Chính vì vậy làng nghề sản xuất giấy Phú Lâm đã nằm trong danh sách các làng nghề phải xử lý triệt để theo Quyết định số 84/2009/ QĐ-UBND ngày 8/6/2009 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh về
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN THANH LÂM
Trang 3
MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU 1
1.1.Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 2
II TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1 Tổng quan làng nghề Việt Nam 3
2.2 Một số đặc điểm của làng nghề Việt Nam hiện nay 5
2.3 Phân bố làng nghề trong cả nước 5
2.4 Tổng quan về một số làng nghề ở Bắc Ninh 6
2.5 Phân loại làng nghề theo sản phẩm ở Bắc Ninh 6
2.6 Tình trạng ô nhiễm môi trường tại một số làng nghề tỉnh Bắc Ninh 8
2.7 Sự hình thành và các công nghệ trong sản xuất giấy chủ yếu 11
2.8 Sản xuất giấy trong công nghiệp 12
2.9 Tình hình quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường của tỉnh 14
2.9.1 Khái quát sơ bộ về bộ máy tổ chức quản lý Nhà nước về BVMT tỉnh Bắc Ninh 14
2.9.2 Những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường 15
2.10 Những thay đổi trong công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường từ khi luật BVMT ra đời đến nay 16
2.11 Những cải cách trong công tác quản lý môi trường 17
2.12 Những thành tựu đạt được qua thay đổi công tác quản lý 18
III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 20
NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đối tượng nghiên cứu 20
3.2 Phạm vi nghiên cứu 20
3.3 Nội dung nghiên cứu 20
3.4 Phương pháp nghiên cứu 20
3.4.1 Phương pháp kế thừa, tổng hợp có chọn lọc 20
3.4.2 Phương pháp điều tra thống kê 21
3.4.3 Xử lý số liệu 21
3.4.4 Phương pháp lấy mẫu hiện trường, phân tích thí nghiệm 21
Trang 43.4.5 Phương pháp chuyên gia 24
IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội làng nghề tái chế giấy Phú Lâm 25
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 25
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội xã Phú Lâm 29
4.2 Hiện trạng sản xuất giấy của làng nghề 30
4.2.1 Một số công nghệ sản xuất giấy tái chế tại làng nghề Phú Lâm 32
4.2.2 Nguyên, nhiên liệu cho các loại hình sản xuất 37
4.3 Hiện trạng môi trường làng nghề tái chế giấy Phú Lâm 39
4.3.1 Môi trường nước thải 39
4.3.2 Môi trường nước mặt 45
4.3.3 Môi trường nước ngầm 48
4.3.4 Tình hình ô nhiễm không khí 51
4.3.5 Tình hình ô nhiễm đất 58
4.3.6 Tình hình ô nhiễm chất thải rắn 61
4.4 Đánh giá hiện trạng các công trình xử lý môi trường tại làng nghề và các vấn đề cải thiện môi trường làng nghề 62
4.4.1 Thống kê các công trình xử lý nước thải ở Phú Lâm 63
4.4.2 Nguyên nhân tồn tại 63
4.5 Thực trạng công tác quản lý môi trường làng nghề giấy Phú Lâm 65
4.5.1 Những việc đã làm được 65
4.5.2 Những thách thức và tồn tại 66
4.6 Đề xuất một số giải pháp bảo vệ môi trường trên địa bàn làng nghề tái chế giấy Phú Lâm, Bắc Ninh 67
4.6.1 Một số giải pháp quản lý 67
4.6.2.Quy hoạch không gian làng nghề gắn với BVMT 67
4.6.3.Tăng cường hoạt động truyền thông, nâng cao nhận thức 68
4.6.4 Tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về BVMT 69
4.6.5 Giải pháp xử lý chất thải đối với làng nghề Phú Lâm 69
4.6.6 Giải pháp đối với nước thải 71
4.6.7 Đối với khí thải lò hơi 75
4.6.8 Giải pháp về kỹ thuật công nghệ 77
4.6.9 Giải pháp hỗ trợ, ưu đãi vay vốn 78
Trang 54.7 Đánh giá sức khỏe cộng đồng dân cư khu vực làng nghề 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
1 Kết luận 80
2 Kiến nghị 81
2.1 Về công tác Bảo vệ môi trường làng nghề 82
2.2 UBND hyện Tiên Du 82
2.3 Sở Tài nguyên và Môi trường 82
2.4 Sở Khoa học và Công nghệ 83
2.5 Sở Công Thương 83
2.6 Cục thuế tỉnh Bắc Ninh 83
2.7 UBND xã Phú Lâm 83
2.8 Các cơ sở sản xuất 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Phân bố các loại hình làng nghề ở các vùng miền của Việt Nam 6
Bảng 2.2: Phân loại làng nghề theo sản phẩm ở Bắc Ninh 7
Bảng 2.3: Các dạng chất thải phát sinh tại một số làng nghề địa bàn tỉnh Bắc Ninh 8
Bảng 3.1: Các phương pháp thử mẫu nước 23
Bảng 3.2: Các phương pháp thử mẫu không khí 23
Bảng 3.3: Các phương pháp thử mẫu đất 23
Bảng 4.2.1: Danh sách các cơ sở sản xuất tại Làng nghề Phú Lâm 30
Bảng 4.2.2: Định mức nguyên, nhiên liệu cho các loại hình sản xuất 37
Bảng 4.2.3: Công suất sản xuất từng loại sản phẩm/năm 37
Bảng 4.2.4: Nhu cầu sử dụng nguyên, nhiên liệu làng nghề 38
Bảng 4.3.1: Bảng vị trí lấy mẫu nước thải tại làng nghề tái chế giấy Phú Lâm 40
Bảng 4.3.2 Kết quả phân tích nước thải tại vị trí NT1, NT2, NT3 41
Bảng 4.3.3 Kết quả phân tích nước thải tại vị trí NT4, NT5, NT6 41
Bảng 4.3.4: Bảng vị trí lấy mẫu nước mặt tại làng nghề tái chế giấy 45
Bảng 4.3.5 Kết quả phân tích chất lượng môi trường nước mặt tại vị trí NM1, NM2, NM3, NM4, NM5 45
Bảng 4.3.6: Bảng vị trí lấy mẫu nước ngầm tại làng nghề tái chế giấy 48
Bảng 4.3.7 Kết quả phân tích chất lượng môi trường nước ngầm 49
Bảng 4.3.8: Thải lượng ô nhiễm do đốt than tại làng nghề 52
Bảng 4.3.9: Bảng vị trí lấy mẫu không khí tại làng nghề tái chế giấy 52
Bảng 4.3.10: Kết quả chất lượng môi trường không khí ngoài khu vực sản xuất tại vị trí KK1, KK2, KK3, KK4, KK5 53
Bảng 4.3.11 Kết quả chất lượng môi trường không khí trong khu vực sản xuất tại vị trí KK6, KK7, KK8, KK9, KK10 56
Bảng 4.3.11: Bảng vị trí lấy mẫu đất tại làng nghề tái chế giấy 59
Bảng 4.3.12: Kết quả phân tích đất tại các vị trí MĐ1, MĐ2, MĐ3, MĐ4, MĐ5 59
Bảng 4.3.13: Kết quả phân tích trầm tích tại các vị trí TT1, TT2, TT3, TT4, TT5 60
Bảng 4.3.14: Định lượng rác thải sản xuất (tấn/năm) 62
Bảng 4.6.1: Lượng chất thải rắn theo tính toán tại làng nghề 70
Bảng 4.6.2: Thải lượng nước thải theo tính toán tại làng nghề 71
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Sơ đồ Bộ máy tổ chức quản lý Nhà nước về BVMT tỉnh Bắc Ninh 14
Hình 4.1.1 Vị trí địa lý làng nghề Phú Lâm 25
Hình 4.2.1: Dây truyền sản xuất bìa carton 33
Hình 4.2.2: Dây truyền sản xuất giấy ăn 34
Hình 4.2.3: Dây truyền sản xuất giấy tái chế 35
Hình 4.3.1: Hàm lượng TSS có trong nước thải 42
Hình 4.3.2: Hàm lượng COD có trong nước thải 43
Hình 4.3.3: Hàm lượng BOD5 có trong nước thải 43
Hình 4.3.4: Hàm lượng Nitơ tổng có trong nước thải 44
Hình 4.3.5: Hàm lượng Phốtpho tổng số có trong nước thải 44
Hình 4.3.7: Hàm lượng COD (mg/l) có trong nước mặt 47
Hình 4.3.8: Hàm lượng BOD5 (mg/l) có trong nước thải 47
Hình 4.3.9: Hàm lượng sắt (mg/l) trong nước ngầm 50
Hình 4.3.10: Hàm lượng Amoni (mg/l) trong nước ngầm 50
Hình 4.3.11: Hàm lượng Mn (mg/l) trong nước ngầm 51
Hình 4.3.12: Hàm lượng bụi trong môi trường không khí xung quanh 54
Hình 4.3.13: Nồng độ SO2 trong môi trường không khí xung quanh 55
Hình 4.3.14: Mức ồn trong môi trường không khí xung quanh 55
Hình 4.3.15: Hàm lượng bụi có trong không khí sản xuất 56
Hình 4.3.16: Hàm lượng SO2 có trong mẫu không khí sản xuất 57
Hình 4.3.17: Hàm lượng NO2 có trong không khí khu vực sản xuất 57
Hình 4.3.18: Tiếng ồn khu vực sản xuất làng nghề 58
Hình 4.3.19: Bãi rác làng nghề giấy Phú Lâm dọc bờ sông Ngũ Huyện Khê 62
Hình 4.6.1:Quy trình thu gom và phân loại chất thải rắn 71
Hình 4.6.1: Hệ thống xử lý sơ bộ nước thải cơ sở sản xuất giấy 72
Hình 4.6.2: Sơ đồ nguyên tắc xử lý nước thải tập trung 72
Hình 4.6.3: Dây chuyền công nghệ hệ thống xử lý nước thải tập trung 73
Hình 4.6.4: Hệ thống xử lý khí thải lò hơi 77
Trang 8I MỞ ĐẦU 1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Làng nghề truyền thống là những thôn, làng làm nghề thủ công có truyền thống lâu năm Nhiều làng nghề thậm chí đã nổi tiếng từ hàng chục thế kỷ trước, tạo ra những sản phẩm có tính độc đáo, có độ tinh xảo cao và được tiêu thụ tại nhiều nơi trên thế giới Sự phát triển của các làng nghề truyền thống đã và đang đóng góp một phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội nông thôn, nâng cao dân trí, cũng như đem lại một nguồn thu nhập đáng kể cho ngân sách quốc gia Không chỉ có tác dụng xoá đói giảm nghèo, làng nghề tái chế giấy Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh còn góp phần vào xử lý một phần giấy thải của thành phố Hà Nội, Bắc Ninh và một số tỉnh lân cận Nguyên liệu ở các xưởng sản xuất bán công nghiệp và các hộ sản xuất thủ công 100% là giấy thải Tuy nhiên việc sản xuất giấy tái chế ở Phú Lâm đã và đang có những tác động tiêu cực không nhỏ đến chất lượng môi trường sống và mỹ quan làng nghề Nước thải làng nghề gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tới hệ thống kênh mương của làng nghề và đặc biệt là sông Ngũ Huyện Khê Môi trường ô nhiễm ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân trong vùng Theo Báo cáo hiện trạng môi trường làng nghề năm 2012 của Trung tâm QTTN&MT tỉnh Bắc Ninh thì nước thải của làng nghề chứa rất nhiều chất rắn lơ lửng, hàm lượng BOD5 và COD vượt quy chuẩn cho phép rất nhiều lần Cụ thể như sau: Hàm lượng chất rắn lơ lửng vượt quy chuẩn từ 30 đến 40 lần, hàm lượng BOD5 và COD vượt qua chuẩn cho phép từ 25 đến 35 lần
Chính vì vậy làng nghề sản xuất giấy Phú Lâm đã nằm trong danh sách các làng nghề phải xử lý triệt để theo Quyết định số 84/2009/ QĐ-UBND ngày 8/6/2009 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh về việc phê duyệt “Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng” Ngoài ra, điều kiện lao động không được an toàn, vệ sinh môi trường không được quan tâm nên đã ảnh hưởng đến sức khỏe người dân
Đề tài được xây dựng trên cơ sở Quy hoạch môi trường làng nghề tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 được UBND tỉnh phê
Trang 9duyệt Các giải pháp được đề xuất nhằm hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, khắc phục tình trạng suy thoái môi trường do hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp của các làng nghề gây ra
Thực hiện chủ trương phát triển kinh tế xã hội, xây dựng tỉnh Bắc Ninh trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015 theo hướng công nghiệp hoá gắn với bảo vệ môi trường, trong đó có công tác bảo vệ và phát triển làng nghề, nhằm ngăn chặn mức độ gia tăng ô nhiễm, phục hồi suy thoái và nâng cao chất lượng môi trường, trong những năm qua các cơ quan trung ương và địa phương đã có một số mô hình xử lý điểm ô nhiễm môi trường nhưng thiếu cơ chế quản lý nên không phát huy được hiệu quả, tình hình ô nhiễm môi trường ở khu vực làng nghề Phú Lâm ngày một gia tăng Từng bước khắc phục, cải thiện thiện tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, ngăn chặn việc phát sinh các làng nghề gây ô nhiễm môi trường mới Xuất phát từ thực tiễn này, tôi đã lựa chọn đề
tài với tiêu đề: “Đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường và đề xuất các biện
pháp bảo vệ môi trường làng nghề giấy tái chế Phú Lâm, Bắc Ninh”
1.3 Yêu cầu của đề tài
Để đạt được mục đích trên, đề tài cần giải quyết những yêu cầu sau:
- Đánh giá tổng hợp các nguồn phát thải, hiện trạng môi trường làng nghề
- Đánh giá được biến động chất lượng môi trường không khí và nước trên
cơ sở so sánh với tiêu chuẩn cho phép (QCVN)
- Đánh giá được ưu điểm và hạn chế của làng nghề giấy tái chế
- Các giải pháp quản lý môi trường tại làng nghề giấy tái chế Phú Lâm phải mang tính khả thi áp dụng cho địa phương
Trang 10II TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan làng nghề Việt Nam
Làng nghề ở nước ta đã tồn tại và phát triển từ rất lâu, đây chủ yếu là những làng nghề thủ công Ở nước ta làng nghề rất đa dạng Theo thống kê của JICA phối hợp với Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thì hiện cả nước có
1450 làng nghề phân bố ở 58 tỉnh thành phố trong cả nước, riêng địa bàn sông Hồng có khoảng 800 làng nghề Các tỉnh có số lượng làng nghề đông bao gồm:
Hà Tây có 280 làng, Thái Bình có 187 làng, Bắc Ninh có 59 làng, Hải Dương có
65 làng, Nam Định có 90 làng, Thanh Hóa có 127 làng,
Sự phát triển của các làng nghề Việt Nam đã trải qua những giai đoạn khác nhau, gắn với những cung bậc thăng trầm của lịch sử Đặc biệt, từ giai đoạn đổi mới nền kinh tế đến nay, dưới tác động to lớn của sự biến đổi nền kinh tế trong nước cũng như trên toàn thế giới, sự phát triển của các làng nghề cũng có những thay đổi lớn, có những thành công mới nhưng cũng có không ít những vấn
đề nan giải
Xuất hiện từ rất lâu đời (điển hình như các làng nghề ở Hà Tây (cũ), Hà Nam, Hưng Yên, Hà Bắc) Các làng nghề nông thôn đã có những bước đánh dấu khá rõ nét trong lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam Vượt lên các nhu cầu về nông nghiệp, các sản phẩm như: đồ sành sứ, đồ gốm, vải vóc, đồ ăn, đồ thờ cúng, hàng
mỹ nghệ, giấy vàng mã, giấy gió… đã được chế biến phục vụ cho nhu cầu đời sống hàng ngày, phục vụ cho đời sống tâm linh, cho việc học tập, cho đời sống
văn hóa và cho cả xuất khẩu (Nguồn: Đặng Kim Chi (2005) làng nghề Việt Nam
và môi trường)
Giai đoạn 1954 – 1978: Do chính sách Công nghiệp hóa, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, khuyến khích các thợ thủ công tham gia vào các Hợp tác xã Tại một số làng nghề đã xuất hiện những HTX tiểu thủ công nghiệp, chủ yếu sản xuất các mặt hàng xuất khẩu sang các nước XHCN, với các hàng hóa chính là hàng thủ công mỹ nghệ Do đó, chủng loại, số lượng và giá trị hàng hóa được quyết định bởi đường lối, chính sách của Nhà nước Cũng chính trong giai đoạn này, nhiều làng nghề đã bị mai một
Trang 11Giai đoạn 1978 – 1985: Kinh tế chính trị thế giới có nhiều biến động, cùng với sức ép về dân số và sự cấm vận của Mỹ kinh tế Việt Nam đã lâm vào giai đoạn khủng hoảng, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn Sự suy sụp của hệ thống bao cấp đã khiến các hộ nông dân và tiểu thủ công nghiệp buộc phải tìm đường cải thiện cuộc sống theo con đường tự phát Nhiều làng nghề đã được khôi phục lại nhằm đáp ứng nhu cầu rất thấp của nhân dân
Giai đoạn 1986 – 1992: Đây là giai đoạn quan trọng đối với sự phát triển của làng nghề, nó được đánh dấu bằng sự chuyển đổi từ cơ chế quản lý bao cấp sang cơ chế thị trường Các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách đổi mới quản lý trong nông nghiệp và phát triển các thành phần kinh tế đã có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói chung và với làng nghề nói riêng Trong giai đoạn này, nhiều làng nghề truyền thống đã được khôi phục và phát triển, mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư vốn, kỹ thuật, hình thành nhiều cơ sở kinh doanh mới, thu hút ngày càng nhiều lao động, tăng dần sản lượng và kim ngạch xuất khẩu… Điển hình như làng gốm Bát Tràng, gốm Đồng Nai, chạm khắc Hà Tây, thêu ren Thái Bình, giấy Phú Lâm… (Đỗ Quang Dũng, 2006)
Các sản phẩm truyền thống của làng nghề Việt Nam đã được tiêu thụ khá ổn định ở các thị trường Đông Âu và Liên Xô, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đạt trên 246 triệu rúp (Đặng Kim Chi, 2005) Tuy vậy, do biến động của nền kinh tế thế giới, mà xuất phát từ sự sụp đổ của mô hình CNXH của Liên Xô và Đông
Âu, sản xuất của các làng nghề bị đình trệ do thị trường tiêu thụ không còn như trước nữa, số lao động trong các làng nghề giảm nhanh chóng
Giai đoạn từ năm 1993 đến nay: Do tìm được hướng đi mới cho các sản phẩm của làng nghề và cho nền kinh tế Việt Nam nói chung mà nền kinh tế Việt Nam bước sang một giai đoạn mới Sự hội nhập nền kinh tế thế giới, cùng với thời kỳ dỡ bỏ sự cấm vận của Mỹ, sự hợp tác kinh tế và thị trường của Việt Nam không ngừng được mở rộng Nhiều làng nghề đã khôi phục nhanh chóng, trong
đó nhiều làng vẫn duy trì được cả nghề nghiệp và mặt hàng truyền thống (như làng Chạm bạc Đồng Xâm, làng nghề thêu Quất Động, làng gốm Bát Tràng, giấy
Trang 12Phú Lâm…) Hơn nữa nhiều làng nghề mới đã được hình thành (Làng gỗ Đồng
Kỵ, gạch ngói Hương Canh…)
Hiện nay, Nhà nước có nhiều chính sách nhằm khuyến khích làng nghề phát triển, đặc biệt từ khi Hiệp hội làng nghề Việt Nam được thành lập (2005), đã
có nhiều chương trình, chính sách nhằm bảo tồn, thúc đẩy sự phát triển làng nghề Tuy nhiên, nhiều làng nghề có nguy cơ lâm vào tình trạng suy thoái do nhiều nguyên nhân khác nhau (do bế tắc về thị trường, do bị cạnh tranh, do thiếu vốn để cải tiến sản xuất, gây ô nhiễm môi trường…) Để giải quyết những khó khăn này, cần có cái nhìn tổng quan về làng nghề và gắn với thực trạng kinh tế xã hội trong nước và thế giới nói chung
Sự phát triển của làng nghề góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn Sản xuất công nghiệp tại làng nghề trực tiếp từ các hộ gia đình Tính trung bình, hoạt động sản xuất công nghiệp tại các tỉnh tăng từ 60 đến 80%, và tỷ lệ này sẽ ngày càng tăng trong tương lai (Vietnam agricultural
science institute, 2003) (Nguồn: Đặng Kim Chi (2005) làng nghề Việt Nam và
môi trường)
2.2 Một số đặc điểm của làng nghề Việt Nam hiện nay
Theo thống kê, hiện trong cả nước có 13% số hộ nông dân chuyên sản xuất nghề, 27% số hộ nông dân tham gia sản xuất nghề, thu hút hơn 29% lực lượng lao động ở nông thôn Các làng nghề hoạt động với các hình thức khá đa dạng: Trong tổng số 40.500 cơ sở sản xuất ở các làng nghề có 80,1% là các hộ cá thể, 5,8% theo hình thức Hợp tác xã và 14,1% thuộc các dạng sở hữu khác (Đặng Kim Chi, 2005) Làng nghề Việt Nam có một số đặc điểm cơ bản là:
2.3 Phân bố làng nghề trong cả nước
Với các chỉ tiêu đã đề ra, cho nay, Việt Nam có khoảng 2017 làng nghề, thuộc 11 nhóm ngành nghề khác nhau, trong đó gồm 1,4 triệu hộ tham gia sản xuất (cả hộ kiêm), thu hút hơn 11 triệu lao động Nhiều tỉnh có số lượng các làng nghề lớn như Hà Tây (cũ) với 280 làng nghề, Bắc Ninh (62), Hải Dương (65), Hưng Yên (48)… với hàng trăm ngành nghề khác nhau, phương thức sản xuất đa dạng Tuy nhiên, sự phân bố và phát triển các làng nghề lại không đồng đều trong cả
Trang 13nước Các làng nghề ở miền Bắc phát triển hơn ở miền Trung và miền Nam, chiếm gần 77% số lượng các làng nghề trong cả nước (1594 làng nghề), trong đó tập trung nhiều nhất và mạnh nhất là ở vùng đồng bằng sông Hồng Miền Trung có
khoảng 297 làng nghề, còn lại ở miền Nam hơn 177 làng nghề (Bộ Tài nguyên và
Môi trường, 2008)
Bảng 2.1 Phân bố các loại hình làng nghề ở các vùng miền của Việt Nam
Ươm tơ, dệt nhuộm,
đồ da
Chế biến nông sản, thực phẩm
Tái chế phế liệu
Thủ công mỹ nghệ
Vật liệu xây dựng, gốm sứ
Nghề khác
Miền Bắc 238 234 279 404 117 322 Miền Trung 24 42 24 121 9 77 Miền Nam 11 21 5 93 5 42
(Vietnam agricultural science institute, 2003)
Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên, mật độ phân bố dân cư, điều kiện xã hội và truyền thống lịch sử, sự phân
bố và phát triển làng nghề giữa các vùng của nước ta là không đồng đều, Thường tập trung vào những khu vực nông thôn đông dân cư nhưng ít đất sản xuất nông nghiệp, nhiều lao động dư thừa lúc nông nhàn Trên cả nước, làng nghề phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng (chiếm khoảng 60%); còn lại là ở Miền Trung (chiếm khoảng 30%) và Miền Nam (khoảng 10%)
2.4 Tổng quan về một số làng nghề ở Bắc Ninh
Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường thì Bắc Ninh có tổng số 62 làng nghề với 30 làng nghề truyền thống và 32 làng nghề mới Thực tế, tổng số làng nghề của Bắc Ninh lớn hơn nhiều so với thực tế do báo cáo sử dụng các làng
nghề lớn trong một vài xã để đại diện cho tất các làng nghề của xã (Nguồn: Sở
TN&MT Bắc Ninh, 2012)
2.5 Phân loại làng nghề theo sản phẩm ở Bắc Ninh
Làng nghề ở Bắc Ninh có lịch sử tồn tại từ hàng trăm năm nay, được phân bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh và hoạt động hầu hết ở các ngành kinh tế chủ yếu Đến
Trang 14nay, tỉnh Bắc Ninh có 62 làng nghề, chủ yếu trong các lĩnh vực như đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu, sản xuất giấy, gốm, sắt, thép tái chế, đúc đồng Các làng nghề tập trung chủ yếu ở 3 huyện Từ Sơn, Yên Phong và Gia Bình (3 huyện này có 42 làng nghề, chiếm gần 68% số làng nghề của tỉnh) Nhiều làng nghề của Bắc Ninh như: gỗ Đồng Kỵ, gốm Phù Lãng, đúc đồng Đại Bái, tranh Đông Hồ có từ lâu đời và nổi tiếng cả trong và ngoài nước
Bảng 2.2: Phân loại làng nghề theo sản phẩm ở Bắc Ninh
4 Sản xuất đồ gỗ công cụ sản xuất,
mộc đơn giản 03 Cày bừa, hàng dân dụng
5 Đúc nhôm 01 Nồi, xoong, chảo
7 Mộc cao cấp: giường, tủ 01 Giường, tủ, bàn ghế
8 Làm tranh dân gian giấy màu 01 Tranh dân gian giấy màu
9 Nuôi, ươm giống thuỷ sản 01 Cá con
10 Chế biến thực phẩm từ rau quả 01 Đậu phụ
11 Sản xuất các sản phẩm từ tre, nứa,
14 Thêu ren xuất khẩu 01 Thêu ren xuất khẩu
15 Đan lưới vó 01 Lưới màn
16 Nấu rượu 03 Rượu gạo
17 Vận tải thuỷ 01 Vận tải
18 Chế biến lương phẩm từ gạo 01 Mỳ gạo, bánh đa
Trang 1519 Sản xuất đồ gốm 02 Chum, vại, chậu, âu, vò
20 Sản xuất công cụ cầm tay bằng kim
loại 01 Dao, kéo, liềm, cuốc, xẻng
21 Sản xuất giấy tái chế 02 Giấy các loại
22 Xây dựng 04 Xây dựng
23 Sản xuất sắt thép 02 Sắt thép các loại
24 Mộc dân dụng, mỹ nghệ 08 Đồ gỗ mỹ nghệ, giường, tủ,
tranh khắc
25 Dệt 02 Màn, khăn mặt, khăn tay
26 Thương nghiệp 02 Thương nghiệp
(Nguồn: Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bắc Ninh)
2.6 Tình trạng ô nhiễm môi trường tại một số làng nghề tỉnh Bắc Ninh
Các chất thải phát sinh tại các làng nghề đã và đang gây ô nhiễm, suy thoái chất lượng môi trường nghiêm trọng; gây nhiều tác động xấu tới sức khỏe người lao động và người dân xung quanh Ô nhiễm tại các làng nghề khảo sát có các đặc điểm sau:
Ô nhiễm tại các làng nghề là dạng ô nhiễm phân tán trong phạm vi của làng nghề Do quy mô sản xuất nhỏ, xen lẫn trong khu dân cư nên đây là dạng ô nhiễm khó kiểm soát Ô nhiễm môi trường tại làng nghề mang đậm nét đặc thù hoạt động sản xuất; những tác động của các chất thải cũng khác nhau Đối với loại hình sản xuất giấy tái chế, sản xuất lương thực thực phẩm thì ô nhiễm hữu cơ mang nét đặc trưng điển hình, trong khi làng nghề tái chế kim loại thi ô nhiễm chất vô cơ Qua quá trình tìm hiểu về quy trình công nghệ sản xuất, tình trạng thiết bị, quy mô sản xuất của các cơ sở sản xuất trong các làng nghề cho thấy các dạng ô nhiễm như sau (xem bảng 1.3):
Bảng 2.3: Các dạng chất thải phát sinh tại một số làng nghề địa bàn tỉnh Bắc
Trang 16I Làng nghề Châu Khê
1 Phân loại Khí thải
Chất thải rắn
Bụi Chất thải vô cơ, phế liệu
2 Đúc Khí thải Hơi kim loại, khí ô nhiễm do cháy
các vật liệu bám theo phế liệu, nhiệt độ, tiếng ồn
2 Đúc, nấu Khí thải
Chất thải rắn
Bụi, CO, SO2, NO2, hơi kim loại,
Xỉ than, vụn kim loại
III Làng nghề giấy Phú Lâm
1 Phân loại Khí thải
Chất thải rắn
Bụi Đinh ghim, nylon…
2 Ngâm kiềm Khí thải
Nước thải
Hơi kiềm
pH cao
3 Tẩy trắng Nước thải Clo dư
4 Nghiền bột Khí thải Tiếng ồn
5 Xeo giấy Khí thải
Xỉ than
6 Cuộn, cắt Khí thải Bụi
Trang 17Chất thải rắn Lõi thừa
3 Bào, đục Khí thải
Chất thải rắn
Bụi gỗ, tiếng ồn Dăm bào, vụn gỗ
4 Dựng thô, vào khung Khí thải Hơi keo cồn, tiếng ồn
5 Làm phẳng, tạo hình Khí thải
Chất thải rắn
Bụi gỗ, tiếng ồn Vụn gỗ
1 Ngâm tre nứa dưới ao Gây ô nhiễm nước mặt COD, BOD5¸sunfua, NH3
2 Nghiến đốt, cạo tinh Bụi
Chất thải rắn
Bụi
vỏ tinh tre nứa
3 Hun, sấy bằng rơm
trộn đất sét
Bụi Khí thải
4 Gia công sản phẩm Chất thải rắn Đầu tre nứa, sản phẩm hỏng
VI Làng nghề Đại Lâm
1 Nấu rượu Khí thải
Nước thải Chất thải rắn
Bụi than, SO2, NO2, CO COD, BOD, NH3, S2-
Bã rượu
2 Sản xuất mì Nước thải ngâm mì pH, COD, BOD, TSS
3 Chăn nuôi lợn Nước thải sau bể
biogas
COD, BOD, NH3, S2-, N tổng
(Nguồn: Số liệu điều tra của Trung tâm QTTN & MT tỉnh Bắc Ninh)
Trang 182.7 Sự hình thành và các công nghệ trong sản xuất giấy chủ yếu
Giấy có thể được sản xuất thủ công hay bằng máy không phụ thuộc vào sợi dùng làm nguyên liệu Thành phần chính của giấy là các sợi cellulose Trước tiên, tinh bột, nhựa cây và các thành phần khác của cây được tách ra khỏi cellulose Sau khi tách ra, cellulose được pha loãng trong nước và giã thành sợi Khi chế bột này (khoảng 95%) lên một cái rây, phần lớn nước chảy thoát đi Rây phải được lắc đều, các sợi sẽ nằm chồng lên nhau và tạo thành một tấm giấy Nếu trên lưới rây có làm sẵn hình mẫu, sợi sẽ nằm chồng ở các chỗ đó ít hơn và khi soi tấm giấy trước ánh sáng có thể nhận thấy được chìm trên giấy
Ban đầu giấy chỉ được sản xuất bằng các phương pháp thủ công đơn giản Cho đến nửa sau thế kỉ XIX các sợi cellulose cần dùng được người làm giấy thu lượm từ các quần áo cũ làm từ sợi lanh Những người thu mua và buôn bán quần
áo cũ là những người cung cấp nguyên liệu cho các xưởng xay giấy Có thời gian quần áo cũ hiếm đến mức độ đã bị cấm xuất khẩu và người ta đã dùng đến vũ lực
để ngăn chặn việc này Trong các xưởng xay giấy, giẻ được cắt thành mảnh vụn, đôi khi được rửa sạch và làm cho mục nát và sau đó được đưa vào máy giã thành sợi Máy giã hoạt động bằng sức nước
Người thợ làm giấy múc tờ giấy từ bột giấy loãng này bằng một cái rây thấp, làm bằng đồng hình chữ nhật có lưới rất tinh, thành rây có thể tháo ra được Sau đó một người thợ khác ép tờ giấy từ rây lên trên một tấm nỉ trong khi thợ làm giấy múc tờ kế tiếp Sau khi ép xong các tờ giấy được treo lên để phơi khô Giấy được ép thêm lần nữa, vuốt phẳng rồi đóng gói Nếu là giấy viết thì được nhúng keo, ép rồi mới phơi khô
Sản xuất giấy bằng máy là một phát minh của các thợ làm giấy ở Hà Lan vào năm 1670, là bước đột phá kỹ thuật hiện đại Đấy là một máy sản xuất ra bột giấy không còn dùng giẻ cũ làm nguyên liệu ban đầu để sản xuất giấy nữa mà phần lớn là từ các dây thừng, dây cáp và lưới đánh cá Các vật liệu cứng này trước tiên được cắt nhỏ trong một máy giã có một ít búa đập và nhiều dao nhọn rồi được đưa vào một máy xay để tiếp tục cắt nhỏ đi
Trang 19Đến khoảng năm 1850 trở đi máy mài gỗ được đưa và sử dụng, mở ra khả năng sản xuất giấy tầm cỡ công nghiệp từ nguyên liệu gỗ rẻ tiền
Vào khoảng năm 1879 chỉ ở Đức thôi đã có khoảng 340 xưởng mài gỗ như vậy Loại bột gỗ mài dùng làm giấy này còn chứa chất lignin sẽ làm giấy bị ố vàng sau một thời gian Friedrich Gottlob Keller (1816 - 1895) là người phát minh ra loại bột này
2.8 Sản xuất giấy trong công nghiệp
Ngày nay, giấy được sản xuất trên các dây chuyền sản xuất hiện đại Dựa vào đó mà người ta chia làm ba phương pháp: sản xuất trên máy xeo dài, sản xuất trên máy xeo tròn và sản xuất trên máy nhiều lưới
Các công nghệ này chỉ khác nhau về cách chế tạo bột Vì vậy ta có ba phương pháp sản xuất giấy đi từ bột cơ, bột hóa và bột cơ hóa
Sản xuất giấy đi từ phương pháp bột cơ học: Trong sản xuất bột cơ có các
phương pháp là bột mài cơ, bột hóa cơ, bột nhiệt cơ và bột nghiền
Bột gỗ mài trắng: được mài từ gỗ đã được bóc vỏ trong các máy mài gỗ Bột gỗ mài nâu: hình thành khi các cuống cây được thấm ướt trong các
nồi nấu trước khi mài
Bột nhiệt cơ: được sản xuất từ phế liệu gỗ được băm nhỏ và vỏ bào của
các xưởng cưa Theo phương thức TMP (thermo-mechanical pulp) hay bột nhiệt
cơ, chúng được làm thấm ướt ở 1300C Các liên kết lignin nhờ vậy mà yếu đi Sau đó nước được thêm vào và các miếng gỗ này được nghiền trong các nhà máy nghiền Nếu hóa chất được sử dụng thêm vào trong lúc thấm ướt thì phương pháp
này được gọi là phương pháp CTMP (chemo-thermo-mechanical pulp) hay bột
hóa nhiệt cơ
Nói chung, bột được sản xuất từ gỗ mềm Quá trình sản xuất bột có thể làm khô được hơn 95% nhưng đòi hỏi lượng lớn năng lượng Bột cơ tạo nên giấy
có độ đục cao, không bền, dễ đổi màu nếu để dưới nhiều ánh sáng Mặc dù không bền nhưng có một số loại gỗ cứng cá biệt có màu sáng được trộn với gỗ mềm để cải thiện một số đặc tính như mong muốn Mới đây sự ứng dụng và phát triển kết hợp của các quá trình cơ, nhiệt hóa để sản xuất bột giấy đã cho phép công nghiệp
Trang 20khai thác chắc chắn nguồn gỗ cứng như cây lá rụng, cây bạch đàn cho các sản phẩm tương đối chắc chắn, bột từ các sợi ngắn có thể sử dụng thích hợp trong nhiều loại đồ dùng bằng giấy
Sản xuất giấy theo phương pháp bột hóa:
Trong sản xuất bột hóa, các dăm gỗ được nấu với những hóa chất thích hợp trong dung dịch ở nhiệt độ cao và áp suất cao Mục đích để làm giảm và phân hủy lignin, là chất làm cho giấy đen và không bền, và lấy hầu hết cellulose
và hemicellulose là những hợp chất chủ yếu tạo nên giấy mà không làm ảnh hưởng đến xơ sợi Thực tế, phương pháp này rất thành công trong việc tách lignin ra khỏi bột giấy Tuy nhiên nó cũng làm giảm và phân hủy phần nào cellulose và hemicellulose Cho nên sản lượng bột giấy tương đối thấp hơn so với phương pháp cơ học Các mảnh gỗ được xử lý hóa học bằng cách nấu Sau khi nấu khoảng 12 đến 15 tiếng các sợi được tách ra khỏi các thành phần cứng đi
cùng với cellulose (Nguồn: Báo cáo hiện trạng sản xuất và môi trường một số
làng nghề tỉnh Bắc Ninh (2008))
Tùy theo hóa chất được nấu mà người ta phân biệt ra các phương pháp: kiềm, sunfit và sunfat Phần lignin còn sót lại sau khi nấu sẽ làm cho bột giấy có màu vàng hay nâu Vì thế phải rửa sạch và tẩy bột giấy Bột giấy sunfat so với bột giấy sunfit thì dài hơn và bền hơn và mềm mại hơn Vì thế mà nó chủ yếu được sử dụng để làm giấy in và giấy viết có độ trắng cao Bột giấy sunfit đa số
được dùng để sản xuất các loại giấy vệ sinh mềm (Nguồn: Báo cáo hiện trạng
sản xuất và môi trường một số làng nghề tỉnh Bắc Ninh (2008))
Sản xuất giấy đi từ bột cơ hóa:
Phương pháp cơ hóa là phương pháp kết hợp giữa phương pháp cơ học và hóa học Về căn bản, dăm gỗ một phần được làm mềm hoặc nấu với hóa chất, phần còn lại sau đó được thực hiện bằng cơ học, thông thường là nghiền Nói đúng ra, bất kỳ quá trình sản xuất cơ học nào cũng được bổ trợ bởi xử lý hóa học của dăm gỗ trước hay trong quá trình nghiền Hiệu suất bột thường nằm trong khoảng từ 55 - 85% tùy thuộc vào mức độ xử lý hóa chất Trên thực tế nếu mức
độ xử lý hóa chất nhẹ nhàng thì hàm lượng lignin trong bột còn cao, bột thiên về
Trang 21cơ học nhiều hơn Loại bột có hiệu suất trên 85% có thể được coi là bột cơ bán hóa Loại có mức thu hồi bột nhỏ hơn gọi là bột hiệu suất cao (high yield) Khâu nấu chỉ khử được một phần nhỏ lignin, gỗ mảnh vẫn nguyên dạng nên buộc phải dùng máy nghiền mới có thể đánh tơi thành bột Năng lượng dùng cho đánh tơi
nhiều hay ít phụ thuôc vào mức độ khử lignin cao hay thấp (Nguồn: Báo cáo
hiện trạng sản xuất và môi trường một số làng nghề tỉnh Bắc Ninh (2008))
2.9 Tình hình quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường của tỉnh
2.9.1 Khái quát sơ bộ về bộ máy tổ chức quản lý Nhà nước về BVMT tỉnh Bắc Ninh
Hình 2.1: Sơ đồ Bộ máy tổ chức quản lý Nhà nước về BVMT tỉnh Bắc Ninh
(Nguồn: bacninh.gov.vn)
* Sự phân công nhiệm vụ
Ban quản lý các khu công nghiệp
Phòng Tài nguyên môi trường huyện UBND cấp xã
Doanh nghiệp
Trang 22- Sở Tài nguyên và Môi trường: Là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân
tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về các lĩnh vực môi trường, đất đai, tài nguyên khoáng sản trên địa bàn toàn tỉnh
- Ban Quản lý các khu công nghiệp: Là cơ quan quản lý Nhà nước, có chức
năng tham mưu, giúp cơ quan quản lý môi trường cấp trên thực hiện nhiệm vụ quản lý môi trường tại các khu công nghiệp tập trung
- Chi cục Bảo vệ môi trường: Là cơ quan quản lý Nhà nước trực thuộc Sở
Tài nguyên và Môi trường, có chức năng tham mưu, giúp Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực bảo vệ môi trường
- Phòng Tài nguyên môi trường cấp huyện: Là cơ quan tham mưu, giúp Ủy
ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực môi trường trên địa bàn
- UBND cấp xã: Chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi
trường, giữ gìn vệ sinh môi trường trên địa bàn, khu dân cư thuộc phạm vi quản lý của mình; kiểm tra việc chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường của các hộ gia đình, cá nhân; phát hiện và xử lý theo thẩm quyền các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường hoặc báo cáo với cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp; xác nhận Bản
đăng ký cam kết bảo vệ môi trường theo sự uỷ quyền của cơ quan cấp trên
2.9.2 Những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường
a, Thuận lợi
- Nhận thức của người dân, chủ các doanh nghiệp về bảo vệ môi trường đã
có những chuyển biến tích cực và đạt được một số kết quả ban đầu
- Công tác quản lý môi trường đang từng bước đi vào hoạt động có nề nếp
và ngày càng hiệu quả
- Sự phối kết hợp giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan ngày càng chặt chẽ và đạt hiệu quả
- Hoạt động thanh tra, kiểm tra ngày càng được tăng cường và có chiều sâu
b, Khó khăn
Trang 23- Hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ Môi trường chưa đồng bộ nên gặp nhiều khó khăn trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện; công tác triển khai các văn bản quy phạm còn chậm
- Kinh phí đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường chưa tương xứng với tốc độ phát triển kinh tế xã hội
- Vai trò chỉ đạo điều hành của hệ thống chính quyền các cấp chưa có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn
- Hệ thống bộ máy quản lý môi trường cấp huyện mới được hình thành nên chưa phát huy tác dụng Cấp xã không có cán bộ chuyên trách về môi trường
mà đang kiêm nhiệm, chưa được đào tạo về lĩnh vực chuyên môn
- Tình trạng ô nhiễm môi trường đang có chiều hướng gia tăng cả về mức
độ và phạm vi Đặt biệt là các làng nghề truyền thống, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống sinh hoạt của cộng đồng dân cư
- Công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực môi trường đối với các doanh nghiệp thuộc các cụm công nghiệp và làng nghề chưa phát huy được hiệu lực
- Số lượng cán bộ làm công tác quản lý môi trường các cấp còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ môi trường đặt ra
2.10 Những thay đổi trong công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường
từ khi luật BVMT ra đời đến nay
Các quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 liên quan đến khắc phục hậu quả sự cố môi trường là căn cứ pháp lý cơ bản, quy định nguyên tắc, khái quát các biện pháp, cách thức để áp dụng đối với các trường hợp khắc phục hậu quả sự cố môi trường cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình áp dụng pháp luật
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định nhiều nội dung liên quan đến trách nhiệm của chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ như: có trách nhiệm phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đối với môi trường đối với các hoạt động của mình, chịu trách nhiệm khắc phục ô nhiễm môi trường do hoạt động của mình gây ra (Điều 35), có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường trong quá trình điều tra Ngoài ra, Luật còn quy định các nội dung liên
Trang 24quan đến trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên phải thực hiện ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường Việc khắc phục hậu quả sự cố môi trường từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khai thác tài nguyên thiên nhiên, thực chất là khắc phục ô nhiễm môi trường, phục hồi môi trường Các quy định trên của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 là cơ sở pháp lý quan trọng và tạo điều kiện thuận lợi trong khắc phục hậu quả sự cố môi trường do các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khai thác tài nguyên thiên nhiên gây ra
Do vậy, Ngày 29 tháng 01 năm 2008, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định
số 142/QĐ-UBND về việc thành lập Chi cục Bảo vệ môi trường trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường
Thành lập Phòng quản lý môi trường thuộc Ban Quản lý các khu công nghiệp và được UBND tỉnh giao nhiệm vụ quản lý môi trường tại các khu công nghiệp tập trung
Thành lập Phòng Cảnh sát môi trường thuộc Công an tỉnh, có chức năng phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường
Những thuận lợi và khó khăn của làng nghề tái chế giấy Phú Lâm khi có
sự thay đổi trong công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường:
Góp phần nâng cao nhận thức của người dân Việt Nam về bảo vệ môi trường Luật bảo vệ môi trường được cụ thể hóa bằng văn bản giúp các doanh nghiệp nói chung và các nhà máy tái chế giấy trong làng nghề tái chế giấy Phú Lâm nói riêng có cái nhìn tổng thể về các thủ tục môi trường cũng như thực hiện
nghiêm chỉnh các thủ tục môi trường (Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Bắc Ninh, 2012)
Tuy nhiên sự hình thành nhiều phòng ban quản lý môi trường có thể dẫn đến sự quản lý chồng chéo của cơ quan nhà nước lên các doanh nghiệp
2.11 Những cải cách trong công tác quản lý môi trường
Xuất phát từ những thực tiễn trong công tác quản lý môi trường những năm qua, các chế tài xử lý vi phạm hành chính không đủ răn đe đối với các hành
vi vi phạm pháp luật, điều kiện hỗ trợ hoạt động quản lý Nhà nước về bảo vệ môi
Trang 25trường Chính vì vậy, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 về việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường Theo Nghị định này, mức xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tăng nhiều lần so với Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày
31 tháng 12 năm 2009, các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường được quy định cụ thể, chi tiết hơn, phù hợp với tình hình thực tế đang diễn ra
Cũng như các địa phương khác trong cả nước, tình trạng ô nhiễm môi trường tại các cụm công nghiệp, làng nghề truyền thống đang có chiều hướng ngày càng gia tăng Nhằm ngăn chặn, từng bước hạn chế và tiến tới cải thiện chất lượng môi trường khu vực nông thôn; Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu với UBND tỉnh Bắc Ninh ban hành Quy chế bảo vệ môi trường làng nghề, khu công nghiệp vừa và nhỏ (Tại Quyết định số 249/2014/QĐ-UBND ngày 13 tháng 06 năm 2014) Theo Quy chế này trách nhiệm bảo vệ môi trường của ngành điện, ngân hàng sẽ được đưa vào và phát huy hiệu quả
2.12 Những thành tựu đạt được qua thay đổi công tác quản lý
Sự quan tâm của cấp uỷ và chính quyền các cấp trong việc bảo vệ môi trường ngày càng được nâng lên, cụ thể: quy hoạch phát triển kinh tế của tỉnh, các địa phương đã có sự lồng ghép với hoạt động bảo vệ môi trường; nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường ngày càng tăng; hoạt động điều tra, đánh giá hiện trạng các thành phần môi trường từng bước được triển khai; hoạt động bảo vệ môi trường đã trở thành một trong các tiêu chí trong bình xét thi đua khen thưởng; các điểm ô nhiễm môi trường trọng điểm đã được ưu tiên đầu tư xử lý; cơ chế tiếp nhận các nguồn tài trợ, viện trợ của các tổ chức quốc tế được cởi mở
Công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường được tăng cường Nghiên cứu, điều tra cơ bản về tài nguyên, khoáng sản, địa chất, thuỷ văn, sử dụng tổng hợp tài nguyên nước phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt và cải thiện môi trường, nước hợp vệ sinh Quản lý và sử dụng ngày càng tốt hơn tài nguyên nước, triển khai xây dựng mạng quan trắc động thái nước dưới đất Chương trình nước sạch nông thôn được quan tâm đầu tư, năm 2011, tỷ lệ dân cư nông thôn được cấp nước hợp vệ sinh chiếm 93,4%, tỷ lệ dân cư thành thị được cấp nước sạch 92%
Trang 26Cải tạo, di dời và xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; quy định về bảo vệ môi trường làng nghề, cụm công nghiệp, lưu vực sông Ngũ Huyện Khê, sông Cầu, hình thành khu vực xử lý chất thải rắn, dự án thoát nước
và xử lý nước thải thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn được triển khai tích cực, hoàn thành xây dựng điểm tập kết, vận chuyển rác thải khu vực nông thôn Hàng năm rà soát quy hoạch sử dụng đất, số hoá bản đồ đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai trong công nghiệp, suất đầu tư tính theo quy mô vốn bình quân trên diện tích thuê đất của các doanh nghiệp tăng lên; thực hiện kiên trì
và đồng bộ các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường chấm dứt đốt gạch thủ công đúng thời hạn Nhà nước quy định
Nhận thức về bảo vệ môi trường của người dân và chủ các doanh nghiệp được nâng lên, pháp luật môi trường ngày càng đi vào cuộc sống của mỗi người dân và từng doanh nghiệp
Tính chấp hành pháp luật môi trường của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đã có những chuyển biến, đặc biệt là trong các khu công nghiệp tập trung
Từ trước những năm Luật bảo vệ môi trường chưa ra đời, các làng nghề của Việt Nam phát triển một cách ồ ạt và không có mối liên hệ chặt chẽ với các vấn đề môi trường Làng nghề tái chế giấy Phú Lâm là làng nghề có lịch sử phát triển lâu đời và làng nghề cũng không nằm ngoài vòng kiểm soát của luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2005 Cụ thể những hoạt động môi trường của làng nghề được Sở tài nguyên và môi trường thống kê năm 2013 như sau:
- 16/19 cơ sở tại làng nghề tái chế giấy Phú Lâm đã lập Báo cáo đánh giá
tác động môi trường và đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (Nguồn: Báo cáo
kết quả thanh tra của sở Tài nguyên và môi trường, năm 2013)
- 100% các cơ sở đều có hệ thống ống khói và hệ thống thu bụi than trong
quá trình đốt than nồi hơi (Nguồn: Báo cáo kết quả thanh tra của sở Tài nguyên
và môi trường, năm 2013)
- 100% các cơ sở đều không có hệ thống xử lý nước thải đạt QCVN cho
phép trong quá trình sản xuất (Nguồn: Báo cáo kết quả thanh tra của sở Tài
nguyên và môi trường, năm 2013)
Trang 27III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu
Làng nghề giấy Phú Lâm, xã Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 3 năm 2013 đến tháng 8 năm 2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của làng nghề tái chế giấy Phú Lâm, Bắc Ninh
- Đánh giá hiện trạng môi trường tại làng nghề giấy tái chế Phú Lâm, Bắc Ninh -Đánh giá thực trạng công tác quản lý môi trường làng nghề giấy Phú Lâm, Bắc Ninh
- Đề xuất một số biện pháp và chính sách nhằm nâng cao hiệu quả quản lý môi trường và phát triển bền vững làng nghề tái chế giấy Phú Lâm, Bắc Ninh
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, luận văn sử dụng các phương pháp sau:
3.4.1 Phương pháp kế thừa, tổng hợp có chọn lọc
- Thu thập số liệu, số liệu thông tin có sẵn từ các cơ quan, phòng ban chức năng từ tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tiên Du, Ban quan lý các KCN Bắc Ninh, UBND xã
- Thu thập các dữ liệu về hiện trạng môi trường tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010-2015 do Trung tâm Quan trắc TN và MT Bắc Ninh thực hiện
- Thu thập các dữ liệu về quy hoạch các làng nghề tỉnh Bắc Ninh đến năm
2020 và định hướng đến năm 2030
- Các dữ liệu quan trắc môi trường do các đơn vị Trung ương và địa phương thực hiện tại tỉnh Bắc Ninh
Trang 28- Tất cả các kết quả điều tra nghiên cứu hiện có về hiện trạng môi trường tỉnh Bắc Ninh, quy hoạch môi trường tỉnh Bắc Ninh, các chương trình trong và ngoài nước đã được triển khai trên địa bàn tỉnh
3.4.2 Phương pháp điều tra thống kê
Mặc dù có khá nhiều tư liệu, các số liệu khác nhau về hiện trạng môi trường trên địa bàn tỉnh nhưng các kết quả nghiên cứu trước đây thường theo các mục đích khác nhau, thiếu tính đồng bộ, gây nhiều khó khăn cho xử lý tổng hợp Hầu hết các nghiên cứu về làng nghề mới chỉ dừng lại ở các nghiên cứu mô tả cắt ngang (đánh giá hiện trạng môi trường) mà chưa có những nghiên cứu đánh giá
cụ thể từ các hoạt động của làng nghề
Để đánh giá mức độ nhận thức của người dân trong làng nghề Phú Lâm về các vấn đề môi trường cũng như sự tác động của môi trường ô nhiễm đến sức khỏe của dân cư, tôi đã thực hiện phương pháp điều tra thông qua việc phỏng vấn trực tiếp đến cộng đồng dân cư sống trong làng nghề
Hình thức phỏng vấn: phỏng vấn trực tiếp
Đối tượng phỏng vấn: Phỏng vấn 20 hộ dân gồm:
+ Các hộ sản xuất tại làng nghề tái chế giấy Phú Lâm: 15 hộ
+ Cộng đồng dân cư xung quanh: 20 hộ
3.4.3 Xử lý số liệu
Việc xử lý số liệu sau quá trình điều tra, lấy mẫu, phân tích mẫu được thực hiện trên 2 đối tượng trên cụ thể: Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học, công cụ là phần mềm Excel 7.0
Việc xác định khối lượng nguyên, nhiên liệu cho các loại hình sản xuất sẽ được tính toán dự trên định mức nguyên nhiên liệu/1 tấn sản phẩm Việc xử lý số liệu cũng được thực hiện trên phần mềm Excel 7.0
3.4.4 Phương pháp lấy mẫu hiện trường, phân tích thí nghiệm
Để đánh giá hiện trạng môi trường khu vực làng nghề tái chế giấy Phú Lâm tác giả đã phối hợp cùng với cán bộ Trung tâm quan trắc Tài nguyên và môi trường tỉnh Bắc Ninh, Trung tâm Khoa học kỹ thuật và môi trường – Công ty TNHH Môi trường và Công nghệ Xanh Việt tiến hành lấy mẫu và phân tích mẫu
Trang 29Thời gian lấy mẫu: tháng 4/2014
Số lượng mẫu:
- Mẫu nước thải: 06 mẫu;
- Mẫu nước ngầm: 05 mẫu;
- Mẫu nước mặt: 05 mẫu
- Mẫu không khí trong khu vực sản xuất: 05 mẫu
- Mẫu không khí ngoài khu vực sản xuất: 05 mẫu
- Mẫu đất: 05 mẫu
- Mẫu đất trầm tích: 05 mẫu
Vị trí lấy mẫu: Được ghi trong phần kết quả nghiên cứu của đề tài Các vị trí lấy mẫu được nghiên cứu cụ thể và đưa ra để có thể đánh giá toàn diện môi trường làng nghề
Công tác lấy mẫu luôn tuân thủ theo các nguyên tắc sau:
- Toạ độ lấy mẫu hiện trường được thực hiện dựa trên hệ thống thông tin định vị toàn cầu GPS (Global Positionging System)
- Các điểm quan trắc phải đại diện cho vùng có tính đặc trưng, chú trọng những nơi, vùng, các hoạt động sản xuất kinh doanh có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao
- Phản ánh đúng hiện trạng chất lượng các thành phần môi trường đảm bảo tính khách quan, thường xuyên, lôgic
- Đảm bảo tính khoa học, chính xác cho dự báo, diễn biến môi trường, đề xuất các giải pháp phòng chống, khắc phục, giảm thiểu ô nhiễm môi trường
- Việc lấy mẫu hiện trường và phân tích trong phòng thí nghiệm được tuân thủ theo các quy chuẩn kỹ thuật, QCVN hiện hành, theo các yêu cầu của đảm bảo chất lượng và kiểm soát chất lượng trong quan trắc môi trường
Các phương pháp phân tích mẫu sử dụng để phân tích các chỉ tiêu nước mặt
và nước thải như sau:
Trang 30Bảng 3.1: Các phương pháp thử mẫu nước
TT Thông số Phương pháp thử Thông số Phương pháp thử
7 Clorua APHA 4500 Cl-B-1995 Cr (VI) SMEWW 3112B:2012
8 Sunfua TCVN 6637:2000 Cd Phương pháp Von – Ampe
9 Amoni HACH 8038 Pb Phương pháp Von – Ampe
10 Mangan APHA 3500-Mn B-1995 Cu Phương pháp Von – Ampe
Các phương pháp phân tích mẫu được sử dụng để phân tích mẫu không khí sản xuất và không khí ngoài khu vực sản xuất như sau:
Bảng 3.2: Các phương pháp thử mẫu không khí
TT Thông số Phương pháp thử Thông số Phương pháp thử
1 Nhiệt độ Máy đo Testo
Trang 31QCVN 03:2008/BTNMT ( Giới hạn kim loại nặng trong đất)
TC 3733/2002/QĐ-BYT (Tiêu chuẩn về vệ sinh và an toàn lao động)
3.4.5 Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình xây dựng và thực hiện đề án, cơ quan thực hiện sẽ thường xuyên phối hợp các chuyên gia trong các lĩnh vực:
- Chuyên gia công nghệ, quản lý môi trường
- Các chuyên gia trong lĩnh vực kỹ thuật, quản lý về môi trường, y tế
- Các chuyên gia đầu ngành trong nghiên cứu về sản xuất, môi trường và sức khoẻ cộng đồng tại các làng nghề
Trang 32IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội làng nghề tái chế giấy Phú Lâm
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
a) Vị trí địa lý
Làng nghề tái chế giấy Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (gọi tắt CCN Phú Lâm), xã Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, có tọa độ địa lý
21o7’3” vĩ độ Bắc, 105o55’30” kinh độ Đông
+ Phía Bắc và phía Đông Bắc giáp sông Ngũ Huyện Khê;
+ Phía Nam và Đông Nam giáp khu dân cư thôn Hạ Giang;
+ Phía Tây và Tây Bắc giáp mương tiêu và đất canh tác thôn Tam Tảo;
Diện tích khu vực nghiên cứu làng nghề tái chế giấy Phú Lâm là 26,75ha (CCN Phú Lâm), thuộc xã Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Hiện trạng
Trang 33khu đất: hiện tại trong CNN đã có một số nhà máy đầu tư xây dựng hạ tầng, nhà xưởng và đã đi vào sản xuất kinh doanh chiếm 11,7ha và có 6,3ha đất giao thông, cây xanh Phần diện tích đất còn lại có địa hình tương đối bằng phẳng, và đang được sử dụng vào mục đích nông nghiệp và được quy hoạch sản xuất công nghiệp (Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh, 2009)
Địa chất
Căn cứ vào đặc điểm về thành phần thạch học, tính thấm, tính chứa nước,
độ giàu nước và đặc điểm thuỷ động lực có thể phân chia địa chất thuỷ văn các đơn vị chứa nước và cách nước như sau:
Tầng chứa nước vỉa - lỗ hổng trầm tích Holocen (Qh): Có thành phần là cát thô, cát, bột, sét Bề dày thay đổi từ 10.4 m -18.2 m Kết quả hút nước ở lỗ khoan LK8 cho thấy Q = 2.22 l/s; S= 1.12 m; T= 192 m2/ngày Độ tổng khoáng M = 0.3 - 0.5 g/l, nước thuộc loại Bicacbonat - Clorua - Canxi
Lớp cách nước trầm tích Holocen - Pleistocen (LCN1) Thành phần gồm cát pha sét, sét, sét pha loang lổ Đây là tầng cách nước có chiều dầy từ 3-5m và là tầng bảo vệ tốt tránh ô nhiễm cho tầng chứa nước bên dưới
Tầng chứa nước áp lực vỉa - lỗ hổng trầm tích Pleistocen Đây là tầng chứa nước khá phong phú Nước ngầm có chất lượng khá tốt, độ tổng khoáng hoá M =
0.059 - 0.28 g/l, thuộc loại hình Bicabonat Magiê - Canxi (Nguồn: Niên giám
thống kê Bắc Ninh, 2013)
c) Đặc điểm khí hậu, khí tượng
Quá trình lan truyền và chuyển hóa các chất ô nhiễm từ không khí ngoài môi trường phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên như: Nhiệt độ, nắng, bức xạ, tốc độ gió, hướng gió, mưa, bốc hơi, độ ẩm và chế độ thủy văn của các nguồn tiếp nhận nước thải
Cụm công nghiệp Phú Lâm, xã Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh mang đầy đủ đặc trưng của khí hậu đồng bằng Bắc Bộ - khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, có sự phân hoá khí hậu theo hai mùa chính và hai mùa chuyển tiếp
Mùa hè kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều
Trang 34Mùa đông kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới lục địa đã biến tính nhiều trong quá trình di chuyển song vẫn còn khá lạnh
Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí là một trong những tác nhân vật lý ảnh hưởng
đến quá trình phát tán và chuyển hóa các chất ô nhiễm không khí trong khí quyển Nhiệt độ không khí càng cao thì vận tốc của phản ứng hóa học xảy ra càng nhanh và rút ngắn thời gian lưu của các chất ô nhiễm trong khí quyển Ngoài ra, nhiệt độ không khí còn gây ảnh hưởng đến quá trình trao đổi nhiệt Do vậy, nghiên cứu nhiệt độ không khí là cần thiết
- Nhiệt độ trung bình hàng năm của không khí: 23oC
- Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất (tháng 6): 38,8oC
- Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất (tháng 1): 13,8oC
Độ ẩm: Độ ẩm không khí ảnh hưởng rất nhiều đến sự lan truyền của các
chất ô nhiễm cũng như tốc độ phản ứng của các chất ô nhiễm với nhau
- Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm: 83%
- Lớn nhất (tháng 3) : 88%
- Nhỏ nhất (tháng 1) : 80%
Gió: Khi vận tốc gió lớn, khả năng lan truyền các chất ô nhiễm xa và có tác dụng pha loãng với không khí sạch Khi tốc độ gió nhỏ hoặc lặng gió thì chất ô nhiễm sẽ tập trung ngay tại khu vực gần nguồn thải gây nên tình trạng ô nhiễm cao trong khu vực Vì vậy khi thiết kế và tính toán các hệ thống xử lý khí thải cần xác định tốc độ gió nguy hiểm sao cho nồng độ cực đại tuyệt đối tại mặt đất thấp hơn tiêu chuẩn vệ sinh cho phép
- Mùa đông hướng gió chủ đạo là gió Đông - Đông Bắc chiếm tần suất từ 25 đến 30% (từ tháng 11 đến tháng 01 năm sau)
- Mùa hè hướng gió chủ đạo là gió Đông –Đông Nam, chiếm tần suất từ 45 đến 52% (từ tháng 5 đến tháng 7)
- Tốc độ gió trung bình các tháng trong năm vào khoảng từ 32- 36 m/giây xảy
ra vào chu kỳ lặp lại 20- 50 năm
Trang 35Mưa: Mưa có tác dụng tích cực là rửa sạch các chất ô nhiễm trong không
khí nhưng lại làm tăng tải lượng ô nhiễm cho sông ngòi do quá trình rửa trôi các chất ô nhiễm hữu cơ trên mặt đất Đôi khi, mưa còn gây ô nhiễm các tầng do các chất ô nhiễm thấm xuống
- Lượng mưa trung bình hàng năm: 1,661mm
- Lượng mưa cực đại trong 10 phút (năm): 35,2mm
- Lượng mưa cực đại trong 30 phút (năm): 56,8 mm
- Lượng mưa cực đại trong 60 phút (năm): 93,4 mm
(Nguồn: Niên giám thống kê Bắc Ninh, 2013)
d) Đặc điểm thủy văn, sông ngòi
Hiện nay, chế độ thủy văn của Làng nghề tái chế giấy Phú Lâm hoàn toàn phụ thuộc vào chế độ mưa đồng bằng và khả năng tiêu thoát nước của các công
trình thủy lợi (Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tiên Du)
Cùng với việc mở rộng các KCN tập trung và các CCN làng nghề, diện tích
ao hồ trên địa bàn tỉnh đã bị thu hẹp Chất lượng nước ao hồ đang xuống cấp nghiêm trọng do chúng đang dần bị biến thành nơi chứa chất thải.Nước thải sản xuất và sinh hoạt tập trung chủ yếu đổ vào dòng sông Ngũ Huyện Khê chảy qua
địa bàn xã (Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tiên Du)
Hệ thống cấp nước: nguồn nước cấp được lấy từ giếng khoan, sử dụng cho việc sinh hoạt của nhân dân trong vùng, theo tài liệu khảo sát địa chất thì địa điểm này nằm trên vùng có lưu lượng và chất lượng nước ngầm tốt, đảm bảo nhu cầu cung cấp nước cho sản xuất và các nhu cầu khác, nước cấp cho sản xuất nông nghiệp chủ yếu lấy từ hệ thống các trạm bơm, các khu ao hồ và các hệ thống
kênh mương thuỷ lợi chung của xã, huyện (Nguồn:UBND xã Phú Lâm)
Hệ thống thoát nước: hệ thống thoát nước của xã Phú Lâm tương đối hoàn chỉnh, hệ thống tiêu nước trên địa bàn toàn xã được phân theo nhiều khu vực, hệ thống tiêu thoát nước mưa, nước sinh hoạt của nhân dân được tiêu thoát tạm thời bằng hệ thống các ao, hồ Trên địa bàn xã hiện nay ở các thôn đều có các ao hồ được nạo vét thường xuyên và được vỉa gạch xung quanh Đó là điều kiện tốt đảm
bảo cho việc tiêu thoát trong các khu vực dân cư (Nguồn:UBND xã Phú Lâm)
Trang 364.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội xã Phú Lâm
* Kinh tế
Công tác quản lý hợp tác xã: Đã kiện toàn cả 5 Ban quản lý hợp tác xã dịch
vụ nông nghiệp Các hợp tác xã hoạt động nề nếp, công tác quản lý tài sản, tài chính thực hiện qua sổ sách, thanh toán nội bộ và các nghĩa vụ với cấp trên đảm bảo Các hợp tác xã đều làm dịch vụ được các khâu công việc như: Giống, thủy lợi, phát hiện sâu bệnh, bảo vệ đồng ruộng
Tiểu thủ công nghiệp –thương mại dịch vụ
Đây là một trong những thế mạnh của địa phương, hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp cả xã có 7 doanh nghiệp tư nhân, 1 xí nghiệp, ngoài 5 hợp tác xã cổ phần hoạt động sôi nổi, nghề tái chế với trên 21 hộ Kinh doanh phế liệu hoạt động mạnh, thương mại dịch vụ hoạt động nhộn nhịp, khu chợ đông vui, hàng hóa đa dạng, phong phú phục vụ thuận tiện sinh hoạt nhân dân Cả xã có trên 4000 lượt
hộ với trên hàng trăm lượt lao động tham gia làm nhiều nghề tạo ra nhiều của cải vật chất đem lại lợi nhuận lớn thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Ước tính thu nhập từ TTCN-TMDV cả năm là 73.971 triệu đồng tăng hơn năm trước 131 triệu đồng, chiếm 67% tổng thu Tổng thu cả năm là 110.168,1 triệu đồng đưa thu nhập đầu người lên 6,7 triệu đồng/năm tăng hơm năm trước 0,5 triệu đồng/năm
∗ Xã hội
Làng giấy Phú Lâm là một trong những làng nghề tái chế giấy đã có truyền thống từ lâu đời, tính đến hết năm 2012 dân số của xã khoảng 17.100 người với 4.313 hộ dân và 16.443 nhân khẩu
Trình độ văn hoá: Do đời sống của nhân dân trong vùng ở mức độ trung bình, việc đầu tư vào việc học tập cho thế hệ học sinh chỉ được quan tâm ở một
số hộ gia đình có kinh tế khá, việc đầu tư vào sản xuất kinh doanh là chủ yếu, việc học tập không mấy phát triển, tỷ lệ học sinh phổ thông trung học, đại học, cao đẳng không cao
Trang 37Cảnh quan lịch sử: tại khu vực của xã Phú Lâm không có di tích lịch sử nổi tiếng, mỗi thôn đều có thờ cúng các vị anh hùng đã có công với nước trong các cuộc
kháng chiến của những năm trước đây (Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội xã Phú Lâm)
4.2 Hiện trạng sản xuất giấy của làng nghề
Hiện nay, số lượng các cơ sở sản xuất tại làng nghề đã lên tới 21 cơ sở sản xuất các loại giấy
Tổng sản lượng của làng nghề lên tới 60.000 - 70.000 tấn giấy/năm Sự phân bố các cơ sở sản xuất hiện nay chủ yếu nằm ở thôn Tam Tảo, xã Phú Lâm, bên cạnh các hộ sản xuất giấy, còn có các hộ tham gia làm nông nghiệp, kinh doanh buôn bán hàng hoá và dịch vụ
Bảng 4.2.1: Danh sách các cơ sở sản xuất tại Làng nghề Phú Lâm
STT Tên cơ sở Tình trạng
hoạt động
Đã lập ĐTM
Đăng ký phát sinh CTNH
Đã nộp phí nước thải CN
Có giấy phép xả thải
5 Công ty TNHH Tiến Đức B.thường X Chưa
6 Công ty SX giấy và bao bì
Phương Đông
B.thường X Chưa
7 C.ty giấy Bình Minh B.thường X X X
8 Công ty sản xuất giấy và
thương mại Tân Tiến
B.thường Chưa Chưa
11 HTX Giấy Chiến Thắng B.thường X X
12 Công ty cổ phần giấy Phú
Xuân Giang
Đang sửa Chưa Chưa
Trang 3813 Công ty SX &TM Việt
B.thường Chưa Chưa
16 C.ty giấy Anh Quốc B.thường X Chưa
17 Công ty Nam Long
(Nguồn số liệu: Chi cục BVMT tỉnh Bắc Ninh)
Thông thường, mỗi cơ sở sản xuất giấy ở làng nghề Phú Lâm thường sản xuất một loại sản phẩm nhất định để thuận tiện cho việc lắp đặt dây chuyền sản xuất, thu mua và xử lý nguyên liệu đầu vào Các sản phẩm chính của làng nghề giấy Phú Lâm gồm:
- Giấy Kraft (giấy bìa, giấy bao ximăng, giấy Duplex ): 10 cơ sở
- Giấy vệ sinh, giấy ăn: 5 cơ sở
- Giấy vàng mã: 4 cơ sở
- Giấy viết, giấy in trắng: 2 cơ sở
• Nguyên liệu hàng năm : Giấy bìa, giấy in, sách báo, bao bì các loại từ các
tỉnh cung cấp về và hiện nay một số doanh nghiệp đó nhập khẩu giấy loại từ các nước trên thế giới
• Nhiên liệu: Than, củi được sử dụng cho nồi hơi để sấy giấy
• Vật tư: Chất tẩy, nước javen, chất tẩy quang học, axít, phèn, nhựa thông
Trang 39• Sản phẩm: Giấy vệ sinh, giấy ăn, giấy viết học sinh, giấy bao gói, giấy vàng mã, bìa cattong, bìa duplex
• Các phát thải gây ô nhiễm môi trường:
Chất thải khí: Khói lò hơi bao gồm NO2, CO, SO2, khí Clo
Chất thải lỏng gây ô nhiễm nguồn nước: nước thải chứa kiềm và hóa chất tẩy rửa, phẩm mầu các loại, dầu mỡ
Chất thải rắn: bìa nilon, bìa vụn, xỉ than của các nồi hơi, đinh ghim, băng keo, dây buộc, vỏ thùng chứa hoá chất, mực in
Ô nhiễm bụi, nhiệt và tiếng ồn
Công nghệ sử dụng được sử dụng để sản xuất tái chế giấy tại làng nghề là loại hình công nghệ đơn giản, dễ thực hiện nhưng thường áp dụng ở quy mô vừa
và nhỏ với loại sản phẩm không yêu cầu có chất lượng cao, rất phù hợp với trình
độ kĩ thuật của người dân ở nông thôn Hệ thống máy móc thiết bị sử dụng ở các làng nghề hầu hết thuộc loại cũ (đã qua thanh lý của các cơ sở sản xuất công nghiệp), hoặc tự chế tạo mang tính chắp vá không đồng bộ Bên cạnh đó, quá trình vận hành sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm nên hiệu quả sản xuất không cao, tiêu tốn nhiều năng lượng và nguyên liệu Ngoài ra, vấn đề vệ sinh công nghiệp không được chú ý, nơi sản xuất và sinh hoạt không được cách ly Chính vì những lý do đó đó dẫn đến môi trường tại làng nghề ngày càng ô nhiễm môi trường
4.2.1 Một số công nghệ sản xuất giấy tái chế tại làng nghề Phú Lâm
4.2.1.1 Công nghệ sản xuất bìa carton
Nguyên liệu chính: bìa carton loại, giấy loại, báo loại
Nguyên liệu phụ: kiềm, nhựa thông, chất tẩy
Nguyên liệu sau khi được phân loại Giấy, bìa, báo phế liệu được ngâm trong nước cho mủn sau đó được nghiền nhỏ, hòa loãng và đánh tơi tạo bột giấy Bột giấy được xeo thành bìa, sấy và được cuộn thành lô Hơi nước được cấp từ lò
đốt than.Trong một số trường hợp javen được sử dụng để tẩy trắng
Sơ đồ công nghệ kèm theo dòng thải:
Trang 40Hình 4.2.1: Dây truyền sản xuất bìa carton
(Nguồn:Báo cáo kinh tế, kỹ thuật của công ty TNHH cổ phần giấy Hưng Lợi) 4.2.1.2 Công nghệ sản xuất giấy ăn
Nguyên liệu chính: bìa carton loại, giấy ăn, báo loại
Nguyên liệu phụ: kiềm, nhựa thông, chất tẩy
Giấy phế liệu sau khi được phân loại, được ngâm vào dung dịch nước cho mủn sau đó được tẩy bằng nước javen, nghiền nhỏ, pha loãng, và đánh tơi
Giấy ăn sau khi xeo được sấy bằng hơi nước cuộn vào lô cắt thành cuộn nhỏ và bao gói thành sản phẩm
Nguyên liệu
Sản phẩm
Ghim sắt, băng dán, nilon, bụi
Nước thải Tiếng ồn, bụi
Ngâm
Than
Phân loại
Nghiền Đánh tơi
Giấy cuộn Sấy khô Xeo
Nước thải
Tiếng ồn Tiếng ồn Tiếng ồn, bụi