho họ thực hiện được tốt quá trình tái sản xuất tiếp theo
+ Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụng đất thể hiện khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng về vốn lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền thống trong sản xuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất
+ Hệ thống chính sách: chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ giá, chính sách định canh định cư, chính sách dân số, lao động việc làm, đào tạo kiến thức, chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách xoá đói giảm nghèo…các chính sách này đã có những tác động rất lớn đến vấn đề sử dụng đất, phát triển và hình thành các loại hình sử dụng đất mới đặc biệt là đối với đối tượng là đồng bào dân tộc tại chỗ
- Yếu tố tổ chức, kỹ thuật: đây là yếu tố chủ yếu hết sức quan trọng trong quy hoạch sử dụng đất, một bộ phận không thể thiếu được của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội Quy hoạch sử dụng đất phải dựa vào điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng mà xác định cơ cấu sản xuất, bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp Đây chính là cơ sở cho việc phát triển hệ thống cây trồng, gia súc với cơ cấu hợp lý và đạt hiệu quả kinh tế cao
1.2.5 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Cơ sở để lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:
+ Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp + Nhu cầu của địa phương về phát triển hoặc thay đổi loại hình sử dụng đất nông nghiệp
- Nguyên tắc khi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 16
+ Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ thống Các chỉ tiêu phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có thang bậc
+ Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu cơ bản biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn theo quan điểm và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu cơ bản, làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn
+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp
ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh với quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất
là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu
+ Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học và phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển
- Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Xuất phát từ bản chất của hiệu quả là nói lên mối quan hệ giữa kết quả và chi phí, mối quan hệ này có thể là quan hệ hiệu số hoặc quan hệ thương số nên dạng tổng quát của hệ thống chỉ tiêu hiệu quả là:
Tùy vào các hệ thống tính toán khác nhau mà các chỉ tiêu kết quả và hiệu quả
sẽ khác nhau Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế đất nông nghiệp có những
sự khác nhau tùy vào từng hệ thống kinh tế
* Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế trên 1 ha đất nông nghiệp gồm:
+ Giá trị sản xuất (GTSX)
Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một thời kỳ
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 17
nhất định, thường là 1 năm GTSX chính là giá trị sản lượng trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
+ Chi phí trung gian (CPTG)
Bao gồm toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra
để thuê và mua các yếu tố đầu vào (trừ khấu hao tài sản cố định) và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất
+ Giá trị gia tăng (GTGT)
Giá trị gia tăng được tính theo công thức:
GTGT = GTSX - CPTG
Trong nền kinh tế thị trường, người sản xuất rất quan tâm đến GTGT, đặc biệt trong các quyết định ngắn hạn Nó là kết quả của việc đầu tư các chi phí vật chất và lao động sống của từng hộ và khả năng quản lý của người chủ hộ
Hiệu quả kinh tế trên một ngày công lao động:
Hiệu quả kinh tế trên một ngày lao động thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất hoặc từng cây trồng, làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của từng lao động, bao gồm: GTSX/công LĐ và GTGT/công LĐ
Các chỉ tiêu được phân tích, đánh giá định lượng bằng tiền theo thời giá hiện hành và định tính được tính bằng mức độ cao, thấp Các chỉ tiêu GTSX và GTGT đạt mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn
* Hiệu quả xã hội
+ Kết quả của quá trình sử dụng đất phải đưa lại những lợi ích như nâng cao trình độ dân trí và những hiểu biết xã hội Kiến thức, kinh nghiệm của người nông dân có thể được trau dồi thông qua các hoạt động như đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất hay sự nhạy bén đối với thị trường khi sản xuất hàng hoá phát triển
+ Sử dụng đất đạt hiệu quả trước hết phải đảm bảo được những nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho người dân Đối với sản xuất nông nghiệp ở các nước đang phát triển, đảm bảo lương thực được đặt lên hàng đầu
+ Mỗi vùng có những điều kiện tự nhiên, xã hội khác nhau, có vai trò khác
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 18
nhau trong sự nghiệp phát triển chung Nền kinh tế muốn phát triển thì các ngành, các vùng cần có những bước đi đúng đắn và phù hợp Sử dụng đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng nên tuân thủ theo những định hướng mang tính chiến lược
+ Hệ thống nông nghiệp thu hút nhiều lao động, mang lại lợi ích cho người lao động sẽ giải quyết được vấn đề việc làm, giảm nạn thất nghiệp, giảm các tiêu cực trong xã hội góp phần ổn định và phát triển đất nước
+ Thực tế cho thấy, hình thức du canh, du cư không những làm cho cuộc sống thiếu ổn định mà còn gây nên tình trạng suy thoái môi trường đất, nước Vì vậy cần sản xuất nông nghiệp một cách bền vững
* Hiệu quả môi trường :
Trong sử dụng đất luôn có sự mâu thuẫn giữa những lợi ích vật chất, cá nhân trước mắt với những lợi ích xã hội, lâu dài Việc người dân khai thác từ đất nhiều hơn, trong khi cung cấp cho đất lượng phân hữu cơ ít và tăng các dạng phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật đều là những nguyên nhân làm tổn hại môi trường Sử dụng đất thực sự đạt hiệu quả khi nó không có mâu thuẫn trên Vì vậy, một số tiêu chí đưa ra khi đánh giá đến hiệu quả môi trường trong sử dụng đất được đưa ra là :
+ Tăng độ che phủ rừng, giảm thiểu thiên tai
+ Độ phì nhiêu của đất
+ Cải tạo, bảo tồn thiên nhiên
+ Sự thích hợp môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất
1.2.6 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng đất nông nghiệp
- Tạo điều kiện sử dụng đất đai ngày càng tốt hơn, lâu dài hơn, phục vụ cho các mục tiêu phát triển nền kinh tế - xã hội
- Nâng cao thu nhập, tạo ra nhiều lợi ích cho người sử dụng đất
- Bảo đảm nguồn lực và động lực cho đầu tư bảo vệ, bồi dưỡng và cải tạo đất
- Thực hiện phân bổ sử dụng đất hợp lý cho các mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước
1.3 Xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa
1.3.1 Sự cần thiết phải xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 19
Sản xuất hàng hóa là sự biểu hiện của lực lượng sản xuất đã phát triển có sự tồn tại của sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Sản xuất hàng hóa phản ánh về trình
độ của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hội Sự phân công lao động
xã hội này càng sâu sắc bao nhiêu thì sản xuất hàng hóa càng phát triển bấy nhiêu,
sự phát triển hàng hóa phải gắn với sự trao đổi của thị trường và chính sách của Nhà nước Nông nghiệp sản xuất hàng hóa phải gắn liền với trình độ canh tác của người nông dân, người nông dân cần phải biết chuyên môn hóa, tập trung trong sản xuất nhằm tạo ra nông sản phẩm nhiều về số lượng, tăng cường về chất lượng, đa dạng
về chủng loại để thỏa mãn nhu cầu của thị trường, đem lại hiệu quả cao nhất trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
Nông nghiệp là một hoạt động sản xuất mang tính chất cơ bản của mỗi quốc gia (Nguyễn Đình Hợi, 1993) Nhiều nước trên thế giới có nền kinh tế phát triển, tỷ trọng của sản xuất công nghiệp và dịch vụ trong thu nhập quốc dân chiếm phần lớn, nông nghiệp chỉ chiếm một phần nhỏ, nhưng những khó khăn trong nông nghiệp đã gây ra không ít những xáo động trong đời sống xã hội và ảnh hưởng sâu sắc đến tốc
độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế chung (Đường Hồng Dật và các cộng
sự, 1994) Để nông nghiệp có thể thực hiện được vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế quốc dân đòi hỏi nông nghiệp phải phát triển toàn diện, mạnh mẽ vững chắc Con đường tất yếu để phát triển nông nghiệp nước ta là phải chuyển từ sản xuất nhỏ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa (Nguyễn Đình Hợi, 1993)
Ở Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu nông sản đã chiếm tới 30 - 40% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước (Ngô Thế Dân, 2001), điển hình như cao su, cà phê, hồ tiêu, chè, lúa, Tuy nhiên, năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa Việt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực và các nước trên thế giới Điều đó làm cho các sản phẩm hàng hóa khó tiêu thụ, ảnh hưởng đến thu nhập của người sản xuất Theo Đặng Hữu (2000), nguyên nhân sâu xa của tình trạng trên
là do bố trí cây trồng, vật nuôi chủ yếu dựa vào tiềm năng tự nhiên mà chưa dựa vào các luận cứ khoa học, chưa tổ chức tốt việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật Một trong những nguyên nhân của việc xuất khẩu hàng hóa sụt giảm là ”chúng ta chưa có tập
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 20
quán sản xuất nông nghiệp chất lượng cao để cạnh tranh với thị trường thế giới” (Hoàng Thu Hà, 2001) Mặt khác, số đông nông dân còn thiếu những hiểu biết về kinh tế thị trường, thiếu năng lực, bản lĩnh và trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp hàng hóa Do đó, sản xuất hàng hóa còn mang tính tự phát, thiếu ổn định và thiếu định hướng thị trường Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với phát triển sản xuất nông nghiệp hiện nay là phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
có định hướng và thị trường ổn định
Chuyển sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa là sự tiến hóa hợp quy luật,
đó là quá trình chuyển nền nông nghiệp truyền thống, lạc hậu sang nền nông nghiệp hiện đại phù hợp với cơ chế thị trường theo định hướng XHCN Sản xuất hàng hóa
là quy luật khách quan của mọi hình thái kinh tế xã hội, nó phản ánh trình độ phát triển sản xuất của xã hội đó (Nguyễn Duy Tính, 1995) Theo Lê Nin thì nguồn gốc của sản xuất hàng hóa là sự phân công lao động xã hội (Vũ Thị Phương Thụy, 2000) Vì thế, nền kinh tế tự cung tự cấp gắn liền với nền kinh tế đóng cửa và gần như tách biệt với thị trường làm cho nông dân có cuộc sống thấp do năng suất lao động thấp, thế vận động kinh tế hộ nông dân tự cấp tự túc lên sản xuất hàng hóa, kích thích sự phát triển kinh tế nông hộ lên sản xuất hàng hóa là đúng quy luật, nhằm tạo ra lực lượng sản xuất mới ở nông thôn, tạo nhiều sản phẩm hàng hóa (Vũ Thị Ngọc Trân, 1996)
Nền sản xuất hàng hóa có đặc trưng là cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, trình
độ khoa học - kỹ thuật, trình độ văn hóa của người lao động cao Đó là nền sản xuất nông nghiệp có cơ cấu sản xuất hợp lý, được hình thành trên cơ sở khai thác tối đa thế mạnh sản xuất nông nghiệp từng vùng Vì thế nó là nền nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao, khối lượng hàng hóa nhiều với nhiều chủng loại phong phú, đa dạng (Nguyễn Đình Hợi, 1993)
Việc đưa nông nghiệp sang phát triển sản xuất hàng hóa là quá trình lâu dài
và đầy những khó khăn phức tạp, cần phải gắn liền với việc hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên canh và thâm canh ngày càng cao và phải gắn nông nghiệp với lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp chế biến và được thực hiện thông
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 21
qua việc phân công lại lao động, xã hội hóa sản xuất, ứng dụng các công nghệ mới vào sản xuất
1.3.2 Hàng hóa, sản xuất hàng hóa
Đối với hộ nông dân, những sản phẩm được đưa ra bán thì gọi là hàng hóa (Nguyễn Đình Hợi, 1993) Đối với hệ thống trồng trọt, nếu mức hàng hóa được bán
ra thị trường dưới 50% thị gọi là hệ thống nông nghiệp thương mại hóa một phần, nếu trên 50% thì gọi là hệ thống trồng trọt thương mại hóa (Hà Thị Thanh Bình, 2000) Hàng hóa là sản phẩm của lao động dùng để trao đổi (Đại từ điển kinh tế thị trường, 1998) Sản xuất hàng hóa là sản xuất ra sản phẩm đem bán để thu về giá trị của nó trong đó có phần giá trị thặng dư để tái sản xuất và mở rộng quy mô (Phạm Duy Ưng, Nguyễn Khang, 1993)
Hàng hóa là sản phẩm do người lao động tạo ra, nhưng để trao đổi, sản xuất hàng hóa ra đời và phát triển dựa trên cơ sở phát triển các phương thức sản xuất và
sự phân công lao động xã hội Sự phân công ấy càng cao, càng sâu sắc, trình độ chuyên môn hóa cao thì sản xuất hàng hóa càng phát triển, đời sống người dân ngày một tăng lên Điều đó lại làm cho quá trình trao đổi hàng hóa diễn ra mạnh hơn, sản xuất hàng hóa càng phát triển đa dạng hơn
Nền kinh tế thị trường ra đời làm nảy sinh mối quan hệ cung cầu trên thị trường Đối với sản xuất nông nghiệp thì khả năng cung cho thị trường là các loại nông sản phẩm còn cầu nông nghiệp là các yếu tố đầu vào như phân bón, thuốc trừ sâu Hiện nay, nếu chủ hộ không chuyên môn hóa cao trong việc sản xuất kinh doanh, không thay đổi giống và thâm canh tăng vụ thì kết quả sản xuất cũng chỉ để thỏa mãn nhu cầu của mình mà không có sản phẩm mang ra bán ở thị trường, hoặc sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu của thị trường và sẽ không có tích lũy để đề phòng rủi ro Trong sản xuất hàng hóa rủi ro về thị trường luôn là mối lo ngại nhất của người sản xuất
Theo Nguyễn Duy Bột (2001), thị trường và hoạt động tiêu thụ nông sản phẩm ở nước ta nổi lên một số vấn đề sau:
- Hầu hết các sản phẩm nông nghiệp thường bị tồn đọng, nhất là vào vụ
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 22
thu hoạch
- Trong tất cả các kênh phân phối liên quan đến sản xuất nông nghiệp đều có
sự tham gia rất phổ biến của tư thương Phân phối qua nhiều khâu trung gian đã làm chậm quá trình lưu thông sản phẩm, thậm chí gây ách tắc dẫn đến tồn đọng giả tạo
- Hệ thống kinh doanh thương mại Nhà nước đang lâm vào thế lúng túng Thị trường đầu ra không ổn định gây khó khăn thường xuyên cho nông nghiệp trong việc bao mua sản phẩm và bao cung tư liệu sản xuất
- Đối với nông dân, trong sản xuất nông nghiệp vẫn phổ biến là “bán cái mình
có chứ chưa phải bán cái thị trường cần”, hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu sử dụng cái sẵn có chứ chưa chủ động khai thác các yếu tố của nền kinh tế thị trường
Từ những vấn đề trên cho thấy: xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa
là hướng đi đúng, là sự tiến hóa hợp quy luật Do đó, tìm kiếm thị trường và những giải pháp sản xuất, đầu tư hợp lý để sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa có hiệu quả cao, ổn định là rất cần thiết
1.3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa
- Các yếu tố về điều kiện tự nhiên:
Điều kiện đất đai, khí hậu, thời tiết có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, các hộ nông dân có thể lợi dụng những yếu tố đầu vào miễn phí để tạo ra nông sản hàng hóa với giá rẻ (Nguyễn Duy Tính, 1995)
- Các yếu tố về điều kiện kinh tế xã hội:
Thị trường là nhân tố quan trọng, dựa vào nhu cầu của thị trường nông dân lựa chọn hàng hóa để sản xuất
Các chính sách kinh tế có ảnh hưởng lớn đến sản xuất hàng hóa của nông dân
Đó là công cụ để Nhà nước can thiệp vào sản xuất nhằm khuyến khích hoặc hạn chế sản xuất các loại nông sản hàng hóa (Phan Sỹ Mẫn, Nguyễn Việt Anh, 2001)
Các chính sách khác: chính sách đất đai, các chính sách đầu tư, hỗ trợ
- Những yếu tố về tổ chức sản xuất, kỹ thuật:
Tổ chức sản xuất có tác động lớn đến sản xuất hàng hóa của hộ nông dân
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 23
thông qua các khâu: tổ chức dịch vụ đầu vào và đầu ra
Về kỹ thuật: sản xuất hàng hóa của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất Sản xuất nông nghiệp hàng hóa phát triển đòi hỏi phải không ngừng nâng cao chất lượng và hạ giá thành nông sản phẩm, muốn vậy cần phải có quy trình công nghệ cao và đồng bộ
1.4 Cơ sở thực tiễn về sử dụng đất và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới
a Vấn đề sử dụng đất
Trên thế giới, mặc dù sự phát triển của sản xuất nông nghiệp của các nước không giống nhau nhưng tầm quan trọng của nó đối với xã hội thì quốc gia nào cũng thừa nhận Hầu hết các nước đều coi nông nghiệp là cơ sở, nền tảng của sự phát triển Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn Trong khi đó đất đai lại có hạn, đặc biệt quỹ đất nông nghiệp lại có xu hướng giảm do chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường các biện pháp khai thác, khai hoang đất đai phục vụ cho mục đích nông nghiệp (RoSemary, 1994)
Cho tới nay, trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu, đề ra nhiều phương pháp đánh giá để tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng phát triển hàng hóa Nhưng tùy thuộc vào điều kiện, trình độ và phương thức sử dụng đất ở mỗi nước mà có sự đánh giá khác nhau
Hàng năm các viện nghiên cứu nông nghiệp ở các nước trên thế giới đều nghiên cứu và đưa ra được một số giống cây trồng mới, giúp cho việc tạo ra được một số loại hình sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả hơn Viện lúa quốc tế IRRI
đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồng trên đất canh tác Tạp chí “Farming Japan” của Nhật Bản ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình
ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất, điển hình là của Nhật
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 24
Ngày nay, thoái hoá đất và hoang mạc hoá là một trong những vấn đề về môi trường và tài nguyên thiên nhiên mà nhiều quốc gia đang phải đối mặt và giải quyết nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực Đất khô cằn có
ở mọi khu vực, chiếm hơn 40% bề mặt Trái đất Đối với hầu hết các cư dân ở các vùng đất khô cằn, cuộc sống của họ rất khó khăn và tương lai thường bất ổn, với mức sống cùng cực về các mặt kinh tế - xã hội và sinh thái Trên toàn thế giới, đói nghèo, quản lý đất đai không bền vững và biến đổi khí hậu đang biến các vùng đất khô cằn thành sa mạc và ngược lại, hoang mạc hoá đang làm trầm trọng thêm và dẫn đến đói nghèo
Trong thực tế, nông nghiệp phát triển theo dạng tổng hợp, các xu hướng đan xen nhau Cụ thể :
- Vào những năm 60 của thế kỷ trước, các nước đang phát triển ở Châu Á,
Mỹ La Tinh đã thực hiện cuộc “cách mạng xanh” Cuộc cách mạng này chủ yếu dựa vào việc áp dụng các giống cây lương thực có năng suất cao (lúa nước, lúa mì, ngô, đậu….), xây dựng hệ thống thuỷ lợi, sử dụng nhiều phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, bảo vệ thực vật và các thành tựu trong công nghiệp
- Cuộc “cách mạng trắng” được thực hiện dựa vào việc tạo ra các giống gia súc có tiềm năng cho sữa cao, những tiến bộ của khoa học trong việc tăng năng suất cây trồng, chất lượng các loại thức ăn gia súc và các phương thức chăn nuôi mang tính chất công nghiệp
Vì tính chất thiếu toàn diện nên 2 cuộc cách mạng trên gặp nhiều trở ngại, đặc biệt là trở ngại trong quan hệ sản xuất và trong hiệu quả kinh tế
- Cuộc “cách mạng nâu” diễn ra trên cơ sở giải quyết tốt mối quan hệ giữa nông dân với ruộng đất, khuyến khích tính cần cù của người nông dân để tăng năng suất và sản lượng trong nông nghiệp (Đường Hồng Dật và các cộng sự, 1994)
Nhìn chung, cả 3 cuộc cách mạng này chỉ mới giải quyết phiến diện, tháo gỡ những khó khăn nhất định chưa thể là cơ sở cho một chiến lược phát triển nông nghiệp lâu dài và bền vững
Ngày nay, với sự phát triển của xã hội, của trí thức con người đã xuất hiện
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 25
nền nông nghiệp trí tuệ Nông nghiệp trí tuệ thể hiện ở việc phát hiện, nắm bắt và vận dụng các quy luật tự nhiên và xã hội biểu hiện trong mọi hoạt động của hệ thống nông nghiệp phong phú, biểu hiện ở việc áp dụng các giải pháp phù hợp, hợp
lý Nông nghiệp trí tuệ là bước phát triển mới ở mức cao, là sử dụng đất kết hợp ở đỉnh cao của các thành tựu sinh học, công nghiệp, kinh tế, quản lý được vận dụng phù hợp và hợp lý vào điều kiện cụ thể của mỗi nước, mỗi vùng Đó là nền nông nghiệp phát triển toàn diện và bền vững
b Các nghiên cứu liên quan đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất theo hướng sản xuất hàng hoá trên thế giới
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài cũng như để giải quyết những xung đột trong việc sử dụng đất cho nông nghiệp, công nghiệp là vấn đề quan trọng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới Các nhà khoa học, các Viện nghiên cứu nông nghiệp của các nước trên thế giới đã và đang tập trung nghiên cứu vào việc đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loại đất để từ đó có thể sắp xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so sánh của từng vùng Đặc biệt, viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI cũng đã đóng góp nhiều thành tựu về giống lúa và hệ thống canh tác trên đất trồng lúa Xu hướng chung trên thế giới là tập trung mọi nỗ lực nghiên cứu cải tiến hệ thống cây trồng trên những vùng đất bằng cách đưa thêm một số loại cây trồng vào hệ thống canh tác nhằm tăng sản lượng lương thực, thực phẩm trên một đơn vị diện tích trong một năm (Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2006)
Theo báo cáo của Tổ chức FAO, nhờ các phương pháp tạo giống hiện đại như đột biến thực nghiệm, công nghệ sinh học bao gồm nuôi cấy bao phấn cứu phôi, dung hợp tế bào trần, kỹ thuật gen… các nước trồng lúa trên thế giới đã tạo ra nhiều giống đột biến, trong đó có các nước như Trung Quốc, Nhật, Ấn Độ, Mỹ là những quốc gia đi đầu Sử dụng kỹ thuật nuôi cấy bao phấn Trung Quốc đã tạo ra nhiều giống lúa thuần khác nhau, bằng kỹ thuật gen cũng đã chuyển được một số gen kháng bệnh virus, kháng đạo ôn, bạc lá, sâu đục thân
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 26
Gần đây, vấn đề khai thác đất gò đồi đã đạt được những thành tựu đáng kể ở một số nước trên thế giới Hướng khai thác chủ yếu trên đất gò đồi là đa dạng hóa cây trồng, kết hợp trồng cây hàng năm với cây lâu năm, trồng rừng với cây nông nghiệp trên cùng một vạt đất dốc (Nguyễn Duy Tính, 1995)
Một số nước đã ứng dụng công nghệ thông tin xác định hàm lượng dinh dưỡng dựa trên phân tích lá, phân tích đất để bón phân cho cây ăn quả như ở Israel, Philipin, Hà Lan, Mỹ, Nhật kết hợp giữa bón phân vào đất, phun phân qua lá, phân vi lượng, chất kích thích, điều hoà sinh trưởng đã mang lại hiệu quả rất cao trong sản xuất như ở Mỹ, Israel, Trung Quốc, Đài Loan, Úc, Nhật Bản (Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2006)
Nông dân Ấn Độ thực hiện sự chuyển dịch từ cây trồng truyền thống kém hiệu quả sang cây trồng có hiệu quả cao bằng cách trồng mía thay cho lúa gạo và lúa mì, trồng đậu tương thay cho cao lương ở vùng đất đen, trồng cây lúa ở vùng có mạch nước ngầm cao thay cho cây lấy hạt có dầu, bông và đậu đỗ (Nguyễn Thị Vòng và các cộng sự, 2001)
Như vậy vấn đề về sản xuất nông nghiệp hàng hoá luôn được các quốc gia có nền nông nghiệp mạnh đầu tư phát triển Vì thế đã thu hút được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu Các nhà khoa học các nước đã rất chú trọng đến việc nghiên cứu các cây con giống mới, nghiên cứu những công nghệ sản xuất và chế biến, nghiên cứu về chính sách, định hướng nhằm phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá có hiệu quả kinh tế cao và bền vững
1.4.2 Ở Việt Nam
a Vấn đề sử dụng đất
Ở Việt Nam, đất đai càng có vai trò quan trọng do bình quân đất nói chung, đất nông nghiệp nói riêng trên đầu người thấp Chính vì thế, từ khi giành được độc lập đến nay, chính sách đất nông nghiệp và nông dân luôn giữ vị trí quan trọng trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta Hơn nữa, trong một nước còn hơn 70% dân cư sống ở nông thôn thì chính sách đất nông nghiệp còn có ý nghĩa
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 27
chính trị, xã hội sâu sắc Đất canh tác phân bố không đều giữa các vùng miền, và mỗi vùng thì tỷ lệ đất canh tác so với tổng diện tích đất tự nhiên lại khác nhau Trong khi vùng đồng bằng (như đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là hai vựa lúa của cả nước), cơ cấu diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao thì ở vùng đồi núi (như trung du miền núi phía Bắc hay duyên hải miền Trung) đất nông nghiệp thường chiếm tỷ lệ thấp
Hiện nay, nhìn chung, việc sử dụng đất nông nghiệp của cả nước đang phát triển mạnh Nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất và chất lượng cao được đưa vào sản xuất mang lại lợi ích kinh tế cho người nông dân Tuy nhiên, với số dân khoảng trên 80 triệu người thì nước ta đã trở thành quốc gia khan hiếm đất trên thế giới Nếu tính bình quân đất nông nghiệp trên đầu người thì Việt Nam là một trong những nước thấp nhất Diện tích canh tác nông nghiệp của Việt Nam vào loại thấp nhất trong khu vực Asean
Sản xuất nông nghiệp hàng hoá của Việt Nam đã, đang và sẽ gặp nhiều khó khăn cần phải khắc phục Trong giai đoạn hiện nay đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh 3 - 4 vụ trong một năm đạt hiệu quả cao Đặc biệt ở các vùng ven đô, vùng có điều kiện tưới tiêu chủ động, nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao đã được bố trí trong luân canh như hoa cây cảnh, cây ăn quả, cây thực phẩm cao cấp
Trong quá trình sử dụng đất, do chưa tìm được các loại hình sử dụng đất hợp
lý hoặc công thức luân canh hợp lý cũng gây ra hiện tượng thoái hóa đất như vùng đất dốc mà trồng cây lương thực, đất có hàm lượng dinh dưỡng thấp lại không luân canh với cây họ đậu Do đất canh tác có nhiều loại địa hình khác nhau đòi hỏi các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách cần có biện pháp hỗ trợ người nông dân trong việc lựa chọn giống cây trồng, vật nuôi, các loại hình canh tác cho phù hợp
b Các nghiên cứu liên quan đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở Việt Nam
Trong những năm qua, với đường lối đổi mới của Đảng, cơ chế chính sách của Nhà nước đã tạo điều kiện cho các nhà khoa học, các học giả nghiên cứu tìm hiểu về đất và tài nguyên đất, giống cây trồng, vật nuôi để từ đó đưa ra những mô
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 28
hình sử dụng đất hiệu quả và bền vững Đó là tiền đề cho quá trình sản xuất nông nghiệp hàng hóa
Các công trình có giá trị trên phạm vi cả nước phải kể đến công trình nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất Việt Nam của Nguyễn Khang và Phạm Dương Ưng đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền của Trần An Phong (Nguyễn Viết Phổ, Trần An Phong, Dương Văn Xanh, 1996), phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng của các tác giả Cao Liêm, Đào Châu Thu, Trần Thị Tú Ngà (Cao Liêm, Đào Châu Thu, Trần Thị Tú Ngà, 1990)
Ngoài ra phải kể đến những công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế về thị trường hàng hóa, về thị trường nông sản như: Vũ Thị Ngọc Trân (1997) - phát triển nông hộ sản xuất hàng hoá ở vùng đồng bằng sông Hồng; Đỗ Kim Chung (1999) - Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn ở các vùng kinh
tế lãnh thổ Việt Nam; Tô Đức Hạnh, Phạm Văn Linh (2000) - Phát triển kinh tế hàng hoá trong nông thôn các tỉnh vùng núi phía Bắc Việt Nam, thực trạng và giải pháp (Tô Đức Hạnh, Phạm Văn Linh, 2000) những công trình nghiên cứu này góp phần đẩy mạnh quá trình sản xuất nông nghiệp hàng hóa cũng như tạo hướng phát triển thị trường nông sản
Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, giai đoạn 1963 - 1978 đã đưa ra hàng chục giống mới: lúa, ngô, đậu đỗ, khoai tây, khoai lang, mía, chè, cam, quýt, vải,… Giai đoạn 1990 - 2004, có khoảng 105 giống, trong đó 55 giống thuộc
14 loại cây trồng đạt tiêu chuẩn Quốc gia: lúa, đậu tương, lạc, khoai lang, khoai tây, khoai sọ, sắn,…có năng suất cao có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt đã được đưa vào sản xuất rộng rãi ở những vùng sinh thái góp phần thay đổi cơ cấu mùa vụ, thâm canh nâng cao hiệu quả sử dụng đất (Nguyễn Văn Bích, 2007)
1.4.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở tỉnh Thanh Hóa
Tại Thanh Hoá, những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả sử dụng đất và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên quan điểm sử dụng đất bền vững hay theo hướng sản xuất hàng hoá còn chưa nhiều Năm 2000 tác giả Trịnh Văn Chiến
Trang 39Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 29
đã tiến hành nghiên cứu xây dựng mô hình canh tác thích hợp trên cơ sở đánh giá tài nguyên đất đai ở huyện Yên Định, kết quả đã xây dựng được những mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng đạt hiệu quả cao Năm 2002 tác giả Lê Xuân Cao đã có
đề tài nghiên cứu về đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số biện pháp sử dụng đất thích hợp ở Nông trường quốc doanh Sao Vàng làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng được mở rộng, năng suất các cây trồng đều được tăng lên, các loại hình sử dụng đất được áp dụng tại nông trường hiện nay phù hợp hơn với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Môi trường sinh thái ngày càng được cải thiện tốt hơn Tác giả cũng đã tìm được cây trồng trọng điểm của nông trường chính là cây mía và các loại cây ăn quả
Tuy nhiên, các đánh giá về thực trạng đất nông nghiệp ở các địa phương còn chưa nhiều Vì vậy, nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất sử dụng đất nông nghiệp theo hướng hàng hóa của huyện Hoằng là rất cần thiết, có ý nghĩa trong phát triển kinh tế xã hội của huyện và có thể thực hiện được Đây chính là lý do
thúc đẩy chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng hàng hóa huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa” góp phần từng bước nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa của huyện nói riêng và tỉnh Thanh Hoá nói chung
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 30
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài là quỹ đất nông nghiệp, các yếu tố liên quan đến quá trình sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện Hoằng Hóa
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường của các kiểu sử dụng đất phổ biến thuộc đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Về thời gian: Số liệu được thu thập trong giai đoạn 2009-2013
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan đến sản xuất nông nghiệp hàng hoá
- Đánh giá các điều kiện tự nhiên
+ Vị trí địa lý, điều kiện khí hậu, điều kiện thủy văn, điều kiện thổ nhưỡng
- Đánh giá điều kiện kinh tế, xã hội
+ Tình hình phát triển kinh tế, hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, tình hình dân số, lao động, trình độ canh tác và loại hình sử dụng đất
- Nhận xét chung điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
2.2.2 Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp
Nghiên cứu các kiểu sử dụng đất và sự phân bố các kiểu sử dụng đất trên địa bàn huyện
2.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả xã hội